BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG KHOA LÂM SÀNG TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN ĐA KH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN NHƯ BÌNH
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG KHOA LÂM SÀNG TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TUYẾN HUYỆN TỈNH
BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2016-2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ: 60.72.07.01
Hà Nội, 2018
HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG KHOA LÂM SÀNG TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TUYẾN HUYỆN TỈNH
BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2016-2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC I DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT III DANH MỤC BẢNG BIỂU IV TÓM TẮT V
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.2 Đào tạo chuyên môn liên tục trong ngành y tế 5
1.8 Khung lý thuyết 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 19
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.6 Các biến số nghiên cứu 22
2.7 Phương pháp phân tích số liệu 22
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Thông tin chung đối tượng nghiên cứu 24
3.2 Thực trạng đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại các bệnh viện huyện 25
3.3 Khảo sát nhu cầu đào tạo
38
4.1 Thực trạng công tác ĐTLT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 39
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng ĐTLT của điều dưỡng viên 45
KẾT LUẬN 50
KHUYẾN NGHỊ 51
34
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đào tạo liên tục 34 CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN
HUPH
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 55
Phụ lục 1 Nhiệm vụ, tiêu chuẩn chuyên môn của điều dưỡng theo chức danh 55
nghề nghiệp 55
Phụ lục 2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu bệnh viện đa khoa tuyến huyện 63
Phụ lục 3 Bảng tổng hợp số liệu thứ cấp 68
Phụ lục 4 Phiếu điều tra về thực trạng và nhu cầu đtlt dành cho điều dưỡng năm 2016-2017 71
Phụ lục 5 Hướng dẫn phỏng vấn sâu 86
Phụ lục 6 Các biến số nghiên cứu 89
HUPH
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CPD: Continuing Professional Development WFME HUPHWorld Federation for Medical Education
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 24
Bảng 3.2 Thông tin về khóa ĐTLT đã tham gia tại BVĐK huyện 25
Bảng 3.3 Hiểu biết và nhận xét của ĐTNC về ĐTLT 26
Bảng 3.4 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng 27
33 Bảng 3.8 Nội dung mong muốn đào tạo liên tục cho điều dưỡng 33
Bảng 3.5 Thực trạng về nội dung và thời gian ĐTLT (n=169)
Bảng 3.6 Nhu cầu đào tạo liên tục 32
Bảng 3.7 Nội dung mong muốn đào tạo liên tục 33
Bảng 3.10 Kỹ thuật mong muốn đào tạo liên tục ở Khoa Ngoại, gây mê hồi sức cấp cứu 35
Bảng 3.11 Nội dung mong muốn đào tạo liên tục ở Khoa nhi và sản 35
Bảng 3.12 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng cập nhật thông tin ĐTLT .35
Bảng 3.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu về tuyến ĐTLT 35
Bảng 3.9 Kỹ thuật mong muốn đào tạo liên tục ở Khoa nội, hồi sức cấp cứu 34
HUPH
Trang 7Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang, có phân tích định tính kết hợp định lượng trên 169 đối tượng điều dưỡng viên của 04 bệnh viện tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh Sử dụng bộ công cụ có cấu trúc để phỏng vấn trực tiếp điều dưỡng viên Sử dụng bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu để thu thập thông tin từ các lãnh đạo bệnh viện, trưởng khoa và điều dưỡng trưởng tại các bệnh viện này
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy: Tuổi trung bình của điều dưỡng viên là 31,5, cao nhất là 57, thấp nhất là 23 Phân theo nhóm tuổi thì ĐTNC từ 20-30 tuổi chiếm đa số 54,4%, tiếp theo là nhóm 31-40 tuổi chiếm 36,7%, chỉ có 8,9% là cán
bộ ở độ tuổi trên 40, nữ giới chiếm đa số 79,9% Ngày 24/4/2014, nghị quyết số 115/NQ-HĐND quy định chi tiết một số chế độ, chính sách hỗ trợ đào tạo phát triển
kỹ thuật chuyên môn trong ngành y tế tỉnh Bắc Ninh được ban hành Hầu hết các đơn vị khảo sát đều có kế hoạch ĐTLT hàng năm theo chủ trương của tỉnh Tuy nhiên, công tác ĐTLT cũng gặp một số khó khăn như thiếu nhân lực thay thế, tổ chức lớp chưa thuận lợi, cần bổ sung, chỉnh sửa nội dung, tài liệu đào tạo, nâng cao chất lượng giảng viên, hỗ trợ kinh phí tốt hơn…Kết quả ĐTLT cho điều dưỡng viên
04 bệnh viện tuyến huyện trong năm 2016-2017 cho thấy hầu hết đã được cử đi đào tạo theo kế hoạch, tuy nhiên vẫn còn trên 23% cán bộ chưa được cử đi ĐTLT trong hai năm vừa qua Mức độ thực hành thường xuyên, mức độ tự tin của điều dưỡng viên về kỹ thuật điều dưỡng cơ bản, ngoại khoa cao hơn so với điều dưỡng nội, hồi
HUPH
Trang 8sức cấp cứu, nhi Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ cử đi đào tạo và chất lượng đào tạo như cơ chế chính sách của từng bệnh viện, thời gian, địa điểm tổ chức đào tạo, chất lượng tài liệu, chất lượng giảng viên Tỷ lệ ĐDLS hiểu biết về nội dung, hình thức, thời gian ĐTLT theo qui định Bộ Y tế thấp chưa cao (hiểu về thời gian đào tạo bắt buộc là 22,5%) Tỷ lệ ĐDLS tham gia ĐTLT tại cơ sở ĐTLT tại tỉnh chiếm đại
đa số (63,9%) Nhu cầu ĐTLT tại cơ sở ĐTLT tuyến tỉnh là chủ yếu, với thời gian
từ 1- 2 tháng hoặc 3-6 tháng đều chiếm khoảng 48% Thời gian tập huấn ngắn ngày
từ 3-5 ngày là tương đối phù hợp, chiếm: 42,6%
Kết luận của nghiên cứu là chưa có khảo sát định kỳ về ĐTLT ở hệ thống bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh Mức độ hiểu biết của điều dưỡng viên về ĐTLT còn chưa đầy đủ, mức độ thực hành cũng chưa đồng đều Các yếu tố ảnh hưởng đã được chỉ ra trong nghiên cứu này gồm cơ chế chính sách ĐTLT, nội dung đào tạo, các yếu tố về chất lượng giảng viên, địa điểm tổ chức và nguồn lực tài chính Cần có nhưng chính sách để cải thiện tốt hơn nữa công tác ĐTLT cho tỉnh Bắc Ninh
HUPH
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Vị trí, vai trò của nhân viên y tế đã được nêu trong thư Bác Hồ gửi
ngành y tế “…Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô các chú
Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe của đồng bào…", để hoàn nhiệm vụ này thì mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải
thường xuyên học tập nâng cao kiến thức chuyên môn để đảm bảo chăm sóc
người bệnh tốt hơn
Ở nước ta vấn đề đào tạo cập nhật kiến thức y khoa liên tục đối với nhân viên y tế đã được Ngành y tế quy định là điều kiện cần và đủ để được cấp hoặc cấp lại chứng chỉ hành nghề y dược Bộ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc
Sở Y tế sẽ thu hồi chứng chỉ hành nghề với người không cập nhật kiến thức y khoa liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp và phải có Giấy chứng
nhận hoàn thành công tác đào tạo liên tục được cơ sở đào tạo cấp (theo thông
tư 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 về hướng dẫn viêc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế)
Xác định được tầm quan trọng của đào tạo chuyên môn nghiệp vụ liên tục đối nhân viên y tế Sở Y tế Bắc Ninh đã chỉ đạo và triển khai các cơ sở đào tạo liên tục cho nhân viên y tế nói chung, điều dưỡng nói riêng Đã có nhiều chương trình, nội dung đào tạo đã được triển khai và trở thành hoạt động thường niên của ngành, của các đơn vị cơ sở y tế, tuy nhiên việc khảo sát, đánh giá nhu cầu trước khi mở các lớp, khoá đào tạo chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến tình trạng đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu và mục tiêu đặt ra
Đội ngũ điều dưỡng viên tại các cơ sở y tế có vai trò quan trọng trong việc duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân Hiện nay, trình độ chuyên môn của điều dưỡng tại các cơ
sở y tế tuyến huyện còn nhiều hạn chế và chưa có sự phân biệt rõ nhiệm vụ theo trình độ, chuyên ngành, lĩnh vực được đào tạo
HUPH
Trang 10Đến năm 2018, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh chưa có nghiên cứu khoa học nào về thực trạng và các yếu ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của
nhân viên tế nói chung, điều dưỡng nói riêng, nghiên cứu “Thực trạng và một
số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số Bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016- 2017” được thực hiện
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho Sở Y tế, các bệnh viện đa khoa tuyến huyện, cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có thêm cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược, kế hoạch đào tạo liên tục cho nhân viên y tế nói chung, điều dưỡng nói riêng trong những năm tiếp theo đạt được mục tiêu đã đặt ra
HUPH
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại 4 bệnh viện đa khoa: thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong, huyện Thuận Thành, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016-2017
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng 4 bệnh viện trên giai đoạn 2016-2017
HUPH
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Đào tạo y khoa liên tục (Continuing Medical Education-CME) là quá trình
cán bộ y tế không ngừng cập nhật những kiến thức, tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe [8]
Phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development –
CPD) là thuật ngữ do Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization-WHO) đưa
ra nhằm thay đổi thái độ của cán bộ y tế và được sử dụng rộng rãi tại các nước châu
Âu, châu Mỹ [8]
Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng
để cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độ thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân [13, 16]
Cơ sở đào tạo liên tục là các bệnh viện, viện có giường bệnh; viện nghiên
cứu; các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế; các cơ sở giáo dục khác có đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe; các trung tâm có đào tạo nhân lực y tế, được Bộ Y tế thẩm định và công nhận [16]
Điều đưỡng viên là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng
cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thương; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội Ngày nay, điều dưỡng đã được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng cộng tác với các bác sỹ, dược sỹ, kỹ thuật viên và các thành phần trong hệ thống y tế để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, người làm nghề điều dưỡng gọi là điều dưỡng viên [22] Điều dưỡng viên là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và một số kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế [21]
HUPH
Trang 13Nhu cầu đào tạo của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt
được mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ Nhu cầu học thường xuất phát từ mong muốn hay nguyện vọng của chính người học, nhưng đôi khi người học không tự mình nhận thấy nhu cầu đó mà có thể do cơ quan, tổ chức đào tạo hay đơn vị sử dụng lao động tư vấn, định hướng Đó chính là những kiến thức,
kỹ năng, phương pháp mà người học cần đào tạo để phục vụ cho công việc, cuộc sống của cá nhân
1.2 Đào tạo chuyên môn liên tục trong ngành y tế
1.2.1 Tổng quan công tác đào tạo liên tục trên thế giới
Nói về công tác đào tạo liên tục ở các nước trên thế giới thì phải xác định được các chức năng nhiệm vụ của cán bộ y tế trong hệ thống y tế hoặc chăm sóc sức khỏe của từng nước Do cấu trúc, chức năng nhiệm vụ và mối liên hệ giữa các đơn
vị trong hệ thống y tế mà mối quốc gia đều khác nhau Ngoài ra, mức độ phát triển kinh tế xã hội cũng là yếu tố làm cho sự so sánh thực trạng đào tạo này khó tương thích giữa các nước Ở các nước phát triển như Mỹ, Úc, các nước Châu Âu hệ thống đào tạo đã phát triển mạnh mẽ và có rất nhiều hình thức đào tạo liên tục phù hợp cho từng nhóm đối tượng đặc biệt trong ngành y tế Việc cập nhật kiến thức, rèn luyện kỹ năng qua các lớp đào tạo đã được thể chế hóa thành các quy định chặt chẽ
và buộc phải tuân thủ cho từng ngành nghề Hơn nữa, việc thực hành nghề nghiệp được xác định rõ là công việc có tính chất động, đòi hỏi người thực hành phải cập nhật định kỳ theo quy định hàng năm, hoặc vài năm một lần và có hội đồng sát hạch
để đảm bảo những người thực hành ngành y kể cả điều trị và y học dự phòng đều phải vượt qua
Một đánh giá thực trạng đào tạo ở Mỹ từ năm 1975 đến 1994 về hiệu quả của việc đào tạo liên tục y khoa có thay đổi thực hành của các nhân viên y tế đã kết luận: Hình thức chuyển tải đào tạo liên tục y khoa qua hội thảo, tập huấn ít làm thay đổi thực hành của nhân viên y tế Các hình thức đào tạo khác như dựa vào hỗ trợ cầm tay chỉ việc và thăm thực địa ít được áp dụng [26]
Gần đây, 3/2018 một nghiên cứu tổng quan đăng tải trên tạp chí của Hiệp hội
Y học Mỹ (JAMA) cho rằng việc tạo ra một môi trường làm việc hỗ trợ tích cực
HUPH
Trang 14cho nhân viên y tế để họ sáng tạo và phát triển bản thân nhằm chăm sóc bệnh nhân tốt hơn là cần thiết Việc đào tạo từ trên xuống dưới hay kiểu truyền thống ngày càng kém hiệu quả và làm xói mòi niềm tin và sự gắn kết với đào tạo liên tục y khoa [29]
Theo Ủy ban kiểm định giáo dục y học liên tục của Hoa Kỳ, ĐTLT bao gồm các hoạt động giáo dục được cung cấp để duy trì, phát triển, hoặc nâng cao kiến thức, kỹ năng, hiệu suất làm việc và tác nghiệp của nhân viên y tế để cung cấp dịch
vụ y tế cho người bệnh, cộng đồng hoặc nhằm tăng cường sự chuyên nghiêp Nội dung của ĐTLT là tổng thể của kiến thức và kỹ năng được công nhận về y học, những tiêu chuẩn về thực hành lâm sàng và cung cấp sức khỏe cho cộng đồng Nghĩa rộng hơn của ĐTLT bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục thương xuyên nhằm hỗ trợ các nhân viên y tế để hành nghề một cách có hiệu quả hơn Ví dụ: Một khóa học về quản lý sẽ thích hợp cho các bác sỹ chịu trách nhiệm quản lý môt cơ sở chăm sóc sức khỏe; một khóa học về phương pháp giảng dạy sẽ thích hợp cho các bác sỹ giảng dạy tại một trường y tế; một khoa học về lâm sàng sẽ thích hợp cho các NVYT trong việc cung cấp dịch vụ tốt hơn cho người bệnh [35]
Liên đoàn Giáo dục Y học thế giới (World Federation for Medical
Education-WFME) với tư cách là tổ chức quốc tế đại diện cho tất cả các cơ sở đào
tạo y học, đã khởi xướng các phương pháp học tập mới, các công cụ hướng dẫn mới
và đổi mới quản lý trong giáo dục y học Năm 1998 Liên đoàn Giáo dục Y học thế
giới đã phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization-WHO) đã
xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực giáo dục y học, bộ tiêu chuẩn gồm
ba tập tương ứng với ba giai đoạn của quá trình đào tạo y học (Giáo dục y học cơ bản, giáo dục y học sau đại học, đào tạo liên tục/phát triển nghề nghiệp liên tục) Bộ tiêu chuẩn này đã được đưa ra thảo luận tại Hội nghị toàn cầu về giáo dục y học năm 2003 tại Cophenhaghen và đã được thông qua chính thức, được dịch sang nhiều thứ tiếng và sử dụng ở nhiều nước trên thế giới [8]
Các quốc gia thuộc liên minh Châu Âu, Bắc Mỹ, trong đó có Hoa Kỳ đã có
sự công nhận lẫn nhau về CME và CPD Một số quốc gia thuộc Châu Á Thái Bình Dương (New Zealand) bắt buộc cá nhân phải tham gia chương trình CME, CPD để
HUPH
Trang 15có thể hành nghề đăng ký, nếu không đạt yêu cầu về CME, CPD cá nhân sẽ bị đình chỉ hành nghề, khi đó cá nhân được đăng ký quản lý bởi một tổ chức chung và làm việc dưới sự giám sát của tổ chức này nếu muốn được tái cấp chứng chỉ hành nghề [31]
Về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến thực trạng đào tạo gồm việc tham gia đào tạo liên tục, kiến thức, thực hành được cải thiện sau khi được đào tạo thì có nhiều yếu tố Vĩ mô là cấu trúc của hệ thống chăm sóc sức khỏe của mỗi quốc gia, trình độ phát triển, nguồn lực đầu tư và thiết chế pháp lý Tuy nhiên, nhìn ở góc độ
kỹ thuật, thì các yếu tố ảnh hưởng cơ bản đến thực trạng này gồm mức độ quan tâm của lãnh đạo đơn vị, mức độ quan tâm của chính người học, nhận thức của người học, điều kiện để tham gia khóa học, tài liệu, phương pháp giảng dạy, chất lượng giảng viên…được cho là có liên quan
Ví dụ như nhận thức của người học tức là các cán bộ y tế trong một nghiên cứu của Hy Lạp cho rằng hầu hết nhân viên y tế tự đánh giá cao hơn mức họ có về kiến thức liên quan đến chuyên môn, thiếu các tài liệu học tập phù hợp, thiếu tự tin
để tham gia tích cực các khóa học, không tuân thủ các quy định hiện hành, nền tảng giáo dục trong trường học chính quy chưa đầy đủ là các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thực hiện tại và hiệu quả ứng dụng của đào tạo liên tục ở nước này [28]
Một nghiên cứu đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng của đào tạo liên tục đến thực hành của nhân viên y tế trong ngành giải phẫu được công bố năm
2017 Đây là một đánh giá tầm quốc gia tại Mỹ khi mà trước đó chưa có nghiên cứu nào thực hiện ở quy mô này Nghiên cứu này đánh giá bức tranh hiện tại của đào tạo
y khoa liên tục trong ngành khoa học giải phẫu để xác định thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu nhận thức về ĐTLT Kết quả cho thấy 25% (9 trong số 36) chương trình đào tạo được khảo sát cung cấp các chương trình ĐTLT cấp chứng chỉ liên quan đến giải phẫu học, trong đó phần lớn các các nhà vật lý trị liệu (92%) và các nhà giáo dục về giải phẫu (81%) cảm thấy họ có nhu cầu về ĐTLT liên quan đến giải phẫu là các mô-đun video / học tập trực tuyến và các hội thảo chuyên sâu Các yếu tố liên quan phổ biến nhất để tham gia cho cả hai nhóm này là địa điểm tổ chức chương trình, chi phí và thời gian Kinh nghiệm giáo viên về lâu dài là các yếu
HUPH
Trang 16tố rất quan trọng Phân tích hồi quy logistic cho thấy kinh nghiệm giảng dạy và trình độ học viên cao nhất đã ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu nhận thức của các nhà giáo dục giải phẫu (p <0,001) Các phân tích định lượng và định tính trong nghiên cứu này cho thấy một chiến lược tích hợp giữa đào tạo cho ngành giải phẫu với các lĩnh vực thực hành lâm sàng khác là quan trọng [32]
Tác giả Mei Chan Chong và cộng sự tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang,
mô tả thực hành của điều dưỡng ở thời điểm điều tra tại các bệnh viện công và phòng khám ở Malaysia năm 2013 Nghiên cứu tiến hành trên 792 điều dưỡng với phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn, có sử dụng bảng hỏi tự điền Nghiên cứu cho thấy, các điều dưỡng đều nhận thức được tầm quan trọng của ĐTLT đối với
sự phát triển nghề nghiệp của họ; 80 % điều dưỡng đã tham gia các khóa ĐTLT trong 12 tháng qua; hình thức ĐTLT phổ biến nhất là hội thảo (chiếm 43,6%) và giáo dục đại học được ưa chuộng nhất (10,1.3%) Các ĐTNC đều nhận thức được tầm quan trọng của ĐTLT (CPE) trong phát triển sự nghiệp Nghiên cứu cũng khuyến cáo nhà hoạch định chính sách nên lập kế hoạch để ĐTLT đáp ứng được nhu cầu của điều dưỡng chứ không đơn giản là dựa vào nhu cầu của tổ chức [25]
Nghiên cứu về ĐTLT đối với điều dưỡng tại các bệnh viện ở Trung Quốc và Malaysia đều chỉ ra rằng: hầu hết điều dưỡng đều nhận thức được tầm quan trọng của ĐTLT đối với sự phát triển nghề nghiệp của bản thân, vì vậy tỷ lệ điều dưỡng
đã tham gia ĐTLT trong 12 tháng gần nhất khi nghiên cứu tiến hành đều đạt từ 80% đến 97,3%, điều đó chứng tỏ rằng ĐTLT đang phát triển đúng hướng và phần nào đáp ứng được nhu cầu đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của điều dưỡng trong công tác chăm sóc sức khỏe người bệnh Mặc dù vậy, công tác tổ chức ĐTLT, chương trình, nội dung ĐTLT cũng cần được chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp hơn đối với nhu cầu thực tế của người học
1.2.2 Thực trạng công tác đào tạo liên tục tại Việt Nam
Cập nhật liên tục kiến thức, kỹ thuật mới trong quá trình làm việc để hạn chế sai sót về chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển của công việc là một yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các ngành nghề, đặc biệt đối với ngành y, công tác ĐTLT có vai trò rất quan trọng vì
HUPH
Trang 17đối tượng chăm sóc là sức khỏe, tính mạng của con người [10, 16] Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết Trung ương 46/NQ-TƯ (2005) Nghị quyết chỉ rõ “Ngành y là một ngành đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”
Công tác ĐTLT cho cán bộ y tế đã được triển khai từ rất sớm với nhiều hình thức khác nhau như tập huấn, chỉ đạo tuyến, hội thảo, hội nghị, giao ban chuyên môn tại khoa, tại bệnh viện Hiện nay Bộ Y tế đã cấp mã cho 510 cơ sở đào tạo liên tục, trong đó: 106 cơ sở giáo dục chuyên nghiệp (mã A); 72 đơn vị trực thuộc
Bộ, Hội nghề nghiệp trung ương (mã B) và 63 Sở Y tế các tỉnh với 331 đơn vị trực thuộc (Mã C)
Về mặt chính sách, các văn bản pháp quy quản lý nhà nước về ĐTLT trong y
tế cũng được được ban hành và ngày càng hoàn chỉnh Cụ thể, Chính phủ, Bộ Y tế
đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến việc đào tạo, sử dụng, đãi ngộ cán bộ y
tế như Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg về “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 46/NQ-TƯ”, Nghị định số 64/2009/NĐ-CP ngày
30/7/2009 của Chính phủ qui định “Về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế
công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”; Quyết định số 2992/QĐ-BYT ngày 17/07/2015 của Bộ Y tế phê duyệt “Kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2015 – 2020”; Quyết định số 816/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt “Quy hoạch phát triển nhân lực y tế giai đoạn 2012-2020” và nhiều các văn bản, hướng dẫn thực hiện ở nhiều tuyến, nhiều lĩnh vực y tế khác nhau Mặc dù vậy, các văn bản pháp luật do đã được ban hành nhiều năm hoặc do thực tiến có những chuyển biến mới nên đã bộc lộ những thiếu sót cần khắc phục Nhằm đảm bảo chất lượng trong công tác khám chữa bệnh, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật đối với cán bộ y tế, Bộ Y tế đã trình Chính phủ ban hành Luật Khám, chữa bệnh, đồng thời ban hành Thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28/5/2008, Thông tư số 22/2013/TT-BYT hướng dẫn về công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế
Ngày 25-26/03/2015 Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo Bộ Y tế phối hợp
tổ chức The Partnership for Health Advancement in Vietnam (HAIVN) đã tổ chức Hội thảo Kiểm định chất lượng đào tạo liên tục nhân lực y tế, đứng đầu là bác sĩ
HUPH
Trang 18Murray Kopelow, Chủ tịch đồng, Tổng giám đốc Hội đồng Kiểm định chất lượng Đào tạo liên tục y khoa của Mỹ (ACCME), trong thời gian tới sẽ tiến hành kiểm định chất lượng đào tạo liên tục tại các đơn vị ĐTLT [9]
Ngày 26 tháng 6 năm 2014 UBND tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Quyết định số: 278/2014/QĐ-UBND về việc quy định chi tiết một số chế độ, chính sách hỗ trợ đào tạo phát triển kỹ thuật chuyên môn trong ngành y tế
Về cơ sở đào tạo liên tục, ở Việt Nam có các đơn vị được Bộ Y tế cấp phép theo chức năng nhiệm vụ chuyên môn nhằm phát triển các chương trình đạo tạo cho các tuyến Hệ thống các cơ sở đào tạo liên tục tại Việt Nam hiện có: (1) Các trường
Y dược gồm: các trường đại học, cao đẳng, trung cấp đào tạo về chuyên ngành y (có
mã số ĐTLT là A), là các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp được các cấp có thẩm quyền ban hành quyết định thành lập (có 106 cơ sở); (2) Các Viện nghiên cứu và bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế (có mã số ĐTLT là B): Mặc dù không phải là cơ sở đào tạo chính qui nhưng các cơ sở này đã phối hợp rất tốt với các trường Y Dược trong quá trình đào tạo mới, đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế (có 72 cơ sở); (3) Sở Y tế và các đơn vị trực thuộc các tỉnh, thành phố (có mã đào tạo là C): Cơ sở ĐTLT thường đặt tại Bệnh viện đa khoa, Trung tâm Y tế như: Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tổ chức đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Sở Y tế quản lý và cán bộ y tế hành nghề trên địa bàn tỉnh hoặc các tỉnh lân cận (có 60 cơ sở)
Về nguồn lực huy động để đảm bảo cho công tác ĐTLT được huy động từ nhiều nguồn khác nhau Các nguồn lực phát triển ĐTLT, cơ sở vật chất của các trường cũng được tăng cường từ nguồn ngân sách nhà nước, kinh phí của các nhà trường và kinh phí đóng góp từ phía người học, trong đó chủ yếu đầu tư về phòng học, trang thiết bị phục vụ thực hành, thực tập, phục vụ đổi mới quản lý và đổi mới phương pháp giảng dạy Tuy nhiên, việc huy động các nguồn lực để phát triển ĐTLT còn rất hạn chế, chưa huy động được các doanh nghiệp tham gia quá trình ĐTLT
HUPH
Trang 19Công tác đào tạo liên tục tuy đã triển khai trong ngành khá lâu, tuy nhiên khó khăn chủ yếu nhất là cách tổ chức đào tạo và đặc biệt là vấn đề kinh phí cho đào tạo liên tục do vậy Thông tư số 22/2013/TT-BYT cũng đã chỉ ra để có thể triển khai tốt công tác này thì cần phải xây dựng kế hoạch Trên cơ sở đó mới có nguồn lực bao gồm, nhân lực, vật lực và tài lực cho công tác đào tạo liên tục Thông tư có riêng Điều 12 về xây dựng và phê duyệt kế hoạch đào tạo liên tục trong đó đã chỉ ra “Các
cơ sở đào tạo liên tục có trách nhiệm xây dựng kế hoạch trình cấp có thẩm quyền phê duyệt”[24]
Khác với việc thực hiện kế hoạch đào tạo ở các trường y tế theo năm học kéo dài từ tháng 9 năm nay đến tháng 8 năm sau, viêc triển khai công tác đào tạo liên tục chỉ thực hiện từ tháng 1 và đến tháng 12 là phải kết thúc Vì vậy kế hoạch đào tạo liên tục là kế hoạch theo năm tài chính, kế hoạch phải được thẩm định và phê duyệt từ năm trước để năm kế tiếp tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch đào tạo liên tục ở bệnh viện có 2 loại: kế hoạch dài hạn (thường là 5 năm) và kế hoạch hàng năm [24]
Về các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đào tạo liên tục khác như kiến thức hoặc bằng cấp của học viên, động lực tham gia, tính phù hợp của các tài liệu đào tạo, chất lượng giáo viên, tuyến đào tạo…thì có rất ít nghiên cứu trong nước đề cấp đến Các nghiên khảo sát chủ yếu tập trung vào nhu cầu đào tạo liên tục
Hiện có một số nghiên cứu về công tác ĐTLT của điều dưỡng tại các cơ sở y
tế tuyến trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã Các tác giả đều sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang có mô tả hoặc phân tích, kết hợp phương pháp định tính với phương pháp định lượng, đối tượng điều dưỡng được phát vấn bằng bộ câu hỏi tự điền, một số nghiên cứu có tiến hành phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung khi thu thập thông tin
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu năm 2015 về thực trạng đào tạo liên tục của điều dưỡng tại Bệnh viện Phổi Trung ương Phát vấn 224 điều dưỡng khoa lâm sàng cho thấy mức độ sử dụng thường xuyên, mức độ tự tin 2/6 nhiệm vụ chăm sóc người bệnh (chăm sóc PHCN, tư vấn GDSK), 2/13 kỹ thuật điều dưỡng cơ bản
HUPH
Trang 20(cấp cứu ban đầu, bóp bóng ambu, ép tim ngoài lồng ngực); 4/10 kỹ thuật phụ giúp bác sỹ (rửa màng phổi, đặt nội khí quản, mở khí quản, chọc dò màng tim) có tỷ lệ dưới 60%; tỷ lệ về nhu cầu ĐTLT về chăm sóc phục hồi chức năng, tư vấn giáo dục sức khỏe, kỹ thuật cấp cứu ban đầu, bóp bóng ambu, ép tim ngoài lồng ngực, phụ giúp bác sỹ chọc dò màng tim, rửa màng phổi, đặt nội khí quản, mở khí quản là 60-80% Công tác nghiên cứu khoa học có mức độ sử dụng thường xuyên, mức độ tự tin thấp dưới 10,2% [17]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng năm 2016 về ĐTLT của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện C Thái Nguyên được thực hiện trên 118 điều dưỡng Kết quả cho thấy, các nhiệm vụ như tư vấn-GDSK, chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc PHCN, tiêm trong da, các kỹ thuật phụ giúp bác sỹ chọc dò, cấp cứu sốc phản vệ, cho người bệnh ăn qua sonde có mức độ sử dụng và tự tin thấp dưới 50%
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn năm 2014 trên 261 điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh, đánh giá năng lực thực hiện chăm sóc người bệnh của điều dưỡng, chỉ ra rằng: 86,2% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đạt năng lực về thực hành chăm sóc người bệnh, tỷ lệ này khác nhau giữa các trình độ (điều dưỡng ĐH 90,2%; điều dưỡng CĐ 78,9%; điều dưỡng TC 86,6%) Tỷ lệ đạt chuẩn về năng lực chăm sóc của các điều dưỡng viên cụ thể là: dùng thuốc đảm bảo an toàn hiệu quả (89,7%); tiến hành kỹ thuật chăm sóc đúng qui trình (87,4%); giao tiếp hiệu quả với người bệnh và người nhà người bệnh (68,2%); xác định nhu cầu và tổ chức hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà người bệnh (65,9%) Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên hệ giữa năng lực thực hành chăm sóc của điều dưỡng với việc được tham gia các khóa đào tạo ĐTLT (p <0,001) [19]
Năm 2014, tác giả Nguyễn Văn Quang đã tiến hành nghiên cứu 292 điều dưỡng trung cấp tại khoa lâm sàng bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đồng Tháp, nhằm đánh giá năng lực thực hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Kết quả cho thấy: năng lực thực hành về cấp cứu ban đầu, dùng thuốc an toàn cho người bệnh đạt trên 80%; trong khi đó năng lực thực hành nhận định tình trạng sức khỏe, giáo dục sức khỏe cho người bệnh thấp chỉ đạt 30% Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan
HUPH
Trang 21giữa năng lực thực hành của điều dưỡng trung cấp việc được tham gia các khóa ĐTLT [11]
Nghiên cứu của tác giả Phan Quốc Hội, Nguyễn Thị Xuân và cộng sự về năng lực thực hành của sinh viên tốt nghiệp làm việc tại các cơ sở y tế tỉnh Nghệ An cho thấy: năng lực thực hành các kỹ thuật điều dưỡng do điều dưỡng tự đánh giá ở mức độ tốt, khá chiếm tỷ lệ cao (90,3% ); người quản lý đánh giá ở mức độ tốt, khá
là 81,1% Mức độ thực hiện nhiệm vụ tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh thấp (18,3% ) còn người quản lý đánh giá là điều dưỡng chưa thực hiện nhiệm vụ này hoặc có thực hiện nhưng còn nhiều hạn chế [23]
Nghiên cứu “ Đánh giá của cựu sinh viên về chương trình đào tạo cử nhân
hệ vừa học vừa làm tại Trường Đại học điều dưỡng Nam Định” của tác giả Phạm
Thị Hiểu năm 2010 trên 240 người, kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Trong nhóm
kỹ thuật điều dưỡng cơ bản: theo dõi dấu hiệu sinh tồn, tiêm truyền là hai kỹ thuật
có mức độ sử dụng thường xuyên cao (80,0%; 76,8%) và mức độ tự tin của điều dưỡng khi thực hiện kỹ thuật này là 90,6% và 94,4% Các kỹ thuật như thay băng rửa vết thương, chăm sóc vệ sinh, đưa chất dinh dưỡng vào cơ thể, thực hiện chế độ
ăn bệnh lý qua sonde có mức độ sử dụng thấp dưới 50% (dao động từ 32,8% đến 48,8%), mức độ tự tin của ĐTNC khi thực hiện các kỹ thuật này chưa cao (từ 68% đến 80,8%) (2) Trong nhóm kỹ thuật điều dưỡng phức tạp, chuyên sâu như: phụ giúp bác sỹ chọc dò màng phổi, màng tim, chọc dịch não tủy, đặt nội khí quản, mở khí quản, mức độ sử dụng và mức độ tự tin thấp dưới 50% (từ 17,6 % đến 45,6% ) [7]
Năm 2010, tác giả Nguyễn Việt Cường tiến hành nghiên cứu về nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng tại 14 trạm Y tế phường quận Ba Đình, Hà Nội được thực hiện trên 56 điều dưỡng và 14 trạm trưởng Kết quả: có 05/19 nhiệm vụ của điều dưỡng được sử dụng thường xuyên (trên 80%) là đón tiếp người bệnh, tiêm bắp, đo dấu hiệu sinh tồn, rửa tay thường qui, tiệt khuẩn, khử khuẩn dụng cụ, khoa phòng Công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe được điều dưỡng thực hiện thường xuyên
và tự tin (trên 70%) Một số kỹ thuật bản thân điều dưỡng tự nhận là tự tin khi thực hiện (trên 70%), tuy nhiên do đặc thù công việc nên mức độ sử dụng không thường
HUPH
Trang 22xuyên như: thay băng cắt chỉ, tiêm tĩnh mạch Các kỹ thuật chuyên sâu không có trong danh mục kỹ thuật nên không được thực hiện tại trạm y tế [4]
Tác giả Nguyễn Đức Trường tiến hành nghiên cứu về thực hiện nhiệm vụ và nhu cầu đào tạo liên tục của cán bộ trạm Y tế thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2016- 2020 trên 165 cán bộ trạm y tế Kết quả: 7/11 nhiệm vụ của điều dưỡng có mức độ thực hiện thường xuyên, mức độ tự tin thấp dưới 30% đó là nhận định tình trạng, chăm sóc người bệnh nội khoa, ngoại khoa, sản phụ khoa; nhận định tình trạng, chăm sóc người bệnh truyền nhiễm; chăm sóc một số bệnh chuyên khoa; chăm sóc và hướng dẫn phục hồi chức năng; các kỹ thuật điều dưỡng
cơ bản, theo dõi dấu hiệu sinh tồn, tư vấn, giáo dục truyền thông mức độ thực hiện thường xuyên và mức độ tự tin là 61% đến 92% [18]
Kết quả các nghiên cứu cho thấy, có một số kỹ thuật điều dưỡng cơ bản, kỹ thuật điều dưỡng chuyên sâu tại các cơ sở y tế tuyến trung ương, tuyến tỉnh cũng như tuyến huyện, mức độ sử dụng thường xuyên trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ, mức tự tin của điều dưỡng khi thực hiện các kỹ thuật này đều có tỷ lệ chưa cao (dưới 50%) gồm có chăm sóc phục hồi chức năng, tư vấn giáo dục sức khỏe, cấp cứu ban đầu, bóp bóng ambu, ép tim ngoài lồng ngực, phụ giúp bác sỹ chọc dò màng bụng, màng tim, đặt và mở nội khí quản Đối với điều dưỡng làm việc tại trạm y tế thì tư vấn giáo dục sức khỏe, đo dấu hiệu sinh tồn là hai kỹ thuật có mức
độ sử dụng, mức độ tự tin cao, còn các kỹ thuật điều dưỡng chuyên sâu không trong danh mục được phê duyệt và không thực hiện tại tuyến xã nên mức độ sử dụng, mức độ tự tin của điều dưỡng khi thực hiện các kỹ thuật này thấp Các điều dưỡng
đều có mong muốn được đào tạo lại các nội dung như: tư vấn-GDSK, một số thu
thủ thuật phụ giúp bác sỹ (chọc dò màng ngoài tim, đặt nội khí quản ) Nghiên cứu
về ĐTLT đối với điều dưỡng tại trạm y tế xã, phường, thị trấn có một số điểm chưa phù hợp đó là bộ công cụ (bảng hỏi) chưa sát với công việc thực tế của điều dưỡng
và danh mục kỹ thuật điều dưỡng được thực hiện tại trạm y tế
Nhìn chung, các nghiên cứu đều được tiến hành ở nhiều địa phương khác nhau và đánh giá nhiều lĩnh vực y tế khác nhau Hầu hết các đánh giá cho thấy thực trạng đào tạo liên tục chưa đáp ứng được kết quả mong đợi do nguồn lực yếu (nhân
HUPH
Trang 23lực, vật lực, tài lực) hơn nữa các hình thức đào tạo chưa phù hợp và cần được cải tiến tốt hơn
1.2.3 Thực trạng công tác đào tạo liên tục trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Tỉnh Bắc Ninh đã được Bộ Y tế cấp mã ĐTLT (C30.01) cho 01 cơ sở y tế (Bệnh viện Đa khoa tỉnh) có một Trường trung cấp Y tế
Từ năm 2014, các cơ sở đào tạo này đã triển khai nhiều khóa ĐTLT cho cán
bộ y tế trên địa bàn tỉnh, từ tuyến tỉnh đến trạm y tế xã, phường, thị trấn với các đối tượng là bác sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, trong đó hai đối tượng tham gia ĐTLT nhiều nhất là bác sỹ và điều dưỡng Hàng năm, các cơ sở ĐTLT đều xây dựng kế hoạch tuyển sinh, đào tạo liên tục và triển khai rộng rãi đến các đơn vị trong ngành Do nhu cầu thực tế công việc cũng như nhu cầu nâng hạng cơ sở y tế, phát triển chuyên môn kỹ thuật công tác ĐTLT tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh được triển khai thường xuyên và rộng rãi đến CBYT, nhiều kỹ thuật mới được cập nhật liên tục thông qua các chương trình, dự án, hoặc liên kết với các CBYT có trình độ
ở tuyến trung ương về đào tạo, tập huấn tại cơ sở y tế Các cơ sở y tế tuyến huyện chủ yếu cử CBYT (bác sỹ, điều dưỡng) đi ĐTLT tại cơ sở ĐTLT tuyến tỉnh, số lượng CBYT đi ĐTLT tại tuyến trung ương còn hạn chế
CBYT đều đã được đào tạo bài bản tại các trường chuyên nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân, họ được cấp chứng nhận về chuyên môn theo qui định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo Tuy nhiên trong quá trình hoạt động nghề nghiệp do tính chất công việc và diễn biến bệnh tật ngày càng phức tạp, cán bộ Y tế (CBYT) luôn
có nhu cầu đào tạo để củng cố kiến thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ nhằm đảm bảo chất lượng công việc, thăng tiến trong công việc và đáp ứng được sự tiến
bộ trong khoa học kỹ thuật, nếu không cập nhật thường xuyên CBYT sẽ không đáp ứng được nhiệm vụ được giao và bị tụt lùi so với sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật [1, 8]
1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam, 822,8 km², thuộc Đồng bằng sông Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Bắc Ninh tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang Thành phố Bắc Ninh nằm cách trung
HUPH
Trang 24tâm Hà Nội 30 km về phía đông bắc Tỉnh Bắc Ninh phía tây và tây nam giáp thủ đô
Hà Nội, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông và đông nam giáp tỉnh Hải Dương, phía nam giáp tỉnh Hưng Yên Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 5.129
USD/năm (Theo Wikipedia) Hệ thống y tế tỉnh Bắc Ninh gồm có 7 bệnh viện đa
khoa huyện (7/7 là bệnh viện hạng II) với biên chế là 1022 người, trong đó Điều dưỡng là 290 người (SĐH 01, ĐH 65, CĐ 44, TC 180)
1.7.1 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu bệnh viện hạng II
* Chức năng, nhiệm vụ
- Cấp cứu-Khám bệnh-Chữa bệnh
- Đào tạo cán bộ y tế
- Nghiên cứu khoa học về y học
- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật
(Chi tiết xem phụ lục 2)
1.7.2 Công tác đào tạo liên tục tại bệnh viện đa khoa huyện
Qua thống kê 7/7 Bệnh viện đa khoa tuyến huyện có xây dựng kế hoạch đào tạo hàng năm và ĐTLT Tuy nhiên, thực tế số lượng CBYT được cử đi ĐTLT chưa nhiều, chưa đạt chuẩn về thời lượng
- Tỷ lệ CBYT cử đi đào tạo theo kế hoạch ĐTLT chiếm 40-45% tổng số cán bộ,
tỷ lệ CBYT thực tế đi ĐTLT đạt 70-80 % kế hoạch đề ra Trong đó: Tỷ lệ điều dưỡng cử đi ĐTLT chiếm 30-40% số CBYT cử đi ĐTLT
- ĐTLT của điều dưỡng (được cấp chỉnh chỉ) chủ yếu được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh (khoảng 80-85%), còn lại đi ĐTLT tại tuyến trung ương
HUPH
Trang 25- Điều dưỡng cử đi tập huấn về chuyên môn điều dưỡng đều theo các dự án, chương trình, các đơn vị chưa xây dựng chương trình, kế hoạch tập huấn tại đơn vị cho điều dưỡng
Đào tạo liên tục chưa được triển khai rộng rãi cho các CBYT trong toàn đơn
vị, có triển khai cũng mang tính hình thức, lý thuyết Sự phân bổ các nội dung, kỹ thuật điều dưỡng đi ĐTLT chưa hợp lý, chưa cân đối giữa các khoa phòng, các kỹ thuật sử dụng thường xuyên và cá nhân thực hiện tự tin lại cử đi ĐTLT, những kỹ thuật mới cần thiết để triển khai áp dụng trong giai đoạn tới thì không được ĐTLT, nhân rộng
Thời gian tới các bệnh viện sẽ tự chủ một phần và tiến tới hoàn toàn về kinh phí, cơ cấu tổ chức, bác sỹ, điều dưỡng là hai đối tượng chính đảm bảo cho chất lượng hoạt động của cơ sở y tế Do đó, tổ chức ĐTLT nâng cao chất lượng đội ngũ điều dưỡng trong giai đoạn tới là cấp thiết và quan trọng đối với các bệnh viện đa khoa tuyến huyện
Thông qua nghiên cứu này, tôi có cơ sở để khuyến nghị đối với Lãnh đạo bệnh viện về công tác tổ chức, xây dựng Kế hoạch ĐTLT trong mjuwngx năm tiếp theo nhằm đưa công tác ĐTLT thiết thực, phù hợp với nhu cầu của CBYT và thực
tế công việc
1.8 Khung lý thuyết
Căn cứ vào cơ cấu tổ chức, quản lý công tác ĐTLT (Sở Y tế, Bệnh viện Đa khoa huyện, cơ sở ĐTLT), đối tượng được đào tạo liên tục (điều dưỡng), cũng như kết quả khảo sát nhanh về thực trạng, nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện đa khoa huyện, qui định về chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với điều dưỡng, chúng tôi xây dựng khung lý thuyết như sau:
HUPH
Trang 26KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU Nhóm yếu tố cá nhân
- Thời điểm đào tạo
- Thời gian đào tạo
- Địa điểm đào tạo
- Kinh phí thực hiện
HUPH
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng
- Điều dưỡng các khoa lâm sàng (là biên chế chính thức của 4 bệnh viện đa khoa tuyến huyện): Khoa Nội, khoa Ngoại, Khoa Sản (hoặc khoa Ngoại Sản), Khoa Nhi, Khoa Liên chuyên khoa, Khoa Hồi sức cấp cứu, khoa Y học cổ truyền, khoa Phục hồi chức năng, khoa Gây mê hồi sức
- Báo cáo, kế hoạch về công tác đào tạo liên tục năm 2016, 2017
2.1.2 Nghiên cứu định tính
- Đại diện Lãnh đạo bệnh viện (phụ trách công tác đào tạo)
- Các trưởng khoa lâm sàng
- Điều dưỡng trưởng khoa các khoa lâm sàng
- Giám đốc trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến-Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Điều dưỡng hợp đồng, nữ 54 tuổi trở lên, nam 59 tuổi trở lên
- Điều dưỡng đang nghỉ thai sản, đi học, nghỉ ốm trong thời gian tiến hành nghiên cứu
- Các đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu: Từ 4/2018 đến 7/2018
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: 04 bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh
(BVĐK thị xã Từ Sơn, huyện: Yên phong, Quế Võ, Thuận Thành)
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Phương pháp định lượng
Cỡ mẫu: Áp dụng phương pháp mẫu toàn bộ, tất cả điều dưỡng khoa lâm
sàng của 04 bệnh viện đa khoa thị xã Từ Sơn, huyện Yên phong, huyện Quế Võ,
HUPH
Trang 28huyện Thuận thành có mặt và thỏa mãn là đối tượng nghiên cứu sẽ được mời tham gia nghiên cứu, với cỡ mẫu là 169 người
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ (điều dưỡng các khoa lâm sàng
của 04 bệnh viện đa khoa: thị xã Từ Sơn, huyện Yên phong, huyện Quế Võ, huyện Thuận Thành)
2.4.2 Phương pháp định tính
Cỡ mẫu: 13 người
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích (những người liên quan đến
công tác tổ chức, quản lý, theo dõi đào tạo liên tục) gồm có:
- 01 Giám đốc trung tâm chỉ đạo tuyến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh
- 04 Đại diện lãnh đạo 04 Bệnh viện đa khoa nghiên cứu
- 04 Trưởng khoa lâm sàng (Khoa Nội, Ngoại, Sản, Nhi)
- 04 Điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng (Khoa Nội, Ngoại, Sản, Nhi)
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Sử dụng số liệu về công tác đào tạo liên tục trong năm 2016, 2017 từ báo cáo, bảng tổng hợp của các bệnh viện đa khoa tuyến huyện, cơ sở đào tạo liên tục,
báo cáo của phòng Nghiệp vụ Y và phòng Tổ chức Cán bộ Sở Y tế (phụ lục 3)
2.5.2 Thu thập số liệu sơ cấp
* Thu thập số liệu định lượng
Công cụ thu thập: Căn cứ qui định tại Thông tư số
26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 7/10/2015 của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ qui định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên y; Hướng dẫn thực hành 55 kỹ thuật điều dưỡng cơ bản của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam năm 2010; Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện; Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam theo Quyết định số 1352/QĐ-BYT ngày 24/4/2012 của Bộ Y tế; Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 9/8/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế; Tham khảo danh mục kỹ thuật điều dưỡng, bản mô tả công việc hàng
HUPH
Trang 29ngày của điều dưỡng 04 bệnh viện nghiên cứu và căn cứ vào khung lý thuyết để xây dựng bộ câu hỏi phát vấn tự điền
Theo qui định tại Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ điều dưỡng được chia thành 3 chức danh nghề nghiệp tương ứng với các trình độ chuyên môn Thực tế các bệnh viện tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh chỉ có viên chức điều dưỡng hạng III, hạng IV thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng như nhau Vì vậy, tôi xây dựng bộ câu hỏi sử dụng chung cho điều dưỡng có trình độ đại học (điều dưỡng hạng III), điều dưỡng có trình độ cao đẳng, điều dưỡng trung cấp (điều
dưỡng hạng IV) (phụ lục 4)
Trước khi xây dựng bộ câu hỏi chúng tôi đã phỏng vấn nhanh điều dưỡng trưởng bệnh viện, điều dưỡng trưởng khoa và kiểm tra các bảng mô tả công việc theo vị trí việc làm của điều dưỡng tại bệnh viện Thử nghiệm bộ câu hỏi với 02 đối tượng điều dưỡng, 02 điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng, sau đó chỉnh sửa, bổ sung nội dung câu hỏi
Phương pháp thu thập: Học viên đặt lịch hẹn với Lãnh đạo bệnh viện, thông
báo lịch làm việc với các trưởng khoa lâm sàng, điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng Lập danh sách điều dưỡng các khoa lâm sàng, lựa chọn ĐTNC theo tiêu chuẩn Tiến hành phát vấn ĐTNC với bộ câu hỏi tự điền (thông báo mục đích của nghiên cứu, hướng dẫn cách điền phiếu) Thu và kiểm tra phiếu phát vấn đảm bảo về số lượng, chất lượng
* Thu thập số liệu định tính
Công cụ thu thập: Hướng dẫn phỏng vấn sâu đối với Lãnh đạo bệnh viện,
trưởng khoa lâm sàng, điều dưỡng trưởng khoa của bệnh viện nghiên cứu; Gám đốc
trung tâm chỉ đạo tuyến của cơ sở đào tạo liên tục (phụ lục 5)
Phương pháp thu thập: Học viên đặt lịch hẹn với Lãnh đạo đơn vị và các đối
tượng phỏng vấn sâu, tiến hành phỏng vấn ĐTNC với phiếu câu hỏi đã xây dựng,
có ghi âm, ghi biên bản Thời gian trung bình 30 đến 40 phút/01 cuộc phỏng vấn
HUPH
Trang 302.6 Các biến số nghiên cứu
Dựa vào mục tiêu nghiên cứu, khung lý thuyết và tài liệu tổng quan, tiến
hành xây dựng biến số nghiên cứu (phụ lục 6) Các nhóm biến chính sử dụng trong
Biến số/chủ đề về một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo liên tục tại các bệnh viện:
- Nhóm yếu tố liên quan tới cơ chế, chính sách:
- Nhóm yếu tố liên quan tới nhu cầu
- Nhóm yếu tố liên quan tới hoạt động cung cấp dịch vụ (số lương bệnh nhân, hoạt động ngoại tuyến, )
- Nhóm yếu tố liên quan tới kinh phí
- Khó khăn và thách thức
2.7 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu định lượng: Số liệu thu thập được làm sạch, mã hóa Tiến hành nhập
bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0
Số liệu định tính: Tiến hành gỡ băng, kiểm tra lại biên bản phỏng vấn, liệt kê
theo chủ đề câu hỏi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu Trích dẫn nội dung phỏng vấn theo từng chủ đề để phân tích (công tác tổ chức ĐTLT tại bệnh viện đa khoa huyện, tại cơ sở ĐTLT, chất lượng công việc sau khi cử đi ĐTLT, nhu cầu ĐTLT trong năm 2018)
HUPH
Trang 312.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ theo những quy định của đạo đức trong nghiên cứu Nghiên cứu chỉ được triển khai thực hiện khi đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua
Nghiên cứu được sự đồng ý của Lãnh đạo Sở Y tế, Lãnh đạo bệnh viện đa khoa huyện, Lãnh đạo cơ sở đào tạo liên tục
Trước khi tiến hành nghiên cứu, các ĐTNC được giải thích về mục đích, nội dung nghiên cứu và nghiên cứu chỉ thực hiện khi các ĐTNC đồng ý tham gia
Các thông tin cá nhân của ĐTNC được giữ kín Số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không sử dụng cho các mục đích khác
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho Lãnh đạo Sở Y tế, Lãnh đạo bệnh viện có chiến lược, kế hoạch đào tạo liên tục phù hợp với tình hình hiện tại và trong giai đoạn tiếp theo Đồng thời giúp cho các cơ sở đào tạo liên tục trên địa bàn tỉnh bổ sung, điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo cho phù hợp với nhu cầu của người học
HUPH
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
là 23 Phân theo nhóm tuổi thì ĐTNC từ 20-30 tuổi chiếm đa số (54,4%), tiếp theo
là nhóm 31-40 tuổi chiếm 36,7%, chỉ có 8,9% là cán bộ ở độ tuổi trên 40 Nữ giới chiếm đa số 79,9% Trình độ chuyên môn đa số là trung cấp, cao đẳng 17,8%, đại
HUPH
Trang 33học 24,9% và chỉ có 2 người là được đào tạo sau đại học Cán bộ điều dưỡng làm việc tại khoa ngoại, sản là nhiều nhất chiếm 23,7%, tiếp theo là khoa Nội tổng hợp, các khoa khác chiếm tỷ trọng dưới 19% Thâm niên công tác từ 6-9 năm chiếm đa
số 42% Dưới 5 năm là 33,7% và trên hoặc bằng 20 năm chỉ chiếm có 5,3%
3.2 Thực trạng đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại các bệnh viện huyện
Bảng 3.2 Thông tin về khóa ĐTLT đã tham gia tại BVĐK huyện
(n=169) Tỷ lệ (%)
Cơ sở tổ chức
khóa ĐTLT
Cá nhân và đơn vị cùng cho trả 43 25,4
đi theo diện này Trong hai năm 2016, 2017 số cán bộ tham gia tập huấn 1 lần chiếm 33,7%, trong khi đó 2 lần, 3 lần và trên 3 lần chiếm tỷ lệ lần lượt là 20,7%, 16,6% và 29,0%
HUPH
Trang 34Bảng 3.3 Hiểu biết và nhận xét về đào tạo liên tục
(n=169) Tỷ lệ (%) Được cập nhật thông
tin về đào tạo liên tục
Hiểu biết của ĐTNC
về thời gian đào tạo
liên tục bắt buộc đối
với nhân viên y tế
HUPH
Trang 35Bảng 3.4 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở tất cả các khoa (n=130)
Stt Kỹ thuật
Điều dưỡng hạng III Điều dưỡng hạng IV Mức độ thực hành Mức độ tự tin Mức độ thực hành Mức độ tự tin Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Không thực hiện Tự tin Ít tự tin
Không
tự tin
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không thực hiện Tự tin Ít tự tin
HUPH
Trang 36Nhận xét: Về mức độ thực hành, mức độ tự tin khi thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cho thấy mức độ thực hành, mức độ
tự tin khi thực hiện các kỹ thuật ĐDLS có khác nhau giữa các khoa chuyên môn Có sự phù hợp giữa mức độ thực hành và mức
độ tự tin trong công việc điều dưỡng: thực hành thường xuyên thì mức độ tự tin sẽ tăng lên tương ứng, ngược lại ít thực hành thì mức độ tự tin giảm tương ứng Ví dụ, kỹ thuật đo các chỉ số sinh tồn vì điều dưỡng làm thường xuyên, nên khi hỏi về mức độ tự tin thì 100% cho rằng tự tin thực hiện kỹ thuật này Ngược lại, kỹ thuật chuẩn bị đặt catheter tĩnh mạch trung tâm thì mức độ thực hành kỹ thuật này ít ở tuyến huyện nên khi được hỏi về mức độ tự tin cũng không cao
Bảng 3.5 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở Khoa Nội, Hồi sức cấp cứu (n=50)
Stt Kỹ thuật
Điều dưỡng hạng III Điều dưỡng hạng IV Mức độ thực hành Mức độ tự tin Mức độ thực hành Mức độ tự tin Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Không thực hiện
Tự tin Ít tự tin Không tự tin Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Không thực hiện
Tự tin Ít tự tin Không tự tin
Trang 37Nhận xét: Mức độ thường xuyên trong 12 kỹ thuật của khoa nội, hồi sức cấp cứu nhiều nhất là kỹ thuật thở oxy qua mask
và ống mở khí quản, chiếm 90,9% đối với điều dưỡng hạng III Tương tự tỷ lệ thực hiện kỹ thuật này do điều dưỡng hạng IV
HUPH
Trang 38Bảng 3.6 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở Khoa Gây mê hồi sức, phòng mổ (n=1)
Stt Kỹ thuật
Điều dưỡng hạng III Điều dưỡng hạng IV Mức độ thực hành Mức độ tự tin Mức độ thực hành Mức độ tự tin Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Không thực hiện Tự tin Ít tự tin
Không
tự tin
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không thực hiện Tự tin Ít tự tin
Không
tự tin
Số ĐTNC/Tỷ lệ % (n=0) Số ĐTNC/Tỷ lệ % (n=1)
1
Rửa tay ngoại
khoa (rửa tay
xuyên
Thỉnh thoảng
Không thực hiện Tự tin Ít tự tin
Không
tự tin Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không thực hiện Tự tin Ít tự tin
Trang 394 Thay băng hậu
môn nhân tạo
Bảng 3.8 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở Khoa Nhi, Khoa Sản (n=32)
Stt Kỹ thuật
Điều dưỡng hạng III Điều dưỡng hạng IV Mức độ thực hành Mức độ tự tin Mức độ thực hành Mức độ tự tin Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Không thực hiện Tự tin Ít tự tin
Không
tự tin Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không thực hiện Tự tin Ít tự tin