1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng cho con bú sớm của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện trường đại học thái nguyên và một số yếu tố liên quan năm 2022

99 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng cho con bú sớm của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện trường đại học Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan năm 2022
Tác giả Hồ Thị Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Thị Tú Quyên
Trường học Trường Đại học Y tế cộng đồng
Chuyên ngành Y tế cộng đồng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu (13)
      • 1.1.1. Các hướng dẫn về nuôi con bằng sữa mẹ (17)
      • 1.1.2. Hướng dẫn cho bú đúng (18)
      • 1.1.3. Phát hiện các trường hợp khó khăn khi cho trẻ bú (20)
      • 1.1.4. Cách giữ gìn và phát triển nguồn sữa (21)
      • 1.1.5. Chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ ngay sau sinh (EENC) và 2 giờ đầu sau sinh 12 1.2. Thực trạng cho con bú sớm (21)
      • 1.2.1. Thực trạng cho con bú sớm trên thế giới (22)
      • 1.2.2. Thực trạng cho con bú sớm tại Việt Nam (24)
    • 1.3. Một số yếu tố liên quan đến cho trẻ bú sớm (25)
    • 1.4. Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu – Bệnh viện Đại học Tây Nguyên (34)
    • 1.5. Khung lý thuyết (35)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (37)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (37)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (37)
    • 2.4. Mẫu nghiên cứu (37)
      • 2.4.1 Cỡ mẫu (0)
      • 2.4.2 Phương pháp chọn mẫu (38)
    • 2.5. Biến số nghiên cứu (38)
    • 2.6. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu (38)
    • 2.7. Thước đo tiêu chuẩn đánh giá (40)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (41)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức nghiên cứu (41)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (43)
    • 3.1. Thông tin chung về bà mẹ và trẻ sơ sinh (43)
    • 3.2. Thực trạng cho trẻ bú sớm (48)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến bú sớm (51)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (57)
    • 4.1. Thực trạng trẻ sơ sinh được bú sớm (57)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm (0)
    • 4.3. Hạn chế của nghiên cứu (65)
  • KẾT LUẬN (67)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (70)
  • PHỤ LỤC (74)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Sản phụ sinh con tại khoa Phụ sản của bệnh viện Đại học Tây Nguyên sẽ được nằm viện điều trị từ 2 đến 5 ngày, tùy thuộc vào phương pháp sinh Cụ thể, nếu sinh thường, thời gian nằm viện tối thiểu là 2 ngày, trong khi sinh mổ yêu cầu ít nhất 5 ngày.

Các sản phụ sinh thường hoặc sinh mổ tại khoa Phụ sản - bệnh viện Đại học Tây Nguyên, đang nằm viện từ ngày 2 đến ngày 5, có khả năng tham gia phỏng vấn và đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Sản phụ có con sinh non, con không thể bú mẹ

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa phụ sản – Bệnh viện Đại học Tây Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/8/2021 – 01/8/2022

- Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 03/ 01/2022 – 31/3/2022

Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang

Mẫu nghiên cứu

2.4.1 Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu 1 tỷ lệ n d p

- n: Số bà mẹ sinh con tối thiểu cần cho nghiên cứu

- p = 0,61 (Tỷ lệ trẻ bú sớm sau sinh của các bà mẹ sinh con tại khoa chăm sóc sức khỏe, trung tâm y tế huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang năm 2020) (8)

- Z là hệ số tin cậy, với α = 0,05 thì Z (1-α/2) = 1,96

- d là sai số chấp nhận được, d = 0,07

Cỡ mẫu tối thiểu được tính toán là 187 bà mẹ, tuy nhiên để đảm bảo độ chính xác cho nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã dự trù thêm 15% cho các phiếu phỏng vấn và phiếu quan sát không hoàn chỉnh, dẫn đến cỡ mẫu cuối cùng là n = 215 bà mẹ Trong thực tế, nhóm đã thu thập được thông tin đầy đủ từ 206 bà mẹ sinh con.

Chọn mẫu thuận tiện Chọn tất cả các đối tượng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu trong thời gian 03 tháng từ 03/2/2022 đến 31/3/2022 cho đủ số lượng đối tượng nghiên cứu.

Biến số nghiên cứu

 Biến số phụ thuộc : trẻ sơ sinh được bú sớm

- Yếu tố cá nhân mẹ: tuổi, trình độ, nghề nghiệp, dân tộc, tình trạng hôn nhân, sức khỏe/bệnh lý, hình thức sinh…

- Yếu tố con: tình trạng sức khỏe, giới tính…

- Yếu tố gia đình – xã hội: quan niệm về sữa non và cho trẻ bú sớm, hỗ trợ của gia đình, kinh tế, nguồn thông tin…

- Yếu tố dịch vụ Y tế: Nguồn nhân lực, sự hỗ trợ và chăm sóc của NVYT sau sinh, tư vấn NCBSM của NVYT trước, trong và sau sinh…

(Bảng biến số chi tiết được trình bày trong phụ lục 5).

Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

Công cụ thu thập số liệu

Phiếu điều tra được thiết kế dựa trên các mục tiêu nghiên cứu và tài liệu tham khảo, bao gồm bộ câu hỏi phỏng vấn đã được thử nghiệm trên 5 sản phụ để điều chỉnh nội dung về thời gian cho trẻ bú lần đầu Thông tin được thu thập từ hồ sơ bệnh án về các thông tin chung của sản phụ và đặc điểm của trẻ Ngoài ra, có phần quan sát sản phụ và trẻ trong 1 giờ sau sinh Sau khi hoàn tất chỉnh sửa, phiếu hỏi đã được bàn giao cho điều tra viên.

Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án là quá trình quan trọng, bao gồm việc sử dụng phiếu thu thập thông tin để ghi nhận các dữ liệu chung của bà mẹ và trẻ, như tuổi, nghề nghiệp, dân tộc, tình trạng sức khỏe của mẹ, bệnh lý, tiền sử sản khoa, phương pháp sinh, tuổi thai và sức khỏe của trẻ.

Apgar, giới tính, cân nặng và tình trạng trẻ được xác định dựa trên hồ sơ bệnh án Nhân viên y tế sẽ dán phiếu thu thập thông tin vào hồ sơ đã chọn và báo cáo lại cho đội ngũ điều tra viên và tua trực.

Trong quá trình phỏng vấn sản phụ, ĐTV đã sử dụng phiếu hỏi để tiến hành phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ tham gia nghiên cứu với sự đồng ý của họ Nội dung phỏng vấn tập trung vào kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến việc cho trẻ bú sớm.

NCV hoặc ĐTV theo dõi các sản phụ trong vòng 1 giờ sau sinh, chú trọng đến thời gian cho trẻ bú lần đầu, tư thế bú của trẻ vào buổi sáng và chiều, cũng như trong giờ hành chính.

Quy trình thu thập số liệu

- NCV gặp Lãnh đạo BV, Lãnh đạo khoa, ĐD trưởng khoa trao đổi về kế hoạch thu thập thông tin nghiên cứu

NCV cung cấp hướng dẫn chi tiết về cách thu thập thông tin cho 02 ĐTV, trong đó ĐTV là những nhân viên y tế không làm việc trong khoa Phụ sản và đã từng tham gia phỏng vấn thử nghiệm trước đó Hướng dẫn này nhằm giúp ĐTNC cảm thấy thoải mái và khách quan khi trả lời phỏng vấn, đồng thời khuyến khích họ mặc đồ thường để tạo sự gần gũi.

- NCV lập danh sách sản phụ từ khi sản phụ bắt đầu nhập viện sinh Trao đổi với các sản phụ để có sự đồng ý tham gia nghiên cứu

Để thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án, ĐTV sẽ chọn các hồ sơ của thai phụ nhập viện sinh trong ngày Họ sử dụng phiếu thu thập thông tin để ghi lại các dữ liệu cần thiết, sau đó dán phiếu lên hồ sơ và báo cáo lại cho ĐTV.

Để thu thập thông tin, ĐTV sẽ liên hệ với NHS trong mỗi ca trực nhằm hỗ trợ cho việc quan sát Quá trình quan sát sẽ được thực hiện một giờ sau khi sinh, dựa trên các nội dung có trong phiếu quan sát sau sinh.

Phương pháp thu thập thông tin qua phỏng vấn được thực hiện bằng cách sử dụng phiếu điều tra, sau khi đã ghi nhận thông tin từ hồ sơ bệnh án và quan sát Vào ngày thứ 2 sau sinh thường và ngày thứ 3 sau sinh mổ, khi sức khỏe của sản phụ đã ổn định, điều tra viên sẽ chọn thời điểm thích hợp để gặp gỡ và tiến hành phỏng vấn về các nội dung còn lại trong phiếu hỏi.

- Cuộc phỏng vấn kéo dài trong khoảng 15 – 20 phút

Kiểm tra phiếu điều tra

Cuối mỗi ngày thu thập số liệu, ĐTV kiểm tra lại số lượng, chất lượng của phiếu điều tra và tiến hành lưu phiếu điều tra

Giám sát viên: Học viên trực tiếp giám sát quá trình thu thập thông tin, quan sát cho trẻ bú và phỏng vấn các sản phụ.

Thước đo tiêu chuẩn đánh giá

Để đánh giá kiến thức của sản phụ về việc cho trẻ bú sớm, chúng tôi sử dụng 5 câu hỏi phỏng vấn được trình bày trong phụ lục 2 Mỗi câu hỏi có điểm tối đa là 3 điểm, do đó tổng điểm tối đa cho phần kiến thức này là 15 điểm.

Không biết Chọn 1 trong 3 đáp án

Không biết Chọn đáp án

Không biết Chọn đáp án 3 hoặc 4

Chọn cả 4 đáp án Câu

Không biết Chọn đáp án 3 hoặc 4

Chọn cả 4 đáp án Kiến thức của sản phụ được phân thành 3 mức độ phụ thuộc vào điểm số thu được qua quá trình phỏng vấn (36):

Mức độ Kiến thức tốt Có kiến thức Kiến thức kém Điểm 10 – 15 5 - 10 0,05) Tuy nhiên, có sự liên quan giữa việc có chồng hoặc người thân hỗ trợ chăm sóc và khả năng cho bé bú sớm (p0,05) Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đó của Nguyễn Thị Lệ Hằng, Lý Hải Yến, Liben và cộng sự.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ cho bú sớm ở nhóm bà mẹ có trình độ học vấn từ THPT trở lên đạt 85,7%, trong khi nhóm có trình độ học vấn thấp chỉ là 74,2% Bà mẹ dân tộc Kinh có khả năng cho bú sớm cao gấp 1,7 lần so với các bà mẹ dân tộc khác Ngoài ra, những bà mẹ sinh con so cũng có tỷ lệ cho bú sớm cao hơn so với bà mẹ sinh con rạ Đặc biệt, nhóm bà mẹ có chồng thực hành cho trẻ bú cao gấp 1,9 lần so với nhóm bà mẹ đơn thân Tuy nhiên, cỡ mẫu của nghiên cứu còn hạn chế và chỉ tập trung tại một bệnh viện, do đó có thể chưa phát hiện được các mối liên quan rõ ràng.

Mối liên quan giữa độ tuổi của mẹ và việc cho trẻ bú sớm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Các bà mẹ dưới 30 tuổi có khả năng cho con bú sớm cao gấp 2,4 lần so với những bà mẹ trên 30 tuổi Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Khanal và cộng sự tại Nepal Những bà mẹ trẻ này thường có nhiều cơ hội hơn trong việc thực hiện việc cho con bú sớm.

HUPH có khả năng tiếp nhận và hiểu biết về thông tin liên quan đến NCBSM tốt hơn so với các bà mẹ lớn tuổi Điều này mang lại cho họ nhiều kiến thức hơn trong việc chăm sóc trẻ.

Công tác truyền thông và tư vấn về NCBSM cần được chú trọng hơn khi thực hiện trên đối tượng lớn tuổi Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng không phát hiện mối liên quan nào.

Nghề nghiệp của mẹ ảnh hưởng đáng kể đến thực hành cho trẻ bú sớm (p < 0,05), với khả năng không cho trẻ bú sớm ở các bà mẹ công nhân, nông dân và nội trợ cao gấp 4 lần so với bà mẹ là công chức viên chức Những bà mẹ là công chức viên chức có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế và Internet tốt hơn, từ đó nắm bắt thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ đầy đủ hơn Điều này góp phần nâng cao thực hành bú sớm cho trẻ, tăng cơ hội cho trẻ được bú ngay sau sinh.

Kết quả điều tra cho thấy 87,9% bà mẹ biết về thời điểm có sữa non, nhưng chỉ 36,9% biết nên cho trẻ bú ngay sau sinh Số bà mẹ hiểu rõ lợi ích của việc cho con bú sớm còn thấp, điều này cần được cải thiện Thiếu kiến thức làm giảm cơ hội trẻ được bú sữa non, nguồn sữa quý giá cho sức khỏe và sự phát triển Thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ chủ yếu đến từ kênh nhân viên y tế và truyền thông Do đó, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cơ sở y tế, cùng với các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe để nâng cao hiểu biết và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ cho phụ nữ mang thai.

Kiến thức về nuôi con sơ sinh và cho con bú sớm trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với một số nghiên cứu khác của các tác giả Phạm Thị Diễm My và Ngô Thị Thanh Thảo Chúng tôi chưa tìm thấy mối liên hệ giữa kiến thức và thực hành cho trẻ bú sớm ngay sau sinh Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ sơ sinh được bú trong vòng 1 giờ sau sinh trong hai nghiên cứu này lại thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Điều này cho thấy không phải sản phụ nào có kiến thức tốt cũng thực hành tốt, và có thể do cỡ mẫu của chúng tôi chưa đủ lớn để đưa ra kết luận chính xác.

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra mối liên quan giữa sự khác biệt về vùng miền và kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) Tại miền núi, nơi mà đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nông dân và nội trợ, điều kiện tiếp cận Internet và thông tin hướng dẫn về NCBSM hạn chế hơn so với các khu vực phát triển như tuyến trung ương Hơn nữa, việc chưa triển khai các lớp học tiền sản tại đơn vị của chúng tôi đã dẫn đến việc chưa phổ cập đầy đủ kiến thức NCBSM cho thai phụ, làm cho tỷ lệ kiến thức về NCBSM trong khảo sát của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu ở tuyến cao hơn.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, 99% bà mẹ có thái độ tích cực về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM), cao hơn nhiều so với 38,74% trong nghiên cứu của Ngô Thị Thanh Thảo Tỷ lệ trẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh cũng cao hơn so với nghiên cứu trước đó Thái độ tích cực về NCBSM là yếu tố quan trọng thúc đẩy việc cho trẻ bú sớm Sự khác biệt giữa hai nghiên cứu có thể do địa phương của chúng tôi có nền kinh tế kém phát triển hơn TP Hồ Chí Minh, nơi thai phụ bận rộn và ít thời gian tìm hiểu thông tin về NCBSM Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của quảng cáo sữa khiến các bà mẹ tập trung vào sản phẩm này Mức kinh tế tốt hơn của các bà mẹ tại TP Hồ Chí Minh cũng cho phép họ chuẩn bị thức ăn bổ sung cho trẻ Cuối cùng, các câu hỏi điều tra được thực hiện khi bà mẹ còn tại viện có thể dẫn đến những câu trả lời tích cực hơn so với thực tế.

Hạn chế của nghiên cứu

Đây là nghiên cứu cắt ngang tại Bệnh viện Đại học Tây Nguyên vào một thời điểm nên chưa phản ánh hết thực trạng của cả cộng đồng

HV chưa tiến hành nghiên cứu định tính trong nghiên cứu này, do đó chưa phát hiện đầy đủ các yếu tố có thể liên quan đến việc bú sớm từ nhân viên y tế hoặc các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc.

Sản phụ còn tại viện nên có nhiều thông tin trả lời chưa được khách quan và chính xác

Có thể gặp các sai số nhớ lại do sản phụ bi đau và mệt sau sinh

Do bản thân học viên lần đầu thực hiện nghiên cứu, năng lực còn hạn chế nên chưa thực hiện đề tài một cách sâu sát có thể

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w