1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả của bẫy gravid aedes trap trong thu thập muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue tại phường nhơn hòa, thị xã an nhơn, tỉnh bình định

77 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (11)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (12)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (13)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (13)
  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Đại cương về muỗi truyền bệnh SXHD (14)
      • 1.1.1. Véc tơ và đặc tính muỗi Aedes trong chu trình truyền bệnh SXHD 4 1.1.2. Các biện pháp phòng chống bệnh SXHD (14)
        • 1.1.2.1. Biện pháp vật lý - Vệ sinh môi trường (17)
        • 1.1.2.2. Biện pháp sinh học (17)
        • 1.1.2.3. Biện pháp hóa học (17)
    • 1.2. Tình hình bệnh SXHD trên thế giới và ở Việt Nam (19)
      • 1.2.1. SXHD trên thế giới và khu vực Đông Nam Á (19)
      • 1.2.2. Tình hình bệnh SXHD tại Việt Nam (21)
      • 1.2.3. Tình hình bệnh SXHD tại Bình Định (23)
    • 1.3. Một số thông tin chung về bẫy GAT (24)
      • 1.3.1. Giới thiệu bẫy GAT (24)
      • 1.3.2. Cấu tạo và kĩ thuật lắp đặt bẫy GAT (24)
      • 1.3.3. Nguyên lý hoạt động của bẫy GAT (26)
    • 1.4. Một số nghiên cứu bẫy GAT và hiệu quả thu thập muỗi SXHD (26)
      • 1.4.1. Trên thế giới (26)
      • 1.4.2. Ở Việt Nam (29)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (32)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu (33)
      • 2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (33)
      • 2.3.3. Phương pháp triển khai thí nghiệm (34)
      • 2.3.4. Phương pháp theo dõi bẫy (35)
      • 2.3.5. Phương pháp điều tra cắt ngang (36)
      • 2.3.6. Phương pháp thu thập thông tin và phân tích số liệu (36)
    • 2.4. Các chỉ số mật độ muỗi và hiệu quả của bẫy GAT (37)
    • 2.5. Đạo đức trong nghiên cứu (37)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN (38)
    • 3.1. Hiệu quả thu thập các loài muỗi Aedes của bẫy GAT (38)
      • 3.1.1. Kết quả thu thập muỗi bằng bẫy GAT trong năm đợt (38)
      • 3.1.2. Thành phần, số lượng và đặc điểm phân bố muỗi tại các điểm nghiên cứu (43)
        • 3.1.2.1. Thành phần và tỉ lệ muỗi thu thập được tại các khu vực phường Nhơn Hòa (43)
        • 3.1.2.2. Đặc điểm phân bố muỗi Aedes qua các lần thu thập trong mỗi đợt đặt bẫy GAT (48)
        • 3.1.2.3. Hiệu quả của bẫy GAT trong thu thập muỗi Aedes với BTN và (52)
        • 3.1.2.4. Sự xuất hiện của lăng quăng/bọ gậy trong bẫy GAT (56)
    • 3.3. Sự chấp nhận của người dân trong việc sử dụng bẫy GAT để thu thập muỗi truyền bệnh SXHD (60)
      • 3.3.1. Một số yếu tố liên quan tới sự chấp nhận của người dân trong thu thập muỗi truyền bệnh SXHD của bẫy GAT (60)
      • 3.3.2. Sự chấp nhận của người dân sử dụng bẫy GAT (62)
  • KẾT LUẬN (65)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN VÕ THỊ PHƯƠNG NHI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA BẪY GRAVID AEDES TRAP TRONG THU THẬP MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI PHƯỜNG NHƠN HÒA,

Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá hiệu quả thu thập các loài muỗi Aedes của bẫy GAT tại phường Nhơn Hòa, An Nhơn, Bình Định

- Xác định chỉ số mật độ muỗi SXHD trong thời gian đặt bẫy GAT ở các điểm nghiên cứu

- Đánh giá sự chấp nhận của cộng đồng trong việc sử dụng bẫy GAT để thu thập muỗi truyền bệnh SXHD.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp thu thập số liệu

- Phân tích và xử lí số liệu.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài có ý nghĩa trong việc định hướng và phát triển các phương pháp giám sát muỗi hiệu quả hơn trong chương trình phòng chống SXHD quốc gia

Kết quả của đề tài đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát véc tơ và dự báo tình hình dịch bệnh SXHD tại phường Nhơn Hòa, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định Những phát hiện này giúp cung cấp cơ sở để đánh giá chính xác tình hình dịch bệnh SXHD trên địa bàn Bình Định Thông qua nghiên cứu, chúng ta có thể nâng cao hiệu quả phòng chống và kiểm soát dịch bệnh, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Nhân rộng biện pháp phòng tránh bệnh SXHD bằng cách sử dụng bẫy GAT, góp phần phòng chống bệnh SXHD cho cộng đồng.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- Bẫy Gravid Aedes Trap (GAT)

- Muỗi Ae.aegypti và Ae albopictus

- Người đại diện HGĐ được điều tra véc tơ SXHD, tham gia phỏng vấn nhằm đánh giá hiệu quả bẫy GAT tại phường Nhơn Hòa, An Nhơn, Bình Định.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2021 đến tháng 08/2022

Trong tháng 12/2021, nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu tài liệu, khảo sát khu vực đặt bẫy để đảm bảo hiệu quả của quá trình thực hiện Đồng thời, việc chuẩn bị bẫy và các vấn đề cần thiết được xác định kỹ lưỡng nhằm đảm bảo thành công của các thí nghiệm thực tế tại địa phương Đây là bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu về quản lý và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả.

+ Tiến hành đặt bẫy, thu thập số liệu tại thực địa: Từ tháng 01/2021 đến tháng 06/2022 để đánh giá hiệu quả bẫy GAT trong thu thập muỗi truyền bệnh SXHD

Trong khoảng thời gian từ tháng 07/2022 đến tháng 08/2022, nghiên cứu đã thực hiện tính toán, thống kê và phân tích số liệu về sự chấp nhận của người dân đối với việc sử dụng bẫy GAT để thu thập muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Kết quả cho thấy mức độ chấp nhận của cộng đồng đối với phương pháp này, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm soát dịch bệnh Hoạt động thu thập dữ liệu đã giúp đánh giá tổng thể về thái độ và sự đồng tình của dân cư trong việc áp dụng biện pháp phòng chống muỗi truyền bệnh Đây là bước quan trọng nhằm tối ưu hóa các chiến dịch kiểm soát muỗi, đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của các giải pháp phòng ngừa sốt xuất huyết.

- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại năm khu vực trong phường Nhơn Hòa, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định

Thị xã An Nhơn nằm ở phía Nam của tỉnh Bình Định, có toạ độ địa lí

An Nhơn nằm trong khu vực có vĩ độ Bắc từ 13°0'42" đến 13°0'49" và kinh độ Đông từ 109°0'0" đến 109°0'1", giáp các huyện Phù Cát, Vân Canh, Tuy Phước, Tây Sơn Với diện tích 292,70 km² gồm 5 phường và 10 xã, khu vực thuộc vùng khí hậu nhiệt đới với hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Trung bình số giờ nắng hàng năm là 2500 giờ, với nhiệt độ trung bình đạt 26,8°C và trung bình ngày từ 6-8 giờ Phường Nhơn Hòa, nằm phía nam của thị xã An Nhơn, có diện tích 27,93 km², dân số năm 2021 là 18.017 người, mật độ dân số đạt 645 người/km², nằm trong vùng có điều kiện khí hậu, nhiệt độ, địa hình và môi trường rất phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết.

Tỉnh Bình định Phường Nhơn Hòa, Thị Xã An Nhơn

Hình 2.1 Bản đồ khu vực địa điểm nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang

- Phỏng vấn cộng đồng đánh giá sự chấp nhận trong việc sử dụng bẫy GAT để thu thập muỗi truyền bệnh SXHD

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

* Công thức tính cỡ mẫu cho một tỉ lệ:

Trong nghiên cứu này, cỡ mẫu được tính dựa trên các yếu tố như tỷ lệ HGĐ thu muỗi Ae aegypti/Ae albopictus bằng bẫy GAT, với p = 0,1, và mức ý nghĩa thống kê α = 0,05, hệ số tin cậy z = 1,96, sai số chấp nhận được d = 0,06 Áp dụng công thức tính cỡ mẫu, kết quả cho thấy cần tối thiểu 96 người tham gia, sau đó làm tròn lên 100 để đảm bảo đủ số lượng HGĐ tham gia nghiên cứu hoặc vắng mặt vào thời điểm khảo sát.

- Các HGĐ được chọn bằng phương pháp ngẫu nhiên:

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

+ Bước 2: Dùng phần mềm Excel chọn ngẫu nhiên 100 HGĐ làm nghiên cứu

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

2.3.3 Phương pháp triển khai thí nghiệm

- Chuẩn bị công cụ để tiến hành thực hiện thí nghiệm và thu thập số liệu:

+ Bẫy GAT: 20 bẫy/1 đợt đặt bẫy

- Phân nhóm đặt bẫy ở HGĐ: Phân nhóm bằng cách chia thành 5 đợt đặt bẫy

(Đợt 1: Ngày 06/02->26/02; Đợt 2: 01/03->21/03; Đợt 3: 01/04->21/04; Đợt 4: 01/05->21/05; Đợt 5: 01/06 ->21/06) Mỗi đợt tiến hành đặt 20 bẫy GAT tại 20

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Để lắp đặt bẫy GAT, bắt đầu bằng việc cho khoảng 3 lít nước vào xô đen Sau đó, bao mặt đáy của ống trụ trong suốt đã được tẩm hóa chất bằng lưới và cố định bằng vành giữ chặt vị trí Tiếp theo, đặt ống trụ màu đen vào trên mặt ống trong suốt và xoay 90 độ để khớp vào đúng vị trí Cuối cùng, đặt buồng vào xô đen để hoàn thiện hệ thống bẫy GAT Sử dụng băng keo giấy để dán nhãn và ghi chú số thứ tự bẫy phù hợp với mã số HGĐ trên phiếu điều tra để đảm bảo dễ theo dõi và quản lý.

Mỗi hộ gia đình (HGĐ) tiến hành đặt một bẫy GAT trong nhà hoặc ngoài trời sau khi đã tham khảo ý kiến của chủ nhà và giải thích rõ mục đích cũng như quá trình thực hiện Trong nhà, ưu tiên đặt bẫy tại phòng khách, ví dụ như dưới gầm bàn, gầm ghế hoặc ở góc tường, và nếu không thể, sẽ thảo luận vị trí phù hợp cùng chủ hộ Đối với nhà có trẻ em hoặc vật nuôi, cần đặt bẫy ở nơi tránh bị làm đổ nước hoặc gây nguy hiểm Ngoài ra, các bẫy đặt ngoài trời có thể được đặt trong sân hoặc góc vườn để đạt hiệu quả tối ưu.

Để đảm bảo hiệu quả của bẫy, hạn chế dịch chuyển vị trí của nó và tránh xa tầm tay của trẻ em để không làm ảnh hưởng đến hoạt động của bẫy Ngoài ra, cần hẹn với chủ hộ về thời gian kiểm tra và thu bẫy nhằm duy trì hiệu quả và an toàn trong quá trình sử dụng.

2.3.4 Phương pháp theo dõi bẫy

Mỗi hộ gia đình sẽ đặt bẫy trong vòng 20 ngày để kiểm soát muỗi hiệu quả Nghiên cứu viên sẽ kiểm tra bẫy hàng ngày và thu thập muỗi mỗi 4 ngày nhằm theo dõi sự xuất hiện của muỗi trong bẫy Trong quá trình sử dụng, cần thường xuyên theo dõi lượng nước trong xô, vì nước có thể cạn dần, nên bổ sung nước kịp thời để giữ cho bẫy hoạt động hiệu quả Nếu bẫy gặp sự cố, như thất lạc hoặc hư hỏng, cần thay thế để đảm bảo hiệu quả kiểm soát muỗi.

- Sau 20 ngày, nghiên cứu viên đến thu bẫy và tiến hành phỏng vấn đại diện HGĐ Bẫy được làm sạch và tiếp tục đặt tại các HGĐ tiếp theo

2.3.5 Phương pháp điều tra cắt ngang

Có 5 lần thu muỗi trong 20 ngày đặt bẫy tại mỗi HGĐ Muỗi được thu thập và định loại ngay tại thực địa Điều tra số muỗi thu thập được thuộc loài nào Trong trường hợp không định loại được tại vị trí nghiên cứu thì chuyển muỗi vào ống tuýp và định loại trong phòng thí nghiệm

Các mẫu muỗi thu được trực tiếp từ thực địa sẽ được phân loại dựa vào khóa định loại muỗi ở Việt Nam của Chester J Stojanovich và Harold Georye Scott [18]

2.3.6 Phương pháp thu thập thông tin và phân tích số liệu

- Kết quả mỗi lần thu thập muỗi được ghi chép trong: Mẫu phiếu ghi nhận thông tin từ bẫy GAT (Phụ lục 1)

- Tiến hành đánh giá sự chấp nhận của người dân trong việc dùng bẫy GAT để thu thập muỗi truyền bệnh SXHD (Phụ lục 3)

Để đánh giá hiệu quả của bẫy GAT trong phòng chống sốt xuất huyết, chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn người sinh sống tại các khu vực có đặt bẫy Phỏng vấn tập trung vào thu thập thông tin chung về đối tượng tham gia, đặc điểm của khu dân cư, cũng như mức độ hiểu biết và thái độ của người dân đối với việc sử dụng bẫy GAT trong kiểm soát muỗi Kỹ thuật lắp đặt bẫy GAT đảm bảo đúng quy trình để tối ưu hóa hiệu quả bắt muỗi, góp phần giảm mật độ muỗi trưởng thành trong cộng đồng Thái độ của người dân về phòng chống sốt xuất huyết và việc sử dụng bẫy GAT thể hiện sự phối hợp tích cực, qua đó nâng cao nhận thức và khả năng kiểm soát dịch bệnh tại địa phương.

Trong trường hợp hộ gia đình (HGĐ) được chọn đi vắng hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu, nghiên cứu viên sẽ lựa chọn một hộ khác trong danh sách dự trù để thay thế Sau mỗi ngày thực hiện đặt bẫy và kiểm tra phiếu, cán bộ nghiên cứu sẽ cập nhật và bổ sung thông tin còn thiếu để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu.

- Dữ liệu được nhập và phân tích trên phần mềm Microsoft Excel, Stata Số liệu được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ.

Các chỉ số mật độ muỗi và hiệu quả của bẫy GAT

Giám sát mật độ muỗi Ae aegypti và Ae albopictus được thực hiện bằng chỉ số mật độ muỗi (CSMĐM), đo lường số muỗi cái Aedes trung bình trong một gia đình điều tra Chỉ số này giúp đánh giá mức độ phổ biến của muỗi trong các điểm nghiên cứu, từ đó hướng đến các biện pháp kiểm soát phù hợp Việc theo dõi mật độ muỗi định kỳ là bước quan trọng trong công tác phòng chống bệnh do muỗi truyền, góp phần giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm.

Số muỗi cái Aedes bắt được

CSMĐM (con/nhà) Số nhà điều tra Đánh giá hiệu quả của bẫy GAT thu thập muỗi Aedes trong quá trình nghiên cứu, sử dụng tỉ lệ sau:

Tổng số bẫy GAT bắt được muỗi Aedes

Tỉ lệ bẫy GAT bắt được muỗi Aedes = x 100

Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tuân thủ các quy định về đạo đức trong nghiên cứu khoa học, đảm bảo tính khách quan và trung thực Tất cả kết quả thu thập đều nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu và học tập, góp phần nâng cao chất lượng và giá trị của nghiên cứu.

Các mẫu phiếu điều tra, kết quả phỏng vấn và dữ liệu thu thập muỗi lưu hành nội bộ được thu thập một cách khách quan và trung thực, nhằm đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của thông tin Dữ liệu này được sử dụng nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học để đưa ra các giải pháp kiểm soát dịch bệnh hiệu quả Việc thu thập dữ liệu đúng quy trình giúp nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn, góp phần nâng cao năng lực phòng chống muỗi và bệnh truyền nhiễm.

HỘI ĐỒNG ĐIỀU TRA tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện và sẵn sàng trả lời phỏng vấn để góp phần phát hiện và phòng chống bệnh SXHD Người tham gia được tư vấn và giải thích đầy đủ về bệnh SXHD, nguyên nhân, các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, cũng như lợi ích của việc tham gia nghiên cứu đối với cộng đồng và bản thân Việc tham gia nhằm nâng cao nhận thức và hỗ trợ nghiên cứu nhằm giảm thiểu tác động của bệnh SXHD trong cộng đồng Việt Nam.

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Hiệu quả thu thập các loài muỗi Aedes của bẫy GAT

3.1.1 Kết quả thu thập muỗi bằng bẫy GAT trong năm đợt

Bảng 3.1 trình bày kết quả thu thập muỗi đợt 1, bắt đầu từ ngày đặt bẫy 06/02/2022 đến ngày thu bẫy 26/02/2022, với tổng số muỗi được tính cho tất cả 5 lần thu thập tại mỗi khu vực địa lý (HGĐ) Trong quá trình nghiên cứu, đã xác định được hai giống muỗi chính là Aedes và Culex, góp phần quan trọng vào việc đánh giá nguy cơ dịch bệnh và đề xuất các biện pháp kiểm soát phù hợp.

Bảng 3.1 Kết quả thu thập muỗi đợt 1 trong tháng 02/2022

STT Khu vực Hộ gia đình Bẫy trong/ ngoài nhà

Các loài muỗi bắt được Ngày xuất hiện muỗi

Ae aegypti Ae albopictus Culex

Tổng Muỗi cái Tổng Muỗi cái

Trong đợt 1, tổng số muỗi Aedes thu thập được là 287, trong đó

Ae aegypti là 189 cá thể (chiếm tỉ lệ 65,9%) và Ae albopictus là 98 cá thể

(chiếm tỉ lệ 34,1%) Có 240 cá thể muỗi Aedes cái, chiếm tỉ lệ 83,6%

Bảng 3.2 tương ứng với đợt 2, ngày đặt bẫy là 01/03/2022, ngày thu bẫy 21/03/2022 và tìm thấy 3 giống muỗi gồm Aedes, Culex và Anopheles

Bảng 3.2 Kết quả thu thập muỗi đợt 2 trong tháng 03/2022

Hộ gia đình Bẫy trong/ ngoài nhà

Các loài muỗi bắt được Ngày xuất hiện muỗi

Ae aegypti Ae albopictus Culex Anopheles

Tổng Muỗi cái Tổng Muỗi cái

Trong đợt 2, tổng số muỗi Aedes thu thập được là 329, trong đó

Ae aegypti là 217 cá thể (chiếm tỉ lệ 66,0%) và Ae albopictus là 112 cá thể

(chiếm tỉ lệ 34,0%) Có 271 cá thể muỗi Aedes cái, chiếm tỉ lệ 82,4%

Tương tự, tiến hành lắp đặt bẫy đợt 3 tại các HGĐ như đợt 1, đợt 2 và ngày đặt bẫy là 01/04/2022, ngày thu bẫy 21/04/2022 Giống với đợt 1, tại đợt

3 này cũng tìm thấy 2 giống muỗi là Aedes và Culex như Bảng 3.3

Bảng 3.3 Kết quả thu thập muỗi đợt 3 trong tháng 04/2022

Hộ gia đình Bẫy trong/ ngoài nhà

Các loài muỗi bắt được Ngày xuất hiện muỗi

Ae aegypti Ae albopictus Culex

Tổng Muỗi cái Tổng Muỗi cái

Trong đợt 3, tổng số muỗi Aedes thu thập được là 354, trong đó

Ae aegypti là 237 cá thể (chiếm tỉ lệ 66,9%) và Ae albopictus là 117 cá thể

(chiếm tỉ lệ 33,1%) Có 276 cá thể muỗi Aedes cái, chiếm tỉ lệ 78,0%

Sau khi hoàn tất đợt 3, tiến hành lắp đặt bẫy đợt 4 tại các khu vực khác nhau với số lượng BTN và BNN tương tự như các đợt trước, bắt đầu từ ngày 01/04/2022 và thu hoạch vào ngày 21/05/2022 Kết quả thu được của đợt 4 đã được ghi nhận rõ trong Bảng 3.4, phản ánh hiệu quả của chiến dịch theo từng khu vực.

Bảng 3.4 Kết quả thu thập muỗi đợt 4 trong tháng 05/2022

STT Khu vực Hộ gia đình Bẫy trong/ ngoài nhà

Các loài muỗi bắt được Ngày xuất hiện muỗi

Ae aegypti Ae albopictus Culex Anopheles

Tổng Muỗi cái Tổng Muỗi cái

Trong đợt 4, tổng số muỗi Aedes thu thập được là 487, trong đó

Ae aegypti là 307 cá thể (chiếm tỉ lệ 63,0%) và Ae albopictus là 180 cá thể

(chiếm tỉ lệ 37,0%) Có 399 cá thể muỗi Aedes cái, chiếm tỉ lệ 81,9%

Kết quả thu thập muỗi trong Bảng 3.5 tương ứng đợt đặt bẫy thứ 5 với ngày đặt bẫy 01/06/2022 và ngày thu bẫy 21/06/2022

Bảng 3.5 Kết quả thu thập muỗi đợt 5 trong tháng 06/2022

Hộ gia đình Bẫy trong/ ngoài nhà

Các loài muỗi bắt được Ngày xuất hiện muỗi

Ae aegypti Ae albopictus Culex

Trong đợt 5, tổng số muỗi Aedes thu thập được là 368, trong đó

Ae aegypti là 218 cá thể (chiếm tỉ lệ 59,2%) và Ae albopictus là 150 cá thể

(chiếm tỉ lệ 40,8%) Có 300 cá thể muỗi Aedes cái, chiếm tỉ lệ 81,5%

Trong 5 đợt đặt bẫy GAT tại các hộ gia đình trong năm ở phường Nhơn Hòa, đã phát hiện 3 loài muỗi chính gồm Aedes, Culex và Anopheles Trung bình từ 4 đến 6 ngày sau khi đặt bẫy, muỗi đã xuất hiện trong bẫy GAT, cho thấy khả năng nhạy của loại bẫy này trong việc phát hiện muỗi tại môi trường ngoài trời.

3.1.2 Thành phần, số lượng và đặc điểm phân bố muỗi tại các điểm nghiên cứu

3.1.2.1 Thành phần và tỉ lệ muỗi thu thập được tại các khu vực phường Nhơn Hòa

Hình 3.1 cho thấy bẫy GAT đặt tại phường Nhơn Hòa đã thu thập được

Trong số các giống muỗi, Aedes, Culex và Anopheles chiếm ưu thế, đặc biệt là hai loài Aedes aegypti và Aedes albopictus, chiếm hơn 80% tổng số muỗi thu thập với 1.825 con Muỗi Ae aegypti xuất hiện nhiều nhất, tăng dần từ đợt 1 đến đợt 4 đạt đỉnh ở đợt 4 với 307 con rồi giảm ở đợt 5 Số lượng muỗi Ae albopictus thấp hơn và biến động qua các đợt Muỗi Anopheles ít gặp, chỉ khoảng 30 con trong cả 5 đợt, chủ yếu sống trong rừng, hoạt động vào ban đêm và gây bệnh sốt rét Muỗi Culex phân bố rộng hơn, nhưng số lượng vẫn thấp, không được xem xét trong đánh giá hiệu quả bẫy GAT Sự khác biệt về số lượng muỗi mỗi đợt phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như nhiệt độ, khí hậu và địa hình khu vực khảo sát.

Hình 3.1 Biểu đồ số lượng các loài muỗi thu thập được qua các đợt đặt bẫy

Bảng 3.6 ghi nhận số lượng và tỷ lệ muỗi tại các điểm nghiên cứu khác nhau nhằm so sánh sự phân bố muỗi ở các khu vực cụ thể thuộc phường Nhơn Hòa Kết quả cho thấy có bốn trong năm khu vực khảo sát xuất hiện cùng lúc ba giống muỗi, riêng khu vực LQ chỉ ghi nhận hai giống muỗi Trong các giống muỗi, Ae aegypti chiếm tỷ lệ cao nhất tại tất cả các khu vực, vượt quá 50%, tiếp theo là Ae albopictus với tỷ lệ trên 30%, trong khi đó, Culex có tỷ lệ thấp hơn đáng kể Điều này giúp làm rõ xu hướng phân bố các loại muỗi ở phường Nhơn Hòa, phục vụ công tác kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn.

Anopheles chiếm chưa đầy 2,5%, trong khi đó Aedes aegypti chiếm khoảng 16% Kết quả này dựa trên số cá thể muỗi thu thập từ bẫy đặt trong nhà và ngoài nhà qua 5 đợt khảo sát tại các khu vực khác nhau, cho thấy Ae aegypti là véc tơ chính trong truyền bệnh SXHD, còn Ae albopictus là véc tơ phụ Cả hai loài muỗi này có phạm vi phân bố rộng từ khu vực thưa dân như AL đến các khu đông dân cư như HN, HK, LQ và các vùng nhiều cây cối, cánh đồng như PS trong phường Nhơn Hòa Sự mở rộng này là một trong những nguyên nhân khiến tình hình dịch bệnh SXHD tại An Nhơn và Bình Định diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, với tỷ lệ mắc cao Trong tổng số 1.825 cá thể muỗi Aedes, số lượng Ae aegypti chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với Ae albopictus (64% so với 36%), và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, cho thấy xu hướng phân bố rộng của muỗi Aedes trong toàn khu vực phường Nhơn Hòa.

350 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Đợt 5

Ae aegypti Ae albopictus Culex Anopheles

Bảng 3.6 Tổng số lượng và tỉ lệ muỗi tại các khu vực của phường Nhơn Hòa

Khu Vực AL HN HK LQ PS Cộng

Loài muỗi Số cá thể

Hình 3.2 cho thấy rằng số lượng muỗi tại năm khu vực giảm theo thứ tự: Hong Kong (HK) > Hà Nội (HN) > Long Quân (LQ) > Phú Sơn (PS) > An Lộc (AL) Trong đó, tổng số muỗi thu thập được cao nhất tại khu vực HK, với 480 cá thể Tuy nhiên, tỷ lệ muỗi ở các khu vực còn lại cũng cần được xem xét để đánh giá chính xác mức độ nguy cơ.

Ae aegypti chiếm tỷ lệ cao ở Hà Nội (58,7%) và Lý Quảng (58,8%), đóng góp lớn hơn so với Hòa Khánh (55,8%), phản ánh sự khác biệt về phân bố muỗi do yếu tố môi trường từng khu vực Khí hậu nắng nóng kéo dài xen kẽ mưa liên tục tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của muỗi tại Nhơn Hòa và toàn tỉnh Bình Định Mật độ muỗi cao tại khu vực Hà Nội và Hòa Khánh có thể do dân cư đông đúc, hoạt động buôn bán sôi động cùng với vị trí trũng, thấp, gần các ao hồ, sông Côn, tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sản, đặc biệt từ tháng 2 đến mùa khô Trong khi đó, khu vực An Lão có số lượng muỗi thấp hơn do địa hình cao, dân cư thưa thớt nên môi trường sinh sản của muỗi bị hạn chế.

Hình 3.2 Biểu đồ phần trăm số cá thể muỗi phân bố tại các khu vực nghiên cứu

Bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ phần trăm các cá thể muỗi qua bẫy GAT đặt trong nhà và ngoài nhà Tổng số muỗi thu thập được trong nhà là 1.139 con, cao hơn so với ngoài nhà với 928 con, cho thấy sự tập trung muỗi cao hơn trong không gian nội thất.

Bảng 3.7 Tỉ lệ số cá thể các loài muỗi thu thập được bằng BTN và BNN

Loài muỗi Trong nhà Ngoài nhà

Số cá thể (tỉ lệ %)

Tại BTN, muỗi Ae aegypti chiếm tỷ lệ cao nhất với 75,5%, tiếp theo là Ae albopictus, trong khi Culex có tỷ lệ gần tương đương nhưng thấp hơn, còn Anopheles chiếm tỷ lệ nhỏ nhất là 1,3% Ở BNN, loài Ae albopictus chiếm tỷ lệ lớn nhất (56,4%), tiếp theo là Ae aegypti, Culex và thấp nhất là Anopheles Sự phân bố này có thể được giải thích dựa trên đặc điểm môi trường sống của hai loại muỗi này, với muỗi Ae aegypti thích nghi tốt hơn với môi trường đô thị.

AL HN HK LQ PS

T ỉ lệ số cá t hể m uỗ i

Muỗi Aedes aegypti là vector chính truyền bệnh sốt xuất huyết (SXHD), với tổng số mẫu là 1.168 cá thể, chủ yếu trong nhà, trong khi muỗi Aedes albopictus thích trú ẩn ở các hốc tối ngoài trời và trong vườn cây Muỗi Culex và Anopheles cũng xuất hiện nhưng ít phổ biến hơn và không đóng vai trò chính trong việc truyền bệnh Vì vậy, kiểm soát muỗi Aedes aegypti tại các khu vực trong nhà là yếu tố then chốt trong phòng ngừa SXHD.

Hình 3.3 Tỉ lệ các loài muỗi thu thập bằng bẫy GAT ở trong nhà và ngoài nhà

Kết quả so sánh cho thấy, tại Hà Nội, bẫy GAT thu được tổng cộng 2.784 muỗi, trong đó Ae aegypti chiếm 61,9% với 1.724 cá thể, còn Ae albopictus chiếm 38,1% với 1.060 cá thể Ngược lại, tại Nam Định, không ghi nhận sự hiện diện của muỗi Ae aegypti, mà chỉ thu được 2.146 cá thể Ae albopictus Các dữ liệu này đều phù hợp với các nghiên cứu trước đây sử dụng bẫy GAT để giám sát muỗi SXHD tại Hà Nội và Nam Định trong giai đoạn từ tháng 07/2018 đến tháng 05/2019.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 5 tháng đặt bẫy GAT tại năm khu vực phường Nhơn Hòa, An Nhơn, Bình Định, thu thập được tổng cộng 1.168 muỗi Ae aegypti, chiếm tỷ lệ 64,0%, cao hơn so với các khu vực khác như Hà Nội và Nam Định Tuy nhiên, số lượng muỗi Ae albopictus thu được vẫn thấp, với chỉ 657 cá thể, có thể do điều kiện khí hậu, môi trường và địa hình khác nhau ảnh hưởng đến kết quả So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thành Đông tại Viện Pasteur Nha Trang, thu thập muỗi hàng tuần bằng bẫy GAT và máy hút cầm tay tại 90 hộ gia đình ở thành phố Nha Trang từ tháng 08/2018 đến 05/2019, nhóm nghiên cứu đã thu được số lượng muỗi Ae aegypti lên tới 2.671 cá thể, cho thấy sự khác biệt về mật độ muỗi giữa các khu vực và thời gian nghiên cứu.

Trong nghiên cứu về côn trùng muỗi tại Nha Trang, Culex chiếm tỷ lệ 8,8%, trong đó muỗi Anopheles chiếm 1,6% Muỗi Aedes aegypti (Ae aegypti) được thu thập với số lượng lên đến 575 con, cho thấy mật độ muỗi cao hơn so với kết quả thu thập tại phường Nhơn Hòa, nơi chỉ ghi nhận 1.168 con Tuy nhiên, tại phường Nhơn Hòa, số lượng muỗi thu được lại vượt trội hơn, với tổng số muỗi bắt được lên tới 2.671 con, phản ánh sự khác biệt về mật độ muỗi giữa các khu vực ở Nha Trang.

Bẫy GAT cho hiệu quả cao trong thu thập muỗi Aedes albopictus, với số lượng bắt được vượt hơn so với các phương pháp khác (657 > 575) Tại các khu vực khác nhau, bẫy đã thu được số lượng muỗi Aedes tương đối phù hợp với tình hình dịch bệnh và điều kiện môi trường địa phương Điều này cho thấy bẫy GAT là công cụ hữu hiệu trong giám sát và kiểm soát muỗi gây bệnh Aedes trong các khu vực nghiên cứu.

3.1.2.2 Đặc điểm phân bố muỗi Aedes qua các lần thu thập trong mỗi đợt đặt bẫy GAT

Sự chấp nhận của người dân trong việc sử dụng bẫy GAT để thu thập muỗi truyền bệnh SXHD

3.3.1 Một số yếu tố liên quan tới sự chấp nhận của người dân trong thu thập muỗi truyền bệnh SXHD của bẫy GAT

Sau mỗi đợt đặt bẫy, chúng tôi thực hiện thu bẫy sau 20 ngày và tiến hành phỏng vấn đại diện các hộ gia đình (HGĐ) về hiệu quả thu muỗi SXHD bằng bẫy GAT Cuộc phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn (phụ lục 2,3) để thảo luận với người sinh sống trong các HGĐ đã đặt bẫy GAT Nội dung phỏng vấn tập trung vào các thông tin chung về đối tượng phỏng vấn, kiến thức về bệnh SXHD, giúp đánh giá mức độ chấp nhận và hiệu quả của bẫy GAT trong kiểm soát muỗi tại nhà.

Trong 100 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên qua 5 đợt nghiên cứu, các yếu tố như cư trú cùng gia đình, thường xuyên có mặt trong quá trình kiểm tra và thu bẫy, cùng khả năng hiểu biết và giao tiếp rõ ràng của người được phỏng vấn là tiêu chí chính để đánh giá hiệu quả bẫy GAT tại năm khu vực thuộc phường Nhơn Hòa Một số thông tin tiêu biểu từ các cuộc phỏng vấn đã được tổng hợp trong Bảng 3.12, phản ánh chính xác và đầy đủ các đặc điểm của nhóm khảo sát.

Bảng 3.12 Một số thông tin chung về đại diện HGĐ được phỏng vấn Đặc điểm Số lượng (N) Tỉ lệ (%)

Làm nông, nghề tự do 41 41%

Bảng 3.13 Một số kiến thức của người dân về SXHD Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ

(Câu hỏi nhiều lựa chọn)

Các triệu chứng quan trọng của bệnh bao gồm sốt cao đột ngột kéo dài từ 2 đến 7 ngày, xuất hiện các vết xuất huyết dưới da và phát ban, giúp nhận biết dấu hiệu cảnh báo sớm Bệnh nhân còn thường xuyên gặp hiện tượng nhức đầu, mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn và nôn mửa, góp phần xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh Ngoài ra, chảy máu cam, chảy máu chân răng cũng là các triệu chứng nổi bật, kèm theo các biểu hiện đau cơ, đau khớp và nhức hai hố mắt Các dấu hiệu này cần được chú ý và thăm khám kịp thời để đảm bảo chẩn đoán chính xác và xử lý hiệu quả.

Khác 0 0 Đường lây truyền SXHD

Qua ăn uống, nói chuyện với người bệnh 0 0

Cả sáng sớm và chiều tối 43 43

Sự nguy hiểm của SXHD

Việc cần thiết tiêu diệt lăng quăng, bọ gậy

Các biện pháp phòng chống SXHD

Kết quả phỏng vấn cho thấy 100% người dân trong các hộ gia đình đều hiểu biết về bệnh sốt xuất huyết, trong đó có 44% người đã từng mắc bệnh trước đó Các câu trả lời của người dân tập trung vào các biểu hiện, cách lây truyền, vai trò của muỗi truyền bệnh, thời gian muỗi đốt người, mức độ nguy hiểm của bệnh, các biện pháp phòng chống, đặc biệt là việc tiêu diệt lăng quăng, bọ gậy và các biện pháp phòng ngừa khác, được tổng hợp trong Bảng 3.13 để đánh giá nhận thức và thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết trong cộng đồng.

Kết quả điều tra cho thấy 100% người dân nhận thức rằng bệnh SXHD rất nguy hiểm và việc tiêu diệt lăng quăng, bọ gậy là biện pháp phòng chống cần thiết Tuy nhiên, nhiều người dân còn nhầm lẫn bệnh SXHD với sốt rét, khiến 33% cho rằng muỗi Anopheles gây bệnh Nhiều người cũng cho rằng biểu hiện của SXHD giống cảm cúm hoặc COVID-19, điều này có thể do 44% từng mắc SXHD nhẹ nên chưa nhận thức rõ mức độ nguy hiểm của bệnh Các thông tin này giúp xác định mức độ hiểu biết của người dân về bệnh SXHD để từ đó nâng cao kiến thức phòng ngừa hiệu quả.

3.3.2 Sự chấp nhận của người dân sử dụng bẫy GAT

Sau buổi phỏng vấn, học viên phát phiếu khảo sát nhằm đánh giá hiệu quả của bẫy GAT đối với cộng đồng dân cư tại các hộ gia đình (HGĐ) Kết quả trong Bảng 3.14 cho thấy thái độ tích cực của người dân đại diện các HGĐ khi họ chấp nhận sử dụng và đặt bẫy GAT để kiểm soát vấn đề.

Bảng 3.14 Người dân chấp nhận tiến hành đặt bẫy GAT tại HGĐ Đặc điểm Đồng ý Không đồng ý

Muỗi Aedes là thủ phạm chính truyền bệnh sốt xuất huyết (SXHD), gây nguy hiểm cho cả người lớn và trẻ em Chính vì thế, việc sử dụng phương pháp thu thập muỗi bằng bẫy GAT trong phòng ngừa bệnh SXHD nhận được sự ủng hộ tích cực từ đại diện hộ gia đình với tỷ lệ 97% Kết quả này, được thể hiện rõ qua bảng 3.15, cho thấy số lượng và tỷ lệ hộ gia đình chấp nhận hiệu quả của bẫy GAT phù hợp với các đặc điểm nhất định của đại diện.

Kết quả khảo sát cho thấy 100% người dân tại năm khu vực đều đồng ý tham gia phỏng vấn về hiệu quả của bẫy GAT trong việc bắt muỗi truyền bệnh SXHD Có đến 93% ý kiến nhận thấy việc sử dụng bẫy GAT mang lại hiệu quả trong kiểm soát muỗi truyền bệnh Đồng thời, tất cả người dân đều cho rằng việc lắp đặt và sử dụng bẫy rất dễ dàng, ít ảnh hưởng đến không gian sinh hoạt Hơn nữa, 100% ý kiến sẵn sàng chi trả chi phí cho phương pháp bắt muỗi này, trong đó 87% sẵn lòng chi trả dưới 500.000 đồng, và 13% sẵn sàng trả từ 500.000 đến 1.000.000 đồng.

Bảng 3.15 Sự chấp nhận của người dân đối với việc sử dụng bẫy GAT Đặc điểm Số lượng (N) Tỉ lệ (%)

Hiệu quả trong việc bắt muỗi truyền bệnh SXHD

Không biết/ không trả lời

Sự đơn giản trong dùng bẫy GAT

Sẵn sàng chi trả cho phương pháp bắt muỗi truyền bệnh SXHD

Bảng 3.16 thể hiện tỷ lệ người dân chấp nhận đặt bẫy, với 97% đồng ý cho phép đặt bẫy GAT tại năm khu vực phường Nhơn Hòa Trong quá trình đặt bẫy kéo dài năm tháng, không ghi nhận hư hỏng hay mất bẫy, cho thấy độ bền và hiệu quả của loại bẫy này Ban đầu, một số bẫy thường được đặt trong xô đen, tuy nhiên, muỗi từ bên ngoài có thể chui vào lỗ thoát nước trên xô và đẻ trứng, gây ra tình trạng lăng quăng Ngoài ra, trong quá trình quan sát, các loại động vật như thằn lằn, kiến, và các loài ăn muỗi khác đã chui vào trong bẫy, góp phần kiểm soát số muỗi trong khu vực.

Bảng 3.16 Tỉ lệ HGĐ chấp nhận đặt bẫy và tình trạng bẫy

Tổng số hộ hoặc số bẫy

Sự chấp nhận đặt bẫy của HGĐ (%)

Số hộ từ chối đặt bẫy (%)

Bẫy có lăng quăng dưới xô đen (%)

Số bẫy có côn trùng khác (%)

Qua khảo sát ý kiến người dân, có đến 93% đồng ý sử dụng bẫy GAT, chứng tỏ hiệu quả trong việc thu thập muỗi SXHD Người dân đánh giá việc lắp đặt bẫy khá đơn giản, không cần sử dụng điện năng, khác biệt với các phương pháp bắt muỗi truyền thống Đồng thời, nhiều ý kiến cho rằng đèn bắt muỗi hay vợt muỗi điện tử dễ hỏng và không bền, khiến bẫy GAT trở thành một giải pháp hiệu quả và tiềm năng Hơn nữa, 87% người dân sẵn sàng chi trả dưới năm trăm nghìn đồng cho phương pháp bắt muỗi này, cho thấy bẫy GAT là lựa chọn hợp lý với mức giá từ 300 đến 500 nghìn đồng.

Tại 100 hộ gia đình sử dụng bẫy muỗi GAT, có đến 93% người dân đồng ý sử dụng và nhận thấy hiệu quả trong việc thu thập muỗi truyền bệnh 100% người dân cho rằng bẫy GAT đơn giản và dễ sử dụng, đồng thời sẵn sàng chi trả để mua và sử dụng nhằm kiểm soát muỗi hiệu quả trong khu vực của mình.

Ngày đăng: 31/10/2022, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Y tế. Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue, số 3711/QĐ-BYT, ngày 19/09/2014, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2014
[2] Viên Chinh Chiến, Phạm Ngọc Thanh, Nguyễn Lê Mạnh Hùng, Lý Thị Thùy Trang, Vũ Sinh Nam. Thực trạng bệnh sốt xuất huyết dengue tại khu vực Tây Nguyên, giai đoạn 2000-2020, Tạp Chí Y học Dự phòng, 2022, 32(2), 46-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bệnh sốt xuất huyết dengue tại khu vực Tây Nguyên, giai đoạn 2000-2020
Tác giả: Viên Chinh Chiến, Phạm Ngọc Thanh, Nguyễn Lê Mạnh Hùng, Lý Thị Thùy Trang, Vũ Sinh Nam
Nhà XB: Tạp Chí Y học Dự phòng
Năm: 2022
[3] Ngô Văn Dinh, Lương Chấn Quang, Diệp Thanh Hải, Đỗ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Thanh Thảo, Võ Tố Quyên, Nguyễn Vũ Thượng, Vũ Hải Hà, Phan Trọng Lân. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết dengue tại khu vực phía Nam giai đoạn 2001-2020, Tạp Chí Y học Dự phòng, 2022, 32(2), 25-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết dengue tại khu vực phía Nam giai đoạn 2001-2020
Tác giả: Ngô Văn Dinh, Lương Chấn Quang, Diệp Thanh Hải, Đỗ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Thanh Thảo, Võ Tố Quyên, Nguyễn Vũ Thượng, Vũ Hải Hà, Phan Trọng Lân
Nhà XB: Tạp Chí Y học Dự phòng
Năm: 2022
[4] Trần Như Dương, Vũ Trọng Dược, Phạm Anh Tuấn, Nguyễn Thị Mai Anh, Vũ Sinh Nam. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết dengue tại miền Bắc Việt Nam từ năm 1998-2020, Tạp Chí Y học Dự phòng, 2022, 32(2), 16-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết dengue tại miền Bắc Việt Nam từ năm 1998-2020
Tác giả: Trần Như Dương, Vũ Trọng Dược, Phạm Anh Tuấn, Nguyễn Thị Mai Anh, Vũ Sinh Nam
Nhà XB: Tạp Chí Y học Dự phòng
Năm: 2022
[6] Nguyễn Thành Đông, Nguyễn Xuân Hiếu, Nguyễn Đình Lượng, Trịnh Công Thức, Hồ Quang Hà, Lê Xuân Huy, Đỗ Thái Hùng, Huỳnh Văn Dõng, Nguyễn Hữu Tài, Trần Đại Quang, Trần Công Đại, Vũ Hải Hà, Vũ Sinh Nam. Thực trạng sốt xuất huyết dengue ở tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 20 năm, 2000-2019, Tạp Chí Y học Dự phòng, 2022, 32(2), 53-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sốt xuất huyết dengue ở tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 20 năm, 2000-2019
Tác giả: Nguyễn Thành Đông, Nguyễn Xuân Hiếu, Nguyễn Đình Lượng, Trịnh Công Thức, Hồ Quang Hà, Lê Xuân Huy, Đỗ Thái Hùng, Huỳnh Văn Dõng, Nguyễn Hữu Tài, Trần Đại Quang, Trần Công Đại, Vũ Hải Hà, Vũ Sinh Nam
Nhà XB: Tạp Chí Y học Dự phòng
Năm: 2022
[7] Nguyễn Thành Đông, Trịnh Công Thức, Nguyễn Hồng Sơn, Vũ Sinh Nam Đỗ Thái Hùng, Lê Xuân Huy. Hiệu quả bẫy Gravid aedes trap trong giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue tại thành phố Nha Trang, 2018-2019, Tạp chí Y Học dự phòng, 2020, 30(6), 144-150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả bẫy Gravid aedes trap trong giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue tại thành phố Nha Trang, 2018-2019
Tác giả: Nguyễn Thành Đông, Trịnh Công Thức, Nguyễn Hồng Sơn, Vũ Sinh Nam Đỗ Thái Hùng, Lê Xuân Huy
Nhà XB: Tạp chí Y Học dự phòng
Năm: 2020
[8] Vũ Hải Hà, Tòng Thị Thu Hà, Phạm Quang Thái, Ngũ Duy Nghĩa, Vũ Sinh Nam, Trần Nhu Dương. Sốt xuất huyết dengue tại Việt Nam giai đoạn 1999-2020, Tạp Chí Y học Dự phòng, 2022, 32(2), 9-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sốt xuất huyết dengue tại Việt Nam giai đoạn 1999-2020
Tác giả: Vũ Hải Hà, Tòng Thị Thu Hà, Phạm Quang Thái, Ngũ Duy Nghĩa, Vũ Sinh Nam, Trần Nhu Dương
Nhà XB: Tạp Chí Y học Dự phòng
Năm: 2022
[9] La Hoàng Huy, Lê Trọng Thảo Ly, Đỗ Kiến Quốc, Phạm Thị Thúy Ngọc, Lê Nguyễn Thùy Duy, Lý Huỳnh Kim Khánh, Vũ Hải Hà, Phan Trọng Lân. Đánh giá hiệu quả giám sát muỗi Aedes Sp bằng bẫy Gravid Aedes Trap tại Đồng Nai năm 2019-2020, Tạp Chí Y học Dự phòng, 2022, 32(2), 184-193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Y học Dự phòng", 2022, "32(2)
[11] Nguyễn Thị Kim Tiến. Giám sát và phòng chống dịch sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue, Nxb Y học Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát và phòng chống dịch sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Tiến
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội
Năm: 2010
[12] Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Định. Về việc tăng cường công tác phòng chống bệnh sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh, số 6418/UBND-VX, ngày 23/09/2020, Bình Định, 2020.2. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc tăng cường công tác phòng chống bệnh sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh, số 6418/UBND-VX, ngày 23/09/2020
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định
Nhà XB: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định
Năm: 2020
[13] A. E. Eiras, T. S. Buhagiar, S. A. Ritchie. Development of the gravid Aedes trap for the la famale container-exploiting mosquitoes (Diptera:Culicidae), Journal of Medical Entomology, 2014, 51(1), 200-209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of the gravid Aedes trap for the la famale container-exploiting mosquitoes (Diptera:Culicidae)
Tác giả: A. E. Eiras, T. S. Buhagiar, S. A. Ritchie
Nhà XB: Journal of Medical Entomology
Năm: 2014
[14] A. J. Mackay, M. Amador, R. Barrera. An improved autocial gravid ovitrap for the control and surveillance of Ae. aegypti, Parasites and Vector, 2013, 6, 225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An improved autocial gravid ovitrap for the control and surveillance of Ae. aegypti
Tác giả: A. J. Mackay, M. Amador, R. Barrera
Năm: 2013
[16] B. J. Johnson, T. Hurst, H. L. Quoc, I. Unlu, C. Freebairn, A. Faraji, S. A. Ritchie. Field Comparisons of the Gravids Aedes Trap (GAT) and BG- Sentinel Trap for Monitoring Ae. albopictus (Diptera: Culicidae) population and notes on indoor GAT collections in Vietnam, Journal of Medical Entomology, 2017, 54(2), 340-348 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Field Comparisons of the Gravids Aedes Trap (GAT) and BG- Sentinel Trap for Monitoring Ae. albopictus (Diptera: Culicidae) population and notes on indoor GAT collections in Vietnam
Tác giả: B. J. Johnson, T. Hurst, H. L. Quoc, I. Unlu, C. Freebairn, A. Faraji, S. A. Ritchie
Nhà XB: Journal of Medical Entomology
Năm: 2017
[18] C. J. Stojanovich, H. G. Scott. Illustrated key to mosquitoes of Vietnam, Communicable Disease Center, Atlanta, 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Illustrated key to mosquitoes of Vietnam
Tác giả: C. J. Stojanovich, H. G. Scott
Nhà XB: Communicable Disease Center, Atlanta
Năm: 1966
[19] E. Alvaro, Buhagiar, S. Tamara, Ritchie, A. Scott. Development of the Gravids Aedes Trap for the Capture of Adult Female Container- Exploiting Mosquitoes (Diptera: Culicidae), Journal of Medical Entomology, 2014, 51(1), 200-209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of the Gravids Aedes Trap for the Capture of Adult Female Container- Exploiting Mosquitoes (Diptera: Culicidae)
Tác giả: E. Alvaro, Buhagiar, S. Tamara, Ritchie, A. Scott
Nhà XB: Journal of Medical Entomology
Năm: 2014
[20] E. E. Gorsich, B. R. Beechler, P. M. V. Bodegom, D. Govender, M. M. Guarido, M. Venter, M. Schrama. A comparative assessment of adult mosquito trapping methods to estimate spatial patterns of abundance and community composition in southern Africa, Parasites &amp; Vectors, 2019, 12(462), 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A comparative assessment of adult mosquito trapping methods to estimate spatial patterns of abundance and community composition in southern Africa
Tác giả: E. E. Gorsich, B. R. Beechler, P. M. V. Bodegom, D. Govender, M. M. Guarido, M. Venter, M. Schrama
Nhà XB: Parasites & Vectors
Năm: 2019
[21] J. E. Cilek, J. A. Knapp, A. G. Richarson. Comparative efficiency of Biogents Gravid TRap, CDC Autocidal TRap and CDC Gravid Trap in northeastern Floria, Journal of the American Mosquito Control asociation, 2017, 33(2), 103-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of the American Mosquito Control asociation", 2017, "33(2)
[22] J. E. Cilek, J. R. Weston, A. G. Richardson. Comparison of Adult Mosquito Abundance From Biogents-2 Sentinel and Biogents Gravid Aedes Traps In Northeastern Florida, Journal of the American Mosquito Control Association, 2017, 33(4), 358-360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of Adult Mosquito Abundance From Biogents-2 Sentinel and Biogents Gravid Aedes Traps In Northeastern Florida
Tác giả: J. E. Cilek, J. R. Weston, A. G. Richardson
Nhà XB: Journal of the American Mosquito Control Association
Năm: 2017
[23] J. R. Rey, S. M. O'Connell. Oviposition by Ae. aegypti and Ae. albopictus: influence of congeners and of oviposition site characteristics, Journal of Vector Ecology, 2013, 39(1), 190-196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oviposition by Ae. aegypti and Ae. albopictus: influence of congeners and of oviposition site characteristics
Tác giả: J. R. Rey, S. M. O'Connell
Nhà XB: Journal of Vector Ecology
Năm: 2013
[39] The John W. Hock, &lt;http://johnwhock.com/products/mosquito-sandfly-traps/cdc-gravid-trap&gt;, accessed 18/08/2022 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w