Để đánh giá được mức độ tuân thủ quy trình vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế và phân tích các yếu tố ảnh hưởng chúng tôi thực hiện nghiên cứu: "Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THANH NHÀN
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐĂK LĂK NĂM 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ: 8720802
HÀ NỘI, 2021 HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THANH NHÀN
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐĂK LĂK NĂM 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
Hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ THỊ THANH HƯƠNG
HÀ NỘI, 2021 HUPH
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình Với lòng
kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Cô PGS TS
Lê Thị Thanh Hương đã tận tình hướng dẫn, góp ý vô cùng quan trọng kể từ khi bắt đầu cho đến khi hoàn thành luận văn Trong suốt quá trình thực hiện luận văn,
cô đã giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, cùng với sự quan tâm, hỗ trợ để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu cùng các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Y tế Công Cộng đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập
để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh đạo cũng như toàn thể các đồng nghiệp tại Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tận tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và những người thân đã ủng hộ, dành cho tôi những điều kiện tốt nhất, giúp tôi yên tâm học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2022
Học viên Nguyễn Thị Thanh Nhàn
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Các khái niệm, quy định, tiêu chí liên quan đến nội dung nghiên cứu 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.2 Tầm quan trọng của vệ sinh tay 6
1.1.3 Mối liên hệ giữ tuân thủ rửa tay thường quy và tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện 7
1.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy tại bệnh viện trên thế giới và Việt Nam 8
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Tại Việt Nam 13
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế 16
1.3.1 Yếu tố cá nhân 16
1.3.2 Yếu tố tổ chức, quản lý, giám sát vệ sinh tay thường quy 18
1.3.3 Yếu tố trang thiết bị, phương tiện vệ sinh tay thường quy 20
1.4 Giới thiệu chung về Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lăk 21
1.5 Khung lý thuyết 23
Chương 2 24
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.1 Nghiên cứu định lượng: 24
2.1.2 Nghiên cứu định tính: 24
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 24
2.3 Thiết kế nghiên cứu 24
2.4 Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu 25
2.4.1 Cỡ mẫu 25
HUPH
Trang 52.5 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 26
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.6 Các biến số nghiên cứu 31
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng 31
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính 31
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành tuân thủ vệ sinh tay thường quy 32
2.7.1 Đánh giá tuân thủ vệ sinh tay thường quy : 32
2.7.2 Đánh giá kiến thức, thái độ về vệ sinh tay thường quy 32
2.7.3 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy 33
2.8 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 33
2.8.1 Số liệu định lượng: 33
2.8.2 Nghiên cứu định tính: 34
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 34
Chương 3 35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ tỉnh Đắk Lắk 38
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy 48
Chương 4 57
BÀN LUẬN 57
4.1 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ tỉnh Đăk Lăk năm 2021 57
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng Bệnh viện Đa khoa thị xã Buôn Hồ tỉnh Đắk Lắk năm 2021 65
KẾT LUẬN 74
KHUYẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined
HUPH
Trang 6PHỤ LỤC 1.BẢNG KIỂM ĐÁNH GIÁ THỰC HÀNH 80
PHỤ LỤC 2 PHIẾU KHẢO SÁT LÝ THUYẾT VỀ VỆ SINH TAY 81
PHỤ LỤC 3 CÁCH CHẤM ĐIỂM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ 88
PHỤ LỤC 4 CÁCH CHẤM ĐIỂM PHẦN ĐÁNH GIÁ THÁI ĐỘ 91
PHỤ LỤC 5 GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA TRẢ LỜI PHỎNG VẤN 93
PHỤ LỤC 6 HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 94
PHỤ LỤC 7 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 95
PHỤ LỤC 8 Biến số nghiên cứu 96
HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
ĐDT: Điều dưỡng trưởng
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
ĐTV: Điều tra viên
KSNK : Kiểm soát nhiễm khuẩn
KTV: Kỹ thuật viên
NVYT : Nhân viên y tế
VSTTQ : Vệ sinh tay thường quy
TTVSTTQ : Tuân thủ vệ sinh tay thường quy
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Số lượng ĐTNC và ĐTV tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng 28
3.1 Đặc điểm chung của ĐTNC 36
3.2 Tiếp cận thông tin VST của NVYT 37
3.3 Công tác kiểm tra, giám sát tại Bệnh viện về VSTTQ 37
3.4 Nguyên nhân NVYT không tuân thủ VSTTQ 39
3.5 Tỷ lệ có thực hiện VSTTQ theo cơ hội/ thời điểm cần quan sát … 39 3.6 Có thực hiện VSTTQ theo số cơ hội quan sát tại các khoa…… … 40
3.7 Phương pháp VSTTQ trong số các cơ hội có thực hiện VSTTQ… 41
3.8 Tỷ lệ tuân thủ quy trình 6 bước VSTTQ trong các cơ hội VSTTQ được quan sát 42
3.9 Tỷ lệ tuân thủ đầy đủ 3 cơ hội quan sát và thực hành đúng, đầy đủ 6 bước của quy trình VST của NVYT tại các khoa ……… 43
3.10 Tỷ lệ NVYT tuân thủ VSTTQ theo chức danh… 44 3.11 Kiến thức đúng của nhân viên y tế về VST 44
3.12 Kiến thức đúng của nhân viên y tế về lựa chọn phương pháp VST phù hợp nhất tại các thời điểm cần rửa tay 45
3.13 Kiến thức đúng của NVYT về chọn hóa chất VST; thời gian VST với dung dịch chứa cồn, với nước và xà phòng và kiến thức thực hiện quy trình VST 46
3.14 Thái độ của NVYT về vai trò VSTTQ trong KSNK……… 47
3.15 Phân loại thái độ chung về VSTTQ của NVYT……… 48
3.16 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với tuân thủ VSTTQ 49
3.17 Mối liên quan giữa kiến thức với tuân thủ VSTTQ của NVYT 49
3.18 Mối liên quan giữa thái độ với tuân thủ VSTTQ của NVYT 50
HUPH
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1.1 Năm thời điểm phải vệ sinh tay 4
1.2 Quy trình vệ sinh tay thường quy 5
1.3 Khung lý thuyết nghiên cứu…… 23
3.1 Phân loại kiến thức……… 47
HUPH
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ là bệnh viện hạng II, công suất giường bệnh hàng năm luôn đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch giao Bệnh viện đã triển khai được nhiều dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác chăm sóc, khám chữa bệnh cho người dân trên địa bàn Tuy nhiên việc kiểm tra, giám sát và đánh giá tuân thủ VSTTQ của NVYT tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ hiện nay chưa được thường xuyên và bài bản Để đánh giá được mức độ tuân thủ quy trình vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế và phân tích các yếu tố ảnh hưởng chúng tôi thực hiện
nghiên cứu: "Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế và một
số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk năm 2021" với hai mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của
nhân viên y tế và (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của Bệnh
viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ tỉnh Đắk Lắk năm 2021
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01 đến tháng 7/2021 Thiết kế nghiên cứu
mô tả cắt ngang, định lượng kết hợp định tính Thu thập thông tin qua phỏng vấn 112 nhân viên y tế, thực hiện 07 cuộc phỏng vấn sâu (lãnh đạo bệnh viện và các khoa, phòng) và 03 cuộc thảo luận nhóm (điều dưỡng trưởng các khoa và NVYT)
Kết quả nghiên cứu cho thấy Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy theo cơ hội quan sát của nhân viên y tế là 92,6%, thấp nhất ở thời điểm trước khi tiếp xúc với người bệnh (82,8%) Có 31,8% NVYT thực hiện đủ 6 bước của quy trình Tỷ lệ tuân thủ VSTTQ chung là 25,9%; Nữ hộ sinh tuân thủ VSTTQ cao nhất (50%), thấp nhất
là bác sĩ (13,9%); tuân thủ VSTTQ thấp nhất tại 2 khoa (khoa Khám và khoa Ngoại tổng hợp), tỷ lệ lần lượt là 16,7% và 15,4% Yếu tố ảnh hưởng tích cực: Công tác đào tạo, tập huấn được thực hiện hàng năm, ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn, các quy định đến tận các khoa phòng; Yếu tố ảnh hưởng tiêu cực: Chưa tổ chức đánh giá kiến thức của NVYT về VST, chưa có quy định khen thưởng, xử phạt; Thiếu kiểm tra, giám sát; Thiếu TTB bố trí địa điểm sát khuẩn chưa hợp lý; Quá tải công việc Khuyến nghị: Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ vệ sinh tay; bố trí thêm nhân lực các khoa đông bệnh nhân, đặc biệt là khoa Khám bệnh, Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa Ngoại tổng hợp.có chế tài xử phạt sự tuân thủ VSTTQ tại các khoa
HUPH
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), rửa tay thường xuyên được xem là liều vắc xin tự chế, rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả và rẻ tiền nhất, chỉ một hành động rửa tay sạch với nước và xà phòng đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền
vi khuẩn, đặc biệt trong bối cảnh cả thế giới đang xảy ra đại dịch COVID-19 Việc vệ sinh tay (VST) đã trở thành vấn đề ưu tiên hàng đầu và là một trong những biện pháp quan trọng giúp phòng chống dịch bệnh COVID-19 trong các cơ
sở y tế và cộng đồng (2)
Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện từ 3,5% đến 10% số người nhập viện (3) Đây là một trong các nguyên nhân hàng đầu đe dọa sự an toàn của người bệnh, tăng biến chứng, ngày điều trị, chi phí nằm viện và tỷ lệ tử vong Vì thế trong những năm gần đây, Bộ Y tế đã phát động phong trào vệ sinh bàn tay tại tất cả các bệnh viện và cộng đồng (3) Theo nhiều báo cáo của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn trong và ngoài nước thì các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách giữ gìn Vệ sinh
tay(3)
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy (VSTTQ) của nhân viên y tế (NVYT) tại các cơ sở y tế vẫn còn khá thấp Trung bình chỉ có 37,8% nhân viên y tế là tuân thủ vệ sinh tay thường quy (3) Nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2019) tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk, cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế là khá thấp chỉ chiếm 12,1%, kiến thức là yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy: những người có kiến thức đạt thì tuân thủ vệ sinh tay thường quy cao gấp 11,3 lần những nhân viên y tế kiến thức không đạt (4) Tương tự, nghiên cứu thực hiện năm 2020 của Phạm Bá Toản về thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế trung tâm y tế Cư Jút, Đắk Nông cho thấy tuân thủ vệ sinh tay thường quy chung của nhân viên y tế chỉ đạt 14,13% (5)
Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ là Bệnh viện đa khoa hạng II tuyến huyện
có 280 giường bệnh theo kế hoạch và 192 biên chế, trong đó có 112 người trực tiếp thực hiện thăm khám, điều trị, chăm sóc và thực hiện các thủ thuật cho người bệnh
HUPH
Trang 12Năm 2020 Bệnh viện có 163.125 lượt khám ngoại trú, điều trị nội trú 18.876 lượt trong đó số lượt phẫu thuật 756 ca, thủ thuật 40.121 ca (6) Việc thực hiện các dịch
vụ, kỹ thuật đòi hỏi nhân viên y tế phải thực hiện vệ sinh tay thường quy theo đúng quy trình từ khâu chuẩn bị đến khi kết thúc đảm bảo đúng theo quy trình 6 bước của
Bộ Y tế Trong thời điểm hiện tại vệ sinh tay còn được Bộ Y tế đưa vào nội dung chấm điểm 83 tiêu chí hàng năm và kiểm soát lây nhiễm bệnh COVID-19 trong các
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (7) Tuy nhiên hiện nay việc kiểm tra, giám sát và đánh giá tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại đơn vị chưa được thường xuyên, chỉ mang tính hình thức đối phó; không khách quan Đến nay tại đơn vị cũng chưa
có nghiên cứu nào về vấn đề vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế Để đánh giá thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế và phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế như thế nào,
chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu "Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn
Hồ, tỉnh Đăk Lăk năm 2021"
HUPH
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ tỉnh Đăk Lăk năm 2021
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ tỉnh Đăk Lăk năm 2021
HUPH
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 C c kh i niệm, quy định, tiêu chí liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.1.1 Các khái niệm
Vệ sinh tay thường quy: Là vệ sinh tay với nước và xà phòng có hay không
có chất khử khuẩn hoặc vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn (1)
Tuân thủ cơ hội VSTTQ của NVYT: Là việc NVYT phải thực hiện
VSTTQ khi có cơ hội - thời điểm cần phải vệ sinh tay (1)
Năm thời điểm bắt buộc VSTTQ hình 1.1 (1)
Thời điểm 1: Trước khi tiếp xúc với người bệnh
Thời điểm 2: Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn
Thời điểm 3: Sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết cơ thể
Thời điểm 4: Sau khi tiếp xúc với người bệnh
Thời điểm 5: Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh người bệnh
Quy trình VSTTQ được mô tả (hình 1.2) bao gồm 6 bước cụ thể:
Hình 1.1 Năm thời điểm phải vệ sinh tay (1) HUPH
Trang 15- Bước 1: Làm ướt tay dưới vòi nước, lấy dung dịch sát khuẩn và chà 2 lòng bàn tay vào nhau
- Bước 2: Đặt lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia, chà sạch mu bàn tay (chú ý các kẽ ngón tay) và ngược lại
- Bước 3: Đặt hai lòng bàn tay vào nhau, chà sạch lòng bàn tay và kẽ các ngón tay
- Bước 4: Móc hai bàn tay vào nhau (như móc khóa) và chà sạch mặt mu các ngón tay
- Bước 5: Dùng lòng bàn tay này xoay và chà sạch ngón cái bàn tay kia và ngược lại
- Bước 6: Chụm đầu các ngón tay của bàn tay này xoay vào lòng bàn tay kia
và ngược lại, làm sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay
Hình 1.2 S u bước trong quy trình VSTTQ (1)
- Khi thực hiện quy trình VSTTQ phải thực hiện đúng:
HUPH
Trang 16+ Lựa chọn đúng phương pháp VSTTQ: Nếu bàn tay nhìn rõ vết bẩn hoặc dính các dịch tiết của cơ thể phải VST bằng nước và xà phòng thường Chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn khi tay không trông rõ vết bẩn, sau tháo bỏ găng hoặc khi thăm khám giữa các người bệnh
+ Lấy đủ 3ml-5 ml dung dịch VST cho mỗi lần VSTTQ
+ Tuân thủ đúng kỹ thuật VSTTQ Chà tay cùng hóa chất VST theo đúng trình
tự từ bước 1 tới bước 6, mỗi bước chà 5 lần để bảo đảm hóa chất tiếp xúc đều trên toàn bộ bề mặt bàn tay Trường hợp chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn, nếu chà
đủ 6 bước mà tay chưa khô thì lặp lại các bước cho tới khi tay khô Trường hợp VSTTQ bằng nước và xà phòng thì trước khi lấy dung dịch xà phòng cần mở vòi nước và làm ướt bàn tay; sau khi kết thúc 6 bước chà tay cần rửa lại tay dưới vòi nước để loại bỏ hoàn toàn hóa chất trên tay, lau khô tay bằng khăn sạch, khóa vòi nước bằng khăn vừa sử dụng, thải bỏ khăn vào thùng thu gom khăn
+ Tuân thủ đúng thời gian VSTTQ: Thời gian chà tay với hóa chất VSTTQ theo quy trình 6 bước phải đạt từ 20 giây-30 giây
+ Không rửa lại tay bằng nước và xà phòng sau khi đã chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn
+ Tránh làm ô nhiễm lại bàn tay sau VSTTQ: Sử dụng nước sạch để VSTTQ,
sử dụng khăn sợi bông/khăn giấy sạch dùng 1 lần để lau khô tay, sử dụng khăn đã dùng lau khô tay để đóng vòi nước Không dùng một khăn lau tay chung cho nhiều lần VSTTQ
+ Không sử dụng máy sấy tay để làm khô tay Xem xét lựa chọn loại găng tay không có bột tal để thuận lợi cho việc khử khuẩn tay bằng dung dịch VST chứa cồn (1)
Nhân viên y tế tuân thủ VSTTQ: Khi NVYT tuân thủ đúng ở tất cả các cơ hội
cần VSTTQ và tuân thủ đúng quy trình 6 bước VSTTQ (3)
1.1.2 Tầm quan trọng của vệ sinh tay
1.1.2.1 Bàn tay là vật trung gian truyền bệnh
Nhiễm khuẩn bệnh viện lây truyền qua một số con đường, trong đó lây truyền thông qua bàn tay của NVYT là phổ biến nhất NVYT hàng ngày dùng bàn tay là công cụ để khám chữa bệnh và chăm sóc người bệnh, do đó bàn tay của NVYT
HUPH
Trang 17thường xuyên tiếp xúc với da, máu, dịch tiết sinh học của người bệnh Các vi khuẩn
từ người bệnh truyền qua tay của NVYT, làm cho bàn tay của NVYT là nguồn chứa các vi khuẩn gây bệnh (8)
5 bước bàn tay phát tán mầm bệnh:
- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật
- Mầm bệnh bám vào da tay của NVYT
- Mầm bệnh sống trên da tay
- VST ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn
- Da tay nhiễm khuẩn phát tán mầm bệnh sang người bệnh, đồ vật
1.1.2.2 C c chủng vi khuẩn thường có trên bàn tay nhân viên y tế
- Vi khuẩn định cư: Ít có khả năng gây nhiễm khuẩn trừ khi chúng xâm nhập vào cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn như phẫu thuật, đặt ống xông, Cần VSTTQ bằng hóa chất khử khuẩn như cồn hoặc dung dịch sát khuẩn chứa cồn với thời gian
đù dài nhằm loại bỏ các vi khuẩn này (9)
- Vi khuẩn vãng lai: Loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay NVYT khi bàn tay
bị nhiễm bẩn từ người bệnh hoặc các đồ vật bẩn trong môi trường bệnh viện khi chăm sóc và điều trị Vi khuẩn vãng lai gồm mọi sinh vật có mặt trong môi trường bệnh viện (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng) và là nguyên nhân chính gây NKBV Có thể loại bỏ hầu hết các vi khuẩn này bằng biện pháp VSTTQ với nước và xà phòng thường hoặc dung dịch VST có chứa cồn (1)
1.1.3 Mối liên hệ giữ tuân thủ rửa tay thường quy và tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện
NKBV lây truyền qua một số con đường, tuy nhiên việc lây truyền thông qua bàn tay của nhân viên y tế là phổ biến nhất (10)
NKBV gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng không chỉ với bệnh nhân
mà còn đối với các nhân viên y tế Sự tuân thủ rửa tay của NVYT (như rửa tay với nước và xà phòng, rửa tay với dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn) được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất để phòng ngừa hiệu quả nhiễm khuẩn bệnh viện Vệ sinh bàn tay đúng cách sẽ làm loại bỏ hầu hết lớp vi sinh vật gây ra nhiễm khuẩn bệnh viện cho bệnh nhân (10)
HUPH
Trang 181.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy tại bệnh viện trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Tổ chức Y tế thế giới xem vệ sinh tay như một công cụ cần thiết cho công tác phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện, việc tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế trong công tác thăm khám chăm sóc người bệnh có thể phòng ngừa được NKBV, giảm tỷ lệ NKBV lên tới 40% (11) Vệ sinh tay từ lâu đã được đề cập và cho đến hiện tại nghiên cứu về tuân thủ vệ sinh tay của NVYT vẫn là một chủ đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, hệ thống y tế các nước phát triển đến các nước đang phát triển đều ghi nhận nhiều nghiên cứu có giá trị và hiệu quả áp dụng liên quan đến vệ sinh tay và tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y
tế, tuy nhiên một điều đáng lo ngại là rất ít các nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay cao trên 50% Nhìn chung các kết quả nghiên cứu của các tác giả đều cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của NVYT còn thấp, theo đánh giá của WHO tỉ lệ tuân thủ VST chung của cán bộ y tế trung bình là 37,8% (giao động từ 5-89%) (12)
Một số nghiên cứu cho tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay khá cao như nghiên cứu của tác giả Siddharth Chavali năm 2013 tại một đơn vị chăm sóc đặc biệt của Ấn Độ cho tỉ lệ tuân thủ chung đạt 78% (13) Một nghiên cứu của Marra và cộng sự sử dụng nhiều hình thức giám sát như quan sát trực tiếp, sử dụng phương tiện giám sát
hỗ trợ và giám sát điện tử, tỉ lệ tuân thủ chung đạt 62,3% (14) Nghiên cứu tại Tây bắc Nigeria năm 2019 cho tỉ lệ tuân thủ đạt 55,2% (15)
Một số nghiên cứu có tỉ lệ tuân thủ thấp hơn như nghiên cứu tại bệnh viện giảng dạy ở Kuwait năm 2013 cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ chung của NVYT là 42,9% (16) Nghiên cứu tại bệnh viện đại học nha khoa của Trung Quốc năm 2013 với tỉ lệ tuân thủ chung đạt 34,7% (17) Nghiên cứu của Farinaz Farhuodi và các cộng sự (2016) tại 14 khoa ở Bệnh viện đại học ở Shiraz của Iran cũng cho thấy TTVST của NVYT là 29,8% (18) Nghiên cứu của Shan Zhang bệnh nhân và cộng
sự (2019) tại Bắc Kinh, Trung Quốc cho thấy tỷ lệ TTVSTTQ trung bình của NVYT là 26,6% (19) Một đánh giá có hệ thống của tác giả Vicki Erasmus đối với
96 nghiên cứu thực nghiệm được viết bằng tiếng Anh và được thực hiện trên quần
HUPH
Trang 19thể bệnh nhân nói chung ở các nước công nghiệp với phần lớn (n = 65) trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt cho thấy tỉ lệ tuân thủ trung bình tổng thể là 40% (20)
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ tuân thủ VST thấp đến mức báo động như nghiên cứu của tác giả Jawad Ahmed tại một bệnh viện dân sự Karachi của Pakistan với tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay nói chung chỉ 12,3% (21) Thậm chí nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay cực kỳ thấp như nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Giảng dạy Đại học Wachemo, Ethiopia với chỉ 9,2% tuân thủ (22) và Bệnh viện Giảng dạy Châu Phi Ghana với 12% NVYT tuân thủ vệ sinh tay (23) Nghiên cứu của tác giả Emmanuel Olushola Shobowale năm 2016 thực hiện tại Bệnh viện Giảng dạy Đại học Babcock với 5,7% tuân thủ (24)
Tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay thay đổi tùy theo địa bàn nghiên cứu và các tác giả đều đưa ra những lý giải xác đáng cho kết quả thu thập được, bao gồm những yếu tố ảnh hưởng thuộc cá nhân và hệ thống, ngoài ra, các tác giả cũng ghi nhận hiệu quả và tầm quan trọng của các phương pháp can thiệp đa phương thức trong việc cải thiện tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay Bên cạnh đó, khá nhiều nghiên cứu cho rằng quan sát trực tiếp không phải là phương pháp tối ưu để khảo sát thực hành
vệ sinh tay của nhân viên y tế vì nhiều hạn chế như tốn nhiều thời gian, nhân lực, không cho phép giám sát liên tục, kết quả quan sát phụ thuộc vào kỹ năng người đánh giá và việc quan sát trực tiếp nếu không đủ kỹ năng sẽ ảnh hưởng đến hành
vi của nhân viên y tế
Theo các dẫn chứng trên, có thể thấy rằng tỉ lệ tuân thủ VSTTQ của NVYT tại các cơ sở y tế nhìn chung tương đối thấp, tuy nhiên theo nhiều nghiên cứu, việc tuân thủ VSTTQ của NVYT còn phụ thuộc vào các thời điểm tiếp xúc, trong đó thời điểm NVYT tuân thủ VSTTQ nhiều nhất được ghi nhận là thời điểm trước khi làm thủ thuật vô khuẩn, kế tiếp là sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể, điển hình
là các nghiên cứu sau:
Nghiên cứu của tác giả Randle J và cộng sự năm 2012, nghiên cứu tiến hành quan sát 823 người (659 NVYT và 164 bệnh nhân và khách thăm) Kết quả nghiên cứu cho thấy tuân thủ VSTTQ thay đổi phụ thuộc vào từng thời điểm trong năm thời điểm mà NVYT đã thực hiện VST (p<0,001); tỷ lệ tuân thủ VSTTQ cao nhất ở
HUPH
Trang 20thời điểm trước khi làm các thủ thuật vô trùng là 100%; sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể là 93% (25) Nghiên cứu của Qian Zhou và cộng sự (2020) về đo lường
sự tuân thủ VST dựa trên hướng dẫn COVID-19 tại Trung Quốc cho thấy tỷ lệ TTVSTTQ chung là 79,44%; trong đó tỷ lệ NVYT tuân VSTTQ khác nhau ở các thời điểm; cao nhất ở thời điểm trước khi làm các thủ thuật vô khuẩn là 96,71%; sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể 95,74% (p<0,001) (26) Nghiên cứu của tác giả Emmanuel Olushola Shobowale năm 2016 được thực hiện tại Bệnh viện Giảng dạy Đại học Babcock cho tỉ lệ tuân thủ tốt nhất là sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể với (64,3%), tiếp đến là VST sau khi tháo găng 61,4%, 56,2% trước các thủ thuật vô trùng (24) Trong các nghiên cứu này, tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay tại thời điểm trước khi làm thủ thuật vô khuẩn cao được lý giải là do vệ sinh tay là một bước cơ bản trong quy trình thủ thuật, phẫu thuật, do đó dễ dàng cho nhân viên y tế thực hiện, thời điểm sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết thì do tâm lý của nhân viên y tế cảm thấy bàn tay không sạch khiến họ có xu thế thực hiện vệ sinh tay
Bên cạnh kết quả trên, nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của NVYT ở thời điểm sau khi tiếp xúc đồ vật xung quang người bệnh và trước khi tiếp xúc với người bệnh là thấp nhất Điển hình là nghiên cứu của Randle J và cộng sự năm 2012, cho thấy tuân thủ vệ sinh tay thấp nhất là sau khi tiếp xức với môi trường xung quang 50% (25) Nghiên cứu của Bahri Teker và cộng sự (2015) tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy tỷ lệ NVYT tuân thủ VSTTQ thấp nhất ở thời điểm sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh là 23% tiếp đến trước khi tiếp xúc người bệnh là 48% (27) Tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay tại thời điểm trước khi tiếp xúc với người bệnh cũng được ghi nhận thấp trong nghiên cứu của Qian Zhou và cộng sự (2020) tại Trung Quốc cho thấy tỷ lệ TTVSTTQ thấp nhất ở thời điểm trước khi tiếp xúc với người bệnh là 79,44% (p<0,001) (26) Môi trường xung quanh người bệnh là môi trường mà NVYT tiếp xúc khá thường xuyên, do việc giới hạn vùng xung quanh bệnh nhân thường mang tính mơ hồ đối với nhân viên y tế, khiến nhân viên y tế không để ý khi tiến hành chạm tay vào hoặc có thể vì nhiều nhân viên y tế lầm tưởng khu vực xung quanh bệnh nhân là khu vực sạch, ít
HUPH
Trang 21có nguy cơ mang mầm bệnh do đó họ cảm thấy không cần vệ sinh tay khi chạm tay vào những vùng này
Ngoài ra trong nghiên cứu của tác giả Emmanuel Olushola Shobowale năm
2016 thực hiện tại Bệnh viện Giảng dạy Đại học Babcock, quan sát của nhóm nghiên cứu cho thấy nhiều nhân viên đã không thực hiện vệ sinh tay trước khi tiến hành thủ thuật xâm lấn mà chỉ đơn giản là đeo găng tay của họ (43,8%) Kết quả trên cho thấy một thực tế rằng đối với các NVYT tại đây, vệ sinh tay về cơ bản là để bảo vệ chính họ chứ không phải cho bệnh nhân hay cho môi trường y tế (24) Trong nghiên cứu này tác gải đề cập đến một thực tế đáng lo ngại tiếp theo là tỷ lệ không tuân thủ vệ sinh tay sau khi chạm vào người bệnh vì tay của nhân viên y tế khi đó
có thể trở thành ổ chứa mầm bệnh Một số vi sinh vật liên quan đến chăm sóc sức khỏe thường xuyên đột biến và do đó tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của chúng trong bệnh viện cao hơn so với cộng đồng Những tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cộng đồng địa phương thông qua ba con đường: Nhân viên y tế, bệnh nhân đã xuất viện, hoặc thân nhân của những bệnh nhân đó đến bệnh viện
Lý giải tương tự được tác giả giả Ayse Karaaslan trình bày trong nghiên cứu của mình tại các đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2013 cụ thể: mức độ tuân thủ chung của NVYT trước khi chạm vào bệnh nhân là 43,2%, trước khi làm thủ thuật sạch / vô trùng là 8,5%, sau khi tiếp xúc với dịch cơ thể là 18,1%, sau khi tiếp xúc với bệnh nhân là 68,1%, và sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh bệnh nhân là 43,2% Có sự chênh lệch rất rõ giữa tỉ lệ tuân thủ VST trước khi làm thủ thuật sạch/ vô trùng và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, tác giả nhận thấy rằng hầu hết NVYT thích sử dụng VST sau khi tiếp xúc với bệnh nhân hoặc tiếp xúc với môi trường của bệnh nhân, ngược lại tỷ lệ này rất thấp đối với trước khi tiếp xúc với bệnh nhân Những phát hiện này dẫn đến giả định rằng NVYT vệ sinh tay nhằm mục đích tự bảo vệ mình hơn là bảo vệ cho người bệnh (28)
Nhiều nghiên cứu đi sâu và việc đánh giá vệ sinh tay có đúng quy trình kỹ thuật hay không chứ không chỉ đơn thuần là ghi nhận tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay nói chung Vì các nhà nghiên cứu cho rằng tỉ lệ tuân thủ cao có thể không đủ điều kiện
HUPH
Trang 22để ngăn ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, do vi khuẩn không được loại bỏ một cách thực sự Và nhiễm khuẩn bệnh viện thực chất liên quan đến chất lượng vệ sinh tay hơn là tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay
Nghiên cứu của tác giả Ariadna V Arias năm 2015 đánh giá kỹ thuật sát khuẩn tay bằng cồn theo sáu bước của Tổ chức Y tế thế giới cho thấy tỉ lệ tuân thủ VST là 100% trong các bước 1 và 2 Các điều dưỡng đạt tỷ lệ tuân thủ cao nhất cho các bước 3 (99,7%), 5 (30,1%) và 6 (51,1%) so với các bác sĩ (p < 0,05) Trong khi
đó, các bác sĩ đạt tỉ lệ tuân thủ tốt nhất ở bước 2 (84,8%) (p < 0,05) Nói chung, chỉ
có ba bước đầu tiên là tuân thủ tốt Sau đó, tỷ lệ giảm xuống còn 79,9% ở bước 4 và 14,9% (bước 5) và 36,6% (bước 6) Tương tự, đối với rửa tay, mức độ tuân thủ cao đạt được ở ba bước đầu tiên, giảm xuống lần lượt là 70,6%, 30,3% và 40,9% ở các bước 4, 5 và 6 (29)
Một đánh giá quy mô lớn về chất lượng vệ sinh tay và hiệu quả của 6 bước của quy trình vệ sinh tay mà WHO đã khuyến cáo của tác giả László Szilágyi năm
2013 cho thấy rằng mặc dù đánh giá diễn ra ngay sau khóa đào tạo về VST, chỉ có 72% nhân viên đạt được mức độ trung bình về kỹ thuật VST Đa số NVYT không làm sạch mặt lưng và lòng bàn tay xảy ra ở 24% và 18% trường hợp, 3,5 % NVYT
bỏ sót ở vùng ngón tay (30)
Một nghiên cứu của tác giả Sung-Ching Pan MD năm 2014 cho thấy mức độ
và chất lượng của vệ sinh tay được đánh giá bằng phương pháp mô phỏng trong đó nhân viên y tế (NVYT) chà tay với chất huỳnh quang, rửa sạch bằng nước và đặt tay dưới máy dò tia cực tím để xác định các khu vực bị bỏ sót Hầu hết các điểm chưa sạch nằm ở đầu móng tay (38,6%), tiếp theo là đầu ngón tay (17,4%) (31)
Theo kết quả một nghiên cứu tại bệnh viện đại học nha khoa của Trung Quốc năm 2013 cho kết quả tỉ lệ rửa tay chính xác trong quá trình làm việc tại khoa phẫu thuật răng miệng của NVYT là 87,5% Tỷ lệ rửa tay tuân thủ đúng kỹ thuật cao trong các dịch vụ phẫu thuật răng miệng cho thấy NVYT có khả năng thực hiện vệ sinh tay đúng cách, nhưng đôi khi lại ngại sử dụng phương pháp rửa tay đúng tại
HUPH
Trang 23các phòng khám nói chung Mặc dù nguyên nhân được cho là tại các phòng khám lâm sàng thì nguy cơ nhiễm trùng không đáng lo ngại bằng khi thực hiện phẫu thuật (17)
Từ các nghiên cứu trên có thể thấy được một thực tế là rất ít NVYT có thể thực hiện đủ 6 bước trong quy trình VSTTQ, hầu hết chỉ tuân thủ tốt ở các bước đầu quy trình, và vùng các ngón tay, móng tay trở thành khu vực dễ bị bỏ sót vi khuẩn nhất sau khi NVYT thực hiện VST, một phần vì kẽ móng là khu vực khó vệ sinh, mặt khác thao tác vệ sinh ngón tay và chụm đầu ngón tay lại là bước sau cùng của quy trình (là bước thường bị bỏ qua nhiều nhất) Đáng lo ngại hơn, vùng các đầu ngón tay và móng tay lại là vùng da tiếp xúc nhiều nhất với da người bệnh khi NVYT thực hiện các kỹ thuật chăm sóc, thăm khám, điều trị, do đó nguy cơ lây truyền mầm bệnh vẫn có thể xảy ra, mặc dù NVYT đã thực hiện VST trước đó
1.2.2 Tại Việt Nam
Hiện nay Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản, quy định, thông tư hướng dẫn đề cập đến VST như: Thông tư 16/2018/TT-BYT ngày 20/7/2018 quy định
về việc tổ chức thực hiện KSNK trong các cơ sở y tế, thông tư có quy định khi thực hiện công tác điều trị, chăm sóc cho NB, nhân viên y tế phải đảm bảo TTVST theo đúng và đủ quy trình trong các hướng dẫn của cơ sở y tế (32), đặc biệt Quyết định số 3916/QĐ-BYT năm 2017, trong đó đã hướng dẫn về thực hành VST trong cơ sở y tế (1) Việc ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn là căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện được thuận lợi Tuy nhiên hiện nay tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của NVYT ở nhiều bệnh viện trong nước còn khá thấp Theo nghiên cứu của Lê Thị Thanh Mai (2016) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ chung là 22,3% (33) Nghiên cứu của tác giả Phạm Bá Toản (2020) tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông cũng cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ chung là 14,71% (5); nghiên cứu của Phạm Thị Thủy tại bệnh viện Y học cổ truyền Đắk Lăk năm 2019 cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ là khá thấp chỉ chiếm 12,12% (4)
HUPH
Trang 24Đánh giá tuân thủ VSTTQ bao gồm việc đánh giá NVYT tuân thủ cơ hội (5
cơ hội) VSTTQ và tuân thủ 6 bước trong quy trình VSTTQ Tỷ lệ tuân thủ VSTTQ chung của NVYT chiếm tỷ lệ khá thấp do phụ thuộc vào việc NVYT tuân thủ cơ hội VST và tuân thủ 6 bước của quy trình VST như thế nào? Hiện nay nhiều nghiên cứu trong nước cho thấy việc tuân thủ VSTTQ theo cơ hội có sự khác biệt giữa các thời điểm tiếp xúc Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy NVYT thường tuân thủ VST tại thời điểm trước khi làm các thủ thuật vô khuẩn và sau khi tiếp xúc với máu
và dich cơ thể; tại thời điểm sau khi tiếp xúc với đồ vật xung quanh người bệnh và trước khi tiếp xúc người bệnh thì nhiều NVYT đều chủ quan thường bỏ qua các thời điểm này, nên ở thời điểm này tỷ lệ NVYT tuân thủ VSTTQ thấp nhất Kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Vân Trang (năm 2010) đã khảo sát tỷ lệ TTVST theo 5 thời điểm tại bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy NVYT chú trọng VSTTQ nhiều nhất ở thời điểm sau tiếp xúc với máu và dịch cơ thể (56,75%) kế tiếp là trước khi tiến hành các thủ thuật vô khuẩn (31,8%) Nghiên cứu cũng cho thấy ở các thời điểm như trước khi tiếp xúc người bệnh chỉ có 17,0% NVYT tuân thủ VSTTQ và sau khi tiếp xúc với đồ vật xung quanh người bệnh có 12,3% NVYT tuân thủ VST (19) Theo nghiên cứu của Lê Thị Thanh Mai (2016) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ chung là 22,3% (tỷ lệ tuân thủ VSTTQ ở thời điểm trước khi tiếp xúc máu và dịch cơ thể là cao nhất chiếm 44,8%; thấp nhất ở thời điểm trước khi tiếp xúc bệnh nhân và sau khi tiếp xúc với người bênh là 13,2%) (33) Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương (2018) tại Bệnh viên Sản Nhi Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ theo cơ hội là 88,7%; hầu hết (>95%) NVYT đều tuân thủ VSTTQ tại các thời điểm (trước khi làm các thủ thuật vô khuẩn
và sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể; nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của NVYT tại thời điểm sau khi tiếp xúc với vật dụng xung quanh người bệnh là thấp nhất, chiếm 56,2% (34) Trong nghiên cứu của Tạ Thị Thành (Bệnh viện Kon Tum), cho thấy tỷ lệ tuân thủ theo các thời điểm có sự khác nhau (p<0,05): tỷ lệ tuân thủ VSTTQ cao nhất sau khi tiếp xúc dịch tiết 93,67%; tiếp theo
là trước khi làm thủ thuật vô khuẩn vô khuẩn 79,93% và chỉ có 35,38% NVYT tuân thủ VSTTQ sau tiếp xúc bề mặt xung quanh người bệnh (35) Nghiên cứu của nhóm
HUPH
Trang 25tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà, Trần Đức Hùng, Kiều Chí Thành Bệnh viện Quân Y
103, năm 2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay tại 5 thời điểm theo quy định của Bộ Y Tế là không đều nhau: tỷ lệ tuân thủ cao nhất tại thời điểm sau khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh (93,65%) và trước khi làm thủ thuật vô khuẩn (81,42%); thấp nhất ở thời điểm trước khi tiếp xúc người bệnh (15,78%) và sau khi tiếp xúc bề mặt các vật dụng trong buồng bệnh (47,32%) (36) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền (2018) tại Bệnh viện Tim Hà Nội cho thấy
tỷ lệ tuân thủ VSTTQ theo cơ hội bằng quan sát trực tiếp là 79,9% (tỷ lệ tuân thủ tại thời điểm trước khi làm các thủ thuật vô khuẩn là cao nhất 94,4%; thấp nhất tại thời điểm sau khi tiếp xức với vùng xung quanh người bệnh là 63,4%) (37) Nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2019) tại Bệnh viện Y học cổ truyền Đắk Lăk cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ theo thời điểm là 63,63%; trong đó tỷ lệ TTVSTTQ ở thời điểm trước khi làm các thủ thuật và sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể có tỷ lệ tuân thủ cao nhất tương ứng (100% và 90%); thấp nhất ở thời điểm trước khi tiếp xúc với người bệnh (49,12%) (4) Nghiên cứu của tác giả Phạm Bá Toản (2020) tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông cũng cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ theo thời điểm là 54,17%; trong đó tỷ lệ TTVSTTQ ở thời điểm trước khi tiếp xúc trực tiếp với người bênh và trước khi làm các thủ thuật là cao nhất tương ứng (93,83%
và 89,28%); thấp nhất ở thời điểm sau khi tiếp xúc với người bệnh (4,44%) (5)
Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước cho thấy việc tuân thủ VSTTQ theo quy trình 6 bước còn thấp, tuy nhiên việc tuân thủ VST giữa các bước trong quy trình không có sự đồng đều Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng NVYT thường thực hiện tốt ở bước 1 và bước 2; tỷ lệ giảm dần ở bước 5 và bước 6 của quy trình; tỷ lệ thực hiện thấp nhất tại bước 3 và bước 4, do ở các bước này NVYT thường làm tắt hoặc quên không thực hiện Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Thanh Mai (2016) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ theo đúng quy trình là 45,6%; trong đó tỷ lệ tuân thủ VST ở bước thứ 1 và bước thứ 2 NVYT đều thực hiện đầy đủ (98%); các bước 3 và bước 4 chỉ có 46,5% NVYT thực hiện (33) Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương (2018) tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ theo 6 bước của quy trình là
HUPH
Trang 2677,1%; trong đó hầu hết (95%) NVYT đều thực hiện đầy đủ ở bước 1 và bước 2 của quy trình; các bước 4 có tỷ lệ tuân thủ thấp nhất là 86,8% (34) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền (2018) tại Bệnh viện Tim Hà Nội cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ 6 bước là 68,4% (tại các bước 4,5,6 NVYT thường bỏ qua) (37) Nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2019) tại Bệnh viện Y học cổ truyền Đắk Lăk cho thấy tỷ
lệ TTVSTTQ theo 6 bước của quy trình là 21,82%; trong đó các bước (bước 1,2,3,6) NVYT tuân thủ VST tương đối tốt; các bước 4 và bước 5 NVYT thường bỏ qua; tỷ lệ tuân thủ ở các bước này tương đối thấp là 30,95% (4) Nghiên cứu của tác giả Phạm Bá Toản (2020) tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông cũng cho thấy tỷ lệ TTVSTTQ theo 6 bước của quy trình là 43,15%; trong đó các bước (bước 1,2,3,) NVYT tuân thủ VST tương đối tốt; các bước 5 và bước 6 có tỷ lệ tuân thủ khá thấp (45,23% và 52,68%) (5)
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế
Với nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Huyền thực hiện tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2010 cho thấy 72% NVYT có nhận thức tốt về vai trò của vệ sinh bàn tay Tỷ lệ này ở nữ là 76,1% cao hơn so với nam (62,5%) một cách có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên tỷ lệ có kiến thức tốt về vai trò của vệ sinh bàn tay khá cao nhưng tỷ lệ tuân thủ rửa tay chỉ đạt 34%, trong đó điều dưỡng tuân thủ VSTTQ tốt hơn bác sĩ (34.9% so với 27%) (38)
Nghiên cứu của tác giả Phạm Bá Toản (2020) tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông cũng cho thấy trình độ học vấn ảnh hưởng đến tuân thủ VSSTQ
HUPH
Trang 27của NVYT; những người có học vấn cao hơn thì tuân thủ VSTTQ tốt hơn (những NVYT trình độ học vấn từ đại học trở lên thì tuân thủ VSTTQ cao gấp 3,1 lần những NVYT trình độ học vấn từ cao đẳng trở xuống, p<0,05); nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan giữa tuổi, giới tính, và thâm niên công tác với tuân thủ VSTTQ của NVYT (5)
Những NVYT có trình độ học vấn cao hơn thì sẽ tuân thủ VSTTQ cao hơn
Đó là kết quả nghiên cứu của Phùng Văn Thủy năm 2014 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc và kết quả này có ý nghĩa thống kê với (p<0,05) (39)
Yếu tố kiến thức, thái độ về tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế
Qua đánh giá ngẫu nhiên tại Campania và Calabria (Italy) năm 2000 bằng bộ câu hỏi đóng, có tới 46,8% NVYT trả lời sai các câu hỏi, 60% NVYT nói có VSTTQ trước khi bắt đầu ca làm việc, 72% NVYT có VSTTQ trong cơ hội trước khi tiếp xúc với người bệnh và sau khi tiếp xúc với người bệnh (40)
Hầu như các kết quả nghiên cứu về VSTTQ đều tìm thấy kiến thức và thái độ
có mối liên quan chặt chẽ với tuân thủ VSVTQ, nắm tốt các nội dung cũng như ý thức được tầm quan trọng của VSTTQ thì chắc chắn tuân thủ VSTTQ cao
Như nghiên cứu của Lã Ngọc Quang, Trần Quang Huy và cộng sự (2016) tại bệnh viện Hoè Nhai, Hà Nội thì những NVYT có kiến thức đạt thì tuân thủ VSTTQ cao gấp 2,7 lần so với những NVYT kiến thức không đạt với OR=2,7, 95%CI: 1,1-6,6, p<0,05 (41)
Với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền năm 2018 khảo sát trên tổng số
97 điều dưỡng tại 5 khoa lâm sàng của Bệnh viện Tim Hà Nội thì kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong 45 điều dưỡng tuân thủ VSTTQ thì chỉ có 1 điều dưỡng không đạt về kiến thức và thái độ còn lại 44 điều dưỡng đạt Số liệu có ý nghĩa thống kê CI 95%, p< 0,001 (42)
Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương tại bệnh viên Sản Nhi Bắc Ninh năm
2018 cũng có kết quả nhóm điều dưỡng có kiến thức, thái độ đạt về VST thì sẽ tuân thủ VSTTQ cao hơn (nhóm đạt kiến thức và thái độ lần lượt cao gấp 2,3 và 2,5 lần
về tuân thủ VSTTQ so với nhóm không đạt) (34)
Nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2019) tại Bệnh viện Y học cổ truyền Đắk
HUPH
Trang 28Lăk cho thấy kiến thức và thực hành là yếu tố liên quan đến tuân thủ VSTTQ của NVYT: những NVYT có kiến thức về VSTTQ đạt thì có tỷ lệ tuân thủ VSTTQ cao
hơn những NVYT kiến thức về VSTTQ không đạt (20,37% so với 12,22%); những
NVYT có thái độ tích cực về việc tuân thủ VSTTQ thì có tỷ lệ tuân thủ VSTTQ cao hơn những NVYT có thái độ chưa tích cực (18,33% so với 2,56%) và sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê, với p <0,05 (4)
Yếu tố khối lượng công việc và khoa làm việc
Theo giáo trình Quản trị nhân lực (nhà xuất bản Lao động xã hội năm 2004) thì khối lượng công việc là việc ấn định một con số hay một thứ hạng để phản ánh mức độ thực hiện công việc của người lao động theo các đặc trưng hoặc theo các khía cạnh đã được xác định trước của công việc (43)
Với kết quả nghiên cứu của Phùng Văn Thủy (2014) và Lã Ngọc Quang (2015) cho thấy khi xảy ra tình trạng quá tải bệnh viện, lượng người bệnh tăng cao,
số cơ hội VST tăng lên gấp nhiều lần, khi đó NVYT không có thời gian để tuân thủ VSTTQ khi đến thời điểm phải VST (39, 41)
Khi lượng người bệnh quá tải có thể làm tăng tỉ lệ NKBV do NVYT không có
đủ thời gian cho việc tuân thủ VSTTQ khi có nhiều cơ hội VST (44)
Yếu tố khoa làm việc: Theo nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương năm 2018 tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh thì cho thấy có mối liên quan giữa các khoa làm việc của ĐTNC và tuân thủ VSTTQ (p=0,04) Cụ thể: Khoa thuộc khối Nội tuân thủ VSTTQ cao nhất 56,6%, tiếp đến khoa gây mê 47,4% và các khoa Sản, khoa khám bệnh cấp cứu ban đầu, khoa ngoại nhi - liên chuyên khoa có tỉ lệ tuân thủ VSTTQ lần lượt là 41,7%; 36,4%; 30%, thấp nhất là khoa phụ sản chỉ có 8,3% (34)
Như vậy các KQNC đều chỉ ra khối lượng công việc của NVYT càng nhiều thì lỷ lệ tuân thủ VSTTQ lại càng thấp và ở mỗi khoa khác nhau thì tỷ lệ tuân thủ VSTTQ sẽ khác nhau
1.3.2 Yếu tố tổ chức, quản lý, giám sát vệ sinh tay thường quy
Yếu tố quy định của bệnh viện, kiểm tra giám sát
Nghiên cứu của Didier Pittet ở Thụy Sỹ đã sử dụng phương pháp giám sát
và phản hồi kết quả giám sát trên bảng tin của bệnh viện về việc tuân thủ VSTTQ
HUPH
Trang 29của NVYT Các giám sát viên không can thiệp, quan sát từ xa khi giám sát và không để NVYT biết lịch trình giám sát KQNC cho thấy: việc tuân thủ VSTTQ cải thiện dần từ 48% trong năm 1994 đến 66% vào năm 1997 (p <0 001) Trong cùng thời gian, nhiễm khuẩn bệnh viện chung giảm từ 16,9% trong năm 1994 xuống 9,9% vào năm 1998; p = 0,04 (45)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền tại bệnh viện Tim Hà Nội (2018) cho thấy treo và dán đầy đủ các panel, áp phích đầy đủ về các bảng hướng dẫn 5 thời điểm VST, 6 bước của quy trình VST tại các trí quan trọng để nhắc nhở thường xuyên và nâng cao ý thức và cải thiện hành vi tuân thủ thực hiện VST của NVYT và
cả người bệnh Đây cũng là yếu tố thúc đẩy tăng cường tuân thủ VSTTQ (37)
Yếu tố đào tạo, tập huấn, thi đua thưởng phạt
Theo KQNC của Lã Ngọc Quang (2015) tại bệnh viện Hòe Nhai, Hà Nội thì tập huấn các nội dung nâng cao kiến thức VST cho NVYT làm tăng tỉ lệ tuân thủ VSTTQ Tăng cường kiểm tra, tiến hành nhắc nhở hoặc dùng biện pháp phạt thích đáng nếu không tuân thủ VSTTQ, có biện pháp thưởng và phạt khi thực hiện tốt và không tốt VSTTQ để làm tăng tỉ lệ tuân thủ VSTTQ (41)
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương (2018) tại bệnh viện Bắc Ninh cho thấy đưa yếu tố thi đua như thưởng khi tuân thủ VSTTQ tốt, phạt khi không tuân thủ VSTTQ vào quy chế làm việc cũng thúc đẩy việc tuân thủ VSTTQ của NVYT (34)
Nghiên cứu của Yang, J và cộng sự (2019) tại Hàn Quốc cho thấy những người đã được tập huấn hoặc xem các tài liệu quảng cáo liên quan đến rửa tay thì có kiến thức, thực hành VSTTQ cao hơn những người chưa được tập huấn (p<0,001) Nghiên cứu cũng cho thấy dịch bệnh COVID-19 bùng phát đã ảnh hưởng đến nhận thức của các cá nhân về hành vi rửa tay, thúc đẩy NVYT và người bệnh tuân thủ VSTTQ hơn (46)
Yếu tố nhân lực cán bộ kiểm soát nhiễm khuẩn
Các KQNC đều chỉ ra rằng nhân lực bộ phận giám sát của khoa KSNK chưa được chú trọng còn thiếu rất nhiều về nhân lực Trong khi Thông Tư 16/2018/TT-BYT đã quy định cứ 150 giường bệnh phải có 1 giám sát, trên thực tế số nhân lực
HUPH
Trang 30giám sát này của các bệnh viện đạt chỉ 1 nửa (47)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền tại bệnh viện Tim Hà Nội năm (2018) cho thấy bộ phận giám sát của khoa KSNK còn thiếu, hiện tại bệnh viện chỉ chú trọng vào công tác hấp sấy các dụng cụ, giặt là đồ người bệnh, công tác thu gom phân loại chất thải, nước thải mà chưa quan trọng việc giám sát thực hành VST trong khi đây mới là nhiệm vụ quan trọng của KSNK (37)
Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương năm 2018 tại bệnh viện Sản nhi Bắc Ninh cũng chỉ ra công tác giám sát còn “lỏng lẻo” khi chỉ thực hiện hàng tháng (01 tháng/lần), việc giám sát chưa đưa vào quy chế xếp loại cán bộ viên chức/khoa, phòng chưa kiên quyết xử phạt các trường hợp vi phạm Đặc biệt vẫn còn tình trạng
“cả nể” mà chỉ là nhắc nhở (34)
1.3.3 Yếu tố trang thiết bị, phương tiện vệ sinh tay thường quy
Tính sẵn có của trang thiết bị phục vụ VSTTQ và khả năng tiệp cận phương tiện
Để tiết kiệm thời gian khi VSTTQ của NVYT thì cần trang bị các chai cồn tại các buồng bệnh, các vị trí cần thiết để giúp NVYT thuận tiện trong việc VST, và tuân thủ VSTTQ tốt hơn (48) Kết quả này cũng cùng KQNC của Voss và Widmer khi NVYT thực hiện VSTTQ bằng dung dịch chứa cồn/cồn ngay tại buồng bệnh thì thời gian
sẽ giảm xuống bằng 1/4 so với việc VSTTQ tại các bồn có vòi nước VST (49) Tại Việt Nam, số bồn VST đạt chuẩn chỉ có 37,6% (bồn VST đạt chuẩn phải
có đủ nước sạch, xà phòng, bảng hướng dẫn, khăn hoặc giấy lau tay một lần) số
lượng bồn VST hạn chế dẫn đến việc tuân thủ VSTTQ thấp của NVYT (50)
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thủy tại Bệnh viên Y học cổ truyền Đắk Lăk cho thấy việc trang bị đầy đủ trang thiết bị, phương tiện VST cho NVYT và bố trí các thiết bị ở nơi thuận tiện là yếu tố quan trọng, thúc đẩy NVYT tuân thủ VSTTQ nhiều hơn; tạo điều kiện thuận lợi cho NVYT TTVSTTQ (4)
Trong các KQNC, khi sử dụng các hóa chất VST trong đó có chất dưỡng sẽ làm giảm kích ứng da tay từ đó có thể cải thiện tuân thủ VSTTQ của NVYT (50) Phương tiện VST thường quy phải có s n ở mọi vị trí trong CSYT và cần được trang bị thêm dung dịch VST chứa cồn nhằm cải thiện tốt sự TTVSTTQ, nếu phương tiện bị thiếu hoặc không đảm bảo được chất lượng sẻ gây ảnh hưởng nhiều
HUPH
Trang 31đến TTVST của NVYT (1), (51), (52)
Hầu như các KQNC qua buổi phỏng vấn sâu hoặc thảo luận nhóm đều cho thấy nguyên nhân của việc NVYT không tuân thủ VSTTQ bằng phương pháp sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn là sợ khô và kích ứng da tay (39, 41, 53)
Yếu tố găng tay y tế
Trên thực tế, găng tay y tế được sử dụng một cách thoải mái và phổ biến trong các CSYT, nhờ có găng tay y tế mà người bệnh có thể tránh được những vi khuẩn khi NVYT là các thủ thuật, phẫu thuật, giúp bảo vệ cho NVYT tránh được các dịch tiết và máu từ người bệnh Vì thế, đã có nhiều NVYT xem việc mang găng có thể thay thế việc VST và dùng một đôi găng có thể tiêm thuốc, làm lasse nội mạch cho nhiều người bệnh Không hiểu hết được là phải thực hiện đúng cách và không sử dụng găng thay thế cho việc VST Đây chính là yếu tố làm giảm tỷ lệ tuân thủ VSTTQ
Theo WHO, có khoảng 30% NVYT mang găng khi chăm sóc người bệnh có
sự hiện diện của vi khuẩn lây bệnh (54)
1.4 Giới thiệu chung về Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lăk
Bệnh viện đa khoa Thị xã Buôn Hồ là bệnh viện hạng II, bệnh viện được giao 280 giường kế hoạch, giường thực kê là 325 giường; số lượng người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện hàng năm không ngừng gia tăng, công suất hoạt động của bệnh viện luôn đạt ở mức 105 - 115% Bệnh viện có tổng số 05 phòng chức năng và 12 khoa; với 198 cán bộ công nhân viên chức; trong đó có 112 NVYT làm việc trực tiếp liên quan đến chăm sóc và điều trị bệnh nhân tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng (38 bác sĩ, 60 điều dưỡng, 4 y sỹ YHCT, 8 nữ hộ sinh và 8 KTV xét nghiệm) (6) Bệnh viện có đội ngũ thầy thuốc với nhân viên y tế phần đông còn trẻ, khỏe, nhiệt tình và rất tâm huyết với ngành nghề, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn tận tâm phục vụ người bệnh
Mô hình tổ chức KSNK tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ tỉnh Đắk Lắk được thực hiện theo Thông tư số 16/2018/TT-BYT ngày 20/7/2018 của Bộ Y tế (48)
HUPH
Trang 32Hội đồng KSNK: Hội đồng gồm 16 thành viên Trong đó Chủ tịch Hội đồng KSNK là Giám đốc bệnh viện; thư ký thường trực Tổ trưởng Tổ KSNK; thành viên của hội đồng là trưởng các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, phòng kế hoạch tổng hợp, phòng điều dưỡng, phòng tổ chức hành chính Nhiệm vụ: Tư vấn cho giám đốc về KSNK trong cơ sở KBCB và tư vấn về việc sửa chữa thiết kế, xây dựng mới các công trình y tế trong bệnh viện phù hợp với KSNK Tham gia giám sát, đào tạo, nghiên cứu khoa học về KSNK Xem xét đánh giá và định hướng việc thực hiện KSNK của bệnh viện
Nhiệm vụ của Tổ KSNK: Tham mưu cho Giám đốc về các biện pháp phòng ngừa Tổ chức hoặc phối hợp với các khoa, phòng liên quan triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa và Kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện Xây dựng định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật và đề xuất mua sắm trang thiết bị, phương tiện, vật tư, hóa chất liên quan đến hoạt động KSNK và kiểm tra giám sát việc sử dụng Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hoạt động KSNK của thành viên mạng lưới KSNK Tổ chức đào tạo, tập huấn về KSNK cho NVYT, học viên Tổ chức truyền thông về KSNK cho NVYT, học viên, người nhà người bệnh và khách thăm Thực hiện nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc
tế và chỉ đạo tuyến về KSNK Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được phân công Công tác phòng ngừa và KSNK tại bệnh viện luôn được quan tâm và ưu tiên hàng đầu trong đó có VST của NVYT Qua khảo sát ban đầu, trong các khoa lâm sàng tại bệnh viện có được trang bị dung dịch VST nhưng chỉ ở các hành lang, phòng hành chính của các khoa, trên các xe tiêm và bàn khám bệnh chứ chưa có trang bị vào trong các buồng bệnh, đầu giường bệnh nặng để thuận lợi cho NVYT
vệ sinh tay khi cần Việc sử dụng dung dịch VST của các khoa phòng không được định mức hay kiểm tra giám sát thường xuyên (khi nào chai dung dịch hết là cầm xuống khoa dược để đổi chai mới) nên có khi có khoa, vị trí sử dụng nhiều hoặc không sử dụng cũng không bị nhắc nhở
HUPH
Trang 331.5 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng dựa vào Quyết định 3916/QĐ- BYT của Bộ Y
tế ngày 28/8/2017 về việc Phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong
các cơ sở khám chữa bệnh (1) và Quyết định 468/QĐ - BYT, của Bộ Y tế ngày
19/02/2020 về việc ban hành Hướng dẫn phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm
đường hô hấp cấp do vi rút Corona 2019 (COVID-19) trong các cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh (55) và dựa trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế
về vấn đề TTVSTTQ của NVYT
TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY
- Tuân thủ vệ sinh tay thường quy khi có cơ hội/thời điểm vệ sinh tay thường quy
- Tuân thủ vệ sinh tay theo quy trình 6 bước
- Kiến thức về tuân thủ vệ sinh tay thường quy;
- Thái độ về tuân thủ vệ sinh tay thường quy;
- Khối lượng công việc
Yếu tố Tổ Chức, Quản Lý
- Đào tạo tập huấn;
- Kiểm tra, giám sát;
- Thi đua: Thưởng/phạt;
- Nhân lực cán bộ KSNK;
- Các văn bản, chính sách; quy định hướng dẫn
của WHO, BYT, của Bệnh viện
Yếu Tố Trang Thiết Bị, Phương Tiện
- Tính s n có của trang thiết bị phục vụ VSTTQ:
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng:
- Đối tượng: Là NVYT của Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bác sỹ (BS), y sĩ (YS), điều dưỡng (ĐD), hộ sinh (HS), kỹ thuật viên (KTV) trực tiếp khám, điều trị, chăm sóc và thực hiện các thủ thuật cho bệnh nhân tại 9 khoa lâm sàng: Khoa Hồi sức cấp cứu, Nội Tổng hợp, Nhi, truyền Nhiễm, Y Học Cổ truyền, Phụ Sản, Ngoại Tổng hợp, Phẫu thuật gây mê
và hồi sức, khoa khám bệnh và 2 khoa cận lâm sàng: khoa Xét nghiệm, khoa Chẩn đoán hình ảnh
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ NVYT mới được tuyển vào bệnh viện, có thời gian tham gia làm việc đến thời điểm điều tra <1 tháng
+ NVYT nghỉ sinh hoặc đi học;
+ NVYT từ chối tham gia nghiên cứu
2.1.2 Nghiên cứu định tính:
- Lãnh đạo bệnh viện phụ trách mảng KSNK
- Tổ trưởng tổ KSNK của bệnh viện.- Phụ trách các khoa/bộ phận;
- NVYT các khoa/bộ phận
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian thu thập số liệu thực địa: Từ tháng 01/2021 đến tháng 3/2021 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2021 đến tháng 04/2022
Địa điểm: Bệnh viện Đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lượng nhằm mô tả thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ tỉnh Đăk Lăk nhằm
HUPH
Trang 35tìm ra những mặt còn tồn tại trong thực hiện công tác này tại bệnh viện Trên cơ sở kết quả sơ bộ từ nghiên cứu định lượng, nghiên cứu định tính đã được thực hiện sau nhằm phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ tỉnh Đăk Lăk năm 2021
2.4 Cỡ mẫu và Phương ph p chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu
2.4.1.1 Nghiên cứu định lượng
- Nhân viên y tế: Chọn cỡ mẫu toàn bộ
Chọn toàn bộ 112 NVYT trực tiếp điều trị, chăm sóc người bệnh tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ đạt tiêu chuẩn nghiên cứu Mỗi NVYT đước quan sát 3 cơ hội VSTTQ, cách đánh giá cơ hội VST dựa trên nghiên cứu của Phạm Thị Thủy tại Bệnh viện Y học cổ truyền Tỉnh Đăk Lăk năm 2019 và Nguyễn Thị Thu Huyền tại Bệnh viện tim Hà Nội năm 2018 (4), (42) Như vây tổng số cơ hội là 336 cơ hội
2.4.1.2 Nghiên cứu định tính: Chọn mẫu chủ đích
* Thực hiện 07 cuộc phỏng vấn sâu (PVS): 07 người:
- 01 Lãnh đạo Bệnh viện phụ trách mảng kiểm soát nhiễm khuẩn
* Tiến hành 03 cuộc thảo luận nhóm (TLN):
- Nhóm 1: Nhóm điều dưỡng trưởng các khoa: 8 người
- Nhóm 2: Nhóm nhân viên y tế: Mỗi khoa/bộ phận chọn một 1 NVYT tham gia (NVYT không tuân thủ VSTTQ) đồng ý tham gia thảo luận nhóm: gồm 11 người
HUPH
Trang 36- Nhóm 3: Nhóm nhân viên y tế: Mỗi khoa/bộ phận chọn một 1 NVYT tham gia (NVYT tuân thủ VSTTQ) đồng ý tham gia thảo luận nhóm: gồm 11 người bao gồm 01 bác sĩ, 01 y sỹ, 01 điều dưỡng, 01 KTV, 01 hộ sinh: 05 người
2.5 Phương ph p thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
- Bộ công cụ được xây dựng dựa trên bộ công cụ cuả WHO và Bộ Y tế bao gồm 2 phiếu (Phiếu đánh giá thực hành tuân thủ VSTTQ- Phụ lục 1 và phiếu điều tra kiến thức thái độ - Phụ lục 2)
- Bảng kiểm tuân thủ VSTTQ qua quan sát VSTTQ bao gồm các nội dung (thời điểm quan sát, chức danh người được quan sát, quan sát các cơ hội cần vệ sinh tay, thực hành VST với dung dịch sát khuẩn, xà phòng hay không; quan sát việc tuân thủ 6 bước của quy trình VSTTQ) (Phụ lục 1)
- Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ của NVYT về VSTTQ bao gồm: + Các thông tin chung của ĐTNC: tuổi, giới, chức danh nghề nghiệp, trình
độ học vấn, số năm công tác, khoa phòng đang công tác) (Phụ lục 2)
+ Kiến thức thực hành VSTTQ bao gồm 20 câu, từ câu B1 đến câu B20 (tác nhân gây bệnh truyền nhiễm do bàn tay, lợi ích tuân thủ VSTTQ, dùng găng tay thay thế VST, VST sẽ loại bỏ hết vi khuẩn gây bệnh, thời điểm cần VST, NKBV liên quan đến chăm sóc y tế, hình thức diệt khuẩn tốt nhất trên bàn tay, các phương pháp phù hợp để VST trong các trường hợp cụ thể, hóa chất phù hợp để VST, nếu các bước của quy trình VST)
+ Thái độ của NVYT về VSTTQ bao gồm 8 câu từ câu C1 đến C8: VST là biện pháp giảm tác nhân lây nhiễm tại CSYT, mang găng tay thì không cần VST, VST nhiều gây tổn thương da,…
- Hướng dẫn thảo luận nhóm bao gồm các nội dung: tầm quan trọng của VST trong chăm sóc và điều trị, lý do khiến NVYT không tuân thủ VSTTQ, trang thiết
bị, phương tiện phục vụ cho VSTTQ, khó khăn, rào cản trong việc VSTTQ tại bệnh viện, cơ chế thưởng phạt như thế nào, công tác giám sát, kiểm tra ra sao (Phụ lục 6)
- Hướng dẫn Phỏng vấn sâu bao gồm các nội dung: lý do khiến CBYT không tuân thủ VSTTQ, trang thiết bị cho công tác chống nhiễm khuẩn và VSTTQ, cơ chế
HUPH
Trang 37thưởng phạt, đào tạo tập huấn, kiểm tra, giám sát như thế nào ; khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện tuân thủ VSTTQ (Phụ lục 7)
Cả 2 hướng dẫn đều dùng các câu hỏi mở được xây dựng trên chức năng nhiệm vụ của từng đối tượng nghiên cứu với mục đích thu thập các ý kiến của các
ĐTNC về thực trạng tuân thủ VSTTQ như thế nào như những thuận lợi, khó khăn,
những mong muốn gì trong vấn đề VST, tìm ra phân tích một số yếu tố ảnh hưởng
đến việc tuân thủ VSTTQ để bệnh viện có những giải pháp khắc phục nâng cao việc
tuân thủ VSTTQ của NVYT
2.5.2 Phương ph p thu thập số liệu
* Thu thập số liệu định lượng
Nhóm nghiên cứu gồm 03 điều tra viên trong đó Nghiên cứu viên (NCV) làm truỏng nhóm cùng 02 điều tra viên là thành viên tổ KSNK có kinh nghiệm trong việc giám sát hoạt động KSNK chung Nhóm nghiên cứu viên trực tiếp đến 11 khoa lâm sàng, cận lâm sàng có NVYT được chọn vào nghiên cứu, việc quan sát được lồng ghép với các hoạt động giám sát KSNK khác trong quá trình Điều dưỡng, Bác sỹ, Kỹ thuật viên, Y sỹ, Hộ sinh thực hiện các hoạt động chuyên môn trên người bệnh và tiến hành điền vào phiếu giám sát VST các thông tin cần thiết như cơ hội VST, các bước VST, thời gian quan sát cho một đối tượng là 20 phút, nếu sau mỗi lần quan sát ĐTV không ghi nhận cơ hội VST thì điều tra viên đánh dấu lại mã ĐTNC và thực hiện thêm hai lần quan sát vào thời điểm khác
Tập huấn điều tra viên:
+ Nghiên cứu viên tổ chức 01 buổi tập huấn cho ĐTV biết về mục đích của
nghiên cứu là xác định thực trạng thực hành tuân thủ VSTTQ tại các khoa trong bệnh viện; từ đó tìm hiểu và xác định nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ STTQ
và có giải pháp can thiệp
Lập danh sách ĐTNC bao gồm các thông tin như: Họ tên, tuổi và khoa ĐTNC làm việc Mã hóa số nghiên cứu của từng ĐTNC để sau khi thu nhập thì 2 phiếu phụ lục
1 (giám sát thực hành) Phụ lục 2 (đánh giá kiến thức, thái độ của NVYT) của cùng một ĐTNC phải trùng nhau để tránh sự nhầm lẫn
Danh sách của ĐTNC được nghiên cứu viên gửi tới từng ĐTV; trong nghiên cứu
HUPH
Trang 38có tổng 112 ĐTNC, đƣợc chia cho 03 ĐTV để có sự khách quan và tránh sự chú ý của ĐTNC (trong danh sách có đầy đủ thông tin cần thiết nhƣ tên, địa chỉ khoa) để ĐTV chủ động thực hiện việc thu nhập thông tin theo nhƣ kế hoạch và thời gian đƣợc xây dựng
s n cụ thể nhƣ sau:
Bảng 2.1 Số lƣợng ĐTNC và ĐTV tại c c khoa lâm sàng và cận lâm sàng
Số lƣợng ĐTNC tại c c khoa
Số ĐTNC Điều tra viên tiến hành thu thập
thông tin NC ĐTV 1 ĐTV2 ĐTV 3 Khối Lâm sàng
Hàng ngày ĐTV đến các khoa quan sát vào khung giờ hành chính, buổi sáng bắt đầu từ 7h30 đến 11h sáng, buối chiều từ 13h30 đến 16h30 đƣợc tiến hành quan
HUPH
Trang 39sát từ thứ 2 đến thứ 6
* Công cụ thu thập số liệu: Trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức học
viên tiến hành thử nghiệm quan sát 11 lần/11 điều dưỡng tại 11 khoa lâm sàng và cận lâm sàng Sau khi thử nghiện thấy bộ công cụ thu thập phù hợp nên học viên không có chỉnh sửa gì so với thiết kế ban đầu
Đánh giá thực hành tuân thủ VSTTQ (Bảng kiểm quan sát tại Phụ lục 1)
Bảng kiểm giám sát bao gồm 2 phần: 1 Phần thông tin hành chính; 2 Quan sát thực hành tuân thủ VSTTQ
Nội dung điền vào phiếu giám sát thực hiện cụ thể như sau:
- Phần thông tin hành chính
+ Mã số nghiên cứu: Là mã số của NVYT trong danh sách nghiên cứu
+ Khoa: Là khoa mà NVYT đó công tác
+ Thời điểm quan sát: Tích vào ô “sáng” nếu thời gian quan sát là buổi sáng,
“Chiều” nếu thời gian quan sát là buổi chiều
+ Chức danh: Chọn và khoanh tròn vào chức danh của NVYT đang quan sát Quan sát thực hành cơ hội VSTTQ cần quan sát đối với một NVYT ĐTV quan sát xem NVYT có thực hiện VSTTQ khi có cơ hội VSTTQ hay không và điền vào phiếu, mỗi lần VSTTQ thì có đúng 6 bước quy trình không và điền vào bảng kiểm
- Cách điền bảng kiểm:
+ Cột chỉ định: Tích vào ô thời điểm trong 5 thời điểm mà NVYT cần VSTTQ + Cột thực hành: Tích vào 1 ô mà NVYT có hay không thực hiện VSTTQ nếu
có thực hiện VSTTQ thì phương pháp gì (VST với nước và xà phòng hay VST với cồn)
+ Cột kỹ thuật: NVYT thực hiện VSTTQ bước nào thì tích bước đó (bỏ bước nào thì không chọn bước đó)
* Tiến hành quan sát thực hành tuân thủ vệ sinh tay thường quy
Thời gian: Tiến hành quan sát hàng ngày trong giờ hành chính từ thứ hai đến thứ sáu hàng tuần
ĐTV xuống trực tiếp các khoa mang theo bảng danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu để tiến hành quan sát Trong danh sách đã ghi đầy đủ thông tin cá nhân; ĐTV quan sát ĐTNC thực hành và điền số thứ tự đã được mã hóa trong danh sách trùng khớp
HUPH
Trang 40với phiếu quan sát không để NVYT biết sẽ cố tình thực hành tốt hơn, việc này phản ánh không đúng thực trạng tuân thủ VSTTQ tại bệnh viện
Mỗi NVYT được quan sát đủ 3 lần (tương ứng với 03 cơ hội VST) vào các thời điểm khác nhau trong ngày (sáng hoặc chiều) ĐTV quan sát 5 thời điểm vệ sinh tay, ĐTNC thực hiện thời điểm nào thì tích vào thời điểm đó, tiếp tục quan sát ĐTNC có VST bằng nước và xà phòng hay VST bằng nước và xà phòng hay VST bằng cồn sát khuẩn hay không Tiếp đến ĐTV quan sát ĐTNC thực hiện các bước trong 6 bước của quy trình VSTTQ, ĐTNC làm bước nào ghi nhận bước đó Kết thúc 1 lần quan sát ĐTV có thể sang khoa khác hoặc NVYT khác và lưu ý tránh để NVYT biết mình đang bị giám sát
Quan sát để đánh giá: TTVST trong các cơ hội phải VST; TTVST theo 6 bước của QT VSTTQ
Tại các khoa, Điều tra viên chọn một vị trí quan sát thích hợp để quan sát NVYT thực hiện VSTTQ không gây ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn cũng như sự chú ý đối với NVYT đang được quan sát Vì nhóm ĐTV là thành viên thuộc mạng lưới, hội đồng KSNK, công việc chính là giám sát hoạt động KSNK chung nên lồng ghép việc giám sát tuân thủ VSTTQ vào hoạt động giám sát KSNK
* Điều tra kiến thức, th i độ và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế (Phụ lục 2)
Sau khi hoàn thành quan sát thực hành tuân thủ VSTTQ thì NCV trực tiếp cùng ĐTV đến tận khoa phát phiếu phát vấn cho ĐTNC (Phụ lục 2) Phiếu khảo sát kiến thức - thái độ được học viên mã hóa trùng với số thứ tự của ĐTNC trong danh sách để tránh sự nhầm lẫn trong quá trình thu thập và khi nhập số liệu, phân tích số liệu
Trước khi ĐTNC điền vào phiếu, NCV giải thích rõ mục đích nghiên cứu và cách trả lời câu hỏi Nếu ĐTNC đồng ý tham gia, đánh dấu tích vào ô “đồng ý” và tiếp tục điền vào phiếu để trả lời câu hỏi và ngược lại nếu ĐTNC đánh dấu tích vào
ô “không đồng ý” và không thực hiện phát vấn đối với ĐTNC đó Thời gian phát vấn tối đa 30 phút
Trong quá trình phát vấn, không để ĐTNC trao đổi các thông tin về câu trả
HUPH