1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue bằng bẫy gravid aedes trap tại phường thịnh liệt, quận hoàng mai, hà nội năm 2018

97 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue bằng bẫy gravid Aedes Trap tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2018
Tác giả Vũ Ngọc Thúy
Người hướng dẫn TS Vũ Trọng Dược, TS Lê Thị Thanh Hương
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế Công cộng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 3,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, với mục tiêu cung cấp bằng chứng về hiệu quả của bẫy GAT khi thu thập muỗi so với một phương pháp giám sát véc tơ truyền thống, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả giám

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

VŨ NGỌC THÚY

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁM SÁT MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT

XUẤT HUYẾT DENGUE BẰNG BẪY GRAVID AEDES TRAP TẠI

PHƯỜNG THỊNH LIỆT, QUẬN HOÀNG MAI, HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2018 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

VŨ NGỌC THÚY

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁM SÁT MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT

XUẤT HUYẾT DENGUE BẰNG BẪY GRAVID AEDES TRAP TẠI

PHƯỜNG THỊNH LIỆT, QUẬN HOÀNG MAI, HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 TS VŨ TRỌNG DƯỢC

2 TS LÊ THI ̣ THANH HƯƠNG

HUPH

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH ii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU iii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đại cương về bệnh sốt xuất huyết Dengue 4

1.2 Tình hình dịch SXHD trên thế giới, Việt Nam và tại địa bàn nghiên cứu 6

1.3 Các phương pháp giám sát muỗi trưởng thành trên thế giới và tại Việt Nam 11

1.4 Một số nghiên cứu về hiệu quả của bẫy muỗi trên thế giới và Việt Nam 1811

1.5 Một số nghiên cứu về sự chấp nhận của người dân về một số biện pháp mới trong cộng đồng để phòng chống SXHD và dịch vụ y tế khác 24

1.6 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 27

KHUNG LÝ THUYẾT 28

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29

2.3 Thiết kế nghiên cứu 29

2.4 Cỡ mẫu 29

2.5 Phương pháp chọn mẫu 30

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 31

2.8 Các khái niệm 35

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 36

2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 37

2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 37

HUPH

Trang 4

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Kết quả giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue bằng bẫy Gravid Aedes Trap và máy hút cầm tay 39

3.2 Sự chấp nhận của cán bộ y tế và người dân trong việc sử dụng bẫy Gravid Aedes Trap để giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue 42

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 49

4.1 Kết quả giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue bằng bẫy Gravid Aedes Trap và máy hút cầm tay 49

4.2 Sự chấp nhận của cán bộ y tế và người dân trong việc sử dụng bẫy Gravid Aedes Trap để giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue 51

KẾT LUẬN 56

1 Kết quả giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue bằng bẫy Gravid Aedes Trap và máy hút cầm tay tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội 56

2 Sự chấp nhận của cán bộ y tế và người dân trong việc sử dụng bẫy Gravid Aedes Trap để giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội 56

KHUYẾN NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 1 HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT THU THẬP MẪU MUỖI BẰNG BẪY GAT 65 PHỤ LỤC 2 HƯỚNG DẪN THU MẪU MUỖI BẰNG PHƯƠNG PHÁP THƯỜNG QUY (MÁY HÚT MUỖI ASPIRATOR) TRONG PHÒNG CHỐNG BỆNH SXHD 68

PHỤ LỤC 3: PHIẾU ĐIỀU TRA VÉC TƠ TRUYỀN BỆNH SXHD 70

PHỤ LỤC 4: PHIẾU HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ Y TẾ 71

PHỤ LỤC 5: PHIẾU PHỎNG VẤN NGƯỜI DÂN 72

PHỤ LỤC 6: PHIẾU HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM TRỌNG TÂM 75

PHỤ LỤC 7: CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 76

HUPH

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CDC (Centers for Disease Control

and Prevention)

Trung tâm kiểm soát bệnh tật

ương WHO (World Health Organization) Tổ chứ c Y tế thế giới

HUPH

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố muỗi Aedes thu được tại điểm nghiên cứu 39

Biểu đồ 3.2 Số lượng muỗi Aedes bắt được từ hai loại dụng cụ 39

Biểu đồ 3.3 Mật độ muỗi Aedes trung bình thu được bằng bẫy GAT và Aspirator 41 Biểu đồ 3 4 Đánh giá về việc lắp đặt bẫy 45

Biểu đồ 3 5 Đánh giá về mùi phái sinh của bẫy GAT 46

Biểu đồ 3 6 Đánh giá về hiệu quả bắt muỗi của bẫy GAT 47

Biểu đồ 3 7 Sự chấp nhận của người dân về việc lắp đặt bẫy GAT 48

DANH MỤC BẢNG Bảng 3 1 Số muỗi Aedes trung bình thu được qua 8 đợt 40

Bảng 3 2 Chỉ số nhà có muỗi Aedes trung bình bằng 02 loại dụng cụ 41

Bảng 3.3 Thời gian thu muỗi trung bình (giờ) 42

Bảng 3 4 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 42

Bảng 3.5 Một số thông tin về HGĐ nghiên cứu 43

Bảng 3 6 Nhận xét của người dân về kích thước, vị trí đặt bẫy GAT 45

DANH MỤC HÌNH Hình 1 1 Cấu tạo chi tiết bẫy GAT[22] 13

Hình 1 2 Cách lắp bẫy GAT [22] 13

Hình 1 3 Nguyên lý hoạt động của bẫy GAT 14

Hình 1.4 Vị trí đặt bẫy GAT [22] 14

Hình 1.5 Máy hút muỗi Aspirator 16

HUPH

Trang 7

Bẫy muỗi Gravid Aedes Trap (GAT) là một loại bẫy mới được phát triển để thu thập muỗi cái Aedes trưởng thành đã được thử nghiệm và đưa vào ứng dụng tại nhiều nước trên thế giới Ưu điểm của bẫy GAT là không cần dùng các chất dẫn dụ

như CO2 hay các chất dẫn dụ khác, thiết kế, lắp đặt đơn giản, không cần sử dụng điện năng và số lượng muỗi thu thập được không phụ thuộc vào kỹ năng bắt muỗi của cán bộ y tế (CBYT) Tuy nhiên tại Việt Nam, loại bẫy này còn chưa phổ biến, đang trong giai đoạn thử nghiệm và chưa có nghiên cứu đánh giá hiệu quả giám sát muỗi Vì vậy, với mục tiêu cung cấp bằng chứng về hiệu quả của bẫy GAT khi thu thập muỗi so với một phương pháp giám sát véc tơ truyền thống, chúng tôi thực

hiện đề tài: “Đánh giá kết quả giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue bằng bẫy Gravid Aedes Trap tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2018”,với hai mục tiêu: (1) Đánh giá hiệu quả áp du ̣ng bẫy GAT trong giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue so với giám sát thường quy tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2018 và (2) Mô tả sự chấp nhận của cán

bộ y tế và người dân trong việc sử dụng bẫy GAT để giám sát muỗi truyền bệnh sốt

xuất huyết Dengue tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2018

Nghiên cứu có thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính, được tiến hành từ tháng 2/2018 đến tháng 5/2018 tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội Để so sánh kết quả của bẫy GAT với phương pháp thu thập muỗi bằng máy hút Aspirator Chúng tôi đã tiến hành thu thập muỗi bằng hai loại dụng cụ này tại 100 HGĐ trong vòng 8 tuần Những ý kiến về quy trình lắp đặt, thời gian thu muỗi, ưu điểm, nhược điểm của bẫy GAT và sự chấp nhận của CBYT và cộng đồng được thu thập qua một số cuộc phỏng vấn sâu CBYT, phỏng

vấn định lượng và thảo luận nhóm với người dân

Kết quả cho thấy, bẫy GAT bắt được nhiều muỗi hơn máy hút Aspirator Cụ

thể số muỗi bắt được bằng bẫy GAT lần lượt là 1196 con Ae.aegypti và 479 con Ae.albopictus, kết quả tương tự ở máy hút Aspirator lần là 708 con Ae.aegypti và

143 con Ae.albopictus Mật độ muỗi Ae.aegypti bắt được bằng bẫy GAT và máy hút

Aspirator lần lượt là 1,5 con /nhà và 0,89 con/nhà Chỉ số mật độ muỗi

Ae.albopictus bắt được bẫy GAT và máy hút Aspirator lần lượt là 0,6 con/nhà và

HUPH

Trang 8

lượt là 53 nhà và 24 nhà (p<0,05), nhà có muỗi Ae.albopictus thu được bằng bẫy

GAT là 27 nhà, máy hút Aspirator là 12 nhà (p<0,05).CBYT (100%) và người dân (94%) đều chấp nhận sử dụng bẫy GAT trong giám sát muỗi tại HGĐ nhờ những ưu điểm nổi trội như lắp đặt đơn giản, hiệu quả bắt muỗi cao, tiết kiệm thời gian, công sức cho CBYT và không gây ảnh hưởng đến cuộc sống của hộ gia đình Từ những kết quả của nghiên cứu này chúng tôi đưa ra khuyến nghị đề nghị Bộ Y tế xem xét đưa bẫy GAT vào sử dụng trong giám sát véc tơ sốt xuất huyết Dengue thay cho biện pháp giám sát muỗi hiện nay

HUPH

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm gây dịch do vi rút Dengue gây nên Trong những năm gần đây, SXHD đã trở thành vấn đề sức khỏe công cộng rất quan trọng của hơn 128 nước trên thế giới với khoảng 3,9 tỷ người ở trong vùng nguy cơ Ước tính, có khoảng 390 triệu người mắc SXHD mỗi năm, trong đó có khoảng 500.000 người bị SXHD nặng phải nhập viện và trong số này có 2,5% số ca tử vong [45] Tỷ lệ tử vong cao nhất trong giai đoạn đầu của dịch, trẻ em

có nguy cơ tử vong cao do các biến chứng và không được điều trị kịp thời Vùng Đông Nam Á-Tây Thái Bình Dương đã trở thành khu vực có SXHD lưu hành cao nhất thế giới với hơn 70% tổng số ca mắc và tử vong của toàn thế giới [46]

Tại Việt Nam SXHD là bệnh dịch lưu hành tại một số địa phương, nhất là các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và vùng ven biển miền Trung Trong những năm gần đây số ca mắc SXHD có xu hướng tăng lên và diễn biến phức tạp Năm 2017, số ca mắc SXHD ghi nhận được trên toàn quốc là 184.570 trường hợp và là năm thứ 3 ghi nhận số ca mắc SXHD cao nhất trong lịch

sử Ở nước ta hiện nay số người nằm trong vùng có dịch bệnh lưu hành chiếm khoảng 90% dân số toàn quốc (khoảng 85 triệu người) [5]

Bệnh SXHD lây truyền qua muỗi Ae.aegypti và Ae.albopictus, trong đó Ae.aegypti là véc tơ chính Giám sát véc tơ là hoạt động vô cùng quan trọng trong

chương trình phòng chống SXHD quốc gia và đã được thực hiện từ năm 1999 Việc giám sát và kiểm soát véc tơ là một hoạt động thiết yếu và đôi khi là cách duy nhất hiệu quả để phòng ngừa và ngăn chặn sự lây lan và phát triển của bệnh SXHD Kết quả của việc giám sát véc tơ sẽ cho chúng ta biết véc tơ ở đó là loại muỗi nào, biến động quần thể theo tháng, theo mùa, từ đó sẽ hướng tới đề xuất những biện pháp phòng chống cụ thể và hiệu quả Ngay khi chưa có dịch, nhưng giám sát muỗi thấy mật độ cao bất thường, thì các hoạt động phòng dịch như phun hóa chất, thả cá ăn

bọ gậy, tuyên truyền cảnh báo cho người dân cũng cần phải thực hiện ngay Hiện nay chương trình phòng chống SXHD quốc gia đang áp dụng 2 phương pháp thu thập muỗi thường quy là bắt muỗi bằng ống tuýp và máy hút muỗi cầm tay Đây là

2 phương pháp phụ thuộc hoàn toàn vào con người, trên thực tế kỹ năng thu thập

HUPH

Trang 10

muỗi của từng giám sát viên là rất khác nhau, do vậy người có kinh nghiệm sẽ bắt được số muỗi nhiều hơn người ít kinh nghiệm Thu thập muỗi bằng ống tuýp có nhược điểm là hiệu quả thu thập muỗi kém, kết quả thu thập muỗi phụ thuộc rất nhiều vào trình độ và kỹ năng của người đi giám sát Với máy hút muỗi cầm tay có thể bắt được nhiều muỗi hơn so với ống tuýp, tuy nhiên do lực hút yếu và đầu vòi nhỏ nên chỉ hút được muỗi đậu nghỉ Ngoài ra, tiếng ồn và độ rung của máy phát ra làm muỗi bay mất Từ đó dẫn đến báo cáo kết quả mật độ muỗi từ các tỉnh gửi về ban điều hành SXHD trung ương với kết quả mật độ muỗi chưa chính xác, không phản ánh đúng thực trạng về mật độ muỗi tại ổ dịch của địa phương đó Việc dùng bẫy để bắt muỗi sẽ hạn chế việc phụ thuộc vào kỹ năng của con người và sẽ cho kết

quả mật độ muỗi chính xác hơn Bẫy muỗi Gravid Aedes Trap (GAT) là một loại bẫy mới được phát triển để thu thập muỗi cái Aedes trưởng thành Ưu điểm của bẫy

GAT là không cần dùng các chất dẫn dụ như CO2 hay các chất dẫn dụ khác [22] Thiết kế, lắp đặt đơn giản, không cần sử dụng điện năng và số lượng muỗi thu thập được không phụ thuộc vào kinh nghiệm và kỹ năng của người điều tra Hiện loại bẫy này còn khá mới, chưa phổ biến, vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm và chưa

có nghiên cứu đánh giá hiệu quả của bẫy so với phương pháp giám sát muỗi đang dùng hiện nay Chính vì thế, nghiên cứu này sẽ là tiền đề cho việc cung cấp bằng chứng về hiệu quả của bẫy GAT khi thu thập muỗi với một phương pháp giám sát véc tơ hiện hành Xuất phát từ ý tưởng đó, học viên đề xuất thực hiện nghiên cứu

“Đánh giá kết quả của bẫy Gravid Aedes Trap trong giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2018”

Nghiên cứu được thực hiện tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai là điểm nóng

về dịch SXHD của thành phố Hà Nội, đây là phường có dịch lưu hành hầu hết các năm

HUPH

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá hiệu quả áp du ̣ng bẫy GAT trong giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue so với giám sát thường quy tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2018

2 Mô tả sự chấp nhận của cán bộ y tế và người dân trong việc sử dụng bẫy GAT để giám sát muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2018

HUPH

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về bệnh sốt xuất huyết Dengue

SXHD là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây nên, bệnh có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sốt cấp diễn và xuất huyết với nhiều dạng khác nhau, thể nặng có thể gây sốc do giảm khối lượng máu Hiện nay, SXHD được xếp vào nhóm B – các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong – trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm [7]

1.1.1 Dấu hiệu lâm sàng

SXHD bao gồm nhiều thể lâm sàng với các mức độ khác nhau Diễn biến lâm sàng của bệnh được chia làm 3 giai đoạn: sốt, tiến triển nguy kịch và phục hồi

Giai đoạn sốt: đặc trưng bởi tình trạng sốt đột ngột kéo dài từ 2-7 ngày, đôi khi kèm theo nhức đầu dữ dội, đau cơ, đau khớp, đau sau hố mắt, chán ăn, buồn nôn, nôn và phát ban sần đa hình thái

Giai đoạn tiến triển nguy kịch thường xảy ra vào lúc hạ sốt, khi có sự gia tăng tính thấm thành mao mạch và thoát huyết tương Biểu hiện lâm sàng là tràn dịch màng phổi hoặc cổ trướng tùy thuộc vào mức độ thoát huyết tương Số lượng tiểu cầu giảm ngay trước hoặc đồng thời với tăng hematocrit và hai thay đổi này đều xảy ra trước khi hạ sốt và sốc

Giai đoạn tiếp theo thường kéo dài từ 24 – 48 giờ, sau đó rò rỉ mao mạch, dịch ngoại mạch bắt đầu được tái hấp thụ trong 48- 72 giờ tiếp theo được gọi là giai đoạn phục hồi Các biểu hiện xuất huyết thường gặp gồm nốt xuất huyết nhỏ, chảy máu cam hoặc chảy máu chân răng, những biểu hiện xuất huyết nghiêm trọng thường kết hợp với sốt kéo dài [1]

1.1.2 Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền

SXHD có thời kỳ ủ bệnh từ 3 – 14 ngày, trung bình từ 5 -7 ngày Bệnh nhân

là nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt là giai đoạn trong máu có nhiều vi rút Vi rút được truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt SXHD không truyền trực tiếp từ người sang người Muỗi bị nhiễm vi rút do hút

HUPH

Trang 13

máu của người bệnh có thể truyền bệnh sang người khỏe thường sau từ 8-12 ngày

và truyền bệnh suốt đời [1]

1.1.3 Tác nhân gây bệnh

Vi rút Dengue gây bệnh SXHD thuộc giống Flaviviruses, họ Flaviviridae,

gồm 4 tuýp huyết thanh là D1, D2, D3, D4 Hiện nay, tại Việt Nam đã phát hiện cả

4 tuýp huyết thanh trên và luân phiên gây dịch.Vi rút Dengue có thể tồn tại và phát triển trong cơ thể muỗi tuy nhiên chúng dễ bị tiêu diệt khi ra ngoài môi trường Với các hóa chất khử khuẩn thông thường và điều kiện nhiệt độ trển 560C khiến cho vi rút bị bất hoạt trong vài chục phút Vi rút có thể tồn tại lâu dài trong nhiệt độ âm sâu (-700C)

1.1.4 Muỗi truyền bệnh (véc tơ)

SXHD lây truyền qua véc tơ là 2 loài muỗi Ae.aegypti và Ae.albopictus là

chủ yếu Vi rút Dengue lây sang người thông qua các vết đốt của muỗi cái nhiễm bệnh Tuy nhiên, chúng có những đặc điểm khác nhau về sinh thái học và khả năng

truyền bệnh Muỗi Ae.aegypti là véc tơ chính lây truyền bệnh SXHD Muỗi Ae.aegypti có khả năng bắt nguồn từ châu Phi và từ đó chúng được vận chuyển đến

khắp các vùng ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới trên thế giới thông qua hoạt động thương mại và vận chuyển toàn cầu [35] Loài muỗi này phân bố chủ yếu trong vùng nhiệt đới và ôn đới của các châu lục.Tại Việt Nam, muỗi phân bố tại hầu hết các tỉnh/ thành phố nhưng tập trung nhiều tại các tỉnh Miền Nam, miền Trung, Tây

Nguyên Tại miền Bắc, Ae.aegypti chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, trong đó

Hà Nội là địa phương trọng điểm về dịch SXHD, rồi đến các khu vực đồng bằng ven biển và khu dân cư gần đường giao thông [5][4] Đó là những nơi có dân cư đông đúc, có nhiều dụng cụ chứa nước và các phương tiện giao thông thường xuyên qua lại, điều kiện môi trường không đảm bảo (vệ sinh kém, cấp thoát nước chưa đồng bộ…) khiến cho vùng phân bố của muỗi càng mở rộng

Vòng đời của Ae.aegypti có 4 giai đoạn: Trứng - Bọ gậy - Quăng - Muỗi

trưởng thành Trong đó, 3 giai đoạn đầu là sống dưới nước, chỉ có giai đoạn muỗi trưởng thành là sống trên cạn.Thời gian phát triển của các giai đoạn trước trưởng

HUPH

Trang 14

thành khoảng 7 ngày trong điều kiện thuận lợi Muỗi cái trưởng thành sống từ 20 đến 40 ngày, muỗi đực sống ngắn hơn khoảng 9 đến 12 ngày Trong quá trình sống, muỗi đực hút mật hoa để sống, còn muỗi cái ngoài hút mật hoa còn đốt, hút máu động vật có vú để phát triển trứng và chỉ thích hút máu người.Muỗi cái phát hiện vật chủ dựa vào các hợp chất hóa học như NH3, CO2, axit lactic, Octenol tiết ra từ vật chủ

Muỗi Ae.aegypti sống trong nhà gần người, chúng thường đậu ở những nơi

có ánh sáng yếu và độ cao từ 2m trở xuống: trên các vật dụng vải (quần áo, màn, túi xách ); trên các vật dụng cứng (gầm bàn có người thường ngồi, ghế tiếp khách, giường, tủ gần tường) Chúng thường đẻ trứng ở những nơi nước sạch chứa trong lu vại, bể, lọa hoa, chậu cây cảnh, chai lọ, lốp ô tô cũ, máng nước, đôi khi muỗi đẻ trứng ở hốc cây, kẽ lá ở trong và quanh nhà những nơi râm mát Bọ gậy ưa nước

có độ pH hơi axit nhất là nước mưa

Ae.albopictus có nguồn gốc từ châu Á Giống như Ae.aegypti chúng cũng lây

lan và phát triển rộng khắp thế giới thông qua các hình thức thương mại và vận

chuyển quốc tế Hiện nay, muỗi Ae.albopictus được xếp vào loài muỗi xâm lấn bậc

nhất trên thế giới.Chúng phân bố rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam, loài muỗi này sinh sống chủ yếu ở vùng nông thôn, miền núi, thành phố có đồi núi hay có nhiều khu vực cây cối um tùm [36]

Muỗi Ae.albopictus thích trú đậu trong nhà, trong các bụi cây, đám cỏ và hút máu cả người lẫn động vật Ae.albopictus thường đẻ trứng ở những nơi có nước

sạch ngoài tự nhiên như: hốc cây, kẽ lá đôi khi ở các vật chứa nhân tạo như: lu vại, bể, chậu cây cảnh, chai lọ, vỏ dừa, lốp ô tô cũ, máng nước ở ngoài nhà những nơi râm mát

1.2 Tình hình dịch SXHD trên thế giới, Việt Nam và tại địa bàn nghiên cứu 1.2.1 Tình hình dịch SXHD trên thế giới

Tổ chức Y tế thế giới đánh giá, SXHD là vấn đề sức khỏe cộng đồng mang tính toàn cầu và là một trong các bệnh do véc tơ truyền quan trọng Từ khi được

HUPH

Trang 15

phát hiện vào những năm 50 của thế kỷ trước, SXHD đã lây lan nhanh ra toàn thế giới với hơn 128 quốc gia và vùng lãnh thổ, có khoảng 3,9 tỷ người sống trong vùng nguy cơ vào năm 1956 [36] Một nghiên cứu năm 2010 đã uớc tính, có khoảng 390 triệu người mắc SXHD mỗi năm, trong đó có khoảng 500.000 người bị SXHD nặng phải nhập viện và trong số này có 2,5% số ca tử vong [36] [45][32] Số người mắc SXHD hàng năm đã tăng hơn 30 lần sau 50 năm [44]

Năm 2016 được ghi nhận là một năm bùng phát của bệnh SXHD, có hơn 2,38 triệu trường hợp mắc và 1.032 ca tử vong được ghi nhận tại châu Mỹ Khu vực Đông Nam–Á - Tây Thái Bình Dương ghi nhận hơn 375.000 ca mắc trong đó phần lớn các ca mắc ở Phillipin (176.411) và Malaysia (100.028) [45] Năm 2017 tiếp tục ghi nhận dịch bệnh bùng phát tại các quốc gia khác, đến tháng 3/2017 tổng số ca mắc SXHD trên toàn thế giới là 50.172 trường hợp [47] Dịch SXHD ngày càng diễn biến phức tạp và khó kiểm soát, đòi hỏi ngành Y tế cần nghiên cứu, triển khai các biện pháp và mô hình phòng chống SXHD hiệu quả

1.2.2 Tình hình dịch SXHD tại Việt Nam

SXHD được ghi nhận lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1958 và được đánh giá là một trong 10 bệnh truyền nhiễm hàng đầu tại Việt Nam [7] Trước năm 1990, chu kỳ dịch SXHD khá rõ nét với khoảng cách trung bình 3 đến 4 năm Sau năm

1990, dịch bùng phát liên tục với quy mô và cường độ ngày một gia tăng nhưng chu

kỳ dịch không còn rõ rệt như trước Cụ thể, trong giai đoạn từ năm 1998 -2014, cả nước ghi nhận 3 lần bùng phát dịch lớn trong cả nước, khoảng cách giữa 2 lần là từ 3-4 năm Tuy nhiên, sau đợt dịch lớn vào năm 2015 với 94,355 trường hợp mắc tại 55/63 tỉnh thành với 62 ca tử vong được ghi nhận trên cả nước Chỉ sau đó một năm, một đợt dịch mới lại bùng phát vào năm 2017 với nhiều diễn biến phức tạp hơn Năm 2017 dịch bùng phát và đạt đỉnh sớm hơn mọi năm gây khó khăn trong công tác phòng chống dịch Tính đến tháng 11/2017 đã có 166,994 trường hợp SXHD được ghi nhận [5]

Không chỉ thay đổi về chu kỳ dịch, dịch SXHD đang diễn biến rất phức tạp Trong giai đoạn từ 2012-2015, các ca mắc ghi nhận chủ yếu tại các tỉnh miền Nam,

HUPH

Trang 16

sau đó là miền Trung, Tây Nguyên Đến năm 2017, phần lớn các trường hợp được ghi nhận tại miền Bắc và miền Nam và chứng kiến sự giảm mạnh số ca mắc tại Tây Nguyên [5]

1.2.3 Tình hình dịch SXHD tại địa bàn nghiên cứu

1.2.3.1 Tình hình dịch SXHD tại Hà Nội

Hà Nội là địa phương có trọng điểm dịch SXHD tại khu vực miền Bắc Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng (TTYTDP) Hà Nội Dịch bệnh đang có xu hướng lây lan nhanh, diễn biến phức tạp trong vòng 3 năm trở lại đây Dịch SXHD tại Hà Nội diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ như: sự đô thị hóa mạnh mẽ, biến động dân cư lớn và liên tục, tình trạng vệ sinh môi trường kém nhất là trong các khu vực tập trung nhiều học sinh, sinh viên, người lao động ngoại tỉnh, các công trình xây dựng nhiều DCCN tạo điều kiện cho muỗi sinh sản và phát triển Ngoài ra, diễn biến thời tiết bất thường là yếu tố thuận lợi cho sự sinh sôi và phát triển của muỗi truyền bệnh SXHD làm tăng nguy cơ bùng phát dịch

Biểu đồ 1 1 Số ca mắc SXHD và tỷ lệ mắc SXHD trên 100.000 dân tại Hà Nội

từ năm 2004 - 11/2017 [10]

Qua biểu đồ cho thấy, dịch SXHD có xu hướng tăng mạnh trong vòng 14 năm trở lại đây Đến tháng 11/2017, số ca mắc tại Hà Nội là trên 37.000 trường hợp Tỷ lệ mắc trên 100.000 dân là 483 ca Đặc biệt, chu kỳ dịch đang trở lên ngắn dần, khoảng cách giữa 2 lần bùng phát dịch đang giảm đi nhanh chóng Khoảng cách giữa 2 lần bùng phát dịch năm 2009 và 2015 là 6 năm Tuy nhiên, đến đợt dịch

HUPH

Trang 17

2015, chỉ sau 1 năm, dịch SXHD đã bùng phát trở lại vào năm 2017, trong đó, có 7 quận nội thành bao gồm Cầu Giấy, Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Hà Đông, Thanh Trì là có tỷ lệ mắc SXHD cao từ 500 - 1145 ca trên 100.000 nghìn dân [10]

Không chỉ diễn biến bất thường về chu kỳ dịch, dịch SXHD tại Hà Nội năm

2017 có các đặc điểm bất thường về thời điểm bùng phát dịch

Biểu đồ 1.2 Diễn biến tình hình dịch SXHD theo tháng tại Hà Nội từ

năm 2009 đến tháng 11/2017

Theo số liệu thống kê được từ năm 2009 - 2016, thời điểm bùng phát dịch SXHD tại Hà Nội thường trong khoảng từ tháng 8 trở đi, Đỉnh dịch vào khoảng từ tháng 9 đến tháng 10 hàng năm Tuy nhiên, năm 2017, dịch đến sớm hơm, dịch bắt đầu bùng phát từ tháng 6 và đỉnh dịch vào tháng 8.Số ca mắc SXHD được ghi nhận trong tháng 8/2017 tại Hà Nội là 13.229 trường hợp.Trước tình trạng dịch SXHD diễn biến đột ngột, bất thường [10] Ngành Y tế đã triển khai nhiều biện pháp phòng chống quyết liệt trong đó phương pháp giám sát véc tơ truyền bệnh là không thể thiếu

HUPH

Trang 18

1.2.3.2 Tình hình dịch SXHD tại phường Thịnh Liệt

Phường Thịnh Liệt là một phường thuộc quận Hoàng Mai, một trong những quận có tỷ lệ mắc SXHD cao nhất trong toàn thành phố Hà Nội Nằm ở cửa ngõ phía Nam thành phố, nơi tập trung nhiều đầu mối giao thông quan trọng như: ga Giáp Bát, bến xe Giáp Bát, bến xe Nước Ngầm, bến xe vận tải Hàng Hoá và nhiều khu đô thị mới như Công viên Yên Sở, khu Đô thị mới Thịnh Liệt, khu Đô thị chức năng Ao Sào, Đô thị Trũng Kênh, khu di dân Đồng Tàu [3] đây đều là các điều kiện thuận lợi cho bệnh SXHD lưu hành và bùng phát thành dịch Số trường hợp mắc SXHD tại đây đã tăng chóng mặt trong vài năm trở lại đây, thể hiện ở biểu đồ dưới

Biểu đồ 1.3 Số ca mắc SXHD trên địa bàn phường Thịnh Liệt

Tỷ lệ mắc SXHD trên 100.000 dân là 1.200 trường hợp cho thấy ta cần triển khai nhiều biện pháp dự phòng nhằm hạn chế dịch lây lan và phát triển

Trang 19

1.3 Các phương pháp giám sát muỗi trưởng thành trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Trên thế giới

Việc giám sát và kiểm soát véc tơ là một hoạt động thiết yếu và đôi khi là cách duy nhất hiệu quả để phòng ngừa và ngăn chặn sự lây lan và phát triển của bệnh SXHD Hiện nay, trên thế giới thường sử dụng một số phương pháp để thuthập muỗi trưởng thành như thu thập muỗi bằng ống tuýp cầm tay, hoặc máy hút muỗi hay sử dụng bẫy để bắt muỗi Các loại bẫy để thu thập muỗi khá đa dạng dựa trên các đặc tính sinh học, vòng đời của muỗi để bắt muỗi Các loại bẫy này sử dụng các các tín hiệu khác nhau để thu hút muỗi như CO2, nhiệt độ, hơi nước, chất mồi, tín hiệu thị giác điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của bẫy đế các loại muỗi khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi sẽ đề cập đến một số loại bẫy thu thập muỗi cơ bản hiện đang được sử dụng phổ biến trên thế giới

Bẫy Ovitrap là một loại bẫy thu thập muỗi dựa trên đặc tính tìm nơi đẻ trứng

của muỗi cái Aedes Bẫy là một dụng cụ gồm một hộp tối màu chứa nước để muỗi

có thể đẻ trứng Ovitrap được chứng minh là hiệu quả trong thu thập muỗi

Ae.aegypti và Ae.albopictus Bẫy được nghiên cứu và áp dụng lần đầu tiên vào năm

1966 và được sử dụng để theo dõi quần thể muỗi Aedes[48] Bẫy cung cấp thông tin

về sự hiện diện của muỗi do đó có thể là một nguồn cảnh báo sớm để ngăn ngừa sự bùng phát của dịch bệnh Các số liệu được sử dụng để giám sát véc tơ và kiểm soát

sự hoạt động của quần thể muỗi Ovitrap đã được sử dụng rộng rãi ở các nước như Singapore, Mỹ và Hồng Kông từ những năm 1970 [20][35][47] Từ bẫy Ovitrap ban đầu, rất nhiều loại bẫy được nghiên cứu và phát triển nhằm tăng hiệu quả bắt và tiêu diệt muỗi như Lethal Ovitraps có chứa các hóa chất tiêu diệt ấu trùng nở từ trứng hoặc diệt muỗi trưởng thành khi muỗi vào bẫy, Autocidal Ovitrap cho phép giữ trứng nhưng diệt muỗi trưởng thành, hay bẫy dính Ovitrap WHO cho biết, các kết quả nghiên cứu về sử dụng số lượng bẫy Lethal Ovitraps lớn thường xuyên có thể giảm số lượng quần thể muỗi [45].Vòng đời của muỗi cũng có thế bị phá vỡ nên có thể giảm số lượng muỗi nhiễm bệnh Việc sử dụng bẫy Ovitrap tại Úc để phòng

HUPH

Trang 20

ngừa sự bùng phát dịch SHXD cũng cho thấy việc sử dụng các biện pháp dự phòng quy mô lớn, sử dụng bẫy muỗi rất hiệu quả giúp giảm số lượng muỗi nhiễm vi rút Dengue xuống 92% và cắt đường lây truyền bệnh Philippin sử dụng một loại bẫy tiêu diệt ấu trùng muỗi trong các chương trình dự phòng bệnh SHXD Mặc dù những bẫy này chỉ giết ấu trùng những đã tác động đáng kể trong việc phòng ngừa bệnh SXHD [35] Năm 2001, Brazil đã tiến hành thử nghiệm sử dụng Lethal

Ovitrap để kiểm soát muỗi Aedes tại 2 thành phố Areia Branca và Nilopolis Kết quả cho thấy mật độ muỗi Ae.aegypti đã giảm đáng kể Số lượng muỗi trưởng thành

giảm liên tục ở các nhà có đặt bẫy Các kết quả này chứng minh tác động bền vững của bẫy Ovitrap đối với việc kiểm soát mật độ véc tơ SXHD trong các HGĐ đô thị của Brazil [34]

Bẫy GAT hay còn gọi là bẫy Gravid Aedes Trap được phát triển bởi Dr Á E

Eiras từ đại học Federal de Minas Gerais, Belo Horizonte, Brazil và Dr S A Ritchie từ đại học James Cook, Cairns, Queensland, Australia Hiện nay, bẫy GAT được sản xuất và phân phối độc quyền bởi công ty Biogents – Đức, với giá bán là

14 Đô la Mỹ/ bẫy[22]

Bẫy GAT thường được sử dụng trong các chương trình giám sát quần thể

muỗi thường quy nhằm đánh giá quần thể loài muỗi Aedes

Ưu điểm của bẫy GAT đó là không cần dùng các chất dẫn dụ như CO2 hay các chất dẫn dụ khác

Cấu tạo bẫy GAT

Bẫy GAT gồm 5 bộ phận: (1) Xô đen: chứa nước để dẫn dụ muỗi vào đẻ trứng; (2) Ống trụ trong suốt; (3) Ống trụ màu đen để dẫn dụ muỗi vào đẻ trứng; (4) Túi lưới tẩm hóa chất để ngăn không cho muỗi vào đẻ trứng trong xô đen; (5) Vành

cố định có tác dụng cố định túi lưới và ống trụ trong suốt để tạo thành 1 khối cố định

HUPH

Trang 21

Hình 1 1 Cấu tạo chi tiết bẫy GAT[22]

Kĩ thuật lắp đặt bẫy GAT

Bẫy GAT cần được lắp theo đúng trình tự đảm bảo thu thập muỗi hiệu quả

Bước 1: Cho nước máy vào xô đen

Bước 2: Bao mặt đáy của ống trụ trong suốt bằng túi lưới tẩm hóa chất

Bước 3: Cố định lưới bằng vành cố định

Bước 4: Đặt ống trụ màu đen vào mặt trên của ống trụ trong suốt và xoay 90

độ để vào khớp tạo thành 1 khối cố định

Bước 5: Đặt khối cố định ở bước 4 vào xô đen (có nước) Hoàn thành hệ

thống bẫy GAT[22]

Hình 1 2 Cách lắp bẫy GAT [22]

3-Ống hình trụ màu đen

4- Túi lưới tẩm hóa chất

2-Ống trụ trong suốt

Trang 22

Nguyên lý hoạt động của bẫy GAT

Bẫy GAT dựa vào đặc tính sinh học của muỗi cái Aedes để thu hút chúng Muỗi Aedes thường tìm những nơi tối, có nước sạch đọng để sinh sản Bẫy GAT có

khoang chứa nước ở phần đáy Khi muỗi cái lọt qua ống hình trụ sẽ bay xuống khoang chứa nước, chúng sẽ tiếp xúc với lưới tẩm hóa chất Tấm lưới đen được tẩm pyrethroid, muỗi chết sau 3-15 phút tiếp xúc [22]

Hình 1 3 Nguyên lý hoạt động của bẫy GAT

Bẫy GAT thường được đặt ở trong nhà, nơi tập trung nhiều người như nhà bếp, phòng khách hoặc phòng ngủ Ngoài ra bẫy GAT có thể đặt ở những nơi ẩm ướt, dưới bóng râm, gốc cây, những nơi có mái che để tránh ánh nắng, mưa và gió [20]

Hình 1.4 Vị trí đặt bẫy GAT [22]

HUPH

Trang 23

1.3.2 Tại Việt Nam

Theo quyết định số 3711/QĐ-BYT ngày 19 tháng 9 năm 2014 về việc Ban hành "Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue" việc giám sát véc tơ truyền bệnh SXHD triển khai trên 2 nhóm đối tượng là muỗi trưởng thành

và lăng quăng/ bọ gậy[2]

Giám sát véc tơ nhằm xác định nguồn sinh sản chủ yếu của muỗi truyền bệnh, sự biến động của véc tơ, tính nhạy cảm của véc tơ với các hóa chất diệt côn trùng và đánh giá hoạt động phòng chống véc tơ tại cộng đồng Điểm giám sát véc

tơ được lựa chọn tại các xã, phường trọng điểm và hai điểm không thuộc xã, phường trọng điểm của tỉnh (để làm đối chứng)[2]

Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút cầm tay (Aspirator) Soi bắt muỗi cái đậu nghỉ trên quần áo, chăn màn, các đồ vật trong nhà vào ban ngày, mỗi nhà soi bắt muỗi trong

15 phút Số nhà điều tra cho mỗi điểm là 30 nhà, điều tra 1 lần/tháng:

Sử dụng 2 chỉ số dưới đây để giám sát muỗi Aedes aegypti, Aedes albopictus (tính theo từng loài)

+ Chỉ số mật độ muỗi (CSMĐM) là số muỗi cái Aedes trung bình trong một gia

đình điều tra

Số muỗi cái Aedes bắt được

CSMĐM (con/nhà) =

Số nhà điều tra

+ Chỉ số nhà có muỗi (CSNCM) là tỷ lệ % số nhà có muỗi cái Aedes trưởng thành

Số nhà có muỗi cái Aedes trưởng thành

CSNCM (%) = x 100

Số nhà điều tra

HUPH

Trang 24

Máy hút muỗi Aspirator

Cấu tạo

Máy hút muỗi cầm tay thông thường có 3 phần chính bao gồm: (1) Phần đầu máy: Có 1 ống hút làm nhiệm vụ đẩy muỗi tới buồn chứa (thường có đường kính 10-11cm và chiều dài khoảng 15- 20cm), tiếp theo là buồng chứa muỗihình trụ bằng plastic hay thuỷ tinh; (2) Phần thân máy: Chứa mô tơ hút, đây là loại mô tơ công suất thấp (3V); (3) Phần đuôi của máy: Chứa pin là nguồn cung cấp năng lượng cho

mô tơ hoạt động Pin dùng cho mô tơ là pin đại có bán phổ biến trên thị trường Đuôi máy có công tắc bật-tắt hoạt động mô tơ

Hình 1.5 Máy hút muỗi Aspirator

Cơ chế hoạt động

Máy cầm tay thường dễ sử dụng, chỉ cần nạp pin vào hộc đựng và bật công tắc mở nguồn là máy sẽ hoạt động, khi mô tơ được bật sẽ tạo lực hút để hút muỗi đang đậu tại các giá thể Khoảng cách vòi hút tới muỗi khoảng 1cm thì máy sẽ có tác dụng hút muỗi, muỗi được hút vào trong buồng đựng và được lưu giữ ở đó cho từng hộ gia đình (HGĐ)

Tùy từng loại pin mà thời gian hoạt động liên tục của những loại máy cầm tay này có thể lên tới 8-12 giờ

HUPH

Trang 25

1.3.3 Ưu nhược điểm các phương pháp giám sát

Mỗi phương pháp giám sát muỗi đều có các ưu nhược điểm riêng.Thu thập muỗi bằng ống tuýp có nhược điểm là hiệu quả thu thập muỗi kém Kết quả thu thập

muỗi phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, kỹ năng của người đi giám sát

Với máy hút muỗi cầm tay, có thể bắt được nhiều muỗi hơn bắt bằng ống tuýp nhất là khi cần thu thập mẫu với số lượng lớn HGĐ trong 1 khoảng thời gian ngắn (khoảng 100-200 HGĐ/ khu phố) [2] Tuy nhiên, do đặc điểm lực hút yếu, đầu vòi nhỏ nên máy không thể hút muỗi đang bay mà chỉ dùng để bắt muỗi đậu nghỉ Người thu mẫu một tay mang máy, một tay cầm đèn pin để soi lên các giá thể muỗi thường đậu nghỉ như quần áo trong phỏng ngủ, mắc treo trong nhà… Khi phát hiện muỗi, cán bộ điều tra bật máy lên và nhẹ nhàng đưa đầu vòi hút lại gần cho đến khi bắt được muỗi Phương pháp bắt muỗi này còn có nhược điểm là do tiếng ồn và độ rung của máy phát ra làm muỗi bay mất

Việc sử dụng các loại bẫy để giám sát muỗi đang dần trở nên phổ biến tuy nhiên với mỗi loại bẫy tồn tại những ưu nhược điểm riêng Bẫy đèn CDC light đã

được chứng minh không có hiệu quả trong việc bắt Ae.aegypti và Ae.albopictus

Trong các loại bẫy thì bẫy BG cho thấy có hiệu quả trong việc thu thập muỗi

Ae.aegypti và Ae.albopictus Tuy nhiên việc sử dụng bẫy này đòi hỏi phải có nguồn

điện để hoạt động Ngoài ra bẫy BG có giá khá cao khoảng 150 Bảng Anh[21] [40] Điều này có thể không phù hợp với nhiều khu vực lưu hành SXHD như tại các nước đang phát triển, nước nghèo, vùng khó khăn

Các loại bẫy dính đều được thiết kế di động, thuận tiện di chuyển, không yêu cầu nguồn điện và phí bảo trì thấp Tuy nhiên, với các loại bẫy dính yêu cầu có chi phí nhân lực và việc thu thập muỗi từ các miếng dính rất phức tạp ảnh hưởng đến kết quả thu thập muỗi, chất lượng mẫu[39]

HUPH

Trang 26

1.4 Một số nghiên cứu về hiệu quả của bẫy muỗi trên thế giới và Việt Nam 1.4.1 Trên thế giới

Kết quả một số nghiên cứu khi so sánh hiệu quả thu thập muỗi của bẫy GAT

và một số loại bẫy muỗi hiện hành khác đều cho kết quả bẫy GAT có khả năng thu

thập được muỗi cái trưởng thành Ae.aegypti và Ae.albopictus

Eiras Alvaro E và công sự đã tiến hành thử nghiệm để so sánh hiệu quả thu thập muỗi của bẫy GAT và bẫy dính đôi (double sticky Ovitrap - DSO) Hai loại bẫy có hình dáng và kích thước tương tự nhau gồm một thùng nhựa đen dung tích 1,2 lít Khác với bẫy GAT, phần trên của DSO là xô nhựa màu đen, muỗi bị mắc kẹt trong DSO bằng một dải nhựa dính keo Polybutylene gắn với thành trong của thùng Ba mẫu bẫy GAT được thử nghiệm: 1) Bẫy GAT không phun hóa chất diệt côn trùng; 2) Bẫy GAT được phun hóa chất diệt côn trùng lên bề mặt trong ống hình trụ; 3) GAT có một mẫu giấy được tẩm Metofuthrin 4,2% đặt bên trong ống hình trụ trong và một mẩu bẫy dính DSO Kết quả cho thấy, bẫy GAT có tẩm hóa chất diệt côn trùng có tỷ lệ thu thập muỗi cái trưởng thành cao hơn đáng kể so với bẫy DSO (p=0,001) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ thu thập muỗi của bẫy GAT không có hóa chất diệt côn trùng và bẫy dính đôi DSO Bẫy GAT đã bắt được một lượng muỗi trưởng thành cao hơn đáng kể so với bẫy dính DSO [23] Mặc dù bẫy DSO được sử dụng như bẫy tiêu chuẩn để giám sát muỗi trưởng thành trong chương trình phòng chống SXHD tại Úc nhưng việc sử dụng loại bẫy này vẫn có hạn chế bao gồm: sự sẵn có, chi phí mua bẫy và chất dính ở băng keo Hiện nay, Úc đang sử dụng keo dán ướt DSO, dù có hiệu quả trong việc giữ muỗi nhưng lại gây khó khăn khi lấy muỗi ra khỏi bẫy sau này [18] Vì khó khăn trong công tác thu thập muỗi nên bẫy DSO có thể không phù hợp khi phải lắp đặt và xử lý bẫy với số lượng lớn ở thực địa Với đặc điểm cấu tạo đơn giản, lắp ráp

dễ ràng, không khó khăn trong việc thu thập muỗi bẫy GAT có thể khắc phục được những vấn đề của bẫy dính DSO mà hiệu quả thu thập muỗi còn cao hơn

Năm 2017 nghiên cứu của Cilek JE và cộng sự đã tiến hành so sánh hiệu quả

của Biogents Gravid Aedes Trap (BG-GAT), Autocidal Gravid Ovitrap (AGO) với

HUPH

Trang 27

CDC Gravid Trap (CDC-GT) cho khả năng thu thập muỗi trong một khu dân cư đô thị ở phía đông bắc Florida Bẫy CDC-GT mô hình 1712 bao gồm một hệ thống hút gió chạy bằng pin 6V [21] Bẫy được đặt phía trên một thùng chứa bằng nhựa màu đen Bẫy tự động AGO gồm một xô đen dung tích 19lít có một "buồng chụp" ở phía trên Buồng chụp này cho phép bạn thay đổi các tấm dính mà không cần mở hay kéo toàn nộ nắp bẫy ra Bẫy AGO thu thập muỗi tự động bằng ống có chất dính bề

mặt được đặt ở mặt trong [33] Mỗi bẫy thu được 3 loài Ae.aegypti, Ae albopictus,

và Cx.quinquefasciatus, có sự biến động đáng kể về loài Cx quinquefasciatus được

thu thập từ bẫy CDC-GT so với 2 bẫy còn lại So sánh hai lần về hiệu quả bắt muỗi của CDC-GT cho thấy bẫy này thu thập được nhiều muỗi hơn từ 6,7 đến 21,5 lần

so với BG-GAT, tùy thuộc vào loài BG-GAT đã thu thập được nhiều muỗi hơn (3

đến 6 lần) so với AGO, ngoại trừ Ae aegypti [21]

Tác giả James E Cilek và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu để so sánh hiệu quả thu thập muỗi của bẫy GAT với bẫy dính Autocial Gravid Ovitrap (AGO),

sử dụng kết quả của Trung tâm phòng ngừa bệnh tật Gravid Trap (CDC-GT) làm tiêu chuẩn, khi thu thập muỗi trong khu đô thị đông dân cư ở vùng đông bắc Floria,

Mỹ

Năm HGĐ có sân sau với lịch sử mật độ muỗi cao đã được sử dụng làm địa điểm nghiên cứu.Tất cả các bẫy được đặt cách nhau ít nhất 10m và đánh giá đồng thời Muỗi được thu thập hàng ngày từ tất cả các bẫy Nghiên cứu thực hiện trong 8 tuần từ tháng 8-10 năm 2014 Kết quả cho thấy, trung bình bẫy AGO bắt được 0,03

± 0,01 con muỗi Ae.albopictus và 0,15 ± 0,04 muỗi Ae.aegypti Bẫy GAT bắt được 0,18 ± 0,05 con muỗi Ae.albopictus và 0,09 ± 0,03 muỗi Ae.aegypti Kết quả này với bẫy CDC-GT lần lượt là 1,2 ± 0,18 con muỗi Ae.albopictus và 0,93 ± 0,16 muỗi Ae.aegypti Qua đó ta thấy, bẫy CDC- GT bắt được nhiều muỗi Ae.albopictus hơn

so với bẫy AGO và thu được ít muỗi Ae.aegypti hơn [19]

Một nghiên cứu khác của Ritchie Scott A và cộng sự, năm 2014 tại Cairns, Australia để so sánh hiệu quả của bẫy GAT với DSO và BGS Số muỗi trung bình

thu được bằng bẫy GAT và DSO là 5,4 ± 1,7 và 2,3 ± 0,8 muỗi cái Ae.aegypti Ngoài ra, bẫy GAT bắt được loài Ae.notoscriptus và DSO bắt được Ae notoscriptus

HUPH

Trang 28

và Cx quinquefasciatus Trong một tuần điều tra tại hộ gia đình trung bình số muỗi cái Ae.aegypti bắt được bằng bẫy GAT và BGS lần lượt là 5,4 ± 3,7 và 3,9 ± 3,1[38] Số lượng muỗi cái Ae.aegypti thu được từ nghiên cứu này tương tự như kết

quả nghiên cứu với Bẫy AGO ở Puerto Rico [20][33]

Cả 3 loại bẫy được sử dụng trong nghiên cứu đều có những hạn chế riêng Bẫy CDC-GT cần có nguồn điện để hoạt động, điều này có thể gây trở ngại khi sử dụng bẫy tại thực đại Bẫy GAT và AGO đều được thiết kế di động, thuận tiện di chuyển, không yêu cầu nguồn điện và phí bảo trì thấp Tuy nhiên, với bẫy AGO yêu cầu có chi phí hậu cần và xử lý tấm dính của bẫy cũng như những khó khăn trong việc thu thập muỗi từ tấm dính mà không gây tổn hại cho muỗi là những vấn đề có thể gặp phải khi sử dụng [33] Với bẫy GAT, công ty sản xuất khuyến khích sử dụng hóa chất pyrethroid ở mặt trong của ống trụ trong suốt để đạt hiệu quả tiêu diệt muỗi Hiệu quả của hóa chất diệt côn trùng còn phụ thuộc vào sản phẩm, công thức

và nồng độ của hóa chất diệt côn trùng Hơn nữa việc triển khai bẫy GAT ở các khu vực có quần thể muỗi kháng pyrethroid có thể dẫn đến việc giảm khả năng tiêu diệt muỗi.Vấn đề trên có thể giải quyết được bằng cách sử dụng miếng dính lơ lửng bên trong bẫy và phủ một lớp mỏng dầu hạt cải lên mặt trong của ống trụ trong cũng có

hiệu quả diệt muỗi Ae.aegypti tương tự với bẫy được xử lý hóa chất diệt côn trùng

Qua các kết quả trên ta thấy, bẫy CDC-GT có hiệu quả thu thập muỗi cao nhất, tuy nhiên do đặc điểm vận hành cần sử dụng nguồn điện và các chi phí trong vận hành

và bảo trì Bẫy AGO và GAT có hiệu quả tương tự nhau trong thu thập 2 loài muỗi

Ae.aegypti và Ae.albopictus nhưng bẫy GAT lại vượt trội hơn vì sự thuận tiện lắp

đặt, dễ sử dụng, chi phí thấp [33]

Nghiên cứu của Brian J Johnson nhằm so sánh mức thu thập muỗi

Ae.albopictus giữa bẫy GAT và Biogents-Sentinel (BGS) tại Trenton, NJ và đảo

Hammond, Queensland, Australia Tại Trenton, 10 cặp bẫy (1 GAT và 1 BGS) được đặt tại 10 nơi ở cá nhân trong khoảng thời gian 16 tuần từ tháng 7 - 10 năm

2013, để so sánh về hiệu quả bắt muỗi Các bẫy được đặt ở các khu vực kín, tránh ánh nắng mặt trời, gió, mưa và tại sân sau nhà gần thảm thực vật trong các HGĐ

HUPH

Trang 29

Bẫy hoạt động 24 giờ/ ngày, bẫy BGS được chạy pin liên tục trong 24 giờ Tất cả 10 cặp bẫy được đặt đồng thời vào cùng một ngày trong tuần Kết quả cho thấy, trong

cùng một khoảng thời gian tương ứng, bẫy GAT bắt được ít muỗi Ae.albopictus hơn

so với bẫy BGS Trung bình bẫy BGS đã bắt được 4,66 ± 1,20 con cái và 3,54 ± 1,26 con đực trong khoảng thời gian giữa 2 lần thu bẫy Kết quả tương ứng với bẫy GAT là 3,05 ± 0,67 con cái và 0,41 ± 0,12 con đực Mặc dù có sự khác biệt, nhưng bẫy GAT và BGS đều có tỷ lệ bắt muỗi cái cao tương tự nhau.Tuy nhiên, tỷ lệ bắt được muỗi đực của bẫy GAT lại thấp hơn [31] Điều này cho thấy, hiệu quả thu

thập muỗi Ae.albopictus cái của 2 loại bẫy là tương đương

Tại đảo Hammond, do đặc điểm khí hậu tại đây là mưa nhiều, nên 2 loại bẫy GAT và BGS đã được đánh giá khi có và không có nắp che mưa 5 khu vực, đặt đồng thời 2 cặp bẫy có và không có nắp che mưa đã được thử nghiệm khả năng thu thập muỗi trong 4 tuần từ tháng 5 đến tháng 6 Các kết quả thu được tương tự với Trenton, trong cùng một khoảng thời gian, bẫy BGS bắt được nhiều muỗi

Ae.albopictus so với bẫy GAT Tỷ lệ bắt được muỗi cái của GAT và BGS cũng

tương tự nhau với 89,4% và 80,3% Tỷ lệ này ở muỗi đực là 13,2% và 70,1% Kết quả so sánh giữa bẫy GAT và bẫy BGS cho thấy, bẫy BGS bắt được nhiều muỗi cái hơn Sự khác biệt về số muỗi cái thu thập được giữa 2 loại bẫy có thể được lý giải

do bẫy BGS được thiết kế để thu thập muỗi cái trong tất cả giai đoạn còn bẫy GAT chỉ được thiết kế để thu thập muỗi cái trưởng thành sắp đẻ trứng dẫn đến việc đối tượng thu thập của bẫy GAT sẽ thấp hơn bẫy BGS Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu

cũng chỉ ra tỷ lệ bắt được muỗi cái Aedes của 2 loại bẫy là tương tự nhau Điều này cho thấy bẫy GAT có hiệu quả thu thập muỗi cái Aedes giống bẫy BGS Kết quả

nghiên cứu tại 2 địa điểm chỉ ra rằng, bẫy GAT và bẫy BGS có hiệu quả thu thập

muỗi cái Aedes tương tự nhau Hiện nay, bẫy BGS được đánh giá là rất hiệu quả trong việc giám sát quần thể muỗi Ae.albopictus tại HGĐ [24] [44] Nghiên cứu

trên chứng minh được bẫy GAT là một dụng cụ giám sát hiệu quả cho muỗi cái

trưởng thành Aedes, nó có thể được sử dụng hiệu quả cả trong nhà và ngoài nhà

Mặt khác việc có thể sử dụng tác nhân diệt muỗi không phải là hóa chất diệt công trùng mà không làm giảm hiệu quả thu thập muỗi là một ưu điểm khác của bẫy

HUPH

Trang 30

GAT Mặc dù số lượng muỗi bẫy GAT thu được kém hơn so với bẫy BGS, nhưng

có sự tương đồng về tỷ lệ bắt được muỗi cái Ae.albopictus[32].Các kết quả này kết

hợp với các ưu điểm của bẫy GAT như chi phí hoạt động thấp, dễ lắp đặt, sử dụng

sẽ trở thành một phương tiện giám sát, phòng chống muỗi hiệu quả

Laila Heringer và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu với bẫy GAT bằng cách thử nghiệm sử dụng các loại chất diệt muỗi khác nhau được phun trực tiếp lên tấm màn tẩm hóa chất để tìm ra các nguyên liệu thay thế và phát triển một loại bẫy muỗi hiệu quả và thân thiện với con người và môi trường Một số loại hóa chất diệt côn trùng đã được thử nghiệm để xác định chất nào có tỷ lệ bắt được muỗi cao nhất Các loại hóa chất được thử nghiệm gồm Alphacypermethrin 4,8%; deltamethrin hoặc permethrin 2% và piperonyl butoxide 1% Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ muỗi bắt được với các loại hóa chất khác nhau sau 90 phút hoặc 24 giờ [29] Điều này cho thấy, ta có thể sử dụng các loại hóa chất đa dạng để

sử dụng cho bẫy GAT, mà không làm giảm hiệu quả thu thập muỗi của bẫy Từ đó

mở ra ý tưởng về việc sử dụng hóa chất, chất diệt muỗi thân thiện với sức khỏe con người và môi trường

Harwood JF và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu sử dụng bẫy GAT để dẫn dụ véc tơ muỗi sốt xuất huyết Deunge ở Fiji năm 2017, GAT được thiết kế như một công cụ giám sát véc tơ sốt xuất huyết để sử dụng trong điều kiện nguồn điện không

có sẵn Các thí nghiệm được tiến hành trong khoảng thời gian 10 ngày ở Fiji để xác định loài muỗi mà GAT sẽ thu thập, các chất phụ gia khác nhau ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của bẫy như thế nào, mỗi loại phụ giia bao lâu bắt đầu thu hút muỗi và thời

gian chất phụ gia hấp dẫn đối với giống muỗi Aedes Chất phụ gia được tạo ra bằng

cách thêm 10g chất hữu cơ vào 2 lít nước Chất phụ gia được tạo ra bằng cách sử dụng thức ăn cho gà viên, lá xoài khô và cỏ khô Kết quả bẫy GAT thu thập bốn véc

tơ khác nhau Ae.aegypti, Ae.albopictus, Ae.polynesiensis Mark, và Culex quinquefasciatus Say Trong ba thành phần chất phụ gia khác nhau được thử

nghiệm, thức ăn cho gà hấp dẫn nhất theo sau là cỏ khô và lá xoài khô Tất cả các truyền dịch thực hiện tốt hơn so với nước đồng bằng Thức ăn gà hấp dẫn nhất đối

với Ae aegypti và Ae albopictus trong 6 ngày đầu tiên sau khi đặt bẫy và Cx

HUPH

Trang 31

quinquifasciatus trong những ngày 7-9 Việc sử dụng lá xoài khô và cỏ khô mất

nhiều thời gian hơn để thu hút muỗi nhưng chúng hấp dẫn nhất trong những ngày

7-10 cho tất cả các loài[28]

1.4.2 Tại Việt Nam

Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2015, Brian J Johnson và cộng sự, đã tiến hành một nghiên cứu tại Nha Trang để đánh giá hiệu quả thu thập muỗi trong nhà và ngoài nhà; 100 bẫy GAT được sử dụng (53 mẫu ngoài nhà; 47 mẫu trong nhà) đã được sử dụng Kết quả cho thấy, không có sự khác biệt đáng kể về số lượng muỗi cái bắt được từ bẫy GAT trong hoặc ngoài nhà Trong một tuần, bẫy GAT trong nhà

đã bắt được 0,66 ± 0,07 con muỗi cái Aedes, con số này ở bẫy ngoài nhà là 0,62 ±

0,05 trong một tuần Tương tự như thế, không có sự khác biệt đáng kể quan sát

được về tỷ lệ thu thập muỗi cái Ae.albopictus trên tất cả các vị trí Tỷ lệ % trung bình bắt được muỗi cái Ae.albopictus của bẫy trong nhà và ngoài nhà là 26,7 ±

3,4% và 25,8 ± 2,8% [31]

Ngoài ra, với mong muốn tìm hiểu thêm về các loại hóa chất để tẩm trong bẫy mà ít độc hại, an toàn khi sử dụng, nghiên cứu cũng tìm hiểu sự hiệu quả trong việc sử dụng các hóa chất khác nhau trên chất tẩm diệt muỗi Nhà nghiên cứu đã sử dụng dầu hạt cải với hóa chất diệt côn trùng Có 48 cặp bẫy GAT được tẩm hóa chất diệt côn trùng và dầu hạt cải tương ứng đã được sử dụng.Những bẫy này được đặt tại 96 HGĐ trên 17 phường của thành phố Nha Trang Tất cả các bẫy được kiểm tra,thu thập và đếm muỗi hàng tuần Nghiên cứu tiến hành trong khoảng thời gian 9 tuần từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2015 Kết quả cho thấy, không có sự khác biệt đáng kể về số lượng muỗi cái mà 2 loại bẫy bắt được Số lượng muỗi cái bắt được trung bình mỗi tuần của bẫy GAT chứa hóa chất diệt côn trùng là 0,71 ± 0,18 và con số này đối với bẫy GAT có dầu hạt cải là 0,7 ± 0,15 [31] Ngoài ra, không có

sự khác biệt về tỷ lệ bẫy GAT bắt được muỗi cái Ae.albopictus theo dõi được giữa 2

loại bẫy

Qua các nghiên cứu trên cho thấy, khi so sánh với các loại bẫy khác bẫy

GAT có hiệu quả trong việc thu thập muỗi cái Aedes trưởng thành Đặc biệt với loại bẫy hiệu quả trong giám sát muỗi cái Aedes hiện nay là bẫy BGS, tỷ lệ bắt được

HUPH

Trang 32

muỗi cái của 2 bẫy là tương tự nhau cho thấy hiệu quả thu thập muỗi của bẫy GAT

là không hề thua kém với bẫy BGS Ngoài ra, khi so sánh đặc điểm khác của 2 loại bẫy với nhau cho thấy bẫy GAT có giá thấp hơn khoảng 10 lần so với bẫy BGS Điều này khiến khả năng tiếp cận và sử dụng của bẫy GAT cao hơn rất nhiều Không chỉ sử dụng để giám sát muỗi, bẫy GAT có thể được HGĐ sử dụng để thu thập muỗi trong nhà Bên cạnh đó, cấu tạo đơn giản, dễ sử dụng cũng là một ưu điểm của nó Bẫy GAT không cần sử dụng điện năng nên phù hợp để di chuyển và

sử dụng tại khu vực khó khăn Ngoài ra, hiệu quả thu thập muỗi của bẫy GAT không thay đổi khi sử dụng trong nhà và ngoài nhà Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bẫy GAT có thể kết hợp sử dụng các loại hóa chất không độc hại (dầu hạt cải) đến sức khỏe con người, động vật và môi trường xung quanh mà không làm giảm hiệu quả thu thập muỗi Với các nước đang phát triển thuộc khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới như Malaysia, Thái Lan và Việt Nam Việc sử dụng bẫy GAT có thể đóng vai trò quan trọng ở các nước này Vì nó cho phép người dân tiếp cận với một phương pháp thu thập muỗi chi phí thấp, không cần sử dụng điện năng Không chỉ vậy, việc sử dụng thành công dầu hạt cải như một chất diệt côn trùng trong bẫy GAT sẽ mang lại hiệu quả tại các khu vực hiện đang bị ảnh hưởng bởi hóa chất diệt côn trùng, hay người dân có e ngại về việc sử dụng bẫy sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân và gia đình [31]

1.5 Một số nghiên cứu về sự chấp nhận của người dân về một số biện pháp mới trong cộng đồng để phòng chống SXHD và dịch vụ y tế khác

Bẫy GAT là một loại bẫy mới, tất cả các nghiên cứu trong nước và nước ngoài hiện mới chỉ nghiên cứu về kết quả bắt muỗi, cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một nghiên cứu nào về sự chấp nhận của người dân đối với bẫy GAT khi ứng dụng vào cộng đồng Do vậy, trong phần này học viên xin phép được giới thiệu về các nghiên cứu trong và ngoài nước đã tiến hành về sự chấp nhận của người dân đối với các dịch vụ phòng chống SXHD trên thế giới và Việt Nam

Trong công tác phòng chống dịch nói chung cũng như phòng chống dịch SXHD nói riêng, sự chấp nhận của cộng đồng về một biện pháp can thiệp mới để

HUPH

Trang 33

cải thiện vấn đề cộng đồng đang quan tâm, biện pháp can thiệp mới đó có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự ủng hộ của cộng đồng Như vậy, một biện pháp can thiệp mới được đánh giá mang lại hiệu quả cao phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: sự phù hợp, khả năng ứng dụng, sự đáp ứng …nhưng quan trọng nhất vẫn là nhận được sự đồng thuận từ phía cộng đồng

Từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015, Harapan H và cộng sự đã tiến hành khảo sát cắt ngang dựa trên cộng đồng ở Aceh, Indonesia về việc sử dụng vắc-xin sốt xuất huyết (SXH) và các yếu tố liên quan Khi tiến hành phỏng vấn 652 người thì 77,3% người đồng ý chấp nhận sử dụng dịch vụ tiêm phòng vắc-xin SXH Giới tính, mức thu nhập hàng tháng, tình trạng kinh tế xã hội,thái độ đối với SXHvà thái độ đối với việc tiêm chủng có liên quan đến việc chấp nhận dịch vụtiêm chủng (p<0,05) Tác giả cũng tiến hành phân tích tương quan xác nhận rằng thái độ đối với thực hành tiêm chủng và thái độ đối với SXH tương quan chặt chẽ với sự chấp nhận dịch vụ, rs = 0,41và rs = 0,39, tương ứng (p<0,001) Phân tích đa biến cho thấy thu nhập hàng tháng cao, tình trạng kinh tế xã hội cao và thái độ tốt đối với việc thực hành tiêm phòng và đối với SXH là những yếu tố dự báo độc lập về sự chấp nhận dịch vụ Như vậy tỷ lệ chấp nhận dịch vụ tiêm chủng giữa các cư dân của Aceh, Indonesia tương đối cao, và các yếu tố liên quan hỗ trợ cho dịch vụ tiêm chủng là một thái độ tốt đối với tiêm chủng và thái độ tốt đối với SXH[27]

Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2010 Hadisoemarto PF và cộng sự đã tiến hành một cuộc khảo sát hộ gia đình tại thành phố Bandung, Indonesia bằng cách điều tra một bảng câu hỏi để kiểm tra : (1) chấp nhận vắc-xin SXH cho trẻ em; (2) sự sẵn lòng trả tiền của người tham gia cho vắc-xin, không được cung cấp miễn phí; và (3) nhận xét của người dân việc kiểm soát véc-tơ có cần thiết không nếu có sẵn vắc-xin SXH Kết quả cho thấy rằng trong số 500 hộ gia đình được phỏng vấn có 94,2% đồng ý tiêm chủng phòng SXH cho con của họ Trong số tất cả những người tham gia, 94,6% sẵn sàng trả tiền cho vắc-xin Ngoài ra, 7,2% nói rằng kiểm soát véc tơ không cần thiết vì đã có một chương trình tiêm phòng SXH[26]

Từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 1 năm 2016, Viện VSDTTƯ đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của chế phẩm BACTIVEC diệt bọ gậy

HUPH

Trang 34

muỗi truyền bệnh SXHD trong các dụng cụ chứa nước tại tỉnh Thanh Hóa 600 HGĐ được chọn để thả BACTIVEC đều có các DCCN, tất cả các DCCN đều được thả BACTIVEC và theo dõi liên tục trong vòng 6 tháng, mỗi tháng sử dụng một lần vào ngày đầu tiên của tháng Hiệu quả diệt bọ gậy của chế phẩm sẽ được đánh giá hàng tháng vào ngày đầu tháng ngay trước lần thả tiếp theo trong tháng sau và theo dõi mật độ quần thể bọ gậy địa phương trong vòng 6 tháng Kết quả cho thấy, số lượng bọ gậy và muỗi giảm sau mỗi tháng thả BACTIVEC ở tất cả các DCCN thuộc HGĐ nghiên cứu Để đánh giá tính an toàn của chế phẩm BACTIVEC, tác giả cũng tiến hành phỏng vấn các CBYT tham gia vào đề tài và người dân sống trong HGĐ nghiên cứu 100% CBYT cho rằng an toàn, 96% HGĐ trả lời an toàn và đồng

ý cho thả vào DCCN lần sau[15]

Nghiên cứu của sở y tế Điện Biên với người dân do quỹ UNICEF hỗ trợ năm

2014 cho các dịch vụ y can thiệp Y tế tại các trạm y tế xã cho thấy mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ y tế tuyến xã đều đứng ở mức cao [8] Trong đó, tỷ lệ người sử dụng dịch vụ hài lòng với dịch vụ khám chữa bệnh chiếm 78,3%; đối với dịch vụ khám thai chiếm 83,6%, đối với dịch vụ tiêm chủng chiếm 87,9%, đối với phương thức truyền thông chiếm 81,2% và đối với nội dung truyền thông chiếm 79,2% Tại đây phần lớn các bà mẹ đều hài lòng với chất lượng dịch vụ khám thai tại trạm y tế xã (chiếm 83,6% số bà mẹ được hỏi) và đều đánh giá thái độ của cán

bộ y tế xã ở mức quan tâm chu đáo đối với họ (chiếm 73,8%) cũng như đánh giá tích cực về chất lượng dịch vụ khám thai (70,8% đánh giá ở mức tốt) [8]

Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 3 năm 2015, nghiên cứu của Viện Vệ sinh

Dịch tễ Trung ương về đánh giá khả năng thay thế quần thể muỗi vằn (Ae.aegypti) truyền bệnh của quần thể muỗi vằn mang Wolbachia và đánh giá sự ủng hộ của cộng đồng trong việc sử dụng muỗi vằn mang Wolbachia trong phòng chống SXHD tại một phường của tỉnh Khánh Hoà Muỗi vằn mang Wolbachia được thả 1lần/ tuần

trong vòng 6 tháng nhằm thay thế dần quần thể muỗi vằn truyền bệnh bằng muỗi

vằn mang Wolbachia ít có khả năng truyền bệnh SXH Kết quả cho thấy tại đây

không có ổ dịch SXHD tập trung nào trong quá trình triển khai hoạt động dự án Dự

án nhận được sự ủng hộ cao của cộng đồng và chính quyền địa phương, đồng thời

HUPH

Trang 35

người dân địa phương cũng thường xuyên tham gia nhiệt tình vào các hoạt động dự

án Có tới 95% tổng số hộ gia đình đăng ký tham gia dự án, đồng thời dự án cũng nhận được phản hồi tích cực từ các hộ gia đình địa phương[14]

Trong giai đoạn mở rộng của Dự án, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương tiếp tục có báo cáo về kết quả hoạt động truyền thông, lấy đồng thuận cho việc chuẩn bị

thả muỗi mang Wolbachia của Dự án “Hướng tới loaị trừ sốt xuất huyết tại Việt Nam” và kế hoạch các hoạt động tại phường Vĩnh Lương, Khánh Hòa vào tháng

2/2018 Kết quả cho thấy 100% người dân đồng ý thả muỗi mang Wolbachia vào thực địa để phòng chống SXHD và Zika [16]

Năm 2017- 2018 Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã tiến hành đánh giá khả năng diệt chuột và phản ứng của cộng đồng về chế phẩm sinh học có nguồn gốc tự

nhiên Biorat (Salmonella enteritidis) với mục đích áp dụng chế phẩm này vào lĩnh

vực gia dụng và y tế nhằm giảm thiểu các bệnh liên quan tới động vật Kết quả thử

nghiệm hiệu lực cho thấy Biorat diệt được 81,2% quần thể chuột cống (Rattus noveticus) và chuột chù (Suncus murinus) Bên cạnh đó chế phẩm sinh học Biorat

được 99,3% người dân đồng ý sử dụng để diệt chuột tuy 93,3% vẫn thấy có ảnh hưởng khó chịu về mùi từ xác chuột chết [17]

1.6 Thông tin về địa bàn nghiên cứu

Phường Thịnh Liệt nằm ở cửa ngõ phía Nam của Thành phố Hà Nội tiếp giáp với 9 phường thuộc quận Hoàng Mai và quận Thanh Xuân với lợi thế là đầu mối giao thông quan trọng của Thành phố, là nơi tập trung nhiều bến xe, bến tàu như: ga Giáp Bát, bến xe khách phía Nam, bến xe vận tải Hàng Hoá và nhiều khu đô thị mới như Công viên Yên Sở, khu Đô thị mới Thịnh Liệt, khu Đô thị chức năng Ao Sào,

Đô thị Trũng Kênh, khu di dân Đồng Tàu thuận lợi cho phát triển buôn bán, thông thương và nghỉ ngơi Phường Thịnh Liệt có diện tích tự nhiên rộng 3,26 Km2, dân số: 7060 hộ với 34.076 nhân khẩu [3] Nơi đây là một điểm nóng về SXHD của thành phố Hà Nội, là phường có dịch lưu hành hàng năm Mỗi khi xảy ra dịch SXHD, công tác giám sát véc tơ chủ yếu dùng máy hút hoặc ống tuýp để bắt muỗi

Aedes đậu nghỉ trong nhà theo quyết định số 3711 của Bộ Y tế [2]

HUPH

Trang 36

KHUNG LÝ THUYẾT

Khung lý thuyết do học viên tự xây dựng sau khi tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước

Kết quả giám sát muỗi

Aedes của bẫy GAT so với

Trang 37

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối với mục tiêu 1

- Muỗi cái Aedes đậu nghỉ trong nhà thu thập được bằng bẫy Gravid Aedes Trap

(GAT) và máy hút muỗi Aspirator (dùng trong giám sát thường quy)

2.1.2 Đối với mục tiêu 2

- CBYT phường Thịnh Liệt và TTYTDP Hà Nội đã tham gia vào hoạt động thu thập muỗi bằng hai dụng cụ (bẫy GAT và máy hút Aspirator) trong nghiên cứu

- Người đại diện cho HGĐ tham gia hoạt động thu thập muỗi, từ 18 – 65 tuổi, có khả năng hiểu và trả lời nội dung phỏng vấn, thường xuyên lưu trú tại địa bàn nghiên cứu (ít nhất 6 tháng kể từ thời điểm bắt đầu điều tra) đồng ý tham gia phỏng vấn định lượng và phỏng vấn định tính

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2/2018 đến hết tháng 5/2018 Trong đó, thời gian đi thu thập số liệu tại thực địa diễn ra từ tháng 3/2018 đến tháng 5/2018

- Địa điểm: HGĐ trên địa bàn phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính, định lượng

2.4 Cỡ mẫu

2.4.1 Đối với mục tiêu 1

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ để tính số HGĐ sẽ tham gia vào nghiên cứu:

Trang 38

Trong đó:

n: Cỡ mẫu của nghiên cứu

p: Tỷ lệ hộ gia đình bắt được muỗi Aedes, lấy p = 0,2 là tỷ lệ trung bình hộ gia đình bắt được muỗi Aedes Theo kết quả điều tra thử nghiệm ban đầu

thập muỗi dưới 2 hình thức bằng bẫy GAT và bằng máy hút cầm tay(Aspirator)

2.4.2 Đối với mục tiêu 2

- Với đối tượng là CBYT: CBYT phường Thịnh Liệt và TTYTDP Hà Nội đã tham gia vào hoạt động thu thập muỗi bằng hai dụng cụ (bẫy GAT và Aspirator) trong nghiên cứu

- Với đối tượng là người dân:

+ Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng: 100 người dân là đại diện cho 100 HGĐ tham gia thu thập muỗi

+ Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính: 10 người dân đại diện cho 10 HGĐ trong số

100 HGĐ tham gia thu thập muỗi

2.5 Phương pháp chọn mẫu

2.5.1 Đối với mục tiêu 1

Chọn HGĐ: Các HGĐ được chọn bằng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn:

- Bước 1: Lập danh sách các HGĐ của phường Thịnh Liệt theo tổ Dựa vào thông tin của cán bộ phường, loại bỏ những hộ trùng lặp hoặc đối với những HGĐ sống cùng trong một nhà thì chỉ được tính là 1 hộ nghiên cứu, lập được 4 danh sách

HUPH

Trang 39

- Bước 2: Sử dụng phần mềm Excel lần lượt chọn ngẫu nhiên 25 HGĐ từ mỗi tổ theo danh sách

Trong quá trình tiến hành nghiên cứu nếu HGĐ nào không đồng ý tham gia, chúng tôi sẽ chọn HGĐ liền kề bên phải HGĐ đó

2.5.2 Đối với mục tiêu 2

- Với đối tượng là CBYT: chọn có chủ đích CBYT phường Thịnh Liệt và TTYTDP Hà Nội đã tham gia vào hoạt động thu thập muỗi bằng hai dụng cụ (bẫy GAT và Aspirator) trong nghiên cứu

- Với đối tượng là người dân:

+ Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng: 100 người dân là đại diện cho 100 HGĐ tham gia thu thập muỗi

+ Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính: Các đối tượng được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên Từ các đối tượng tham gia phỏng vấn định lượng, chọn ngẫu nhiên ra 10 người từ 100 người bằng cách bốc thăm

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

Việc sử du ̣ng bẫy GAT và máy hút aspirator để bắt muỗi sẽ không làm ảnh hưởng tới kết quả thu thâ ̣p muỗi cũng như quần thể muỗi ta ̣i đi ̣a bàn nghiên cứu

Bờ i vì đây là 2 phương pháp khác nhau nên ho ̣c viên muốn so sánh về quy trình bắt muỗi

2.6.1 Công cụ thu thập số liệu

2.6.1.1 Đối với mục tiêu 1

- Để biết được số lượng muỗi thu được và thời gian bắt muỗi của bẫy GAT và Aspirator, học viên đã tiến hành thu thập muỗi bằng hai dụng cụ đó tại 100 HGĐ trên địa bàn phường Thịnh Liệt

- Dụng cụ cần thiết:

+ Bẫy GAT: 100 bẫy

+ 8 máy hút muỗi Aspirator và pin đại (loại pin 1,5V)

+ Ống tuýp đựng muỗi

HUPH

Trang 40

+ Đèn pin: 8 cái

+ Phiếu điều tra véc tơ SXHD(Phụ lục 3)

2.6.1.2 Đối với mục tiêu 2

Nghiên cứu đã sử dụng các bộ công cụ sau:

- Phiếu phỏng vấn người dân, cấu trúc gồm 02 phần:

+ Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn: Gồm 9 câu hỏi (từ A1 đến A9)

+ Sự chấp nhận sử dụng bẫy GAT trong giám sát muỗi tại cộng đồng: Gồm 10 câu

(từ B1 đến B10) (Phụ lục 5)

- Phiếu thảo luận nhóm trọng tâm : Gồm 04 câu hỏi (Phụ lục 6)

- Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ y tế: Gồm 05 câu hỏi (Phụ lục 4)

2.6.2 Tổ chức thu thập số liệu

- Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu

Các câu hỏi do học viên tự xây dựng dựa trên các khái niệm, đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng của bệnh SXHD, các biện pháp phòng chống bệnh SXHD

và tham khảo một số nghiên cứu khác, trước khi đưa vào sử dụng được tiến hành điều tra thử tại 30 hộ gia đình, chỉnh sửa nội dung của bộ câu hỏi cho phù hợp sau đó in thành 120 bộ phục vụ điều tra và tập huấn

- Bước 2: Tập huấn cho cán bộ điều tra

+ Thời gian, địa điểm: 01 ngày tại Trạm Y tế phường Thịnh Liệt

+ Giảng viên: Cán bộ khoa Côn trùng và Động vật Y học – Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

+ Đối tượng tập huấn: Tất cả các điều tra viên tham gia nhóm điều tra nghiên cứu + Nội dung tập huấn: Mục đích cuộc điều tra, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phỏng vấn và kỹ năng điều tra muỗi truyền bệnh SXHD

- Bước 3: Tiến hành điều tra

+ Nhóm điều tra viên gồm có 12 người: 6 người khoa Côn trùng và Động vật Y học, Viện vệ sinh Dịch tễ Trung ương (có 1 người là học viên lớp cao học 20 trường YTCC), 2 người của Trung tâm y tế Dự phòng Hà Nội, 4 người của Trạm

y tế phường Thịnh Liệt và 4 người dẫn đường (là cộng tác viên của phường Thịnh Liệt)

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w