1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước của trẻ từ 10 15 tuổi tại phường nghi hải,thị xã cửa lò, nghệ an năm 2017 và các yếu tố liên quan

103 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước của trẻ từ 10 - 15 tuổi tại phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, Nghệ An năm 2017
Tác giả Nguyễn Thị Minh Phượng
Người hướng dẫn PGS. TS Phạm Việt Cường
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế cộng đồng
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QU N TÀI IỆU (0)
    • 1.1. Dịch tễ học đuối nước (14)
      • 1.1.1. Định nghĩa đuối nước (14)
      • 1.1.2. Dịch tễ học đuối nước (0)
      • 1.1.3. Các yếu tố nguy cơ của đuối nước trẻ em (19)
    • 1.2. Thực trạng kiến thức, thái độ thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ em 14 1. Thực trạng kiến thức, thái độ thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ (24)
      • 1.3.2. Yếu tố về kiến thức, hành vi lối sống (29)
      • 1.3.3. Yếu tố về dịch vụ y tế (30)
      • 1.3.4. Yếu tố kinh tế xã hội (31)
    • 1.4. Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu (31)
    • 1.5. Khung lý thuyết (33)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU (36)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (36)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (36)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp nghiên cứu (0)
      • 2.4.1. Cỡ mẫu (36)
      • 2.4.2. Phương pháp chọn mẫu (37)
    • 2.5. Phương pháp thu thập (37)
    • 2.6. Biến số nghiên cứu (38)
    • 2.7. Tiêu chuẩn đánh giá (38)
      • 2.7.1. Đánh giá kiến thức của trẻ về phòng tránh đuối nước (38)
      • 2.7.2. Đánh giá thực hành của trẻ về phòng tránh đuối nước (38)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (38)
      • 2.8.1. Quản lý số liệu (38)
      • 2.8.2. Phương pháp phân tích số liệu (38)
    • 2.9. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu (38)
    • 2.10. Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số (39)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHI N CỨU (40)
    • 3.1. Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh đuối nước của trẻ (0)
      • 3.1.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (0)
      • 3.1.2. Thực trạng kiến thức về phòng tránh đuối nước của trẻ (0)
      • 3.1.3. Thực trạng thái độ về phòng tránh đuối nước của trẻ (0)
      • 3.1.4. Thực trạng thực hành về phòng tránh đuối nước của trẻ (0)
    • 3.2. Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ …………………………………………………………………………. 42 1. Mối liên quan giữa giới và thực hành phòng tránh đuối nước (52)
      • 3.2.2. Mối liên quan giữa kiến thức về đuối nước và thực hành phòng tránh đuối nước ……………………………………………………………………… 43 CHƯƠNG 4: BÀN UẬN (53)
    • 4.1. Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh đuối nước của trẻ (0)
      • 4.1.1. Kiến thức về phòng tránh đuối nước của trẻ (55)
      • 4.1.2. Thái độ về phòng tránh đuối nước của trẻ (56)
      • 4.1.3. Thực hành về phòng tránh đuối nước của trẻ (0)
    • 4.2. Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ (59)

Nội dung

TỔNG QU N TÀI IỆU

Dịch tễ học đuối nước

Trên thế giới, nhiều định nghĩa về đuối nước đã được đưa ra

Năm 2008, Margie Peden đã định nghĩa đuối nước là sự kiện khi đường thở của trẻ bị ngập hoàn toàn trong nước, dẫn đến khó thở Định nghĩa này bao gồm ba hậu quả có thể xảy ra: tử vong, tàn tật hoặc không tàn tật.

Năm 2008, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã định nghĩa "đuối nước" là sự kiện khi đường thở của trẻ bị ngập hoàn toàn trong nước, dẫn đến khó thở Định nghĩa này bao gồm ba hậu quả có thể xảy ra: tử vong, tàn tật hoặc không tàn tật Đến năm 2014, WHO đã công bố Báo cáo toàn cầu về đuối nước, tiếp tục làm rõ vấn đề này.

Đuối nước xảy ra khi khí quản của người lớn hoặc trẻ nhỏ bị chất lỏng, thường là nước, xâm nhập, gây khó thở Hậu quả của tình trạng ngạt thở kéo dài có thể dẫn đến tử vong hoặc không tử vong.

Theo định nghĩa của WHO, đuối nước bao gồm cả trường hợp tử vong và không tử vong Tuy nhiên, một số định nghĩa khác phân tách rõ ràng hai trường hợp này.

Năm 2016, Báo cáo về đuối nước của Canada định nghĩa “Đuối nước là chết ngạt do không khí không vào được phổi, dẫn đến thiếu oxy não.” Đuối nước được xem là một hình thức tử vong do ngạt Theo Từ điển Y dược, “Chết đuối là tình trạng nghẹt thở và chết do phổi bị tràn ngập nước hay chất lỏng khác.” Các trường hợp không tử vong được gọi là suýt chết đuối, định nghĩa là “sự sống sót sau sự kiện đường hô hấp bị ngạt do chìm trong môi trường chất lỏng” hoặc “sự sống sót tạm thời sau khi bị hút dịch lỏng vào trong phổi.”

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào đối tượng trẻ em từ 10 đến 15 tuổi và đã chọn định nghĩa về đuối nước của Tổ chức Y tế Thế giới, theo đó đuối nước là hiện tượng khí quản của người bị ngập trong chất lỏng, thường là nước.

HUPH nước) xâm nhập vào dẫn tới khó thở Hậu quả củ ngạt thở âu có thể à tử vong (chết đu i) hoặc không tử vong”

1.1.2 Dịch tễ học về đuối nước

1.1.2.1 Thực trạng về đuối nước trên thế giới

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2015, gần 360.000 người đã chết vì đuối nước, trong đó gần 60% là những người dưới 30 tuổi, và đuối nước là nguyên nhân thứ ba gây tử vong cho trẻ em từ 5-14 tuổi Hơn 90% các ca tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Để phòng ngừa đuối nước, cần thực hiện các biện pháp cộng đồng như chăm sóc trẻ em, kiểm soát tiếp cận nước, và thực thi các quy định về an toàn nước Hành động mạnh mẽ hơn là cần thiết để ngăn ngừa đuối nước, và các cam kết trong Mục tiêu Phát triển Bền vững sẽ không thể đạt được nếu không có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Từ năm 2005 đến 2014, Hoa Kỳ ghi nhận trung bình 3.536 ca tử vong do đuối nước mỗi năm, tương đương khoảng mười trường hợp mỗi ngày, chưa kể 332 ca tử vong do tai nạn chèo thuyền Trong số những người chết vì đuối nước, có 1 trẻ dưới 14 tuổi cho mỗi 5 ca tử vong Hơn 50 nạn nhân đuối nước cần điều trị tại các khoa cấp cứu và có thể cần chăm sóc lâu dài Những thương tích này có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho não, dẫn đến khuyết tật lâu dài như vấn đề về bộ nhớ, mất khả năng học tập, và mất vĩnh viễn các chức năng cơ bản.

Báo cáo về đuối nước của Canada cho thấy số trường hợp tử vong do đuối nước đã giảm từ 2,0/100.000 dân (1994 – 1998) xuống còn 1,4/100.000 dân (2009 – 2013) trong 20 năm qua Nhóm tuổi từ 05 – 14 có nguy cơ đuối nước cao thứ hai, chỉ sau nhóm 20 – 24 tuổi, nhờ vào các chương trình can thiệp phòng chống đuối nước dành cho cha mẹ có con nhỏ được triển khai trên toàn quốc.

Biểu đồ 1: Số trường hợp tử vong do đuối nước tại Canada từ 1990 - 2013

Theo báo cáo hàng năm về tình hình đuối nước tại Ireland, giai đoạn 2006 – 2015 ghi nhận trung bình khoảng 133 trường hợp tử vong do đuối nước mỗi năm Đặc biệt, tỷ lệ nam giới tử vong do đuối nước cao hơn nhiều so với nữ giới.

Từ 0 đến 14 tuổi, tỷ lệ tử vong do đuối nước chỉ đứng sau nhóm tuổi 20 – 29 Nguyên nhân chính là trẻ em trong độ tuổi này thường được giám sát chặt chẽ, giúp giảm thiểu nguy cơ đuối nước Tuy nhiên, nhiều trường hợp tử vong vẫn xảy ra do trẻ không được trang bị thiết bị bảo hộ khi tham gia các hoạt động dưới nước, bị rơi xuống nước, không biết bơi và thiếu người giám sát.

Bảng 1: Số trường hợp tử vong do đuối nước tại Ireland từ 2006 - 2015

Thái Lan: Đuối nước là một trong những vấn đề y tế công cộng lớn tại Thái

Đuối nước là nguyên nhân tử vong hàng đầu của trẻ em dưới 15 tuổi, với tỷ lệ tử vong cao hơn so với các bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm Từ năm 2002 đến 2013, Thái Lan ghi nhận 49.878 trường hợp tử vong do đuối nước, trung bình khoảng 4.157 trường hợp mỗi năm Trong số đó, trẻ em dưới 15 tuổi chiếm khoảng 1.291 trường hợp tử vong hàng năm, tương đương 25 – 30% tổng số ca tử vong ở tất cả các nhóm tuổi Nguyên nhân chính dẫn đến đuối nước ở trẻ em trên 5 tuổi là do thiếu kiến thức về nguy hiểm dưới nước, không biết bơi, và việc cứu hộ cũng như cấp cứu không đúng cách.

Đuối nước gây ra gánh nặng tài chính và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của gia đình nạn nhân Theo báo cáo của WHO, tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình ở khu vực Tây Thái Bình Dương, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em dưới 15 tuổi.

Tử vong, thương tích và tàn tật có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nạn nhân và gia đình họ Nhiều trẻ em sống sót sau các vụ đuối nước phải đối mặt với những hậu quả lâu dài, gây khó khăn cho gia đình do chi phí chăm sóc y tế không thể giảm bớt Theo số liệu toàn cầu, khoảng 28% trong tổng số ca tử vong do thương tích không chủ ý ở trẻ em là do đuối nước, và 1,1% DALYs ở trẻ em dưới 15 tuổi tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình là do các trường hợp đuối nước không gây tử vong.

Nghiên cứu về chi phí thương tích do đuối nước trên thế giới đã bỏ qua nhiều khía cạnh quan trọng, dẫn đến việc đánh giá không đầy đủ ảnh hưởng kinh tế của vấn đề này Mặc dù thiếu số liệu chính xác, các ước tính hiện tại cho thấy rằng đuối nước không gây tử vong vẫn có thể dẫn đến những hậu quả kinh tế nghiêm trọng Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng có tổng cộng 53 trường hợp đuối nước không gây tử vong ở trẻ em từ 0 tuổi trở lên.

Thực trạng kiến thức, thái độ thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ em 14 1 Thực trạng kiến thức, thái độ thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ

1.2.1 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước trẻ em trên thế giới

Nghiên cứu của Linda Quan và cộng sự tại bang Washington, Mỹ, tập trung vào niềm tin và thực hành ngăn ngừa đuối nước ở thanh thiếu niên và cha mẹ người Mỹ gốc Việt Đối tượng nghiên cứu bao gồm các bậc phụ huynh có ít nhất một trẻ em trong độ tuổi từ 10.

Nghiên cứu được thực hiện với 15 thanh thiếu niên từ 15 đến 19 tuổi và 20 người lớn, tất cả đều là dân nhập cư Kết quả cho thấy kiến thức về đuối nước và biện pháp phòng tránh của cả thanh thiếu niên và phụ huynh còn hạn chế Các bậc phụ huynh cho rằng thanh thiếu niên là nhóm có nguy cơ cao do áp lực từ bạn bè, dẫn đến việc tham gia các hoạt động dưới nước mà không biết bơi Họ cũng cho rằng áo phao chỉ cần thiết cho những người không biết bơi và đuối nước là do số phận Cả cha mẹ và thanh thiếu niên đều mong muốn có thông tin về áo phao cứu sinh, yêu cầu giám sát và các thông điệp an toàn nước bằng tiếng Việt cho phụ huynh và tiếng Anh cho thanh thiếu niên, nhằm cải thiện sự giao tiếp giữa các thế hệ.

Nghiên cứu của Petrass L.A và cộng sự vào năm 2011 đã tiến hành phân tích các ca chết đuối không chủ định tại Australia trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2009 Tổng số ca được ghi nhận trong nghiên cứu này là

Trong một nghiên cứu về 339 trường hợp chết đuối, tác giả phát hiện rằng 71,7% các trường hợp này xảy ra do thiếu sự giám sát của người chăm sóc Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự thiếu quan sát của cha mẹ có mối liên quan chặt chẽ đến tình trạng đuối nước ở trẻ em.

Nghiên cứu bệnh chứng của Li Yang và cộng sự vào năm 2007 đã điều tra các yếu tố nguy cơ của đuối nước trẻ em tại khu vực nông thôn Trung Quốc, với 133 ca chết đuối và 266 ca chứng cùng tuổi Kết quả cho thấy tỷ lệ ông bà chăm sóc trẻ chiếm 55,6% ở nhóm bệnh và 44,4% ở nhóm chứng Hơn 90% người chăm sóc có sức khỏe tốt, nhưng 72,2% trong số họ không biết bơi Đặc biệt, không có người chăm sóc nào biết cách thực hiện hô hấp nhân tạo khi trẻ bị ngạt nước, và việc giám sát trẻ khi chơi gần nước hoặc bơi cũng được khảo sát.

HUPH trong ao hồ thì có đến 78 người chăm sóc ở nhóm chứng và chỉ 57,9 người chăm sóc ở nhóm bệnh có giám sát trẻ [35]

Nghiên cứu của Rahman A và cộng sự năm 2003 đã phân tích tình hình tử vong do đuối nước ở trẻ em tại Bangladesh, với mẫu nghiên cứu gồm 352.000 trẻ từ 0 – 17 tuổi được chọn từ 171.366 hộ gia đình Nghiên cứu được thực hiện tại 12 quận và thành phố Dhaka Metropolitan, thu thập dữ liệu qua phỏng vấn trực tiếp trong 2 năm Kết quả cho thấy đuối nước là nguyên nhân thứ năm trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, với tỷ suất 27,3/100.000 trẻ/năm Đặc biệt, đối với trẻ em từ 1 – 17 tuổi, đuối nước trở thành nguyên nhân hàng đầu, với hơn 80% trường hợp xảy ra ở các nguồn nước tự nhiên như ao hồ, sông, rạch Hầu hết trẻ em bị đuối nước không biết bơi, và trong số trẻ trên 4 tuổi, chỉ có 7 trẻ biết bơi Tỷ suất đuối nước cao nhất ở nhóm 10 – 14 tuổi là 33, chỉ sau nhóm trẻ em 1 – 4 tuổi.

Đuối nước ở trẻ em là một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng với tỷ lệ tử vong cao Nhiều nghiên cứu cho thấy kiến thức và thái độ về phòng tránh đuối nước cho trẻ em còn bị xem nhẹ, đặc biệt là sự thiếu giám sát từ người chăm sóc Hành vi phòng ngừa như mặc áo phao, làm rào chắn khu vực nước, dạy bơi và tham gia lớp sơ cấp cứu chưa được nghiên cứu đầy đủ Những hành vi này thường chỉ được đề cập như các đề xuất sau khi xác định nguyên nhân tử vong do sự bất cẩn của người lớn.

1.2.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ em tại Việt Nam

Một nghiên cứu của Doãn Ngọc Định và cộng sự năm 2012 tại xã Đoàn Đào, huyện Ph Cừ, tỉnh Hưng Yên cho thấy rằng chỉ có 13,9% người chăm sóc trẻ từ 0 đến 5 tuổi có kiến thức đầy đủ về phòng chống đuối nước Mặc dù 97,7% có thái độ tích cực về vấn đề này, nhưng chỉ 24,5% thực hành tốt các biện pháp phòng ngừa Tỷ lệ thực hành phòng chống đuối nước còn thấp, với các biện pháp như rào chắn bờ ao kênh mương chỉ đạt 27,7% và lập cửa ngăn cầu ao an toàn đạt 25,7%.

Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Lan và cộng sự năm 2011 về tình hình kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống tai nạn thương tích ở học sinh trung học phổ thông huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái cho thấy tỷ lệ mắc tai nạn thương tích là 28,9%, trong đó nam chiếm 63,8% Đuối nước chủ yếu xảy ra tại các hồ (60%) Trong 116 trường hợp tai nạn, chỉ 45 trường hợp (38,8%) được điều trị tại cơ sở y tế Kiến thức chung về phòng chống tai nạn thương tích của học sinh đạt thấp, chỉ 25,4% Tuy nhiên, 87,3% học sinh thể hiện sự quan tâm khi chứng kiến tai nạn, 91,3% cho rằng tai nạn có thể phòng chống, và 98,3% đồng ý với việc truyền thông phòng chống tai nạn Chỉ 32,3% học sinh thực hành thường xuyên các biện pháp phòng chống tai nạn thương tích.

Nghiên cứu can thiệp của Nguyễn Thúy Quỳnh năm 2012 tại Đà Nẵng chỉ ra rằng tai nạn thương tích, đặc biệt là đuối nước, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho học sinh tiểu học từ 6 đến 11 tuổi Kết quả phân tích thực trạng cho thấy mức độ nghiêm trọng của tai nạn thương tích trong nhóm tuổi này.

Đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, mặc dù không phải là nguyên nhân chính của tai nạn thương tích không tử vong.

Nghiên cứu của Huỳnh Thiện Sĩ và Nguyễn Đỗ Nguyên về dịch tễ học tử vong do đuối nước ở trẻ em tại Đồng Tháp cho thấy có 272 trường hợp tử vong ở trẻ dưới 16 tuổi từ 2003 đến tháng 8/2006, với tỷ lệ tử vong ở nam cao gấp 2 lần so với nữ Tỷ lệ tử vong cao nhất xảy ra vào tháng 8, chủ yếu do tai nạn ngoài nhà, như ngã xuống sông, rạch, ao, mương (98,1%), trong khi chỉ 1,9% xảy ra trong nhà Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Đồng Tháp về vấn đề này, mặc dù dữ liệu có thể chưa chính xác và còn hạn chế, nhưng vẫn cung cấp một cái nhìn sơ bộ về tình hình tử vong do đuối nước ở trẻ em trong khu vực chịu ảnh hưởng của lũ hàng năm.

Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Hưng về tình hình đuối nước tại 5 huyện tỉnh Đồng Tháp từ tháng 6/2004 đến tháng 5/2005 đã khảo sát 48 trường hợp tử vong do đuối nước và phỏng vấn 30 hộ gia đình có trẻ bị đuối nước cùng 30 cán bộ y tế Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng, kết quả cho thấy tỷ suất đuối nước ở nam giới cao gấp 1,5 lần so với nữ giới Đặc biệt, tỷ lệ đuối nước ở trẻ em trong mùa lũ cao hơn mùa khô gấp 2,4 lần, với sự gia tăng đáng kể vào tháng 8.

Tháng 9 và 10 là thời điểm có lũ cao nhất trong năm Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến đuối nước, bao gồm trẻ em không biết bơi, chơi gần sông, ao hồ, kênh rạch mà không có người giám sát, cũng như việc sử dụng phương tiện đi lại trên sông mà không có trang bị bảo hộ và thiếu nhà giữ trẻ trong mùa lũ.

Nghiên cứu của Dương Khánh Vân, Nguyễn Ngọc Ngà và cộng sự đã chỉ ra nguy cơ đuối nước ở trẻ em dưới 18 tuổi tại 6 xã thuộc các tỉnh Hải Dương, Thừa Thiên Huế và Đồng Tháp trong giai đoạn từ tháng 6/2002 đến tháng 6/2005, sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả.

Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, Nghệ An, với diện tích 534 ha và dân số gần 10.000 người Phường có 11 khối dân cư, với hơn 2.200 hộ dân Về vị trí địa lý, phía Đông giáp biển Đông (1 km), phía Nam giáp Sông Lam (2 km), và phía Tây là khu sản xuất nông nghiệp.

Khu vực HUPH có nhiều kênh, rạch và ao hồ, với 02 trường tiểu học và 01 trường trung học cơ sở nằm xung quanh Mặc dù chương trình học có tích hợp các giờ học ngoại khóa về sơ cấp cứu và hướng dẫn bơi, nhưng nội dung chủ yếu mang tính lý thuyết, khiến học sinh dễ quên Với tâm lý tò mò và khám phá của lứa tuổi từ 10 đến 15, nhiều em tự đi học bằng xe đạp hoặc đi bộ, dẫn đến tình trạng thường xuyên xảy ra các vụ đuối nước hoặc suýt đuối nước.

Theo báo cáo của Trung tâm cứu trợ, cứu nạn và phòng chống thiên tai Thị xã Cửa Lò, năm 2016, khu vực này ghi nhận 07 vụ việc có nguy cơ đuối nước cao.

Từ năm 2014 đến 2016, thị xã Cửa Lò ghi nhận 40 vụ đuối nước, trong đó có 5 vụ liên quan đến trẻ em dưới 15 tuổi, chủ yếu xảy ra tại phường Nghi Hải Gần đây, đã có 29 vụ đuối nước, trong đó 2 vụ tử vong là trẻ em.

Các vụ đuối nước trẻ em tại Thị xã Cửa Lò chủ yếu xảy ra ở lứa tuổi từ 10 đến 15, khi trẻ em đang trải qua những thay đổi về tâm sinh lý và cơ thể Ở độ tuổi này, trẻ dễ bị bạn bè lôi kéo và sức khỏe của các em chưa đủ để đối phó với những tình huống bất thường có thể xảy ra.

Bản đồ phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, Nghệ An

Khung lý thuyết

Khung lý thuyết được phát triển từ việc tham khảo các nghiên cứu toàn cầu và trong nước về vấn đề đuối nước, cũng như kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống đuối nước Nó dựa trên mô hình ma trận Haddon để xác định các yếu tố nguy cơ và đề xuất các chiến lược chính sách hiệu quả nhằm giảm thiểu tình trạng đuối nước.

Bảng 3: Ma trận Haddon xác định các yếu tố nguy cơ đuối nước

Con người Tác nhân Môi trường

Môi trường kinh tế - xã hội Trước sự kiện

Tuổi nhỏ, giới tính; tính dễ bị tổn thương; thiếu sự giám sát; thiếu kiến thức về các nguy cơ tiếp cận với nguồn nước;

Tham gia giao thông; người giám sát sử dụng đồ uống có cồn

Các mối nguy hiểm về nước không được bảo vệ; tàu thủy không an toàn; tàu thủy chở quá tải

Thiếu rào chắn và môi trường lạ có thể tạo ra những nguy hiểm như mặt bề mặt trơn trượt, không đều và không vững Ngoài ra, các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, hải lưu mạnh, cùng với hạ tầng cơ sở vật chất không đầy đủ và thiếu cảnh báo về thời tiết xấu cũng góp phần làm tăng nguy cơ tai nạn.

Thiếu sự giám sát và chăm sóc trẻ em, cùng với việc tin tưởng vào sự giám sát của những người đồng đẳng hoặc trẻ hơn tuổi, là những yếu tố quan trọng Ngoài ra, nghèo đói, gia đình đông con, bố mẹ thất nghiệp hoặc mù chữ, và sự thiếu hụt các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng cũng góp phần vào vấn đề này.

Trẻ không mặc hay đeo các thiết bị nổi; người giải cứu không biết bơi; thiếu các kỹ năng sinh tồn

Nước sâu và dòng nước sông chảy mạnh tạo ra những dòng nước siết ở biển, với độ lạnh đáng kể Độ sâu của nước có sự khác nhau, khiến cho việc đứng vững trở nên khó khăn Ngoài ra, việc thiếu cơ chế thoát hiểm, như thang, cũng là một vấn đề cần được chú ý.

Tiếp cận các thông tin và nguồn lực để giảm thiểu nguy cơ k m; không đủ truyền thông hay hạ tầng cơ

HUPH dưới nước có thể dẫn đến những rủi ro nghiêm trọng, bao gồm việc đánh giá quá cao khả năng bơi lội và sức yểu của bản thân Thiếu hiểu biết về hoàn cảnh xung quanh, cùng với phản ứng hoảng sợ, có thể khiến người bơi gặp nguy hiểm, đặc biệt khi bơi một mình Việc không trang bị các thiết bị báo động cá nhân hay kiến thức về cứu hộ cũng như thiếu các dụng cụ nổi cá nhân và các dụng cụ cứu hộ khác trên thuyền là những yếu tố rủi ro Ngoài ra, việc thiếu cứu hộ dây và các dụng cụ để nổi, cùng với các cọc dưới nước để gọi dịch vụ cấp cứu y tế, có thể làm tăng nguy cơ gặp phải tình huống khẩn cấp.

Sau sự kiện chậm trễ trong việc cứu hộ, việc không tiếp cận được các dụng cụ sơ cứu đã gây ra nhiều khó khăn Hơn nữa, người chăm sóc thiếu kiến thức về sơ cứu và không có các cơ chế báo động hiệu quả đã làm tình hình trở nên nghiêm trọng hơn.

Nạn nhân bị dòng nước cuốn xa bờ biển

Thời gian phản ứng của xe cấp cứu k o dài; không đủ các kỹ năng cứu hộ và điều trị; không được vận chuyển để chăm sóc y tế kịp thời

Không đủ chăm sóc và tiếp cận dịch vụ y tế cấp tính tại bệnh viện, cùng với việc thiếu hỗ trợ phục hồi chức năng và sự hỗ trợ từ cộng đồng, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nạn nhân và gia đình của họ.

Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống đuối nước của trẻ từ 10 đến 15 tuổi bao gồm yếu tố cá nhân, trang thiết bị, môi trường vật lý và môi trường xã hội Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào việc mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của trẻ trong việc phòng chống đuối nước, từ góc độ các yếu tố cá nhân, môi trường và xã hội.

Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước của trẻ từ 10 – 15 tuổi

- Hiểu biết về địa điểm đuối nước

- Hiểu biết về nguyên nhân đuối nước

- Hiểu biết về hậu quả đuối nước

- Hiểu biết về các biện pháp phòng tránh đuối nước

- Kiến thức về sơ cứu, cấp cứu người đuối nước

- Sử dụng áo phao, các thiết bị nổi khi bơi

- Không bơi lâu, không bơi khi mệt mỏi

- Không bơi ở nơi có biển cấm, khu vực nguy hiểm

- Bơi ở nơi có người bảo vệ hoặc người cứu hộ

- Cách xử lý khi gặp người đuối nước

- Quan điểm về phòng tránh đuối nước ở trẻ 10 – 15 tuổi

- Quan điểm về sự tham gia các buổi tuyên truyền - giáo dục phòng tránh đuối nước

- Quan điểm về nội dung, hình thức tổ chức các tuyên truyền

- giáo dục phòng tránh đuối nước

- Quan điểm về nguồn tiếp nhận thông tin phòng tránh đuối nước

- Các thiết bị nổi: áo phao, phao,…

- Các dụng cụ sơ cứu

- Nước sâu, dòng nước chảy mạnh

- Biển báo, rào chắn ở các khu vực nguy hiểm

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2017 đến tháng 9/2017 Địa điểm: Phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, Nghệ An

Cỡ mẫu và phương pháp nghiên cứu

- Trẻ từ 10 - 15 tuổi tại phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, Nghệ An được bố/mẹ hoặc người giám hộ đồng ý cho tham gia nghiên cứu

Ti u chu n ch n đ i tượng th m gi nghi n cứu:

- Là trẻ sinh từ năm 2005 - 2010

- Đủ sức khỏe để trả lời phỏng vấn;

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu và được sự đồng ý của người giám hộ;

- Sinh sống tại địa bàn nghiên cứu

Ti u chu n oại trừ đ i tượng :

- Không đủ khả năng sức khỏe, tinh thần trả lời phỏng vấn

- Từ chối tham gia nghiên cứu

- Không thể gặp mặt sau 3 lần tới tiếp cận

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2017 đến tháng 9/2017 Địa điểm: Phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, Nghệ An

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp với nghiên cứu định lượng thông qua việc sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn dành cho trẻ em từ 10 đến 15 tuổi.

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Theo công thức chọn mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang:

Z = 1.96 là hệ số tin cậy với = 0.05 của khoảng tin cậy 95 d: sai số chấp nhận được, chọn d= 0,07

Tỷ lệ trẻ em từ 10 đến 15 tuổi có kiến thức đúng về phòng tránh đuối nước là P = 0.5 Kết quả tính toán cho thấy cỡ mẫu n = 270, tuy nhiên, để dự phòng 10 nguy cơ mất mẫu, cỡ mẫu đã được tăng lên 300 đối tượng tham gia nghiên cứu.

Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống

Lập danh sách trẻ em từ 10 đến 15 tuổi trong toàn phường và tính khoảng cách mẫu với công thức k = N/n, trong đó N là tổng số trẻ trong độ tuổi này tại địa bàn xã và n là số trẻ được chọn vào nghiên cứu Kết quả tính toán cho thấy k = 3.

Chọn trẻ đầu tiên có số thứ tự nhỏ hơn k, sau đó chọn trẻ tiếp theo có thứ tự b của trẻ đầu tiên Nếu trẻ không đủ tiêu chuẩn, hãy chọn trẻ có thứ tự ngay sau trẻ đã được chọn.

Phương pháp thu thập

Quá trình thu thập được thực hiện theo 3 bước sau:

Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu

Xây dựng bộ câu hỏi nhằm tìm hiểu khái niệm, đặc điểm và nguyên nhân của tai nạn đuối nước ở trẻ em, đồng thời tập trung vào các biện pháp phòng chống Các câu hỏi sẽ được thiết kế dựa trên tài liệu tham khảo và bổ sung từ các nghiên cứu khác về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan Mục tiêu là tạo ra phiếu hỏi hiệu quả về kiến thức và thực hành phòng chống đuối nước cho trẻ em.

Sau khi hoàn thiện bộ câu hỏi nghiên cứu, điều tra viên đã tiến hành thử nghiệm với 10 trẻ em từ 10 đến 15 tuổi tại 10 hộ gia đình Qua quá trình này, nội dung bộ câu hỏi đã được điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tế trước khi tiến hành in ấn.

Bước 2: Tập huấn, chuẩn bị

 In bộ công cụ phỏng vấn

 Chuẩn bị các thiết bị phục vụ cho phỏng vấn trẻ: bút, phương tiện đi lại

 Thảo luận về các kỹ năng phỏng vấn trẻ cho các thành viên trong nhóm

Bước 3: Thu thập thông tin

Trong nghiên cứu tại hộ gia đình, phỏng vấn trực tiếp trẻ em được thực hiện nhằm mục đích mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của các em về phòng tránh đuối nước Nghiên cứu cũng sẽ phân tích các mối liên quan đến thực hành này để hiểu rõ hơn về tình hình hiện tại.

 Sử dụng bảng quan sát các biện pháp phòng ngừa đuối nước ở các ao/hồ/kênh/rạch/sông/bãi biển

Biến số nghiên cứu

Có 7 nhóm biến số nghiên cứu chính đã được sử dụng bao gồm:

- Nhóm biến số thông tin chungcủa trẻ

- Nhóm biến số thông tin của người chăm sóc chính

- Nhóm biến số thông tin thời gian biểu của trẻ

- Nhóm biến số liên quan đến môi trường nước xung quanh trẻ

- Nhóm biến số kiến thức của trẻ về đuối nước và phòng tránh đuối nước

- Nhóm biến số thái độ của trẻ về phòng tránh đuối nước

- Nhóm biến số thực hành của trẻ về phòng tránh đuối nước

(Chi tiết các biến s xem Phụ ục 3)

Tiêu chuẩn đánh giá

2.7.1 Đánh giá kiến thức của trẻ về phòng tránh đuối nước

Tổng điểm đánh giá kiến thức là 31, nếu đối tượng nghiên cứu được ≥ 15 điểm (đạt ≥ 50 tổng số điểm) => đánh giá là đạt, nếu đối tượng nghiên cứu được < 14 điểm

=> đánh giá là không đạt (cụ thể cách chấm điểm: phụ ục 5)

2.7.2 Đánh giá thực hành của trẻ về phòng tránh đuối nước

Tổng điểm đánh giá kiến thức là 14, nếu đối tượng nghiên cứu được ≥ 7 điểm (đạt ≥ 50 tổng số điểm) => đánh giá là đạt, nếu đối tượng nghiên cứu được < 6 điểm

=> đánh giá là không đạt (cụ thể cách chấm điểm: phụ ục 6)

Phương pháp phân tích số liệu

- Sử dụng phần mềm Epi-Data 3.1 để nhập liệu

- Số liệu dưới định dạng Epi-Data được chuyển sang SPSS 16.0 để phân tích 2.8.2 Phương pháp phân tích số liệu

- Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích số liệu

- Sử dụng kiểm định χ 2 để so sánh các tỷ lệ Sử dụng OR và khoảng tin cậy để đo lường độ mạnh của sự kết hợp.

Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được hội đồng khoa học và hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt, cho phép tiến hành theo giấy chấp thuận của hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Nội số 047/2017/YTCC-HD3 Hội đồng thông qua nghiên cứu dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức của Bộ Y tế và tiêu chuẩn quốc tế

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên sự tham gia tự nguyện của người được phỏng vấn, với sự đồng ý của phụ huynh hoặc người giám hộ Mục tiêu là đảm bảo không gây tổn hại đến tinh thần và thể chất của các đối tượng tham gia.

Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu, cùng với bố mẹ và người giám hộ, đã được thông báo và giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Thông tin cá nhân của người tham gia sẽ không được tiết lộ, chỉ có nghiên cứu viên mới được phép sử dụng thông tin này cho mục đích nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin xác thực về kiến thức, thái độ và thực hành của trẻ em trong việc phòng chống đuối nước Thông qua đó, phụ huynh, nhà trường và các cơ quan chức năng có thể triển khai các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng đuối nước ở trẻ em tại Thị xã.

Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

Công cụ nghiên cứu chủ yếu dựa vào bộ câu hỏi phỏng vấn, phụ thuộc vào kỹ năng phỏng vấn của người hỏi và sự tham gia tích cực của người trả lời Một số thông tin có thể bị thiếu do những yếu tố này.

- Bộ câu hỏi không rõ ràng, khó hiểu

- Người trả lời không nhớ chính xác hay không hiểu câu hỏi

- Điều tra viên khi phỏng vấn không diễn đạt hết ý của bộ câu hỏi làm người trả lời không trả lời đúng mục đích của nghiên cứu

Biện pháp khắc phục sai số

- Thử nghiệm bộ câu hỏi trên 10 đối tượng để làm sáng tỏ bộ câu hỏi và phát hiện vấn đề cần sửa chữa

- Giải thích rõ mục đích của nghiên cứu và kêu gọi sự ủng hộ của đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu viên trực tiếp giám sát trong thời gian thu thập số liệu

- Tập huấn chi tiết cho phỏng vấn viên, hướng dẫn trả lời cụ thể Trực tiếp giải thích khi đối tượng điều tra có yêu cầu

- Làm sạch và mã hóa lại số liệu trước khi phân tích

KẾT QUẢ NGHI N CỨU

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w