TỔNG QUAN
Thông tin chung về phục hồi chức năng và người khuyết tật
1.1.1 Đặc điểm về phục hồi chức năng
1.1.1.1 Khái niệm phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng (PHCN) là quá trình giúp người khuyết tật (NKT) tiếp cận và duy trì cảm giác, tình trạng thân thể, trí tuệ tâm lý và chức năng xã hội một cách tối ưu, theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) PHCN cung cấp cho NKT các công cụ cần thiết để đạt được sự độc lập và tự quyết.
PHCN, hay phục hồi chức năng, là quá trình áp dụng các yếu tố y học, xã hội, hướng nghiệp và giáo dục nhằm giảm thiểu tác động của khiếm khuyết và tàn tật Mục tiêu của PHCN là giúp người bệnh và người khuyết tật phục hồi tối đa về thể chất, tâm thần và xã hội, từ đó tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập và có cơ hội bình đẳng tham gia vào các hoạt động cộng đồng Nói một cách khác, PHCN hướng đến việc khôi phục lại những khả năng đã mất do bệnh tật, tổn thương hoặc khuyết tật bẩm sinh.
Sự phục hồi của cá nhân liên quan rất nhiều đến sinh thái môi trường và các mối quan hệ trong xã hội [4], [43]
1.1.1.2 Mục đích của phục hồi chức năng
PHCN cho NKT không chỉ đơn thuần là công tác y tế mà còn mang ý nghĩa nhân đạo, kinh tế, xã hội và pháp lý sâu sắc Mục đích của PHCN là tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập và phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời khẳng định quyền lợi và trách nhiệm của họ trong xã hội.
- Hoàn lại một cách tối đa thể chất, tinh thần và nghề nghiệp
- Ngăn ngừa tổn thương thứ phát
- Tăng cường tối đa khả năng còn lại của NKT để giảm hậu quả khuyết tật của bản thân, gia đình và xã hội
Thay đổi tích cực về nhận thức, thái độ và hành vi trong xã hội là rất quan trọng, đặc biệt đối với các thành viên trong gia đình và bản thân người khuyết tật (NKT) Cần coi NKT như những thành viên bình đẳng trong cộng đồng, từ đó tạo ra một môi trường hỗ trợ và hòa nhập cho tất cả mọi người.
Cải thiện điều kiện nhà ở, trường học và giao thông là cần thiết để người khuyết tật (NKT) có thể tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội NKT thường gặp khó khăn trong việc thực hiện những công việc mà người bình thường có thể làm, hoặc không thể thực hiện theo cách thông thường.
Việc phòng ngừa khuyết tật cần được toàn xã hội nhận thức là trách nhiệm chung, và mọi người nên tích cực tham gia vào các hoạt động này để nâng cao hiệu quả phòng ngừa.
Trước đây, quá trình phục hồi chức năng (PHCN) cho người khuyết tật (NKT) chỉ được bắt đầu khi một hoặc nhiều bộ phận trong cơ thể mất chức năng hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn Tuy nhiên, hiện nay, PHCN cho NKT được xác định bắt đầu từ giai đoạn chưa bị bệnh, được gọi là "phục hồi dự phòng".
1.1.1.3 Các hình thức phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng tại trung tâm là hình thức đã được áp dụng từ lâu, nơi tập trung hầu hết dịch vụ phục hồi chức năng cho người khuyết tật (NKT) Hình thức này mang lại nhiều thuận lợi về đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cơ sở vật chất và trang thiết bị, có khả năng phục hồi cho những trường hợp khó và nặng Tuy nhiên, chi phí cao và số lượng người được phục hồi không nhiều, cùng với việc NKT và gia đình phải sống xa nhà, gây ra nhiều bất tiện, khiến cho việc chấp nhận các trung tâm phục hồi trở nên khó khăn hơn.
Phục hồi chức năng ngoài trung tâm là hình thức đưa cán bộ và phương tiện phục hồi chức năng xuống cộng đồng, giúp tăng cường số lượng người khuyết tật được hỗ trợ Hình thức này không chỉ giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình người khuyết tật mà còn mang lại nhiều lợi ích Tuy nhiên, chi phí cho việc phục hồi chức năng ngoài trung tâm khá lớn và việc đảm bảo nhân lực cũng như trang thiết bị vẫn là thách thức lớn.
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là chương trình y tế mang tính xã hội hóa cao, trong đó kiến thức về phòng ngừa và phục hồi chức năng cho người khuyết tật (NKT) được truyền đạt từ bác sĩ đến nhân viên y tế thôn bản, rồi đến NKT và gia đình họ Với sự hỗ trợ của nhân viên y tế thôn bản, NKT có thể thực hiện các bài tập tại nhà bằng cách sử dụng các dụng cụ thích ứng có sẵn ở địa phương Công tác phục hồi chức năng thành công dựa vào sự tham gia của cộng đồng thông qua các tổ chức địa phương, nhằm xã hội hóa và dân chủ hóa quá trình phòng ngừa tàn tật.
PHCNDVCĐ được triển khai qua sự phối hợp giữa NKT, gia đình và cộng đồng, cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục, hướng nghiệp và xã hội phù hợp, đáp ứng 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người Người quản lý chương trình có trách nhiệm chuyển giao kiến thức và kỹ năng PHCN đến NKT, gia đình và cộng đồng Cộng đồng cần tham gia lập kế hoạch và đánh giá chương trình, đồng thời cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các ngành và chính quyền các cấp.
Vào năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới và Liên đoàn Lao động Quốc tế đã định nghĩa "PHCNDVCĐ" là chiến lược phát triển cộng đồng nhằm nâng cao cơ hội và hội nhập xã hội cho mọi người khuyết tật (NKT) Chiến lược này nhấn mạnh trách nhiệm của cộng đồng, bản thân NKT và gia đình trong việc triển khai thông qua các dịch vụ y tế, giáo dục, hướng nghiệp và xã hội.
1.1.2 Đặc điểm về người khuyết tật
1.1.2.1 Khái niệm người khuyết tật
NKT là những cá nhân bị giảm chức năng hoặc hạn chế tham gia vào các hoạt động sinh hoạt, lao động, học tập và đời sống xã hội do khiếm khuyết hoặc tình trạng sức khỏe.
Bộ Y tế Việt Nam hiện đang áp dụng phân loại khuyết tật của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bao gồm 7 nhóm khuyết tật khác nhau, phù hợp cho cả người lớn và trẻ em.
1 Khó khăn về tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển
Kiến thức, thái độ và thực hành về phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật tại gia đình
Mặc dù Việt Nam đã triển khai chương trình PHCNDVCĐ, nhưng việc thực hiện quyền trẻ em khuyết tật vẫn gặp nhiều hạn chế Trẻ khuyết tật chủ yếu sinh sống ở vùng sâu, vùng xa và nông thôn, nơi kinh tế khó khăn và hạn chế tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, thông tin, dẫn đến trình độ học vấn và nhận thức thấp Nhu cầu hỗ trợ vận động đạt 99,4%, điều trị và chăm sóc 96,2%, hỗ trợ xã hội 98,0% và cung cấp thông tin 96,2%, cho thấy sự cần thiết của hỗ trợ từ gia đình là rất quan trọng.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh cho thấy hơn 90% gia đình quan tâm đến việc đưa trẻ đến khám và điều trị tại cơ sở y tế, nhưng vai trò của họ trong phục hồi chức năng (PHCN) vẫn còn thụ động Cụ thể, 43,2% gia đình chưa nghe về tập luyện PHCN, 84,5% chưa có tài liệu nào liên quan, và 63,0% chưa được hướng dẫn về PHCN Trong số đó, 45,6% hộ gia đình thực hiện tập luyện PHCN cho trẻ, 45% mong muốn được cung cấp dụng cụ hỗ trợ vận động, và 34,9% có nhu cầu về tài liệu PHCN.
Nghiên cứu của Phạm Dũng (2003), “ Thực trạng tàn tật và Phục hồi chức năng người tàn tật tại hai xã của huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2003”
Nghiên cứu mô tả cắt ngang với cỡ mẫu 386 gia đình có người khuyết tật tại hai xã Nội Duệ và Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh cho thấy tỉ lệ gia đình chưa tiếp cận kiến thức và kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN) rất cao, lên tới 80,8% Chỉ có 16,1% gia đình được hướng dẫn kỹ thuật PHCN, trong khi 14,5% gia đình có ý thức tự tập luyện PHCN cho người thân.
Nghiên cứu của Nguyễn Lương Bầu (2005) về tình hình người khuyết tật và chương trình phục hồi chức năng tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang cho thấy nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật đạt 37,4% Đồng thời, nhu cầu hòa nhập xã hội của họ là 100%, cho thấy tầm quan trọng của các chương trình hỗ trợ và can thiệp xã hội Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra mô tả cắt ngang với phân tích dữ liệu định tính và định lượng để đưa ra những kết luận này.
Nghiên cứu của Nguyễn Đăng Tấn (2006) về thực trạng phục hồi chức năng tại nhà cho bệnh nhân tâm thần nặng ở Cầu Giấy cho thấy nhiều vấn đề nghiêm trọng Trong số 130 bệnh nhân được khảo sát, chỉ 13,2% tự tìm hiểu kiến thức về khuyết tật, trong khi 39,5% chưa tiếp cận được thông tin này Đáng chú ý, tỷ lệ nhân viên chăm sóc chính chưa được tập huấn cao gấp 4 lần so với những người đã được đào tạo Hơn nữa, 23,7% bệnh nhân không thể làm việc, và 64,5% nhân viên chăm sóc chính không tổ chức lao động cho bệnh nhân.
Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2007) về tình hình chăm sóc trẻ khuyết tật vận động tại huyện Gia Lâm cho thấy, mẫu nghiên cứu định lượng gồm 124 trẻ, trong đó 65,32% là nữ và 96,77% là con của nông dân Kết quả cho thấy, tỷ lệ trẻ đạt yêu cầu thực hành trong chăm sóc y tế và phục hồi chức năng là 75,81%, trong sinh hoạt hàng ngày là 46,77%, hòa nhập xã hội là 42,7% và giáo dục chỉ đạt 25%.
Nghiên cứu của Phạm Thị Nhuyên (2007) về “Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của gia đình NKT trong PHCNDVCĐ tại tỉnh Hải Dương” đã tiến hành khảo sát hệ thống giữa NKT và người chăm sóc trong gia đình để đánh giá nhu cầu PHCN của NKT Kết quả cho thấy nhu cầu PHCN của NKT rất cao, trong khi năng lực PHCN tại nhà của thành viên gia đình lại hạn chế Nghiên cứu cũng chỉ ra bốn nhiệm vụ chính của họ trong chương trình PHCNDVCĐ, bao gồm việc báo cáo tình trạng khuyết tật cho nhân viên PHCN.
Sử dụng tài liệu huấn luyện NKT tại cộng đồng; Thay đổi điều kiện trong nhà phù hợp với NKT; Tăng cường sự chấp nhận NKT trong gia đình [17]
Nghiên cứu của Phạm Văn Hán và cs (2010) về “Nghiên cứu thực trạng tàn tật và nhu cầu phục hồi chức năng cho người tàn tật ở 2 xã Vĩnh Hồng,
Nghiên cứu về "Hùng Thắng huyện Bình Giang Hải Dương" cho thấy có 34,1% trẻ em gặp khó khăn về vận động, 13,5% khó khăn về nhìn, 19,8% khó khăn về nghe nói, 7% gặp khó khăn trong học tập, 21,7% có hành vi xa lạ, 3,7% bị động kinh và không có trẻ nào mất cảm giác Nhu cầu phục hồi chức năng chung đạt 34,1%, trong đó 72,1% là trẻ dưới 15 tuổi và 29,9% từ 15 tuổi trở lên Đặc biệt, nhu cầu phục hồi chức năng để hòa nhập xã hội chiếm 86,3%, trong khi nhu cầu phục hồi chức năng vận động là 33,9%.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Ngân (2014) tập trung vào thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ của Nghiên cứu sinh (NCS) trong việc phục hồi chức năng tại nhà cho người khuyết tật (NKT) tại phường Tân Hà, thành phố Tuyên Quang Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của NCS trong quá trình phục hồi chức năng, đồng thời chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc nâng cao chất lượng hỗ trợ cho NKT Kết quả nghiên cứu có thể giúp cải thiện các chương trình phục hồi chức năng tại cộng đồng.
Nghiên cứu cắt ngang với mẫu 198 NCS chính của NKT cho thấy, vợ/chồng chiếm 41,9% và bố/mẹ chiếm 31,3%, trong đó NCS chính là nữ cao gấp đôi nam, đạt 68,7% Thực trạng hỗ trợ phục hồi chức năng tại nhà cho NKT là 27,8%, trong sinh hoạt hàng ngày là 31,5%, vận động di chuyển 32,9%, ngôn ngữ giao tiếp 28,6% và hòa nhập xã hội 34,4% Hỗ trợ y học chỉ đạt 16,5%.
Nghiên cứu của Lee KW và cs (2015) thấy có tới 33,8% NCS bệnh nhân đột quỵ không có kiến thức phù hợp [44] Nghiên cứu của Shah A H và cs
Nghiên cứu năm 2017 cho thấy tỉ lệ nhân viên chăm sóc (NCS) có kiến thức phù hợp trong chăm sóc sức khỏe đạt 59,2%, trong khi tỉ lệ có thái độ phù hợp chỉ là 48,3% Theo Vincent C và cộng sự (2007), NCS cho người già bị đột quỵ vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong quá trình phục hồi chức năng tại nhà Torabi C.R và cộng sự (2017) ghi nhận điểm trung bình thái độ của NCS là 108,77 ± 6,20, với 49,3% NCS có thái độ trung bình trong việc chăm sóc bệnh nhân đột quỵ Nghiên cứu của Dung A.D và cộng sự (2009) chỉ ra rằng có 25% NCS trẻ bị động kinh không nhận biết được các biểu hiện của bệnh, và 49,0% cho rằng họ thiếu kiến thức về động kinh trong quá trình chăm sóc trẻ.
Cần thiết phải tiến hành các nghiên cứu đánh giá sâu và toàn diện về nhân viên chăm sóc (NCS) để cải thiện phục hồi chức năng cho bệnh nhân tại nhà, đồng thời can thiệp nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng cho NCS.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật tại gia đình
Hỗ trợ phục hồi chức năng tại nhà cho người khuyết tật (NKT) phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ văn hóa, mối quan hệ với NKT, và khả năng tiếp cận dịch vụ của nhân viên chăm sóc (NCS) chính Những yếu tố này ảnh hưởng đến chất lượng và kết quả phục hồi, mặc dù mức độ ảnh hưởng có thể khác nhau Mặc dù đã có một số nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa PHCN tại nhà và các yếu tố của NCS chính, nhưng số lượng vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào tình hình tàn tật và nhu cầu PHCN của NKT Một số nghiên cứu đã phát hiện ra mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố này và PHCN tại nhà cho NKT và NCS chính.
Nghiên cứu của Phạm Dũng (2003) đã chỉ ra rằng mối liên quan giữa kinh tế gia đình và việc cung cấp hỗ trợ phục hồi chức năng tại nhà cho người khuyết tật (NKT) rất rõ ràng Các gia đình có mức sống cao hơn thường có khả năng chăm sóc NKT tốt hơn, trong khi những gia đình nghèo gặp khó khăn trong việc này Việc xác định mối liên hệ này là cần thiết để xây dựng kế hoạch can thiệp hỗ trợ phục hồi chức năng tại nhà một cách chủ động và hiệu quả.
Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2006) chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa trình độ học vấn của NCS chính và cách thức chăm sóc y tế, phục hồi chức năng của trẻ Chất lượng chăm sóc y tế và phục hồi chức năng cải thiện theo mức độ học vấn của NCS chính.
Nghiên cứu của Võ Ngọc Dũng (2010) chỉ ra rằng có mối liên hệ thống kê quan trọng giữa NCS chính và NKT trong việc thực hành PHCN liên quan đến vận động, di chuyển và sinh hoạt hàng ngày Cụ thể, những người có mối quan hệ là bố/mẹ với NKT có xu hướng thực hiện tốt hơn trong các hoạt động này so với những người không phải là bố/mẹ Tuy nhiên, nghiên cứu không phát hiện mối liên quan có ý nghĩa giữa trình độ học vấn, khả năng tiếp cận dịch vụ và thực hành PHCN tại nhà của NCS chính.
Nghiên cứu của Đào Thanh Quang (2012) chỉ ra rằng các yếu tố như tuổi tác, tình hình kinh tế gia đình, trình độ học vấn và nghề nghiệp của người khuyết tật (NKT) có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng khuyết tật của họ Đồng thời, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình hình kinh tế và kế hoạch cá nhân cũng ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu phục hồi chức năng (PHCN) cho NKT.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Ngân (2014) chỉ ra rằng có mối liên hệ thống kê quan trọng giữa việc tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng (PHCN) và mối quan hệ giữa người khuyết tật (NKT) với nhân viên chăm sóc (NCS), ảnh hưởng đến sự hỗ trợ PHCN trong vận động di chuyển, ngôn ngữ và giao tiếp Mối quan hệ này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ NKT hòa nhập xã hội.
Theo nghiên cứu của Elliott Timothy R và cộng sự (2008), hoạt động chăm sóc người già phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạng sức khỏe, cảm xúc, hoạt động xã hội và tình hình tài chính Ngoài ra, căng thẳng và sự hỗ trợ từ điều dưỡng và tư vấn viên có thể làm giảm gánh nặng cho người chăm sóc Đặc biệt, tuổi tác của người chăm sóc, thời gian chăm sóc hàng ngày, biểu hiện trầm cảm và sự hỗ trợ xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến gánh nặng mà họ phải đối mặt.
(2015) cho thấy, mẹ có trình độ học vấn cao hơn thì sẽ có kiến thức về bệnh cao hơn, có ý nghĩa thống kê (p = 0,02) [34] Theo Hall-Parkinson D và cs
Năm 2015, một nghiên cứu cho thấy 54% phụ huynh và trẻ khuyết tật có kiến thức phù hợp về cách xử trí cơn co giật, trong khi chỉ 20% có kiến thức phòng ngừa cơn co giật Ngoài ra, nghiên cứu của Chen Xiaoli và cộng sự cũng chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ khuyết tật bao gồm hành vi sống, yếu tố gia đình, môi trường và nhận thức của các thành viên trong gia đình.
Nghiên cứu của Neupane Dipika và cộng sự (2016) cho thấy thái độ của nghiên cứu sinh (NCS) có mối liên hệ thống kê đáng kể với các yếu tố như giới tính, tình trạng gia đình, trình độ học vấn, nghề nghiệp, mối quan hệ với bệnh nhân và việc sử dụng các biện pháp điều trị bổ sung (p < 0,05) [49].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thời (2017) chỉ ra rằng mối quan hệ giữa NKT và NCS có ảnh hưởng đáng kể đến sự hỗ trợ phục hồi chức năng cho NKT tại nhà, đặc biệt trong các hoạt động vận động, di chuyển, sinh hoạt hàng ngày và hòa nhập xã hội, với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Hoạt động phục hồi chức năng tại tuyến xã
Thực trạng thực hiện chuẩn quốc gia y tế xã về phục hồi chức năng (PHCN) dựa vào cộng đồng đã được xác định qua Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành ngày 07 tháng 2 năm 2002 Quyết định này quy định về “Chuẩn quốc gia y tế xã giai đoạn 2001-2010”, trong đó chuẩn III đặc biệt nhấn mạnh vai trò của khám chữa bệnh và phục hồi chức năng trong việc nâng cao chất lượng y tế cộng đồng.
- Tỉ lệ NKT tại cộng đồng được quản lí đạt từ: Đồng bằng và trung du: 90% trở lên
- Tỉ lệ NKT được hướng dẫn và PHCN tại cộng đồng đạt từ: Đồng bằng và trung du: 20% trở lên
Theo Thông tư 43/2013/TT-BYT, tuyến xã, phường, thị trấn (tuyến 4) được phép thực hiện 109 kỹ thuật, được phân thành 6 nhóm chính: Vật lý trị liệu, Vận động trị liệu, Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu, Kỹ thuật thăm dò lượng giá điều trị phục hồi chức năng, và Dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- NCS chính cho NKT tại gia đình: là người hàng ngày trực tiếp chăm sóc NKT
- Cán bộ y tế xã, nhân viên y tế thôn bản
Cán bộ lãnh đạo cộng đồng bao gồm các vị trí quan trọng như Chủ tịch và Phó Chủ tịch xã, Chủ tịch Hội Phụ nữ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội Nông dân và Bí thư Đoàn Thanh niên xã, đóng vai trò chủ chốt trong việc phát triển và quản lý các hoạt động cộng đồng.
- Sổ sách lưu trữ tại các cơ quan y tế, xã hội: Sổ sách, báo cáo, bệnh án của NKT
Địa điểm nghiên cứu
Xã Hợp Thành, Phủ Lý, Ôn Lương và Thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Xã Hợp Thành nằm ở phía tây huyện, giáp với xã Ôn Lương phía bắc, xã Phủ Lý phía đông, xã Động Đạt phía nam và xã Phúc Lương thuộc huyện Đại Từ phía tây Với diện tích 10,25 km², xã có dân số 2810 người vào năm 2018, tương ứng với 754 hộ dân, đạt mật độ dân cư cao.
242 người/km² Hợp Thành là xã có diện tích nhỏ nhất, dân số ít nhất và nhiều hộ nghèo nhất trong toàn huyện
Xã Phủ Lý nằm ở phía tây huyện, giáp xã Yên Đổ ở đông bắc, xã Động Đạt ở đông và nam, xã Hợp Thành ở tây, và xã Ôn Lương ở tây bắc Với diện tích 15,76 km², xã Phủ Lý có dân số đáng chú ý.
2018 là 3346 người, mật độ dân số đạt 154 người/km²
Xã Ôn Lương nằm ở phía tây huyện, giáp xã Bộc Nhiêu và Định Hóa về phía tây và tây bắc, xã Phú Tiến, Định Hóa và Yên Đổ, Phú Lương ở phía đông bắc, xã Phủ Lý, Phú Lương ở phía đông, và xã Hợp Thành.
Xã Phú Lương nằm ở phía nam và giáp với xã Phúc Lương, Đại Từ ở phía tây nam Với diện tích 17,11 km², xã có dân số khoảng 3.503 người vào năm 2018, tương ứng với 951 hộ gia đình, đạt mật độ dân số 192 người/km².
Thị trấn Đu, nằm ở trung tâm huyện, kéo dài theo chiều bắc-nam dọc quốc lộ 3, giáp với xã Động Đạt, Yên Lạc và Tức Tranh ở phía đông; xã Động Đạt và Phấn Mễ ở phía tây; xã Phấn Mễ ở phía nam; và xã Động Đạt ở phía bắc Với diện tích 9,4075 km², thị trấn Đu có dân số khoảng 8.583 người.
Thời gian nghiên cứu
Từ 01 tháng 12 năm 2017 đến 3 tháng 5 năm 2019
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỉ lệ [13], [45] n = Z 2 (1 - /2) 2
Trong đó: n là cỡ mẫu tối thiểu;
Z(1 - α/2) với độ tin cậy 95% được tính là Z(1 - α/2) = 1,96; theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Ngân (2014), tỉ lệ hỗ trợ phục hồi chức năng chung tại nhà cho NKT của NCS chính chưa đạt là 72,2% (p = 0,722) [16] Để đạt được độ chính xác mong muốn, d được chọn là 1/10p, tương đương với 0,0722.
Số lượng mẫu khảo sát ban đầu là n = 148, sau khi cộng thêm 10% để phòng tránh sai số, tổng số mẫu cần thiết là n = 163 Tuy nhiên, thực tế đã thu thập được 219 NCS chính cho NKT từ toàn bộ 219 NKT trong khu vực nghiên cứu.
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành 24 cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng liên quan từ 4 xã nghiên cứu, cùng với 08 cuộc thảo luận nhóm, bao gồm 04 cuộc thảo luận với đại diện lãnh đạo cộng đồng và 04 cuộc thảo luận với nhóm nghiên cứu chính.
Chọn toàn bộ: lập danh sách NKT tại 4 xã nghiên cứu, tiến hành phỏng vấn NCS chính cho NKT theo danh sách nghiên cứu
- 04 cuộc phỏng vấn sâu NCS chính cho NKT tại 4 xã
- 04 cuộc phỏng vấn sâu trưởng trạm y tế xã tại 4 xã
- 04 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ phụ trách chương trình PHCN tại 4 xã
- 04 cuộc phỏng vấn sâu nhân viên y tế thôn bản tại 4 xã
- 04 cuộc phỏng vấn sâu đại diện lãnh đạo cộng đồng (trưởng ban chăm sóc sức khỏe) tại 4 xã
- 04 cuộc phỏng vấn sâu NKT tại 4 xã
- 04 thảo luận nhóm với lãnh đạo cộng đồng (tại 4 xã): 10 người/1 cuộc
- 04 thảo luận nhóm với NCS chính cho NKT (tại 4 xã): 10 người/1 cuộc
Chỉ số nghiên cứu
2.5.1 Các chỉ số về đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
- Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi
- Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính
- Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc
- Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn
- Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp
- Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tình trạng hôn nhân hiện tại
- Phân bố đối tượng nghiên cứu theo điều kiện kinh tế hộ gia đình
- Phân bố đối tượng nghiên cứu theo mối quan hệ với NKT
- Phân bố tỉ lệ nguyên nhân khuyết tật của NKT
- Phân bố tỉ lệ dạng khuyết tật của NKT
- Phân bố tỉ lệ nguồn thu nhập của NKT
- Phân bố tỉ lệ tình trạng hôn nhân hiện tại của NKT
- Phân bố tỉ lệ thời gian bị khuyết tật của NKT
- Phân bố tỉ lệ nhu cầu hỗ trợ PHCN của NKT
2.5.2 Các chỉ số đánh giá về kiến thức, thái độ và thực hành phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật
- Tỉ lệ kiến thức về PHCN của NCSNKT
- Phân bố tỉ lệ mức độ kiến thức chung về PHCN của NCSNKT
- Tỉ lệ thái độ của NCSNKT về hoạt động PHCN cho NKT
- Phân bố tỉ lệ mức độ thái độ chung về PHCN của NCSNKT
- Tỉ lệ NKT được hỗ trợ PHCN
- Phân bố tỉ lệ đặc điểm hỗ trợ PHCN cho NKT theo loại PHCN, theo tần suất và theo thời gian
- Phân bố tỉ lệ người hướng dẫn tập luyện PHCN tại nhà cho NCSNKT
- Tỉ lệ tần suất hỗ trợ PHCN cho NKT của NCS trong ăn uống
- Tỉ lệ tần suất hỗ trợ PHCN cho NKT của NCS trong vệ sinh cá nhân
- Tỉ lệ tần suất hỗ trợ PHCN cho NKT của NCS trong mặc quần áo
- Tỉ lệ tần suất hỗ trợ PHCN cho NKT của NCS trong vận động
- Tỉ lệ cách thức hỗ trợ của NCS chính cho NKT
- Tỉ lệ NCS chính cho NKT tự đánh giá kết quả PHCN tại gia đình
- Phân bố tỉ lệ khám sức khỏe định kỳ của NKT
- Phân bố tỉ lệ mức độ thực hành chung về PHCN của NCSNKT
- Nhận xét về kiến thức, thái độ và thực hành về PHCN của NCSNKT
2.5.3 Các chỉ số đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành PHCN tại nhà của người chăm sóc cho người khuyết tật
- Ảnh hưởng giữa tuổi của NCS với thực hành PHCN
- Ảnh hưởng giữa giới của NCS với thực hành PHCN
- Ảnh hưởng giữa dân tộc của NCS với thực hành PHCN
- Ảnh hưởng giữa trình độ học vấn của NCS với thực hành PHCN
- Ảnh hưởng giữa nghề nghiệp của NCS với thực hành PHCN
- Ảnh hưởng giữa mối quan hệ của NCS và NKT với thực hành PHCN
- Ảnh hưởng giữa kiến thức của NCS với thực hành PHCN
- Ảnh hưởng giữa thái độ của NCS với thực hành PHCN
- Nhận xét ảnh hưởng bởi kiến thức, thái độ với thực hành PHCN
- Ảnh hưởng bởi tiếp cận dịch vụ PHCN
- Ảnh hưởng bởi trang thiết bị hỗ trợ PHCN
- Ảnh hưởng bởi dịch vụ PHCN tại xã
- Ảnh hưởng bởi nguồn thông tin về PHCN
Một số tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu
Các câu hỏi đánh giá thái độ về PHCN cho đối tượng nghiên cứu được xây dựng theo thang đo Likert, bao gồm 5 mức độ: Rất không đồng ý, không đồng ý, chưa rõ ràng, đồng ý và rất đồng ý.
Đánh giá kiến thức và thái độ được thực hiện thông qua phiếu phỏng vấn, nơi các câu trả lời sẽ được chấm điểm và tổng hợp Kết quả sẽ được phân loại theo ba mức độ như hướng dẫn đã cung cấp.
Phần trăm (điểm) Giải thích
≥ 80% (tổng số điểm): Xếp loại tốt
> 60% - < 80% tổng số điểm): Xếp loại trung bình
≤ 60% (tổng số điểm): Xếp loại yếu
Đánh giá thực hành là quá trình đánh giá khả năng thực hành phục hồi chức năng (PHCN) của NCSNKT tại nhà thông qua phiếu phỏng vấn Kết quả sẽ được chấm điểm, tính tổng điểm và phân loại theo các mức độ khác nhau.
Phần trăm (điểm) Giải thích
≥ 50% (tổng kỹ thuật của BYT): Thực hành tốt
< 50% (tổng kỹ thuật của BYT): Thực hành chưa tốt
- Đánh giá kinh tế hộ gia đình:
Hộ nghèo khu vực nông thôn được xác định là những hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 700.000 đồng mỗi tháng Trong khi đó, hộ cận nghèo có thu nhập bình quân từ 700.000 đến 1.000.000 đồng Đối với hộ có mức sống trung bình, thu nhập bình quân đầu người dao động từ 1.000.000 đến 1.500.000 đồng mỗi tháng.
Hộ nghèo khu vực thành thị được định nghĩa là những hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 900.000 đồng trở xuống Trong khi đó, hộ cận nghèo khu vực nông thôn là những hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng nằm trong khoảng từ 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng.
Hộ có mức sống trung bình khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng [23].
Xử lý số liệu
- Số liệu được mã hóa, nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và được xử lý theo các thuật toán thống kê y học bằng phần mềm SPSS 16.0
- Thống kê mô tả: Tính tần số (SL) và tỉ lệ % cho biến định tính; trung bình ± độ lệch chuẩn cho biến định lượng
- Thống kê phân tích mối tương quan giữa 2 biến bằng Chi-square test Mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu này không tác động đến hoạt động của cán bộ y tế tại các trạm y tế xã và thị trấn, đồng thời cũng không ảnh hưởng đến hoạt động phục hồi chức năng của những người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại các hộ gia đình trong khu vực.
- Các thông tin thu thập trong nghiên cứu được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho các mục đích khác
Đối tượng nghiên cứu được thông báo chi tiết về mục đích, yêu cầu và lợi ích của nghiên cứu Họ có quyền từ chối tham gia, không trả lời hoặc dừng tham gia nghiên cứu bất kỳ lúc nào.
Nghiên cứu này đã được phê duyệt bởi Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên và nhận được sự đồng ý từ Ban giám đốc Trung tâm Y tế huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của người chăm sóc chính cho người khuyết tật
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi và dân tộc của NCS chính cho NKT
Hơn 55,7% đối tượng nghiên cứu có độ tuổi từ 50 trở lên, với độ tuổi trung bình là 49,98 ± 15,06 Trong đó, người dân tộc Kinh chiếm 35,6%, trong khi người dân tộc Tày chiếm 56,6%.
Biểu đồ 3.1 Phân bố đặc điểm giới của NCS chính cho NKT
Nhận xét: Tỉ lệ nam giới là 32,4%; nữ là 67,6%
Biểu đồ 3.2 cho thấy sự phân bố trình độ học vấn của NCS chính cho NKT, trong đó tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn từ tiểu học trở lên là đáng chú ý.
35,1%; THCS là 43,4% và ≥ THPT là 21,5%
Bảng 3.2 Đặc điểm về trình độ học vấn, nghề nghiệp và mối quan hệ với người khuyết tật của người chăm sóc chính
Tình trạng hôn nhân hiện tại
Chưa kết hôn 16 7,3 Đang sống cùng vợ/chồng 182 83,1
Ly dị/ly thân 6 2,7 Điều kiện kinh tế hộ gia đình
Hộ cận nghèo 37 16,9 Đủ ăn 124 56,6
Mối quan hệ với NKT
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nông dân, chiếm 75,3%, với 83,1% sống cùng vợ/chồng Tỉ lệ hộ gia đình có kinh tế đủ ăn đạt 56,6%, trong khi tỉ lệ hộ nghèo là 26,5% Đáng chú ý, 34,7% số người có nhu cầu chăm sóc (NCS) là bố mẹ của người khuyết tật (NKT), và 29,7% là vợ/chồng của họ.
Bảng 3.3 Một số đặc điểm khuyết tật của người khuyết tật (n = 219)
Nguồn thu nhập của NKT
Do tài trợ của tổ chức nhân đạo 4 1,8
Do ngân sách nhà nước 183 83,6
Khác (không có, được cho…) 22 10,0
Tình trạng hôn nhân hiện tại của NKT
Chưa kết hôn 93 42,5 Đang sống cùng vợ/chồng 84 38,4
Tỷ lệ người khuyết tật (NKT) do bệnh tật chiếm 38,4%, trong khi nguyên nhân bẩm sinh là 36,1% Trong số các dạng khuyết tật, khuyết tật vận động đứng đầu với tỷ lệ 51,6% Nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và khả năng vận động, di chuyển của NKT lần lượt là 57,1% và 53,4%.
Biểu đồ 3.3 Thời gian bị khuyết tật của người khuyết tật
Nhận xét: Tỉ lệ NKT có thời gian khuyết tật < 5 năm là 13,7%; từ 5 - 10 năm là 29,7% và > 10 năm là 56,6%
Biểu đồ 3.4 cho thấy nhu cầu hỗ trợ phục hồi chức năng của người khuyết tật, với 57,1% cần hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày, 53,4% trong vận động và di chuyển, và 35,6% trong ngôn ngữ và giao tiếp.
Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật
3.2.1 Kiến thức về phục hồi chức năng của NCS chính cho NKT
Bảng 3.4 Kiến thức về phục hồi chức năng của NCS chính cho NKT
Biết lợi ích của PHCN 175 79,9
Biết hậu quả thiếu sót về chức năng đến NKT 201 91,8
Biết biểu hiện tâm lý NKT 171 78,1
Biết địa điểm PHCN cho NKT 196 89,5
Biết thời điểm PHCN cho NKT 155 70,8
Biết thời hạn PHCN cho NKT 72 32,9
Biết chế độ ăn, uống, vận động của NKT 37 16,9 Biết chính sách hỗ trợ PHCN cho NKT 182 83,1 Biết biểu hiện trẻ chậm phát triển trí tuệ 163 74,4
Biết cách xử trí cơn động kinh 101 46,1
Biết PHCN cho người viêm-cứng khớp 22 10,0
Biết PHCN cho người liệt nửa người 32 14,6
Biết vai trò gia đình trong giúp NKT hòa nhập 195 89,0
Tỉ lệ NCS chính cho NKT hiểu đúng khái niệm về phục hồi chức năng (PHCN) đạt 67,6%, trong khi đó, 79,9% nhận thức được lợi ích của PHCN cho NKT Bên cạnh đó, chỉ có 51,6% biết về các phương pháp PHCN phù hợp Đáng chú ý, tỉ lệ người biết đến chính sách hỗ trợ PHCN cho NKT của nhà nước lên đến 83,1%.
Tỉ lệ nghiên cứu sinh (NCS) nhận thức về biểu hiện trẻ chậm phát triển trí tuệ đạt 74,4%, trong khi đó, 46,1% biết cách xử trí cơn động kinh Đặc biệt, 89,0% NCS hiểu rõ vai trò quan trọng của gia đình trong việc giúp người khuyết tật (NKT) hòa nhập xã hội.
Biểu đồ 3.5 Kiến thức chung về phục hồi chức năng của người chăm sóc người khuyết tật Nhận xét:
Tỉ lệ NCSNKT có kiến thức chung về PHCN cho NKT ở mức độ tốt là 18,3%, mức độ trung bình là 26,9% và mức độ yếu là 54,8%
3.2.2 Thái độ về phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho NKT Bảng 3.5 Thái độ về hoạt động phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật
Cần thiết PHCN cho NKT n
0 (0,0) Đồng ý rằng NKT thường mặc cảm, tự ti n
Việc PHCN cho NKT cần thực hiện ngay tại cộng đồng n
NCSNKT cần có kiến thức tốt về PHCN n
0 (0,0) Cần chăm sóc NKT cả về thể chất và tinh thần n
0 (0,0) Chăm sóc NKT rất khó khăn và cần nhiều người cùng thực hiện n
Sắp xếp công việc phù hợp với NKT còn khả năng lao động n
PHCN cho NKT sẽ là gánh nặng cho gia đình họ n
1 (0,5) NKT là một công dân bình thường và có quyền bình đẳng trong các hoạt động xã hội n
Tin tưởng NKT có thể hồi phục nếu được tập luyện
Tỉ lệ người chăm sóc người khuyết tật (NCSNKT) đồng ý và rất đồng ý về việc cần thiết phải có phục hồi chức năng (PHCN) cho người khuyết tật (NKT) đạt 93,1% Bên cạnh đó, 86,3% NCSNKT cho rằng PHCN nên được thực hiện ngay tại cộng đồng Hơn nữa, 85,4% NCSNKT nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có kiến thức tốt về PHCN, và 57,5% tin tưởng rằng NKT có khả năng hồi phục tốt nếu được PHCN đầy đủ và chất lượng.
Biểu đồ 3.6 Thái độ chung về phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật Nhận xét:
Tỉ lệ NCSNKT có thái độ chung về PHCN cho NKT ở mức độ tốt là 70,8%, mức độ trung bình là 16,9% và mức độ yếu là 12,3%
3.2.3 Thực hành về phục hồi chức năng của người chăm sóc NKT
Bảng 3.6 Tần suất người chăm sóc hỗ trợ PHCN tại nhà cho NKT
NKT được NCS chính hỗ trợ PHCN
Nơi hỗ trợ PHCN cho
Loại PHCN được hỗ trợ
Vận động và di chuyển 86 55,5 Giao tiếp và ngôn ngữ 32 20,6 Sinh hoạt hàng ngày 89 57,4
Tần suất anh/chị hỗ trợ và PHCN cho NKT
Thời gian mỗi lần hỗ trợ
Trong số 155 người khuyết tật (NKT) được phục hồi chức năng (PHCN), tỷ lệ đạt 70,8% Cụ thể, 92,3% nhận PHCN tại nhà, 55,5% được hỗ trợ về vận động và di chuyển, 57,4% trong sinh hoạt hàng ngày Tần suất hỗ trợ hàng ngày là 67,1%, trong đó thời gian hỗ trợ dưới 30 phút chiếm 72,3%.
Bảng 3.7 Đặc điểm người hướng dẫn tập luyện PHCN tại nhà cho NCSNKT
Người hướng dẫn tập luyện cho NCSNKT tại nhà SL %
Tài liệu/sách đọc được 9 5,8
Theo kinh nghiệm bản thân 93 60,0
Theo hướng dẫn của người quen 17 11,0
Hơn nửa NCS hỗ trợ PHCN cho NKT dựa theo kinh nghiệm bản thân (60,0%) Tỉ lệ hỗ trợ PHCN theo hướng dẫn cán bộ y tế 34,2%
Bảng 3.8 Tần suất thực hiện hỗ trợ phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật
NKT vệ sinh cá nhân
Hỗ trợ NKT di chuyển trong nhà và quanh xóm
Tỉ lệ NCS thường xuyên hướng dẫn cho NKT ăn uống 39,4, vệ sinh cá nhân 47,7%, mặc quần áo 44,5% và di chuyển quanh nhà 20,6%
Bảng 3.9 Cách thức hỗ trợ của người chăm sóc người khuyết tật (n = 155)
Tập vận động tại nhà cho NKT
Hướng dẫn di chuyển/thay đổi tư thế 75 48,4 Tập luyện các khớp, chống co rút 39 25,2
Giúp NKT nói ra dễ dàng hơn
Nói chậm tạo điều kiện cho NKT nói 65 41,9
Dạy NKT dùng cử chỉ ra hiệu 15 9,7
Dạy NKT dùng hình vẽ để giao tiếp 4 2,6
Mời NKT cùng tuổi vào chơi 6 3,9
Giúp NKT hiểu mọi người tốt hơn
Nói chậm và dùng cử chỉ điệu bộ 63 40,6 Dùng hình vẽ nói chuyện với NKT 4 2,6 Đưa NKT đến những nơi công cộng 28 18,1 Đưa NKT đến nhà bạn chơi 5 3,2
Tìm hiểu cách giao tiếp của NKT 10 6,5
Hỗ trợ NKT tham gia hoạt động XH Động viên tham gia hoạt động xã hội 63 40,6 Tìm các hoạt động để NKT tham gia 14 9,0
Cùng tham gia với NKT 25 16,1
Tỉ lệ NCSNKT hướng dẫn di chuyển và thay đổi tư thế đạt 48,4% Bên cạnh đó, 41,9% NCSNKT hỗ trợ người khuyết tật (NKT) trong việc nói chậm, trong khi 28,4% tập trung vào luyện nói và phát âm Đặc biệt, 40,6% NCSNKT sử dụng cách nói chậm kết hợp với cử chỉ điệu bộ để giúp NKT hiểu rõ hơn, đồng thời cũng khuyến khích NKT tham gia vào các hoạt động đoàn thể xã hội với tỉ lệ tương tự.
Bảng 3.10 Tỉ lệ NCSNKT tự đánh giá kết quả PHCN tại gia đình cho NKT
Kết quả PHCN cho NKT tại gia đình
Cải thiện chưa rõ ràng 69 44,5
Kết quả PHCN cho NKT tại gia đình được cải thiện rõ ràng chiếm 16,8%; cải thiện chưa rõ ràng 44,5%; không cải thiện 38,7%
Bảng 3.11 Đặc điểm khám sức khỏe cho người khuyết tật
Tần suất khám sức khỏe cho NKT SL %
Không khám sức khỏe định kỳ 71 45,8
Tỉ lệ NKT được PHCN tại nhà có đi khám sức khỏe 6 tháng 1 lần là 8,4%; 1 năm 1 lần là 23,2% và không được khám sức khỏe định kỳ 45,8%
Biểu đồ 3.7 cho thấy thực hành chung về phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật Tỉ lệ thực hành tốt chỉ đạt 8,7%, trong khi đó tỉ lệ chưa tốt lên đến 91,3%.
Kết quả 12 cuộc phỏng vấn sâu và 4 cuộc thảo luận nhóm cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành về PHCN của NCS chính cho NKT như sau:
Hộp 3.1 Kiến thức, thái độ và thực hành về phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật
“… Tôi thì không biết nhiều, cứ biết sao thì làm vậy cho cháu thôi… làm đúng hay sai cũng không ai chỉ cho cả …”
Bà Nguyễn Thị T NCS chính cho NKT
Ai cũng mong con mình có thể phát triển như những đứa trẻ khác, từ việc nói, đi lại cho đến chạy nhảy Tuy nhiên, tôi luôn băn khoăn không biết cách nào là đúng để giúp con hồi phục, liệu những bài tập có mang lại kết quả như mong đợi hay không Nhiều đêm, tôi chỉ biết khóc và ước ao có một phép màu xuất hiện để giúp con.
Bà Ma Thị L NCS chính cho NKT
NCS nhận thấy rằng NKT đang thiếu kiến thức và thực hành về phục hồi chức năng (PHCN), và điều này không chỉ xảy ra ở họ mà còn ở cả cán bộ y tế, do thiếu các chương trình tập huấn.
Bà Nguyễn Thị A TYT xã
Người thân luôn là điều quý giá, dù đôi khi mệt mỏi và không muốn hỗ trợ, nhưng tình thương khiến tôi không thể từ bỏ Có người đã gợi ý gửi cháu vào Trại tâm thần Thái Nguyên với chi phí vài triệu, nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, tôi không thể làm điều đó vì tình thương dành cho cháu quá lớn.
Bà Nguyễn Thị A TYT xã
Nhiều nhân viên chăm sóc (NCS) cho người khuyết tật (NKT) thường thiếu kiến thức về phục hồi chức năng (PHCN) và chưa thực hành đúng cách, nhưng họ luôn mong muốn cải thiện kỹ năng và cung cấp dịch vụ chăm sóc tốt hơn cho NKT.
Yếu tố ảnh hưởng đến thực hành về phục hồi chức năng của người chăm sóc người khuyết tật
Bảng 3.12 Ảnh hưởng bởi tuổi của người chăm sóc chính cho người khuyết tật với thực hành phục hồi chức năng
Tỉ lệ NCS chính cho NKT < 40 tuổi thực hành PHCN chưa đạt là 84,2%, thấp hơn so với người ≥ 40 tuổi (88,9%) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.13 Ảnh hưởng bởi giới của người chăm sóc chính cho người khuyết tật với thực hành phục hồi chức năng
Tỉ lệ NCS chính là nam giới thực hành PHCN chưa đạt 95,7%, cao hơn so với NCS chính là nữ giới (84,3%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 3.14 Ảnh hưởng bởi dân tộc của người chăm sóc chính cho người khuyết tật với thực hành phục hồi chức năng
NCS chính cho NKT là người dân tộc thiểu số thực hành PHCN chưa tốt chiếm 86,4%, thấp hơn người Kinh (90,4%) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.15 Ảnh hưởng bởi trình độ học vấn của người chăm sóc chính cho người khuyết tật với thực hành phục hồi chức năng
Thực hành Trình độ học vấn
Tỉ lệ NCS chính có trình độ THCS trở xuống thực hành PHCN đạt 92,7%, cao hơn so với tỉ lệ NCS chính có trình độ THPT trở lên là 73,7% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.16 Ảnh hưởng bởi nghề nghiệp của người chăm sóc chính cho người khuyết tật với thực hành phục hồi chức năng
Tỉ lệ NCS chính là nông dân thực hành PHCN chưa đạt 91,3%, cao hơn so với NCS chính làm nghề khác (77,5%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 3.17 Ảnh hưởng bởi mối quan hệ với người khuyết tật của người chăm sóc chính với thực hành phục hồi chức năng
Tỉ lệ NCS của bố/mẹ thực hành PHCN chỉ đạt 79,3%, thấp hơn so với tỉ lệ NCS của vợ/chồng/con là 92,2%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 3.18 Ảnh hưởng bởi kiến thức của người chăm sóc chính cho người khuyết tật với thực hành phục hồi chức năng
Tỉ lệ nghiên cứu sinh (NCS) chính có kiến thức chưa tốt và thực hành phục hồi chức năng (PHCN) chưa đạt là 92,7%, trong khi đó tỉ lệ này ở NCS chính có kiến thức tốt chỉ là 67,7% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.19 Ảnh hưởng bởi thái độ của người chăm sóc chính cho người khuyết tật với thực hành phục hồi chức năng
Tỉ lệ NCS chính có thái độ chưa tốt trong thực hành PHCN đạt 92,1%, cao hơn so với tỉ lệ của NCS chính có thái độ tốt là 86,3% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Hộp 3.2 Ảnh hưởng bởi kiến thức, thái độ với thực hành phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật
Ông Nguyễn Văn H., Trưởng ban CSSK xã, cho biết rằng việc thiếu kiến thức sẽ dẫn đến sai lầm trong quá trình thực hành phục hồi chức năng (PHCN) Những sai sót này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả mà còn có thể làm đau đớn cho bệnh nhân, khiến họ phải khóc và dừng lại khi nhận ra vấn đề.
Tôi rất mong muốn chăm sóc tốt cho con cháu của mình Nếu có lớp học nào phù hợp, dù đã lớn tuổi, tôi vẫn sẵn sàng tham gia để học cách chăm sóc đúng đắn Chăm sóc đúng cách sẽ giúp cháu hồi phục nhanh hơn.
Bà Ma Thị C NCS chính cho NKT
Kiến thức và thái độ về PHCN của NCS chính cho NKT có ảnh hưởng đến thực hành PHCN cho NKT
* Ảnh hưởng bởi tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng chuyên khoa
Bảng 3.20 Hình thức tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng
Hình thức tiếp cận SL %
Không đưa NKT đi khám điều trị PHCN 66 30,1
Có đưa NKT đi PHCN 153 69,9 Đưa đi
Cơ sở y tế chuyên PHCN 50 32,7
Không có người đưa đi 25 37,9
Không có phương tiện để đi 12 18,2
Tỉ lệ đối tượng nghiên cứu không tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng (PHCN) tại cơ sở y tế là 30,1%, trong khi 69,9% có tiếp cận Tại các cơ sở y tế chuyên khoa, tỉ lệ tiếp cận PHCN đạt 32,7% Các lý do chính khiến người dân không tiếp cận dịch vụ PHCN bao gồm: không có tiền (48,5%), không biết nơi khám (34,8%), không có người đưa đi (37,9%) và không có phương tiện di chuyển (18,2%).
Hộp 3.3 Ảnh hưởng bởi tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật
Theo ông Nông Văn T., việc thiết lập cơ sở y tế chuyên khoa là rất cần thiết, vì tại đây các chuyên gia sẽ hướng dẫn cụ thể về cách chăm sóc con cháu Nhờ đó, các bậc phụ huynh có thể áp dụng những kiến thức đã học để chăm sóc tốt hơn cho con cái của mình.
Tôi thường muốn đưa cháu đến bệnh viện PHCN tỉnh để tập luyện và quan sát cách bác sĩ làm việc, nhưng vì nhà chỉ có hai ông bà già, lại không có tiền, nên không biết ai sẽ trông nhà nếu đi.
Bà Ma Thị C NCS chính cho NKT
Thiếu tiếp cận dịch vụ PHCN chuyên khoa do kinh phí, do phương tiện… có ảnh hưởng đến thực hành đúng về PHCN của NCS chính cho NKT
* Ảnh hưởng bởi trang thiết bị hỗ trợ phục hồi chức năng
Bảng 3.21 Đặc điểm về biện pháp phục hồi chức năng của người chăm sóc dành cho người khuyết tật
Nguồn thiết bị hỗ trợ PHCN được NCS cho
Tỉ lệ NCS tự sản xuất là thiết bị PHCN là 8,2%; mua là 12,3% và mượn cơ sở y tế 2,7% và không có thiết bị PHCN là 76,7%
Hộp 3.4 Ảnh hưởng bởi trang thiết bị hỗ trợ phục hồi chức năng của người chăm sóc chính cho người khuyết tật
Để thực hiện tốt chương trình phục hồi chức năng, cần có trang thiết bị và máy móc chuyên dụng Tại các bệnh viện chuyên khoa, dụng cụ và máy móc đầy đủ giúp nâng cao hiệu quả điều trị, trong khi trạm y tế và nhà dân lại thiếu thốn Việc phục hồi chức năng chỉ bằng tay không thể đạt được kết quả tốt như khi áp dụng các phương pháp khoa học và thiết bị hiện đại Chúng tôi mong muốn được hỗ trợ không chỉ bằng giấy tờ báo cáo mà còn bằng những thiết bị cần thiết.
Nhà tôi hiện không có nhiều thiết bị hỗ trợ, chỉ nghe nói có một máy tập tốt nhưng chưa có điều kiện mua Tôi chỉ có thể buộc một cái gậy cho ông nhà tôi tự tìm đến bàn uống nước Nếu có thêm máy móc hoặc ai đó hướng dẫn tôi cách làm dụng cụ phục hồi chức năng đơn giản tại nhà thì sẽ rất hữu ích.
Bà Nguyễn Thị T NCS chính cho NKT
Thiếu hụt trang thiết bị phục hồi chức năng (PHCN) và sự thiếu vắng người hướng dẫn trong việc tự làm trang thiết bị PHCN đơn giản tại nhà đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hành đúng đắn về PHCN cho người khuyết tật (NKT).
* Ảnh hưởng bởi dịch vụ phục hồi chức năng tại xã
Bảng 3.22 Đặc điểm hoạt động về dịch vụ PHCN của trạm y tế xã Đặc điểm SL %
Gia đình được hướng dẫn kỹ thuật PHCN
Khó khăn lớn nhất trong công tác PHCN cho NKT tại gia đình
Không có người HD 85 38,8 Đánh giá như thế nào về hoạt động PHCN cho NKT tại TYT xã
Theo khảo sát, có tới 74,9% gia đình không nhận được hướng dẫn phục hồi chức năng (PHCN) cho người khuyết tật (NKT) Khó khăn lớn nhất trong công tác PHCN tại gia đình là thiếu người hướng dẫn, chiếm 38,8% Bên cạnh đó, 14,2% nhân viên y tế cộng đồng (NCS) cho rằng hoạt động PHCN cho NKT tại trạm y tế xã không hiệu quả, trong khi 31,1% NCS nhận định rằng không có chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng hoặc chương trình quản lý NKT tại trạm.
Hộp 3.5 Kiến thức, thái độ và thực hành về PHCN của cán bộ y tế xã
Ông Vi Văn H từ Trạm Y tế xã cho biết: "Mặc dù xã có chương trình phục hồi chức năng (PHCN), nhưng tôi học bác sĩ đa khoa và không được đào tạo chuyên sâu về PHCN Trong quá trình học, tôi chỉ được đào tạo trong 2 tuần, còn tập huấn về PHCN thì không có Thực tế, khi được giao nhiệm vụ, tôi chỉ làm theo thôi, chứ không chắc chắn về cách làm đúng."
Ông Mai Huy H từ Trạm Y tế xã chia sẻ rằng ông không có kiến thức chuyên sâu về phục hồi chức năng (PHCN) Khi người nhà bệnh nhân hỏi, ông thường tìm kiếm thông tin trên mạng để trả lời, trong khi công việc chính của ông là làm sổ sách và báo cáo lên trung tâm y tế.