ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Điều tra định lượng
Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC):
• ĐD trực tiếp chăm sóc người bệnh hiện công tác tại ba khoa lâm sàng, bao gồm cả hợp đồng không thời hạn và có thời hạn
• ĐD không có mặt tại BV trong thời điểm nghiên cứu (đang đi học, ĐD đang bị ốm phải nằm viện hoặc nghỉ theo chế độ thai sản…)
Nghiên cứu định tính
• Phó Giám Đốc phụ trách chuyên môn ĐD
• ĐD trưởng 03 khoa lâm sàng
Tiêu chí lựa chọn ĐD tham gia định tính là ĐD trực tiếp chăm sóc người bệnh tại ba khoa lâm sàng
T HỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thời gian: Tháng 1-10/2021 Địa điểm: 03 khoa lâm sàng (Cấp cứu, Hồi sức tích cực, Nội tổng hợp) BVĐK
T HIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Đề tài áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp giữa phương pháp định lượng và định tính Nghiên cứu định lượng nhằm mục tiêu tìm hiểu thực trạng tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc KLTNMV của ĐD Sau khi thu thập và phân tích sơ bộ dữ liệu định lượng, học viên sẽ tiến hành nghiên cứu định tính thông qua các phỏng vấn sâu và thảo luận.
HUPH tổ chức luận nhóm với mục tiêu tìm hiểu sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc KLTMNV của ĐD.
M ẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng
- Chọn toàn bộ ĐD có thực hiện đặt kim luồn và chăm sóc kim luồn tại 03 khoa lâm sàng, tổng số là 152 ĐD
- Số điều dưỡng cần quan sát:
Cỡ mẫu được chọn theo công thức ước lượng một tỷ lệ:
• Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96
• d: Sai số chấp nhận trong nghiên cứu (lấy d = 08)
• p: Tỷ lệ ước tính Trong nghiên cứu này, do thực trạng tuân thủ qui trình gồm
Tỷ lệ đặt kim luồn (p1) và tỷ lệ chăm sóc kim luồn (p2) là hai yếu tố quan trọng Nghiên cứu tương tự được thực hiện tại ba khoa Hồi Sức của Bệnh viện Nhi Trung Ương vào năm 2014 đã cung cấp những thông tin giá trị về vấn đề này.
Tỷ lệ tuân thủ quy trình đặt kim luồn là 0,39 và tỷ lệ tuân thủ quy trình chăm sóc kim luồn là 0,73 Khi thay các giá trị này vào công thức, ta tính được n1 = 142 và n2 = 118 Để đảm bảo cỡ mẫu đủ lớn cho phân tích, học viên quyết định sử dụng cỡ mẫu lớn hơn là n = 142 cho nghiên cứu.
Số điều dưỡng tối thiểu cần quan sát là 142, tuy nhiên, nghiên cứu đã chọn mẫu toàn bộ với tổng số 152 điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang Mỗi điều dưỡng được quan sát 01 mũi kim, do đó tổng số mũi kim được quan sát là 152.
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
− Thảo luận nhóm có trọng tâm được thực hiện trên 02 nhóm:
− 01 nhóm ĐDT 03 khoa lâm sàng: Chọn chủ đích 03 ĐDT 03 khoa lâm sàng
Trong nghiên cứu, chúng tôi đã chọn 03 điều dưỡng (ĐD) từ mỗi khoa lâm sàng, với tổng cộng 09 ĐD Các ĐD được lựa chọn có thâm niên công tác từ dưới 5 năm đến trên 10 năm và đều đã tham gia vào nghiên cứu định lượng.
− 01 Phó Giám đốc BV phụ trách về công tác chuyên môn ĐD (Chủ tịch Hội đồng ĐD)
− 01 Phó trưởng Phòng ĐD BV.
P HƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu Định lượng
Phiếu thu thập thông tin chung của ĐTNC (Phụ lục 2) bao gồm các thông tin quan trọng như mã số, họ tên điều dưỡng, năm sinh, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, loại hình lao động, đào tạo, tập huấn, kiểm tra giám sát, số buổi trực và số người bệnh được chăm sóc.
Sử dụng phiếu thu thập thông tin qua phương pháp quan sát trực tiếp với bảng kiểm, bao gồm hai phần chính Phần 1 cung cấp thông tin chung về đối tượng nghiên cứu, bao gồm mã số, họ tên, nhóm tuổi và giới tính Phần 2 bao gồm bảng kiểm quan sát thực hành quy trình đặt kim luồn và bảng kiểm quan sát thực hành quy trình chăm sóc kim luồn, nhằm đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình thực hiện.
• Hướng dẫn phỏng vấn sâu đối phó Giám Đốc phụ trách chuyên môn ĐD (Phụ lục 4 Hướng dẫn Phỏng vấn sâu (PVS) Phó Giám đốc phụ trách ĐD)
• Hướng dẫn PVS Trưởng/ phó phòng ĐD (Phụ lục 5 Hướng dẫn PVS
Trưởng/phó trưởng phòng ĐD)
Hướng dẫn thảo luận nhóm dành cho ĐD trưởng của ba khoa lâm sàng: Hồi sức tích cực, Cấp cứu và Nội tổng hợp được trình bày chi tiết trong Phụ lục 6.
2.5.2 Cách thức tổ chức thu thập số liệu Định lượng
• Lập danh sách ĐD tham gia nghiên cứu: Mã số và Họ và tên Sau đó danh sách được phân công cho các ĐTV để tiến hành quan sát
Đội ngũ điều tra viên (ĐTV) bao gồm học viên và 03 người từ 03 khoa lâm sàng Mỗi ĐTV sẽ thực hành quan sát một lần quy trình đặt và chăm sóc kim luồn Sau đó, nhóm ĐTV sẽ họp để rút kinh nghiệm và điều chỉnh bộ công cụ cho phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức.
➢ Phát vấn: Sử dụng bộ câu hỏi phát vấn về thông tin chung của Điều dưỡng
Buổi phát vấn được tổ chức tại phòng họp của mỗi khoa, trong đó ĐTV giải thích lý do thu thập số liệu và hướng dẫn cách điền phiếu Sau khi phát phiếu cho ĐD, ĐTV quan sát để đảm bảo không có sự trao đổi giữa các ĐD, nhằm tránh ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Khi ĐD hoàn thành việc điền phiếu, ĐTV sẽ kiểm tra và yêu cầu bổ sung thông tin nếu phiếu chưa đầy đủ.
Mỗi ĐD được gán một mã số nghiên cứu từ 1 đến hết theo danh sách của các Khoa nghiên cứu ĐTV tiến hành quan sát quy trình đặt và chăm sóc KLTMNV cho mỗi ĐD một lần trong buổi sáng hoặc chiều Trong trường hợp tần suất mũi tiêm và đặt kim diễn ra tại một buồng bệnh, ĐTV có thể quan sát đồng thời 1-2 ĐD Thời gian quan sát được thực hiện vào buổi sáng từ 7h30 đến 11h00 và buổi chiều từ 13h30 đến 17h00.
Nghiên cứu định tính được thực hiện ngay sau khi có kết quả sơ bộ từ số liệu định lượng nhằm mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc KLTMNV của ĐD Hướng dẫn phỏng vấn và thảo luận đã được điều chỉnh dựa trên kết quả này Qua nghiên cứu định tính, chúng tôi đã tìm hiểu sâu hơn về các nguyên nhân khiến ĐD không tuân thủ quy trình, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao mức độ tuân thủ quy trình này.
Tất cả các cuộc phỏng vấn sâu đều được thực hiện với sự đồng ý ghi âm và đảm bảo tính khuyết danh Nếu đối tượng không đồng ý ghi âm, nghiên cứu viên sẽ tiến hành ghi chép nội dung phỏng vấn.
- Mỗi cuộc phỏng vấn gồm 02 người tham gia: Nghiên cứu viên và ĐTNC, không có thư ký
- Địa điểm: Tại phòng riêng của Khoa hoặc của ĐTNC và phòng họp giao ban của khoa Cấp cứu
- Thời gian PVS: 30 – 45 phút/ cuộc PVS
Dựa vào bảng TLN, thực hiện 2 TLN do học viên thực hiện:
- Thời gian: 45- 60 phút/ cuộc TLN
- Địa điểm: Phòng họp giao ban khoa Cấp cứu
C ÁC BIẾN SỐ TRONG NGHIÊN CỨU
Biến số nghiên cứu định lượng ngoài nhóm về thông tin chung về ĐTNC là 2 biến số đầu ra:
1 Kỹ thuật đặt kim luồn: Thực hành chuẩn bị dụng cụ đặt kim luồn, Thực hành chuẩn bị cá nhân trước khi thực hiện đặt kim luồn và Thực hành tuân thủ các kỹ thuật đặt kim luồn
2 Kỹ thuật chăm sóc kim luồn: Thực hành chuẩn bị dụng cụ chăm sóc kim luồn, Thực hành chuẩn bị cá nhân trước khi thực hiện chăm sóc kim luồn và Thực hành tuân thủ các kỹ thuật chăm sóc kim luồn
Chi tiết xem trong Phụ lục 1 Bảng 1 Nhóm biến số nghiên cứu định lượng
Các chủ đề nghiên cứu định tính được chia thành 5 nhóm chính nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc KLTMNV của ĐD.
1 Quy định và qui trình (Đào tạo, tập huấn; khen thưởng, xử phạt)
4 Công tác kiểm tra, giám sát của bệnh viện
Chi tiết xem trong Phụ lục 1 Bảng 2 Nhóm chủ đề nghiên cứu định tính
X Ử LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Các phiếu được kiểm tra, làm sạch, mã hóa và nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1, sau đó xử lý bằng SPSS 20.0 để thu thập thông tin mô tả và phân tích thống kê Để được đánh giá là đạt, điều dưỡng (ĐD) cần tuân thủ đầy đủ các bước quan trọng trong quy trình đặt và chăm sóc KLTMNV, bao gồm kiểm tra 5 đúng, rửa tay, dấu hiệu tiêm đúng, đúng tốc độ và đúng thời gian Cụ thể, ĐD phải thực hiện ít nhất 9/13 bước theo quy định của BVĐK trung tâm An Giang và các nghiên cứu trước đây Chi tiết quy trình kỹ thuật đặt KLTMNV có thể tham khảo trong Phụ lục 7.
Qui trình chăm sóc KLTMNV được coi là đạt yêu cầu khi một điều dưỡng thực hiện ít nhất 12 trong số 15 bước theo quy định của Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang, cũng như các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Kim Sơn và Nguyễn Thị Kim Phượng Thông tin chi tiết có thể tham khảo trong Phụ lục 8 về qui trình kỹ thuật chăm sóc KLTMNV.
Cả 2 qui trình đều được bệnh viện xây dựng dựa trên Hướng dẫn TAT trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Bộ Y tế năm 2012 (3671/QĐ-BYT) (15)
Các số liệu định tính được gỡ băng, mã hóa và phân tích theo chủ đề nghiên cứu.
Đ ẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này được thực hiện sau khi được Hội đồng Đạo đức phê duyệt theo Quyết định số 16/2021/YTCC-HD3 vào ngày 27 tháng 01 năm 2021 Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đã được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn định tính Việc thu thập dữ liệu chỉ được thực hiện sau khi ĐTNC đồng ý tham gia, và thông tin cá nhân của họ được bảo mật, với dữ liệu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Nội dung đề tài đã được ban lãnh đạo BVĐKTT AG phê duyệt Sau khi hoàn thành nghiên cứu, kết quả sẽ được phản hồi và báo cáo cho Ban Giám đốc cùng với nhân viên y tế của bệnh viện.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
T HÔNG TIN CHUNG VỀ Đ IỀU DƯỠNG THAM GIA NGHIÊN CỨU TẠI BV ĐA
khu vực tỉnh An Giang Bảng 3.1 Thông tin cá nhân của Điều dưỡng tham gia nghiên cứu
Nội dung Tần số (n2) Tỷ lệ (%) Giới tính
Bằng cấp chuyên môn (cao nhất hiện tại)
Cao đẳng 17 11,2% Đại học trở lên 30 19,7%
Khoa/Phòng đang công tác
Hợp đồng vô thời hạn 105 69,1%
Bảng 3.1 cho thấy, trong số 152 ĐTNC tham gia nghiên cứu, nữ giới chiếm tỷ lệ cao với 72,4%, trong khi nam giới chỉ chiếm 27,6% Hơn một nửa đối tượng nghiên cứu thuộc nhóm tuổi trẻ (≤ 35 tuổi), và khoảng 1/3 nằm trong độ tuổi từ 34-46 Về trình độ chuyên môn, gần 70% ĐD có bằng Trung cấp, tiếp theo là 19,7% có trình độ đại học trở lên, trong khi nhóm ĐD cao đẳng và phẫu thuật viên chiếm tỷ lệ thấp nhất với 11,2% và 7,1% tương ứng Thâm niên công tác cho thấy khoảng 75% ĐD đã làm việc tại BV trên 5 năm, trong khi chỉ khoảng 25% có thời gian làm việc dưới 5 năm Cuối cùng, khoảng 69,1% ĐD tham gia nghiên cứu là cán bộ có hợp đồng vô thời hạn, trong khi 30,9% còn lại là cán bộ có hợp đồng ngắn hạn.
Bảng 3.2 Tập huấn về qui trình đặt và chăm sóc KLTMNV của ĐD
Qui trình chăm sóc KLTMNV 144 94,70%
Số lần được tập huấn
Qui trình đặt KLTMNV TB ± SD: 5,43 ± 3,9 Qui trình chăm sóc KLTMNV TB ± SD: 5,40 ± 3,86)
Theo Bảng 3.2, hơn 95% ĐD đã được tập huấn về qui trình đặt và chăm sóc KLTMNV Trung bình, mỗi ĐD tham gia 5,4 lần tập huấn (± 3,9), trong đó có 2 ĐD (1,3%) được tập huấn nhiều nhất với 20 lần, và 12 ĐD (7,9%) chưa từng tham gia tập huấn.
HUPH tập huấn Ngoài ra, ĐD cũng cho biết 100% các cuộc kiểm tra của BV cho họ đều được báo trước
Bảng 3.3 Thông tin về công việc của ĐD Thông tin Số buổi trực trung bình trong
Số NB chăm sóc trung bình trong 1 ngày
Trung bình (TB) 6,2 19,3 Độ lệch chuẩn (SD) 2,7 8,4
Bảng 3.3 cho thấy ĐD thực hiện trung bình 6,2 buổi trực hàng tháng từ 17h đến 7h sáng Mỗi ĐD chăm sóc khoảng 19,3 ± 8,4 bệnh nhân mỗi ngày Phân tích theo từng khoa cho thấy Khoa Nội tổng hợp có số buổi trực thấp nhất (4,4 buổi), trong khi Khoa Cấp cứu có số buổi trực cao thứ hai (6,5 buổi) và Khoa Hồi sức tích cực cao nhất (7,3 buổi) Mặc dù Khoa Cấp cứu có số buổi trực thấp, nhưng lại có số bệnh nhân thấp nhất (12 NB/ngày), trong khi Khoa Hồi sức tích cực có số bệnh nhân cao nhất với trung bình 20,9 NB/ngày.
Hình 3.1 Thời gian làm việc của ĐD theo khoa tại BVĐK tỉnh An Giang
Thời gian làm việc của Điều dưỡng
T HỰC HÀNH TUÂN THỦ QUI TRÌNH ĐẶT VÀ CHĂM SÓC KLTMNV CỦA ĐD
3.2.1 Thực hành đặt KLTMNV của ĐD
Bảng 3.4 Thực hành chuẩn bị dụng cụ đặt KLTMNV của ĐD (n2) Bước
1 Các bước tiến hành Tuân thủ
1.4 Thùng đựng chất thải theo qui định 142 93,4%
Chuẩn bị đạt 4/4 dụng cụ cho đặt
Theo Bảng 3.4 về thực hành chuẩn bị dụng cụ đặt KLTMNV của ĐD, có tới 17,8% ĐD không đạt yêu cầu ở cả 4 tiêu chí chuẩn bị Trong số đó, hai dụng cụ có tỷ lệ chuẩn bị thấp nhất là Hộp chống sốc và thùng đựng chất thải, với tỷ lệ chỉ đạt 93,4%.
Bảng 3.5 Thực hành chuẩn bị cá nhân trước khi thực hiện đặt KLTMNV của ĐD (n2)
Bước Các bước tiến hành
2 ĐD mặc trang phục theo qui định 118 77,6%
3 ĐD rửa tay hoặc sát khuẩn nhanh 97 63,8%
Theo Bảng 3.5, thực hành chuẩn bị cá nhân trước khi thực hiện đặt KLTMNV của ĐD cho thấy tỷ lệ tuân thủ cao nhất là việc đeo khẩu trang, đạt 98% Tuy nhiên, các tỷ lệ khác vẫn còn thấp, với việc đội mũ chỉ đạt 79,6% và tỷ lệ thực hiện sát khuẩn nhanh chỉ khoảng 63,8%.
Bảng 3.6 Thực hành tuân thủ các kỹ thuật đặt KLTMNV của ĐD (n 2)
Bước Các bước tiến hành
4 Thực hiện 5 đúng (Đúng NB, Đúng thuốc, Đúng liều, Đúng đường dùng thuốc và Đúng thời gian dùng thuốc)
5 Thắt dây garo được thắt trên vùng tiêm từ 10 – 15cm
6 Sát khuẩn da vùng tiêm 95 62,5%
7 Ngón trỏ giữ TM và căng bề mặt da tại vị trí tiêm
8 Đưa kim vào mạch máu 147 96,7%
9 Rút thông nòng dần dần đồng thời đẩy kim vào mạch máu, cố định kim
13 Ghi chép hồ sơ bệnh án 97 63,8%
Tỷ lệ thực hiện đúng kỹ thuật của ĐD dao động từ 57% đến 100%, với ba bước đạt tỷ lệ trên 95% Cụ thể, 100% thực hiện đúng 5 đúng (Đúng NB, Đúng thuốc, Đúng liều, Đúng đường dùng thuốc và Đúng thời gian dùng thuốc), cùng với việc đưa kim vào mạch máu và rút thông nòng dần dần.
Tỷ lệ thực hiện các kỹ thuật tiêm tĩnh mạch tại HUPH vẫn chưa đạt yêu cầu cao, với ngón trỏ giữ tĩnh mạch và căng bề mặt da chỉ đạt 58,3% Thắt dây garo trên vùng tiêm từ 10 – 15cm đạt 57,2% Các bước như sát khuẩn da, tháo găng tay, thu dọn dụng cụ, rửa tay và ghi chép hồ sơ bệnh án chỉ đạt tỷ lệ 2/3 trong việc thực hành đúng.
Hình 3.2 Tuân thủ qui trình đặt KLTMNV của ĐD theo khoa tại BVĐK tỉnh An Giang
Tỷ lệ tuân thủ đặt KLTMNV của ĐD tham gia nghiên cứu đạt 54%, với Khoa Nội tổng hợp có tỷ lệ cao nhất là 76%, trong khi Khoa Cấp cứu và Khoa HSTC chỉ đạt khoảng 42% Điểm tuân thủ trung bình của ĐD là 17,5 ± 1,8, trong đó 92% ĐD đạt điểm từ 17 đến 20.
Tuân thủ qui trình đặt kim luồn của Điều dưỡng
Hình 3.3 Điểm tuân thủ qui trình đặt KLTMNV
3.2.2 Thực hành chăm sóc KLTMNV
Bảng 3.7 Thực hành chuẩn bị dụng cụ chăm sóc KLTMNV của ĐD (n2)
Bước Các bước tiến hành Tuân thủ
1.3 Dung dịch sát trùng nhanh 128 84,2%
1.4 Thùng đựng chất thải y tế theo qui định 140 92,1%
Chuẩn bị đạt 4/4 dụng cụ cho chăm sóc
Theo Bảng 3.7, chỉ có 61,8% điều dưỡng (ĐD) thực hiện đầy đủ 4 bước chuẩn bị dụng cụ chăm sóc KLTMNV, cho thấy chưa đến 2/3 số ĐD thực hành đúng quy trình chuẩn bị dụng cụ Điều này chỉ ra rằng hai bước chuẩn bị vẫn chưa được thực hiện đúng cách.
HUPH dụng cụ có tỷ lệ đạt thấp nhất là Khay sạch (87,5%) và Dung dịch sát trùng nhanh (84,2%)
Bảng 3.8 Thực hành chuẩn bị cá nhân trước khi thực hiện chăm sóc
2 ĐD mặc trang phục theo qui định 114 75%
3 ĐD rửa tay hoặc sát khuẩn nhanh 113 74,3%
Theo Bảng 3.8, tỷ lệ điều dưỡng (ĐD) tuân thủ quy trình chuẩn bị cá nhân trước khi thực hiện chăm sóc KLTMNV cao nhất là việc đeo khẩu trang, đạt 93,4% Tuy nhiên, tỷ lệ đội mũ chỉ đạt 79,6% và thực hiện sát khuẩn nhanh chỉ đạt 74,3%, cho thấy còn nhiều ĐD chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp cần thiết.
Bảng 3.9 Thực hành tuân thủ các kỹ thuật chăm sóc KLTMNV của ĐD (n
4 Kiểm tra băng dính cố định kim luồn 91 59,9%
5 Vùng da xung quanh đặt KLTMNV an toàn (không sưng, không đỏ, không tím) 99 65,1%
6 Sát khuẩn đầu nút kim 88 57,9%
7 Để khô đầu nút kim sau sát khuẩn khô 87 57,2%
8 Tháo nút đầu nối kim đảo bảo vô khuẩn 115 75,7%
9 Kiểm tra sự lưu thông của kim luồn 108 71,1%
10 Trong khi thực hiện y lệnh vị trí tiêm không phồng, không rỉ nước 113 74,3%
11 Bơm nước cất sau tiêm, truyền dịch 111 73%
15 Ghi hồ sơ bệnh án 127 83,6%
Bảng 3.9 cho thấy tỷ lệ thực hiện đúng kỹ thuật chăm sóc KLTMNV của ĐD dao động từ 57% đến 100% Hai bước có tỷ lệ thực hiện gần như tuyệt đối, đạt từ 95% trở lên, là Lắp lại kim luồn và Thu dọn dụng cụ Tuy nhiên, một số kỹ thuật vẫn chưa đạt yêu cầu cao, như Kiểm tra băng dính cố định kim luồn (59,9%), Sát khuẩn đầu nút kim (57,9%) và Để khô đầu nút kim sau sát khuẩn khô (57,2%) Các bước còn lại chủ yếu chỉ đạt tỷ lệ từ 65% đến 80%.
Hình 3.4 Tỷ lệ tuân thủ qui trình chăm sóc KLTMNV của ĐD theo khoa tại
Tỷ lệ tuân thủ qui trình chăm sóc kim luồn của Điều dưỡng
Tỷ lệ tuân thủ chăm sóc KLTMNV của ĐD tham gia nghiên cứu đạt 68,4%, với Khoa Nội tổng hợp có tỷ lệ cao nhất là 79,6% Trong khi đó, Khoa Cấp cứu và Khoa Hồi sức tích cực chỉ đạt 66,7% và 58% Điểm trung bình tuân thủ chăm sóc KLTMNV là 12,3 ± 1,8, trong đó 94,5% ĐD đạt điểm từ 11 đến 14.
Hình 3.5 Điểm tuân thủ qui trình đặt KLTMNV
M ỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TUÂN THỦ QUI TRÌNH ĐẶT VÀ CHĂM SÓC KLTMNV
3.3.1 Yếu tố cá nhân của điều dưỡng
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với thực hành tuân thủ qui trình đặt KLTMNV
Không tuân thủ Tuân thủ Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ (n2) (%) (n2) (%)
OR KTC KTC p dưới trên Giới tính
Bằng cấp chuyên môn (cao nhất)
Cao đẳng Đại học trở lên
Hợp đồng vô thời hạn
Khoa phòng hiện công tác
Số buổi trực trung bình hàng tháng
Số NB trung bình hàng ngày
Bảng 3.10 chỉ ra rằng nữ điều dưỡng có tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với nam điều dưỡng (OR=2,4; 95% CI: 1,2-5,1; p7) Điều dưỡng tại Khoa Nội tổng hợp cũng cho thấy tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với điều dưỡng ở Khoa Hồi sức tích cực và Cấp cứu (OR=4,4; 95% CI: 1,9-10,3; p1) Các yếu tố khác không có mối liên quan đáng kể với tuân thủ đặt KLTMNV (p>05) Phỏng vấn định tính cho thấy tất cả điều dưỡng đều có ý thức tuân thủ quy trình, nhưng nam giới và những điều dưỡng làm việc tại các khoa đông và áp lực cao thường có tỷ lệ không tuân thủ cao hơn.
ĐD của BVĐK trung tâm An Giang có ý thức cao, nhưng không thể tránh khỏi sai sót Tỷ lệ tuân thủ của nam giới thường thấp hơn so với nữ giới Ngoài ra, ĐD tại Khoa Hồi sức và Khoa cấp cứu thường có tỷ lệ tuân thủ thấp hơn do áp lực công việc và khối lượng công việc lớn.
Tham gia tập huấn về đặt KLTMNV
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với tuân thủ qui trình chăm sóc KLTMNV Biến số
Không tuân thủ Tuân thủ Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ (n2) (%) (n2) (%)
OR KTC KTC dưới trên
Bằng cấp chuyên môn (cao nhất)
Cao đẳng Đại học trở lên
Hợp đồng vô thời hạn
Khoa phòng hiện công tác
Số buổi trực trung bình hàng tháng
Bảng 3.11 trình bày kết quả phân tích đơn biến về mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân và tuân thủ quy trình chăm sóc KLTMNV, nhưng không tìm thấy mối liên hệ đáng kể nào giữa các yếu tố nhân khẩu học và quản lý với tuân thủ chăm sóc kim luồn (p>05) Các lãnh đạo bệnh viện trong phỏng vấn định tính cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ quy trình chăm sóc KLTMNV của điều dưỡng.
Tôi đánh giá rằng ĐD của BV có tỷ lệ tuân thủ quy trình chăm sóc KLTMNV cao, tương tự như việc đặt KLTMNV Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất vẫn là tình trạng không tuân thủ.
BV thường có số lượng bệnh nhân cần chăm sóc lớn, đặc biệt vào những thời điểm cao điểm trong năm Tuy nhiên, việc chăm sóc KLTMNV có thể được tổ chức một cách linh hoạt và ít áp lực hơn, dẫn đến tỷ lệ tuân thủ cao hơn Hiện tại, cơ cấu chuyên môn và số lượng nhân lực ĐD của BV vẫn chưa đạt được như kế hoạch đã đề ra.
3.3.2 Yếu tố thuộc về BV
3.3.2.1 Quy định và qui trình
Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ và tuân thủ quy trình lâm sàng của nhân viên y tế, đặc biệt trong các hoạt động cung cấp dịch vụ của điều dưỡng Là một trong những bệnh viện hàng đầu tại tỉnh An Giang và khu vực Tây Nam Bộ, bệnh viện triển khai nhiều chính sách nhằm tăng cường tuân thủ quy trình, bao gồm kiểm tra và giám sát quy trình cung cấp dịch vụ, quy định về an toàn người bệnh, cùng với các hoạt động hỗ trợ như tập huấn, thưởng phạt, cải tiến chất lượng và truyền thông.
Nhiều quy trình hiện nay vẫn còn bất cập và khó áp dụng vào thực tế do thiếu sự phân định rõ ràng về đối tượng áp dụng và định nghĩa Hơn nữa, việc đánh giá định kỳ và rà soát để sửa đổi quy trình chưa được thực hiện, dẫn đến những hạn chế trong hiệu quả sử dụng.
Các quy trình hiện tại đã được điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh của đội ngũ y tế và bệnh viện, nhưng vẫn cần tăng cường tập huấn và phổ biến cho cán bộ về các quy định khám chữa bệnh và chăm sóc người bệnh Việc phân định và định nghĩa rõ ràng các quy trình cho từng đối tượng và cán bộ chuyên môn là rất quan trọng Cần thực hiện đánh giá định kỳ và rà soát quy trình để sửa đổi kịp thời Cần làm rõ các khái niệm như sai sót, sự cố và những vấn đề không phù hợp để có biện pháp cải thiện hiệu quả.
Việc triển khai và thực hiện các quy trình lâm sàng vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc chưa phổ biến đầy đủ tới đối tượng đích Nhiều cán bộ cho biết rằng việc truyền đạt quy định cho toàn bộ nhân viên y tế và các nhóm đối tượng chuyên môn tại bệnh viện còn gặp khó khăn Kết quả định tính cho thấy tình trạng này cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả trong công tác y tế.
HUPH nhấn mạnh sự thiếu đồng bộ trong các quy trình liên quan đến việc mua sắm trang thiết bị và vật tư, cũng như trong việc lưu trữ, phân phối và đảm bảo vô trùng cho các thiết bị khi bàn giao.
Việc xây dựng quy trình liên quan đến kim luồn không chỉ diễn ra trong quá trình điều dưỡng trực tiếp mà còn bao gồm các bước từ mua sắm trang thiết bị, vật tư đến lưu trữ, phân phối và đảm bảo vô trùng Hệ thống này cần phải được thực hiện một cách đồng bộ, bao gồm cả việc xử lý bông băng, gạc và báo cáo Tuy nhiên, nhiều điều dưỡng viên vẫn không chuẩn bị đầy đủ, như việc đội mũ, dẫn đến việc bỏ sót các bước quan trọng do thói quen Điều này cho thấy cần có sự nhắc nhở và cải tiến trong quy trình để tránh những sai sót không đáng có.
“Để khảo sát và đẩy mạnh thực hiện đúng qui trình của nhân viên ĐD với
Phòng ĐD sẽ tiếp tục phát triển và dán thêm các poster cùng tài liệu đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền cho ĐD Mặc dù đã có nhiều quy trình và chương trình tập huấn, nhưng vẫn còn tình trạng ĐD chủ quan hoặc thực hiện chưa đầy đủ.
Thiếu hụt nhân lực điều dưỡng chất lượng đang là vấn đề nghiêm trọng tại các bệnh viện, đặc biệt là trong bối cảnh số lượng bệnh nhân ngày càng tăng và yêu cầu về chất lượng khám chữa bệnh ngày càng cao Ngoài công tác khám chữa bệnh thường quy, bệnh viện còn phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác như tham gia tuyến đầu ngành, công tác luân phiên, giảng dạy và đào tạo, cũng như tham gia các đoàn kiểm tra của Sở Y tế và phục vụ các sự kiện tại tỉnh An Giang Đặc biệt, tại các khoa hồi sức tích cực, tình trạng thiếu nhân lực vẫn đang gây áp lực lớn, khiến việc triển khai làm theo ca trở nên khó khăn.
Việc tuyển dụng và duy trì nhân lực điều dưỡng chất lượng tại bệnh viện công lập gặp nhiều khó khăn do mức lương không hấp dẫn, thấp hơn so với các bệnh viện tư nhân Hiện tượng chảy máu chất xám này đã ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc và điều trị tốt nhất cho bệnh nhân.
HUPH tuân thủ nghiêm ngặt quy trình, mặc dù nhiều ĐD có xu hướng làm nhanh và làm tắt khi áp lực NB gia tăng Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy sự thiếu hụt và khó khăn trong việc tuyển dụng nhân lực.
“Nhiều khoa phòng thì ĐD đi học rồi thai sản hay chuyển đi là thiếu người
BÀN LUẬN
Đ ẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU HỌC CỦA ĐTNC
Độ tuổi của các điều dưỡng (ĐD) khá trẻ, với hơn 50% thuộc nhóm tuổi ≤ 35 và khoảng 85% có tuổi ≤ 45 Tỷ lệ này tương đương với các nghiên cứu về tuân thủ TAT và đặt KLTMNV, trong đó nhóm tuổi < 35 chiếm từ 50% đến 60%.
50) nhưng thấp hơn nghiên cứu về tuân thủ đặt KLTMNV của ĐD tại BV Nhi Trung Ương năm 2014 (16) Sự khác biệt với nghiên cứu của BV Nhi Trung Ương có thể do tại thời điểm năm 2014, BV có các chính sách tuyển người khi nhiều nhân viên nghỉ việc do công việc của ĐD tại các khoa hồi sức rất vất vả chịu nhiều áp lực
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số 152 điều dưỡng tham gia, khoảng 75% là nữ giới Tỷ lệ này tương đồng với các nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu tại BV E năm 2013 với 87,8% là nữ trong việc đánh giá thực hiện quy trình kỹ thuật chuyên môn, cũng như nghiên cứu tại BV Nhi Trung Ương.
Tỷ lệ điều dưỡng nữ tuân thủ quy trình kiểm soát chất lượng trong môi trường bệnh viện cao hơn điều dưỡng nam, điều này phản ánh sự tỉ mỉ và kiên nhẫn cần thiết trong công tác chăm sóc bệnh nhân Tuy nhiên, ở một số phòng khoa có trang thiết bị hiện đại và kỹ thuật cao như hồi sức cấp cứu, điều dưỡng nam cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các kỹ thuật chuyên sâu như ép tim và đặt stent.
Tỷ lệ điều dưỡng trung cấp tại BVĐK trung tâm An Giang đạt 70%, tương đương với nghiên cứu về tuân thủ đặt KLTMNV tại BV Nhi Trung ương năm 2014 Mặc dù tỷ lệ này cao, nhưng vẫn thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây, như tỷ lệ 75,4% tại BV E và 84,5% tại BV Hữu Nghị năm 2012 Điều này cho thấy BVĐK trung tâm An Giang có tiềm năng tốt để triển khai các qui trình kỹ thuật đáp ứng yêu cầu công việc nhờ vào đội ngũ điều dưỡng có trình độ chuyên môn cao.
T HỰC TRẠNG TUÂN THỦ QUI TRÌNH ĐẶT VÀ CHĂM SÓC KLTMNV
Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc KLTMNV của đội ngũ y tế còn nhiều hạn chế, với tỷ lệ chung đạt 80,9% Khoa Cấp cứu có tỷ lệ tuân thủ cao nhất là 83,3%, trong khi Khoa Hồi sức tích cực ghi nhận tỷ lệ thấp nhất là 78% Đối với tỷ lệ tuân thủ của đội ngũ y tế tham gia nghiên cứu, mức chung đạt 82,2%, với Khoa Hồi sức tích cực đạt 84% và Khoa Cấp cứu đạt 79,2%.
Trong quá trình quan sát 152 lần thực hiện quy trình đặt và chăm sóc kim luồn tĩnh mạch ngoại biên (KLTMNV), tỉ lệ viêm tại chỗ do quy trình này gây ra chỉ chiếm 2.8% tổng số kim luồn được đặt, chủ yếu xảy ra trong 72 giờ đầu tiên Tỉ lệ viêm này thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây trên thế giới, như tại Singapore và Hoa Kỳ, nơi tỉ lệ viêm ghi nhận dao động từ 26-42%.
Việc so sánh tỉ lệ viêm tĩnh mạch do đặt và chăm sóc KLTMNV gặp khó khăn do tiêu chí đánh giá và đặc điểm bệnh nhân không đồng nhất trong các nghiên cứu Hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ sử dụng tiêu chí đánh giá lâm sàng mà không áp dụng bảng điểm theo mức độ như VIP score của Jackson Bảng điểm Jackson, với ưu điểm dễ sử dụng và có biện pháp xử lý tương ứng, đã được chứng minh có độ tin cậy cao và được nhiều hiệp hội điều dưỡng tại Anh và Hoa Kỳ chấp thuận Tuy nhiên, tại Việt Nam, chưa có khảo sát nào về tình trạng viêm tĩnh mạch sử dụng bảng điểm này.
4.2.1 Thực hành đặt KLTMNV của ĐD
Trong quá trình chuẩn bị kim luồn, có 17,8% điều dưỡng (ĐD) không đạt cả 4/4 tiêu chuẩn trong số 152 quan sát thực hiện quy trình đặt kim luồn tĩnh mạch ngoại biên (KLTMNV) Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu tương tự tại Bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2014 Nguyên nhân chủ yếu được các ĐD nêu ra là do thiếu kiểm tra lại dụng cụ đã chuẩn bị từ hôm trước hoặc do số lượng bệnh nhân vượt quá thông báo, dẫn đến việc không mang đủ dụng cụ cần thiết.
Chỉ có 63,8% điều dưỡng thực hiện rửa tay hoặc sát khuẩn tay trước khi đặt kim luồn tĩnh mạch, tương đương với tỷ lệ 62,5% tại Bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2014 và 63,1% tại Bệnh viện ĐK Hà Đông năm 2012 Tỷ lệ này thấp hơn so với 79% điều dưỡng tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2017, nhưng cao hơn 47,5% điều dưỡng rửa tay trước khi chăm sóc bệnh nhân thở máy tại Bệnh viện Chợ Rẫy và 15,9% điều dưỡng ở Bệnh viện Phụ sản Tiền Giang trước khi tiêm Sau khi thực hiện quy trình chăm sóc kim luồn tĩnh mạch, tỷ lệ rửa tay đạt 63,2%, tương đương với 62,3% điều dưỡng rửa tay sau khi tiêm truyền tại Bệnh viện ĐK Bắc Thăng Long.
Sự khác biệt trong trình độ của điều dưỡng (ĐD) giữa các bệnh viện tuyến trung ương và bệnh viện địa phương có thể ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy trình đặt kim luồn tĩnh mạch ngoại vi (TMNV) Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan tích cực giữa bằng cấp chuyên môn của ĐD và mức độ tuân thủ quy trình này Ngoài ra, địa điểm làm việc cũng đóng vai trò quan trọng; ĐD tại các khoa hồi sức thường tuân thủ quy trình tốt hơn so với ĐD ở các khoa lâm sàng, như đã được ghi nhận trong các nghiên cứu trước đây.
Tỷ lệ tuân thủ đặt KLTMNV của ĐD tham gia nghiên cứu đạt 54%, với Khoa Nội tổng hợp có tỷ lệ cao nhất là 76%, trong khi Khoa Cấp cứu và Khoa Hồi sức tích cực chỉ đạt khoảng 42% Nhiều bước thực hiện chỉ đạt từ 57-70%, như giữ TM và căng bề mặt da tại vị trí tiêm (58,3%) và thắt dây garo trên vùng tiêm từ 10 – 15cm (57,2%) Tỷ lệ này thấp hơn so với 66,5% ở BV Nhi đồng Cần Thơ năm 2017 và 90,2% về tiêm truyền tĩnh mạch tại BV Đại học Y Hà Nội năm 2014, cũng như 88,3% tuân thủ thực hành đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên trong khóa tập huấn.
BV quận Bình Thạnh năm 2019 (56) Điểm tuân thủ thực hành qui trình đặt KLTMNV trung bình là 15,5 điểm này thấp hơn mức điểm 17,5 trong nghiên cứu tại
BV Nhi Trung Ương năm 2014 (16)
Khác biệt về tỷ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi so với các nghiên cứu khác có thể do chúng tôi tập trung vào 3 Khoa có đông bệnh nhân hơn, trong khi các nghiên cứu khác thực hiện trên tất cả ĐD hoặc có sự khác biệt trong đối tượng ĐD Nghiên cứu tại BVĐK Bắc Thăng Long và Phụ sản Tiền Giang có tỷ lệ thấp hơn do thực hiện trên ĐD trung cấp Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ thuận giữa bằng cấp chuyên môn của ĐD và việc tuân thủ quy trình tiêm truyền Một số nghiên cứu khác chỉ thực hiện trong nhóm ĐD tại các khoa ít áp lực hơn Trong nghiên cứu hiện tại, 2/3 ĐD đến từ các Khoa chăm sóc tích cực, nơi có áp lực cao và số lượng bệnh nhân đông, dẫn đến việc rửa tay không được đảm bảo Mặc dù đây là môi trường cần đảm bảo vô khuẩn, lãnh đạo bệnh viện cần tiếp tục hỗ trợ và trang bị đầy đủ cho các đơn vị hồi sức Kết quả cho thấy cần tăng cường giám sát để nâng cao tỷ lệ rửa tay và sử dụng sát khuẩn tay nhanh, nhằm đảm bảo an toàn trong cung cấp dịch vụ tại các khoa này.
4.2.2 Thực hành chăm sóc KLTMNV của ĐD
Tỷ lệ thực hành chuẩn bị dụng cụ của các ĐD đạt trên 93%, tuy nhiên, việc chuẩn bị hộp chống sốc, thùng đựng chất thải và gạc vô khuẩn chỉ đạt khoảng 85% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như nghiên cứu tại BV Nhi Trung Ương năm 2014 với tỷ lệ đạt 100%, nhưng cao hơn so với nghiên cứu năm 2010 tại 13 BV, nơi tỷ lệ khay sạch chỉ đạt 57,2% Điều này cho thấy ĐD đã có ý thức tốt trong việc chuẩn bị dụng cụ, nhưng vẫn cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuẩn bị đầy đủ.
Để đạt được tỷ lệ tối ưu trong công tác chăm sóc, các điều dưỡng cần kiểm tra kỹ lưỡng dụng cụ trước khi thực hiện Nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu sót là do chủ quan trong việc kiểm tra dụng cụ đã chuẩn bị từ trước hoặc do số lượng bệnh nhân vượt quá dự kiến Một số điều dưỡng cũng cho rằng khay và dung dịch sát trùng chưa được cung cấp kịp thời Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rà soát đầy đủ và kịp thời dụng cụ trước khi tiến hành đặt hoặc chăm sóc khách hàng.
Tỷ lệ chăm sóc KLTMNV đúng đạt 68,4%, với Khoa Nội tổng hợp dẫn đầu ở mức 79,6%, trong khi Khoa Cấp cứu và Khoa Hồi sức tích cực chỉ đạt 66,7% và 58% Một số bước thực hiện chưa đạt yêu cầu, như kiểm tra băng dính cố định kim luồn (59,9%) và sát khuẩn đầu nút kim (57,9%) Điểm tuân thủ quy trình chăm sóc KLTMNV trung bình là 12,3, thấp hơn so với điểm trung bình 15,5 tại BV Nhi Trung Ương năm 2014.
Việc tuân thủ quy trình chăm sóc kim luồn tĩnh mạch (KLTMNV) vẫn gặp nhiều hạn chế do một số điều dưỡng (ĐD) thực hiện không đúng hoặc bỏ qua các bước cần thiết Kết quả này tương tự như các nghiên cứu trước đây về tuân thủ quy trình KLTMNV và truyền dịch (TAT) của ĐD Trong thời gian 72 giờ để sử dụng kim luồn cho việc truyền dịch và thuốc, ĐD thường tiêm thuốc cho một bệnh nhân từ 1-3 lần mỗi ngày, dẫn đến việc cần thực hiện chăm sóc KLTMNV tối thiểu từ 3-9 lần trong 3 ngày Việc thực hành quy trình chăm sóc KLTMNV nhiều hơn giúp ĐD ghi nhớ rõ hơn so với quy trình đặt KLTMNV, từ đó nâng cao điểm thực hành quy trình chăm sóc.
Y ẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VIỆC TUÂN THỦ QUI TRÌNH ĐẶT VÀ CHĂM SÓC
4.3.1 Yếu tố thuộc về cá nhân điều dưỡng
Kết quả phân tích đơn biến cho thấy không có mối liên quan thống kê có ý nghĩa giữa nhân khẩu học và sự tuân thủ quy trình đặt KLTMNV Cụ thể, nữ điều dưỡng có tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với nam điều dưỡng với tỷ lệ odds là 2,4 (95% CI: 1,2-5,1; p7) Ngoài ra, điều dưỡng làm việc tại Khoa Nội tổng hợp cũng có tỷ lệ tuân thủ cao hơn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy HUPH ĐD của khoa Hồi sức tích cực và Cấp cứu có OR=4,4; 95% CI: 1,9-10,3; p1) Đối với sự tuân thủ quy trình chăm sóc KLTMNV, không phát hiện mối liên quan với bất kỳ yếu tố cá nhân nào Những kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại BV Nhi Trung Ương năm 2014 và nghiên cứu về TAT tại BVĐK.
Năm 2012, Hà Đông đã chỉ ra mối liên quan giữa nhóm tuổi và thâm niên công tác với thực hành về TAT của ĐD Các nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố nhân khẩu học trong việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu.
Sự khác biệt trong việc chưa xác định được nhiều mối liên quan cá nhân có thể xuất phát từ cỡ mẫu nhỏ của nghiên cứu, chỉ với 152 mẫu, dẫn đến kết quả quan sát chưa đủ mạnh để phát hiện các mối liên quan có ý nghĩa.
Nghiên cứu cho thấy thực hành TAT đúng cao hơn ở nhóm điều dưỡng (ĐD) dưới 30 tuổi và có thâm niên công tác dưới 10 năm, nhờ vào việc được tập huấn Một nghiên cứu tại BVĐK Hà Đông năm 2012 cho thấy ĐD trẻ có kiến thức và thực hành đúng cao hơn so với ĐD lớn tuổi, điều này có thể do chương trình can thiệp TAT của Hội ĐD Việt Nam được triển khai gần thời điểm nghiên cứu ĐD trẻ thường được đào tạo bài bản từ các trường chuyên nghiệp và có thêm kiến thức, kỹ năng qua các khóa tập huấn, giúp họ thực hành tốt hơn Ngược lại, ĐD lớn tuổi có thể gặp khó khăn trong việc thay đổi thói quen và quan điểm, đặc biệt khi làm việc trong điều kiện quá tải và ít thời gian cho việc học tập.
Ngành điều dưỡng (ĐD) đòi hỏi sự tỉ mỉ và cẩn thận, đặc biệt trong các đơn vị hồi sức, nơi mà người ĐD phải chăm sóc bệnh nhân từ sinh hoạt đến điều trị Công việc thường bao gồm những nhiệm vụ nhỏ nhặt nhưng quan trọng, trong khi tình trạng quá tải và áp lực từ gia đình bệnh nhân tạo ra stress cho nhân viên Theo Hiệp hội Lao động Hoa Kỳ, nghề ĐD là một trong những nghề dễ gây stress nhất do yếu tố mạo hiểm liên quan đến tính mạng con người Tại Việt Nam, áp lực công việc lớn dẫn đến tỷ lệ nhân viên y tế bị stress rất cao, theo khảo sát của Viện Y.
Tại HUPH, nghiên cứu về lao động và vệ sinh môi trường trong khoa hồi sức cấp cứu cho thấy gần 23% nhân viên có mức độ stress cao, 42% ở mức trung bình, và hơn 20% thường xuyên gặp phải các triệu chứng như nhức đầu, lo âu, căng thẳng tinh thần, cùng với giấc ngủ bất thường Nghiên cứu tại trường Y Cần Thơ cũng chỉ ra sự khác biệt về tỷ lệ stress giữa các tuyến, với tỷ lệ cao nhất ở tuyến trung ương và thấp nhất ở tuyến huyện Những kết quả này phản ánh đúng thực tế công việc của điều dưỡng tại các khoa có đông bệnh nhân.
4.3.2 Yếu tố thuộc về bệnh viện
4.3.2.1 Quy định và qui trình
Nghiên cứu chỉ ra rằng BVĐK trung tâm An Giang đã triển khai các chính sách nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp người bệnh Những chính sách này bao gồm quy trình kiểm tra và giám sát dịch vụ, quy định về an toàn người bệnh, và các hoạt động hỗ trợ như thành lập hội đồng quản lý chất lượng, xây dựng quy trình chuyên môn kỹ thuật, và tổ chức đào tạo, tập huấn Những yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện thực hành của nhân viên y tế.
BV Tương tự nghiên cứu của chúng tôi, việc cải thiện qui trình ĐD trong chăm sóc
NB đã trở thành ưu tiên hàng đầu của các cơ sở y tế nhằm nâng cao mức độ hài lòng của bệnh nhân Nghiên cứu cho thấy môi trường hỗ trợ bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ quy trình của nhân viên y tế, bao gồm cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo và năng lực của nhân viên y tế, cũng như hiệu quả của hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ Đối với quy trình và quy định lâm sàng, tính cập nhật và khả năng áp dụng thực tế là rất cần thiết Việc triển khai các quy trình này cần được thông báo đến toàn bộ cán bộ y tế thông qua các cuộc họp định kỳ, tập huấn thường xuyên và giám sát liên tục.
(62) Đáng tiếc là, giống như nghiên cứu của chúng tôi,
Các quy định về khám chữa bệnh ở Việt Nam đã được Bộ Y tế ban hành và cập nhật thường xuyên, nhưng nhiều quy trình tại các bệnh viện vẫn mang tính hình thức và hạn chế trong giám sát Tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang, việc triển khai các chính sách nhằm nâng cao chất lượng quy trình lâm sàng còn nhiều bất cập Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy hơn 50.000 trường hợp tử vong hàng năm do sai sót y khoa liên quan đến việc không thực hiện đúng quy trình lâm sàng Người quản lý cần chú trọng đến các chính sách khắc phục lỗi hệ thống Tuy nhiên, nhiều quy trình và quy định tại bệnh viện vẫn chưa được cập nhật, thiếu rõ ràng và đồng bộ, từ việc mua sắm trang thiết bị đến đảm bảo vô trùng Các quy trình liên quan đến xử lý bông băng, gạc và báo cáo cũng còn nhiều hạn chế và chỉ được thực hiện trên giấy tờ.
Nhân lực là yếu tố then chốt trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, với mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ sai sót và số lượng nhân lực Thiếu nhân lực dẫn đến áp lực công việc, làm giảm tuân thủ quy trình và gia tăng sai sót y khoa Nhân lực y tế không chỉ là thành phần quan trọng của hệ thống y tế mà còn quyết định hiệu quả và chất lượng dịch vụ Mặc dù bệnh viện đã có nhiều chính sách thu hút nhân lực trình độ cao, nhưng tại Bệnh viện ĐK trung tâm An Giang vẫn còn thiếu hụt trong bối cảnh bệnh nhân ngày càng đông Ba thách thức chính trong việc đảm bảo chất lượng chăm sóc của điều dưỡng tại Việt Nam bao gồm: nhận thức chưa đầy đủ của nhân viên y tế về quy trình chăm sóc, số lượng điều dưỡng không đủ, đặc biệt ở các chuyên khoa có nhiều bệnh nhân và áp lực công việc lớn như hồi sức cấp cứu.
HUPH chưa đáp ứng đủ thời gian cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ y tế Hiện nay, các bệnh viện hạng I đang phải đối mặt với tình trạng gia tăng số lượng bệnh nhân đến khám tại các bệnh viện lớn Thêm vào đó, việc thiếu nhân lực cho công tác giám sát và đảm bảo chất lượng, cùng với việc nhân viên chưa được đào tạo đầy đủ, đã gây khó khăn trong việc quản lý các vấn đề phát sinh khi điều dưỡng thực hành không đúng cách.
Nghiên cứu cho thấy việc tuân thủ quy trình của điều dưỡng (ĐD) gặp nhiều khó khăn do yêu cầu thực hiện nhiều bước nhỏ và chi tiết trong y lệnh chăm sóc người bệnh (CSNB) Mỗi ĐD có cách nhớ và thực hiện quy trình khác nhau, dẫn đến khả năng quên bước này hoặc bước kia Do đó, sự hỗ trợ thường xuyên giữa các ĐD là cần thiết để đảm bảo quy trình CSNB được thực hiện đầy đủ và chính xác Sự giúp đỡ lẫn nhau không chỉ thể hiện tinh thần đoàn kết trong công việc mà còn nâng cao hiệu quả làm việc nhóm, giúp các thành viên tương tác và hỗ trợ nhau đạt được kết quả tốt nhất.
4.3.2.3 Đào tạo và tập huấn
Việc đào tạo nhân viên y tế, đặc biệt là bác sĩ và điều dưỡng chất lượng, đòi hỏi thời gian dài, giám sát chặt chẽ và chi phí cao Đặc biệt, điều dưỡng tại các Khoa cấp cứu và Hồi sức tích cực gặp nhiều khó khăn do cần thời gian dài kèm cặp từ nhân viên y tế có kinh nghiệm Thời gian đào tạo và thực hành liên quan đến đặc thù kỹ thuật và yêu cầu dịch vụ, đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu điều dưỡng chất lượng cao tại Bệnh viện ĐK trung tâm An Giang và trên toàn quốc Do đó, cần xây dựng chiến lược tổng thể và chính sách nâng cao năng lực, đặc biệt là đào tạo liên tục.
HUPH tạo lại để có thể nâng cao trình độ chuyên môn cho cho ĐD đại học và sau đại học tại các BV
4.3.2.4 Cơ sở vật chất - trang thiết bị
Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa cơ sở vật chất và tuân thủ quy trình tại các đơn vị y tế Cơ sở vật chất và trang thiết bị ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động khám chữa bệnh và cung cấp dịch vụ của nhân viên y tế Tại Bệnh viện ĐK trung tâm An Giang, nhiều khoa có cơ sở hạ tầng cũ kỹ do sử dụng lâu năm, cùng với việc bố trí không hợp lý gây khó khăn trong việc vận chuyển bệnh nhân Các nghiên cứu khác cũng khẳng định rằng cơ sở vật chất khang trang, sạch sẽ và trang thiết bị hiện đại là yếu tố mấu chốt trong việc cung cấp dịch vụ y tế hiệu quả.
4.3.2.5 Kiểm tra và giám sát