1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng trong 24 giờ đầu và một số yếu tố liên quan của các bà mẹ tại huyện chợ mới, tỉnh an giang năm 2020

94 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng trong 24 giờ đầu và một số yếu tố liên quan của các bà mẹ tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2020
Tác giả Nguyễn Văn Sơn
Người hướng dẫn TS. Đặng Vũ Phương Linh
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN VĂN SƠN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CHĂM SÓC TRẺ SAU TIÊM CHỦNG TRONG 24 GIỜ ĐẦU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN SƠN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CHĂM SÓC TRẺ SAU TIÊM CHỦNG TRONG 24 GIỜ ĐẦU

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA CÁC BÀ MẸ TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

HÀ NỘI, 2020 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN SƠN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CHĂM SÓC TRẺ SAU TIÊM CHỦNG TRONG 24 GIỜ ĐẦU

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA CÁC BÀ MẸ TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐẶNG VŨ PHƯƠNG LINH

HÀ NỘI, 2020 HUPH

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại học

Y tế công cộng đã đào tạo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS.Đặng Vũ Phương Linh, người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới các cán bộ của Trung tâm Y tế huyện Chợ Mới, trạm Y tế trên địa bàn huyện đã nhiệt tình tham gia và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ, vợ và các con tôi, bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã luôn chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

HUPH

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIÊU 4

1.1.Khái niệm về tiêm chủng 4

1.2.Chương trình tiêm chủng mở rộng 4

1.3 Theo dõi chăm sóc trẻ sau tiêm chủng ………… …5

1.4 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ về tiêm chủng và một số yếu tố liên quan 8

1.5.Tình hình tiêm chủng huyện Chợ Mới tỉnh An Giang 14

1.6.Khung lý thuyết 16

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1.Đối tượng nghiên cứu 17

2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

2.3.Thiết kế nghiên cứu 17

2.4.Cỡ mẫu 17

2.5.Phương pháp chọn mẫu 18

2.6.Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 19

2.7.Biến số nghiên cứu 19

2.8.Cách dánh giá 20

2.9.Xử lý phân tích số liệu 24

2.10.Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 24

Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1.Thông tin chung 25

3.2.Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ sau tiêm 26

3.3.Thái độ của bà mẹ 29

3.4.Thực hành của bà mẹ về chăm sóc trẻ sau tiêm chủng 31

3.5.Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng 35

HUPH

Trang 5

4.1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 39

4.2.Kiến thức chăm sóc trẻ sau tiêm chủng của người mẹ 39

4.3 Thái độ của bà mẹ về các phản ứng sau tiêm chủng 41

4.4.Thực hành về chăm sóc trẻ sau tiêm chủng của bà mẹ 42

4.5 Một số yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng 45

4.6.Những khó khăn và hạn chế của nghiên cứu 46

Kết luận: 47

Khuyến Nghị 49

Tài liệu tham khảo 50

Phụ lục 1: Biến số về thông tin của trẻ 55

Phụ lục 2: Biến số thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm 56

Phụ lục 3:Biến số về các yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm 58

Phụ lục 4:Phân bố cỡ mẫu trong nghiên cứu 61

Phụ lục 5:Phiếu theo dõi phản ứng sau tiêm chủng của trẻ 62

Phụ lục 6:Phiếu phỏng vấn mẹ 64

Phụ lục 7: Bảng dự trù kinh phí 71

Phụ lục 8: Hình ảnh địa bàn nghiên cứu 72

HUPH

Trang 6

ATTC An toàn tiêm chủng

BYT Bộ Y Tế

CBYT Cán bộ y tế

CCTT Cung cấp thông tin

CSTST Chăm sóc trẻ sau tiêm

PƯST Phản ứng sau tiêm

GAVI Global alliance for vaccines and vaccinations -T chức Liên Minh

toàn cầu về Vắc xin và tiêm chủng STC S tiêm chủng

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thang điểm đánh giá kiến thức của bà mẹ 21

Bảng 2.2: Thang điểm đánh giá thái độ của bà mẹ 22

Bảng 2.3:Thang điểm đánh giá thực hành của bà mẹ về phòng và theo dõi trẻ sau tiêm chủng 23

Bảng 3.1 Thông tin chung về bà mẹ trong mẫu nghiên cứu 25

Bảng 3.2: Kiến thức của bà mẹ về lợi ích của tiêm chủng 26

Bảng 3.3: Biết những biểu hiện của phản ứng nhẹ 26

Bảng 3.4: Kiến thức bà mẹ về phản ứng nặng sau tiêm chủng 27

Bảng 3.5: các dấu hiệu cần phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế 28

Bảng 3.6: Đánh giá kiến thức chăm sóc trẻ sau tiêm chủng của các bà mẹ 28

Bảng 3.7: Thái độ của bà mẹ về các phản ứng sau tiêm chủng 29

Bảng 3.8: Đánh giá thái độ của bà mẹ về phản ứng sau tiêm chủng 30

Bảng 3.9: Tỷ lệ bà mẹ lưu lại trạm y tế 30 phút sau tiêm chủng 31

Bảng 3.10: lý do bà mẹ không lưu lại đủ 30 phút ở trạm Y tế 31

Bảng 3.11: tỷ lệ bà mẹ thực hiện theo dõi chăm sóc trẻ tại nhà tối thiểu đủ 24 giờ sau tiêm chủng 32

Bảng 3.12: Lý do không thực hiện theo dõi đủ 24 giờ 32

Bảng 3.13.theo dõi và xử trí khi trẻ có sốt 33

Bảng 3.14: theo dõi và xử trí khi trẻ có phản ứng tại chỗ 34

Bảng 3.15 Trẻ được chăm sóc tại đâu khi có phản ứng sau tiêm chủng 34

Bảng 3.16: Đánh giá thực hành của bà mẹ về chăm sóc trẻ sau tiêm chủng 35

Bảng 3.17: Yếu tố liên quan giữa tu i mẹ với thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng 35

Bảng 3.18 Yếu tố liên quan giữa trình độ học vấn của bà mẹ với thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng 36

Bảng 3.19 Yếu tố liên quan giữa số con hiện có của bà mẹ với thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng 36

HUPH

Trang 8

sau tiêm chủng 37 Bảng 3.21 Yếu tố liên quan giữa thái độ của bà mẹ với thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng 37 Bảng 3.22 Yếu tố liên quan giữa công tác truyền thông với thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng 38

HUPH

Trang 9

Tiêm chủng là việc sử dụng các hình thức khác nhau để đưa vắc xin, sinh

phẩm y tế vào cơ thể con người với mục đích tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch(1) Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vắc xin có thể xảy ra các trường hợp phản ứng sau tiêm (PƯST) có liên quan hoặc không liên quan đến tiêm chủng Việc giám sát phản ứng sau tiêm chủng để phát hiện sớm và xử trí các tai biến xảy ra sẽ góp phần làm giảm diễn biến nặng của các trường hợp phản ứng sau tiêm chủng, giúp cho người dân yên tâm và tin tưởng vào việc tiêm chủng phòng bệnh

Chính vì những lý do nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng trong 24 giờ đầu và một số yếu tố liên quan của các bà mẹ tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2020.” với 2 mục tiêu: (1) Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành chăm

sóc trẻ sau tiêm 24 giờ đầu, của các bà mẹ có con từ 2 đến 18 tháng tu i ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2020 (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ trong 24 giờ đầu sau tiêm chủng của các bà mẹ tại huyện Chợ Mới tỉnh An Giang năm 2020

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang và phân tích, thời gian thực hiện từ tháng 07/2019 đến tháng 10 năm 2020, tại 5 xã (Tấn Mỹ, Long Điền A, Hòa Bình, Kiến Thành, Mỹ Hội Đông) của huyện Chợ Mới tỉnh An Giang, trên 285 bà mẹ có con trong độ tu i từ 2 đến 18 tháng, đang tiêm chủng trong chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) tại địa bàn nghiên cứu Các thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ được theo dõi tại điểm tiêm và phỏng vấn bà mẹ bằng bộ câu hỏi sau khi trẻ được tiêm sau 2 ngày

Kết quả nghiên cứu cho thấy 33% bà mẹ có kiến thức chăm sóc trẻ sau tiêm đạt

77,9% bà mẹ có thái độ tích cực đối với các phản ứng sau tiêm chủng

Thực hành CSTST chủng của các bà mẹ tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang được ghi nhận: 95,4% bà mẹ theo dõi trẻ tại TYT đủ 30 phút, và theo dõi chăm sóc trẻ tại nhà đủ 24 giờ Khi trẻ có sốt 82,9% bà mẹ cho trẻ mặc quần áo mát, 77,1 % dùng thuốc hạ sốt, 88,4% lau mình bằng nước ấm và 50,5% cho trẻ bú nhiều hơn

HUPH

Trang 10

chườm lạnh, 2,2% đắp thuốc nam và 53,27% bà mẹ không làm gì

Đánh giá tỷ lệ bà mẹ thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm đạt 95,4%

Nghiên cứu củng chỉ ra có 3 yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm của người mẹ: Kiến thức (OR=6,23, p<0,04), thái độ (OR=6,31, p<0,01) và truyền thông tư vấn về PƯST (OR=29,7, p<0,01)

Từ kết quả nghiên cứu này chúng tôi đưa ra khuyến nghị: Tăng cường các hoạt động truyền thông về các PƯST chủng dưới nhiều hình thức T chức các lớp tập huấn có trọng tâm về kỹ năng tư vấn trước và sau tiêm chủng cho CBYT Chú ý

và nêu cao vai trò quan trọng của người mẹ trong việc dự phòng, phát hiện và xử trí các PƯST chủng đúng cách

HUPH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêm chủng là việc đưa vắc xin vào cơ thể con người với mục đích tạo cho

cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch để dự phòng bệnh tật(1) Từ năm 1981 Việt Nam bắt đầu triển khai chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) Chương trình

có mục tiêu ban đầu là cung cấp tiêm chủng miễn phí cho trẻ em dưới 1 tu i, với 6 loại vắc xin phòng các bệnh truyền nhiễm gây tử vong cao lúc bấy giờ Sau thời gian triển khai chương trình mở rộng dần về địa bàn, chủng loại vắc xin và đối tượng được tiêm chủng Đến năm 1985, chương trình tiêm chủng được bao phủ trên toàn quốc, tất cả các trẻ em dưới 1 tu i đều có cơ hội được tiếp cận với chương trình TCMR(2) Đến nay đã có 12 loại vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm ph biến được đưa vào chương trình Kết quả phòng bệnh đạt được từ chương trình vô cùng

to lớn như tỷ lệ chết và mắc một số bệnh truyền nhiễm giảm, loại trừ và thanh toán một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: Thanh toán Bại liệt năm 2000, loại trừ uốn ván sơ sinh 2005…(3)

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ xếp hạng chương trình TCMR là 1 trong 10 chương trình thành công nhất về Y tế công cộng trong thế kỷ

XX Nhờ có vắc-xin mà hàng năm trên thế giới đã cứu sống được khoảng 2,5 triệu trẻ em khỏi nguy cơ tử vong do bệnh truyền nhiễm, ngăn chặn nguy cơ các dịch bệnh lây lan, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của cộng đồng(4)

Tại huyện Chợ Mới, trong nhiều năm chương trình TCMR luôn được đánh giá cao, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đạt trên 95% nhiều năm liền Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, cũng có nhiều khó khăn do một bộ phận người dân chưa thật sự tin tưởng vào lợi ích của vắc xin, từ chối đưa trẻ đến tiêm theo lịch tiêm vì những lý do khác nhau Trong khoảng thời gian gần đây các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đưa tin những tác dụng phụ của nhiều loại vắc xin, đặc biệt là các vắc xin mới đưa vào sử dụng như vắc xin ComBe Five, gây tâm lý hoang mang cho các bậc phụ huynh

Trên thực tế an toàn tiêm chủng (ATTC) không chỉ là do vắc xin hay quy trình kỹ thuật tiêm chủng của CBYT mà còn do kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ đối vời các phản ứng sau tiêm Vì có kiến thức đúng, các bà mẹ người

HUPH

Trang 12

chăm sóc trẻ chính mới có các quyết định đúng về việc có cho trẻ đi tiêm hay không

và làm thế nào để hạn chế được những phản ứng sau tiêm chủng

Việc chăm sóc tốt trẻ sau tiêm chủng tại hộ gia đình góp phần quan trọng cho tiêm chủng an toàn Đối với những dấu hiệu PƯST như, sưng đau tại chỗ, sẽ nhanh chóng qua khỏi nếu người mẹ có kiến thức về tiêm chủng và biết cách chăm sóc tốt Đối với những PƯST nặng, người mẹ cần nhận biết sớm, đưa đến cơ sở y tế kịp thời, để tránh những tai biến nguy hiểm có thể xảy ra cho trẻ Do đó, việc người mẹ quan tâm chăm sóc trẻ sau tiêm (CSTST) tốt là ưu tiên hàng đầu trong chương trình TCMR

Câu hỏi đặt ra là kiến thức về tiêm chủng của các bà mẹ tại huyện Chợ Mới như thế nào, thái độ của bà mẹ về PƯST ra sao, thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng đúng chưa? Các yếu tố nào có liên quan đến thực hành CSTST chủng của các

bà mẹ? Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng trong 24 giờ đầu và một số yếu tố liên quan của các bà mẹ tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2020.” Kết quả từ nghiên cứu này, dùng để đánh giá thực trạng kiến

thức, thái độ, thực hành CSTST chủng của các bà mẹ tại huyện Chợ Mới, và xác định một số YTLQ từ đó đưa ra những giải pháp xác thực nhầm nâng cao thực hành CSTST của người mẹ, giảm thiểu các PƯST, giúp công tác tiêm chủng an toàn

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm 24 giờ đầu, của

các bà mẹ có con từ 2 đến 18 tháng tu i ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2020

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ trong 24 giờ

đầu sau tiêm chủng của các bà mẹ tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2020

HUPH

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.Khái niệm về tiêm chủng

Tiêm chủng là việc sử dụng các hình thức khác nhau để đưa vắc xin, sinh

phẩm y tế vào cơ thể con người với mục đích tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch. (1,5,6)

Tiêm chủng được coi là chương trình Y tế công cộng chăm sóc sức khỏe cộng đồng hiệu quả và thiết thực, loại trừ và thanh toán nhiều dịch bệnh nguy hiểm, góp phần quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Được xem

là chương trình góp phần quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo bền vững(9)

Tuy nhiên, bên chạnh những thành tựu, chương trình TCMR cũng gặp không

ít những thách thức:

- Trong tình hình thế giới hiện nay, sự giao lưu giữa các nước trên thế giới sẽ

là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh xâm nhập trở lại tại các nước đã tuyên bố thanh toán dịch đó Trên thế giới nhiều nước chưa thanh toán bệnh bại liệt, ở các nước nghèo tại châu Á và khu vực châu phi còn gặp khó khăn trong công tác loại trừ uốn ván sơ sinh (UVSS) Khoảng 3 triệu trẻ em tử vong hàng năm vì các bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin và một số lượng đáng kể những trẻ em này sống ở các nước đang phát triển Ước tính gần đây cho thấy khoảng 34 triệu đứa trẻ trên thế giới chưa được tiêm phòng đầy đủ, với gần 98% trong số đó sống ở các nước đang phát triển(10)

- Đối với các nước nghèo và chậm phát triển, chương trình TCMR vẫn tồn tại nhiều khó khăn thách thức Để ứng phó với khó khăn trên, Who và UNICEF đã

HUPH

Trang 15

đưa ra “tầm nhìn và chiến lược tiêm chủng toàn cầu từ năm 2006-2015” Với mục tiêu là: thực hiện quản lý chương trình tiêm chủng toàn cầu, đưa vào chương trình nhiều loại vắc xin mới, phòng được nhiều bệnh hơn và tiêm chủng cho nhiều đối

tượng hơn(11)

1.2.2.Tại Việt Nam

Trong nhiều năm qua, Việt Nam được đánh giá là “điểm sáng” về triển khai Chương trình TCMR trong khu vực và trên thế giới

Các hình thức tổ chức tiêm chủng tại Việt Nam

- TCTX: Đây là hình thức t chức tiêm vào các ngày cố định trong tháng

Hầu hết tuyến xã là nơi thực hiện các vòng tiêm Hàng tháng tại các xã lập kế hoạch

t chức tiêm vào một số ngày định trước

- Tiêm chủng định kỳ: Chỉ t chức ở những vùng có điều kiện đi lại khó

khăn, dân cư thưa thớt khó tập trung Chỉ t chức mỗi năm một vài lần Đối với hình thức này trẻ khó có khả năng tiêm đúng lịch, chỉ yêu cầu trẻ nhận đủ liều

vắc xin

- Tiêm chủng lưu động: Đối với những trường hợp ở xa TYT, điều kiện đi

lại khó khăn, CBYT sẽ đến từng nhà đối tượng để tiêm Trước đây hình thức này khá ph biến Nhưng đến thời điểm hiện nay hình thức này không còn thực hiện, nhằm đảm bảo ATTC(12)

- Tiêm chủng chiến dịch: được dùng trong trường hợp chủ động để loại trừ

hay phòng ngừa tác nhân gây bệnh đang xảy ra Được t chức trong khoảng thời gian ngắn Tiến hành tiêm hàng loạt với nhiều đối tượng đích

-Tiêm chủng dịch vụ: hình thức tiêm chủng mà người sử dụng phải trả tiền

còn gọi là tiêm chủng tự nguyện Cùng với trình độ dân trí và đời sống người dân ngày một nâng cao, thì hình thức tiêm chủng dịch vụ ngày càng phát triển(13)

1.3 Theo dõi chăm sóc trẻ sau tiêm chủng

1.3.1.Tư vấn, hướng dẫn thực hành theo dõi chăm sóc sau tiêm chủng vắc xin

Tư vấn tiêm chủng

- CBYT tư vấn cho cha mẹ của trẻ hoặc người được tiêm chủng về loại vắc xin đang tiêm

HUPH

Trang 16

- Thời gian cần phải theo dõi trẻ sau khi tiêm

- Những dấu hiệu phản ứng nào có thể xảy ra:

Các phản ứng thông thường có thể tự khỏi hoặc chăm sóc tại nhà như: sốt nhẹ, quấy khóc nhẹ, sưng nhẹ,

Các dấu hiệu nặng cần phải nhận biết sớm để xử trí y tế kịp thời như: sốc phản vệ, tím tái, co giật, khó thở (14)

Hướng dẫn cách theo dõi, chăm sóc sau khi tiêm chủng:

- Tất cả các đối tượng sau khi tiêm chủng phải được lưu tại TYT để theo dõi

ít nhất 30 phút, sau đó bà mẹ tiếp tục theo dõi trẻ tại nhà tối thiểu 24 giờ để kịp thời phát hiện sớm những dấu hiệu nặng có thể xảy ra sau khi tiêm chủng(1,5)

- Nguyên tắc CSTST chủng : Nghỉ ngơi, nâng cao thể trạng, điều trị các triệu chứng theo chỉ định của CBYT(15)

- Theo dõi 30 phút tại điểm tiêm chủng:

CBYT theo dõi và xử trí kịp thời nếu có những dấu hiệu bất thường xảy ra như:

Quấy khóc dai dẳng, bứt rứt, khó chịu, nôn, trớ, n i ban, đại tiểu tiện không

tự chủ … có thể là dấu hiện sớm của phản ứng dị ứng, quá mẫn(14)

Tại vết tiêm: sưng đỏ lan rộng(14)

- Theo dõi 24 giờ sau tiêm tại nhà:

Theo dõi các dấu hiệu sau:

Phản ứng tại chỗ: sưng, nóng đỏ đau có thể dùng thuốc hạ sốt giảm đau thông thường, không thoa, đắp vật gì lên chỗ tiêm

Phản ứng toàn thân: t ng trạng, ăn, ngủ, thở Sau tiêm chủng nếu trẻ có các dấu hiệu bất thường như co giật, quấy khóc kéo dài, li bì, bỏ bú, tím tái, khó thở, phát ban, sốt cao (≥39oC) Cần đưa trẻ tới cơ sở y tế nhanh nhất, để trẻ được chăm sóc, điều trị kịp thời(14)

1.3.2.Khám sàng lọc trước tiêm chủng cho trẻ

Các trường hợp chống chỉ định:

Trẻ có tiền sử phản ứng nặng với vắc xin tiêm lần trước (có cùng thành phần)

HUPH

Trang 17

Trẻ sốt cao trên 39°C kèm co giật hoặc dấu hiệu não/màng não, tím tái, khó thở

Trẻ bị suy giảm miễn dịch (bẩm sinh, trẻ nhiễm HIV)

Các trường hợp chống chỉ định khác theo khuyến cáo của nhà sản xuất

(16,17)

Các trường hợp tạm hoãn:

Trẻ mắc các bệnh cấp tính, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng

Trẻ sốt ≥ 37,5°C hoặc hạ thân nhiệt ≤ 35,5 °C (đo nhiệt độ tại nách)

Trẻ mới dùng các sản phẩm globulin miễn dịch trong vòng 3 tháng

Trẻ đang điều trị corticoid, hoặc mới kết thúc trong vòng 14 ngày

do ngẫu nhiên trùng hợp với bệnh lý sẵn có hoặc những nguyên nhân khác(18)

Do tâm lý lo sợ: phản ứng xảy ra không phải do vắc xin hoặc những sai sót trong thực hành tiêm mà do sự lo sợ quá mức với tiêm chủng hoặc do bị tiêm

đau(18)

Do vắc xin: Phản ứng của từng cá nhân đối với các thành phần có trong vắc

xin hoặc do vắc xin không đạt chất lượng(18)

Do sai sót trong thực hành tiêm chủng: Phản ứng xảy ra do sai sót trong quy trình tiêm chủng: liên quan bảo quản, chỉ định tiêm, kỹ thuật tiêm (18)

Không rõ nguyên nhân: Không xác định được nguyên nhân(18)

HUPH

Trang 18

Phân loại

Có nhiều cách phân loại PƯST, nhưng trong thực hành tiêm chủng chủ yếu phân theo 2 cách :

Theo vị trí tiêm:

- Phản ứng xảy ra tại chỗ tiêm như (sưng, đỏ, đau, áp xe

- Phản ứng toàn thân: gồm những dấu hiệu PƯST như (sốt, li bì, tím tái, nôn

Do đó cần phải điều tra làm rõ nguyên nhân, phòng các trường hợp tương tự xảy ra

1.4 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ về tiêm chủng và một số yếu tố liên quan

1.4.1.Vai trò của người mẹ đối với tiêm chủng

Vai trò của bà mẹ là rất quan trọng, thường bà mẹ là người trực tiếp đưa trẻ đi tiêm chủng, bảo quản s tiêm chủng cá nhân cho trẻ, nhất là trong việc phối hợp với CBYT đảm bảo tiêm chủng an toàn cho trẻ thông qua việc cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe của trẻ hiện tại, tiền sử phản ứng vắc xin của những lần tiêm trước, giúp cho CBYT ra quyết định đúng, trong khám sàng lọc trước tiêm

Đồng thời người mẹ cũng là người phối hợp với CBYT theo dõi trẻ 30 phút sau tiêm tại TYT và luôn theo sát bên cạnh chăm sóc theo dõi các dấu hiệu của trẻ sau tiêm tại nhà Chẵng hạn như nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương năm 2015(19), hay của Nguyễn Thị Dung tại Hạ long năm 2011(20) và Tống Thiện Anh tại Vĩnh Phúc năm 2007(21) Chính vì thế trong nghiên cứu này chúng tôi củng quyết định chọn bà mẹ là đối tượng nghiên cứu

HUPH

Trang 19

1.4.2.Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của người mẹ

Đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ về tiêm chủng Các nghiên cứu đó cho thấy kiến thức về tiêm chủng của một bộ phận

bà mẹ ở một số nơi còn ở mức thấp Một bộ phận các bà mẹ còn e ngại đối với các phản ứng sau tiêm, thời gian theo dõi trẻ sau tiêm còn chưa đãm bảo Thiếu thông tin thiếu kiến thức củng là lý do của quá trình tiêm chủng không đạt hiệu quả

Nghiên cứu của Dương Anh Dũng và cộng sự (2015) ở Lạng Sơn cho thấy kiến thức đúng của bà mẹ về TCMR trung bình chỉ đạt trên75,4%, thấp nhất là 39%

số bà mẹ biết về lợi ích của TCMR Thái độ của các bà mẹ về TCMR của các bà mẹ cũng ở mức thấp chỉ có 27,65% bà mẹ cho là TCMR có thể phòng được bệnh Thực hành về tiêm chủng của các bà mẹ trung bình đạt trên 80% Do đó cần phải tăng cường truyền thông, giáo dục kiến thức, thái độ và thực hành về TCMR cho các bà

mẹ có con trong diện tiêm chủng tại địa bàn nghiên cứu(22)

Nghiên cứu của Phạm Ngọc Hùng (2015) ở Quảng Bình cho thấy nhiều bà

mẹ biết các phản ứng sau tiêm như sốt 98,5%, với dấu hiệu bỏ bú chán ăn 83,8%, sưng đỏ tại chỗ tiêm 73,9% Trên 88% bà mẹ biết phát hiện sốt, 44% số bà mẹ biết dấu hiệu khó thở 100% bà mẹ biết được sự cần thiết của tiêm chủng(19)

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung (2011) tại thành phố Hạ Long Quảng Ninh cho thấy 100% bà mẹ có bảo quản STC cá nhân của trẻ Tỷ lệ bà mẹ theo dõi trẻ tối thiểu 24 giờ tại nhà đạt khá cao (91,4%) và 98% bà mẹ biết chăm sóc đúng cách khi trẻ có sốt Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ các bà mẹ không thực hiện theo dõi trẻ đủ 30 phút tại TYT theo quy định (60,54%) Nhiều bà mẹ còn thiếu chủ động phối hợp với CBYT trong việc cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe hiện tại của trẻ và tiền sử dị ứng những lần tiêm trước (15,1%) Tỷ lệ bà mẹ có thái độ tích cực khi nói về phản ứng sau tiêm chủng là 58,1 %, không tích cực là 41,9%(20)

Nghiên cứu của Mai Anh Tuấn (2017) tại Hải Dương cho thấy 69,9% bà mẹ

có kiến thức đạt về tiêm chủng 56,1% bà mẹ có thái độ tích cực về phản ứng sau tiêm 81,6% có thực hiện cho con ở lại 30 phút sau tiêm tại TYT và 57,6% theo dõi

đủ 24 giờ đầu sau tiêm theo quy định, kết quả nghiên cứu đánh giá tỷ lệ thực hành

HUPH

Trang 20

sau tiêm của các bà mẹ đạt 74% và 26% chưa đạt, điều này thể hiện mức độ quan tâm về chăm sóc trẻ sau tiêm của một bộ phận các bà mẹ chưa cao Do đó cần phải tăng cường hơn nữa công tác truyền thông tư vấn trước tiêm(7)

Kết quả nghiên cứu của Hồ Thanh Tùng (2016) tại Hải Phòng cho thấy tỷ lệ

bà mẹ theo dõi trẻ đủ 30 phút tại điểm tiêm là 94,9%, không theo dõi 5,1% với lý do

là (không thấy bất thường gì ở trẻ) Theo dõi trẻ tại nhà ít nhất trong 24 giờ sau tiêm đạt 65,2%, theo dõi không đủ 24 giờ 34,8% với lý do (không có thời gian 44,5%, thấy trẻ không có vấn đề gì 50,4%) Kết quả này phản ánh một bộ phận lớn các bà

mẹ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc theo dõi trẻ sau tiêm Nghiên cứu củng cho thấy bà mẹ còn thiếu chủ động cung cấp thông tin về tiền sử bệnh tật của trẻ (31,7%), tiền sử dị ứng thuốc vắc xin (50,3%), phản ứng của lần tiêm trước (46,7%) Điều này cho thấy có nhiều trẻ không được khám sàng lọc đầy đủ trước khi tiêm chủng Do đó cần phải đẩy mạnh công tác truyền thông, đặc biệt là công tác truyền thông tư vấn trước tiêm(23)

Nghiên cứu của Tống Thiện Anh (2007) tại Vĩnh Phúc cho thấy thái độ của

bà mẹ về việc tiếp tục đưa con đi tiêm chủng: 58,9% bà mẹ được hỏi vẫn tiếp tục cho con đi tiêm chủng mặc dù có thể có những phản ứng nhẹ sau tiêm, 31,8% do dự

và 9,3% trả lời không Điều này cho thấy phần lớn bà mẹ đặt lòng tin vào CBYT, tuy nhiên điều cần thiết vẫn phải tăng cường công tác truyền thông để những thông tin sai lệch không ảnh hưởng đến các đối tượng này(21)

1.4.3.Một số yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng

Yếu tố văn hóa, xã hội

Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa trình độ học vấn, và thực hành CSTST chủng của các bà mẹ

Nghiên cứu của Worku Animaw và cộng sự tại miền bắc Ethiopia vào năm

2013 chỉ ra rằng, cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn thì thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm tốt hơn(13)

Nghiên cứu của Zhou Y và cộng sự tại một số vùng nông thôn Trung Quốc năm 2009 cho thấy có một số YTLQ đến thực hành tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh cho trẻ như kiến thức, dân tộc những trẻ có cha mẹ có kiến thức cao, hiểu biết về

HUPH

Trang 21

tầm quan trọng và lợi ích của việc tiêm phòng vắc xin VGB liều sơ sinh, có tỷ lệ tiêm cao hơn 0,62 lần những trẻ có cha mẹ có kiến thức thấp không hiểu biết Trẻ có cha mẹ là người dân tộc Hán có tỷ lệ tiêm phòng VGB liều sơ sinh cao hơn trẻ là người dân tộc thiểu số Ví dụ dân tộc Tạng (OR=0,16,CL:0,12-0,21, p<0,01), dân tộc Choang (OR=0,73, CL:0,57-0,94, p<0,02)(24)

Nghiên cứu của Hồ Thanh Tùng năm 2016 tại huyện Hồng Bàn, thành phố Hải Phòng cho thấy, yếu tố liên quan chủ yếu đến kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng của bà mẹ là trình độ học vấn, bà mẹ có học vấn càng cao thì kiến thức thực hành CSTST càng đạt (OR:4,01)(23)

Kết quả nghiên cứu của Mai Anh Tuấn tại Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm

2017 củng cho thấy giữa học vấn của bà mẹ và thực hành của họ có mối liên quan Những bà mẹ có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên có thực hành CSTST chủng tốt hơn gấp 2,6 lần so với những bà mẹ có học vấn từ cấp 2 trở xuống Nghiên cứu củng chỉ ra có mối liên quan giữa nghề nghiệp và kiến thức thực hành về tiêm chủng của bà mẹ, bà mẹ là cán bộ công chức có kiến thức thực hành đúng cao gấp 4,8 lần so với những bà mẹ có nghề nghiệp nông dân, công nhân với (p=0,14)(7)

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt Ánh tại quận Thanh xuân thành phố Hà Nội năm 2017, cho thấy tu i mẹ càng cao thì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ các mũi vắc xin cho trẻ càng giảm, các bà mẹ ở nhóm tu i trên 30 có tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho con chỉ bằng 0,23% so với nhóm dưới 25 tu i Tỷ lệ đạt kiến thức chung về tiêm chủng cho trẻ của các bà mẹ là 72,5% Tỷ lệ bà mẹ có thực hành đúng về tiêm chủng cho trẻ đạt 77,5% (8)

Nghiên cứu của Nguyễn Phúc Duy và cộng sự năm 2011 tại Thừa thiên Huế cho thấy, ở nhóm các bà mẹ có học vấn từ cấp II trở xuống tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy

đủ cho trẻ (31,2%) thấp hơn nhóm các bà mẹ có học vấn từ cấp II trở lên (68,8%), các yếu tố như nghề nghiệp, số con, cha mẹ là người dân tộc thiểu số củng có

YTLQ đến thực hành tiêm chủng của trẻ (25)

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy An (2015) tại Bình Phước củng cho thấy

có mối liên quan giữa nhóm cha mẹ có nghề nghiệp làm công nhân viên chức, có tỷ

lệ thực hành tiêm phòng HBV cao hơn 3,2 lần so với những trẻ có cha mẹ làm nghề

HUPH

Trang 22

khác Yếu tố gia đình củng có mối liên quan, trẻ có gia đình ủng hô tiêm phòng HBV có khả năng tiêm phòng HBV cao hơn 24,48 lần những trẻ có gia đình không ủng hộ(26)

Nghiên cứu của Mai Anh Tuấn tại Hải Dương 2017 cho thấy những bà mẹ có kiến thức đạt thì có tỷ lệ thực hành đạt gấp 3,1 lần so với những bà mẹ có kiến thức không đạt Điều này chứng tỏ kiến thức của bà mẹ có liên quan trực tiếp đến thực hành CSTST chủng của họ(7)

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung (2011) tại Quảng Ninh cho thấy có mối liên quan giữa việc thực hành theo dõi trẻ 30 phút sau tiêm chủng tại TYT với kiến thức của bà mẹ Nhóm bà mẹ có kiến thức đạt tỷ lệ thực hành theo dõi trẻ đủ 30 phút tại điểm tiêm chủng cao gấp 2,48 lần bà mẹ có kiến thức không đạt, điều này

có ý nghĩa thống kê với (p<0,05) Nghiên cứu cũng chỉ ra những bà mẹ có kiến thức đạt thì tỷ lệ thực hành CSTST đúng cao gấp 1,59 lần bà mẹ có kiến thức không đạt (20)

Thái độ

Kết quả của nhiều nghiên cứu củng cho thấy thái độ củng là yếu tố có liên quan đến thực hành CSTST chủng

HUPH

Trang 23

Nghiên cứu tại Dili, Timor-Leste trên đối tượng là người chăm sóc trẻ từ

6-23 tháng tu i chỉ ra những người có kiến thức thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm thấp,

là những người có thái độ không tích cực, tiếp cận với thông tin và các dịch vụ y tế hạn chế, thiếu sự hỗ trợ của người thân, luôn lo ngại về các tác dụng phụ sau tiêm chủng(29)

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung năm 2011 tại thành phố Hạ Long Quảng Ninh Cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thực hành CSTST chủng và thái độ của bà mẹ Nhóm bà mẹ có thái độ tích cực thì việc chấp hành theo dõi trẻ

đủ 30 phút tại TYT sau tiêm chủng cao gấp 2,33 lần những bà mẹ có thái độ không tích cực Tương tự tỷ lệ thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm đúng của những bà mẹ có thái độ tích cực cao gấp 2,15 lần những bà mẹ có thái độ không tích cực (p<0,05) (20)

Nghiên cứu của Mai Anh Tuấn năm 2017 tại Thanh Miện tỉnh Hải Dương cho thấy những bà mẹ có thái độ tốt có thực hành CSTST chủng đạt gấp 2,8 lần so với những bà mẹ có thái độ không tốt với (p<0,05) Nghiên cứu củng chỉ ra có mối liên quan giữa thái độ của bà mẹ và nguồn thông tin được cung cấp từ CBYT, bà mẹ nhận được thông tin về tiêm chủng từ CBYT có thái độ tốt gấp 2,9 lần so với bà mẹ không nhận được với p=0,002(7)

Truyền Thông

CBYT có công đóng góp lớn vào sự thành công của chương trình tiêm chủng: theo nghiên cứu nguồn thông tin mà các bà mẹ ưa thích tin tưởng là nguồn thông tin nhận được là từ CBYT Trong nghiên cứu của Dương Thị Hồng năm

2009, sự hạn chế trong công tác truyền thông của cán bộ y tế dẫn tới: 67,9% bà mẹ

có thể không được hướng dẫn đầy đủ về PƯST chủng, 28,4% bà mẹ không nhận được các thông tin truyền thông giáo dục sức khỏe về kiến thức tiêm chủng mở rộng(30)

Tư vấn, khám sàng lọc trước tiêm chủng là một việc làm không thể thiếu trong quy trình tiêm chủng an toàn do Bộ Y tế quy định Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung tại thành phố Hạ Long Quảng Ninh năm 2011 đã chỉ ra bà mẹ được tư

HUPH

Trang 24

vấn về PƯST có tỷ lệ thực hành đạt cao gấp 3,99 lần bà mẹ không được tư vấn (p<0,05)(20)

Nghiên cứu của Hồ Thanh Tùng tại thành phố Hải Phòng năm 2016, bà mẹ càng tiếp cận với nhiều nguồn truyền thông khác nhau thì khả năng kiến thức càng tốt: tiếp cận 3 nguồn OR:10,24; tiếp cận 4 nguồn OR:19,85 Trong đó yếu tố được nhân viên y tế tư vấn trực tiếp có vai trò quan trọng nhất, (OR: 2,17 đối với kiến thức và OR: 4,09 đối với thực hành của họ)(23)

Nghiên cứu của Trương Văn Dũng tại trà vinh năm 2010 cho thấy, nguồn thông tin về tiêm chủng được bà mẹ tiếp cận qua CBYT chiếm tỷ lệ cao nhất 98,91%, ti vi 5,43%, cán bộ xã 2,95%, rất ít bà mẹ xem sách báo, tạp chí hay loa đài(31)

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương (2015) tại Quảng Ninh cho thấy các nguồn thông tin khác nhau, có sự tác động khác nhau đến từng đối tượng Trong nghiên cứu này 100% bà mẹ được phỏng vấn đã từng được nghe các thông tin về tiêm chủng Nguồn thông tin được tiếp cận qua ti vi là 72,4%, cán bộ y tế 52,4%, các mạng xã hội 45,2%, sách báo tạp chí 15,7% Từ đó cho thấy ngoài nguồn thông tin từ CBYT cần phải đa dạng các nguồn thông tin để nâng cao kiến thức về tiêm chủng cho người dân(32)

1.5.Tình hình tiêm chủng huyện Chợ Mới tỉnh An Giang

Chương trình TCMR tại huyện Chợ mới luôn nhận được sự quan tâm hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương Liên tục trong nhiều năm, chỉ tiêu của nhiều loại vắc xin luôn đạt tỷ lệ cao, đặc biệt là tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tu i trong nhiều năm liền luôn đạt tỷ lệ trên 95%(33-36)

Với diện tích tự nhiên là 369,62 km2, dân số trung bình khoảng 350.000 người, mật độ dân số khoảng 943 người/km2, đa số là dân tộc kinh Huyện có 02 thị trấn: Thị trấn Chợ Mới, Thị trấn Mỹ Luông và 16 xã: Kiến An, Kiến Thành, Long Giang, Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ, Long Điền A, Long Điền B, Long Kiến, An Thạnh Trung, Hòa Bình, Hòa An, Mỹ An, Hội An, Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân (37)

HUPH

Trang 25

Chương trình TCMR tại huyện Chợ Mới có nhiều thuận lợi Các vòng tiêm đều thống nhất vào những ngày cố định trong tháng đã tạo được ý thức, thói quen cho người mẹ mang con đi tiêm chủng Tất cả cán bộ tham gia công tác TCMR trong toàn huyện đã được tập huấn các qui định về ATTC theo quyết định số 1731/2014/QĐ-BYT ngày 16/5/2014 của BYT về việc ban hành “Hướng dẫn t chức bu i tiêm chủng” Cơ sở sân bãi, mái che, được trang bị đầy đủ

Bên cạch những thuận lợi chương trình tiêm chủng ở huyện Chợ Mới củng gặp không ít khó khăn Qua kết quả giám sát thực tế mỗi vòng tiêm tại các điểm tiêm chủng của TYT cho thấy, trong những ngày tiêm chủng hiện tượng quá tải diễn

ra khá ph biến tại nhiều địa phương Đội ngũ cán bộ làm công tác tiêm chủng bị thay đ i nhiều lại kiêm nhiệm làm cho tình trạng thiếu cán bộ tiêm chủng được đào tạo và có kinh nghiệm Một số cán bộ quản lý chương trình lớn tu i hạn chế về vi tính nên khó khăn trong việc cập nhật thông tin và quản lý trẻ trên hệ thống phần mềm tiêm chủng

Trong thời gian gần đây các phương tiện truyền thông đưa tin thường xuyên

về các PƯST chủng, đặc biệt là việc đưa vắc xin mới ComBe Five thay thế vắc xin quinvaxem đã gây tâm lý bất an cho người dân, các bật phụ huynh rất thận trọng trong việc đưa con trẻ đến tiêm, ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng của nhiều loại vắc xin trong chương trình Theo ghi nhận từ tháng 01-10/2019 nhiều trẻ em có những biểu hiện nhẹ như sốt 37,5oC – 38,2oC, đau tại chỗ tiêm củng được cha, mẹ đưa đến

cơ sở y tế để được thăm khám Thay vì những trường hợp như vậy chỉ cần lau mát,

hạ sốt cho trẻ nghỉ ngơi theo dõi thì có thể trở lại bình thường Do đó việc xác định

“thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng trong 24 giờ đầu và một số yếu tố liên quan” là mối quan tâm hàng đầu trong hoạt động

tiêm chủng của huyện Chợ Mới, nhằm định hướng công tác truyền thông, đảm bảo chất lượng ATTC, nâng cao tỷ lệ tiêm trong thời gian tới

HUPH

Trang 26

1.6 Khung lý thuyết

Thực hành

- Thông báo cho CBYT về tiền sử bệnh, dị ứng, phản ứng lần tiêm trước

- Tuân thủ theo dõi trẻ 30 phút ngay sau khi tiêm chủng tại điểm tiêm chủng

- Tuân thủ theo dõi tại nhà ít nhất

24 giờ

- Thực hiện chăm sóc trẻ tại nhà

- Phát hiện dấu hiệu bất thường sau tiêm để xử trí

Các yếu tố liên quan Thực hành chăm sóc trẻ sau TC

Yếu tố văn hóa, xã hội

- Lợi ích của tiêm chủng

-Theo dõi dấu hiệu của

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Đối tượng nghiên cứu

Bà mẹ có con trong độ tuồi từ 2 đến 18 tháng, thuộc 5 xã của huyện Chợ Mới

được chọn vào nghiên cứu Đây là nhóm tu i đang thực hiện tiêm chủng trong

chương trình TCMR

Tiêu chuẩn lựa chọn

Thời gian thu thập số liệu bắt đầu từ 25/02/2020 do đó móc thời điểm tính

tu i của trẻ được chọn vào nghiên cứu là trẻ sinh sinh từ 25/ 6/ 2018 đến 25/ 12/ 2019

Bà mẹ được lựa chọn ở trên có khả năng nghe, đọc và trả lời phỏng vấn

Các bà mẹ đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Tiêu chí loại bỏ đối tượng:

Bà mẹ không giao tiếp được

Các đối tượng có tiêm chủng tại TYT nhưng không thường xuyên có mặt tại

địa phương

2.2.Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/ 2019 đến tháng 10/2020

- Thời gian thu thập số liệu: từ 25/02/2020 đến 29/5/2020

- Địa điểm: Nghiên cứu được thực hiện tại 5 xã của huyện Chợ Mới, cụ thể

là các xã Tấn Mỹ, Long Điền A, Hòa Bình, Kiến Thành và Mỹ Hội Đông

2.3 Thiết kế nghiên cứu:

Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

d

p p

Trong đó:

HUPH

Trang 28

n: là cỡ mẫu nghiên cứu

Z(1 - α/2)=1,96 Với khoảng tin cậy 95% tại ngưỡng α=0,05

p: tỷ lệ bà mẹ có thực hành CSTST chủng đúng cách theo nghiên cứu của Hồ Thanh Tùng là 58,4% [36], vì vậy chúng tôi chọn p=0,584

d: độ chính xác tuyệt đối mong muốn, chọn d=0.06

Khung mẫu là danh sách những trẻ từ 2 đến 18 tháng tu i, đang tiêm chủng trong chương trình TCMR trong khoảng thời gian thu thập số liệu của 5 xã được chọn Số lượng mẫu của từng xã được tính theo tỷ lệ số lượng trẻ tiêm chủng trong chương trình TCMR của 5 xã được chọn và làm tròn số cụ thể:

-Tấn Mỹ: 62 đối tượng

-Long Điền A: 56 đối tượng

-Hòa Bình: 52 đối tượng

-Kiến Thành: 77 đối tượng

-Mỹ Hội Đông: 38 đối tượng

Cách chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện, chọn ngẫu nhiên các bà mẹ có con trong độ tu i nghiên cứu, đang đưa con đi tiêm chủng tại điểm tiêm chủng của 5 xã được chọn

Trường hợp bà mẹ từ chối tham gia nghiên cứu, điều tra viên có trách nhiệm giải thích và thuyết phục Nếu bà mẹ vẫn từ chối thì chọn bà mẹ khác để thay thế cho đến khi đủ cỡ mẫu

HUPH

Trang 29

2.6.Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

2.6.1.Phương pháp thu thập số liệu

Các thông tin được thu thập bằng phương pháp quan sát và phỏng vấn:

Tại trạm y tế: Điều tra viên quan sát sự phối hợp của bà mẹ với CBYT trong

việc cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe của trẻ, công tác, khám sàng lọc và tư vấn trước tiêm của CBYT, theo dõi phản ứng sau tiêm của trẻ, thời gian bà mẹ lưu lại TYT

Tại hộ gia đình: Sau tiêm chủng 2 ngày điều tra viên đến hộ gia đình phỏng

vấn bà mẹ các thông tin về thực hành và các yếu tố liên quan (điều tra viên hẹn trước với bà mẹ hoặc điện thoại để đảm bảo gặp được bà mẹ tại hộ gia đình sau 24 giờ)

2.6.2.Bộ công cụ

Bước 1: Thử nghiệm bộ câu hỏi

Bộ câu hỏi in sẵn, được thiết kế theo tài liệu hướng dẫn của WHO, BYT và các nghiên cứu được thực hiện trước đó(13,20) trước khi tiến hành thu thập số liệu,

bộ câu hỏi được điều tra thử trên 10 bà mẹ có con đang tiêm chủng tại các điểm tiêm trong huyện Chợ Mới (10 bà mẹ này không nằm trong mẫu được chọn), sau đó được điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu

Bước 2: Tập huấn Các thành viên nhóm nghiên cứu

Các thành viên trong nhóm gồm: học viên, cán bộ phụ trách tiêm chủng huyện, và 5 cán bộ phụ trách tiêm chủng của 5 xã được chọn Các thành viên tham gia điều tra, đều có chứng nhận tập huấn ATTC, mỗi thành được phát một bộ câu hỏi và được hướng dẫn cách thu thập thông tin của từng câu hỏi

- Thông tin về phản ứng sau tiêm chủng: Cán bộ Y tế tại TYT và bà mẹ theo dõi về tình trạng sức khỏe của trẻ sau tiêm chủng trong 24 giờ và ghi nhận thông tin vào phiếu theo dõi phản ứng sau tiêm chủng của trẻ

- Thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ và các yếu tố liên quan: điều tra viên phỏng vấn bà mẹ tại hộ gia đình vào ngày hôm sau

2.7 Biến số nghiên cứu (chi tiết tại phụ lục)

Nghiên cứu bao gồm các nhóm biến số và chỉ số chính sau

HUPH

Trang 30

- Nhóm biến số về thông tin của trẻ: Bao gồm các biến số về giới tính của

trẻ, thứ tự con, vắc xin đang tiêm, phản ứng tại chỗ, phản ứng toàn thân, mức độ sốt

- Nhóm biến số về kiến thức của bà mẹ: biết những biểu hiện của phản ứng

nhẹ, những biểu hiện của phản ứng nặng, hậu quả về sức khỏe có thể xảy ra do phản ứng nặng gây nên, khi nào cần đưa trẻ đến cơ sở y tế

- Nhóm biến số về thái độ của bà mẹ: Tác dụng không mong muốn sau tiêm

vắc xin, Tiếp tục cho trẻ tiêm chủng mặc dù có thể có những phản ứng nhẹ sau khi tiêm, PƯST chủng có thể phòng ngừa và giảm nhẹ được, vai trò của bà mẹ trong việc phòng ngừa và giảm PƯST chủng là rất quan trọng

- Nhóm biến số về thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng: Bảo quản STC

cá nhân, cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe của trẻ trước khi tiêm, tuân thủ quy định theo dõi trẻ tại điểm tiêm 30 phút, tuân thủ qui định theo dõi trẻ tại nhà tối thiểu 24 giờ, theo dõi thân nhiệt của trẻ sau tiêm, chăm sóc trẻ sốt, theo dõi tại vị trí tiêm, chăm sóc trẻ bị sưng đau tại vị trí tiêm, kết quả điều trị phản ứng sau tiêm, thời gian bình phục của trẻ

- Nhóm biến số các yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm chủng: Các yếu tố về văn hóa, kinh tế, xã hội, kiến thức, thái độ của người mẹ và

công tác truyền thông tư vấn trước tiêm

2.8.Cách đánh giá

2.8.1.Phản ứng sau tiêm chủng

Là hiện tượng bất thường về sức khỏe xảy ra sau khi tiêm chủng bao gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm chủng hoặc toàn thân, không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin

2.8.2.Phân loại phản ứng sau tiêm chủng

- Theo mức độ:

PƯST nhẹ: là những biểu hiện thông thường gồm sưng, đau tại vị trí tiêm, sốt

nhẹ Chỉ cần chăm sóc y tế thông thường, hoặc tự khỏi

HUPH

Trang 31

PƯST nặng: là các triệu chứng của hội chứng sốc nhiễm độc, phản ứng phản

vệ có thể dẫn tới tử vong, hoặc đe dọa tính mạng, hoặc để lại những di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe

2.8.3 Thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm

- Theo dõi 30 phút tại điểm tiêm chủng: theo dõi những dấu hiệu bất thương

như quấy khóc dai dẳng, bứt rứt, khó chịu, nôn, trớ, n i ban, đại tiểu tiện không tự chủ … có thể là dấu hiện sớm của phản ứng dị ứng, quá mẫn

Tại vết tiêm: có sưng đỏ lan rộng

- Thực hành 24 giờ sau tiêm tại nhà:

Theo dõi các dấu hiệu sau: toàn trạng, tinh thần, ăn, ngủ, thở, phát ban, phản ứng bất thường tại vị trí tiêm…

Khi trẻ có sốt: cập nhiệt độ cho trẻ, mặc quần áo mát, lau mình bằng nước

ấm, cho trẻ bú mẹ hoặc uống nước nhiều hơn, dùng thuốc hạ sốt theo chỉ định

Bế quan sát trẻ thường xuyên, không chạm đè vào chỗ tiêm

Không đắp bất cứ thứ gì lên vị trí tiêm

Đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay nếu có các dấu hiệu sau: như sốt cao (≥39o

C), co giật khó thở, tím tái, chân tay lạnh, n i mề đay toàn thân và các biểu hiện bất thường khác(14)

2.8.4.Bảng thang điểm đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ về chăm sóc trẻ sau tiêm chủng

Bảng 2.1:Thang điểm đánh giá kiến thức của bà mẹ

Trang 32

Không biết 0

2 Biết những biểu hiện

phản ứng nhẹ

Không chọn hoặc chọn không đúng 0

3 Biết những biểu hiện

của phản ứng nặng

Chọn ý khác đúng là biểu hiện nặng 2 Không chọn hoặc chọn không đúng 0

Không chọn hoặc chọn không đúng 0

5 Biết khi nào cần đưa trẻ

đến cơ sở y tế

Chọn ý khác đúng là dấu hiệu nặng cần xử trí tại cơ sở y tế 2 Không chọn hoặc chọn không đúng 0

Cách đánh giá: số điểm càng lớn thì kiến thức về tiêm chủng của bà mẹ càng cao, kiến thức đạt khi t ng số điểm >19, không đạt khi t ng số điểm ≤ 19

Bảng 2.2:Thang điểm đánh giá thái độ của bà mẹ

Trang 33

Sử dụng thang đo Likert Scale để đo lường thái độ của bà mẹ(38) Có 5 mức

độ dùng để mô tả thái độ của bà mẹ với các phản ứng sau tiêm chủng gồm có rất đồng ý, đồng ý, không biết, không đồng ý, rất không đồng ý trong đó thể hiện các quan điểm thái độ tích cực, và không tích cực Việc xây dựng thang đo bao gồm cả thái độ tích cực và không tích cực sẽ hạn chế những sai lệch do sự đồng ý hoặc phản đối được trả lời theo dây chuyền

Cách đánh giá: Thái độ tích cực khi t ng số điểm ≥ 16 điểm, không tích cực khi ng số điểm < 16 điểm

Bảng 2.3:Thang điểm đánh giá thực hành của bà mẹ về phòng và theo dõi trẻ sau tiêm chủng

2 Thực hiện theo dõi

trẻ tại điểm tiêm

HUPH

Trang 34

trẻ tại nhà -Dưới 24 giờ 0

Cách đánh giá: thực hành đạt khi t ng số điểm ≥ 9, không đạt khi t ng số điểm < 9 điểm

Có 2 tiêu chí không được đưa vào thang điểm để đánh giá về thực hành của

bà mẹ: xử trí của bà mẹ khi trẻ có phản ứng tại chỗ, có sốt sau tiêm do trên thực tế

có những trẻ sau khi tiêm hoàn toàn không có phản ứng sốt hoặc tại chỗ

2.9 Xử lý phân tích số liệu

Toàn bộ các thông tin sau khi thu thập được mã hóa, làm sạch trước khi nhập liệu bằng chương trình Epidata 3.1 Được t ng hợp phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 Các phân tích mô tả sử dụng tần suất và tỷ lệ phần % Phân tích mối liên quan

thông qua kiểm định chi bình phương với mức ý nghĩa thống kê p<0,05

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Được sự chấp thuận của Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế Công Cộng

số 106/2020/YTCC-HD3 ngày 20 tháng 3 năm 2020

Nghiên cứu được sự đồng ý của Trung tâm Y tế huyện Chợ Mới

Nghiên cứu tiến hành trên cơ sở đồng thuận tự nguyện của các đối tượng Trước khi đồng ý trả lời phỏng vấn Các bà mẹ sẽ được giải thích về nội dung và mục đích nghiên cứu

Thông tin được thu thập chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu, không sử

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1.Thông tin chung

Bảng 3.1: Thông tin chung về bà mẹ trong mẫu nghiên cứu

từ 20 tu i trở xuống và lớn hơn 40 tu i chỉ chiếm (8,1%)

Dân tộc kinh chiếm đa số với (99,6%)

Các bà mẹ tham gia nghiên cứu có trình độ học vấn từ trung học ph thông trở lên chiếm tỷ lệ (31,5%), dưới trung học ph thông chiếm tỷ lệ cao hơn (68,5%)

Kết quả củng cho thấy Nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong nghiên cứu là lao động tự do và nội trợ (70,5%), công nhân viên chức (29,5%)

HUPH

Trang 36

Bà mẹ có 1 con chiếm (41,1%), từ 2 con trở lên chiếm (58,9%),

3.2 Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ sau tiêm

Bảng 3.2: Kiến thức của bà mẹ về lợi ích của tiêm chủng

Nhận xét kết quả nghiên cứu ở bảng 3.2 cho thấy, trong 285 bà mẹ được hỏi

về lợi ích của tiêm chủng thì có 278 bà mẹ cho biết lợi ích của việc tiêm chủng là để phòng bệnh chiếm (97,5%) Có 7 bà mẹ cho biết lợi ích của vắc xin là để chữa bệnh chiếm (2,5%)

Bảng 3.3: Biết những biểu hiện của phản ứng nhẹ

HUPH

Trang 37

Bảng 3.4: Kiến thức bà mẹ về phản ứng nặng sau tiêm chủng

HUPH

Trang 38

Bảng 3 5: các dấu hiệu cần phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế

Bảng 3.6:Đánh giá kiến thức chăm sóc trẻ sau tiêm chủng của các bà mẹ

Trang 39

3.3.Thái độ của bà mẹ

Bảng 3.7 Thái độ của bà mẹ về các phản ứng sau tiêm chủng

Mọi vắc xin khi sử dụng

Trang 40

Kết quả nghiên cứu bảng 3.7 cho thấy đa số các bà mẹ đồng ý và rất đồng ý với quan điểm các vắc xin đều có thể gây ra các tác dụng phụ (82,1%), tỷ lệ bà mẹ không đồng ý và rất không đồng ý (16,2%) và (1,8%) là không có ý kiến

Đối với quan điểm nên đưa trẻ đi tiêm chủng mặc dù biết có thể có những tác dụng phụ nhẹ, có (95,6%) bà mẹ đồng ý và rất đồng ý, (3,2%) không nêu quan điểm

và (1,4%) không đồng ý

Thái độ của bà mẹ đối với quan điểm cho rằng các PƯST có thể phòng ngừa

và giảm nhẹ, có 92% các bà mẹ đồng ý và rất đồng ý, (7,7%) là không có ý kiến, chỉ

có (0,4%) là không đồng ý

Đa số các bà mẹ đều đồng ý và rất đồng ý với quan điểm cho rằng vai trò của

bà mẹ là rất quan trọng trong phòng ngừa và giảm nhẹ các PƯST (95%), Không có

Kết quả nghiên cứu bảng 3.8 cho thấy trong 285 bà mẹ tham gia nghiên cứu,

có 222 bà mẹ có thái độ tích cực chiếm (77,9%), 63 bà mẹ có thái độ không tích cực

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w