Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng – sửa chữa thiết bị chẩn đoán hình ảnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa tr
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt, trang bị kiến thức và tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới
TS Lê Ngọc Của và ThS Dương Kim Tuấn - người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, cán bộ, nhân viên, cùng các Khoa/Phòng trong Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập phân tích số liệu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp và bạn bè - những người đã luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2022
Học viên
Nguyễn Quang Trình
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG……….……… v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU……… vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1.Trang thiết bị y tế 5
1.1.1 Khái niệm về trang thiết bị y tế 5
1.1.2 Phân loại các TTBYT 5
1.1.3 Danh mục TTBYT cho bệnh viện 5
1.2 Quản lý Trang thiết bị y tế 6
1.2.1 Quản lý sử dụng TTBYT 7
1.2.2 Quản lý bảo dưỡng – sửa chữa TTBYT 8
1.3 Thực trạng quản lý TTBYT ở các nước trên thế giới 10
1.4 Thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng - sửa chữa TTBYT tại Việt Nam… 12
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng - sửa chữa TTBYT tại các cơ sở y tế 15
1.5.1 Yếu tố chính sách 15
1.5.2 Yếu tố nhân lực 16
1.5.3 Yếu tố cơ sở hạ tầng và tài chính 17
1.6 Giới thiệu về Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang 18
1.7 Khung lý thuyết 20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Thiết kế nghiên cứu 22
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 22
2.4.1 Phương pháp định lượng 22
HUPH
Trang 52.4.2 Phương pháp định tính 22
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 23
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 23
2.5.2 Thu thập số liệu định lượng 23
2.5.3 Thu thập số liệu định tính: 25
2.6 Các biến số trong nghiên cứu 26
2.7 Tiêu Tiêu chuẩn đánh giá 27
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 28
2.9 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 28
2.10 Đạo đức nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thực trạng công tác quản lý TBCĐHA 31
3.1.1 Thông tin về TBCĐHA 31
3.1.2 Quản lý TBCĐHA qua công tác sử dụng, bảo quản 34
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng – sửa chữa TBCĐHA tại BVĐKTTAG năm 2021 46
3.2.1 Yếu tố chính sách 46
3.2.2 Yếu tố Nhân lực 48
3.2.3 Yếu tố cơ sở hạ tầng và tài chính 52
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 55
4.1 Thực trạng công tác quản lý sử dụng, bảo dưỡng – sửa chữa TBCĐHA tại BVĐKTTAG 55
4.1.1 Quản lý TBCĐHA qua công tác sử dụng, bảo quản 55
4.1.2 Quản lý TBCĐHA qua công tác kiểm định, kiểm chuẩn và bảo dưỡng - sửa chữa 58
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng, bảo dưỡng - sửa chữa TBCĐHA 62
4.2.1 Yếu tố Chính sách 62
4.2.2 Yếu tố nhân lực 63
4.2.3 Yếu tố cơ sở hạ tầng và tài chính 66
HUPH
Trang 64.3 Hạn chế của nghiên cứu 68
KẾT LUẬN 70
KHUYẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 76
Phụ lục 01: Các biến số trong nghiên cứu 76
Phụ lục 02: Bảng thông tin thực trạng TBCĐHA tại các khoa 82
Phụ lục 03: Phiếu khảo sát ý kiến của NVYT 88
Phụ lục 03: Đáp án các câu hỏi kiến thức quản lý sử dụng, bảo dưỡng – sửa chữa TTBYT 93
Phụ lục 04: Phỏng vấn sâu dành cho Lãnh đạo bệnh viện 94
Phụ lục 05: Phỏng vấn sâu dành cho cán bộ Lãnh đạo khoa, phòng 97
Phụ lục 06: Phỏng vấn sâu dành cho viên trực tiếp sử dụng TTBYT tại khoa… 99
Phụ lục 07: Phỏng vấn sâu dành cho nhân viên tại Phòng VTTBYT 101
Phụ lục 08: Bảng phân loại TTBYT 103
Phụ lục 09 : Công suất sử dụng máy quy định tại Thông tư số: 39/2018/TT-BYT(20) và Thông tư số: 08/2019/TT-BYT(10) 106
HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG
Bảng 3.1: Thông tin chung về TBCĐHA chuyên dùng đặc thù tại 03 khoa lâm
sàng và cận lâm sàng 31
Bảng 3.2: Nguồn gốc và hiện trạng hoạt động của TBCĐHA 33
Bảng 3.3: Tỷ lệ TBCĐHA đạt yêu cầu về việc ghi chép sổ sách 34
Bảng 3.4: Phân công nhân sự quản lý, bảo quản và sử dụng TBCĐHA 35
Bảng 3.5: Tỷ lệ TBCĐHA đạt yêu cầu về điều kiện lắp đặt theo hướng dẫn của nhà sản xuất 36
Bảng 3.6: Tỷ lệ TBCĐHA đạt yêu cầu về điều kiện sử dụng và bảo quản thiết bị theo hướng dẫn của nhà sản xuất 37
Bảng 3.7: Tỷ lệ TBCĐHA đạt yêu về quy trình sử dụng và có đủ tài liệu hướng dẫn sử dụng 38
Bảng 3.8: Tỷ lệ TBCĐHA có thể điều chuyển và được thay thế trong quá trình sử dụng 30
Bảng 3.9: Công suất sử dụng TBCĐHA 40
Bảng 3.10: Tỷ lệ TBCĐHA được kiểm định, kiểm chuẩn 42
Bảng 3.11: Bảo dưỡng TBCĐHA 43
Bảng 3.12: Sửa chữa TBCĐHA 44
Bảng 3.13: Ghi chép bảo dưỡng, phụ tùng thay thế TBCĐHA 45
Bảng 3.14: Thông tin thông về đối tượng nghiên cứu và kiến thức sử dụng TBCĐHA 50
Bảng 3.15: Kinh phí cho công tác bảo dưỡng – sửa chữa và kiểm định TBCĐHA 56
HUPH
Trang 8Bộ Y tế Bệnh viện Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang Chẩn đoán hình ảnh
Đối tượng nghiên cứu Khám chữa bệnh Kiểm soát nhiễm khuẩn Nguồn nhân lực
Nhân viên y tế Nhóm nghiên cứu Thăm dò chức năng Thiết bị chẩn đoán hình ảnh Thiết bị y tế
Tiêu hóa-huyết học Trang thiết bị Trang thiết bị y tế Vật tư thiết bị Y tế World Health Organization
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Muốn nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cần phải có đồng bộ ba yếu tố: Đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng giỏi, tận tình; đầy đủ thuốc chữa bệnh; trang thiết bị y
tế đầy đủ an toàn và hạ tầng cơ sở tốt (1)
Công tác quản lý sử dụng, bảo dưỡng – sửa chữa thiết bị có ý nghĩa hết quan trọng trong việc quản lý trang thiết bị y tế Đây là những hoạt động nhằm khai thác tối đa tiềm năng của các hệ thống trang thiết bị y tế trong các cơ sở y tế Các trang thiết bị y tế cần được bảo dưỡng - sửa chữa, hiệu chuẩn và kiểm định theo định kỳ
để đảm bảo trang thiết bị y tế luôn ở trạng thái an toàn cao nhất cho cả bệnh nhân
và nhân viên y tế vận hành, sử dụng trang thiết bị y tế Xuất phát từ vấn đề trên,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng – sửa chữa thiết bị chẩn đoán hình ảnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang năm 2021”
Với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, nghiên cứu định lượng và kết hợp định tính được thực hiện từ tháng 12/2020 đến tháng 12/2021 Đối tượng nghiên cứu định lượng gồm 24 thiết bị chẩn đoán hình ảnh của các khoa và số liệu thứ cấp có liên quan Bên cạnh đó, nghiên cứu khảo sát thêm 47 nhân viên y tế trực tiếp quản lý, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng- sửa chữa thiết bị chẩn đoán hình ảnh tại 04 khoa/phòng với phiếu thu thập thông tin và bộ câu hỏi trắc nghiệm về kiến thức về lĩnh vực trang thiết bị y tế Nghiên cứu định tính, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa phòng và một số nhân viên y tế về các vấn đề có liên quan đến việc quản lý thiết bị chẩn đoán hình ảnh
Kết quả nghiên cứu cho thấy các thiết bị đa số có thời gian sử dụng dưới 05 năm chiếm tỷ lệ 71%, một số thiết còn lại là các thiết bị trên 05 năm chiếm 29% Công suất sử dụng của thiết bị chẩn đoán hình ảnh: sử dụng vượt công suất là 33%,
sử dụng đúng công suất là 50%, ít sử dụng là 17% Có 46% thiết bị phải sửa chữa trong năm Thiết bị chẩn đoán hình ảnh được kiểm chuẩn và kiểm định đạt tỷ lệ
HUPH
Trang 1046%, chỉ có 79% thiết bị chẩn đoán hình ảnh là có vật tư phụ kiện, vật tư thay thế kịp thời Về an toàn trong quá trình sử dụng và bảo quản thiết bị chẩn đoán hình ảnh đạt yêu cầu là 79%
Nghiên cứu cũng phân tích một số yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sử dụng thiết bị chẩn đoán hình ảnh tại bệnh viện Yếu tố chính sách với những thuận lợi là việc ghi chép sổ lý lịch, sổ dõi sử dụng và sổ bàn giao, sổ ghi bảo dưỡng – sửa chữa trang thiết bị y tế rất đầy đủ, việc tuân thủ quy trình sử dụng trang thiết y tế đạt mức cao Yếu tố nhân lực với những hạn chế về chất lượng đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực chuyên sâu về kỹ thuật thiết bị y tế chưa cao, còn phụ thuộc sửa chữa bên ngoài nhiều với thời gian chờ đợi sửa chữa trung bình còn dài Về yếu tố cơ sở
hạ tầng và tài chính có những thuận lợi cơ bản là cơ sở hạ tầng lắp đặt thiết bị và điều kiện lắp đặt thiết bị đạt yêu cầu, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề nhất là kinh phí để để thực hiện kiểm chuẩn, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị chẩn đoán hình ảnh chưa đạt Từ đó Bệnh viện cần phải bổ sung kinh phí hoạt động bảo dưỡng – sửa chữa, kiểm định, kiểm chuẩn và thay thế linh kiện cho thiết bị y tế phù hợp Tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật về trang thiết bị
HUPH
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Y học hiện đại chẩn đoán bệnh dựa vào các triệu chứng lâm sàng (chẩn đoán lâm sàng) và các triệu chứng cận lâm sàng (chẩn đoán cận lâm sàng) Trong chẩn đoán cận lâm sàng thì chẩn đoán dựa trên hình ảnh thu được từ các thiết bị, máy y tế (chẩn đoán hình ảnh) ngày càng chiếm một vai trò quan trọng, nhất là ngày nay với
sự trợ giúp của các thiết bị, máy y tế hiện đại, công nghệ cao có các phần mềm tin học hỗ trợ khiến cho hình ánh rõ nét và chính xác hơn
Hiện nay, Trang thiết bị y tế (TTBYT) của nước ta nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và tụt hậu so với các nước khác trong khu vực Hầu hết các TTBYT đang được sử dụng trong các cơ sở y tế chưa được kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ, sửa chữa kịp thời, không đủ chi phí để đầu tư đổi mới, nhiều nơi không đủ chi phí để mua phụ kiện, vật tư tiêu hao theo máy Năng lực của đội ngũ nhân viên y tế (NVYT) chưa đủ trình độ để khai thác hết công suất của TTBYT hiện có Trình độ của cán bộ kỹ thuật TTBYT chưa theo kịp đổi mới sự phát triển của kỹ thuật công nghệ Chất lượng đào tạo và bố trí nhân lực chuyên ngành TTBYT còn thấp so với yêu cầu (2)
Sử dụng hiệu quả các TTBYT sẽ góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh (KCB) tại bệnh viện, nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế, từ đó thu hút người bệnh đến khám chữa bệnh, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên, bên cạnh đó, người dân cũng được hưởng các dịch vụ kỹ thuật cao ngay tại tuyến
y tế cơ sở, giảm bớt phần nào chi phí đi lại không cần thiết (3)
Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Việt Hùng năm 2010 cho thấy một số TTBYT ở một số bệnh viện còn sử dụng hạn chế do Trình độ chuyên môn, còn tỷ lệ nhất định TTBYT thiếu kinh phí bảo dưỡng – sửa chữa(4) Theo Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh cho thấy Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, Nam Định, Phú Thọ kinh phí còn thấp không đủ để thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ các TTBYT(5) Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang là một bệnh viện hạng I, được thành lập vào năm 1907, Hiện nay có quy mô 950 giường (giường thực kê là 1.166), cao 10
HUPH
Trang 12tầng, diện tích sàn xây dựng gần 13.000m2 tọa lạc trên mặt bằng rộng 4,6 ha, hiện có
38 khoa/phòng với đầy đủ TTBYT tiên tiến, triển khai công nghệ thông tin vào việc quản lý KCB Là bệnh viện tuyến cuối cùng, cao nhất về chuyên môn khám và chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh An Giang và các vùng lân cận Mặt khác, tỉnh An Giang
có chung biên giới với nước bạn Campuchia nên nhân dân nước bạn cũng hay sang khám và chữa bệnh tại đây (6)
Quản lý sử dụng TTBYT là hoạt động nhằm khai thác tối đa tiềm năng của các
hệ thống TTBYT trong các cơ sở y tế Quản lý bảo dưỡng TTBYT là hoạt động biện pháp kỹ thuật để duy trì tính năng kỹ thuật của TTBYT đảm bảo độ tin cậy, độ bền
và khả năng sẵn sàng hoạt động khi cần sử dụng Quản lý sửa chữa TTBYT là quá trình phục hồi chức năng làm việc của TTBYT bằng cách loại trừ các hư hỏng và kéo dài tuổi thọ của chúng
Quản lý và sử dụng TTBYT là một trong những nhiệm vụ quan trọng tại các bệnh viện Trong những năm qua với sự quan tâm của lãnh đạo, BVĐKTTAG được đầu tư tổng số tiền hơn 400 tỷ đồng để mua sắm thiết bị Bệnh viện đã chọn lựa mua sắm những TTBYT cơ bản, thật sự cần thiết để triển khai hoạt động khám và điều trị bệnh cho nhân dân Một số trang thiết bị còn lại, bệnh viện đầu tư mua sắm ở giai đoạn tiếp theo Hiện nay còn tồn tại một số bất cập đối với việc sử dụng và duy trì khối tài sản này như: có nhu cầu nhưng chưa có nguồn nhân lực hay do chồng chéo của nhiều chương trình, dự án…, nhân lực sử dụng TTBYT có trình độ hạn chế nhất định nên chưa khai thác hết công năng của TTBYT, sắp xếp vị trí thiết bị chưa phù hợp, thiết bị chưa sử dụng đồng bộ với danh mục kỹ thuật khám và điều trị, việc duy
tu bảo dưỡng chưa thật sự đáp ứng toàn diện nên dẫn đến một số TTBYT mau hõng hóc, giảm tuổi thọ,… Trong năm 2020, Bệnh viện đã chi gần 1.5 tỷ đồng để bảo dưỡng, kiểm định và sửa chữa TTBYT, chiếm 4.31% ngân sách cấp cho BV (38.4 tỉ đồng)(7) Thực tế cho thấy tỷ lệ TTBYT chưa phát huy hết công suất chiếm 5,3% trên tổng số lượng hiện có, cán bộ phụ trách TTBYT được đào tạo tương đối chuyên nghiệp là 25%, TTBYT hư hỏng chiếm tỷ lệ 8,9% số lượng hiện có,… Câu hỏi được đặt ra là “tình trạng hiện nay quản lý sử dụng, bảo dưỡng – sửa chữa trang thiết bị y
HUPH
Trang 13tế tại BV như thế nào?” và “yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng – sửa chữa trang thiết bị y tế tại BV” Chính vì những vấn đề cấp thiết nêu trên, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng – sửa chữa thiết
bị chẩn đoán hình ảnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang năm 2021”
HUPH
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng– sửa chữa thiết bị chẩn đoán hình ảnh tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang năm 2021
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng – sửa chữa thiết bị chẩn đoán hình ảnh tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang năm 2021
HUPH
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Trang thiết bị y tế
1.1.1 Khái niệm về trang thiết bị y tế
- Theo Nghị định số: 98/2021/NĐ-CP ngày 08/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ (8): “TTBYT là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) được sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu trang thiết bị y tế để phục vụ cho con người nhằm một hoặc nhiều mục đích sau đây:
+ Chẩn đoán, ngăn ngừa, theo dõi, điều trị và làm giảm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắp tổn thương, chấn thương;
+ Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ giải phẫu và quá trình sinh lý; + Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống;
+ Kiểm soát sự thụ thai;
+ Khử khuẩn trang thiết bị y tế;
+ Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người”
1.1.2 Phân loại các TTBYT
- Theo Trang thông tin điện tử do Bộ y tế quản lý, TTBYT được phân thành 16 nhóm (Phụ lục 9)(9):
- Theo Nghị định số 98/2021/NĐ-CP ngày 08/11/2021 của Chính phủ về việc quản
lý trang thiết bị y tế (8): “Trang thiết bị y tế được phân làm 04 loại dựa trên mức
độ rủi ro tiềm ẩn liên quan đến thiết kế kỹ thuật và sản xuất các trang thiết bị y tế đó:
+ Trang thiết bị y tế thuộc loại A là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro thấp + Trang thiết bị y tế thuộc loại B là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro trung bình thấp
+ Trang thiết bị y tế thuộc loại C là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro trung bình cao
- Trang thiết bị y tế thuộc loại D là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro cao
1.1.3 Danh mục TTBYT cho bệnh viện
HUPH
Trang 16- Hiện nay, căn cứ vào“phạm vi hoạt động chuyên môn, số lượng giường bệnh thực tế sử dụng tại đơn vị đó, điều kiện cơ sở vật chất để lắp đặt và nhân lực để khai thác, sử dụng máy móc, thiết bị, Bộ Y tế ban hành Thông tư 08/2019/TT-BYT (10) Thông tư này hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động sự nghiệp y tế thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Y tế” Máy móc, thiết bị chuyên dùng thuộc lĩnh vực y tế (sau đây gọi tắt là TTBYT chuyên dùng) bao gồm: TTBYT chuyên dùng đặc thù và TTBYT chuyên dùng khác
1.2 Quản lý Trang thiết bị y tế
Khái niệm quản lý quản lý TTBYT: “Là những hoạt động có hệ thống và có tổ chức nhằm đảm bảo tính ổn định bền vững, duy trì sự hoạt động tối ưu; phát triển, khai thác và sử dụng có hiệu quả TTBYT”
Hình 1.2 Sơ đồ quản lý TTBYT theo vòng đời của sản phẩm
Phòng sửa
chữa
Phòng cung cấp
Phòng sửa chữa
Thay thế bộ phận hư hỏng, hết hạn sử dụng
Bác sĩ, Nhân viên y tế, Phòng kế hoạch, đầu tư Phòng chuyên
môn Phòng cung cấp Phòng sửa chữa Bảo dưỡng
Phân tích nhu cầu phòng ngừa
và sửa chữa
Nghiên cứu tính khả thi về kỹ thuật, tài chính Quản lý
trang thiết bị
y tế hiệu quả
Sử dụng, bảo dưỡng và vệ sinh…
Quyết định mua sắm
Người sử dụng
Đào tạo cho người sử dụng, kỹ thuật viên
Cài đặt, thử nghiệm chức năng
Người sử dụng Phòng sửa chữa Nhà cung cấp
Người sử dụng Phòng cung cấp Phòng sửa chữa
Phòng chuyên môn
Phòng cung cấp Phòng sửa chữa
HUPH
Trang 17- Theo các chuyên gia về TTBYT, quá trình quản lý TTBYT gồm các bước sau:
+ Quản lý đầu tư mua sắm TTBYT: Lập kế hoạch mua sắm, phải xác định được
các căn cứ nhu cầu hiện tại và phát triển sau này của cơ sở y tế cũng như cân đối các nguồn vốn hiện có, các thủ tục và phương pháp lập kế hoạch mua sắm và lên
kế hoạch mua sắm TTBYT hàng năm cho cơ sở y tế (Xây dựng định mức ngắn hạn, trung hạn theo thông tư số: 08/2019/TT-BYT ) (10);
+ Quản lý sử dụng TTBYT: Công tác quản lý quá trình sử dụng TTBYT có ý
nghĩa hết quan trọng trong công tác quản lý TTBYT Đây là hoạt động nhằm khai thác tối đa tiềm năng của các hệ thống TTBYT trong các cơ sở y tế;
+ Quản lý thực trạng TTBYT: Các TTBYT trong danh mục cần kiểm định, hiệu
chuẩn được thực hiện thật nghiêm ngặt sau khi được lắp đặt hoàn thành và hiệu chuẩn, kiểm định theo định kỳ Đảm bảo TTBYT luôn ở trạng thái an toàn cao nhất cho cả bệnh nhân và NVYT vận hành, sử dụng thiết bị;
+ Quản lý Bảo dưỡng - sửa chữa TTBYT: Có kế hoạch dự trù ngân sách cho
công tác sửa chữa, bảo dưỡng TTBYT hàng năm, đảm bảo kiểm soát mọi vấn đề
và dự phòng được các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình vận hành TTBYT;
1.2.1 Quản lý sử dụng TTBYT
Muốn sử dụng tối tối ưu năng suất TTBYT, Bệnh viện cần phải:
- Xác định mô hình bệnh tật, nhu cầu KCB và tần suất sử dụng TTBYT
- Chuẩn bị tốt cơ sở vật chất để lắp đặt, vận hành sử dụng thiết bị
- Đào tạo tốt nguồn nhân lực trực tiếp vận hành TTBYT
- Bảo đảm chi thường xuyên về kinh phí hoạt động, đầy đủ vật tư y tế tiêu hao, phụ tùng thay thế kịp thời
- Có bộ phận kỹ thuật có trình độ thực hiện công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT
- Vấn đề quản lý là hết sức quan trọng và phải được quán triệt trong các cơ sở y tế Nguyên tắc quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế được quy định tại Điều 63 Nghị định 98/2021/NĐ-CP (8) về quản lý trang thiết bị y tế như sau:
HUPH
Trang 18+“Việc quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế phải theo đúng mục đích, công năng, chế độ, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả
+ Việc kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm định, hiệu chuẩn phải tuân thủ quy định của nhà sản xuất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về kiểm định, hiệu chuẩn
+ Đối với các TTBYT có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động thì ngoài việc phải tuân thủ các quy định về kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm định, hiệu chuẩn theo quy định tại Nghị định này còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động
+ Phải lập, quản lý, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về TTBYT; thực hiện hạch toán kịp thời, đầy đủ TTBYT về hiện vật và giá trị theo quy định hiện hành của pháp luật về kế toán, thống kê và các quy định pháp luật khác có liên quan; bảo đảm kinh phí thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Khoản 2 Điều này
+ Chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý có thẩm quyền về quản lý TTBYT.”
- Các cơ sở y tế của Nhà nước ngoài việc thực hiện quản lý, sử dụng TTBYT theo quy định tại Điều 63 Nghị định 98/2021/NĐ-CP(8), phải thực hiện quản lý TTBYT theo các quy định sau:
+ Việc đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế để thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý sử dụng tài sản công
+ Khuyến khích sử dụng các trang thiết bị y tế sản xuất trong nước
1.2.2 Quản lý bảo dưỡng – sửa chữa TTBYT
- Hiện nay, đa số các bệnh viện hiện nay có 02 hình thức bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT:
+ Bảo dưỡng- sửa chữa tại phòng VTTBYT: định kỳ hàng quý, tổ bảo dưỡng -sửa chữa TTBYT đến các Khoa có sử dụng TTBYT để kiểm tra và ghi sổ lý lịch máy Các máy hư hỏng (chưa gửi về phòng VTTBYT sửa chữa) thì yêu cầu
HUPH
Trang 19khoa làm “Giấy đề nghị sửa chữa”, các máy không hư hỏng thì ghi lý lịch:
“Máy hoạt động” hoặc “Máy hoạt động bình thường” Đây được xem là bảo
dưỡng hình thức, không đáp ứng yêu cầu cơ bản của bảo dưỡng TBYT là bảo
dưỡng phòng ngừa Chưa thực hiện đủ theo hướng dẫn tại điều 63- Nghị định
98/2021/NĐ-CP(8)
+ Hợp đồng bảo dưỡng - sửa chữa với các công ty: Trong kế hoạch hoạt động hàng năm của phòng VT-TTBYT có xây dựng có kế hoạch bảo dưỡng, trong đó các thiết bị có giá trị lớn, tần suất hoạt động cao được đề xuất ký hợp đồng bảo dưỡng với các công ty/ hãng cung cấp thiết bị Không ít các bệnh viện hợp đồng bảo dưỡng - sửa chữa với các công ty chưa thực hiện đầy đủ các yêu cầu tại điều 65- Nghị định 98/2021/NĐ-CP (8)
- Xu hướng quản lý bảo dưỡng – sửa chữa chữa TTBYT ngày nay:
Bảng 1.4: Xu hướng quản lý, bảo dưỡng – sửa chữa TTBYT
Các TTBYT công nghệ cao, giá trị lớn
(MRI, CT-scanner, Spect, Angio…)
Các TTBYT phục vụ điều trị và chẩn đoán:
(Máy Xquang, giúp thở, siêu âm, máy theo dõi
bệnh nhân, hệ thống xét nghiệm tự động…)
Các TTBYT cơ bản tại khoa
(Máy ly tâm, hút dịch, bơm tiêm/truyền…)
Trang 20Nhóm Đặc điểm Phương án đề xuất
Nhóm I
- Mức độ công nghệ rất cao, thế hệ mới
- Giá trị rất lớn, số lượng ít
- Điều khiển bằng phần mềm, bản quyền chính hãng…
- Ký Hợp đồng với Hãng/Nhà cung cấp dịch vụ bảo dưỡng
và sửa chữa sau bảo hành
- Phối hợp với hãng để sửa chữa khi có sự cố
- Phối hợp với hãng và các đơn
vị sửa chữa lớn, có uy tín, kinh nghiệm để sửa chữa, bảo dưỡng
Nhóm III
- TTBYT cơ bản phục vụ trong bệnh viện
- Ứng dụng công nghệ, kỹ thuật cơ bản
- Số lượng nhiều, trị giá không cao…
- Phối hợp với nhà cung cấp/hãng và các đơn vị sửa chữa có uy tín, kinh nghiệm
để sửa chữa, bảo dưỡng khi cần
- Tổ chức công tác bảo dưỡng, sửa chữa đảm bảo hoạt động
1.3 Thực trạng quản lý TTBYT ở các nước trên thế giới
Theo một cuộc điều tra khảo sát năm 1994, WHO đã công bố ở một số nước phát triển khu vực Nam Mỹ như sau (11):
+ Số lượng TTBYT hỏng không sử dụng được khoảng 2 tỷ đô la Mỹ (chiếm 40% tổng giá trị)
HUPH
Trang 21+ Chi phí hàng năm cho việc bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa và kiểm định TTBYT khoảng 650 triệu tỷ đô la Mỹ (13% tổng giá trị)
Theo một khảo sát tại Bangladesh, phần lớn việc bảo dưỡng TTBYT của các
cơ sở y tế tại đây phụ thuộc từ nhà cung cấp hoặc các tổ chức cá nhân thực hiện Trong thời gian bảo hành, hầu hết các trường hợp nhà cung cấp chịu trách nhiệm bảo dưỡng sau đó chuyển sang các tổ chức cá nhân Một số trường hợp có hợp đồng bảo dưỡng với nhà cung cấp sau khi hết thời hạn bảo hành đối với các thiết bị chuyên dụng phức tạp và giá trị cao Chỉ có hai cơ quan cấp bộ mới có xưởng bảo dưỡng, sửa chữa riêng Trong quá trình khảo sát, sự sẵn có của hướng dẫn sử dụng, sổ tay
sử dụng, phụ tùng thay thế và hàng tiêu dùng đã được đăng ký có tỷ lệ thấp (12)
Nghiên cứu cũng đề cập đến việc thiếu kỹ năng của các kỹ sư làm việc tại các
tổ chức tư nhân, họ không có đủ kiến thức và kỹ năng sửa chữa TTBYT vì họ không phải là kỹ sư y sinh học được đào tạo đầy đủ, mà chủ yếu là các kỹ sư điện tử, cơ khí, điện lạnh hoặc công nghệ nói chung Giải pháp đề ra cho nhiều bệnh viện từ cấp huyện trở lên là nên có kỹ sư y sinh học của họ hiện diện trong bệnh viện(12)
Vấn đề xử lý yêu cầu bảo dưỡng tại đây rất quan liêu và mất thời gian Quá trình bảo dưỡng có thể mất tới 06 tháng Một vấn đề nữa là bệnh viện và các tổ chức
tư nhân không có phương pháp tài chính phù hợp, tất cả các hoạt động và phụ tùng cần thay thế phải được cấp trung ương phê duyệt, kết quả là quá trình bảo dưỡng mất nhiều thời gian và khó kiểm soát (12)
Tại Nepal các TTBYT đắt tiền không sử dụng được do thiếu kỹ năng xử lý và vận hành Thiết bị lỗi thời do tuổi thọ của thiết bị mà còn do sử dụng sai và kém hoặc không có bảo dưỡng phòng ngừa và khắc phục(13)
Nghiên cứu của Pradip Shahi Thakuri và Ramila Joshi về tình hình quản lý trang thiết bị y sinh trong bệnh viện của Nepal cho thấy: Bệnh viện không có một đội ngũ bảo dưỡng thích hợp hoặc sổ tay ghi chép đúng để đánh giá các chi phí lợi ích của các dịch vụ trong tổ chức Sửa chữa bảo dưỡng thường do dịch vụ bên ngoài đảm nhiệm do bệnh viện thiếu năng lực Ngay cả các sửa chữa nhỏ cũng phụ thuộc
HUPH
Trang 22đơn vị bên ngoài là nguyên nhân làm cho chi phí bệnh viện cao hơn mức cần thiết(13)
Qua đó, ta thấy vai trò quan trọng của công tác bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT trong việc vận hành hiệu quả và tối ưu các TTBYT nhằm phát huy hiệu quả tối đa của từng TTBYT
1.4 Thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng - sửa chữa TTBYT tại Việt Nam
Ngành y tế đầu tư nâng cấp TTBYT mới, hiện đại đối với các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện nằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện
Tập trung đầu tư TTBYT hiện đại đối với các khoa cận lâm sàng tại các bệnh viện tuyến tỉnh và khu vực
Xây dựng luật TTBYT và các văn bản pháp quy về quản lý nhà nước trong lĩnh vực TTBYT
Mặc dù đã đạt được một số kết quả ban đầu trong hiện đại hóa TTBYT kỹ thuật cao ở nước ta nhưng vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn cần được quan tâm và giải quyết trong giai đoạn tới, cụ thể:
- Hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý nhà nước trong lĩnh vực TTBYT chưa được hoàn chỉnh
- Hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực TTBYT còn gặp nhiều hạn chế, nhiều bệnh viện tuyến tỉnh và huyện chưa chú trọng đến kinh phí trong bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT
- Nguồn nhân lực trong lĩnh vực TTBYT chưa đáp ứng được nhu cầu trong việc bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa tại các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện
- Đảm bảo chất lượng TTBYT còn hạn chế:
+ Công tác kiểm chuẩn, bảo hành, bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT chưa được quan tâm đúng mức tại nhiều cơ sở y tế (nhất là các cơ sở y tế tuyến tỉnh, tuyến huyện và phòng khám khu vực), nên TTBYT bị xuống cấp nhanh, giảm tuổi thọ, đáp ứng trong vận hành tối ưu các TTBYT mới còn nhiều hạn chế
HUPH
Trang 23+ Theo kết quả của một số nghiên cứu về thực trạng đầu tư TTBYT tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, cho thấy TTBYT và nhân lực trong bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được nhu cầu vận hành tối
ưu các TTBYT trong nhu cầu khám chữa bệnh
Để khai thác, sử dụng hiệu quả TTBYT thì việc quản lý TTBYT cần vừa phù hợp thực tế vừa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế TTBYT phải được quản lý chặt chẽ theo chu trình vòng đời của sản phẩm, từ giai đoạn sản xuất, thử nghiệm, lưu thông trên thị trường đến quá trình sử dụng và bảo hành, bảo dưỡng Để đạt được mục tiêu đó, cần có văn bản quy định cụ thể về quản lý TTBYT để tạo hành lang pháp lý Nguyên tắc quản lý TTBYT là luôn xác định được một chủ thể chịu trách nhiệm về chất lượng của TTBYT trong quá trình lưu thông trên thị trường TTBYT cần có số lưu hành để quản lý và truy xuất được nguồn gốc, được công khai hồ sơ
kỹ thuật Đồng thời quy định rõ, trong quá trình sử dụng, TTBYT cần được kiểm định, hiệu chuẩn định kỳ Bên cạnh đó, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân lực khai thác, sử dụng TTBYT; phát triển dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT (có thể thí điểm thành lập một vài trung tâm bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT tại một
số tỉnh hoặc một số vùng); đẩy mạnh công tác kiểm chuẩn TTBYT, không chỉ tại các đơn vị hiện có mà còn có thể mở rộng hơn, kể cả có sự tham gia của các đơn vị ngoài công lập Hoạt động tư vấn cần được chú trọng hơn để giúp chủ đầu tư mua những TTBYT “trúng” và “đúng” yêu cầu (14)
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Hoàng cho thấy có 08% TTBYT hư hỏng đang sửa chữa; thuộc diện thanh lý, không sử dụng, 13,04% TTBYT không sử dụng và đang chờ thanh lý; 95% TTBYT không được kiểm định và hiệu chuẩn; 66,1% TTBYT không đầy đủ linh kiện thay thế; cung cấp tài liệu kỹ thuật chỉ đạt Chỉ có 37,5% TTBYT được trang bị tài liệu kỹ thuật hướng dẫn bảo dưỡng, sửa chữa; 66,1% nhân lực sửa chữa và bảo dưỡng không đáp ứng Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng TTBYT tại Trung tâm Y tế bao gồm: Nhân lực TTBYT: Vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về năng lực, ít được tập huấn về TTBYT; Công tác sửa chữa chưa đáp ứng với nhu cầu phụ vụ người bệnh; Chưa ứng dụng công nghệ
HUPH
Trang 24thông tin trong quản lý sử dụng TTBYT; (4) Thủ tục mua sắm, thay thế linh kiện làm chậm; Thiếu kinh phí cho bảo dưỡng, sửa chữa, mua linh kiện thay thế; Công
ty bảo dưỡng thiết bị ở xa không đáp ứng yêu cầu kịp thời(15)
Trong nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long (16) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá công nghệ y tế ở Việt Nam qua nghiên cứu trường hợp về chụp cắt lớp vi tính, siêu âm và nội soi tại 5 bệnh viện tỉnh, kết quả cho thấy: phần lớn các máy mới sử dụng trong vòng 5 năm lại đây, hoạt động tốt, trừ máy nội soi ở cả 5/5 bệnh viện điều hỏng và đã sửa chữa do lỗi sử dụng của cán bộ, nguồn điện không ổn định, quá tải; một số TTB ở một số bệnh viện còn được sử dụng hạn chế do trình độ chuyên môn, thiếu thiết bị phụ trợ (ống nội soi, đầu dò…) Muốn cho việc sử dụng TTBYT tại các khoa đạt hiệu quả, cần thiết phải có sự giám sát sử dụng TTBYT Nghiên cứu của Bùi Việt Hùng(4) cho thấy công tác quản lý, giám sát sử dụng TTBYT của phòng Vật tư là tương đối tốt, tuy nhiên công tác quản lý TTBYT của lãnh đạo các khoa, phòng là chưa tốt, tần số giám sát ít, chưa phân công cụ thể cá nhân phụ trách TTBYT
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Đăng Trung cho thấy số lượng TTBYT được đầu tư tương đối đầy đủ, đạt tỷ lệ 83,3% so với chuẩn của Bộ Y tế Tỷ lệ nhân viên
y tế tại bệnh viện có kiến thức sử dụng là 44% và kiến thức về bảo dưỡng là 46% Các yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng và bảo dưỡng thiết bị là trình độ chuyên môn và số năm phục vụ của nhân viên y tế Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, việc tổ chức thường xuyên các khóa đào tạo về sử dụng và bảo dưỡng trang thiết bị y tế cho cán bộ bệnh viện trong tương lai là rất cần thiết (17)
Nghiên cứu của Trương Thị Hồng Linh (18) nêu ra: Có một số thiết bị mà các khoa có thể cùng sử dụng chung Vì vậy, việc bố trí trang thiết bị y tế tại các bệnh viện sao cho phù hợp với mục đích và yêu cầu của các khoa hiện nay là điều tương đối khó khăn trong bối cảnh trang thiết bị y tế còn thiếu Có những khoa được
bố trí, sắp xếp đầy đủ trang thiết bị y tế phục vụ công tác chuyên môn, bên cạnh đó hầu hết các khoa lại thiếu
Ngoài ra còn nhiều tác giả khác nữa cũng nghiên cứu về công tác quản lý TTBYT tại các cơ sở y tế Kết quả nghiên cứu của mỗi công trình có tác dụng tốt
HUPH
Trang 25trong việc hoàn thiện công tác quản lý này tại các đơn vị được nghiên cứu Trong 10 năm trở lại đây chưa có nghiên cứu nào về công tác quản lý TTBYT tại Bệnh viện
Đa khoa Trung tâm An Giang Vì vậy, các nghiên cứu của luận văn vẫn đảm bảo tính mới, không trùng lặp với các nghiên cứu đã thực hiện trong những năm gần đây
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng - sửa chữa TTBYT tại các cơ sở y tế
1.5.1 Yếu tố chính sách
TTBYT bao gồm loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe của người dân với chất lượng ngày càng cao Bên cạnh yếu
tố Thầy thuốc và thuốc, TTBYT cũng là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong công tác khám chữa bệnh Do vậy, chính sách về TTBYT cần được tăng cường, để đạt hiệu quả về đầu tư cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo tính khoa học
Hiện nay chính sách y tế nói chung và chính sách về quản lý TTBYT nói riêng còn tồn tại nhiều bất cập gây khó khăn cho người quản lý TTBYT
Tại Điều 64 Nghị định 98/2021/NĐ-CP về quản lý TTBYT: “Việc đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế để thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý sử dụng tài sản công”(8)
Thông tư số 19/2013/TT-BYT(19): Quy định BV phải triển khai chương trình
an toàn người bệnh (ATNB) trong đó có nội dung: An toàn trong sử dụng TTBYT;
Thông tư số 39/2018/TT-BYT(20): “Quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp Định mức tính giá (số ca/máy/ngày làm việc 8 giờ): Dịch vụ siêu âm là 48 ca; Chụp
HUPH
Trang 26X-quang thường, Chụp X-quang số hóa là 58 ca, Chụp CT Scanner đến 32 dãy là 29 ca; Chụp cộng hưởng từ (MRI) là 19 ca”
Thông tư số 08/2019/TT-BYT(10): Thông tư hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động sự nghiệp y tế thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Y tế
Thông tư số 22/2011/TT-BYT(21) : Thông tư quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện, chức trách, nhiệm vụ của các chức danh trong khoa Dược bệnh viện
1.5.2 Yếu tố nhân lực
Trong mỗi tổ chức y tế, điều thấy rằng việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển chung của cơ sở y tế Ngoài ra, việc đào tạo và phát triển nhân viên y tế không chỉ mang lại nhiều lợi ích cho cơ sở y tế, mà còn giúp họ cập nhật kiến thức và kỹ năng mới, áp dụng các thay đổi thành công thay đổi công nghệ và kỹ thuật Nhờ đào tạo và phát triển, NVYT có thể tránh bị đào thải trong quá trình phát triển tổ chức và xã hội Do đó, để xây dựng một cơ sở y tế để phát triển bền vững và xây dựng một vị trí vững chắc, thì đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ nhất định
Cán bộ y tế: Trình độ của NVYT chưa đủ để khai thác hết công suất TTBYT hiện có Cán bộ kỹ thuật về TTBYT vừa thiếu, vừa chưa đáp ứng yêu cầu chung: Công tác tham mưu, giúp việc quản lý TTBYT tại nhiều cơ sở còn hạn chế Năng lực cán bộ về TTBYT không theo kịp với những cải tiến kỹ thuật và công nghệ mới Chất lượng đào tạo, sắp xếp và sử dụng nguồn nhân lực chuyên ngành kỹ thuật TTBYT thấp so với yêu cầu(22)
Để làm tốt công tác quản lý TTBYT thì cần thiết phải có đội ngũ cán bộ đủ
về số lượng và đủ về trình độ chuyên môn Tuy nhiên theo nghiên cứu của Hà Đắc Biên thì số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ kỹ thuật TTBYT: “Vừa thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng Công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT làm không tốt với nhiều TBYT thế hệ mới dẫn tới thời gian vòng đời của của thiết bị thấp” (23)
HUPH
Trang 27Để có thể quản lý, sử dụng TTBYT một cách có hiệu quả thì cần phải bồi dưỡng kiến thức và nâng cao tay nghề của người sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT Ngoài trình độ chuyên môn, cũng đòi hỏi đội ngũ nhân viên phải luôn
có tinh thần trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo quản TTBYT Chỉ khi đó, nó mới duy trì được công suất cao trong thời gian dài và sử dụng hiệu quả hơn trong việc KCB
Ở Việt nam cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chủ chốt về lĩnh vực thiết bị y tế còn
ít, chỉ có trường đại học Bách khoa Hà nội, Bách khoa Thành Phố Hồ Chí Minh, Học viện kỹ thuật Ngoài ra còn một cơ sở đào tạo nữa là trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật thiết bị y tế Hà Nội và trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật thiết bị y tế Bình Dương, hai trường này đang đào tạo bậc trung cấp, cao đẳng
Trong nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy: “một số yếu tố nữa ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo quản TTBYT chưa tốt đó là công tác tập huấn và đào tạo cho cán bộ sử dụng, bảo quản TTBYT hiện nay chưa tốt vì hiện tại tổ TTB chưa có đủ nhân lực và trình độ để thực hiện việc đào tạo, tập huấn, còn thiếu nhiều
kỹ sư chuyên về TTBYT nên việc đào tạo tập huấn chủ yếu là đưa tuyến trên đào tạo hoặc nhờ công ty lắp đặt TTBYT đào tạo, tập huấn ban đầu trước khi đưa vào sử dụng” (24)
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chúc cho thấy: “ TBCĐHA và nhân lực sử dụng các TBCĐHA hiện có tại các bệnh viện đa khoa vẫn chưa hợp lý, chưa đáp ứng nhu cầu KCB của nhân dân; tỷ lệ máy cũ trên mười năm còn khá cao, tỷ lệ TBCĐHA không được sử dụng hết công suất và tỷ lệ TBCĐHA hỏng cần sửa chữa còn khá cao tại các bệnh viện tỉnh”(25)
Nghiên cứu của Ngô Đức Lễ và Bùi Việt Hùng cho thấy với nguồn nhân lực của Phòng Vật tư chưa thể làm tốt chức năng chủ động giám sát, bảo dưỡng TTBYT tại các khoa bệnh viện mà chỉ tập trung vào công tác bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ, tạm thời (26),(4)
1.5.3 Yếu tố cơ sở hạ tầng và tài chính
HUPH
Trang 28Cơ sở hạ tầng, phương tiện phục vụ cho công tác bảo dưỡng, sửa chữa: Gồm nhà xưởng, phương tiện kiểm tra và đo lường, đồ nghề bảo dưỡng, sửa chữa, các tài liệu kỹ thuật phục vụ cho việc bảo dưỡng, sửa chữa, sự đáp ứng sẵn sàng về vật tư, phụ kiện thay thế
Có cơ sở vật chất, hạ tầng tốt thì việc quản lý TTBYT mới ngày càng tốt hơn Qua đó xác định được Cơ sở vật chất, hạ tầng của Bệnh viện có tầm quan trọng và ảnh hưởng không đến công tác KCB nói chung và sử dụng TTBYT nói riêng
Trước khi lên kế hoạch đầu tư TTBYT Bệnh viện phải hiểu rõ về thực trạng
cơ sở hạ tầng của mình, Phải phân tích tìm hiểu tính khả thi về cơ sở vật chất như: tác động môi trường, thích ứng khí hậu, điện, nước …để đủ điều kiện lắp đặt TTBYT (27) Nguồn kinh phí dành cho việc duy tu và sửa chữa TTBYT cũng là yếu ảnh hưởng đáng kể đến việc quản lý TTBYT
Với xu hướng hiện nay đa số còn đặt nặng việc quan tâm đến việc đầu tư mua sắm TTBYT Còn việc bảo dưỡng trang TTBYT chưa được quan tâm đầy đủ Kinh phí dành cho việc việc bảo dưỡng thấp Không có dự trù đủ kinh phí và vật tư thay thế khi máy móc hư hỏng dẫn đến việc bị động, chậm trễ trong khâu khắc phục và sửa chữa TTBYT
Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh (5) chỉ ra rằng: “kinh phí dùng để bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị còn thấp, chỉ có bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức và bệnh viện Thanh Nhàn có đủ kinh phí thực hiện Chỉ thị 01 của Bộ Y tế (về giành từ 5-7% kinh phí mua TTBYT để bảo dưỡng, sửa chữa) Ở các bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, Nam Định và Phú Thọ có kinh phí quá ít hoặc không có để thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ các TTBYT”
1.6 Giới thiệu về Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang
Hiện nay Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang là một bệnh viện hạng I, với quy mô 950 giường (giường thực kê là 1.166) Các khoa gồm: khoa Ngoại tổng hợp,
Khoa Cấp cứu, khoa Hồi Sức, khoa Dược, khoa Ngoại tiết niệu, khoa Nội tổng hợp, khoa Tim mạch lão học, khoa Phẩu thuật gây mê hồi sức, khoa Nhiễm, khoa Lao,
HUPH
Trang 29khoa Tâm thần, khoa Da liễu, khoa Y học cổ truyền, khoa Chấn thương chỉnh hình, khoa Xét Nghiệm, Khoa thăm dò chức năng, Khoa Chẩn đoán hình ảnh… 07 phòng chức năng: Kế hoạch tổng Hợp, Tài chính kế toán, Vật tư Thiết bị y tế, Tổ chức cán bộ… Ngoài ra còn có các hạng mục công trình phụ như: Nhà xe, kho trữ oxy, sân vườn trong đó diện tích cây xanh 400m2 chiếm 1,7%
Là bệnh viện tuyến cuối của tỉnh, được khởi công xây dựng cơ sở mới và được đưa vào sử dụng năm 2016 Tổng mức đầu tư của dự án khoảng 1.442 tỷ đồng Được thiết kế theo tiêu chuẩn quốc tế có sân đáp máy bay trực thăng Đây là một trong số
ít bệnh viện hiện đại nhất trong vùng hiện nay Với cơ sở hạ tầng khang trang, sạch
sẽ tạo điều kiện cho người dân trong tỉnh tiếp cận với với dịch vụ y tế có chất lượng
HUPH
Trang 301.7 Khung lý thuyết
Nghiên cứu này chỉ tập trung vào giai đoạn quản lý sử dụng và bảo dưỡng-sửa chữa TBCĐHA Đây là những hoạt động nhằm khai thác tối đa tiềm năng của các hệ thống trang thiết bị y tế trong các cơ sở y tế Các trang thiết bị y tế cần được bảo dưỡng - sửa chữa, hiệu chuẩn và kiểm định theo định kỳ để đảm bảo trang thiết bị y
tế luôn ở trạng thái an toàn cao nhất cho cả bệnh nhân và nhân viên y tế vận hành, sử dụng trang thiết bị y tế Nghiên cứu này không đề cập nhiều đến việc quản lý đầu tư mua sắm và thực trạng TBCĐHA
+ Trình độ của nhân viên y tế về
việc sử dụng, bảo quản, sửa
chữa - bảo dưỡng TTBYT
+ Đào tạo quản lý TTBYT
- Yếu tố cơ sở hạ tầng và tài
chính:
+ Cơ sở vật chất
+ Kinh phí cho hoạt động bảo
dưỡng - sửa chữa, kiểm định,
kiểm chuẩn
Thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng - sửa chữa trang thiết bị chẩn đoán hình ảnh
+ Hồ sơ, nguồn gốc, quy trình, tình trạng TTB
+ Điều kiện lắp đặt an toàn, bố trí
và sử dụng TTB+ Tần suất sử dụng TTB
+ An toàn sử dụng TTB + Kiểm định, kiểm chuẩn TTB + Bảo dưỡng – sửa chữa TTB + Linh kiện vật tư thay thế
HUPH
Trang 31CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)
- Các TBCĐHA chuyên dùng đặc thù của Bệnh viện thuộc các khoa Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Thăm dò chức năng, khoa Nội tiêu hóa huyết học: Hệ thống chụp cắt lớp vi tính, Máy cộng hưởng từ (MRI), Máy X Quang, Máy siêu âm, Máy nội soi. Các thiết bị này sử dụng các kỹ thuật hình ảnh (như X quang, Siêu âm, Chụp cắt lớp xử lý vi tính – CT, Cộng hưởng từ – MRI) cho phép bác sĩ “thấy” được hình thái và chức năng các cấu trúc trong cơ thể người Hiện nay trong bệnh viện chỉ có 04 khoa/phòng có liên quan trực tiếp đến việc
sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa các thiết bị như trên
- NVYT trực tiếp quản lý, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa TBCĐHA tại 04 khoa phòng: Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Thăm dò chức năng, Khoa Nội tiêu hóa huyết học và Phòng Vật tư thiết bị y tế
- Lãnh đạo bệnh viện và lãnh đạo 03 khoa (Khoa Thăm dò chức năng (TDCN), Khoa Chẩn đoán hình ảnh (CĐHA) và Khoa Nội tiêu hóa huyết học (TH-HH)) trong bệnh viện
- Số liệu thứ cấp:
+ Các thông tin thứ cấp được thu thập thông qua các sổ sách hồ sơ về công tác quản lý các TBCĐHA, Các hồ sơ kiểm kê cuối năm về TBCĐHA, danh mục TBCĐHA hiện có, chi phí để kiểm định, bảo dưỡng, sửa chữa TBCĐHA, thống kê
về nhân sự và các hoạt động của Bệnh viện giai đoạn 2019 – 2021 Bên cạnh đó, số liệu thứ cấp cũng được thu thập từ các báo cáo tại hội nghị, từ sách, báo, internet và các công trình nghiên cứu, đề tài đã và đang thực hiện liên quan đến nội dung nghiên
cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
HUPH
Trang 32+ NVYT có thời gian công tác tại BV dưới 02 năm tính từ năm 2020; NVYT không đồng ý tham gia nghiên cứu; NVYT đi học tập trung, nghỉ dài hạn
+ NVYT không tham gia việc sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT của tại các khoa/phòng đang nghiên cứu trong BV
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thu thập số liệu từ tháng 08/2021 đến tháng 12/2021
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2020 đến tháng 12/2021
- Địa điểm nghiên cứu: 04 khoa/phòng (Khoa CĐHA, Khoa TDCN, Khoa
TH-HH và Phòng VTTBYT) tại Bệnh viện ĐKTT AG
2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, nghiên cứu định lượng và kết hợp định tính
+ Nghiên cứu định lượng thu thập thông tin liên quan đến công tác sử dụng và bảo dưỡng – sửa chữa TBCĐHA từ các số liệu thứ cấp có liên quan và phát vấn NVYT tại bệnh viện
+ Nghiên cứu định tính qua các cuộc phỏng vấn sâu để củng cố, bổ sung và giải thích cho nghiên cứu định lượng
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trang 33- Lãnh đạo BV: 01 đại diện BGĐ phụ trách TTBYT
- NVYT trực tiếp bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT: 01 nhân viên
- Cán bộ quản lý: 03 trưởng/phó khoa, chọn 03 khoa ( khoa CĐHA, khoa TDCN, khoa Nội TH-HH )
- Nhóm NVYT trực tiếp sử dụng TBCĐHA: Chọn 03 khoa ( khoa CĐHA, khoa TDCN, khoa Nội TH-HH) Chọn 01 nhân viên sử dụng TTBYT cho mỗi khoa
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
- Bộ công cụ định lượng được xây dựng với 28 biến số thuộc 02 nhóm: Quản lý sử dụng- bảo quản TBCĐHA; quản lý bảo dưỡng– sửa chữa và đánh giá chung + Bảng kiểm sử dụng, bảo quản TBCĐHA có 17 biến số: Nhằm đánh giá về địa điểm lắp đặt đảm bảo an toàn sử dụng và bảo quản TBCĐHA, sổ sách theo dõi hoạt động TBCĐHA, lý lịch máy, sổ bàn giao, có TBCĐHA thay thế kịp thời
và sổ theo dõi tình trạng hoạt động của thiết bị,
+ Bảng kiểm bảo dưỡng, sửa chữa TBCĐHA có 11 biến số: Nhằm đánh giá việc sửa chữa, kiểm tra bảo dưỡng định kỳ, kiểm định, kiểm chuẩn, thiết bị kiểm tra đo lường, vật tư phụ tùng thay thế, ghi chép sổ sách sau khi bảo dưỡng – sửa chữa,
- Bộ công cụ định tính là các hướng dẫn phỏng vấn sâu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết và bộ công cụ định lượng, nhằm thu thập thông tin về thực trạng quản lý TBCĐHA tại 04 khoa/phòng nghiên cứu, những thuận lợi, tồn tại trong công tác quản lý TBCĐHA
2.5.2 Thu thập số liệu định lượng
- Phương pháp: Số liệu thứ cấp, phát vấn và quan sát
- Nhóm điều tra gồm 03 NVYT: Người nghiên cứu, người ghi chép số liệu và điều dưỡng trưởng tại khoa đó lập thành nhóm nghiên cứu (NNC)
HUPH
Trang 34- Nhóm đánh giá thông tin TBCĐHA tại các khoa gồm 03 người là các cán bộ
kỹ thuật chuyên nghiệp về TTBYT: Người nghiên cứu – Lãnh đạo phòng VTTBYT, Tổ trưởng quản lý TTBYT, Tổ phó phụ trách TTBYT Kết quả của
ba người phải thống nhất, nếu chưa thống thì giải quyết bằng cách thảo luận
để đi đến biểu quyết thống nhất cuối cùng
- Thu thập kiến thức quản lý sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa TBCĐHA: Nhóm nghiên cứu gặp trực tiếp NVYT sử dụng trực tiếp TBCĐHA để phát vấn và thu thập số liệu
- Phát phiếu phát vấn cho tất cả NVYT là ĐTNC tại các nơi cần nghiên cứu: NNC lấy thông tin theo từng khoa/phòng Tại mỗi khoa/phòng, NCC trình bày mục đích, đọc nội dung thông tin nghiên cứu cho NVYT cùng phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu Sau đó NNC phát phiếu cho từng ĐTNC
- Tất cả ĐTNC trả lời các câu hỏi bằng cách tự điền vào phiếu điều tra, sau đó thì NNC thu lại, kiểm tra những thông tin ghi trên phiếu có hợp lệ, đầy đủ Nếu thông tin chưa đầy đủ thì xin lại cho đủ Nếu phiếu đã hợp lệ và đầy đủ thông tin, thì nhận lại và cảm ơn sự hợp tác của NVYT đó
- Số liệu thứ cấp được thu thập các báo cáo tại phòng Tài chính kế toán, phòng
Kế hoạch tổng hợp, phòng VTTBYT và 03 khoa nghiên cứu Nghiên cứu viên liên hệ với quản lý các khoa/phòng và nêu lý do để thu thập các số liệu cần thiết và đáp ứng những mục tiêu nghiên cứu, sau đó NNC liên hệ trực tiếp với nhân viên được lãnh đạo khoa/phòng chỉ đạo cung cấp dữ liệu
- Số liệu thứ cấp: Chọn các số liệu có liên quan đến các nội dung cần nghiên cứu tại 03 khoa/phòng nghiên cứu giai đoạn 2019 – 2020:
+ Các báo cáo về việc thống kê TBCĐHA của BVĐKTTAG;
+ Danh sách các TBCĐHA hiện có tại 04 khoa/phòng của BV trong thời gian nghiên cứu;
+ Danh sách NVYT có sử dụng TBCĐHA tại 03 khoa/phòng;
HUPH
Trang 35+ Số liệu kinh phí dành cho mua sắm, sửa chữa thiết bị y tế của Bệnh viện; + Các báo cáo thống kê về hoạt động chuyên môn của Bệnh viện;
+ Báo cáo hoạt động của Phòng VTTBYT;
+ Báo cáo công tác nhân sự và hoạt động chuyên môn của khoa/phòng; + Nhật ký sử dụng TBCĐHA, lý lịch TBCĐHA;
+ Lịch bảo dưỡng TTBYT;
+ Tài liệu liệu kỹ thuật và tài liệu hướng dẫn sử dụng TBCĐHA;
+ Báo cáo hoạt động bảo dưỡng, sửa chữa TBCĐHA;
+ Hồ sơ thông số kỹ thuật TBCĐHA,…
2.5.3 Thu thập số liệu định tính:
- NNC gặp trực tiếp 08 cán bộ đã chọn chủ đích trong nghiên cứu, trình bày lý
do nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và xin phép được phỏng vấn sâu Đồng thời cung cấp cho họ nội dung thông tin cần nghiên cứu, phiếu chấp nhận tham gia nghiên cứu, những gợi ý cho nội dung nghiên cứu Sau đó lên lịch hẹn để thực hiện việc phỏng vấn
- Khi giao tiếp trực tiếp với các cán bộ được phỏng vấn, NNC giới thiệu thông tin nghiên cứu Nếu họ đồng ý tham gia nghiên cứu thì phải ký tên vào phiếu đồng ý Để hạn chế tình trạng sót thông tin, NNC xin phép được ghi âm phỏng vấn, kết hợp ghi chép trong cả quá trình phỏng vấn Thời gian của mỗi cuộc phỏng vấn sâu có thể kéo dài từ 30 đến 45 phút
- Địa điểm: Tùy theo sự chọn lựa của đối tượng tham gia nghiên cứu (phòng họp giao ban, phòng trực, …), đó là những nơi yên tĩnh, chỉ có NNC và đối tượng tham gia nghiên cứu
- Bộ công cụ để thu thập thông tin định tính (phỏng vấn sâu, hướng dẫn, ) được thiết kế phù hợp với từng loại đối tượng
HUPH
Trang 36- Các cuộc phỏng vấn được chuyển sang file vi tính, tiếp đó được nhập liệu và
mã hóa phân tích và trích dẫn theo các loại mục tiêu nghiên cứu
2.6 Các biến số trong nghiên cứu
- Các biến số theo Phụ lục 01
- Nhóm các biến số:
+ Nhóm biến về thông tin chung về TBCĐHA: Tên TBCĐHA, năm sản xuất, nước sản xuất, kiểu máy, nguồn gốc, năm sử dụng, hiện trạng (Chất lượng TBCĐHA, số lượng, chủng loại, giá trị TBCĐHA (nguyên giá, khấu hao), khoa/phòng sử dụng, tình trạng thiết bị,
+ Nhóm biến số về sử dụng và bảo quản TBCĐHA: Nhằm đo lường về định mức sử dụng, công suất sử dụng, địa điểm lắp đặt đảm bảo an toàn, sổ sách
theo dõi (lý lịch thiết bị, sổ bàn giao sử dụng, sổ theo dõi sử dụng), phân công
quản lý và sử dụng thiết bị, quy trình sử dụng, khả năng điều chuyển thiết bị,
có thiết bị thay thế kịp thời, vật tư phụ tùng thay thế đảm bảo vận hành và sổ theo dõi tình trạng hoạt động của thiết bị
+ Nhóm biến số về bảo dưỡng – sửa chữa TBCĐHA: Nhằm đánh giá việc các TBCĐHA tại khoa được kiểm tra và bảo dưỡng định kỳ, sổ lý lịch máy có ghi đầy đủ nội dung bảo dưỡng – sửa chữa, quản lý tài liệu kỹ thuật hướng dẫn bảo dưỡng – sửa chữa, số lần sửa chữa, thời gian sửa chữa, chi phí sửa chữa, việc hợp đồng với đơn vị bên ngoài thực hiện việc bảo dưỡng– sửa chữa, vật
tư thay thế
+ Nhóm biến số về đối tượng tham gia nghiên cứu: Tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, vị trí công tác, nơi công tác ( khoa/phòng), thời công tác Nhằm đánh giá số lượng và trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên phụ trách quản lý sử dụng và bảo dưỡng – sửa chữa TBCĐHA
- Phỏng vấn sâu về các nội dung:
HUPH
Trang 37+ Sự đáp ứng của TBCĐHA với nhu cầu khám, chữa bệnh
+ Đánh giá thực trạng sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa TBCĐHA hiện tại
+ Hiệu quả sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa TBCĐHA
+ Đánh giá về số lượng và chất lượng của nhân lực quản lý, cán bộ sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa TBCĐHA hiện nay
+ Đánh giá công tác tập huấn, đào tạo cho cán bộ sử dụng
+ Đánh giá công tác quản lý chất lượng TBCĐHA tại bệnh viện: Hiệu chuẩn, kiểm định TBCĐHA định kỳ và sau các lần sửa chữa
+ Đánh giá thời gian đáp ứng các TBCĐHA (thời gian chờ)
+ Khả năng điều chuyển TBCĐHA (cách bố trí khoa học để dễ dàng điều chuyển nội bộ giữa các khoa/phòng)
+ Sự quan tâm tìm hiểu, phân tích nhu cầu cần thiết, nghiên cứu khả thi về cơ
sở vật chất, an toàn điện, an toàn bức xạ,…trước khi đầu tư mua sắm
+ Kiến nghị để nâng cao hiệu quả quản lý TBCĐHA tại bệnh viện (Vai trò giám sát của cơ quan chủ quản, chính sách đầu tư của địa phương, công tác đào tạo,…)
2.7 Tiêu Tiêu chuẩn đánh giá
- Bộ câu hỏi khảo sát để đánh giá kiến thức quản lý sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa TBCĐHA của NVYT: Bảng khảo sát có tổng số 10 câu hỏi với 52 lựa chọn Trong đó có 26 lựa chọn đúng
+ Lựa chọn đúng được 01 điểm;
+ Lựa chọn không đúng trừ 01 điểm
Thang điểm đánh giá như sau:
HUPH
Trang 38Số điểm Tỷ lệ % Xếp loại
Từ 13 đến 20 điểm 50% - <80% Đạt yêu cầu
2.8 Xử lý và phân tích số liệu
2.8.1 Xử lý khi thu thập số liệu
- Tất cả những số liệu sau khi thu thập đã được kiểm tra, làm sạch và hoàn thiện ngay trong ngày
- Kết quả thu thập số liệu của các điều tra viên được rà soát để có biện pháp điều chỉnh vào ngày hôm sau
2.8.2 Phân tích số liệu
2.8.2.1 Đối với số liệu định lượng
- Số liệu sau khi làm sạch được nhập vào bản Excel 2019 Số liệu được nhập 02 lần nhập khác nhau nhằm tránh sai số trong quá trình nhập liệu
- Phân tích số liệu bằng phần mềm trên máy tính Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê Excel 2019 Kết quả được chia làm 02 phần:
+ Phần mô tả: thể hiện tần số của các biến nghiên cứu (lập bảng hoặc biểu đồ) + Phần phân tích: Xác định mối liên quan giữa việc quản lý TBCĐHA theo từng chức năng: sử dụng – bảo quản, bảo dưỡng – sửa chữa
2.8.2.2 Đối với số liệu định tính
Số liệu được gỡ băng và phân tích theo chủ đề, nghiên cứu viên đọc và tiến hành
mã hóa thông tin theo các nội dung nghiên cứu Thông tin trong từng chủ đề được so sánh và đối chiếu giữa các nguồn đối tượng cung cấp, phương pháp thu thập số liệu
và tổng hợp lại để rút ra kết quả nghiên cứu
2.9 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
HUPH
Trang 392.9.1 Sai số của nghiên cứu
Nghiên cứu toàn bộ nhân viên của 04 khoa/phòng, nhưng có thể vào thời điểm tiến hành điều tra có nhiều cán bộ không có mặt do yêu cầu nhiệm vụ công tác và cán
bộ từ chối tham gia nghiên cứu
- Do cán bộ điều tra: hiểu sai bộ câu hỏi, tự điền, bỏ sót câu hỏi, ghi chép thông tin
- Do bộ câu hỏi: dùng từ chưa thông dụng gây hiểu lầm
- Do ĐTNC trả lời chưa đúng sự thật: không nhớ câu trả lời, trả lời chưa nhất quán hoặc hiểu sai câu hỏi, bỏ sót câu hỏi
- Sai số nhớ lại trong quá trình thu thập thông tin
- Sai số do chủ quan, các mối quan hệ cảm tính với NVYT
- Sai số trong giai đoạn nhập số liệu
2.9.2 Biện pháp khắc phục
- Giải thích rõ mục tiêu nghiên cứu đối với ĐTNC
- Tập huấn kỹ trước khi điều tra, điều tra thử trước khi điều tra chính thức
- Thiết kế bộ công cụ phù hợp có tham khảo ý kiến của các chuyên gia và bộ công
cụ được thử nghiệm trước khi tiến hành điều tra nghiên cứu
- Nhập liệu hai lần để tránh sai số
2.10 Đạo đức nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua theo quyết định số 255/2021/YTCC- HD3 của Trường Đại học Y tế công cộng ngày 27 tháng 5 năm 2021 trước khi tiến hành triển khai trên thực địa Nghiên cứu chỉ nhằm mục tiêu mô tả thực trạng quản lý TBCĐHA tại bệnh viện, từ đó có những đề xuất về giải pháp với lãnh đạo bệnh viện nhằm có sự chỉnh sửa bổ sung để nâng cao chất lượng trong công tác phục vụ bệnh nhân một cách tốt nhất ĐTNC được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của ĐTNC Mọi thông tin cá nhân về ĐTNC được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
HUPH
Trang 40Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban giám đốc bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang quan tâm và ủng hộ
Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi và phổ biến cho Ban giám đốc, đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên bệnh viện khi kết thúc nghiên cứu Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở cho các hoạt động nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang
HUPH