HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ --- Bùi Thanh Phú NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH THÁI VÀ Ổ BỌ GẬY NGUỒN CỦA MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HUYỆN NINH HÒA-KHÁNH
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
Bùi Thanh Phú
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH THÁI
VÀ Ổ BỌ GẬY NGUỒN CỦA MUỖI TRUYỀN BỆNH
SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HUYỆN NINH HÒA-KHÁNH HÒA NĂM 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hà Nội - 2021
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
Bùi Thanh Phú
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH THÁI
VÀ Ổ BỌ GẬY NGUỒN CỦA MUỖI TRUYỀN BỆNH
SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HUYỆN NINH HÒA-KHÁNH HÒA NĂM 2021
Chu n n ành: Sinh học th c n hi m
Mã số: 8420114
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Hướng dẫn 1: GS.TS Vũ Sinh Nam
Hướng dẫn 2: TS.BS Đỗ Thái Hùng
Hà Nội - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Vũ Sinh Nam và TS.BS Đỗ Thái Hùng và những tài liệu tham khảo đã được công bố trước đó có trích dẫn rõ ràng Các số liệu nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi trong suốt quá trình thực hiện tại huyện Ninh Hòa – Khánh Hòa và phòng thí nghiệm Khoa Côn trùng – Kiểm dịch Viện Pasteur Nha Trang năm 2021
Hà Nội ngày 30 tháng 11 năm 2021
Tác iả luận văn
Bùi Thanh Phú
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban lãnh đạo Viện Pasteur Nha Trang, Trung tâm thị xã Ninh Hòa, các cán bộ trạm Y
tế và chính quyền địa phương xã Ninh Quang, Ninh Phụng và xã Ninh Hiệp
Lời đầu tiên cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới GS.TS Vũ Sinh Nam và TS.BS Đỗ Thái Hùng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Học viện Khoa học và Công nghệ, Phòng đào tạo sau đại học và quý thầy cô giảng dạy các bộ môn, đặc biệt là
cô TS Huỳnh Hoàng Như Khánh đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, động viên, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập
và hoàn thành luận văn
Tôi luôn biết ơn đến các quý đồng nghiệp của Khoa Côn trùng – Kiểm dịch, Viện Pasteur Nha Trang đã tạo điều kiện, giúp đỡ và hỗ trợ để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân thân và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội ngày 30 tháng 11 năm 2021
Tác iả luận văn
Bùi Thanh Phú
Trang 5DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Chỉ số mật độ muỗi Dụng cụ phế thải Chỉ số nhà có muỗi Chỉ số nhà có bọ gậy
Hộ gia đình Lăng quăng bọ gậy Chỉ số mật độ bọ gậy Sốt xuất huyết dengue
Ổ bọ gậy nguồn
World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Số ca mắc SXHD tại các Quốc gia trên thế giới 9
Bảng 2.1 Hệ số nhân thu mẫu bọ gậy bằng kỹ thuật vợt 5 vòng 32
Bảng 3.1 Thành phần các loài muỗi bắt được tại điểm nghiên cứu 36
Bảng 3.2 Chỉ số mật độ muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại huyện Ninh Hoà, Khánh Hoà, 2021 38
Bảng 3.3 Thời gian và chu kỳ sinh thực của muỗi Aedes 47
Bảng 3.4 Tỷ lệ dụng cụ có bọ gậy Aedes trong dụng cụ chứa nước 50
Bảng 3.5 Tỷ lệ dụng cụ chứa nước có bọ gậy trong và ngoài nhà 51
Bảng 3.6 Số lượng bọ gậy, quăng Aedes tại DCCN có bọ gậy 54
Bảng 3.7 Các chỉ số bọ gậy, qăng Aedes 56
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa nhà sử dụng hóa chất và nhà có muỗi 65
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa nhà có thói quen trữ nước và nhà có bọ gậy 66
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa nhà có muỗi và nhà có bọ gậy 66
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa nhà vệ sinh thông thoáng và nhà có muỗi 67
Trang 7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 1.1 Muỗi Aedes trưởng thành 15
Hình 1.2 Vòng đời của muỗi Aedes Nguồn: Khoa Côn trùng kiểm dịch 16
Viện Pasteur-Nha Trang 16
Hình 1.3 Hình ảnh và điểm phân loại bọ gậy Aedes aegypti và Aedes albopictus Nguồn: Khoa côn trùng-kiểm dịch, Viện Pasteur-NT 18
Hình 1.4 Chu kỳ tiêu sinh máu và phát triển trứng trong cơ thể muỗi 19
Hình 1.5 Chu kỳ và sự lây nhiễm vi rút sốt xuất huyết Dengue 21
Biểu đồ 1.1 Số ca mắc bệnh SXHD cả nước phân theo khu vực năm 2020 10
Biểu đồ 1.2 Tình hình ca mắc SXHD Khu vực miền Trung giai đoạn 2016 - 2020 11
Biểu đồ 1.3 Số ca mắc bệnh SXHD của tỉnh Khánh Hòa năm 2016 – 2020 12 Biểu đồ 1.4 Số ca mắc bệnh SXHD của các xã tại thị xã Ninh Hòa 13
Biểu đồ 3.1 Độ cao trú đậu của muỗi cái Ae Aegypti 40
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ muỗi Aedes thích nghi tại các giá thể 41
Biểu đồ 3.3 Màu ưa thích của muỗi Aedes trên các giá thể 43
Biểu đồ 3.4 Muỗi Aedes bắt được trong và ngoài nhà ở các vị trí 44
Biểu đồ 3.5 Thời điểm hoạt động của muỗi Aedes trong ngày 45
Biểu đổ 3.6 Chủng loại dụng cụ chứa nước tại thị xã Ninh Hòa 48
Biểu đồ 3.7 Ổ bọ gậy nguồn tại 3 xã nghiên cứu 58
Biểu đồ 3.8 Ổ bọ gậy nguồn của Aedes albopictus 59
Biểu đồ 3.9 Ổ bọ gậy nguồn Aedes tại thị xã Ninh Hòa 60
Trang 8
MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 5
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 6
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
5 CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE 8
1.1.1 Định nghĩa bệnh sốt xuất huyết Dengue 8
1.1.2 Đặc điểm của bệnh sốt xuất huyết Dengue 8
1.1.3 Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới 8
1.1.4 Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam 10
1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH THÁI CỦA MUỖI VÀ BỌ GẬY AEDES 13
1.2.1 Đặc điểm và sự phân bố muỗi Aedes aegypti 13
1.2.2 Muỗi Aedes albopictus 14
1.2.3 Phân loại khoa học của muỗi Aedes trong ngành chân đốt 15
Trang 91.2.4 Vòng đời của muỗi Aedes 16
1.2.5 Hoạt động hút máu, trú đậu, tiêu máu, tìm nơi đẻ trứng 18
1.2.6 Sự liên quan giữa tiêu máu và phát triển trứng 20
1.3 KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VÀ TĂNG CƯỜNG TRUYỀN CỦA MUỖI AEDES 21
1.4 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN Ổ BỌ GẬY VÀ MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE 22
1.4.1 Biến đổi khí hậu 22
1.4.2 Môi trường và xã hội hóa các vùng miền 22
1.4.3 Liên quan đến cá nhân và hộ gia đình 23
1.5 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC THUỘC LĨNH VỰC ĐỀ TÀI 23
1.5.1 Ngoài nước 23
1.5.2 Trong nước 24
1.6 GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 26
1.6.1 Vị trí địa lý 26
1.6.2 Đặc điểm địa hình 26
1.6.3 Khí hậu 26
1.6.4 Hệ thống sông và nguồn nước 26
CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 27
2.2 NGUYÊN LIỆU 27
2.2.1 Vật liệu thí nghiệm 27
2.2.2 Phòng thí nghiệm 27
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 28
Trang 102.3.2 Thiết kế nghiên cứu 28
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu 28
2.3.4 Xác định cỡ mẫu (mục tiêu 1) 29
2.3.5 Xác định cỡ mẫu (mục tiêu 2) 30
2.3.6 Kỹ thuật điều tra bọ gậy và muỗi trưởng thành (theo Quyết định 3711/2014- Bộ Y tế) 31
2.3.7 Thực nghiệm 33
2.3.8 Phương pháp xử lý số liệu 34
2.3.9 Kiểm soát sai số 34
2.3.10 Đạo đức trong nghiên cứu: 35
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH THÁI CỦA MUỖI TRUYỀN BỆNH SXHD 36
3.1.1 Thành phần muỗi thu được 36
3.1.2 Các chỉ số đánh giá về muỗi Aedes 38
3.1.3 Độ cao trú đậu của muỗi Aedes 40
3.1.4 Giá thể ưa thích trú đậu của muỗi Aedes 41
3.1.5 Màu sắc thích nghi của muỗi Aedes 43
3.1.6 Phạm vi hoạt động của muỗi Aedes 44
3.1.7 Thời gian muỗi Aedes hoạt động trong ngày 45
3.1.8 Chu kỳ sinh thực của muỗi Ae aegypti 46
3.2 XÁC ĐỊNH Ổ BỌ GẬY NGUỒN CỦA MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 48
3.2.1 Phân bố chủng loại dụng cụ chứa nước tại thị xã Ninh Hòa 48
3.2.2 Dụng cụ có bọ gậy Aedes trong dụng cụ chứa nước tại điểm nghiên cứu 50
3.2.3 Dụng cụ chứa nước có bọ gậy Aedes trong và ngoài nhà 51
Trang 113.2.4 Số lượng bọ gậy/quăng Ae aegypti so với Ae albopictus 54
3.2.5 Các chỉ số bọ gậy và quăng Aedes 56
3.2.6 Ổ bọ gậy nguồn muỗi Aedes tại 3 điểm nghiên cứu 58
3.2.7 Ổ bọ gậy nguồn tại huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa 60
3.3 MỘT SỐ MỐI LIÊN QUAN ĐẾN MUỖI VÀ BỌ GẬY AEDES TẠI THỊ XÃ NINH HÒA 65
3.3.1 Mối liên quan giữa nhà sử dụng hóa chất và nhà có muỗi Aedes 65
3.3.2 Mối liên quan giữa nhà có thói quen trữ nước và nhà có bọ gậy 66
3.3.4 Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy và nhà có muỗi 66
3.3.5 Mối liên quan giữa nhà vệ sinh thông thoáng và nhà có muỗi 67
3.4 ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ TRONG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 68
3.4.1 Ưu điểm 68
3.4.2 Hạn chế đề tài 69
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
4.1 KẾT LUẬN 70
4.2 KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC
Trang 12Việt Nam được xác định là một trong 8 nước đứng đầu khu vực Đông Nam châu Á và thế giới về tỷ lệ mắc và chết do bệnh sốt xuất huyết Dengue Bệnh lưu hành rộng rãi ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và duyên hải miền Trung, bệnh không chỉ xuất hiện ở các khu đô thị mà cả vùng nông thôn và những năm đây gần đây ca mắc SXHD gia tăng ở các huyện miền núi,
là một trong 10 bệnh truyền nhiễm gây dịch có tỷ lệ mắc cao nhất ở nước ta [1, 2] Tại miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, nhiều năm qua tỉnh có
ca mắc cao nhất khu vực vẫn là Khánh Hòa, trong đó thị xã Ninh Hòa là 1 trong 9 huyện/thị có số mắc cao liên tục của tỉnh trong nhiều năm qua [3] Các chỉ số muỗi và bọ gậy truyền bệnh SXHD ở đây luôn luôn ở mức báo động, mặc dù đã triển khai nhiều biện pháp can thiệp như: phóng thả tác nhân sinh học cá bảy màu, chế phẩm Abate/Sumilarv, phun chủ động và các chiến dịch diệt lăng quăng thường xuyên… nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả theo mong muốn trong việc làm giảm số lượng ca bệnh và quần thể véc tơ truyền bệnh
Việc nghiên cứu tìm các giải pháp nhằm kiểm soát các dụng cụ chứa nước có lăng quăng/bọ gậy và muỗi trưởng thành đang hoạt động mang vi rút trong cơ thể của chúng ở những địa phương là rất cần thiết để ngăn chặn các
vụ dịch sốt xuất huyết Dengue hiện nay Tuy nhiên, công tác phòng chống dịch bệnh vẫn còn nhiều tồn tại liên quan đến nhiều vấn đề như: biến đổi khí
Trang 13hậu, thay đổi hạ tầng cơ sở, thói quen tích trữ nước, giao lưu của người dân và
sự thích ứng của véc tơ truyền bệnh đã làm cho công tác phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue ngày càng khó khăn hơn Để phòng chống sốt xuất huyết có hiệu quả hơn, việc xác định một số đặc điểm sinh học sinh thái và ổ
bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue là rất cần thiết trong việc tìm ra các giải pháp hợp lý, từ đó giúp địa phương phòng chống và kiểm soát quần thể muỗi tốt hơn trong việc ngăn chặn các vụ dịch sốt xuất huyết Do đó, đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái và ổ bọ gậy nguồn của của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue tại huyện Ninh Hòa-Khánh Hòa năm 2021” đã được thực hiện
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Mô tả một số đặc điểm sinh học sinh thái của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa năm 2021
Xác định ổ bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại địa điểm nghiên cứu
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại hộ gia đình bao gồm khu vực trong nhà và khu vực xung quanh nhà, vườn cây
Bọ gậy/lăng quăng Aedes aegypti và Aedes albopictus tại hộ gia đình
bao gồm các dụng cụ chứa nước sinh hoạt, phế thải trong và ngoài nhà
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Cung cấp bổ sung cập nhật thông tin về sinh học sinh thái của muỗi truyền bệnh SXHD tại huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà
Xác định ổ bọ gậy nguồn và sự thay đổi ổ bọ gậy nguồn theo thời gian của muỗi truyền bệnh SXHD tại điểm nghiên cứu
Cơ sở đề xuất các biện pháp diệt bọ gậy/lăng quăng, đảm bảo công tác tuyên truyền, phòng chống bệnh SXHD thích hợp, hiệu quả cho từng giai đoạn theo mùa trong năm
Trang 145 CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH
- Điều tra một số đặc điểm sinh học sinh thái muỗi truyền bệnh SXHD bao gồm nơi trú đậu, giá thể, độ cao ưa thích và thời gian hoạt động hút máu
- Điều tra bọ gậy truyền bệnh SXHD trong các dụng cụ chứa nước trong và ngoài nhà (vườn) nhằm xác định ổ bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh SXHD
- Tìm hiểu một số mối liên quan đến tập tính sinh học của muỗi và bọ
gậy Aedes
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE
1.1.1 Định n hĩa b nh sốt xuất hu ết Den ue
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): Bệnh sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm nhóm B do vi rút họ Flaviviridae, với 4 típ huyết thanh DEN- 1, DEN- 2, DEN- 3, DEN- 4 Vi rút Dengue được truyền bởi muỗi
Aedes từ người bệnh có virus Dengue sang người lành thông qua việc hút máu
[4] Người bị nhiễm vi rút Dengue có thể không có triệu chứng hoặc biểu hiện lâm sàng nhẹ, hoặc tình trạng xuất huyết nặng, sốc và dẫn đến tử vong
1.1.2 Đặc điểm của b nh sốt xuất hu ết Den ue
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp ở người, mọi lứa tuổi đều có thể mắc SXHD Sau khi nhiễm một típ vi rút Dengue, người bệnh sẽ có miễn dịch suốt đời đối với típ vi rút đó, có miễn dịch tạm thời một phần với típ khác, nhưng không bền vững, họ có thể nhiễm típ khác và có nguy cơ bị nặng hơn Cần nghi ngờ mắc SXHD khi có triệu chứng sốt cao kèm theo 2 trong số các triệu chứng sau đây: đau đầu nặng, đau sau hốc mắt, đau cơ khớp, chóng mặt, nôn mửa, da xung huyết hoặc nổi ban Sốt thường kéo dài từ 2 đến 7 ngày, sau thời gian ủ bệnh từ 4 đến 10 ngày sau khi bị muỗi mang bệnh đốt
SXHD nặng là một biến chứng có thể gây tử vong vì rò rỉ plasma, ứ dịch, suy hô hấp, chảy máu nặng, hoặc suy tạng Các dấu hiệu cảnh báo xuất hiện 3 đến 7 ngày sau những triệu chứng đầu tiên, kèm với hiện tượng nhiệt
độ cơ thể giảm và bao gồm: đau bụng dữ dội, nôn mửa, thở gấp, xuất huyết, mệt mỏi, bứt rứt và nôn ra máu Trong vòng 24 đến 48 giờ tiếp theo của giai đoạn quan trọng này có thể gây ra tử vong, sự chăm sóc y tế chuẩn mực là điều cần thiết để tránh các biến chứng và nguy cơ tử vong [5]
1.1.3 Tình hình b nh sốt xuất hu ết Den ue tr n thế iới
Vào năm 1897, vụ dịch SXHD đầu tiên được ghi nhận ở Úc và một bệnh xuất huyết tương tự cũng được ghi nhận tại Hy Lạp trong năm 1928 và tiếp theo
là vụ dịch ở Đài Loan năm 1931 Tuy nhiên, phải đến năm 1953-1954 thì một vụ dịch SXHD được ghi nhận đầu tiên ở Philippines Từ đó, nhiều vụ dịch SXHD
Trang 16lớn đã xảy ra ở hầu hết các nước Đông Nam Á, với tỷ lệ tử vong cao, bao gồm
cả Ấn Độ, Indonesia, Maldives, Myanma, Sri Lanka, Thái Lan và các nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương như Singapore, Malaysia, New Caledonia, Palau, Philippines, Tahiti và Việt Nam.Hiện nay dịch SXHD đã lan rộng ra 128 quốc gia ở Nam Mỹ, Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương vào năm 2018 Trong đó khu vực Nam Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương chiếm 75% số ca bệnh SXHD Hàng năm có khoảng 390 triệu người mắc SXHD trên toàn cầu, trong trong vòng 10 năm (2010-2020), số ca mắc SXHD tăng từ 2,2 triệu người lên 3,6 triệu người [1, 6] Nghiên cứu của Salles (2018) cho thấy
tỷ lệ các ca sốt xuất huyết nặng ở khu vực Đông Nam Á cao gấp 18 lần so với khu vực Châu Mỹ [7] Theo tác giả Lee (2017) đã nhận định Philippines, Malaysia, Việt Nam là những nước có tỷ lệ mắc SXHD cao nhất trong khu vực, với tình hình SXHD trên thế giới diễn biến phức tạp, bệnh SXHD ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, kinh tế và xã hội, đặc biệt là các nước thuộc vùng SXHD lưu hành cao như Việt Nam [8]
Theo báo cáo ngày 13/8/2020 của Tổ chức y tế thế giới (WHO), nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới vẫn tiếp tục ghi nhận số mắc và tử vong cao
Bản 1.1 Số ca mắc SXHD tại các Quốc gia trên thế giới
2 Philippines 55.160 200
3 Singapore 21.834 17
6 Việt Nam 43.210 07
Khu vực châu Mỹ La Tinh 7 Brazil 1.330.245 465
8 Paraway 220.234 73
9 Bolivia 83.533 19
10 Argentina 79.775 25
11 Colombia 67.560 36
12 Mexico 55.048 28
(Nguồn: Cục y tế dự phòng – Bộ Y tế htps://vncdc.gov.vn/files/article_attachment/2020/9/2-cuc-ytdp-hoi-nghi-sxhd-2020)
Trang 171.1.4 Tình hình b nh sốt xuất hu ết Dengue tại Vi t Nam
Biểu đồ 1.1 Số ca mắc bệnh SXHD cả nước phân theo khu vực năm 2020
(Nguồn: Cục y tế dự phòng – Bộ Y tế) Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho sự
phát triển của muỗi Aedes, vì vậy bệnh SXHD đang là một trong các bệnh
truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất hiện nay Bệnh SXHD xảy ra trước năm 1990, lúc đó những vụ dịch mang tính chất chu kỳ với khoảng cách trung bình 3 - 4 năm Sau năm 1990, bệnh xảy ra liên tục với cường độ và quy
mô ngày một gia tăng hơn Trong năm 1987, đã có 354.000 trường hợp mắc SXHD và hơn 1.500 trường hợp tử vong [9] Sau đó trận dịch lớn thứ hai vào năm 1998, cả nước ghi nhận số trường hợp mắc là 234.920 và 377 trường hợp
tử vong, tỉ lệ mắc/100.000 dân là 306 và tỉ lệ chết/mắc là 0,19% Giai đoạn từ 1999-2003, số mắc trung bình hàng năm đã giảm chỉ còn 36.826 ca mắc và tử vong trung bình là 66 trường hợp [10, 11] Năm 2010 số ca mắc được ghi nhận 128.710 trường hợp và 109 bệnh nhân đã tử vong [12] Trong những năm gần đây, chu kỳ dịch SXHD diễn biến phức tạp với tỉ lệ mắc SXHD/100.000 dân từ năm 2011 đến năm 2020 có xu hướng tăng ở khu vực miền Trung và tây Nguyên Tuy nhiên, năm 2017, dịch bệnh bùng phát ở hai thành phố lớn là Hà Nội (14.000 người mắc) và TP.HCM (16.500 người
Trang 18mắc), sau đó lan ra các vùng lân cận Bên cạnh đó bệnh do vi rút Zika cũng là
muỗi Aedes truyền được xem là tình trạng đáng báo động tại Việt Nam trong
năm 2016 và 2017 [13] Vì vậy bệnh sốt xuất huyết Dengue được xếp vào một trong 10 bệnh truyền nhiễm có tỉ lệ mắc và tử vong cao nhất ở Việt nam hiện nay
Biểu đồ 1.2 Tình hình ca mắc SXHD Khu vực miền Trung giai đoạn
2016 – 2020, nguồn: Báo cáo viện Pasteur Nha Trang 1999-2020
Tại 11 tỉnh duyên hải miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, trong đó tỉnh Khánh Hòa thường có số ca mắc cao nhất khu vực Theo thống
kê số liệu của Viện Pasteur Nha Trang từ năm 1999 - 2020 cho thấy chu kỳ dịch sốt xuất huyết tại khu vực miền Trung nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng khoảng thời gian từ 4-5 năm có một vụ dịch SXHD và đỉnh dịch sau có
xu hướng cao hơn đỉnh dịch trước [3] Tại tỉnh Khánh Hòa ca mắc SXHD hàng năm luôn luôn đứng đầu khu vực, trong đó huyện Ninh Hòa là một trong
9 huyện thị có ca mắc cao Trong những năm gần đây huyện Ninh Hòa liên tục ghi nhận dịch xảy ra với số mắc cao và được xác định là vùng trọng điểm
về bệnh SXHD của tỉnh Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh ở người thị xã Ninh Hòa, dịch sốt xuất huyết trên địa bàn thị xã diễn biến phức tạp; tính từ đầu năm 2020 đến (tháng 11/2020) huyện đã có hơn 2.443 ca mắc bệnh sốt xuất huyết với tỷ lệ mắc trong cộng đồng là > 800
Trang 19ca/100.000 dân Dịch sốt xuất huyết phân bố ở hầu hết các xã, phường với
114 ổ dịch, các xã phường có điểm nóng của dịch sốt xuất huyết là: Ninh Thọ, Ninh Đa, Ninh Hiệp, Ninh Quang, Ninh Trung và một số xã khác, chính vì vậy chúng tôi chọn những xã trọng điểm này làm cơ sở nghiên cứu đề tài khoa học
Biểu đồ 1.3 Số ca mắc bệnh SXHD của tỉnh Khánh Hòa năm 2016 – 2020
(nguồn: Báo cáo ca bệnh SXHD của Sở y tế Khánh Hòa)
Trong năm 2020, tại huyện Ninh Hòa lưu hành có 3 típ vi rút D1, D2, D4; bên cạnh đó thời tiết trong năm cũng có nhiều diễn biến thất thường, các cơn mưa xen kẽ nắng nóng, tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi vằn truyền bệnh sốt xuất huyết sinh sôi, phát triển mạnh dẫn đến dịch bệnh gia tăng [14] Ngoài ra, đây cũng là thị xã có tốc độ đô thị hóa rất nhanh, làm môi trường thay đổi theo hướng thuận lợi và tạo điều kiện cho muỗi phát triển Người dân trước đây có tập tính trữ nước ở các dụng cụ lớn như bể xi măng, bể Unicef, xô/thùng 200l Kết quả giám sát các chỉ số côn trùng tại đây luôn luôn ở mức báo động, mặc dù tỉnh Khánh Hòa đã triển khai rất nhiều biện pháp can thiệp trong chương trình mục tiêu Quốc gia về phòng chống sốt xuất huyết Dengue, như phun chống chủ động sốt xuất huyết Dengue, phóng thả tác nhân sinh học, huy động sự tham gia của cộng đồng và học sinh trong phòng chống sốt xuất huyết Dengue… nhưng tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, khó kiểm soát Việc tìm hiểu về đặc điểm sinh học của muỗi và ổ bọ gậy nguồn tại
Trang 20những địa phương có bệnh SXHD lưu hành là rất cần thiết giúp công tác phòng chống và kiểm soát véc tơ truyền bệnh hiệu quả hơn
Biểu đồ 1.4 Số ca mắc bệnh SXHD của các xã tại thị xã Ninh Hòa
(nguồn: Báo cáo của Trung tâm y tế huyện Ninh Hòa)
1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH THÁI CỦA MUỖI VÀ
BỌ GẬY AEDES
1.2.1 Đặc điểm và s phân bố muỗi Aedes aegypti
Ae aegypti phân bố trong vùng nhiệt đới và ôn đới của các Châu lục
(giữa 450
vĩ tuyến Bắc và 350 vĩ tuyến Nam) Độ cao có mặt từ 0 đến 1200 m,
một ít quần thể có mặt đến độ cao 1800m [15] Tại Việt Nam, muỗi Aedes
phân bố ở hầu hết các tỉnh/thành phố, tuy nhiên mật độ cao và chiếm ưu thế
hơn ở các tỉnh miền Nam, miền Trung và Tây nguyên Tại miền Bắc Ae aegypti chủ yếu tập trung ở thành phố, đến các đồng bằng ven biển và các
làng mạc gần đường giao thông [16] Thường là những nơi có dân cư đông đúc, có nhiều dụng cụ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, mặt khác do biến đổi khí hậu và tốc độ kinh tế đang phát triển nên việc đô thị hóa không đồng bộ như; cấp thoát nước chưa đầy đủ, vệ sinh môi trường kém, sự chủ quan của
một số người dân đã làm cho vùng phân bố của Ae aegypti ngày càng mở rộng Muỗi Ae aegypti trưởng thành rất dễ nhận biết, với kích thước trung
bình, chân và bụng có các khoang đen trắng rõ rệt Thân có nhiều vẩy trắng
Trang 21bạc tập trung thành từng cụm hay từng đường trên mình muỗi Vòi không có băng trắng, đỉnh pan trắng Trên mặt lưng ngực có hai đường vẩy màu trắng bạc phình ra, như hai nửa vòng cung ôm hai bên lưng như hình đàn lia Trên mặt lưng bụng ở gốc các đốt II đến VIII đều có những đường vẩy ngang từng đốt, gốc các đốt bàn chân sau có những khoang trắng, riêng đốt bàn chân thứ
V trắng hoàn toàn, nên thường gọi là muỗi vằn [6, 17] Ae aegypti sống trong
nhà gần người, thường trú đậu nơi có ánh sáng yếu và có độ cao từ 2 mét trở xuống như, các vật dụng ưa thích như: vải quần áo, chăn màn, túi xách Trên các vật dụng cứng: gầm bàn có người thường làm việc, ghế salon [18] Số liệu thống kê của văn phòng SXHD khu vực miền Bắc, (71%) số muỗi thu thập được đậu trên các vật dụng được làm từ vải, (7%) ngay tại ổ bọ gậy nguồn,
(7%) ở vật dụng làm từ gỗ, (6%) ở dây phơi, còn lại rất hiếm khi muỗi Ae aegypti trú ngụ tại các vật dụng như vách tường, sắt, nhựa và đồ sành [2]
1.2.2 Muỗi Aedes albopictus
Muỗi Ae albopictus hiện nay được xem là loài muỗi xâm lấn cao nhất
trên thế giới, chúng phân bố ở nhiều Châu lục như: Châu Á, châu Mỹ, châu
Âu, Châu Phi và đặc biệt phân bố rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của các Châu lục [19] Ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở vùng nông thôn, thành thị
và hiện nay đã phân bố ở miền núi, nơi có nhiều khu vực cây cối um tùm
Muỗi Ae albopictus trưởng thành có kích thước trung bình, màu đen, toàn
thân có nhiều đốm trắn Đặc điểm nhận dạng ở trên phần lưng ngực có một đường vẩy nhỏ màu trắng xếp lại với nhau tạo thành đường thẳng Chúng thích đẻ trứng ở các dụng cụ chứa nước ngoài nhà và trứng có khả năng chịu
hạn tốt và tồn tại nhiều tháng qua mùa đông lạnh Muỗi Ae albopictus trưởng
thành có đặc điểm sống và thích nghi ở ngoài nhà, ít khi bay vào nhà để hút
máu, chính vì vậy vai trò truyền bệnh của chúng ít hơn muỗi Ae aegypti [20] Muỗi Ae albopictus có khả năng phát tán xa hơn so với Ae aegypti, trung bình của muỗi cái Ae aegypti và Ae albopictus tương ứng là 35,3m và 50,6m
từ điểm phóng thả trong vòng 7 ngày và khả năng phát tán tối đa trung bình
150m, trong nhiều nghiên cứu cho thấy muỗi cái trưởng thành Ae aegypti và
Ae albopictus tương ứng là 100m và 180m [4, 21]
Trang 22Muỗi Aedes thường đẻ trứng ở những nơi nước sạch chứa trong lu vại,
bể, lọ hoa, phuy nước, chậu cây cảnh, chai lọ, vỏ dừa, lốp ô tô cũ, máng nước, hoặc ở các hốc cây, kẽ lá…trong và chung quanh nhà những nơi râm mát, bọ gậy ưa nước có độ pH hơi axít, nhất là nước mưa Chúng đẻ trứng rời rạc, từng chiếc một ngay trên hoặc gần sát với mặt nước, nơi có mực nước lên
xuống xung quanh thành vật chứa Muỗi Aedes cũng giống như nhiều giống
và loài muỗi khác giữa con đực và con cái về đặc điểm dinh dưỡng Để sống
và phát triển con cái phải hút máu (người, động vật), còn con đực không hút máu mà chỉ hút nước, nhựa cây hay dịch hoa quả để tồn tại và phát triển Tuổi
thọ trung bình của muỗi Aedes khoảng 25-30 ngày ở ngoài tự nhiên và 30 –
40 ngày (phòng thí nghiệm) [22, 23]
Hình 1.1 Muỗi Aedes trưởng thành
Nguồn: Khoa Côn trùng kiểm dịch Viện Pasteur-Nha Trang
1.2.3 Phân loại khoa học của muỗi Aedes tron n ành chân đốt
Trên thế giới có khoảng 3.000 loài muỗi được chia thành 39 giống và
135 phân giống Giống Aedes (Diptera: Culicidae) có khoảng 700 loài và chia thành nhiều phân giống trong đó có hai phân giống Aedes và Stegomyia Ở Viêt Nam có hai loài muỗi Aedes là Aedes aegypti và Aedes albopictus [24]
xuất hiện phổ biến được phân loại theo bậc như sau:
Trang 231.2.4 Vòn đời của muỗi Aedes
Hình 1.2 Vòng đời của muỗi Aedes Nguồn: Khoa Côn trùng kiểm dịch
Viện Pasteur-Nha Trang Vòng đời của muỗi trải qua 4 giai đoạn phát triển: trứng, lăng quăng/bọ gậy, quăng (nhộng) và muỗi trưởng thành Giai đoạn trứng, bọ gậy và quăng ở dưới nước và khi thành muỗi trưởng thành chúng sống tự do trên môi trường [25]
Giai đoạn trứng: Muỗi đẻ trứng ở thành dụng cụ nơi mặt nước dao
động, trứng muỗi Aedes có màng dày và chúng đẻ riêng lẽ từng quả một Mỗi
Trang 24lần đẻ khoảng 50-100 trứng và gặp điều kiện thích hợp thì khoảng 2-3 ngày là
chúng nnỏ ra bọ gậy Trứng muỗi Aedes có tính kháng cao và có thể tồn tại
trong tự nhiên từ 2-3 năm và có thể sống sót từ mùa khô đến mùa mưa và chỉ cần có ít nước, trứng có thể nở thành bọ gậy, sau đó phát triển thành quăng rồi muỗi trưởng thành trong một thời gian ngắn [26]
Giai đoạn bọ gậy: Giai đoạn này, bọ gậy trải qua 4 lần lột xác từ tuổi 1
đến tuổi 4 và thời gian kéo dài 4 - 8 ngày, sau mỗi lần lột xác bọ gậy phát triển lớn dần lên Từ tuổi 1 đến tuổi 3 bọ gậy hoạt động liên tục để tìm kiếm thức ăn như những sinh vật: vi tảo, đơn bào và một số chất hữu cơ… Chúng hô hấp bằng cách di chuyển lên mặt nước để lấy ôxi Đối với môi trường nhiều chất hữu cơ như nước cống thì hoàn toàn không thích hợp với chúng, chúng ưa thích loại nước có độ pH hơi acid, thích nhất là nước mưa, nước máy, nước giếng Bọ gậy không thể sống ở nhiệt độ dưới 10OC hay trên 45O
C [21]
Giai đoạn quăng/nhộng: trong lần lột xác thứ 4 bọ gậy phát triển tiếp
qua giai đoạn nhộng/quăng Nhộng có hình dấu phẩy, thường nỗi lên trên mặt nước xung quanh thành vật chứa và di chuyển nhanh xuống đáy mỗi khi có tiếng động nhẹ Thời gian phát triển của quăng khoảng 2 - 3 ngày
Giai đoạn muỗi trưởng thành: muỗi trưởng thành sẽ chui ra khỏi xác
nhộng từ một vết nứt ở dọc lưng và chúng đậu trên xác quăng từ 1-2h Muỗi đực
và muỗi cái có nhiều điểm khác nhau, râu muỗi đực rậm, râu muỗi cái thưa hơn Muỗi cái thường chỉ giao phối một lần nhưng đẻ trứng suốt đời, để thực hiện được chức năng này muỗi cái cần phải đốt máu nhiều lần Sau khi muỗi cái hút máu và hoàn thành giai đoạn tiêu máu thì muỗi cái tìm nơi thích hợp để đẻ trứng Sau khi đẻ trứng, muỗi lại bay đi tìm mồi hút máu và hình thành chu kỳ mới, trong thời gian trú đậu và tiêu sinh máu được gọi là chu kỳ sinh thực
Trong điều kiện bình thường, muỗi cái sống khoảng 2 tháng chúng đẻ trung bình khoảng 6 đến 8 lần và tỷ lệ sống sót của muỗi khoảng 50% Trong phòng thí nghiệm, muỗi sống lâu hơn, có thể tới 3 tháng Muỗi đực sau khi giao phối chúng sống được một thời gian khoảng 10 đến 15 ngày Như vậy muỗi cái sống lâu hơn muỗi đực và nguy cơ nhiễm bệnh và truyền bệnh sẽ cao hơn [21]
Trang 25Hình 1.3 Hình ảnh và điểm phân loại bọ gậy Aedes aegypti và Aedes
albopictus Nguồn: Khoa côn trùng-kiểm dịch, Viện Pasteur-NT
1.2.5 Hoạt độn hút máu, trú đậu, ti u máu, tìm nơi đẻ trứn
Thời kỳ tìm mồi hút máu: Thường vào buổi sáng sớm hoặc sẩm tối thì muỗi tìm mồi hút máu, muỗi có thể đi kiếm ăn xa hơn 200 m và thường bay ngược chiều gió Muỗi nhận biết vật chủ bằng mắt hoặc bằng khứu giác, nó bay tới đậu và cắm vòi sâu khoảng 0,4mm Ở nhiệt độ khoảng 200C thì muỗi đốt no máu trong khoảng 2 phút, nếu nhiệt độ lạnh thì thời gian đốt kéo dài hơn, trong quá trình đốt máu nếu thấy có sự động tĩnh nó bay lên và thực hiện lại nhiều lần cho đến khi no máu, muỗi thường thích đốt máu trẻ em nhiều hơn là người già [17]
Trú đậu, tiêu máu và phát triển trứng (chu kỳ sinh thực): Sau khi hút máu
no muỗi tìm nơi trú đậu và tiêu sinh máu, muỗi thường trú ở nhiệt đổ ẩm và ánh sáng thích hợp, tùy vào loài ưu thích ở trong hoặc ngoài nhà Chu kỳ tiêu sinh được nhiều tác giả nghiên cứu về thời gian tiêu sinh phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và thời gian ngắn nhất của chu kỳ là 3, 4 ngày ở 810F, hoặc có có thể ngắn hơn ở 73 và 840F Một số muỗi cái Aedes aegypti và Aedes albopictus có
thể hút máu nhiều lần trong một chu kỳ tiêu sinh [2], [17] Số lượng trứng đẻ của
Trang 26muỗi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hút chưa đủ lượng máu, độ trưởng thành
của cơ thể [17] Một số nghiên cứu cho thấy Aedes aegypti chỉ có thể đẻ trứng
nếu hút được 0,82mg máu lần đầu và 0,5mg ở những chu kỳ sau và trọng lượng
cơ thể ảnh hưởng đến số lượng trứng đẻ, đặc biệt đối với muỗi nở ra từ bọ gậy đói [27] Mỗi chu kỳ sinh thực gồm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Muỗi đói tìm vật chủ
+ Giai đoạn 2: Tiêu máu và phát triển trứng
+ Giai đoạn 3: Muỗi đi đẻ
Chu kỳ tiêu sinh gồm 7 giai đoạn (gọi là 7 sella)
Thời kỳ đẻ trứng: Khi trứng chín muỗi bay đi tìm chỗ đẻ, nó có thể bay vài chục mét đến vài trăm mét và tìm chỗ thích hợp để đẻ trứng Trước khi đẻ muỗi có tập tính cho chân và vòi xuống nước để thăm dò nhiệt độ, độ
ẩm của nước và nồng độ muối, độ chảy của nước, các thực vật thủy sinh hay các chất hữu cơ trong nước Khi chọn được dụng cụ thích hợp muỗi bay lên lao xuống bám sát vào thành dụng cụ và bắt đầu thực hiện chu trình đẻ trứng Nhiều tác giả khác quan tâm tới nơi con cái đẻ trứng, thấy rằng con cái có sự lựa chọn màu sắc và chủng loại dụng cụ chứa nước, chất lượng nước, độ chiếu sáng và thành phần hóa học hòa tan trong nước [26]
Hình 1.4 Chu kỳ tiêu sinh máu và phát triển trứng trong cơ thể muỗi
(nguồn: Tài liệu tập huấn Khoa Côn trùng-Kiểm dịch, Viện Pasteur Nha Trang)
Trang 271.2.6 S li n quan iữa ti u máu và phát triển trứn
Quá trình phát triển của trứng: theo hệ Christopher-Mer [6]
Christopher 1: Các tế bào của mầm trứng chƣa phát triển, có màu trong Christopher 2: Các tế bào trứng phát triển chất cấu tạo trứng và chiếm gần nửa trứng
Christopher 3: Chất cấu tạo trứng chiếm quá nửa bao trứng
Christopher 4: Chất cấu tạo trứng chiếm gần hết bao trứng
Christopher 5: Trứng hoàn chỉnh, sẵn sàng để có thể đi đẻ
Chu kỳ ti u sinh hòa hợp:
Sella 1 ứng với Christopher 1
Sella 2 ứng với Christopher 2
Sella 3 ứng với Christopher 3
Sella 4 ứng với Christopher 4
Sella 5 ứng với Christopher 4
Sella 6 ứng với Christopher 5
Sella 7 ứng với Christopher 5
Tính chu kỳ sinh thực bằng công thức sau:
Thời gian tiêu máu và phát triển trứng
M: là thời gian tiêu máu và phát triển trứng
t: Thời gia trung bình suốt thời gian tiêu máu
37: Tổng nhiệt lƣợng cần thiết
9: Nhiệt độ tối thiểu để tiêu máu và phát triển trứng
Trang 281.3 KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VÀ TĂNG CƯỜNG TRUYỀN CỦA
MUỖI AEDES
Hình 1.5 Chu kỳ và sự lây nhiễm vi rút sốt xuất huyết Dengue
(nguồn Viện sốt rét KST-CT TP Hồ chí Minh)
Muỗi Aedes rất nhanh và rất nhạy cảm, có thể ngừng hút máu khi nhận
thấy một chuyển động nhỏ và sau đó trở lại để tiếp tục hút máu con người, chính hành vi này khiến một con muỗi vằn cái có thể đốt nhiều người trong một lần hút máu và truyền vi rút Dengue cho nhiều người trong một khoảng thời gian ngắn, ngay cả khi muỗi mới chỉ cắm vòi vào da và chưa kịp hút máu Khi đốt người bị bệnh sốt xuất huyết Dengue, vi rút Dengue sẽ nhiễm vào tế bào muỗi Trong thời gian ủ bệnh từ 5-10 ngày, vi rút Dengue nhân lên trong cơ thể muỗi và chúng có khả năng truyền sang rất nhiều người khác trong cộng đồng thông qua vết đốt tiếp theo Khi đó, vi rút Dengue sẽ truyền
từ cơ thể muỗi qua tuyến nước bọt của muỗi vào máu của người bị đốt So
sánh với Aedes aegypti thì khả năng Aedes albopictus sống lâu hơn, bán kính bay lớn hơn và có thể hoạt động cả ngày lẫn đêm, mặt khác Aedes albopictus lại tăng sức đề kháng tốt hơn Aedes aegypti Đối với muỗi Aedes aegypti không có khả năng truyền vi rút cho trứng trong khi muỗi Aedes albopictus thì có khả năng này [28]
Trang 291.4 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN Ổ BỌ GẬY VÀ MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE
1.4.1 Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự nóng lên toàn cầu dẫn đến sự thay đổi các miền
và các đới khí hậu, đồng thời ảnh hưởng đến độ ẩm, nhiệt độ trung bình năm, lượng mưa tại tất cả các nơi trên thế giới Những yếu tố quan trong này là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sự phát triển của quần thể muỗi truyền bệnh
sốt xuất huyết Dengue, chính là muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus Các
nhà nghiên cứu dự đoán rằng với mật độ sinh sản của véc tơ hiện nay, phạm
vi và số lượng các vụ dịch sốt xuất huyết sẽ gia tăng trên toàn cầu, đặc biệt là các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Biến đổi khí hậu sẽ làm gia tăng hiện tượng hạn hán, nắng nóng ở nhiều nơi và sau đó thường xảy ra các vụ dịch sốt xuất huyết sẽ bùng phát mạnh hơn, có thể giải thích hiện tượng này là do sau hạn hán miễn dịch của con người với sốt xuất huyết bị suy giảm nên dễ nhiễm bệnh hơn, đồng thời sau hạn hán sẽ có mưa ẩm tăng lên, thói quen tích trữ nước trong bể, chum/vại của người dân ở nhiều vùng làm gia tăng mật độ
muỗi Aedes truyền bệnh [1, 29] Điển hình năm 2016 dịch sốt xuất huyết bùng
phát mạnh tại miền Nam và Tây Nguyên, nơi chịu ảnh hưởng lớn của El Nino
và miền Bắc năm 2017 tại thủ đô Hà Nội [13]
1.4.2 Môi trườn và xã hội hóa các vùn miền
Yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt về ổ bọ gậy nguồn là tập quán tích trữ nước của người dân và tình trạng cung cấp nước sạch ở các vùng khác nhau Qua nghiên cứu nhiều tác giả cũng cho thấy ổ bọ gậy nguồn sẽ thay đổi
do tác động của hoạt động phòng chống SXHD, của ngành y tế và chính quyền địa phương [30] Tại thành phố, đô thị mật độ dân cư cao, nhà cửa chật hẹp và liền kề nhau sẽ tạo các ngóc ngách cho muỗi trú đậu, sinh sôi phát triển Các vùng ở nông thôn hoặc thành thị nhiều nơi tình trạng môi trường thiếu vệ sinh, việc sử dụng các vật chứa dưới dạng phế thải không phân hủy như (chai/lọ, lốp xe cũ, lọ hoa, đồ mỹ nghệ…) cho phép sự tích tụ của nước được tồn tại thường xuyên hơn Những thân, hóc cây lớn, bể xi măng và một
Trang 30số nhà máy thường xuyên hoạt động cũng tạo nên mạch nước lưu trữ hàng
ngày và đây là môi trường thuận lợi cho muỗi Aedes sinh sản Ở nhiều nơi, hệ
thống y tế chưa phát triển, khả năng tuyên truyền cảnh báo, phòng trừ dịch bệnh không hiệu quả cũng là một nguyên nhân khiến tỷ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue không thể giảm xuống Các phương tiện vận chuyển nhanh chóng cho con người và hàng hóa đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây ra dịch trên thế giới Việc khách du lịch quốc tế từ nơi này sang nơi khác có thể tạo thuận lợi cho việc lây lan dịch bệnh đến các khu vực mới [31]
1.4.3 Li n quan đến cá nhân và hộ ia đình
Các nghiên cứu về ổ bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh SXHD cho thấy, các yếu tố liên quan đến quần thể bọ gậy và muỗi muỗi truyền bệnh SXHD là vệ sinh trong nhà, vệ sinh ngoại cảnh tại hộ gia đình, cấu trúc nhà ở, kiến thức và thực hành của người dân về phòng chống bệnh SXHD Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Nhật Cảm (2001) đã kết luận; việc vệ sinh trong gia đình và vệ sinh ngoại cảnh có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng nhà có bọ gậy Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, vệ sinh trong nhà đạt, không có
bọ gậy là 85% Gia đình có vệ sinh trong nhà đạt thì cơ hội không có bọ gậy cao hơn những gia đình có vệ sinh trong nhà không đạt Vệ sinh ngoại cảnh cũng cho kết quả tương tự như vệ sinh trong nhà Gia đình có vệ sinh ngoại cảnh đạt thì cơ hội không có bọ gậy cao hơn những gia đình có vệ sinh ngoại cảnh không đạt [32]
1.5 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC THUỘC LĨNH VỰC ĐỀ TÀI
1.5.1 N oài nước
Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng muỗi Aedes aegypti là
loại muỗi có hoạt động gần gũi với con người, đồng thời là véc tơ chính của bệnh sốt xuất huyết Dengue Năm 1986, Tổ chức y tế thế giới đã đưa ra 17
loại dụng cụ chứa nước có thể là nơi đẻ của muỗi Ae aegypti, trong đó bể
cảnh chiếm tỷ lệ cao nhất [6] Các nghiên cứu ở Bangladesh năm 2015 và Malaysia năm (2016) đã tìm thấy lốp xe và thùng nhựa nhỏ là loại vật chứa
Trang 31chủ yếu cho muỗi Ae aegypti phát triển [33, 34] Trong khi ở Brazil đã tìm
thấy những chậu hoa và các vật chứa bằng đất nung khác là môi trường sống thuận lợi của bọ gậy muỗi vằn [35] Tại Mexico, lốp xe và chai là loại vật
dụng quan trọng nhất đối với sự sinh sản của muỗi Ae aegypti [36]
Tại Đông Nam Á, các nghiên cứu cho thấy Ae aegypti hầu như chỉ đẻ
trứng ở các dụng cụ chứa nước do con người tạo ra Ở những vùng nóng và khô, các bể treo, bể nước ngầm, bể đựng chất thải có thể là những ổ bọ gậy chính Còn ở những khu vực thiếu nước thì các dụng cụ chứa nước sinh hoạt trong các hộ gia đình là những ổ bọ gậy phổ biến [35] Tác giả Linda S Lloyd (2003) đã chỉ ra các thành tố chính cho chương trình kiểm soát và phòng chống sốt xuất huyết bao gồm giám sát dịch tễ học và côn trùng học; phối hợp
và thực hiện các hành động liên ngành; quản lý môi trường và giải quyết các dịch vụ cơ bản như cấp nước, xử lý nước đã qua sử dụng, quản lý chất thải rắn, xử lý lốp xe đã qua sử dụng [36]
1.5.2 Trong nước
Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy nơi sinh sản của muỗi Aedes rất
đa dạng và phong phú về dụng cụ chứa nước Theo nghiên cứu của Vũ Sinh Nam vào năm (1995), ổ bọ gậy nguồn có thể xếp thành 5 loại chính là bể xây, phuy sắt, chum vại sành, xô chậu và các đồ phế thải [2] Trần Vũ Phong và cộng sự (2012-2014) nghiên cứu về quần thể véc tơ tại một số địa phương có biên giới với Lào và Campuchia, cho thấy các dung cụ làm tăng khả năng có
bọ gậy Ae aegypti là; bể cá cảnh, lu/vại, lốp xe, thùng phi và dụng cụ có bọ gậy Ae albopictus chủ yếu là phế thải, lu/vại, lốp xe, bể cá [37] Trần Đắc
Phu và cộng sự (2001) chứng minh ổ bọ gậy nguồn cho cả vùng thành thị và nông thôn là các bể xây, chum vại, giếng và dụng cụ phế thải, trong đó đã
phát hiện ra giếng là ổ bọ gậy của Ae aegypti và cung cấp thêm vào danh
sách chủng loại dụng cụ chứa nước cần giám sát ở các tỉnh phía Bắc [38] Tác giả Trần Công Tú nghiên cứu tại khu du lịch Cát Bà, Hải Phòng năm (2013)
cho thấy bọ gậy Ae aegypti tập trung chủ yếu là lu, phuy nhựa 200 lít và bễ
<1000 lít [39] Theo Lê Trung Kiên tại Diên Khánh, Khánh Hòa 2020, cho thấy muỗi Ae aegypti trú đậu trong nhà 92,2% và muỗi Ae albopictus trú đậu
Trang 32ngoài nhà 95,08% và ổ bọ gậy nguồn được phát hiện chủ yếu ở lọ hoa, chai lọ phế thải và bể cảnh [40]
Khu vực miền Trung, nghiên cứu của Nguyễn Quang Hải (2011) về tình hình sốt xuất huyết tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 – 2010, cho thấy sự
xuất hiện của hai loài muỗi Ae aegypti và Ae albopictus, trong đó Ae aegypti
chiếm tỷ lệ 99,78% [41] Nghiên cứu của Bùi Ngọc Lân năm (2014) về đặc điểm dịch tễ học bệnh SXHD tỉnh Bình Định, kết quả ổ bọ gậy nguồn phổ biến nhất ở Bình Định là dụng cụ phế thải, xô/thùng và chum chứa nước sinh hoạt dưới 100 lít [42] Tại Khánh Hòa nghiên cứu của tác giả Trịnh Công
Thức, Viện Pasteur Nha Trang (2015) cho thấy muỗi Ae albopictus chiếm tỷ
lệ 5,3% và Ae aegypti chiếm tỷ lệ 94,7% [43] Năm 2018 - 2019, kết quả giám sát đã mô tả muỗi Ae aegypti chiếm tỷ lệ cao nhất 51,1%, muỗi Culex quinquefasciatus 46,8%, muỗi Ae albopictus chiếm 0,3% và muỗi khác là
1,8% [44] Nghiên cứu của Bùi Thanh Phú, Viện Pasteur Nha Trang 2018), tại xã Diên An, huyện Diên Khánh đã phát hiện ổ bọ gậy nguồn chủ yếu ở lọ hoa, lốp xe và chậu cây cảnh [45] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Bình, năm 2019 cho thấy kết quả thu thập muỗi tại các ổ dịch SXHD ở khu vực
miền Trung là: Aedes sp có tỷ lệ là (67,3%), Culex sp (23,9%), Armigeres
sp (0,9%), Anopheles sp (8%) Giống muỗi Aedes, Ae albopitus chiếm tỷ lệ 6,7% và Ae aegypti (93,3%) [46] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tài,
Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Khánh hòa cho thấy tỷ lệ tập trung bọ gậy
Ae agypti ở lọ hoa (32,4%), chậu lau nhà (15,9%), vật phế thải (14,1%),
chum vại (10,9%), phuy 8,9%, bể dội cầu (5,62%) [47]
Ở miền Nam, nghiên cứu của Đặng Ngọc Chánh và cộng sự (2011), Mối liên quan giữa véc tơ sốt xuất huyết và biến đổi khí hậu tại 4 xã ven biển tỉnh Bến Tre, Viện Vệ sinh Y tế công cộng TP Hồ Chí Minh, cho thấy bọ gậy
Ae.aegypti có trong 6 loại dụng cụ chứa nước, tập trung ở các kiệu lớn có
dung tích trên 200 lít, lu nhỏ và khạp [48] Nghiên cứu của tác giả Trần Văn
Hai tại tỉnh Đồng Tháp năm (2006) có tỷ lệ tập trung bọ gậy Aedes ở các dụng
cụ chứa nước: vật phế thải, bể nước, hòn non bộ, lu, phuy, chum, bát kê chống kiến, lọ cắm hoa [49]
Trang 331.6 GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.6.1 Vị trí địa lý
Thị xã Ninh Hoà là vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, thuộc
tỉnh Khánh Hoà, nằm về phía Đông vòng cung Bắc Nam của dải Trường Sơn trên toạ độ từ 12020’ - 12045’ độ Vĩ Bắc và từ 105o52’ - 109o20’ độ Kinh Đông phía Đông giáp Biển; phía Tây giáp huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk; Tây Nam giáp huyện Khánh Vĩnh, phía Nam giáp huyện Diên Khánh và thành phố
Nha Trang, phía Bắc giáp huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa [50]
1.6.2 Đặc điểm địa hình
Ninh Hòa có tổng diện tích đất tự nhiên là 119.777 ha, có trên 70% là núi rừng, 0,44% là động cát ven biển Thị xã Ninh Hòa bị chia cắt nhiều bởi núi cao, nhiều dốc và đèo hiểm trở Bờ biển Ninh Hoà có nhiều nơi lồi lõm,
khúc khuỷu, có nhiều cửa sông, cửa lạch nằm sâu trong đất liền [50]
1.6.3 Khí hậu
Mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương nên quanh năm khí hậu ôn hoà Khí hậu có hai mùa, mùa mưa và mùa nắng, Mùa mưa từ tháng 10- tháng 11, còn lại là nắng quanh năm, nhiệt độ trung bình hàng năm là 310
C [50]
1.6.4 H thốn sôn và n uồn nước
Hệ thống sông suối tương đối dày, nhưng phân bố không đều Thị xã Ninh Hòa có hai dạng nước ngầm chính gồm: dạng nước ngầm tồn tại trong trầm tích sông suối, tập trung ở các xã phía Tây và Tây Bắc và dạng nước ngầm tồn tại trong trầm tích sông biển và biển, tập trung ở các xã phía Đông
và Đông Nam của thị xã [50]
Những đặc điểm về địa hình và khí hậu của thị xã Ninh Hòa cho thấy
nơi đây rất phù hợp cho quần thể muỗi Aedes thích nghi và phát triển Chính
vì vậy ca mắc sốt xuất huyết Dengue thường xuyên tăng cao trong những năm gần đây Tuy nhiên, những số liệu báo cáo côn trùng của Trung tâm Y tế thị
xã Ninh Hòa gửi về Viện Pasteur hàng tháng cho thấy các chỉ số tương đối
thấp chưa phát hiện muỗi và bọ gậy Aedes albopictus
Trang 34CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thời gian: Từ tháng 03 đến tháng 09 năm 2021
- Muỗi và bọ gậy thu thập ở các hộ gia đình từ thực địa nghiên cứu
- Mẫu điều tra: Dựa trên mẫu 5D quy định “Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh SXHD” theo quyết định 3711/2014 của Bộ y Tế và có chỉnh sửa để phù hợp trong nghiên cứu (phụ lục 2)
- Ống nghiệm (tuýp bắt muỗi) kích thước 2cm x 20cm, máy bắt muỗi bằng tay có động cơ, đèn pin
- Hóa chất gây mê muỗi: Ete và Clorofor
- Vợt có cán lưu động dài 1m và kích thước mắt lưới 2,0-2,5mm
- Pipet (ống hút có đầu bóp), khay men trắng, dụng cụ đựng bọ gậy
- Kính lúp soi nổi, kính hiển vi, lam kính, lam men, kẹp đầu nhọn
- Khóa định loại bọ gậy/muỗi của Chester J Stojanovich và Harold Georye Scott
Trang 352.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
+ Các tiêu chí loại trừ: Hộ gia đình đóng cửa suốt thời gian dài và
không hợp tác nghiên cứu
Những dụng cụ chứa nước có nắp đậy kín (nắp cố định) như bể ngầm, giếng đóng
Các dụng cụ lật úp được che đậy, nằm dưới mái hiên, trong nhà hoặc đã được thu gom
Dụng cụ có đáy bị chọc thủng, hoặc các dụng cụ không có khả năng trữ nước
2.3.2 Thiết kế n hi n cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.3.3 Phươn pháp chọn mẫu
Bước 1: Chọn 3 xã có bệnh SXHD lưu hành và ca mắc trong vòng 5 năm trở lại đây, có điều kiện cho muỗi phát triển (có các dụng cụ chưa nước trong và xung quanh nhà) bao gồm xã Ninh Phụng, Ninh Quang và xã Ninh Hiệp huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa
Bước 2: Lập danh sách toàn bộ hộ gia đình tại 3 xã được chọn (mỗi xã chọn 3 thôn)
Trang 36Bước 3: Chọn ngẫu nhiên đơn trong danh sách 3 thôn được chọn để điều tra bọ gậy và muỗi trưởng thành
2.3.4 Xác định cỡ mẫu (mục ti u 1)
Công thức tính cỡ mẫu:
Trong đó: n = Cỡ mẫu tối thiểu (số hộ gia đình cần điều tra muỗi)
α = 0,05, với độ tin cậy 95%, vậy Z (1- α/2) = 1,96
P = 0,27 (tỷ lệ hộ gia đình có muỗi là 27%, theo kết quả điều tra muỗi truyền bệnh SXHD tại huyện Ninh Hòa, Viện Pasteur Nha Trang phối hợp cùng Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Khánh Hòa thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Tổ chức Y tế thế giới trong Dự
án xây dựng hệ thống dự báo SXHD tháng 11/2020)
(1-p) = 1 – 0,27 = 0,73
Độ chính xác mong muốn d = 0,05
Áp dụng công thức tính được cỡ mẫu n = 303 Vậy số hộ gia đình cần
điều tra muỗi Aedes là 101 hộ gia đình cho mỗi xã trong mỗi đợt nghiên cứu
+ Các chỉ số đánh giá và phân tích muỗi Aedes (theo WHO và Quyết
Trang 372.3.5 Xác định cỡ mẫu (mục ti u 2).
Áp dụng công thức
Trong đó: n = Cỡ mẫu tối thiểu (số hộ gia đình cần điều tra bọ gậy, DCCN, DCPT)
α = 0,05, với độ tin cậy 95%, vậy Z (1- α/2) = 1,96
P = 0,22 (tỷ lệ hộ gia đình có bọ gậy là 22%, theo kết quả điều tra ổ
bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh SXHD tại huyện Ninh Hòa, Viện Pasteur Nha Trang phối hợp cùng CDC Khánh Hòa thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật
và tài chính của Tổ chức Y tế thế giới trong Dự án xây dựng hệ thống dự báo SXHD tháng 11/2020)
Chỉ số nhà có bọ gậy (HIL%) (CSNCBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ
gậy Aedes/Số nhà điều tra
Chỉ số Breteau (BI) là số DCCN có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều
tra Tối thiểu điều tra 30 nhà, vì vậy BI đƣợc tính nhƣ sau [5]
Trang 38+ Kỹ thuật điều tra muỗi
Mỗi nhóm gồm 3 người (1 điều tra muỗi, 1 điều tra bọ gậy và cán bộ dẫn đường và ghi chép số liệu) Điều tra muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà bằng máy hút cầm tay Cán bộ điều tra vào nhà đi lần lượt từ phòng khách, phòng thờ, phòng ngủ, phòng bếp…một tay cầm đèn pin, tay kia cầm máy hút, quan sát tất cả các giá thể ở trong phòng bao gồm: bàn, ghế, kệ tivi, chăn/mền, áo, quần, võng, mũ, cây thần tài
ở lọ hoa…Khi phát hiện có muỗi, đưa nhẹ nhàng đầu ống lên và hút muỗi vào Ghi chú nhãn riêng rẽ từng con: vị trí, độ cao, giá thể vào mẫu điều tra
Mỗi nhà thực hiện bắt muỗi đậu nghỉ 15 phút [5]
+ Kỹ thuật điều tra bọ gậy
Kỹ thuật điều tra bọ gậy tiến hành song song cùng với điều tra muỗi trong hộ gia đình Điều tra lăng quăng/bọ gậy bằng quan sát, thu thập, ghi nhận ở toàn bộ dụng cụ chứa nước trong và quanh nhà
Giám sát ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn: Phương pháp này dựa vào kết
quả đếm toàn bộ số lượng lăng quăng/bọ gậy Aedes trong các chủng loại dụng
cụ chứa nước khác nhau để xác định nguồn phát sinh chủ yếu và độ tập trung của lăng quăng/bọ gậy đối với từng địa phương theo mùa trong năm hoặc theo từng giai đoạn để điều chỉnh, bổ sung các biện pháp tuyên truyền và phòng chống véc tơ thích hợp [5]
Trang 39Để xác định ổ bọ gậy nguồn đối với các chủng loại dụng cụ chứa nước khác nhau cần tiến hành các phương pháp thu thập và tính toán khác nhau cụ thể là: Đối với Hồ/bể, bi, phuy, chum…có thể tích > 200l: thu thập bằng vợt theo phương pháp vợt vòng quanh thành dụng cụ chứa nước từ trên xuống dưới khoảng 5 vòng, sau đó vợt tiếp một vợt ở giữa Sau khi bắt được bọ gậy/lăng quăng, lộn trái vợt, nhúng đáy vợt vào cốc thủy tinh có nước, đổ cốc
ra khay và đếm số lượng bọ gậy bằng pipet rồi cho tất cả vào lọ Nếu dụng cụ chứa nước lớn mà khả năng không bắt hết được bọ gậy thì sử dụng phương pháp vợt 5 vòng quanh thành dụng cụ và số lượng bọ gậy được tính toán và nhân hệ số theo Tessa Knox (2008), một nghiên cứu của nhà côn trùng học người Úc đã nghiên cứu trong 4 năm (2005-2008) và phát triển thành công kỹ thuật điều tra ổ bọ gậy tại Việt Nam với độ chính xác lên đến 90%, phương pháp này có tên là “Kỹ thuật vợt 5 vòng” và đã được WHO chính thức công nhận [51]
Bản 2.1 Hệ số nhân thu mẫu bọ gậy bằng kỹ thuật vợt 5 vòng [51]
cụ thu thập)
Các mẫu được bảo quản và vận chuyển về phòng thí nghiệm Khoa côn
trùng-Kiểm dịch, Viện Pasteur để định loại Aedes aegypti hay Aedes albopitus
Trang 402.3.7 Th c nghi m
Tất cả các mẫu bọ gậy ở tuổi 1-2 dùng pipet hút riêng ra và cho vào dụng cụ nuôi để tiếp tục nuôi cho đến khi bọ gậy phát triển lên tuổi 3-4 mới định loại chính xác Thức ăn cho bọ gậy ở tuổi 1-2 cần bổ sung vitamin như bột đậu xanh và thay nước hàng ngày, đảm bảo môi trường nước sạch và thức
ăn không được dư thừa Đối với mẫu bọ gậy có quăng cần phải hút quăng cho vào đĩa petri thủy tinh, sau đó đưa vào lồng nuôi muỗi cho đến khi quăng phát triển thành muỗi trưởng thành để định loại chúng
+ Định loại bọ gậy Aedes
Tại Phòng thí nghiệm côn trùng, bọ gậy được soi dưới kính hiển vi để xác định thành phần loài thông qua số lượng và sự sắp xếp của các lông và gai trên thân và các bộ phận cơ thể bọ gậy theo các bước sau
Bước 1: Giết bọ gậy bằng nước ấm 700
C hoặc cồn 70-80%
Bước 2: Dùng kẹp gắp khoảng 8 – 10 con bọ gậy lên lam kính sau đó đặt dưới kính hiển vi, sử dụng vật kính x5 để xác định gống bọ gậy và sử
dụng vật kính x40 để xác định loài Ae epypti và Ae albopictus Sử dụng khóa
định loại muỗi và bọ gậy ở Việt Nam của Chester J Stojanovich và Harold Georye Scott
Bước 3: Ghi kết quả định loại vào mẫu điều tra phù hợp với dụng cụ
chứa nước theo hộ gia đình
+ Định loại muỗi và xác định chu kỳ tiêu sinh máu:
Tất cả các loài muỗi bắt được đều đưa về phòng thí nghiệm và tiến hành các bước sau: