ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
+ Đối tượng của mục tiêu 1:
Muỗi, bọ gậy Ae aegypti và Ae albopictus tại hộ gia đình bao gồm khu vực trong nhà và khu vực xung quanh nhà, vườn cây
+ Đối tượng của mục tiêu 2:
Đại diện hộ gia đình (chủ hộ hoặc người thay thế) đã được chọn điều tra bọ gậy, thuộc xã Diên Lộc, Diên Khánh, Khánh Hòa để phỏng vấn
Các dụng cụ chứa nước và vật dụng phế thải chứa nước tại hộ gia đình trong nhà và xung quanh nhà (để điều tra bọ gậy)
Tiêu chí lựa chọn đối tượng phỏng vấn tại hộ gia đình : Là chủ hộ gia đình hoặc phải thỏa mãn những điều kiện sau:
- Đối tượng từ 18 tuổi trở lên có hộ khẩu và sinh sống tại xã Diên Lộc, Diên Khánh, Khánh Hòa năm 2019
Tiêu chí loại trừđối tượng phỏng vấn tại hộgia đình:
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Không có mặt tại địa phương trong thời gian nghiên cứu
- Không có khả năng giao tiếp.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 03 năm 2019 đến tháng 08 năm 2019. Địa điểm: Xã Diên Lộc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Cỡ mẫu
- Cỡ mẫu được tính theo công thức: n Trong đó: n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Theo kết quả giám sát côn trùng 30 hộ tại Diên Lộc tháng 2/2019 (tỷ lệ
HUPH nhà có bọ gậy là 51%, do đó chọn p=0,51 [29] d: độ chính xác kỳ vọng, chọn d = 0,07
Z: hệ số tin cậy, với = 0,05; Z(1 - /2) = 1,96
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu, chúng tôi xác định được n = 196 hộ gia đình và chủ hộ Để đảm bảo cỡ mẫu, chúng tôi dự phòng cho các trường hợp từ chối tham gia nghiên cứu, vắng nhà hoặc không thể tiếp cận được với hộ gia đình Do đó, cỡ mẫu được tăng thêm 10% và làm tròn số, dẫn đến n = 215 ĐTNC, bao gồm 215 hộ gia đình và chủ hộ gia đình.
Chọn mẫu
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
- Đơn vị lấy mẫu: Hộ gia đình tại xã Diên Lộc, Diên Khánh, Khánh Hòa trong danh sách được lập sẵn
+ Bước 1: Lập khung mẫu là danh sách các hộ gia đình có đánh số thứ tự và theo các thôn Tổng số có 740 hộ gia đình tại 3 thôn
+ Bước 2: Tính hệ số mẫu k, với cỡ mẫu 215 hộ
Hệ số k = 740 hộ /215 hộ =3,44 làm tròn số chọn hệ số k= 4
Bước 3: Từ danh sách hộ gia đình, chọn ngẫu nhiên một hộ đầu tiên với số thứ tự I ≤ k Tiếp theo, chọn các hộ gia đình theo thứ tự: (I + k), (I + 2k), (I + 3k), cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu 215 hộ Nếu hộ gia đình từ chối tham gia, chọn hộ tiếp theo trong danh sách Đối với hộ gia đình không có mặt, nhóm điều tra viên sẽ quay lại lần thứ hai Nếu vẫn không tiếp cận được sau lần thứ hai, tiếp tục chọn hộ kế tiếp trong danh sách.
Trong nghiên cứu, 215 hộ gia đình đã tham gia để điều tra về bọ gậy và muỗi, cùng với các chỉ số liên quan Tất cả 215 chủ hộ hoặc đại diện của họ đã được phỏng vấn Tuy nhiên, có 5 đối tượng trong số này chưa từng nghe về SXHD, do đó họ không được tiếp tục phỏng vấn về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống.
SXHD Do đó mẫu phân tích số liệu liên quan đến phỏng vấn kiến thức, thái độ, thực hành sẽ là 210 đối tượng.
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi phỏng vấn đại diện hộ gia đình, bao gồm chủ hộ hoặc người thay thế, được thiết kế sẵn dựa trên khung lý thuyết và các biến số liên quan Bộ câu hỏi này cũng tham khảo từ các nghiên cứu của các tác giả trong nước về các chủ đề tương tự, nhằm đảm bảo tính chính xác và phù hợp trong quá trình thu thập thông tin.
- Bảng kiểm đánh giá thực tế quan sát môi trường sống và vệ sinh môi trường trong và xung quanh nhà của hộ gia đình nghiên cứu (Phụ lục 3)
Bảng kiểm thu thập các chỉ số côn trùng và thực trạng ổ bọ gậy trong DCCN được thực hiện theo hướng dẫn giám sát và phòng chống SXHD của Bộ Y tế, cụ thể là Phụ lục 4a và 4b.
- Tất cả các bảng kiểm và bộ câu hỏi phỏng vấn đã được điều tra thử tại 15 hộ gia đình và đã được chỉnh sửa phù hợp
2.6.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Tiến hành phỏng vấn đại diện hộ gia đình bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn
- Sử dụng bảng kiểm đánh giá thực tế quan sát môi trường sống và vệ sinh môi trường trong và xung quanh nhà của hộ gia đình (Phụ lục 3)
- Sử dụng bảng kiểm điều tra, thu thập các chỉ số côn trùng và thực trạng ổ bọ gậy trong các DCCN và phế thải chứa nước (Phụ lục 4a)
2.6.2.2 Tổ chức thu thập số liệu
Bước 1: Tập huấn điều tra viên
- Thời gian, địa điểm: 01 ngày tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Khánh Hòa
- Giảng viên: Nghiên cứu viên và cán bộ khoa Ký sinh trùng - Côn trùng, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Khánh Hòa
- Đối tượng tập huấn: Tất cả các điều tra viên (ĐTV) và giám sát viên
Nội dung tập huấn bao gồm mục đích của cuộc điều tra, kỹ năng tiếp xúc với cộng đồng, kỹ năng phỏng vấn, cũng như kỹ năng điều tra bọ gậy và muỗi vằn Bên cạnh đó, khóa học cũng đề cập đến cách phòng tránh nguy cơ khi tiếp xúc với cộng đồng.
Bước 2: Tiến hành điều tra
Chuẩn bị điều tra bằng cách chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 3 điều tra viên (ĐTV) để khảo sát các hộ gia đình đã được chọn ở một thôn Trong mỗi nhóm, phân công 01 ĐTV phụ trách phỏng vấn đại diện hộ gia đình, 01 ĐTV là kỹ thuật viên (KTV) có kỹ năng giám sát bọ gậy và muỗi truyền bệnh, và 01 ĐTV là KTV xét nghiệm cũng có kỹ năng tương tự Trước khi đến hộ gia đình, ĐTV cần kiểm tra lại thông tin và xác định chính xác đối tượng nghiên cứu trong danh sách mẫu.
- Điề u tra t ạ i hộ gia đình :
+ Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu:
Tiếp cận hộ gia đình để xác định đối tượng phỏng vấn, ĐTV sẽ giới thiệu về mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu, hướng dẫn cách thức tham gia, quy trình phỏng vấn, cũng như phương pháp giám sát điều tra côn trùng tại hộ gia đình.
ĐTV giải thích rằng thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật và chỉ nhóm nghiên cứu mới có quyền truy cập Tất cả thông tin sẽ được tổng hợp với dữ liệu từ những người khác và sẽ không được tiết lộ Phỏng vấn và điều tra chỉ được thực hiện sau khi có sự đồng ý của hộ gia đình thông qua việc ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu.
+ Tiến hành phỏng vấn tại hộ gia đình
+ Kết thúc cuộc phỏng vấn ĐTV hỏi lại đối tượng nghiên cứu có cần bổ sung hay sửa đổi thông tin không? Có thắc mắc gì không?
ĐTV xin chân thành cảm ơn và chào tạm biệt đối tượng nghiên cứu, hẹn gặp lại khi cần thiết ĐTV sẽ tập hợp các phiếu phỏng vấn và gửi lại cho nghiên cứu viên (NCV) vào cuối ngày.
- Điề u tra b ọ g ậ y và mu ỗ i t ạ i h ộ gia đình :
Sau khi nhận được sự chấp thuận từ chủ hộ gia đình, ĐTV thứ hai trong nhóm điều tra tiến hành quan sát và tìm kiếm các ổ bọ gậy tại hộ gia đình Đồng thời, họ cũng điền vào các bảng kiểm và giám sát, thu thập bọ gậy để mang về.
Điều tra bọ gậy bao gồm việc quan sát trực tiếp các dụng cụ chứa nước (DCCN) trong và ngoài nhà Cần ghi nhận thể tích, lượng nước thực tế, và số lượng DCCN theo từng chủng loại, cũng như số lượng dụng cụ có bọ gậy theo phụ lục 4a.
Đối với các DCCN nhỏ như lọ hoa, vật phế thải hay máng nước gà, cần đổ hết nước và gạn bọ gậy qua vợt Sau đó, lộn trái vợt và nhúng đáy vợt vào cốc thủy tinh chứa nước, rồi đổ cốc nước vào các chai hoặc lọ đã được ghi rõ mã hộ gia đình điều tra.
Đối với các DCCN trung bình và lớn như phuy, chum, vại, bể, cần sử dụng vợt bọ gậy có đường kính miệng 20cm và cán dài 1,2 mét Đưa vợt ngập trong DCCN và quay vợt xung quanh thành dụng cụ 5 vòng từ trên xuống, sau đó vợt ở chính giữa DCCN Sau khi bắt bọ gậy, lộn trái vợt, nhúng đáy vợt vào cốc thủy tinh có nước và đổ cốc nước đó vào các chai/lọ đã ghi rõ mã hộ gia đình điều tra.
Để điều tra muỗi, đội điều tra thực hiện giám sát muỗi trưởng thành bằng cách soi và bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà bằng ống tuýp Quá trình này bao gồm việc soi bắt muỗi cái đậu trên quần áo, chăn màn và các đồ vật trong nhà vào ban ngày, mỗi nhà sẽ được soi trong 15 phút Kết quả sẽ được ghi lại vào mẫu phiếu phụ lục 4b (Phiếu điều tra các chỉ số muỗi tại hộ gia đình).
Cuối mỗi buổi điều tra, các nhóm sẽ kiểm tra phiếu điều tra, bảng kiểm các loại và các mẫu véc tơ thu thập tại thực địa, bổ sung thông tin còn thiếu và sau đó trao lại cho nghiên cứu viên (NCV).
Bước 3: Xử lý mẫu bọ gậy, muỗi sau khi điều tra
Cuối mỗi ngày điều tra, mẫu bọ gậy và muỗi được thu thập tại thực địa sẽ được chuyển tới Khoa Xét nghiệm KST-CT của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Khánh Hòa để xác định loài Đội ngũ điều tra viên (ĐTV) không chỉ là kỹ thuật viên (KTV) xét nghiệm mà còn trực tiếp tham gia vào việc định loại muỗi và bọ gậy Kính hiển vi và kính lúp được sử dụng để hỗ trợ trong quá trình định loại Kết quả định loại muỗi và bọ gậy sẽ được ghi chép đầy đủ.
HUPH vào phiếu điều tra côn trùng (Phụ lục 8: Cách phân biệt một số giống bọ gậy và muỗi)
2.6.2.3 Điều tra viên và giám sát viên Điều tra viên: Gồm có 08 cán bộ của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh
Giám sát viên (GSV) đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát quá trình thu thập số liệu và giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong điều tra Vào cuối mỗi ngày, các phiếu điều tra được thu lại và kiểm tra về số lượng cũng như chất lượng Đối với những phiếu không đạt yêu cầu, điều tra viên cần thực hiện bổ sung và hoàn chỉnh để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu.
Các biến số nghiên cứu (Chi tiết phụ lục 6)
Nhóm các bi ế n s ố thông tin chung v ề đối tượ ng nghiên c ứ u:
Tuổi, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc, trình độ học vấn, thu nhập hộ gia đình, loại hình nhà ở, nguồn nước sử dụng và tình trạng trữ nước sinh hoạt của hộ gia đình là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và điều kiện sinh hoạt của mỗi gia đình.
Nhóm các bi ế n s ố ki ế n th ứ c , thái độ , th ự c hành v ề véc tơ truyề n b ệ nh SXHD (mu ỗ i, b ọ g ậ y):
Bệnh sốt xuất huyết (SXHD) là một căn bệnh truyền nhiễm do virus gây ra, lây truyền chủ yếu qua muỗi Aedes Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh bao gồm mọi lứa tuổi, đặc biệt là trẻ em và người lớn sống trong khu vực có muỗi Muỗi thường trú ngụ và đẻ trứng ở những nơi nước đọng, vì vậy việc ngăn chặn muỗi sinh sản bằng cách loại bỏ các nguồn nước đọng và áp dụng biện pháp diệt bọ gậy là rất quan trọng để phòng ngừa bệnh Thông tin về bệnh SXHD có thể được tìm thấy từ nhiều nguồn khác nhau, giúp nâng cao nhận thức và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Để phòng ngừa bệnh SXHD, cần nhận thức rõ mức độ nguy hiểm của bệnh và nguy cơ có véc tơ truyền bệnh trong hộ gia đình Việc diệt bọ gậy là rất cần thiết và phải tuân thủ các hướng dẫn của cán bộ Y tế Thời gian tìm diệt bọ gậy tại hộ gia đình cần được thực hiện thường xuyên, và mỗi cá nhân đều có trách nhiệm trong việc phòng bệnh.
Để ngăn ngừa muỗi sinh sản trong hộ gia đình, cần thực hiện các biện pháp như súc rửa và thay nước thường xuyên cho các dụng cụ chứa nước như DCCN và lọ hoa Đồng thời, dọn dẹp các vật phế thải có khả năng đọng nước và áp dụng các biện pháp diệt bọ gậy cũng rất quan trọng.
Ngành Y tế thực hiện các hoạt động diệt véc tơ thông qua việc tuyên truyền các phương pháp diệt bọ gậy, kiểm tra các dụng cụ chứa nước (DCCN), thả cá để tiêu diệt bọ gậy, và phun hóa chất để diệt muỗi.
Nhóm các bi ế n s ố v ề quan sát th ự c hành:
- Diệt muỗi, ngăn chặn muỗi đốt: dùng lưới ngăn muỗi ở cửa sổ, cửa ra vào
Để diệt bọ gậy, cần thực hiện các biện pháp như đậy kín các dụng cụ chứa nước, dọn dẹp sạch sẽ các vật phế thải cả trong và ngoài nhà, cho muối vào bát kê chân chạn, thả cá vào các bể và dụng cụ chứa nước, cũng như thay nước mới cho lọ hoa.
- Vệ sinh môi trường trong nhà: nhà cửa thông thoáng, quần áo thu xếp gọn gàng, các đồ vật được xếp đặt ngăn nắp
Vệ sinh môi trường xung quanh nhà là rất quan trọng, bao gồm việc dọn dẹp các dụng cụ phế thải, lật úp các vật dụng có thể chứa nước khi trời mưa, và phát quang bụi rậm để tạo không gian sống sạch sẽ và an toàn.
Nhóm bi ế n s ố v ề th ự c tr ạ ng qu ầ n th ể véc tơ truyề n b ệ nh SXHD bao g ồ m:
Các chỉ số bọ gậy bao gồm tỷ lệ nhà có bọ gậy (HIL%), tỷ lệ DCCN có bọ gậy (CI%), chỉ số DCCN có bọ gậy trong 100 nhà điều tra (Breteau Index - BI) và tỷ lệ tập trung bọ gậy (ổ bọ gậy nguồn).
- Các chỉ số muỗi: chỉ số mật độ muỗi (DI), tỷ lệ nhà có muỗi (HI%).
Các khái niệm trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, hộ gia đình được định nghĩa là một nhóm người sống trên một khuôn viên đất có ranh giới rõ ràng, không phụ thuộc vào hộ khẩu Hộ gia đình có thể bao gồm căn hộ riêng biệt, căn hộ chung cư, hoặc một khu nhà nhiều thế hệ sống chung, cũng như khu phòng trọ không thuộc cùng khuôn viên đất với gia đình chủ nhà cho thuê.
Đặc điểm nhà ở: là kiến trúc, kết cấu nhà
+ Nhà tạm: tường xây gạch đơn không trát vữa, tường bằng gỗ gép tạm thời + Nhà cấp 4: tường xây bằng gạch trát vữa, mái lợp
+ Nhà xây 1 tầng: là nhà 1 tầng có mái bê tông
+ Nhà từ 2 tầng trở lên
Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ, chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều được áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 nhằm cải thiện đời sống của hộ gia đình Quy định này xác định các tiêu chí đánh giá mức độ nghèo, không chỉ dựa vào thu nhập mà còn xem xét các yếu tố như giáo dục, y tế và điều kiện sống Mục tiêu là giảm thiểu nghèo đói và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Hộ nghèo: Bao gồm hộ nghèo và cận nghèo
Hộ không nghèo: Hộ gia đình có mức thu nhập từ trung bình trở lên
Hộ nghèo được định nghĩa là những hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 900.000 đồng trở xuống, hoặc có thu nhập từ 900.000 đồng đến 1.000.000 đồng nhưng thiếu hụt ít nhất 03 chỉ số đo lường mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ cận nghèo được định nghĩa là những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 900.000 đồng đến 1.000.000 đồng mỗi tháng, đồng thời thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
+ Hộ mức sống trung bình: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng
Thay rửa bểnước thường xuyên: là thay rửa ít nhất mỗi tuần 1 lần
Dụng cụ chứa nước (DCCN) bao gồm tất cả các thiết bị lớn và nhỏ, không phân biệt giá trị sử dụng, có khả năng chứa nước, kể cả các dụng cụ phế thải có nước đọng.
DCCN có nắp là những thiết bị có khả năng che đậy, ngăn chặn muỗi xâm nhập để đẻ trứng Tuy nhiên, nếu nắp của DCCN không kín, thì hiệu quả bảo vệ sẽ không còn, tương tự như việc không có nắp.
DCCN (+): Là DCCN có lăng quăng/bọ gậy của loài muỗi truyền bệnh SXHD
Các chỉ số giám sát bọ gậy truyền bệnh SXHD
+ Chỉ số House Index (HIL%) hay còn gọi chỉ số nhà có bọ gậy (CSNBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes/Số nhà điều tra
HIL% = Số nhà có LQBG Aedes x 100
+ Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (CI%) (CSDCBG) là tỷ lệ phần trăm số DCCN có bọ gậyAedes/Tổng số DCCN:
CI % = Số DCCN có LQBG Aedes x 100 Tổng số DCCN điều tra
+ Chỉ số Breteau (BI) là số DCCN có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra
Tối thiểu điều tra 30 nhà, vì vậy BI được tính như sau:
BI = Số DCCN có LQBG Aedes x 100
Chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG) thể hiện số lượng bọ gậy trung bình trên mỗi nhà điều tra Chỉ số này được áp dụng trong các cuộc điều tra ổ bọ gậy nguồn.
(con/nhà) Số LQBG Aedes thu được
Các chỉ số muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue
- Chỉ số mật độ muỗi (DI) là số muỗi cái Aedes trung bình trong một gia đình điều tra
DI (con/nhà) = Số muỗi cái Aedes bắt được
- Chỉ số nhà có muỗi (HI%) là tỷ lệ phần trăm nhà có muỗi cái Aedes trưởng thành
HI % = Số nhà có muỗi cái Aedes x 100
Cách đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh SXHD
Để đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành trong việc phòng bệnh SXHD, phương pháp cho điểm đã được áp dụng Các câu hỏi và phương án trả lời được chấm điểm theo trọng số, trong đó những yếu tố quan trọng được ưu tiên cho điểm cao hơn.
Tính tổng điểm tối đa cho phần kiến thức, thái độ và thực hành của đối tượng nghiên cứu Đánh giá đạt khi tổng điểm từng phần đạt ≥ 75% tổng điểm tối đa, trong khi chưa đạt nếu tổng điểm < 75% tổng điểm tối đa (Phụ lục 2).
Lý do chọn điểm cắt 75 %:
Kỹ thuật Quintile 25% được sử dụng để phân chia tổng điểm kiến thức, thái độ và thực hành của các đối tượng nghiên cứu thành 4 nhóm Những người có kiến thức, thái độ và thực hành chung tốt (đạt) là những người có điểm số thuộc Quintile 4, đạt từ 75% tổng số điểm trở lên.
Khánh Hòa là khu vực có sự lưu hành của sốt xuất huyết (SXHD), và người dân đã được tuyên truyền về phòng chống SXHD trong nhiều năm Việc chọn điểm cắt 75% (mức tốt) giúp phân loại kiến thức, thái độ và thực hành của các đối tượng nghiên cứu một cách hiệu quả hơn Phân tích số liệu trong nghiên cứu cho thấy điểm cắt 75% tạo ra sự khác biệt hợp lý Hơn nữa, nhiều nghiên cứu khác về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống SXHD cũng sử dụng điểm cắt 75%, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh kết quả giữa các nghiên cứu.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm EpiData 3.1 để nhập liệu từ phiếu phỏng vấn, NCV kiểm tra tính logic và độ đầy đủ của từng phiếu trước khi nhập Đối với các bản ghi thiếu thông tin, NCV sẽ liên hệ trực tiếp với đối tượng nghiên cứu để bổ sung nội dung cần thiết.
Số liệu sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0 Kết quả phân tích và trình bày số liệu dựa theo các mục tiêu nghiên cứu, gồm các phần:
Kết quả thống kê mô tả cho thấy việc tính toán các tỷ lệ phần trăm và các chỉ số côn trùng theo công thức là cần thiết Đồng thời, việc sử dụng kiểm định khi bình phương χ² giúp so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ một cách hiệu quả.
Thống kê phân tích suy luận: Tính tỷ suất chênh (OR), khoảng tin cậy (KTC) của OR, p để xác định các mối liên quan
Khi có bất kỳ giá trị nào trong các ô của bảng 2x2 nhỏ hơn 5, sẽ sử dụng kiểm định Fisher's Exact Test.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, khi tiến hành điều tra tại cộng đồng, ĐTNC có quyền từ chối tham gia trả lời phỏng vấn
Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng xét duyệt và thông qua các khía cạnh đạo đức theo quyết định số
241/2019/YTCC-HĐ- 3 ngày 24 tháng 4 năm 2019, trước khi tiến hành thu thập số liệu
Sau khi điều tra, hộ gia đình đã phát hiện bọ gậy và tham gia phỏng vấn Họ được hướng dẫn cách xử lý bọ gậy và tuyên truyền về phòng chống sốt xuất huyết.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng quần thể bọ gậy và muỗi truyền bệnh Sốt xuất huyết Dengue
3.1.1.1 Đặc điểm các loại dụng cụ chứa nước tại 215 hộ gia đình
Bảng 3.1 : Đặc điểm các loại dụng cụ chứa nước
TT Chủng loại Số lượng
DCCN có cá DCCN được đậy nắp
8 Lọ hoa 478 43,2 0 0 0 Không áp dụng
9 Bể cảnh 22 2,0 2 9,1 0 Không áp dụng
10 Phế thải 74 6,7 0 0 0 Không áp dụng
(*Ghi chú d ụ ng c ụ khác: máng nướ c gà, chim, l ố p xe, ch ậ u lau nhà, b ẫ y ki ế n)
* Bảng 3.1 cho thấy, trong số 215 hộ gia đình điều tra có 1.106 DCCN, trung bình 1 hộ gia đình có 5,1 DCCN Chỉ có 4 loại dụng cụ: Bể >500 lít, bể < 500 lít,
HUPH cho thấy tỷ lệ các loại dụng cụ chứa nước (DCCN) có nắp đậy như sau: bể trên 500 lít chiếm 38,7%, bể dưới 500 lít là 59,36%, phuy đạt 80% và xô thùng là 81,7% Đặc biệt, tất cả các chum/vại, giếng và bể dội nhà cầu tại hộ gia đình đều không có nắp đậy Hầu hết các loại DCCN không được thả cá, ngoại trừ bể cảnh, trong đó chỉ có 9,1% các bể cảnh có cá.
Bảng 3.2 Bảng phân bố sốlượng bọ gậy Ae.aegypti ở các loại DCCN (n!5)
Dụng cụ chứa nước Bọ gậy Ae aegypti
Loại DCCN Số lượng Tỷ lệ
Tỷ lệ DCCN (+) lượng Số bọ gậy
Tỷ lệ trung tập bọ gậy (%)
Kết quả từ bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ dụng cụ dương tính với bọ gậy Ae aegypti là rất đa dạng Mặc dù bể dội cầu chỉ chiếm tỷ lệ thấp (0,6%) trong tổng số các dụng cụ chứa nước, nhưng tỷ lệ có bọ gậy ở loại DCCN này lại cao nhất với 42,9% Các dụng cụ khác như chum vại và phuy cũng có tỷ lệ dương tính đáng kể, lần lượt là 22,7% và 20% Các bể chứa trên 500 lít có tỷ lệ 16,1%, trong khi lọ hoa và vật phế thải có tỷ lệ dương tính là 10,7% và 10,8% Các bể cảnh và vật chứa nước khác có tỷ lệ lần lượt là 9,1% và 8,3%, trong khi bể dưới 500 lít có tỷ lệ 7,4% Cuối cùng, xô thùng có tỷ lệ dương tính thấp nhất, chỉ đạt 3,2%.
Biểu đồ 1: Tỷ lệ tập trung bọ gậy Ae.agypti (ổ bọ gậy nguồn) ở các DCCN
Biểu đồ 1 chỉ ra rằng tỷ lệ tập trung bọ gậy Ae aegypti cao nhất xuất hiện ở lọ hoa với 32,4% Tiếp theo là các vật dụng cho chim và gà uống nước, chậu lau nhà với tỷ lệ 15,9% Các vật phế thải chiếm 14,1%, trong khi chum vại và phuy lần lượt có tỷ lệ 10,9% và 8,9% Cuối cùng, bể dội cầu có tỷ lệ thấp nhất là 5,62%.
3.1.2 Kết quả điều tra các chỉ số véc tơ truyền bệnh SXHD tại 215 hộ gia đình
Bảng 3.3 Các chỉ số bọ gậy
STT Chỉ số Tần số (n) Tỷ lệ (%)
1 Nhà có bọ gậy (HIL)
2 DCCN có bọ gậy (CI)
* Kết quả bảng 3.3, cho thấy trong số 215 nhà điều tra, tỷ lệ nhà có bọ gậy
Ae.aegypti là 36,7% Tỷ lệ DCCN có bọ gậy là 8,8% Số DCCN có bọ gậy Ae.aegypti trong 100 nhà điều tra (Chỉ số Breteau) là 45,1
Bảng 3.4 Thành phần các loại muỗi thu được ở 215 hộgia đình
Loài muỗi Sốlượng (con) Tỷ lệ (%)
Muỗi khác (Culex, loại phụ của muỗi Anopheles) 147 52,3
* Bảng 3.4 cho thấy trong số 281 con muỗi bắt được, có 134 con muỗi cái Aedes aegypti chiếm tỷ lệ 47,7%, còn lại là loài muỗi khác (Culex, loại phụ của muỗi
Anopheles) chiếm tỷ lệ 52,3%, không phát hiện muỗi Aedes albopictus
Bảng 3.5 Các chỉ số muỗi
Chỉ số nhà có muỗi (HI%) Chỉ số mật độ muỗi/
Trong số 215 hộ gia đình được điều tra, có 56 hộ có muỗi vằn Ae aegypti, chiếm tỷ lệ 26% Tổng số muỗi vằn được bắt là 134 con, với chỉ số mật độ muỗi (DI) là 0,62 con/nhà.
Một số yếu tố liên quan đến quần thể bọ gậy và muỗi truyền bệnh SXHD
3.2.1.Thông tin chung về ĐTNC và một số đặc điểm của hộ gia đình
Bảng 3.6 Thông tin chung vềđối tượng nghiên cứu
Giới tính Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Làm nông, xây dựng, thợ may 66 30,7
Hưu trí hoặc nghỉ tuổi già 16 7,4
Nghe thông tin về SXHD Đã từng nghe nói hoặc biết về SXHD Đã từng nghe 210 97,7
Nguồn thông tin về SXHD
Gia đình, bạn bè, người thân 106 50,5 Đoàn thể, chính quyền 61 29,0
Tờ rơi, áp phích, băng rôn 24 11,4
Tự tìm trên mạng Internet 20 9,5
* Bảng 3.6 cho thấy 67,9% ĐTNC, tham gia phỏng vấn là nữ giới, 100% ĐTNC là dân tộc Kinh Tuổi trung bình của ĐTNC là 51,4 tuổi ĐTNC có tuổi ít nhất là
Đối tượng khảo sát có độ tuổi từ 18 đến 87, trong đó nghề nội trợ chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,8% Các nghề khác bao gồm làm nông, xây dựng và thợ may với tỷ lệ 30,7% Viên chức chiếm gần 15%, trong khi công nhân và kinh doanh tự do chiếm hơn 5%.
Trình độ học vấn của người dân cho thấy tỷ lệ mù chữ là 5,6%, trong khi tiểu học và THCS chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,3% và 34,4% tương ứng Tỷ lệ học sinh THPT là 12,6%, trong khi trung cấp chỉ chiếm 2,8% và từ cao đẳng trở lên là 8,4% Đáng chú ý, 97,7% đối tượng được khảo sát đã từng nghe nói về bệnh SXHD, với nguồn thông tin chủ yếu đến từ đài truyền thanh xã (77,6%), tiếp theo là nhân viên y tế thôn bản (55,7%) và từ gia đình, bạn bè, hàng xóm (50,5%).
Bảng 3.7 Một số đặc điểm chung của hộ gia đình
Tiêu chí Tần số (n) Tỷ lệ(%)
Nhà từ 2 tầng trở lên 1 0,5
Vừa ở vừa KDSX; chỉ KDSX 14 6,5
Nguồn nước gia đình sử dụng đểăn uống sinh hoạt
HGĐ có dự trữnước sử dụng
HGĐcó người đã từng mắc bệnh SXHD Đã từng mắc 106 50,5
Theo Bảng 3.7, 86% các hộ gia đình được khảo sát đang sinh sống trong nhà cấp 4, trong khi nhà tạm và nhà 1 tầng chiếm 13,5%, và nhà từ 2 tầng trở lên chỉ có 0,5% Đáng chú ý, 93,4% các hộ gia đình này chỉ sử dụng nhà để ở, trong khi chỉ có 6,5% hộ gia đình kết hợp giữa việc ở và kinh doanh.
Nguồn nước chủ yếu cho sinh hoạt hàng ngày của các hộ gia đình là nước giếng đào (73%) và nước máy (62,8%) Nước máy được cung cấp từ đầu tháng 1 năm 2019, vì vậy nhiều hộ gia đình vẫn sử dụng cả hai nguồn nước Tỷ lệ hộ gia đình trữ nước trong các dụng cụ để phục vụ sinh hoạt hàng ngày đạt 69,3%.
Có 50,5% số người được phỏng vấn cho biết trong hộ gia đình đã từng có người mắc bệnh SXHD
Bảng 3.8 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về bệnh SXHD (n!0) Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Người có thể mắc SXHD
Chỉ có phụ nữ mang thai 0 0
Chỉ có nhân viên Y tế 0 0
Tất cả mọi người đều có thể 198 94,3
Không có câu trả lời 7 3,3
Bênh SXHD lây truyền bằng cách
Muỗi đốt 195 92,9 Ăn uống, sinh hoạt bằng nước ô nhiễm 1 0,5
Nơi muỗi vằn đẻ trứng
Dụng cụ phế thải đọng nước 123 63,1
Lọ hoa, bát kê chân chạn 89 45,6
Nơi muỗi thường trú đậu
Quần áo, chăn màn, hốc tủ, cửa 119 61
HUPH Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Muỗi đẻ trứng rồi phát triển thành muỗi
Trứng muỗi phát triển thành
Tổng 210 100 Đã từng nhìn thấy bọ gậy Đã từng 183 87,1
Các biện pháp phòng không cho muỗi đẻ trứng/diệt
VS hủy bỏ vật đọng nước 138 70,8
VSMT, gia đình sạch sẽ 121 62,1
Súc rửa DCCN 1 tuần/lần 98 50,3 Thay nước lọ hoa 1 tuần/lần 113 57,9
Thả cá ăn bọ gậy vào những DCCN
Trong một cuộc khảo sát với 210 người về khả năng mắc bệnh SXHD, 94,3% cho rằng tất cả mọi người đều có thể bị ảnh hưởng, trong khi 2,4% cho rằng chỉ trẻ em mới mắc bệnh và 3,3% không biết hoặc không có câu trả lời.
Kiến thức về nguyên nhân lây truyền bệnh SXHD có 92,9% ĐTNC cho biết là do muỗi đốt, 7,2% ĐTNC không biết do muỗi truyền
Theo khảo sát, 62,4% đối tượng được hỏi nhận biết rằng muỗi vằn là loài muỗi truyền bệnh, trong khi 21,9% không biết loài muỗi nào gây bệnh, và 15,7% cho rằng muỗi Anopheles là nguyên nhân.
Theo khảo sát, 63,1% đối tượng nghiên cứu cho biết muỗi vằn thường đẻ trứng ở các dụng cụ phế thải chứa nước Bên cạnh đó, 64,6% cho rằng muỗi cũng đẻ trứng ở các dụng cụ chứa nước như hồ, chum, và vại Ngoài ra, 45,6% cho biết muỗi vằn đẻ trứng trong lọ hoa và bát kê chân chạn, trong khi 31,3% cho rằng chúng đẻ trứng ở cống.
HUPH rãnh và có 14% ĐTNC trả lời là không biết hoặc các nơi khác (ngoài mương nước, đồng ruộng)
Theo khảo sát, 61% người tham gia cho biết muỗi vằn thường trú đậu ở quần áo, chăn màn, hốc tủ và cửa Ngoài ra, 44,1% cho rằng chúng trú ngụ ở vườn cây và bụi rậm Một số khác, chiếm 28,7%, cho biết muỗi vằn có thể tìm thấy ở các đồ phế thải và DCCN, trong khi 27,2% cho rằng chúng trú ở cống rãnh Cuối cùng, 17,4% người tham gia không biết hoặc cho rằng muỗi vằn trú ở các vị trí khác như chỗ tối và ẩm ướt.
Chu kỳ phát triển của muỗi rất quan trọng, với 90% đối tượng nghiên cứu cho rằng trứng muỗi sẽ nở thành ấu trùng trước khi phát triển thành muỗi trưởng thành Tuy nhiên, vẫn có 10% đối tượng không nắm rõ vòng đời phát triển này Đáng chú ý, 87,1% đối tượng đã từng nhìn thấy ấu trùng muỗi.
Các biện pháp phòng ngừa muỗi đẻ trứng và diệt lăng quăng bao gồm: 70,8% người tham gia khảo sát cho biết họ thực hiện vệ sinh và loại bỏ vật chứa nước; 62,1% cho biết duy trì môi trường sống sạch sẽ; 57,9% thay nước trong lọ hoa mỗi tuần; 50,3% súc rửa dụng cụ chứa nước mỗi tuần; 21% đậy nắp dụng cụ chứa nước; và 18,1% áp dụng các biện pháp khác như phun thuốc diệt muỗi, sử dụng hoa nhựa, đổ nước trong các lọ hoa sau khi cúng, hoặc nhỏ nước rửa chén vào các lọ hoa.
Bảng 3.9 Thái độ của của đối tượng nghiên cứu về bệnh SXHD (n!0) Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ%
Mức độ nguy hiểm của bệnh
Nhận định về nguy cơ có
LQBG và muỗi truyền bệnh
Nguy cơ tương đối 33 15,7 Ít nguy cơ 44 21
Sạch sẽ không có nguy cơ 87 41,4
Sự cần thiết phải diệt LQBG Rất cần thiết 103 49
HUPH Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ%
Tương đối cần thiết 6 2,9 Không cần thiết lắm 7 3,3
Việc đáp ứng của HGĐ nếu cán bộ thôn tới nhắc nhở gia đình tìm diệt LQBG phòng bệnh SXHD
Thực hiện trong khoảng một vài ngày sau đó 3 1,4 Nếu rảnh sẽ làm sau 14 6,7
Thời gian HGD nên tìm diệt
Trên một tháng một lần 7 3,3
Trách nhiệm phòng chống bệnh SXHD
Trách nhiệm của cá nhân/HGĐ 173 82,4
Chính quyền địa phương 51 24,3 Các tổ chức quốc tế 7 3,3
Theo khảo sát, 86,7% đối tượng nghiên cứu nhận định rằng bệnh SXHD rất nguy hiểm, trong khi 12,4% cho rằng bệnh này tương đối nguy hiểm Chỉ có 1% đối tượng không biết hoặc cho rằng SXHD không nguy hiểm.
Theo khảo sát, 62,4% đối tượng tham gia nhận định rằng hộ gia đình của họ ít có nguy cơ hoặc hoàn toàn sạch sẽ, không có nguy cơ phát sinh lăng quăng bọ gậy (LQBG) và muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết (SXHD) Trong khi đó, 5,7% không chắc chắn về nguy cơ, 16,2% cho rằng có nguy cơ cao, và 15,7% đánh giá có nguy cơ tương đối.
Theo khảo sát, 93,3% đối tượng tham gia cho rằng việc diệt LQBG tại hộ gia đình là rất cần thiết hoặc cần thiết, trong khi chỉ có 6,7% cho rằng việc này không cần thiết hoặc tương đối cần thiết.
Khi được hỏi về việc đáp ứng của hộ gia đình đối với nhắc nhở của cán bộ thôn về việc tìm diệt lăng quăng, 91,9% đối tượng nghiên cứu cho biết sẽ thực hiện ngay, trong khi 8,1% cho biết sẽ thực hiện trong vài ngày tới hoặc khi có thời gian rảnh.
Khi được hỏi về tần suất diệt LQBG, 81,4% đối tượng tham gia khảo sát cho rằng nên thực hiện việc này một lần mỗi tuần, trong khi 18,6% còn lại cho rằng khoảng thời gian nên kéo dài từ 2 tuần đến 1 tháng hoặc không biết.
BÀN LUẬN
Thực trạng quần thể bọ gậy và muỗi truyền bệnh SXHD tại xã Diên Lộc
4.1.1 Đặc điểm của các dụng cụ chứa nước
Nghiên cứu về quần thể bọ gậy của muỗi truyền bệnh Sốt xuất huyết tại xã Diên Lộc, Diên Khánh đã ghi nhận 1.106 dụng cụ chứa nước (DCCN) thuộc 11 loại, trong đó lọ hoa chiếm 43,2%, xô thùng 19,8%, và các DCCN khác chiếm 13,1% Kết quả này tương đồng với điều tra tháng 6 năm 2019 của Trung tâm Y tế huyện Diên Khánh, ghi nhận 745 DCCN với tỷ lệ tương tự Nghiên cứu của Bùi Thanh Phú tại xã Diên An năm 2018 cũng cho thấy lọ hoa và xô thùng là hai loại dụng cụ chiếm tỷ lệ cao nhất Nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận tại thị trấn Vân Canh năm 2016 cũng cho kết quả tương tự với 606 DCCN, chủ yếu là xô thùng và chum vại So với các nghiên cứu trước, nghiên cứu của chúng tôi có sự tương đồng về chủng loại nhưng khác với Bùi Thanh Phú do không ghi nhận lốp xe Nghiên cứu của Hồ Thị Phương Như tại xã Đại Yên năm 2003 cũng cho thấy sự đa dạng trong các loại DCCN.
Theo nghiên cứu, dụng cụ phế thải chiếm tỷ lệ cao nhất với 21,3%, tiếp theo là bể trên 500 lít (16%), lọ hoa (11,8%), và vại (8,6%) Các dụng cụ khác bao gồm bể dưới 500 lít (8,1%), giếng khơi (6,9%), chum (5,8%), xô thùng (5,3%), cối đá (4,1%), vò (3,8%), máng súc vật (2,8%), bể cảnh (1,9%), bể rượu (1,2%), DCCN tự nhiên hốc tre (0,9%), bẫy kiến, phuy (0,7%), và bể dội cầu (0,4%) So với nghiên cứu của Hồ Thị Phương Như, nghiên cứu này không ghi nhận các dụng cụ như bể rượu và các hốc tre có chứa nước, điều này có thể do tỷ lệ các dụng cụ này thấp, dẫn đến việc không xuất hiện trong mẫu ngẫu nhiên tại các hộ gia đình ở xã Diên Lộc.
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ dương tính với bọ gậy Ae aegypti trong các dụng cụ chứa nước (DCCN) cho thấy bể dội cầu có tỷ lệ thấp nhất (0,6%) nhưng lại có tỷ lệ bọ gậy cao nhất (42,9%) Các DCCN khác như chum vại (22,7%), phuy (20%), bể trên 500 lít (16,1%), lọ hoa (10,7%) và bể dưới 500 lít (7,4%) cũng ghi nhận sự hiện diện của bọ gậy Nghiên cứu của Bùi Thanh Phú chỉ ra rằng lốp xe tại điểm chứng có tỷ lệ bọ gậy cao nhất (82,8%), trong khi tại điểm can thiệp là 50,5% Phế thải tại điểm can thiệp chiếm 58,5% và 41,3% tại điểm chứng Lọ hoa có tỷ lệ tương đương ở cả hai điểm (27%), chậu cây cảnh tại điểm chứng là 22% và 60% tại điểm can thiệp Máng cho gia cầm uống nước cũng có tỷ lệ tương đối cao (>35%), trong khi các dụng cụ còn lại đều dưới 15% và không phát hiện bọ gậy ở giếng nước trong thời gian điều tra.
Tại Ngọc Nhuận, tỷ lệ nhiễm chủ yếu tập trung ở năm loại dụng cụ, bao gồm dụng cụ phế thải (22,9%), bể chậu cảnh (15%), lọ hoa (11,9%) và chum vại (6,4%) Bọ gậy có sự tập trung cao nhất ở dụng cụ phế thải (27,3%), tiếp theo là bể chậu cảnh (24,4%), xô thùng (20%) và chum vại (12,8%) [18].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ tập trung bọ gậy cao nhất là ở lọ hoa (32,4%), tiếp theo là các vật dụng cho chim, gà uống nước và chậu lau nhà (15,9%), vật phế thải (14,1%), chum vại (10,9%), phuy (8,9%), và thấp nhất là bể dội cầu (5,6%) Kết quả điều tra bọ gậy tháng 6 năm 2019 của Trung tâm Y tế huyện Diên Khánh cũng cho thấy tỷ lệ tương tự, với lọ hoa đạt 40,7%, tiếp theo là bể dưới 500 lít (18,1%) và phế thải.
(15,8%), chum vại (9,1%), bể cảnh (6,8%), phuy (4,5%) và thấp nhất là xô, thùng (2,7%) [28] Tác giả Bùi Thanh Phú thực hiện tại xã Diên An, Diên Khánh năm
Nghiên cứu năm 2018 cho thấy ổ bọ gậy chủ yếu tập trung ở lọ hoa (40,5%), lốp xe (24,5%), và vật phế thải (19,5%) Tại xã Bình Thành, Đồng Tháp, nghiên cứu của Trần Văn Hai năm 2006 chỉ ra rằng vật phế thải chứa nước có tỷ lệ bọ gậy Aedes cao nhất (58,5%), tiếp theo là bể chứa nước (33,9%) và hòn non bộ (33,3%) Nghiên cứu của Nguyễn Nhật Cảm năm 2001 tại quận Đống Đa cho thấy bể nước dội nhà vệ sinh là nguồn bọ gậy Ae Aegypti chính (27,2%), trong khi bọ gậy Ae albopictus chủ yếu xuất hiện ở bể dưới 500 lít (52,17%) Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ bọ gậy ở một số quốc gia Châu Á như Indonesia, Thái Lan và Myanmar cũng cho thấy sự tập trung cao ở các bể chứa nước và lọ hoa.
Nghiên cứu năm 2000 tại Thủ đô Dhaka, Bangladesh cho thấy tỷ lệ tập trung bọ gậy ở các DCCN nhằm kiểm soát bệnh SXHD như sau: chum vại làm bằng đất nung chiếm 19,9%, lọ hoa 16,2%, lốp xe 14,9%, xô 9,8%, bể chứa nước lớn 9,1%, và lon, chai 8,2%.
Kết quả điều tra ổ bọ gậy trong nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả của Trung tâm Y tế Diên Khánh từ năm 2015 đến 2019, cho thấy ổ bọ gậy chủ yếu tập trung ở các nguồn như lọ hoa, chậu cảnh, vật phế thải, xô/thùng, lu/chum/vại, và phuy Sự khác biệt giữa các mô hình ổ bọ gậy ở các địa phương có thể được giải thích bởi thói quen tích trữ nước, nguồn nước sử dụng, và loại dụng cụ chứa nước khác nhau Theo hướng dẫn của Bộ Y tế về giám sát và phòng chống bệnh SXHD, các địa phương cần tổ chức điều tra ổ bọ gậy nguồn hai lần mỗi năm để làm cơ sở cho việc xử lý dịch bệnh.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và tác giả Bùi Thanh Phú năm 2018 cho thấy lọ hoa có bọ gậy của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết (SXHD) là một nguồn nguy hiểm quan trọng do thói quen không thường xuyên súc rửa của người dân Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, để loại trừ bọ gậy, cần thay nước lọ hoa một lần mỗi tuần và cọ rửa thành lọ Tuy nhiên, thực tế cho thấy hầu hết các hộ gia đình chỉ thay nước vào các ngày rằm, mùng một, dẫn đến việc chỉ thay nước 2 tuần một lần hoặc không thay nước, tạo điều kiện cho muỗi SXHD sinh sản và tăng nguy cơ dịch bệnh nếu không có biện pháp kiểm soát hiệu quả.
4.1.2 Các chỉ số côn trùng điều tra
Trong cuộc điều tra 215 hộ gia đình, chúng tôi phát hiện 79 nhà có bọ gậy của muỗi Aedes, với tỷ lệ nhà có bọ gậy (HIL%) đạt 36,7% Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận tại Vân Canh, Bình Định.
Kết quả nghiên cứu năm 2016 cho thấy tỷ lệ HIL% đạt 20,9%, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi thời điểm điều tra bọ gậy của chúng tôi diễn ra vào tháng 6, thời điểm cao điểm sinh sản của muỗi Theo nghiên cứu của Lê Tấn Phùng, tại Khánh Hòa, có hai đỉnh dịch sốt xuất huyết hàng năm vào tháng 6, 7 và đỉnh thứ hai vào tháng 10, 11 Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận thu thập dữ liệu từ tháng 1 đến tháng 9/2016, bao gồm cả thời gian muỗi sinh sản ít, dẫn đến tỷ lệ HIL% chung thấp hơn trong giai đoạn của họ.
Tỷ lệ nhà có bọ gậy (HIL%) của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Thị Kim Hạnh tại quận Hoàng Mai năm 2007 (HIL 29,2%) và kết quả của Nguyễn Hồng Thanh tại quận Hoàn Kiếm cùng năm (HIL% phường Lý Thái Tổ: 5%, HIL% phường Hàng Bài: 15,5%) Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi các yếu tố tại Diên Lộc và Diên Khánh.
Khánh Hòa là vùng có tỷ lệ mắc sốt xuất huyết cao, thuộc loại A với tỷ lệ mắc trên 100/100.000 dân, trong khi các tỉnh phía Bắc thuộc loại B với tỷ lệ từ 2 đến dưới 100/100.000 dân Xã Diên Lộc, vùng nông thôn, có thói quen trữ nước trong các dụng cụ chứa nước (DCCN) với tỷ lệ 69,3%, trái ngược với các phường quận Hoàn Kiếm ở Hà Nội, nơi người dân chủ yếu sử dụng nước máy trên 90% Nghiên cứu của Đặng Thị Kim Hạnh và Nguyễn Hồng Thanh cho thấy có 13,1% và 8,5% DCCN lớn thả cá để ăn bọ gậy, trong khi tại xã Diên Lộc không có DCCN nào được thả cá, ngoại trừ các bể cảnh Sự khác biệt này có thể tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sản, dẫn đến tỷ lệ HIL% cao hơn.
Trong số 1.106 DCCN điều tra được, tỷ lệ DCCN có bọ gậy (CI) là 8,8%
Kết quả nghiên cứu tại Diên Lộc cho thấy chỉ số BI là 45,1, thấp hơn so với tỷ lệ DCCN dương tính với bọ gậy tại phường Thịnh Liệt, Hà Nội năm 2009 (CI=8,6%) Chỉ số này cũng thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó, như của TTYT huyện Diên Khánh vào tháng 2 năm 2019 và các tác giả Trần Văn Hai (BI=56) tại Đồng Tháp năm 2006, Phạm Hoàng Xuân (BI=76) tại Bình Phước năm 2010, và Đặng Ngọc Chánh cùng Cs tại Bến Tre (BI trung bình mùa khô là 48,3, mùa mưa là 58,3) Sự khác biệt này có thể do các tỉnh phía Nam có chỉ số BI trung bình cao hơn so với các tỉnh miền Trung.
Theo báo cáo của Viện Sốt rét, KST-CT thành phố Hồ Chí Minh năm 2015, chỉ số BI trung bình của 20 tỉnh phía Nam trong 10 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10) đều cao hơn mức quy định của Bộ Y tế Sự khác biệt này có thể do nghiên cứu được thực hiện vào mùa mưa, khi có nhiều vật dụng chứa nước đọng, tạo điều kiện cho muỗi sinh sản Điều này tương đồng với nghiên cứu ở Java, Indonesia, cho thấy chỉ số nhà có bọ gậy (HIL%) và chỉ số Breteau (BI) cao hơn trong mùa mưa so với mùa khô.
Một số yếu tố liên quan đến quần thể bọ gậy của muỗi truyền bệnh SXHD
4.2.1.1 Mối liên quan giữa thực hành qua quan sát và nhà có bọ gậy của ĐTNC
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nhà có bọ gậy ở các hộ gia đình thực hiện đúng biện pháp ngăn ngừa muỗi đẻ trứng chỉ đạt 16,1%, trong khi tỷ lệ này ở những hộ không đạt lên tới 52,5% Có mối liên quan rõ rệt giữa thực hành của người dân và tình trạng có bọ gậy trong hộ gia đình (p