ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ có con từ 7-12 tháng tuổi tại Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai năm
2022 tính đến thời điểm thu thập số liệu
Bà mẹ có con từ 7-12 tháng tuổi (trẻ sinh từ 01/3/2021-31/7/2021), đang sinh sống tại thành phố Pleiku vào thời điểm thu thập số liệu (01/3/2022 – 30/4/2022)
- Bà mẹ từ chối tham gia vào nghiên cứu
- Bà mẹ hoặc con của bà mẹ có các bệnh tật khác không dùng sữa mẹ theo chỉ định của bác sĩ
- Bà mẹ không có khả năng nhận thức hay trả lời phỏng vấn.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2021 đến tháng 10/2022, với thời gian thu thập số liệu diễn ra từ ngày 01/3/2022 đến ngày 30/4/2022 Địa điểm nghiên cứu là thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang phân tích.
Cỡ mẫu nghiên cứu
- Áp dụng công thức ước tính cỡ mẫu một tỷ lệ: n = Z 2 1-α/2 p(1-p) d 2 X DE
+ n = Tổng số bà mẹ có con 7-12 tháng tham gia nghiên cứu
+ Z1-α/2 = 1,96 (Hệ số tin cậy với khoảng tin cậy là 95%)
+ p = 0,266 (Tỷ lệ bà mẹ thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 06 tháng đầu - theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Trường
Để giảm yếu tố tác động của việc chọn mẫu cụm, hiệu lực thiết kế được xác định là DE = 1,5 Áp dụng công thức tính toán, số lượng bà mẹ có con từ 7-12 tháng cần khảo sát là n = 229 Để dự phòng cho 5% các trường hợp bà mẹ chuyển địa điểm sinh sống, từ chối trả lời hoặc vắng mặt trong thời gian thu thập số liệu, cỡ mẫu cuối cùng được điều chỉnh lên 240.
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo 02 giai đoạn:
Trong giai đoạn 1, việc chọn xã/phường được thực hiện bằng cách coi mỗi phường/xã là một cụm Thành phố Pleiku có tổng cộng 14 phường và 9 xã, và đã tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên 2 phường và 1 xã Kết quả bốc thăm cho thấy phường Chi Lăng, phường Diên Hồng và xã Ia Kênh đã được chọn.
Giai đoạn 2 của nghiên cứu tập trung vào việc chọn bà mẹ để phỏng vấn Chúng tôi đã lập danh sách toàn bộ các bà mẹ có con từ 7-12 tháng tuổi tại phường Chi Lăng, phường Diên Hồng và xã Ia Kênh tính đến ngày 01/3/2022, bao gồm những bà mẹ có con sinh từ 01/3/2021 đến 31/7/2021 Danh sách này ghi nhận 255 bà mẹ, và chúng tôi đã tiến hành điều tra toàn bộ số bà mẹ tại 2 phường và 1 xã, thu thập được dữ liệu từ 240 bà mẹ.
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu:
Phiếu thu thập số liệu là bộ câu hỏi định lượng có cấu trúc, được xây dựng dựa trên Quyết định 5913/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu "Tiêu chí và hướng dẫn đánh giá công nhận Bệnh viện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ xuất sắc" và đánh giá thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của WHO Bộ câu hỏi này cũng tham khảo các nghiên cứu liên quan, bao gồm nghiên cứu của Nguyễn Thanh Trường (2019), Lâm Thị Thiên Trang (2020) và Huỳnh Ngọc Viễn (2014) Trước khi áp dụng, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 10 bà mẹ có con từ 7-12 tháng tuổi tại xã.
Biển Hồ, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp giữa điều tra viên và bà mẹ, cán bộ tại Trạm Y tế của phường/xã nên sử dụng tiếng dân tộc Kinh và các ngôn ngữ của dân tộc thiểu số khác.
2.6.2 Quy trình thu thập số liệu và xử lý số liệu: Điều tra viên đi thu thập thông tin là các cán bộ tại trạm Y tế xã/phường, mỗi trạm y tế (TYT) chọn 1 người làm điều tra viên, cán bộ trạm y tế nào thì thực hiện điều tra tại xã/phường đó
Tập huấn thu thập số liệu cho điều tra viên được tổ chức tại Trung tâm Y tế thành phố, bao gồm một ngày lý thuyết và thực hành phỏng vấn Các điều tra viên được hướng dẫn kỹ năng phỏng vấn và ghi chép vào phiếu trả lời Học viên trực tiếp tham gia giảng dạy, cùng với sự hỗ trợ của hai học viên từ lớp thạc sĩ Y tế công cộng tại Kon Tum, nhằm chuẩn bị cho việc giám sát sau này.
Giám sát viên bao gồm học viên và hai học viên khác trong lớp, đã hỗ trợ điều tra viên trong hai ngày đầu tại thực địa Sau đó, họ thu phiếu hàng tuần và kiểm tra tính chính xác của phiếu Để đảm bảo độ tin cậy, 10% số phiếu được bốc thăm ngẫu nhiên để phúc tra, thông qua việc hỏi trực tiếp tại nhà hoặc gọi điện thoại.
Nhóm biến số nghiên cứu
Nhóm biến số nhân khẩu học của bà mẹ bao gồm tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thành phần sống chung trong gia đình, tình trạng hôn nhân và kinh tế hộ gia đình.
Nhóm biến số liên quan đến yếu tố y sinh bao gồm: số con hiện có, nơi sinh của trẻ, phương pháp sinh, giới tính của trẻ, thứ tự con trong gia đình, cân nặng khi sinh, tuổi thai khi sinh, và tình trạng sức khỏe của bé sau sinh.
Nhóm biến số liên quan đến yếu tố tiếp cận thông tin bao gồm nguồn thông tin về NCBSMHT, thời điểm nhận thông tin, số lần cán bộ y tế hướng dẫn về NCBSMHT, thời điểm tiếp cận thông tin từ quảng cáo NCBSMHT, tần suất bà mẹ tiếp xúc với quảng cáo sữa công thức, và sự ảnh hưởng của quảng cáo sữa công thức trên các phương tiện truyền thông đến NCBSMHT Bên cạnh đó, sự ủng hộ từ các thành viên trong gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bà mẹ thực hiện NCBSM.
Nhóm biến số kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn bao gồm: thời điểm lý tưởng để cho trẻ bú sau sinh, hiểu biết về sữa non, lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) đối với trẻ, lợi ích của NCBSM đối với mẹ, và các biện pháp cần thực hiện để duy trì nguồn sữa đầy đủ.
HUPH cho trẻ là một khái niệm quan trọng trong việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ, đặc biệt là trong giai đoạn NCBSMHT Thời gian NCBSMHT theo khuyến cáo cần được tuân thủ để đảm bảo sức khỏe cho trẻ Bên cạnh đó, việc cung cấp kiến thức về cách thực hiện bữa ăn cho trẻ khi mẹ phải đi làm, đặc biệt là đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi, là rất cần thiết để đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ cho trẻ.
Nhóm biến số quan trọng trong việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu bao gồm thời điểm cho trẻ bú sữa mẹ lần đầu, nguyên nhân không cho trẻ bú trong 1 giờ đầu sau sinh, và việc nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Ngoài ra, cần xem xét việc cho trẻ uống nước sau khi bú, lý do cho trẻ uống nước trong giai đoạn này, và thời điểm lần đầu tiên trẻ được uống nước Việc cho trẻ ăn hoặc uống thêm thức ăn ngoài sữa mẹ cũng cần được chú ý, cùng với lý do và thời gian lần đầu tiên trẻ được ăn/uống thêm ngoài sữa mẹ Chi tiết được trình bày ở phụ lục 1.
Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Tiêu chuẩn đánh giá về kiến thức NCBSMHT trong 6 tháng đầu
- Kiến thức về cho trẻ bú sớm sau sinh (D1.1 tổng 1 điểm): Đạt khi 1 điểm, chưa đạt khi 0 điểm
- Kiến thức về sữa non (D1.2 tổng 3 điểm): Đạt khi từ 2 điểm trở lên, không đạt khi dưới 2 điểm
- Kiến thức về lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ đối với trẻ (D2.1 tổng 6 điểm): Đạt khi từ 4 điểm trở lên, không đạt khi dưới 4 điểm
- Kiến thức về lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ đối với mẹ (D2.2 tổng 7 điểm): Đạt khi đạt từ 4 điểm trở lên, không đạt khi dưới 4 điểm
- Kiến thức về duy trì đủ sữa cho trẻ bú (D2.3 tổng 5 điểm): Đạt khi từ 3 điểm trở lên, không đạt khi dưới 3 điểm
- Kiến thức định nghĩa về “Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn” (D3.1 tổng 1 điểm): Đạt khi 1 điểm, chưa đạt khi 0 điểm
- Kiến thức về hiểu thời gian khuyến cáo NCBSMHT (D3.2 tổng 1 điểm): Đạt khi 1 điểm, chưa đạt khi 0 điểm
- Kiến thức đúng về chuẩn bị thức ăn cho trẻ dưới 6 tháng tuổi khi mẹ đi làm (D3.3 tổng 1 điểm): Đạt khi 1 điểm, chưa đạt khi 0 điểm
- Phần đánh giá kiến thức về NCBSMHT trong 6 tháng đầu được tổ hợp tính điểm từ các câu hỏi phần D trong bảng hỏi, gồm 8 câu hỏi từ phần D1.1 đến
D3.3 bao gồm 8 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng sẽ được tính 1 điểm Chi tiết về cách chấm điểm cho từng câu và từng ý có thể được tham khảo trong phụ lục số 3 Tổng điểm tối đa cho 8 câu là 8 điểm, với điểm thấp nhất là 0.
Sử dụng giá trị phân vị 50% làm điểm phân cắt, điểm cắt được xác định là 13 điểm, dựa trên nghiên cứu của tác giả Lâm Thị Thiên Trang Kiến thức về NCBSMHT trong 6 tháng đầu của bà mẹ được phân loại theo tiêu chí này.
+ Kiến thức NCBSMHT trong 6 tháng đầu đạt khi tổng điểm từ 13-25 điểm
+ Kiến thức NCBSMHT trong 6 tháng đầu chưa đạt khi tổng điểm từ 0-12 điểm
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành đạt về NCBSMHT trong 6 tháng Đánh giá thực hành NCBSMHT tham khảo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Trường (2019) (10) và nghiên cứu của Lâm Thị Thiên Trang (11):
Thời điểm bắt đầu nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là khoảng thời gian từ khi trẻ sinh ra cho đến lần đầu tiên được bú sữa mẹ Việc cho trẻ bú sớm sau sinh rất quan trọng, với tỷ lệ trẻ sơ sinh được bú trong vòng một giờ đầu sau khi sinh mà không sử dụng bất kỳ loại thức uống nào khác ngoài sữa mẹ.
Trong 6 tháng đầu, NCBSMHT khuyến khích trẻ được bú mẹ hoàn toàn cho đến khi tròn 6 tháng tuổi Điều này có nghĩa là trẻ chỉ được bú mẹ mà không được ăn hay uống bất kỳ thức ăn hoặc đồ uống nào khác, kể cả nước chín, trừ khi có chỉ định uống bổ sung ORS, vitamin, khoáng chất hoặc thuốc từ bác sĩ.
Tiêu chí đánh giá thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT) bao gồm ba tiêu chí quan trọng: thời gian bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, không cho trẻ ăn bất kỳ thực phẩm nào khác ngoài sữa mẹ trong 6 tháng đầu, và không cho trẻ uống bất kỳ đồ uống nào khác ngoài sữa mẹ trong 6 tháng đầu Mỗi tiêu chí được đánh giá bằng điểm, với 1 điểm cho việc thực hiện đầy đủ và 0 điểm cho việc không thực hiện Tổng điểm tối đa cho thực hành là 3 điểm, và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu được coi là đạt yêu cầu khi bà mẹ có tổng điểm là 3.
+ Thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu không đạt khi tổng điểm thực hành của bà mẹ < 3 điểm
+ Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu định lượng được làm sạch trước khi nhập liệu vào phần mềm epidata 3.1 Sau đó được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 22.0
Sử dụng phép thống kê mô tả: Tính tần số (N), tỷ lệ phần trăm (%) đối với biến định tính; số trung bình (mean) đối với biến định lượng
Phân tích đơn biến nhằm xác định mối liên hệ giữa các yếu tố như nhóm tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con hiện tại, hoàn cảnh sống, thứ tự con, giới tính và nơi sinh của trẻ, phương pháp sinh, cân nặng khi sinh, tuổi thai, nguồn thông tin, thời điểm nhận thông tin, số lần cán bộ y tế hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ, sự ủng hộ của gia đình, cùng với kiến thức của bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ và thực hành trong 6 tháng đầu Phương pháp thống kê được áp dụng bao gồm test χ2 hoặc test chính xác Fisher, tính toán tỷ lệ odds (OR), khoảng tin cậy 95% (95%CI) và giá trị p.
Phân tích đa biến được sử dụng để loại trừ các yếu tố nhiễu và xác định mối liên quan giữa thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ với các yếu tố như nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, giới tính của trẻ và tuổi thai.
Tỷ số chênh (OR) và khoảng tin cậy 95% của OR (CI95% OR) được sử dụng để xác định độ mạnh của mối liên quan và tính giá trị p Kết quả được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
Các kết quả phân tích số liệu được trình bày dưới dạng các bảng và hình, biểu đồ.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành sau khi Hội đồng Đạo đức của trường Đại học
Y tế công cộng đã phê duyệt nghiên cứu theo quyết định số 1/2022/YTCC-HD3 ngày 04 tháng 01 năm 2022, với sự tham gia hoàn toàn tự nguyện của các đối tượng nghiên cứu Chúng tôi cam kết tư vấn cho các bà mẹ nếu cần thiết sau khi phỏng vấn Tất cả thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
Chúng tôi sẽ gửi phản hồi về kết quả nghiên cứu cho các cán bộ chuyên trách chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại thành phố Pleiku, cũng như các trưởng Trạm Y tế ở từng phường, xã có bà mẹ tham gia nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin của bà mẹ và trẻ
Bảng 3 1 Đặc điểm của bà mẹ và gia đình (n$0) Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)
Tuổi trung bình 27,9±4,4; Min: 20; Max: 40
Cán bộ, viên chức (CCVC) 53 22,0
Tình trạng hôn nhân của bà mẹ Đang có chồng 237 98,8 Độc thân/ly thân/ly hôn/góa 3 1,2
Hoàn cảnh sống Gia đình 3 thế hệ trở lên 128 53,3
Tỷ lệ bà mẹ tham gia nghiên cứu dưới 30 tuổi chiếm 61,3%, cao hơn so với 38,7% của bà mẹ từ 30 tuổi trở lên Trình độ học vấn của các bà mẹ cho thấy 52,5% có bằng trung học phổ thông, trong khi chỉ 1,7% có trình độ tiểu học.
Trong số các bà mẹ, có 4,6% thuộc dân tộc thiểu số Tỷ lệ bà mẹ làm nghề nội trợ chiếm 27,1%, trong khi đó, 19,6% làm trong lĩnh vực nông nghiệp Đáng chú ý, 98,8% bà mẹ đang có chồng và 53,3% trong số họ sống trong gia đình có từ 3 thế hệ trở lên.
Bảng 3.2 Bảng kết quả về thông tin y sinh của trẻ (n$0) Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)
Tuổi thai khi sinh Dưới 37 tuần 75 31,2
Cân nặng khi sinh của trẻ
Sức khỏe ngay sau khi sinh của trẻ
Thứ tự con của trẻ
Bệnh viện tuyến tỉnh/huyện 237 98,8
Phương pháp sinh trẻ Sinh thường 187 77,9
Trong số trẻ sinh ra, 68,8% được sinh đủ tháng (từ 37 tuần trở lên) và tỷ lệ trẻ nam (52,1%) cao hơn trẻ nữ (47,9%) Đáng chú ý, 96,3% trẻ có cân nặng bình thường và 100% trẻ có tình trạng sức khỏe ổn định sau khi sinh Hơn một nửa (52,9%) trẻ là con đầu lòng, với 98,8% trẻ được sinh tại bệnh viện tuyến tỉnh/huyện, trong khi chỉ 0,4% sinh tại nhà Tỷ lệ sinh thường chiếm 77,9%, còn lại 22,1% trẻ được sinh mổ.
Bảng 3.3 Yếu tố tiếp cận thông tin (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
NCBSMHT bà mẹ nhận được
Người thân trong gia đình 118 49,2
Thời điểm nhận thông tin NCBSMHT
Khi đưa con đi tiêm chủng hoặc khám bệnh 8 3,3
Khi tham gia hội thảo NCBSM 6 2,5 CBYT hướng dẫn
Thời điểm tiếp nhận thông tin NCBSMHT từ quảng cáo
Khi đưa con đi tiêm chủng hoặc khám bệnh 42 17,5
Khi tham gia hội thảo NCBSM 0 0,0 Tivi, điện thoại trong sinh hoạt hằng ngày 72 30,0
Tần suất quảng cáo về sữa công thức
Người ủng hộ bà mẹ
Anh/chị/em trong nhà/họ hàng 73 30,4
Hầu hết các bà mẹ nhận thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ từ cán bộ y tế (100%), trong khi 70,0% nhận qua truyền thông gián tiếp như báo chí, tivi và internet Chỉ 49,2% bà mẹ nhận thông tin từ người thân trong gia đình Thời điểm khám thai là lúc mà 90,4% bà mẹ nhận thông tin NCBSMHT, với 82,5% được cán bộ y tế hướng dẫn hơn 3 lần Khoảng 30,0% bà mẹ tiếp nhận thông tin quảng cáo từ tivi và điện thoại hàng ngày, trong khi 28,0% nhận quảng cáo khi khám thai Không có bà mẹ nào tham gia hội thảo về NCBSMHT Đáng chú ý, 34,2% bà mẹ cho rằng các chương trình quảng cáo về sữa công thức diễn ra hàng ngày, và 47,5% bố mẹ chồng/vợ ủng hộ các bà mẹ trong việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhưng chỉ có 42,5% người chồng ủng hộ vợ.
Kiến thức, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
3.2.1 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
Bảng 3.4 Kiến thức về thời gian cần cho trẻ bú sớm sau sinh (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Trong vòng 1 giờ đầu sau sinh 226 94,2
Trong vòng 6 giờ đầu sau sinh 7 2,9
Trong vòng 24 giờ đầu sau sinh 4 1,7
Bất kỳ khi nào trẻ muốn 3 1,3
Kiến thức đúng về cho trẻ bú sớm sau sinh 226 94,2
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về việc cho trẻ bú sớm sau sinh, tức là cho bú trong vòng 1 giờ đầu, đạt 94,2% Tuy nhiên, có 14 bà mẹ vẫn chưa nắm rõ thời gian cần thiết cho trẻ bú sớm, trong đó 2,9% cho rằng thời gian là trong vòng 6 giờ đầu, 1,7% cho rằng trong vòng 24 giờ đầu, và 1,3% cho rằng trẻ có thể bú bất cứ khi nào trẻ muốn.
Bảng 3.5 Kiến thức về sữa non của bà mẹ (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ %
Sữa chỉ xuất hiện ngay sau khi sinh 198 82,5
Là một dạng sữa mẹ đặc biệt, có màu vàng, đặc dính, giàu dinh dưỡng 224 93,3
Chứa kháng thể là “liều vacxin đầu tiên” của trẻ 193 80,4 Sản xuất từ quý 2 của thai kỳ tới sau khi trẻ ra đời 2-4 ngày 136 56,7
Kiến thức đúng về sữa non 169 70,4
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về sữa non đạt 70,4% Trong số các thông tin đúng về sữa non, nội dung được nhiều bà mẹ biết đến nhất là “sữa mẹ là một dạng sữa đặc biệt, có màu vàng, đặc dính, giàu dinh dưỡng” với tỷ lệ 93,3% Tiếp theo, 82,5% bà mẹ nhận thức rằng sữa chỉ xuất hiện ngay sau khi sinh.
Bảng 3.6 Kiến thức lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ đối với trẻ (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Thành phần dinh dưỡng vừa đủ 211 87,9 Đủ lượng nước 190 79,2
Khả năng sống sót sơ sinh cao 174 72,5
Tăng cường phát triển nhận thức 179 74,6
Giảm khả năng suy dinh dưỡng 183 76,3
Giảm khả năng bị tiêu chảy, nhiễm trùng tai, nhiễm khuẩn hô hấp, viêm màng não ở bé 210 87,5
Kiến thức đúng về lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ đối với trẻ 178 74,1
Tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đạt 74,1% Trong đó, tỷ lệ cao nhất là 87,9% bà mẹ nắm rõ thành phần dinh dưỡng phù hợp, trong khi tỷ lệ thấp nhất là 72,5% bà mẹ biết về khả năng sống sót của trẻ sơ sinh.
Bảng 3.7 Kiến thức lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ đối với mẹ (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Tăng gắn kết giữa mẹ và con 236 98,3
Giúp mẹ có khả năng ngừa thai khi cho con bú hoàn toàn 143 59,6
Giúp mẹ giảm nguy cơ mắc ung thư vú, ung thư buồng trứng 142 59,2
Giúp mẹ phục hồi nhanh hơn sau khi sinh, giảm nguy cơ chảy máu sau sinh 157 65,4
Giúp mẹ giảm nguy cơ thiếu máu bằng cách trì hoãn chu kỳ kinh nguyệt 137 57,1
Giúp mẹ có nhiều khả năng trở lại với cân nặng trước khi sinh 134 55,8
Giúp mẹ giảm nguy cơ loãng xương, stress, đái tháo đường, tim mạch 127 52,9
Kiến thức đúng về lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ đối với mẹ 138 57,5
Tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đạt 57,5% Trong đó, tỷ lệ cao nhất là 98,3% bà mẹ nhận thức được rằng nuôi con bằng sữa mẹ tăng cường gắn kết giữa mẹ và con Ngược lại, tỷ lệ thấp nhất là 52,9% bà mẹ biết rằng việc cho con bú giúp giảm nguy cơ loãng xương, stress, đái tháo đường và bệnh tim mạch.
Bảng 3.8 Kiến thức về việc duy trì đủ sữa cho trẻ bú (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Cho bú nhiều hơn bình thường 12 5,0
Cho bú theo nhu cầu của trẻ 186 77,5
Mẹ cần uống thêm nhiều nước hơn 224 93,3
Mẹ cần ăn nhiều và đầy đủ dinh dưỡng 234 97,5
Mẹ cần ăn những thức ăn đặc biệt 178 74,2
Vắt hết sữa còn lại sau khi trẻ bú 129 53,7
Mẹ cần được nghỉ ngơi nhiều hơn 141 58,7
Kiến thức đúng về duy trì đủ sữa cho trẻ bú 164 68,3
Chỉ có khoảng 68,3% bà mẹ có kiến thức đúng về cách duy trì đủ sữa cho trẻ bú Hơn 90% bà mẹ nhận thức rằng cần uống nhiều nước và ăn uống đầy đủ dinh dưỡng Tuy nhiên, chỉ có 5% bà mẹ hiểu đúng về việc cần cho trẻ bú nhiều hơn bình thường.
Bảng 3.9 Kiến thức về định nghĩa nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Bú sữa mẹ và uống nước trắng tráng miệng 6 2,5
Bú sữa mẹ và một ít chất lỏng khác 4 1,7
Bú mẹ và uống thêm mật ong hoặc thảo dược 4 1,7
Chỉ nên cho trẻ bú mẹ mà không bổ sung bất kỳ thức ăn hay đồ uống nào khác, kể cả nước trắng, trừ khi cần thiết phải bổ sung vitamin, khoáng chất hoặc thuốc.
Kiến thức đúng về định nghĩa NCBSMHT 235 97,9
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT) đạt 97,9% Trong số các nội dung liên quan, tỷ lệ bà mẹ lựa chọn nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là cao nhất.
Chỉ nên cho trẻ bú mẹ mà không bổ sung bất kỳ thức ăn hay đồ uống nào khác, kể cả nước trắng, trừ khi cần thiết phải bổ sung vitamin, khoáng chất hoặc thuốc.
HUPH chiếm 97,9% Có 1,7% bà mẹ chọn “bú sữa mẹ và một ít chất lỏng khác” và 1,7% bà mẹ chọn “bú mẹ và uống thêm mật ong hoặc thảo dược”
Bảng 3.10 Kiến thức về thời gian khuyến cáo nuôi con bằng sửa mẹ hoàn toàn (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Kiến thức đúng về thời gian khuyến cáo NCBSMHT 234 97,5
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về thời gian khuyến cáo NCBSMHT lả 97,5% Có 2,5% bà mẹ cho rằng thời gian khuyến cáo NCBSMHT là 4 tháng
Bảng 3.11 Kiến thức của bà mẹ về chuẩn bị thức ăn cho trẻ dưới 6 tháng tuổi khi mẹ đi làm (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Kiến thức đúng về chuẩn bị thức ăn cho trẻ dưới 6 tháng tuổi khi mẹ đi làm 198 82,5
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về chuẩn bị thức ăn cho trẻ dưới 6 tháng tuổi khi đi làm đạt 82,5% Trong đó, phương pháp vắt sữa mẹ được thực hiện nhiều nhất, chiếm 82,5%, trong khi tỷ lệ bà mẹ sử dụng nước cơm để chuẩn bị thức ăn cho trẻ chỉ đạt 0,8%.
Biểu đồ 3 1 Kiến thức chung của bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (n$0)
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chung về NCBSMHT trong 6 tháng đạt là 75,4% và chưa đạt là 24,6%
3.2.2 Thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Bảng 3.12 Thời gian bà mẹ đã cho trẻ bú sớm sau sinh (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Theo thống kê, 71,7% bà mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ sau sinh, trong khi 23,3% cho con bú trong khoảng thời gian từ 1 đến 6 giờ Chỉ có 5,0% bà mẹ cho con bú sau 6 đến 24 giờ sau khi sinh.
Không đạt Kiến thức đạt
Bảng 3.13 Thực hành cho trẻ bú sữa mẹ trong 6 tháng của bà mẹ
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Chỉ cho con bú sữa bột 26 10,8
Cho con bú sữa mẹ và sữa bột 132 55,0
Cho con bú sữa mẹ hoàn toàn đến 6 tháng tuổi 40 16,7 Cho con bú sữa mẹ hoàn toàn ít hơn sáu tháng tuổi 42 17,5
Tỷ lệ bà mẹ cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ đến sáu tháng tuổi chỉ đạt 16,7%, trong khi 17,5% bà mẹ cho con bú hoàn toàn dưới 6 tháng Đáng chú ý, 55,0% bà mẹ kết hợp cho con bú sữa mẹ và sữa bột, và 10,83% bà mẹ chỉ cho con uống sữa bột.
Bảng 3.14 Thực hành cho trẻ uống trong 6 tháng của bà mẹ (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Không cho uống thứ khác 70 29,2
Lý do cho trẻ uống thức uống khác trong 6 tháng đầu (n0)
Chỉ có 29,2% bà mẹ thực hiện đúng việc không cho trẻ dưới 6 tháng tuổi uống bất kỳ thức uống nào ngoài sữa mẹ Đáng chú ý, 56,7% bà mẹ cho trẻ uống nước lọc, 4,6% cho trẻ uống mật ong và cam thảo, trong khi 9,6% cho trẻ uống nước quả Nguyên nhân chủ yếu mà các bà mẹ đưa ra cho việc cho trẻ uống các loại thức uống khác là để tráng miệng (71,8%) và do thói quen (28,2%).
Bảng 3.5 Thực hành cho trẻ ăn trong 6 tháng của bà mẹ (n$0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Không cho ăn thứ khác 71 29,6
Lý do cho trẻ ăn thức ăn khác trong 6 tháng đầu (n9)
Trẻ quấy khóc đòi ăn 61 36,1
Sữa mẹ không đủ chất 16 9,5
Tập làm quen để đi nhà trẻ 23 13,6
Không có thời gian vắt sữa 10 5,9
Theo thống kê, 70,4% bà mẹ cho trẻ uống sữa công thức hoặc thức ăn trong 6 tháng đầu Nguyên nhân chủ yếu là do 76,3% bà mẹ không đủ sữa, tiếp theo là 36,1% cho biết trẻ quấy khóc đòi ăn Chỉ có 5,9% bà mẹ cho con sử dụng sữa công thức hoặc thức ăn trong giai đoạn này vì lý do không có thời gian vắt sữa.
Biểu đồ 3.2 Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của bà mẹ (n$0)
Tỷ lệ bà mẹ thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu đạt là 16,7% và không đạt là 83,3%
Không đạt Thực hành đạt
Một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
3.3.1 Yếu tố xã hội, nhân khẩu học
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa đặc điểm của mẹ và gia đình với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Đặc điểm
Thực hành p OR (95%CI) Đạt Không đạt n (%) n (%) Nhóm tuổi
Từ trung cấp trở lên 27 (27,8) 70 (72,2)
Nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và hoàn cảnh sống với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, với p < 0,05 Cụ thể, bà mẹ từ 30 tuổi trở lên có khả năng thực hành nuôi con bằng sữa mẹ cao gấp 3,2 lần so với bà mẹ dưới 30 tuổi (OR (95%CI): 3,2 (1,6 - 6,5), p=0,001) Bà mẹ có trình độ học vấn trung cấp trở lên thực hành nuôi con bằng sữa mẹ cao gấp 3,8 lần so với bà mẹ có trình độ THPT trở xuống (OR (95%CI): 3,8 (1,9 - 7,9), p 0,05.
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa yếu tố y sinh với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Đặc điểm
Thực hành p OR (95%CI) Đạt Không đạt n (%) n (%) Thứ tự con
Thực hành p OR (95%CI) Đạt Không đạt n (%) n (%)
Bệnh viện tuyến huyện/tỉnh 40 (16,9) 197 (83,1)
Cân nặng trẻ khi sinh
Nghiên cứu đã phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính của trẻ và tuổi thai với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, với giá trị p cho thấy sự khác biệt rõ rệt.
Những bà mẹ có con trai thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu cao hơn 5,5 lần so với những bà mẹ có con gái, với OR (95%CI): 5,5 (2,3 - 13,1) và p 0,05.
3.3.3 Yếu tố tiếp cận thông tin
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa yếu tố tiếp cận thông tin với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Đặc điểm
Thực hành p OR (95%CI) Đạt Không đạt n (%) n (%) Nguồn nhận thông tin
Thời điểm nhận thông tin
Số lần CBYT hướng dẫn NCBSMHT
< 3 lần 6 (14,3) 36 (85,7) Được thành viên gia đình ủng hộ NCBSMHT
Không có mối liên hệ thống kê đáng kể giữa các yếu tố như cách tiếp cận thông tin, thời điểm nhận thông tin, và số lần cán bộ y tế hướng dẫn về nuôi con bằng sữa mẹ, cũng như sự ủng hộ từ gia đình đối với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ, với giá trị p > 0,05.
3.3.4 Yếu tố kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của các bà mẹ
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa yếu tố kiến thức với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng
Thực hành p OR (95%CI) Đạt Không đạt n (%) n (%)
Những bà mẹ kiến thức đạt thì thực hành NCBSMHT cao hơn những bà mẹ kiến thức không đạt (22,1% so với 0%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p