GII của quốc gia nào gần 0 nhất sẽxếp thứ nhất, tức mức độ bất bình đẳng thấp nhất hay mức độ bình đắng cao nhất.GII được tính toán dựa trên các chỉ báo: Tỷ suất chết mẹ, tỷ suất sinh cú
Trang 1THÁI BÌNH-2014
PHAN THU NGA
THỰC TRẠNG BÌNH ĐANG GIỚI TRONG CHÂM
súc SÚC KHỎE BÀ MẸ TRẺ EM - KỂ HOẠCH HÓA GIA
ĐỈNH
VÀ MỘT SÔ YẾU TÔ LIÊN QUAN TẠI HUYỆN
QUỲNH PHỤ, THÁI BÌNH NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 2THỤC TRẠNG BINH ĐẲNG GIỚI TRONG CHĂM sóc SÚC KHỎE BÀ MẸ TRẺ EM - KÊ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
VÀ MỘT SÔ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI HUYỆN QUỲNH PHỤ,
Trang 3Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ()'n Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Quán lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng, Bộ môn Tô chức và Quản lý y
tế, Trường Đại học Y Dược Thái Bình cùng các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dan và giúp đỡ tôi trong suốt quả trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt với tình cảm chân thành và sự kính trọng, tôi xỉn được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Đức Thanh - người thầy đã dành nhiều tâm huyết và trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành ban luận văn này một cách tốt nhất.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giảo trong Khoa Y tế công cộng cùng bạn bè đồng nghiệp nơi tôi đang làm việc đã luôn động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin bàv tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè thân thiết của tôi - những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt cả quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂNTôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu được tiến hành nghiêm túc,các số liệu và kết quá nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
Trang 4bố trong bất kỳ một công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm.
Tác giả luận văn
Phan Thu Nga
Trang 5DS -KHHGDGTKSHIV/AIDS
KHHGDSKSSUNFPAUNICEFWHO
Trang 6: Bình đẳng giới : Bà mẹ, trẻ em :
Biện pháp tránh thai : Dân số - Ke
hoạch hóa gia đình : Giới tính khi
sinh
: Human immunodeficiency virus infection/acquired
immunodeficiency syndrome (Hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải)
: Kế hoạch hóa gia đình : Sức khỏe
sinh sản : United Nations
Population Fund (Quỹ dân số Liên
Hợp Quốc)
: United Nations Children's Fund
(Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc)
: World Health Organization (Tô
chức Y tế thế giới)
ĐẠT VÁN ĐÈ 1
Chuông 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1 Một số khái niệm về bình đắng giới 3
1.1.2 Một số khái niệm về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em 4
Trang 71.1.3 Một số khái niệm về kế hoạch hóa gia
đình 7
1.2 Thực trạng bình đẳng giới trong chăm sóc sức
khỏe bà mẹ, trẻ em 9
1.2.1 Tình hình chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em 9 1.2.2 Thực trạng bình đẳng giới trong chăm sóc sức khởe bà mẹ, trẻ em 13
1.3 Thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình 15
1.3.1 Tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình .15
1.3.2 Thực trạng bình đăng giới trong kế hoạch hóa gia đình 18
1.4 Một số yếu tố liên quan đến bình đẳng giới trong lĩnh vưc chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em - kế hoạch hóa gia đình 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cửu 27
2.1 Đối tượng, địa bàn và thời gian nghiên cứu 27
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 27
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 28
2.2 Phưcmg pháp nghiên cứu 28
Trang 82.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mầu 28
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 30
2.2.4 Các biến số trong nghiên cứu 32
2.2.5 Một số tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên
Trang 9em - kế hoạch hóa gia đình 37
3.1.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 37
3.1.2 Thực trạng bình đẳng giới trong chăm sóc sức khoe bà mẹ, tré em
39 3.1.3 Thực trạng bình đẳng giới trong thực hiện kế hoạch hóa gia đình.46 3.2 Một số yếu tố liên quan đến bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em - kế hoạch hóa gia đình 53
3.2.1 M ột số đặc điểm của chồng đối tượng 53
3.2.2 M ột số đặc điểm của gia đình đổi tượng 56
3.2.3 Một số đặc điểm khác 61
Chương 4 BÀN LUẬN 63
4.1 Thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em - kế hoạch hóa gia đình 63
4.1.1 Thực trạng bình đắng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khóe bà mẹ trẻ em 63
4.1.2 Thực trạng bình đẳng giới trong thực hiện kê hoạch hóa gia đình.70 4.2 Một số yếu tố liên quan đến binh đăng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khởe bà mẹ, trẻ em - kế hoạch hóa gia đình 77
4.2.1 Một số đặc điểm cùa chồng đối tượng 77
4.2.2 Một số đặc điểm của gia đình đối tượng 79
4.2.3 Một số đặc điểm khác 81
KÉT LUẬN 84
KIẾN NGHỊ 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10PHỤ LỤC
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 37
Băng 3.2 Tỷ lệ đối tượng có 2 con trở lên sinh con một bề 39
Bảng 3.3 Lý do đối tượng muốn sinh thêm con 39
Bảng 3.4 Tỷ lệ người chồng đưa vợ đi khám thai trong lần mang thai gần đây
40 Báng 3.5 Người quyết định muốn có con lần gần đây 40
Bảng 3.6 Tỷ lệ người đưa đối tượng đi sinh 41
Bảng 3.7 Tỷ lệ người chăm sóc đối tượng nhiều nhất khi sinh 42
Bảng 3.8 Thông tin về việc chăm sóc con cùa phụ nữ 44
Bảng 3.9 Tỷ lệ người chồng tham gia chăm sóc con cùng vợ 44
Bảng 3.10 Tỷ lệ người chồng tham gia dạy dồ con cùng vợ 45
Báng 3.11 Tỷ lệ nạo/phá thai của đối tượng trong 12 tháng qua 46
Báng 3.12 Tỷ lệ sử dụng từng BPTT của các cặp vợ chồng 49
Bảng 3.13 Tỷ lệ đối tượng bị bạo lực trong gia đình 50
Báng 3.14 Mối liên quan giữa tính chất công việc của chồng đối tượng với việc người chồng đưa vợ đi khám thai 53
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tính chất công việc của chồng đối tượng với việc người chồng đưa vợ đi sinh 53
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tính chất công việc của chồng đối tượng với việc người chồng đưa con đi tiêm chủng 54
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tính chất công việc của chồng đối tượng với việc người chồng tham gia chăm sóc con 54
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa trinh độ học vấn của chồng đối tượng với việc người quyết định sử dụng các BPTT 55
Trang 11Bảng 3.19 Mối liên quan giữa trình độ học vấn cùa chồng đối tượng với việc
người chồng có hành vi bạo lực gia đình 55
Trang 12Bảng 3.21 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế của đối tượng với việc người
chồng đưa vợ đi khám thai 56Bảng 3.22 Mối liên quan giữa người là trụ cột kinh tế với việc người chồng
đưa vợ đi khám thai 57Bảng 3.23 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế của đối tượng với việc người
chồng đưa vợ đi sinh 57Bảng 3.24 Mối liên quan giữa trụ cột kinh tế trong gia đình với việc người
chồng đưa vợ đi sinh 58Bảng 3.25 Mối liên quan giữa trụ cột kinh tế trong gia đình với việc người
chồng đưa con đi tiêm chủng 58Bảng 3.26 Mối liên quan giữa trụ cột kinh tế trong gia đình với việc người
chồng tham gia chăm sóc con 59Báng 3.27 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế của đối tượng với việc người
quyết định sử dụng các BPTT 59Bảng 3.28 Mối liên quan giữa trụ cột kinh tế trong gia đình của đối tượng với
việc người quyết định sử dụng các BPTT 60Bảng 3.29 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế của đối tượng với việc người
chồng có hành vi bạo lực gia đình 60Bảng 3.30 Mối liên quan giữa mối quan hệ vợ chồng của đối tượng với việc
người quyết định sử dụng các BPTT 61Bảng 3.31 Mối liên quan giữa quan điềm trọng nam khinh nữ của người
chồng với người quyết định sử dụng các BPTT 61Bảng 3.32 Mối liên quan giữa mối quan hệ vợ chồng của đối tượng với việc người
chồng có hành vi bạo lực gia đình 62
Trang 13Biểu đồ 3.3 Thời gian người chồng nghi làm để chăm sóc vợ khi sinh 44
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ người chồng tham gia đưa con đi tiêm chủng cùng vợ 45
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ người chồng tham gia kiềm tra chiều cao, cân nặng cho con cùng vợ 46
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ người quyết định việc nạo phá thai 47
Biếu đồ 3.7 Tỷ lộ đổi tượng có sử dụng BPTT chia theo nhóm tuồi 47
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ người quyết định sử dụng BPTT 48
Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ các cặp vợ chồng thực hiện BPTT 48
Biếu đồ 3.10 Tỷ lệ hành vi bạo lực cùa người chồng đối với đối tượng 50
Biểu đồ 3.11 Quan niệm của người vợ về vai trò của người chồng trong lĩnh vực sinh đẻ và chăm sóc con cái 51
Biểu đồ 3.12 Nhận xét của đối tượng về sự tham gia của người chồng trong lĩnh vực sinh đẻ và nuôi dạy con cái 52
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc sức khòc bà mẹ,trẻ em là một trong những nội dung quan trọng vì trẻ em là những mầm non cùađất nước, là lứa tuồi còn non yếu cần sự chăm sóc đặc biệt Trẻ em nếu được chămsóc tốt sẽ đàm bảo cho chất lượng của giống nòi sau này Những đứa trẻ khi ra đờiluôn cần những bà mẹ khòe mạnh Chính vì vậy, ở bất kỳ đất nước nào lĩnh vựcchăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em luôn được đặt là một trong những ưu tiên hàngđầu
Ke hoạch hoá gia đình là việc lập kế hoạch khi nào có trẻ em, và việc sửdụng kiếm soát sinh sản và các kỳ thuật khác đế thực hiện các kế hoạch đó Các kỳthuật khác thường được sử dụng gồm giáo dục giới tính, ngăn chặn và quản lý cácbệnh lây truyền qua đường tình dục, tư vấn trước khi mang thai và quản lý mangthai, và quán lý vô sinh Kế hoạch hoá gia đình đôi khi được dùng như một thuậtngữ đồng nghTa với các biện pháp tránh thai, dù nó bao gồm nhiều lĩnh vực hơn[4],
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống vàkhác nhau giữa phụ nữ và nam giới, nam và nữ có vị thế bình đẳng và đều đượctôn trọng như nhau Bình đắng giới trong gia đình thực chất là bình đẳng giữa vợ,chồng, con trai, con gái, nam - nữ về cơ hội, vị trí, vai trò trong đó bao gồm sựbình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, bình đẳng trong thù lao công việc,bình đắng trong việc thụ hướng các thành quả và bình đắng trong các vấn đề liênquan đến bán thân, gia đình và xã hội Điều đó có nghĩa là đảm bảo bình đăng giớitrong gia đình giúp cho nam - nữ đều được tạo cơ hội đế phát huy năng lực củamình cho sự phát triển cúa gia đình, cộng đồng và xã hội [23]
Hiện nay, những nghiên cím có giá trị về bình đắng giới trong chăm sóc sứckhóe bà mẹ - trẻ em và kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam vẫn còn ít được thực
Trang 15hiện Đế có thêm căn cứ khoa học, góp phần cho các nhà hoạch định chính sách đề
ra các giải pháp nâng cao vai trò của nam giới trong trong lĩnh vực trên, chúng tôitiến hành thực hiện đề tài này với hai mục tiêu sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
1) Mô tả thực trạng bình đắng giới của các cặp vợ chồng đang nuôi con dưới 5 tuổi trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình năm 2014.
2) Tìm hiểu một sổ yếu to liên quan đến bình đẳng giới của các đoi tượng trên trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em - kế hoạch hóa gia đình tại địa bàn nghiên cứu.
Trang 161.1 Một số khái niệm
1.1.1 Một số khái niệm về hình đắng giới
Giới chỉ đặc điểm, vị trí vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệtrong xã hội Giới không phải là một từ đồng nghĩa của “phụ nữ,” mà giới là mộtkhái niệm chỉ sự khác biệt trong phân công lao động, chia sẻ trách nhiệm và quyềnlợi giữa nam giới và nữ giới trong xã hội Quan niệm về giới có thể khác nhau tùytheo từng nền văn hóa có những phong tục tập quán riêng và có thể thay đổi theotừng giai đoạn phát triển của xã hội
Luật Bình Đẳng Giới (BĐG) ra đời năm 2006 định nghĩa “Bình đắng giới làviệc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huynăng lực cúa mình cho sự phát triền của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng nhưnhau về thành quả của sự phát triển đó” [18] Vai trù và vị trí ngang nhau không cónghĩa là nam và nữ phải có những trách nhiệm giống nhau trong xã hội Trái lại,định nghía này nhấn mạnh việc thừa nhận và tôn trọng sự khác biệt trong vai trò vàtrách nhiệm của nam và nữ giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội BĐG cũng
có nghĩa nam và nữ hưởng quyền lợi như nhau, thừa hưởng những cơ hội và điềukiện để tiếp cận nguồn lực một cách bình đẳng và tận hưởng những thành quả củaphát triển xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế Thể hiện cao nhất của BĐG là quaviệc đánh giá ngang nhau tiếng nói của nam giới và nữ giới trong những quyếtđịnh cùa gia đình và xã hội
Bình đẳng giới, cụ thể là bình đẳng trong cơ hội và trong việc đảm bảo tiếngnói đối với nam và nữ được xem như một điều kiện tiên quyết để hướng tới tăngtrưởng công bằng và bền vừng Bới vậy BĐG trong từng lĩnh vực cụ thể cần đượcxcm xct như kết quả của sự giao thoa giữa những yếu tố truyền thống và hiện đại,
có tác động khác nhau đến khả năng tiếp cận nguồn lực, các cơ hội của nam và nừgiới, đến sự tham gia cùa họ vào các hoạt động kinh tế xã hội, và quyết định tiếng
Trang 17Chỉ số phát triển giới (GDI - Gender Development Index) là số liệu tổng hợpphản ánh thực trạng BĐG, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáodục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ Chì số bất bình đẳng giới(GII - Gender Inequality Index) để đo lường sự bất bình đẳng giữa nam và nữtrong một quốc gia hay vùng lãnh thố Giá trị đo lường được tính trong khoảng từ0-1 GII càng tiệm cận điếm 0 thì mức độ bất bình đắng càng thấp và càng tiệmcận điếm 1 thì mức độ bất bình đắng càng cao GII của quốc gia nào gần 0 nhất sẽxếp thứ nhất, tức mức độ bất bình đẳng thấp nhất hay mức độ bình đắng cao nhất.GII được tính toán dựa trên các chỉ báo: Tỷ suất chết mẹ, tỷ suất sinh cúa vị thànhniên, tỷ lệ phần trăm phụ nữ trong cơ quan lập pháp, trình độ học vấn tính từ cấp 2trở lên chia theo giới, tỷ lệ tham gia lao động chia theo giới, các chi báo về sứckhoẻ sinh sản gồm tý lệ sứ dụng BPTT, tý lệ ít nhất khám thai một lần trong thời
kỳ mang thai, tỷ lệ trường hợp sinh có nhân viên y tế chăm sóc và chỉ số về tổng tỷsuất sinh
1.1.2 Một số khái niệm về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em
Chăm sóc trước khi mang thai: Bao gồm giáo dục sức khỏe, điều chỉnh chế
độ ăn, cân bằng lối sống, phát hiện các yếu tố nguy cơ có thế ảnh hưởng tới sựmang thai sau này, quan trọng nhất là bố sung acid folic và cuối cùng là lên kếhoạch có thai
Chăm sóc trước sinh' Thời kỳ này bà mẹ cần được khám thai ít nhất 3 lần vào 3 quý của thai kỳ: (I) Lần khám thai thứ nhất: Khi có thai 3 tháng đầu (khám
Trang 18hiện các bệnh lý của người mẹ nếu có (II) Lần khám thai thứ hai: Vào 3 tháng giữa nhăm mục đích:Xem thai có phát triển bình thường không; cơ thể người mẹ
có thích nghi tốt với thai nghén không; thử protein niệu; tiêm phòng uốn ván 1
(III) Lần khám thai thứ ha: Vào ha tháng cuối nhằm mục đích:Xem thai có thuận
và phát triển có bình thường không; bà mẹ có nguy cơ gì do thai nghén ba thángcuối gây ra không (nhất là phù, cao huyết áp); thử protein niệu; tiêm phòng uốnván 2; dự kiến ngày đẻ, quyết định đề người mẹ đé tại tuyến y tế cơ sở hay chuyếnlèn tuyến trên [3],
Việc khám và quản lý thai nghén là rất cần thiết đế phát hiện kịp thời cácnguy cơ như thể trạng mẹ không đàm báo, các bệnh lý của người mẹ có sẵn cũngnhư mới xuất hiện do thai nghén lần này như thiếu máu, nhiễm độc thai nghén.Ngoài những lần khám thai theo quy định, các bà mẹ mang thai cần đi khám ngaykhi có những dấu hiệu bất thường như đau dầu dừ dội; nhìn mờ; rối loạn thị lực;phù mặt, tay chân; co giật; thai cử động không bình thường; ra máu âm đạo; sốtcao; đau bụng
về chế độ lao động, sinh hoạt, dinh dưỡng bà mẹ cần được: Ăn tăng cá vềlượng và chất; làm việc theo khả năng; xen kẽ nghỉ ngơi; tránh làm việc nặng; nghỉngơi hoàn toàn trong tháng cuối
Chăm sóc trong quá trình sinh đẻ: Một cuộc chuyển dạ bình thường chi kéo
dài trong 24 giờ nhưng tỷ lệ tử vong lại cao nhất trong giai đoạn này do các taibiến sản khoa như băng huyết; nhiễm trùng; đặc biệt nguy hiếm là uốn ván; nhiễmtrùng nước ối; vỡ tử cung; sản giật Vì vậy cuộc đẻ cần được thực hiện ớ cơ sớ y
tế có nhân viên y tế có chuyên môn (bác sỹ, y sỹ sản nhi, nữ hộ sinh), đảm bảo đờ
đẻ sạch, an toàn
Chăm sóc sau khi sinh : Thời kỳ các nguy cơ cho mẹ liên quan đến cuộc đẻ
vẫn tồn tại như nhiễm khuẩn hậu sản; băng huyết; nhiễm độc thai nghén; những
Trang 19con bú [5], [16].
Chăm sóc sức khỏe trẻ em:
Giai đoạn sơ sinh: Là thời kỳ từ lúc trẻ ra đời cho đến 28 ngày sau đẻ Đặc
điểm sinh lý của thời kỳ này là thích nghi với cuộc sống mới bên ngoài tứ cung.Với một cơ thể non trẻ, chức năng của các bộ phận còn chưa hoàn chinh cho ncnnhững kích thích bcn ngoài dù nhỏ cũng thường là quá mức so với trẻ Chức năng
hô hấp và tuần hoàn thay đối hoàn toàn: trẻ bắt đầu thở bàng phối, vòng tuần hoànchính thức thay thế cho tuần hoàn rau thai Trẻ bú mẹ bộ máy tiêu hóa bắt đầu làmviệc Tất cá những thay đối đó dề kèm theo bệnh tật xảy ra, chính vì thế tỷ lệ mắcbệnh và tử vong cao trong giai đoạn này [16]
Chăm sóc trẻ sơ sinh [ 16 ], [ 36 ].
- Giữ sạch: Thực hiện đẻ sạch, tiệt trùng khi cắt rốn để phòng nhiềm uốnván và các nhiễm khuẩn khác
- Giữ ấm: Phòng đẻ ấm, lau khô trẻ ngay sau khi đẻ, cho mẹ con tiếp xúcvới da kề da đặc biệt là trẻ nhẹ cân đế giữ cho trẻ không bị hạ nhiệt độ
- Bú mẹ sớm và bú mẹ hoàn toàn: Bú mẹ trong vòng 1 giờ sau khi sinh (búcàng sớm càng tốt), cho bú bất cứ khi nào trẻ muốn, cho trẻ bú sữa non và khôngdùng bất cứ thức ăn nước uống nào khác
- Tạo nhịp thở đầu tiên và hồi sức sơ sinh: cần nhận biết sớm các biồu hiệncùa ngạt, làm sạch mũi miệng, thông thoáng đường hô hấp
- Chăm sóc mắt: Lau sạch mắt ngay sau khi đẻ, nếu bị vicm nhiễm ờ mắtcần điều trị ngay
- Tiêm phòng lao, viêm gan B
- Tiêm vitamin K phòng xuất huyết muộn do thiếu vitamin K
- Phát hiện và xử trí trẻ bị bệnh
Trẻ dưới 5 tuổi: Thời kỳ từ sau giai đoạn sơ sinh đến 5 tuổi.
Trang 20chinh, bề mặt da tương đối lớn so với cân nặng cơ thể nên tỏa nhiệt nhiều Tuynhiên đây là thời kỳ trẻ lớn rất nhanh, quá trình đồng hóa chiếm ưu thế, đến khiđược gần 1 tuổi cân nặng thường tăng gấp 3 lần so với khi mới sinh, về phát triểntinh thần đã bắt đầu có hoạt động của hệ thần kinh cao cấp Khi được 12 tháng tuổitrẻ bắt đầu tập nói (II) Đặc điểm bệnh lý là dỗ mắc các bệnh rối loạn tiêu hóa,dinh dưỡng, còi xương, phán ứng não, màng não, nhiễm khuấn.
Thời kỳ răng sữa: (I) Đặc điểm sinh lý trong giai đoạn này là biến đối chủ
yếu về chất lượng Trẻ lớn chậm hơn nhưng các chức năng được hoàn thiện dần, trítuệ phát triền, đã có những ấn tượng sâu sắc với người xung quanh (II) Đặc điểmbệnh lý là dề mắc các bệnh lây, bệnh nhiễm khuẩn (ví dụ nhiễm khuân hô hấp cấp,tiêu chảy, suy sinh dường )
Mục tiêu sức khỏe trẻ em đến năm 2020 [ 16]
- Gảm tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 1 tuổi xuống còn 15 — 18/1000 vào năm2020
- Tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi giám xuống còn 20/1000 vào năm2020
- Tỷ lệ trẻ đẻ có cân nặng thấp giảm còn 5% vào năm 2020
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giám còn 15% vào năm 2020
và không còn suy dinh dưỡng nặng
1.1.3 Một số khái niệm về kế hoạch hóa gia đình
Ke hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là sự cố gắng có ý thức của một cặp (hoặc cá
nhân) nhằm điều chinh sổ con và khoảng cách sinh con, không chỉbao hàm việc lựa chọn sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) mà còn là những
cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai [4],
Các mục tiêu cùa kế hoạch hóa gia đình:
Trang 21và sự bền vừng của gia đình và tôn trọng phẩm giá cùa tất cả mọi người cũng nhưquyền được lựa chọn số con, khoảng cách sinh và thời gian mang thai.
- Ngăn ngừa sự mang thai ngoài ý muốn và giảm các tai biến sản khoa,bệnh tật và tử vong
- Tăng sự hợp tác và chia sẻ trách nhiệm cúa nam giới trong thực hànhKHHGĐ
- Tăng cường cho con bú làm giãn khoảng cách sinh
Các biện pháp tránh thai:
Việc phân loại BPTT có nhiều cách như:
- BPTT tạm thời, BPTT vĩnh viễn
- BPTT có hormone và không có hormone
- BPTT hiện đại, BPTT truyền thống
Các biện pháp tránh thai truyền thống:
- Xuất tinh ngoài âm đạo
- Kicng giao hợp định kỳ
- Cho con bú
Các biện pháp tránh thai hiện đại:
về BPTT hiện đại ta có thể hiếu là biện pháp mà người phụ nữ cần tránh thaiđược sử dụng:
- Một dụng cụ đặt vào tử cung (nhờ cán bộ y tế đặt dụng cụ tử cung)
- Dùng thuốc đế đưa vào cơ thể làm ức che quá trình rụng trứng hoặc làmmỏng niêm mạc tử cung, loãng chất nhầy cổ tử cung, (thuốc tránh thai)
- Có thể phẫu thuật để thắt, cắt ống dẫn trứng, ổng dẫn tinh để ngăn cản sựgặp nhau cúa noãn và tinh trùng (triệt sản nam/triệt sản nữ)
- Đơn gián hơn để ngăn cản không cho noãn gặp tinh trùng có thế dùng baocao su cho nam hoặc nữ
Trang 221.2 Thực trạng bình đắng giói trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em
1.2.1 Tinh hình chăm sóc sức khỏe hà mẹ, trẻ em
Tử vong mẹ đang ở mức cao không thể chấp nhận được Hàng ngày trênkhắp thế giới, có khoảng 800 phụ nữ tử vong do mang thai hoặc do biến chứng liênquan đến sinh đẻ Gần như tất cả những tử vong này xảy ra ở những nơi có cơ sởvật chất thiếu thốn và hầu hết đều có thể phòng tránh được Con số cao của tửvong mẹ phản ánh sự thiếu công bằng trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế và làmnổi bật khoảng cách giàu nghèo
Năm 2010, có 287.000 phụ nữ từ vong trong, sau khi mang thai va sinh đẻ.Phụ nữ tứ vong là do các biến chứng trong, sau khi mang thai va sinh đè Hâu hetnhưng biền chứng nay phát triền trong qua trinh mang thai Các bien chứng khac
có thề tồn tai trước khi mang tha i nhưng trơ nên tồi tệ hơn trong quá trình mangthai Nhưng biền chứng chu yếu chiem tới 80% tư vong me la: chảy máu nhiều,nhiêm trung (thương sau sinh), huyết ap cao trong khi mang thai (tiên sản gịât vasản gịât ) và phá thai k hông an toan Nhưng biền chứng còn lại do liên quan vớinhưng bênh như sồt rét va A1DS trong khi mang thai Có 99% tư vong me xảy ra
ỡ nhưng nước đang phát triền Tư vong me cao hơn ơ nhưng phu nư sống tai nôngthôn và trong cộng đồng ngheo Vị thành niên phai đồi măt với nguy cơ biếnchứng va tư vong cao hơn khi mang thai so với nhưng phu nư lem tuồi Vịêc chămsóc có k'y năng lành nghề trước , trong va sau sinh có thề cứu hang chuc ngan phu
nư va trẻ sơ sinh Trong khi
tiêu chuần chăm sóc cho phụ nữ mang thai đang ngay càng tăng ơ nhiêu nơi trên the giới trong thâp ky qua , thì chỉ có 46% phụ nữ ớ những nước có thu nhâp thấp đựơc hưởng Ịơi tư việc chăm sóc có ky năng lành nghề trong khi sinh đẻ [60],
Tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ sơ sinh ở Châu Phi và Châu Á quá cao so với các châu lục khác: số trường họp tử vong ở bà mẹ và trẻ sơ sinh của hai châu lục
Trang 23biệt trong mối tương quan với tình trạng nghèo đói Kết quả điều tra dân số và sức khỏe tiến hành trong giai đoạn 1995 - 2002 cho thấy trong phạm vi mỗi khu vực,
tỷ lệ tử vong ờ trẻ sơ sinh trong nhóm gia đình nghèo nhất (20%) cao hơn 20% - 50% so với nhóm gia đình giàu nhất Sự bất bình đắng tương tự cũng xảy ra với tình trạng tử vong ỡ bà mẹ [32], Theo số liệu năm 2010, có 6.91 triệu trẻ em dưới
5 tuổi tử vong hàng năm trên toàn thế giới Gần 90% tống số tử vong trẻ em chỉ là
do có 6 căn bệnh: các nguyên nhân sơ sinh, viêm phối, tiêu chảy, sốt rét, sởi, và HIV/AIDS Khoảng 1/3 số tử vong trẻ em có liên quan đến suy dinh dưỡng và vì thế nó gây ra các bệnh của người nghèo và người bị đấy ra lề xã hội Từ 1960 đen
1990, tứ vong trẻ em ở các khu vực đang phát triển đã giảm xuống một nửa chi còn 1 trẻ trong 10 trẻ tử vong trước 5 tuổi Trên toàn cầu, có 7,6 triệu trẻ em dưới 5tuổi tử vong hàng năm, theo số liệu năm 2010 Như vậy, cứ mỗi giờ có khoảng 900trẻ bị tử vong Hơn một nửa số tử vong trẻ em sớm này là do những căn bệnh có thể phòng ngừa hay điều trị được nếu có tiếp cận với các can thiệp đơn giản và chi trả được
Các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi là viêm phối, biến chứng vì đẻ non, tiêu chảy, ngạt thở khi sinh, và sốt rét Trẻ em ở các nước có thu nhập thấp có tỷ lệ tử vong trước 5 tuổi cao hơn 18 lần so với trẻ em ở các nước có thu nhập cao Nguy cơ tử vong của 1 đứa trẻ là cao nhất
Trang 24khi đẻ (ngạt khi sinh hoặc không thở khi sinh) và các nhiễm khuấn là nguyên nhâncho hầu hết những tử vong sơ sinh Từ khi kết thúc giai đoạn sơ sinh đến khi 5tuổi, nguyên nhân chính gây tử vong là viêm phổi, tiêu chảy và sốt rét Suy dinhdưỡng là yếu tố đóng góp chính cho trên 1/3 tất cả tử vong trẻ em, khiến cho trẻ dề
bị cảm nhiễm hơn với bệnh nặng [59]
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về sự sống còn của trẻ (MDG4) nhằm làmgiảm tỷ lệ tử vong trẻ em xuống 2/3 vào năm 2015 từ mức của năm 1990 Để đạtđược mục tiêu MDG4 sẽ cần phải có tỷ lệ bao phủ toàn dân với các can thiệp hiệuquả và chi trả được: chăm sóc trẻ sơ sinh và các bà mẹ; nuôi dưỡng trẻ nhỏ; vắcxin; dự phòng và quản lý ca bệnh viêm phối; tiêu chảy và nhiễm khuẩn; kiếm soátsốt rét; và dự phòng chăm sóc HIV/AIDS Tại các nước có tỷ lệ tử vong cao, cáccan thiệp này có thế làm giám số lượng tứ vong xuống hơn một nửa Đe thực hiệncác can thiệp này, Tổ chức y tế thế giới tăng cường 4 chiến lược chính:
- Chăm sóc tại nhà phù hợp và điều trị kịp thời các biến chứng cho trẻ sơ sinh
- Lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh (IMC1) cho tất cả trẻ em dưới 5 tuồi
- Chương trình tiêm chùng mở rộng (EPI)
- Nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Nhũng chiến lược sức khỏe trẻ em này được các can thiệp sức khỏe bà mẹ bôsung, đặc biệt là chăm sóc với kỹ năng lành nghề khi mang thai và sinh đẻ.Tại Việt Nam, từ 1990, tư vong me đa giam va Vịêt Nam đang trên con đương thưc hịcn MDG 5 (giảm 3/4 tư vong me từ 1990 đến 2015) sức khoe bà mẹ
và việ c tiềp ẹân cac dich yu sức khoẻ sinh san đa cai thiên liên tục tại Việt Nam trong 2 thâp ky qua Theo Bô Y te , tỷ lệ tử vong mẹ (MMR) đã giảm từ
200/100.000 trẻ sinh sống năm 1990 xuồng 80/100.000 trẻ sinh sống
Trang 25năm 2005, và hiện tại ước tính khoáng 65/100.000 trẻ sinh sống Cuộc đé có trợ giúp của nhân viên y te đựơc đao tao đa tăng từ 85% năm 2000 lên 94.7% năm
2008 Trong khuôn khổ cua các Mue tiêu Phát triền Thiên niên ky (MDGs), sức khoe ba me la môt mối quan tâm quan trọng cua Bô Y te va Chính phủ Việt Nam VỊêt Nam cung cam kêt với Chiến lựơc toan câu cua Liên Hop Quốc vê sírc khoe cua Tre em va Phu nư nhằm cứu sống hơn 16 trịêu phu nư va tre em trong vòng 4 năm tới [60]
Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong việc giảm tử vong trẻdưới 1 tuổi và tré em nói chung Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi (IMR) đã giảm từ36,7/1.000 trẻ đẻ sống từ năm 2000 xuống còn 15/1.000 trẻ đẻ sống vào năm 2008
Tỷ lộ tử vong trẻ dưới 5 tuổi (U5MR) cũng đã giảm đáng kế trong những năm gầnđây, từ 58 (trên 1.000 trẻ đẻ sống) năm 1990 xuống 26 vào năm 2008 [33], TheoMICS (các chỉ số kháo sát theo cụm) 2006, 95% trẻ em mắc tiêu cháy được điềutrị tại nhà bằng một hay nhiều biện pháp được khuyến cáo, 65% được điều trị bùdịch đường uống hoặc tăng cường uống bố sung các loại dịch M1CS 2006 cũngthu thập số liệu về điều trị các trường hợp nghi ngờ viêm phổi, cho thấy 55% trẻdưới 5 tuổi trong khảo sát đã được điều trị bằng kháng sinh Đen năm 2008,chương trình báo cáo tỷ lệ bao phú là 95% đối với 6 loại vắc xin (lao, sởi, bại liệt,bạch hầu, ho gà, uốn ván) trên phạm vi toàn quốc Theo MICS 2006, 66% tống sốtrẻ 12-23 tháng tuổi được tiêm chủng đầy đủ phòng chống 6 bệnh nêu trên [34],Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi, trẻ nhỏ và tỷ lệ suy dinhdưỡng đều đang giảm, và Việt Nam đang trên lộ trình đạt tới Mục tiêu Thiên Niên
kỷ 4 - MDG4 (giảm tỷ lệ tử vong trẻ em xuống 2/3 vào năm 2015, từ mức cùa năm1990) Trên toàn quốc, tỷ lệ tử vong trẻ cm dưới 5 tuồi giảm từ 53/1.000 trẻ sinhsống năm 1990 xuống 16/1.000 trẻ sinh sống vào năm 2011 Trong cùng thời gian,
tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuồi giám từ 44 xuống 14/1.000 trẻ sinh sống Tiêm chúng
đã đóng góp rất đáng kể trong thành công bảo vệ trẻ em Việt Nam hàng năm khởi
bị các bệnh như sởi, bại liệt, bạch hầu và uốn ván Các chương trình kiếm soát
Trang 26bệnh tật cũng đã giải quyết các bệnh quan trọng như tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấpcấp, sốt rét và suy dinh dưỡng Trẻ em dưới 6 tuổi được bảo hiềm y tế chi trả [59],
1.2.2 Thực trạng hình đăng giới trong chăm sóc sức khỏe hà mẹ, trẻ em
Tuyên bố Thiên niên kỷ và các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đã mở racánh cửa mới cho việc thúc đẩy BĐG Với tiềm năng của mình, Tuyên bố Thiênniên kỷ và MDGs có thể trở thành phương tiện hóa giải mối ràng buộc dai dẳnggiữa bất bình đẳng giới, sự lãng phí và hủy hoại tiềm năng con người của phụ nữ
và sự nghèo đói ngày càng gia tăng [54],
Nam giới thường là những người có thu nhập chính trong gia đình kết quá làvai trò của nam giới có thế được đánh giá cao hơn so với vai trò của phụ nữ, và giađình có thể không muốn sử dụng các nguồn lực cho việc chăm sóc thai sản chongười phụ nữ Phụ nữ mang thai có thể tự chăm sóc cho sức khỏe cứa mình hoặctới các cơ sớ y tế để được chăm sóc chi khi có những dấu hiệu nguy hiềm phátsinh, họ có thể bị chồng hoặc mẹ chồng trách mắng về những điều đó Nam giới làngười ra quyết định chính về chăm sóc sức khóe cho vợ ví như sinh con ở thờiđiểm nào, sinh con ở đâu, nhưng họ thường không biết gì về nhũng sức khỏe của
vợ trước, sau và thậm chí trong khi sinh Trong một số xã hội, các chuẩn mực giớiyêu cầu người phụ nữ chứng tỏ sức mạnh của mình bằng cách thông qua lao động
và sinh con với ít hoặc không có sự hồ trợ [55]
Sự tham gia của nam giới trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em (BMTE)được đánh giá thông qua việc họ đi cùng vợ trong khi khám thai, việc đàn ông nghichế độ thai sản dù được trả lương hay không, việc tham gia chăm sóc con cái cùng
vợ hay không Ớ Nepal, có khoảng 40% nam giới được điều tra trả lời rằng có đicùng vợ trong lần mang thai gần nhất, 55% nam giới tham gia vào việc chăm sóccon cái, 20,3% nam giới (trong tống số 49% nam giới có việc làm) có nghi thai sảnkhi vợ sinh con lần gần nhất [28] Ờ Nam Phi: Sự tham gia của nam giới trongchăm sóc thai sản đã có biến đổi rỗ rệt khi được tăng cường kiến thức về các chủ
Trang 27đề như bệnh lây truyền qua đường tình dục (sự tham gia của nam giới là 75% sovới trước đây là 64%), quan hệ tình dục (sự tham gia của nam giới là 81% so vớitrước đây là 75%), chủng ngừa (sự tham gia của nam giới như đưa vợ đi khám thai
là 81% so với trước đây là 75%), và nuôi con bằng sữa mẹ (sự tham gia của namgiới là 87% so với trước đây là 83%) [55]
Tại Việt Nam, “Báo cáo phát triển con người 2011” do UNDP công bổ chothấy, Việt Nam xếp thứ 128 trên 187 quốc gia và vùng lãnh thổ, mức trung bìnhtrên thế giới, về chỉ số phát trien con người (HDI) nhưng lại xếp thứ 48 trên thếgiới về chỉ số bất bình đắng giới (GII) Năm 1995 GII của Việt Nam là 0,373 đếnnăm 2008 chỉ số này giảm xuống còn 0,271 nhưng sang năm 2011 lại có xu hướngtăng 0,305 [29]
So với các nước trong khu vực ASEAN, Việt Nam xếp thứ 7/11 nếu xét vềchỉ số HDI, nhưng nếu xét về chỉ số GII, Việt Nam lại đứng thứ 3, sau Singapore
và Malaysia Như vậy, mặc dù chỉ số phát trien con người của Việt Nam còn hạnchế so với các nước trong khu vực nhung mức độ bình đảng giới của Việt Namluôn thuộc những nước hàng đầu khu vực Bởi Việt Nam có những chính sách tốtnhằm thúc đấy BĐG trong mọi lĩnh vực như chính trị, y tế, giáo dục
Điều tra Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ) 1/4/2011 của Tổngcục Thống kê cho thấy tổng tỷ suất sinh là 1,99 con Tỷ lệ các bà mẹ khám thai từ
3 lần trở lên trong thời kỳ mang thai là 76% Nếu theo tiêu chí của UNDP (ít nhất
1 lần khám thai) thì tỷ lệ này của Việt Nam là 93,8% Thành công cùa chươngtrình DS — KHHGĐ trong thời gian qua đã mang đến nhiều cơ hội lớn cho phụ nừtrong việc tiếp cận và thụ hưởng các quyền, dịch vụ về y tế, DS - KHHGĐ Cũngtheo Tổng cục Thống kê, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi năm 2011 của Việt Nam là15,%0 Theo WHO (Tổ chức Y tế thế giới) và UNDP (chương trình phát triển LiênHợp Quốc) thì tỷ suất chết bà mẹ của Việt Nam là 56 (trên 100,000 trẻ sinh rasống), số trường họp sinh có sự giúp đỡ của cán bộ y tế là 88% Mức chết giảm
Trang 28cùng với việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y tế và điềukiện kinh tế xã hội của đất nước tốt hơn đã làm tuối thọ của người dân ngày mộttăng, trong đó, tuổi thọ của phụ nữ luôn cao hơn nam giới Năm 2011, tuổi thọ củaphụ nữ Việt Nam là 76 và nam giới là 70 tuồi.
1.3 Thực trạng bình đẳng giói trong lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình
1.3.1 Tinh hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình
Trên The giới ước tính có 222 triệu phụ nữ ở những nước đang phát triểnmuốn trì hoãn việc mang thai hoặc không muốn có con nhưng không sử dụng bất
kỳ phương pháp tránh thai nào BPTT đã được sử dụng tăng lên ở nhiều nơi trênthế giới đặc biệt là ở châu Á và châu Mỹ La tinh, nhưng vần thấp ở vùng châu Phicận Sahara Trên toàn cầu, việc sử dụng các BPTT hiện đại đã tăng nhẹ từ 54%năm 1990 lên 57% trong năm 2012 Trong khu vực, báo cáo về tỷ lệ phụ nữ trong
độ tuổi 15-49 sử dụng một BPTT hiện đại đã tăng tối thiêu hoặc chừng lại từ năm
2008 đên năm 2012 ơ châu Phi tỷ lệ này là 23% - 24%, ở châu Á đã duy trì ở mức
62%, và ở Mỹ Latinh và vùng Caribean tỷ lệ này tăng nhẹ từ 64% đến 67%.Không có sự khác biệt đáng kể giữa các nước trong khu vực này [39],
Thống kê của WHO cho thấy hàng năm hơn 1/3 các thai kỳ ở các nước đangphát triển là thai ngoài ý muốn Hầu hết các trường hợp mang thai ngoài ý muốnxảy ra ở những phụ nữ không sử dụng BPTT; tỷ lệ này ở Mỹ năm 2006 là 66%.Đáp ứng nhu cầu về tránh thai của phụ nữ là một vấn đề cấp thiết hiện nay Mồinăm trên thế giới có hơn 100 triệu phụ nữ đã có gia đình chưa được đáp ứng vềnhư cầu tránh thai, trong đó vùng Nam Á và Đông Nam Á chiếm hơn 56%, nghĩa
là gần 60 triệu phụ nữ Theo ước tính cúa Quỹ Dàn số Liên Hiệp quốc, nhu cầu vềtránh thai sẽ tăng thêm 40% nữa trong vòng 15 năm tới, đặc biệt ở các nước đangphát triển Nhu cầu chưa được đáp ứng để tránh thai vẫn còn quá cao Bất bìnhđẳng này được thúc đẩy bới cả một gia tăng dân số, và sự thiếu hụt các dịch vụK.HHGĐ Tại châu Phi, 53% phụ nữ ở độ tuồi sinh đẻ có một nhu cầu chưa đượcđáp ứng để tránh thai hiện đại Ờ châu Á, châu Mỹ Latinh và vùng Caribê - khu
Trang 29vực có BPTT tương đối cao - mức độ nhu cầu chưa được đáp ứng tương ứng là21% và 22% [61] Năm 2010, 22% phụ nữ đã lập gia đình ở vùng tiểu Sahara châuPhi cỏ nhu cầu nhưng chưa được đáp ứng về KHHGĐ, có nghĩa là họ muốn đổ trìhoãn sinh tiếp theo của họ hay không có thêm con nữa, nhưng không sử dụng bất
kỳ hình thức kế hoạch hóa gia đình nào [39],
Tại Malawi tất cả những người tham gia vào nghiên cứu đã nói rằng họ đãkhông sử dụng BPTT trước khi can thiệp Sau khi có sự can thiệp, 78% phần trămcúa nhóm có can thiệp và 59% của nhóm chứng báo cáo rằng họ đă sử dụng cácphương pháp kế hoạch hóa gia đình với vợ của họ Phát hiện này đại diện cho một
sự gia tăng đáng kề trong sử dụng BPTT trong cả 2 nhóm: ớ nhóm can thiệp so vớinhóm đối chứng Trong số những người đàn ông trong nhóm can thiệp đã báo cáo
sự áp dụng KHHGĐ, 56% báo cáo sử dụng bao cao su, 41% báo cáo sử dụngthuốc tiêm và 14% báo cáo sử dụng thuốc kiểm soát sinh Trong nhóm can thiệp,bao cao su là phương pháp sử dụng thường xuyên nhất (63%), tiếp theo là thuốctiêm (39%) và các thuốc kiểm soát sinh (11%) Sau khi có sự can thiệp, nhữngbiện pháp KHHGĐ truyền thống (ví dụ, phương pháp tính vòng kinh), dụng cụ tửcung, cấy ghép, màng ngăn, và triệt sản nam đã từng báo cáo 4 lần hoặc ít hơn[38],
Ớ khu vực Mwanza có 15,2% phụ nữ có chồng đã sử dụng ít nhất mộtBPTT Trong số đó, 11,7% đã sử dụng BPTT hiện đại và 3,5% đã sử dụng phươngpháp KHHGĐ truyền thống Khu vực này có tổng cộng 377 cơ sớ y tế, trong đóchủ yếu cung cấp các dịch vụ KHHGĐ Các cơ sở trong khu vực từ trạm xá, trungtâm y tế, bệnh viện huyện, bệnh viện khu vực và bệnh viện chuyên khoa Hơn nữa,Mwanza là một trong những khu vực ở Tanzania có nhu cầu chưa được đáp úngcao cho các biện pháp tránh thai (21,6%) [40], Sử dụng các phương pháp truyềnthống ở châu Phi cao hơn so với các vùng đang phát triển khác Trong khu vực này13% phụ nữ muốn tránh thai dựa vào một phương pháp truyền thống, bao gồm tínhvòng kinh (7%) và xuất tinh ngoài âm đạo (2%) [44],
Trang 30Chúng ta so sánh những kinh nghiệm và nồ lực của nhũng chương trình điểm
về kế hoạch hóa gia đình của bốn cặp các nước: Bangladesh và Pakistan, Iran vàJordan, Kenya và Uganda, Indonesia và Philippines đồ thế hiện rõ hơn tác độngcủa các chương trình KHHGĐ vào sở thích khả năng sinh sán Mức độ phát triển(được đo bằng chi số phát triển con người) cho hai nước trong mỗi cặp là tương tựnhau Những chương trình được tài trợ cung cấp dịch vụ tránh thai trợ cấp toànquốc đã được thực hiện bởi các chính phú Bangladesh (chương trình nỗ lực điểm
số, 74% tối đa), Kenya (62%), Iran (71%) và Indonesia (82%) Ngoài ra, chiếndịch thông tin, giáo dục và truyền thông giao tiếp mạnh mẽ những lợi ích của biệnpháp tránh thai và quy mô gia đình nhỏ Ngược lại, các chương trình kế hoạch hóagia đình tương đối yếu thiếu kinh phí và cam kết chính trị tồn tại ở Pakistan (57%),Jordan (47%), Uganda (54%) và Philippines (54%) [43],
Tại Việt Nam, theo thống kê gần đây của Tổng cục DS - KHHGĐ trên cảnước, tỷ lệ sử dụng tránh thai tại thời điểm 1/4/2012 đạt 78,2%, trong đó các biệnpháp hiện đại chiếm 66,6% Tỷ lệ sử dụng tránh thai ở nông thôn cao hơn ở thànhthị Sử dụng các BPTT hiện đại ờ nông thôn cũng cao hơn thành thị (68,2% và63,0%) Xu hướng này diễn ra trong suốt thập kỷ vừa qua Tý lệ sử dụng biện pháptránh thai hiện đại khá cao ở các vùng còn khó khăn và lạc hậu về kinh tế - xã hộinhư Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (68,3%) và Trung du và miền núiphía Bắc (65,8%) và đối với các nhóm phụ nữ có trình độ học vấn thấp hơn nhưchưa đi học (70,3%), chưa tốt nghiệp tiểu học (70,0%) và tốt nghiệp tiểu học(69,2%) Tỷ lệ sử dụng các biện pháp có hiệu quả tránh thai cao hơn như thuốctránh thai, bao cao su có xu hướng tăng, nhưng không đáng kề Trong số nhữngphụ nữ hiện không sử dụng các biện pháp tránh thai, lý do muốn có con chiếm43,7%, lý do đang mang thai chiếm 16,8% (tăng 2,6 điểm phần trăm so với năm2011) Trong số lý do khác (39,5%), lý do không sử dụng BPTT do đã mãn kinhcũng chiếm tỷ lệ khá lớn (16,9%) Các lý do chưa hiểu biết hoặc bị người thânphản đối chiếm tỷ trọng khá nhỏ, với tỷ lộ tương ứng là 1,1% và 0,9% Tỷ lệ
Trang 31không sử dụng biện pháp tránh thai do "Đang mang thai" tại thời điếm 1/4/2012 có
xu hướng tăng lcn so với mấy năm gần đây báo hiệu mức sinh năm 2012 có thố sẽtăng lên
Tại Thái Bình, năm 2013 Ban chỉ đạo lĩnh vực dân số cấp tỉnh ban hànhcông văn chi đạo đợt hoạt động mạnh trong toàn tinh ngay từ tháng 01 và kế hoạchChiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép cung cấp dịch vụ sứckhỏe sinh sản (SKSS)/KHHGĐ đến vùng đông dân, có mức sinh cao và vùng khókhăn tại 80 xã thuộc 6 huyện, thành phố và 32 xã thuộc 02 huyện biển Ket quả củachiến dịch tại 80 xã trong 6 tháng đầu năm [12]:
- Triệt sản 70/100 ca đạt 70 % kế hoạch
- Đặt dụng cụ tử cung 6.849 ca/10.400 ca đạt 65,8% kế hoạch
- Sử dụng thuốc tiêm 665/720 ca đạt 92% kế hoạch
- Sử dụng thuốc cấy 3/90 ca đạt 38% kế hoạch
1.3.2 Thực trạng bình đắng giới trong kế hoạch hóa gia đình
Trước đây, lồng ghcp giới dường như tồ chức có hiệu quả nhất chỉ trong lĩnhvực HIV/AIDS, vì mối liên hệ giữa quan hệ giới không công bằng và sự lây lancủa HIV/AIDS qua đường tỉnh dục đã được chứng minh Trong những năm gầnđây, tầm quan trọng của giới trong các rình vực chăm sóc SKSS khác như cải thiệnsức khỏe bà mẹ, chăm sóc sức khỏe trẻ em và KHHGĐ đang ngày càng đượcchứng minh
Ước tính có khoảng 222 triệu phụ nữ ở các nước đang phát triển muốn trìhoãn hoặc ngừng mang thai nhưng không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai Mộttrong những lý do cho việc trên là rào cản trên cơ sở giới Sử dụng các biện pháptránh thai của nam giới tạo nên một tập hợp tương đối nhỏ của tỷ lệ trên Cácphương pháp tránh thai hiện đại cho nam giới được giới hạn cho bao cao su nam
và triệt sản (thắt ống dẫn tinh)
Những người trẻ tuổi ở Malawi đặc biệt cần thông tin về KHHGĐ, điều nàyđược minh họa bằng tỷ lệ kết hôn sớm, mang thai ở tuổi vị thành niên và tỷ lộ sử
Trang 32dụng biện pháp tránh thai hiện đại chiếm rất thấp Một phần ba số phụ nữ từ 15đến 19 tuồi đã từng có thai, và chi có 7,6% hiện đang sử dụng một phương pháptránh thai hiện đại Trong số phụ nữ có chồng trong độ tuổi từ 15 đến 19 có 26,1%
có nhu cầu chưa được đáp ứng cho kế hoạch gia đình, và mặc dù thực tế là cácquyết định chăm sóc sức khòe của gần ba phần tư số phụ nữ đã lập gia đình đượcthực hiện bởi người chồng của họ, hơn một phần ba chưa bao giờ nói chuyện vớichồng của họ về kế hoạch hóa gia đình [47], Nghiên cứu ớ hơn 250 làng ở Malawinông thôn cho thấy, trong số những người đàn ông đã được cung cấp thông tin vàkhuyến khích từ đồng nghiệp của họ về việc sử dụng kế hoạch hóa gia đình, sửdụng các phương pháp hiện đại tăng từ số không đến khoảng 78% [38]
Những người đàn ông giao tiếp với bạn đời của họ thường xuyên có nhiềukhả năng sử dụng kế hoạch hóa gia đinh hơn là những người không, và chất lượngcủa truyền thông về KHHGĐ gia đình lập kế hoạch ảnh hường đến sự đồng thuận
vợ chồng về quy mô gia đỉnh và có tương quan với việc sử dụng biện pháp tránhthai hiện đại [38],
Vai trò của nam giới trong quá trình ra quyết định về việc sử dụng các dịch
vụ Sức khỏe sinh sản của phụ nữ là rất quan trọng trong sự áp dụng của các dịch
vụ Ket quá nghiên cứu cho thấy rằng những người đàn ông đóng một vai trò quantrọng trong việc lựa chọn địa diêm khám thai hoặc các dịch vụ chăm sóc thai sảncho vợ Điều này sẽ có ý nghĩa quan trọng đến việc sử dụng dịch vụ y tế có sựtham gia của nhân viên y tế có trình độ chuyên môn cao ở Kenya Vì vậy, nó rấtquan trọng liên quan đến người đàn ông trong vấn đề sức khỏe sinh sản bằng cáchtrao quyền cho họ thông qua nâng cao kiến thức của họ về các vấn đề sức khỏesinh sản [42],
Ớ Việt Nam, sổ liệu điều tra của Uỷ ban quốc gia DS - KHHGĐ, 2001 chothấy tương quan giới trong sử dụng các biện pháp tránh thai có sự bất bình đẳngkhá lớn Trong số các biện pháp tránh thai hiện đại, phụ nữ vẫn là nhóm người sửdụng chiếm phần lớn trong khi đó nam giới chỉ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn 8,4%
Trang 33(bao cao su và đình sàn nam) [24], [27], Cuộc điều tra về thực trạng cung cấp và
sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS vào năm 2003 cho thấy các biện pháp dành chonam giới như triệt sán và dùng bao cao su chiếm khoáng 22% tống số những người
sử dụng các biện pháp tránh thai trong hộ gia đình [23] Sự chia sẻ này thê hiện vaitrò, trách nhiệm của nam giới cũng như sự tôn trọng quyền của phụ nữ trong chămsóc SKSS và đó cũng thể hiện sự BĐG trong chăm sóc SKSS Tuy nhiên, tỷ lệnam giới trực tiếp sử dụng các biện pháp tránh thai để chia sẻ trách nhiệm với phụ
nữ vẫn còn thấp Họ thường không muốn sử dụng các biện pháp tránh thai như baocao su, xuất tinh ngoài âm đạo hay triệt sản nam Hậu quả là làm tăng nguy cơ lâynhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục và có thai ngoài ý muốn, số liệuđiều tra biến động DS - KHHGĐ 1/4/2004 cũng cho thấy tình trạng bất bình đẳnggiới trong việc sử dụng các BPTT hiện đại giữa phụ nừ và nam giới vẫn còn chênhlệch khá lớn BPTT hiện đại mà phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ lựa chọn là 75,9%trong khi đó nam giới chỉ chiếm 9,7% [27], Năm 2005, tỷ lộ nam giới thực hiệnbiện pháp kế hoạch hoá gia đình thấp, gánh nặng chủ yếu dồn lên vai phụ nữ:76,7% nữ giới trong độ tuối từ 15-49 có chồng sử dụng biện pháp tránh thai trongkhi nam giới sử dụng bao cao su là 9,3%, triệt sản nam 0,4% [35]
Qua điều tra biến động dân số vào ngày 01/4/2012, tỷ lệ những cặp vợ chồng
sử dụng các BPTT có sự tham gia của nam giới như: đình sản nam, bao cao su,tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo chiếm tỷ lệ thấp Điều này nói lên vấn nạnbất bình đẳng giới trong gia đình vẫn còn tồn tại; hầu như chỉ có phụ nừ chịu thiệtthòi phải sử dụng các BPTT (đặc biệt dùng thuốc uống và tiêm) sê ảnh hưởng rấtnhiều đến sức khỏe cùa chị em [25] Theo số liêu báo cáo về công tác dân sốKHHG Đ tai tinh Thưa Thiên Huề , tỷ lệ sử dụng các BPTT cua nam giới có chiêuhướng tăng lên tư 19,4% năm 2010 lên 23,7% năm 2013 Tỷ lệ sử dụng bao cao sutăng từ 18,6% năm 2010 lên 23,0% năm 2013 Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổ
i sinh đe sư dung các BPTT hịên đai la 71,5%, trong đó có 23,7% người sư dung la
Trang 34nam giới Toàn tỉnh hiện có 7623 ca đinh san thi chi có 777 ca đinh san nam(10,2%) Tỷ lệ sử dụng bao cao su la 23,0% [7],
1.4 Một số yếu tố liên quan đến bình đẳng giói trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ cm - kế hoạch hóa gia đình
Những người đàn ông bị hạn chế kiến thức về kế hoạch hóa gia đình, cácdịch vụ kế hoạch hóa gia đình không đáp ứng đầy đú nhu cầu của người đàn ông
và sự giao tiếp giữa 2 vợ chồng về các vấn đề kế hoạch hóa gia đình nói chung làcòn ít Tuy nhiên, hầu như tất cả đàn ông đã được công nhận thuộc quy mô giađình hiện đại và bày tỏ sự quan tâm rất lón trong việc tham gia Sự thay đổi tíchcực về mặt niềm tin và thái độ của người đàn ông đối với kế hoạch gia đình trongnhững năm qua đã không được công nhận bởi các nhà quản lý chương trình kếhoạch hóa gia đình, kể từ khi dịch vụ có sẵn không phù hợp với thái độ của côngchúng hiện nay Cách tiếp cận và định hướng nhiều hơn đến kế hoạch hóa gia đình
là cần thiết Các biện pháp có thể bao
gồm, ví dụ tuyến dụng nam giới như các nhà cung cấp kế hoạch gia đình, cung cấpnhiều kiến thức gia đình, tư vấn lập kế hoạch cho các cặp vợ chồng và thúc đấynhững phương pháp phụ nữ nên kết hợp theo định hướng với những người đàn ông
và ngược lại [44],
Những phụ nữ có giáo dục bậc trung học cũng thực hiện các biện pháp kếhoạch hóa gia đình để đạt được quy mô gia đình mong muốn của họ và khoảngcách giữa các lần sinh Chúng ta thấy một sự khác biệt trong giáo dục trung họclàm cho việc trao quyền cho phụ nữ để sử dụng kế hoạch hóa gia đình diễn rathuận lợi hơn Ớ Burkina Faso, Uganda, Ethiopia hay ở Cameroon tỷ lệ phụ nừ cógiáo dục bậc trung học sử dụng kế hoạch hóa gia đình đều trên 40% và chiếm tỷ lộcao nhất, chiếm tỷ lệ thấp nhất là những phụ nữ không được đi học Kct quả là tỷ
lệ sinh giảm mạnh, phụ nữ có thế quyết định việc thực hiện KHHGĐ và tạo quy
mô gia đình của họ [56], [57], [58], Như vậy trình độ học vấn của người phụ nữcũng ánh hưởng rất nhiều đến vấn đề sử dụng các dịch vụ KHHGĐ
Trang 35Trình độ học vấn là yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc chăm sócSKSS, nhất là trình độ học vấn của phụ nữ Qua kết quả một số cuộc điều tra cũngnhư trên thực tế cho thấy, những phụ nừ có trình độ học vấn cao thường có khảnăng nhận thức được lợi ích của việc chăm sóc SKSS Chỉ cần đạt tới một trình độhọc vấn nhất định cũng làm tăng khả năng sử dụng các biện pháp tránh thai, đikhám và giảm tỷ lệ sinh đẻ ở người phụ nữ tăng rỗ rệt Phụ nữ có trình độ học vấnthấp hơn nam giới có nhiều khả năng (1,44 lần) đối mặt với bạo lực ở Việt Namtrong khi ở Nepal, họ chỉ có nửa khả năng đổi mặt với bạo lực (0,51 lần) Ngượclại, phụ nừ với thu nhập thấp hơn co nhiều khả năng đối mặt với bạo lực ở Nepal(1,49 lần) trong khi ở Việt Nam họ ít co khả năng đối mặt với bạo lực (0,65 lần).Kct quá nghiên cứu cho thấy, tuổi trung bình sinh con lần đầu cùa phụ nữchưa đi học là 21,2; của phụ nữ đã tốt nghiệp trung học phố thông là 24,9;tống tỷ suất sinh tương ứng là 2,82 con và 1,39 con Những người càng có trình độhọc vấn cao thì chăm sóc thai nhi và đi khám bệnh ở bệnh viện càng nhiều hơn Họkhông chỉ nhận thức được cách thức trong chăm sóc SKSS, mà còn nhận biết đượcvai trò, trách nhiệm của bản thân cũng như vai trò, trách nhiệm của người chồngtrong việc chăm sóc SKSS Phụ nữ có trình độ học vấn càng cao thì khả năng bìnhđảng với nam giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội càng lớn Trình độ họcvấn của phụ nữ có mối liên hệ chặt chẽ với việc chăm sóc SKSS, sử dụng các biệnpháp tránh thai, giảm tỷ lệ sinh và tăng khoảng cách giữa các lần sinh Phụ nữ cóhọc vấn cao hơn thì có ít con hơn những phụ nữ học vấn thấp, bới nhiều lý do: họlập gia đình muộn hơn ncn có ít năm trong độ tuổi sinh đẻ hơn; họ có hiểu biết hơn
về cách hạn chế sinh đẻ ncn tự tin hơn và có nhiều quyền lực hơn trong việc raquyết định về việc sinh con; họ có những ước vọng cao hơn cho con cái mình vànhận thức được sự đánh đối giữa việc thực hiện những ước vọng đó với việc sinhnhiều con [23]
Lĩnh vực truyền thông, giáo dục về chăm sóc SKSS chưa đặt vấn đề tiếp cậngiới trong việc cung cấp thông tin, dịch vụ và bình đẳng đối với việc ra quyết định
Trang 36về SK.SS Các chương trình về SKSS đã được triến khai từ nhiều năm, nhưngthường tập trung các hoạt động vào đối tượng nữ Các biện pháp tránh thai tuy đãđược tuyên truyền và hướng dẫn sử dụng nhưng đối tượng chính hướng tới vần làphụ nữ khiến cho mọi người cả nam và nữ đều quan niệm rằng đây là vấn để chỉcủa riêng phụ nữ Vì vậy tất cả gánh nặng trách nhiệm trong kế hoạch hoá gia đìnhvần đặt lên vai người phụ nữ như đẻ nhiều, đỏ dày, thực hiện các biện pháp tránhthai, vỡ kế hoạch, không có con, con suy dinh dưỡng, con hư Vô hình chungnam giới đã bị đặt ra ngoài, không thu hút được sự tham gia và chia sè của họ.Chính vì thế, việc cung cấp bình đắng các thông tin về giới và SKSS cùng vớinhững nồ lực trong tuyên truyền tới các cặp vợ chồng sẽ khuyến khích sự trao đốithông tin trong gia đình, từ đó thúc đấy sự tham gia của nam giới vào các hành viSKSS, góp phần cãi thiện tình trạng bình đăng trong gia đình [27].
Các chiến lược, chính sách trong kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc SKSS ởnước ta hiện nay vẫn chưa đề cập một cách đầy đủ tới trách nhiệm của nam giới,cũng như các biện pháp thay thế khác nhau để hạn chế sinh đẻ, phòng ngừa cácbệnh lây truyền qua đường tình dục Thiếu sự cam kết cần thiết cho việc quàng bá
sử dụng bao cao su trong xã hội Vì xã hội vẫn coi rằng việc thông tin, tư vấn vàquảng bá bao cao su sẽ đồng hành với việc hợp pháp hoá và thậm chí khuyếnkhích quan hệ tình dục bừa bãi, khuyến khích hoạt động mại dâm Nhận thức sailầm này đã dần đến việc sử dụng bao cao su ở nước ta vẫn còn ở mức tối thiểu,điều đó đã khiến tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn và nạo hút thai trờ nên khá phốbiến, ảnh hường xấu đến sức khoe và SKSS của phụ nữ [27],
Phân tích cho thấy với trình độ học vấn càng cao, tỷ lệ nam giới gây bạo lựcđối với vợ/bạn tình có xu hướng giảm Ở Việt Nam, tuổi tác cũng có ánh hưởngđáng kề tới việc sử dụng bạo lực, với tý lệ nam giới đã từng gây bạo lực tăng theo
độ tuổi Do vậy, ở Việt Nam, nam giới nhiều tuổi hơn nhưng trình độ học vấn thấphơn có xu hướng thực hiện bạo lực đối với vợ/bạn tình của mình nhiều hơn ÓNepal, nam giới đã lập gia đình có xu hướng bạo lực bạn tình gấp đôi (2,01 lần)
Trang 37trong khi đó ở Việt Nam, hôn nhân dường như không có ảnh hưởng Nghề nghiệpcũng có ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt tới bạo lực bạn tinh: doanh nhân và nhữngngười làm việc ờ cửa hàng hoặc có cửa hàng có nhiều xu hướng thực hiện bạo lựcbạn tình hơn hẳn (2,47 lần ở Ncpal và 1,67 lần ở Việt Nam) cao hơn những ngườilàm việc chuyên môn Xu hướng này cũng cao trong số những người lao động phổthông ỡ Việt Nam, với tỷ lệ thực hiện bạo lực bạn tình gấp đôi (2,1 lần) so vớinhững người làm việc chuyên môn.
Học vấn, tình trạng hôn nhân và loại hình gia đình có ảnh hướng đáng kếđến tâm lý ưa thích con trai của đàn ông Việt Nam Những người có trình độ họcvấn trên phổ thông trung học có tỷ lệ ưa thích con trai chỉ bằng một nửa nhũngngười có trình độ tiểu học Nam giới đã kết hôn có tỷ lệ ưa thích con trai cũng chỉbằng một nửa so với nam giới độc thân Các đặc điểm nền tảng khác có ý nghĩa ởViệt Nam là trải nghiệm thời thơ ấu về bình đẳng giới, nam tính thái quá và áp lựckinh tế Trải nghiệm thời thơ ấu của nam giới về bình đẳng giới cỏ mối quan hệtiêu cực với thái độ ưa thích con trai của họ Chẳng hạn như nam giới đã từng tráinghiệm hoặc chứng kiến bất bình đẳng giới thời thơ ấu có xu hướng ưa thích contrai hơn Tương tự như vậy, có một tỷ lệ lớn nam giới thừa nhận hành vi nam tínhthái quá sẽ dần đến việc có tư tướng nặng nề về ưa thích con trai Điều này cũnghoàn toàn đúng với nam giới đã phải chịu sức ép về kinh tế Mối liên quan của cácyếu tố này không có ý nghĩa thống kê đổi với nam giới ở Nepal Tuy nhiên, ởNepal, tâm lý ưa thích con trai lại gắn liền với mức độ trầm cám Do vậy, nam giới
có mức độ trầm cảm ở mức cao/trung bình càng nhiều, họ chắc chắn sẽ ưa thíchcon trai nhiều hơn
Ớ hai miền Nam và Bắc của Việt Nam, nghề nghiệp của nam giới có liênquan rõ rệt đến kiến thức của họ về luật pháp Chẳng hạn như nông dân có hiểubiết kém hơn, nam giới làm việc theo chuyên môn có hiểu biết rộng hơn, trong khi
đó ở Nepal, nghề nghiệp chỉ liên quan rổ rệt đến các luật bảo vệ phụ nữ phòngchống bạo lực Nơi cư trú ở khu vực nông thôn hay thành thị cũng là một yếu tố
Trang 38quan trọng liên quan đến kiến thức của nam giới về luật Ớ Việt Nam, nam giớithành thị cũng nhận thức hơn nam giới ở nông thôn về tất cả 3 luật: Luật Bìnhđẳng giới năm 2006, Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình năm 2007 và Chiến lượcỌuốc gia về Bình đắng giới năm 2010 nhưng ở Nepal yếu tố này chì quan trọngđối với luật về quyền thừa kế của con gái [9], [17], [28].
Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đã coi trọng chăm sóc SKSS làtrách nhiệm của cả nam giới và phụ nữ Nam giới phải chia sẻ với phụ nữ trongcông việc gia đình, nuôi dạy con cái, kế hoạch hoá gia đình cũng như các hành visinh sản Đã có sự thay đổi về quan điểm nhìn nhận vai trò của vợ, chồng trongviệc bàn bạc quyết định các việc lớn và việc chia tài sản thừa kế cho cả con trai vàcon gái thay cho cách ứng xử truyền thống chỉ nghiêng về nam giới và con trai nhưgiai đoạn trước Việc đầu tư học tập cho con có khả năng không phụ thuộc vàogiới tính cũng đã được phần lớn các gia đình lựa chọn và ứng dụng trong thực tế,ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn về kinh tế Nam giới vẫn là người đưa ra cácquyết định lớn, biểu hiện rõ nét nhất là ở các vùng nông thôn Phụ nữ vẫn là ngườiđảm đương hầu hết mọi công việc lao động gia đình nên không có điều kiện thờigian đế học tập nâng cao trình độ, tham gia các hoạt động xã hội và nghi ngơi, giảitrí
Trong các chương trinh DS - KHHGĐ vịêc thưc hiên binh đằng giới con hạnchế do một bộ phận người dân V ẫn còn suy nghT chuy ện sinh đẻ và KHHGĐ làcủa phu nư Nam giới chưa thât sư vao cụôc va chia se trách nhiêm với phu nư, do
đó dễ dàng nhận thấy tại các buổi tuyên truyền về DS - KHHGĐ, nam giới ít chủđộng tham gia mà thường chỉ có nữ giới Ngoài ra, do quan niệm sai lệch về vai tròcủa mình trong vấn đề DS - KHHGĐ nên nam giới nhất la ơ các vung sâu, vùng
xa, ven biền, đâm phá con han chế kiến thức vê DS — KHHGĐ Điều đáng quantâm là phần lớn dân số Việt Nam tập trung ở vùng nông thôn - nơi còn chịu nhiềuành hưởng của tư tương trong nam hơn nư nên phụ nữ ngoài sự vất vả của côngviệc, còn phải chịu áp lực từ phía người chồng, phía gia đình và cả xã hội, đặc biệt
Trang 39là những khó khăn trong việc quyết định hành vi sinh đè, khi chưa có con trai.Chính quan niệm này đã là một trong những rao can trong vịêc triền khai chươngtrinh DS - KHHGĐ nói chung và vấn đề BĐG nói ricng.
Chương 2
ĐỚI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 Đối tượng, địa bàn và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tinh Thái Bình
Một số đặc điểm cúa huyện Quỳnh Phụ:
Huyện Quỳnh Phụ là một huyện đồng bằng, thuần nông, diện tích tự nhiên
là 205,6 km2 Huyện nằm xa trung tâm tĩnh (phía Bắc của tỉnh), gồm 36 xã và 02thị trấn Hệ thống y tế trên địa bàn huyện: có Phòng y tế, Trung tâm y tế huyện, 2Bệnh viện đa khoa tuyến huyện, có 38 Trạm y tế, mỗi trạm có 01 cán bộ chuyêntrách về dân số, 484 cộng tác viên dân số - y tế Trong đó có 35/38 trạm y tế đạtchuấn quốc gia về y tế xã Dân số của huyện tính đen hết tháng 6/2014 là 266.354nguời, số phụ nữ 15 - 49 tuối là 65.540 nguời, số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh
đẻ là 44.869 cặp, số cặp vợ chồng đang áp dụng các BPTT 32.647 cặp, số ca nạohút thai trong toàn huyện 301 ca
Sau 03 năm thực hiện Quyết định số 07/2010/QĐ - UBND về việc banhành quy định một số chế độ khen thuởng, khuyến khích và xử lý vi phạm chínhsách về DS - KHHGĐ huyện Quỳnh Phụ, đã có 18 thôn trong 03 năm liền không
có nguời sinh con thứ 3 trớ lên Huyện đã thành công trong việc giảm tình trạngmất cân bằng giới tính khi sinh (GTKS), năm 2008 tỷ số GTKS là 120 bé trai/100
bé gái, năm 2009 tỷ số này là 121 bé trai/100 bé gái đến năm 2011 tỷ số này là 109
bé trai /100 bé gái, năm 2012 là 102 bé trai/100 bé gái (số liệu trên tính trong toànhuyện)
Trang 40n : Cỡ mầu tối thiếu cho nghiên cứu
X p ( l - p )
d2
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ 15-49 tuổi có chồng hiện đang nuôi con nhỏ dưới 5 tuổi Tiêu chuẩn loại trừ đoi tượng phụ nữ trong nghiên cứu:
- Những đối tượng có thời gian định cư trên địa bàn dưới 6 tháng
- Những đối tượng có rối loạn về tâm thần và tinh thần không đủ minh mẫn để trả lời các câu hỏi phỏng vấn
- Những đối tượng không nhiệt tình tham gia nghiên cứu
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2014 đến tháng 6/2014
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiêt kê nghiên c ứu mô tá thông qua cuộc điều tra cắt ngang có phân tích với mục đích:
- Đánh giá thực trạng bình đắng giới trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia đình tại địa bàn nghicn cứu
- Đánh giá kiến thức của phụ nừ có con dưới 5 tuổi để tìm ra các yếu tố liên quan tác động đến thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia đình tại địa bàn nghicn cửu
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mau xác định tỷ lệ phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng hiện đang nuôi con nhỏ dưới 5 tuổi được tính theo công thức sau:
Trong đó: