Cho đến nay, việc thực hiện phân loại, thu gom, xử lý CTRYT theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của liên Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÝ VĨNH TRUNG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2021
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II - TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05
HÀ NỘI, 2021 HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÝ VĨNH TRUNG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2021
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II - TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VIÊN CHINH CHIẾN
HÀ NỘI, 2021HUPH
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC……….………….……….……… ……… i
DANH MỤC BẢNG……….……….………….……… …… iii
DANH MỤC HÌNH……….……….………….……… …… iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……….…….……… ……… v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU………… …….………….……….…… …… vi
ĐẶT VẤN ĐỀ……… …….………….……….…… …… 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……….… …….……… … 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ……… ……… 4
1.1 Một số khái niệm liên quan đến chất thải y tế 4
1.2 Tổng quan nội dung liên quan đến mục tiêu nghiên cứu…….…… ………… 10
1.3 Khung lý thuyết ……… 26
1.4 Thông tin địa bàn nghiên cứu 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.1 Nghiên cứu định lượng……… ……… 30
2.1.2 Nghiên cứu định tính ……… ……….… 30
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30
2.2.1 Thời gian nghiên cứu ……… ………… 30
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: ……… 30
2.3 Thiết kế nghiên cứu 30
2.4 Cỡ mẫu 31
2.4.1 Nghiên cứu định lượng ……… ……… 31
2.4.2 Nghiên cứu định tính ……… ……… 33
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 33
2.5.1 Nghiên cứu định lượng 33
2.5.2 Nghiên cứu định tính 34
2.6 Biến số nghiên cứu 34
HUPH
Trang 42.7 Phương pháp đánh giá nghiên cứu 37
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 38
2.9 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục……… 38
2.10 Đạo đức nghiên cứu ……….……… …… 39
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ……… ………… 40
3.1 Thực trạng hệ thống xử lý chất thải BV……… 41
3.2 Thực trạng quản lý CTRYT……… 44
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến QLCTRYT 52
Chương 4 BÀN LUẬN ……… ………… 61
4.1 Thực trạng hệ thống xử lý chất thải 61
4.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lăk năm 2021
62 4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lăk năm 2021
69 4.4 Hạn chế nghiên cứu……… ……… 75
KẾT LUẬN ……….……… 76
KHUYẾN NGHỊ……….……… 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… ……….…… 78
Phụ lục 1 Phiếu quan sát thực hành phân loại CTRYT ……….……… 84
Phụ lục 2 Phiếu quan sát thực hành thu gom, vận chuyển CTRYT…… …… 85
Phụ lục 3 Phiếu quan sát thực hành lưu giữ CTRYT……… …… 88
Phụ lục 4 Phiếu quan sát thực hành xử lý CTRYT…… ……… 89
Phụ lục 5 Hướng dẫn phỏng vấn sâu Lãnh đạo BV………… ……… 90
Phụ lục 6 Hướng dẫn phỏng vấn sâu NVYT BV……… 91
Phụ lục 7 Hướng dẫn PVS ĐDT và KTV……… 93
Phụ lục 8 Hướng dẫn thảo luận nhóm NVYT BV……… 95
Phụ lục 9 Thông tin hệ thống quản lý CTRYT tại BV……… 98
Phụ lục 10 Biến số nghiên cứu……… 100
HUPH
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
2.1 Đối tượng tham gia PVS ……….…… 33
3.1 Nhân lực tham gia quản lý CTRYT tại BVĐK ……… 40
3.2 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong ngày……… 41
3.3 Kết quả quan trắc hiệu quả của lò hấp chất thải y tế………… 42
3.4 Thực hành phân loại CTRYT 43
3.5 Thực hành phân loại CTRYT theo bộ phận công tác … 45
3.6 Thực hành thu gom CTRYT……….… ………….… 46
3.7 Thực hành thu gom CTRYT theo bộ phận 46
3.8 Thực hành vận chuyển CTRYT……… ………….… 48
3.9 Thực hành vận chuyển CTRYT theo bộ phận 49
3.10 Thực hành lưu giữ CTRYT 50
3.11 Thực hành xử lý CTRYT 51
3.12 Kết quả đánh giá chất lượng trong quản lý chất thải rắn tại
bệnh viện năm 2020 HUPH 55
Trang 6DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 28
HUPH
Trang 7CTYTNH Chất thải y tế nguy hại
QLCTYT Quản lý chất thải y tế
QLCTRYT Quản lý chất thải rắn y tế
TYT Trạm Y tế (bao gồm trạm y tế xã, phường, thị trấn) WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
HUPH
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ là một trong 18 bệnh viện của tỉnh Đắk Lắk gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý triệt để Tuy nhiên công tác quản lý CTYT tại bệnh viện vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập; lượng CTRYT ngày một nhiều đòi hỏi cần thêm nhân lực, cơ sở, vật chất, trang thiết bị, để xử lý Từ các
yếu tố đề cập trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố
ảnh hưởng đến quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk năm 2021”; với hai mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng quản lý chất thải
rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk năm 2021 và (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk năm 2021
Thiết kế nghiên cứu là mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp nghiên cứu định tính Nghiên cứu tiến hành quan sát quy trình phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và vận chuyển CTRYT tại 10 khoa lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh viện; đồng thời tiến hành 13 cuộc phỏng vấn sâu và 4 cuộc thảo luận nhóm Thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2021
Kết quả nghiên cứu: Phân loại CTRYT chung đạt chiếm tỉ lệ 66,67%; Thực hiện thu gom vận chuyển CTRYT chung đạt chiếm tỉ lệ 72,5%; vẫn còn 24,17% túi, thùng đựng chất thải có hiện tượng tràn đầy Thực hiện vận chuyển CTRYT đạt chỉ chiếm 57,98% Thực hành xử lý chỉ đạt 50% Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý chất thải rắn y tế là công tác kiểm tra, giám sát còn mang tính hình thức, chưa chặt chẽ; thiếu kiểm tra đột xuất và chưa có cơ chế xử phạt rõ ràng có tính răn đe; thiếu kinh phí, trang thiết bị; thiếu nhân lực (hộ lý)
Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị: tăng cường công tác kiểm tra giám sát; bố trí thêm nhân lực cho khoa KSNK, tăng cường hộ lý cho các khoa đông bệnh nhân; tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức của bệnh nhân và người nhà về xử lý rác thải theo quy định; cân đối, bố trí thêm kinh phí cho công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện; nhất khâu xử lý, cần sửa chữa, mua sắm thêm TTB tại khâu xử lý rác thải
HUPH
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường Chất thải y tế có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người như: lây bệnh qua đường máu cho NVYT, đặc biệt là sự cố thương tích do chất sắc nhọn, phổ biến nhất là nhân viên y tế bị thương do các kim tiêm lây nhiễm trong quá trình thực hiện quản lý chất thải, xử lý CTYT không đúng phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên (1)
Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý môi trường Y tế, năm 2017, lượng chất thải rắn phát sinh vào khoảng khoảng 450 tấn/ngày, trong đó 47-50 tấn/ngày
là chất thải y tế nguy hại, mức độ tăng là 7,5%/năm (2) Bên cạnh các CTYT lây nhiễm, gây nguy cơ mắc các dịch bệnh truyền nhiễm, các cơ sở y tế còn phát sinh các chất thải nguy hại khác như dược phẩm quá hạn, chất thải phóng xạ, chất thải gây độc tế bào và các hóa chất độc hại khác như chì, cadimi, thủy ngân, dioxin/furan, các dung môi chứa clo (3)
Cho đến nay, việc thực hiện phân loại, thu gom, xử lý CTRYT theo Thông
tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của liên Bộ Y tế và
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Quản lý CTYT ở nhiều cơ sở y tế còn chưa đạt yêu cầu theo quy định về quản lý chất thải y tế; trong thời gian qua tại các cơ sở khám chữa bệnh tỷ lệ bệnh viện có thực hiện phân loại CTRYT là 95,6% và thu gom CTRYT hàng ngày là 90,9%; tuy nhiên chỉ một nửa trong số
đó phân loại và thu gom CTRYT đạt yêu cầu theo quy định QLCTRYT (4) Việc
xử lý CTRYT tại các CSYT chủ yếu được xử lý bằng phương pháp đốt Nhưng
đa số các lò đốt chưa có hệ thống xử lý khí thải, nhiều lò đốt đã cũ, hỏng nên có nguy cơ làm phát sinh các chất độc hại ra môi trường, trong đó có các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ như Dioxin và Furan (5) Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy công tác quản lý CTRYT tại nhiều cơ sở y tế hiện nay còn hạn chế, việc thu gon, phân loại CTRYT chưa đúng quy định, nhiều cơ sở y tế thiếu các trang thiết bị (TTB) phục vụ công tác quản lý CTRYT, các nghiên cứu
HUPH
Trang 10cũng cho thấy việc thiếu nhân lực, thiếu kinh phí, thiếu TTB và công tác quản lý điều hành còn hạn chế là những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quan rlys CTRYT tại các cơ sở y tế hiện nay (6), (7), (8)
Bệnh viện đa khoa Thị xã Buôn Hồ là bệnh viện hạng II, bệnh viện được giao 280 giường kế hoạch, giường thực kê là 325 giường; số lượng người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện hàng năm không ngừng gia tăng, công suất hoạt động của bệnh viện luôn đạt ở mức 105 - 115% Tổng lượng CTRYT phát sinh trung bình một tháng của bệnh viện: chất thải lây nhiễm 1.119kg/tháng, chất thải tái chế
745 kg/tháng, chất thải thông thường là 3.780 kg/tháng (5)
Theo Quyết định 1788/QĐ-TTg ngày 01/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020, tỉnh Đắk Lắk có 18 bệnh viện, trong đó có Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ (9) Đến nay, bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ đã tích cực triển khai nhiều giải pháp để xử lý triệt để ô nhiễm môi trường Tuy nhiên công tác quản lý CTYT tại bệnh viện vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập Bênh viện luôn trong tình trạng quá tải; lượng CTRYT ngày một nhiều đòi hỏi cần thêm nhân lực, cơ sở, vật chất, trang thiết bị, để xử lý Từ các yếu tố đề cập trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải rắn y tế tại
Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk năm 2021”
HUPH
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk năm 2021
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk năm 2021
HUPH
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các khái niệm, quy định, tiêu chí liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.1.1 Một số khái niệm
Chất thải rắn y tế
CTRYT theo quy chế quản lý chất thải của Bộ Y tế là vật chất ở thể rắn được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải rắn y tế nguy hại và chất thải rắn y tế thông thường (3)
Chất thải y tế nguy hại
CTYT nguy hại là CTYT chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm (3)
CTYT nguy hại được xác định là chất thải có chứa một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan của cơ thể người và động vật, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ được sử dụng trong y tế Những chất này không được xử lý đúng cách sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người
CTYT nguy hại thường chiếm từ 10-25% tổng luợng CTYT Danh mục CTNH áp dụng theo danh mục CTNH ban hành kèm theo Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 về Quản lý CTNH (3)
Quản lý chất thải y tế (QLCTYT)
QLCTYT là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý CTYTvà giám sát quá trình thực hiện (4)
1.1.2 Phân loại CTRYT
Có nhiều cách phân loại CTRYT theo các quan điểm khác nhau của các nhà quản lý, nhưng tất cả phân loại đều chỉ dựa vào tính chất vật lý, hóa học của chất
HUPH
Trang 13thải và khả năng gây hại đến sức khỏe của con người và môi trường xung quanh Theo tổ chức y tế thế giới WHO chất thải y tế được chia thành 8 loại (10):
- Chất thải sắc nhọn: Có thể làm tổn thương da bao gồm: Bơm kim tiêm, dao
mổ, bộ tiêm truyền…
- Chất thải lây nhiễm: Là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, vi-rút,
ký sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho người dễ bị cảm nhiễm, bao gồm các loại:
+ Rác từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng;
+ Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm;
+ Rác từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng; + Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm;
+ Súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm
- Chất thải có tính độc với tế bào: Có thể làm biến đổi gen, gây quái thai như các chất chống ung thư
- Thuốc thải chất thải dược phẩm: Bao gồm thuốc quá hạn, thuốc không dùng hoặc các loại vắc-xin, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng…
- Hóa chất: Có thể dưới dạng rắn, lỏng, khí, bao gồm:
+ Hóa chất độc
+ Hóa chất có tính ăn mòn (PH< 2 hoặc PH> 12)
+ Hóa chất dễ gây nổ
- Rác chứa kim loại nặng, độc: Chất chứa kim loại như chì, thủy ngân, asen
- Các bình chứa khí nén: Được dùng trong y tế dưới dạng khí như oxy, khí gây mê
- Chất phóng xạ: Không thể phát hiện bằng giác quan, chúng thường gây ảnh hưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào) như tia X, tia alpha, tia Beta (10)
Khối lượng CTYT phát sinh tại các CSYT thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khác như: Thay đổi theo cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh viện, lượng bệnh nhân đến khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân nội và ngoại trú, phương pháp và thói quen của NVYT trong việc khám, điều trị và chăm sóc, số lượng người nhà đến thăm bệnh nhân…(11)
HUPH
Trang 141.1.3 Một số văn bản pháp lý liên quan đến quản lý chất thải y tế
Ở nước ta CTRYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật do Quốc hội, Chính phủ và Bộ ngành ban hành, cụ thể bao gồm một số văn bản sau:
Chỉ thị 08/CT-BYT ngày 29/7/2019 của Bộ Y tế về giảm thiểu chất thải nhựa trong ngành Y tế nhằm tăng cường giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Quy trình thanh tra về quản lý chất thải y tế, (Ban hành kèm theo Quyết định
số 277/2013/QĐ-BYT ngày 24/01/2013 của Bộ trường Bộ Y tế;
Công văn số 911/TTrB ngày 07/12/2012 về tăng cường công tác Quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế;
Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 Phê duyệt Đề án tổng thể xử
lý chất thải y tế giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 về phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014;
Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;
Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế và Bộ tài nguyên và Môi trường, quy định về quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế khám bệnh, chữa bệnh
1.1.4 Quy định về QLCTRYT theo Thông tư liên tịch số BTNMT của Bộ Y tế và Bộ tài nguyên và Môi trường
58/2015/TTLT-BYT-1.1.4.1 Phân định CTRYT
Chất thải lây nhiễm bao gồm: Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây
nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng; chất thải lây nhiễm không sắc nhọn; chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly; chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao; chất thải giải phẫu (4)
HUPH
Trang 15Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm: Hóa chất thải bỏ, bao gồm
hoặc có các thành phần nguy hại; dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất; thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng; chất hàn răng amalgam thải bỏ; chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT) (3)
1.1.4.2 Bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTRYT
- Màu sắc: vàng, đen, xanh, trắng Trong đó, màu vàng đựng chất thải lây nhiễm, màu đen đựng chất thải nguy hại không lây nhiễm, màu xanh đựng chất thải
y tế thông thường, màu trắng đựng chất thải tái chế (4)
- Bảo đảm lưu chứa an toàn chất thải, có khả năng chống thấm và có kích thước phù hợp với lượng chất thải lưu chứa Nếu bao bì, dụng cụ đựng chất thải y tế
sử dụng phương pháp đốt không dùng nhựa PVC Bên ngoài bao bì, dụng cụ, thiết
bị lưu chứa đựng chất thải lưu chứa có biểu tượng nguy hại sinh học đối với túi màu vàng, biểu tượng có thể tái chế đối với túi màu trắng và biểu tượng nguy hại phù hợp với chất thải hóa học chứa bên trong túi màu đen (4)
- Thùng, hộp đựng chất thải có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng; thùng, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải có thành, đáy cứng không bị xuyên thủng Thùng, hộp đựng chất thải có thể tái sử dụng theo đúng mục đích lưu chứa sau khi đã được làm sạch và để khô (4)
1.1.4.3 Phân loại chất thải y tế
Nguyên tắc phân loại chất thải y tế:
- Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh
- Từng loại CTYT phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định Trường hợp các CTYT nguy hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa (4)
HUPH
Trang 16- Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm
Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải: Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải
bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại CTYTvà phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải (4)
1.1.4.4 Thu gom chất thải y tế
Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò
rỉ chất thải trong quá trình thu gom Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử
lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở
y tế Cơ sở y tế quy định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lây nhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và khu vực khác trong cơ sở y tế (12)
Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế như: chất hàn răng amalgam thải và thiết bị
y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy ngân Chất thải có chứa thủy ngân được thu gom và lưu giữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp
và bảo đảm không bị rò rỉ hay phát tán hơi thủy ngân ra môi trường (12)
Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng (12)
1.1.4.5 Lưu giữ chất thải y tế
Quy định khu vực lưu giữ CTYT:
1 Có mái che cho khu vực lưu giữ; nền đảm bảo không bị ngập lụt, tránh được nước mưa chảy tràn từ bên ngoài vào, không bị chảy tràn chất lỏng ra bên ngoài khi có sự cố rò rỉ, đổ tràn (4)
2 Phải bố trí vị trí phù hợp để đặt các dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT
(phân chia ô đối với mô hình cụm cơ sở y tế và bệnh viện) (4)
3 Dụng cụ, thiết bị lưu chứa phải phù hợp với từng loại chất thải và lượng chất thải phát sinh trong cơ sở y tế Các chất thải khác nhau nhưng cùng áp dụng
HUPH
Trang 17một phương pháp xử lý được lưu giữ trong cùng một dụng cụ, thiết bị lưu chứa
(có vật liệu hấp thụ (như cát khô hoặc mùn cưa) và xẻng để sử dụng trong trường hợp rò rỉ, đổ tràn chất thải y tế nguy hại ở dạng lỏng - mô hình cụm cơ sở y tế và bệnh viện) (4)
4 Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải phải có nắp đậy kín, có biểu tượng loại
chất thải lưu giữ theo đúng quy định (có thiết bị phòng cháy chữa cháy theo quy định - mô hình cụm cơ sở y tế và bệnh viện)
5 Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ
Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm:
a) Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường
b) Đối với chất thải lây nhiễm được vận chuyển từ cơ sở y tế khác về để xử
lý theo mô hình cụm hoặc mô hình tập trung, phải ưu tiên xử lý trong ngày Trường hợp chưa xử lý ngay trong ngày, phải lưu giữ ở nhiệt độ dưới 20°C và thời gian lưu giữ tối đa không quá 02 ngày (4)
1.1.4.6 Xử lý chất thải y tế nguy hại
Chất thải y tế nguy hại phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Ưu tiên lựa chọn các công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường
và bảo đảm xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành (13)
Hình thức xử lý chất thải y tế nguy hại theo mô hình cụm cơ sở y tế phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trong kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử
lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế
của địa phương và quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường (12)
Trang 18- Validate (nâng cao giá trị chất thải bằng cách áp dụng các công nghệ xử lý sinh lợi nhằm thu hồi lại vật chất và năng lượng từ CTR)
- Eliminate (thành phần còn lại cuối cùng không thể tận dụng được nữa phải thải bỏ chủ yếu là chôn lấp) Tuy nhiên khi chôn lấp cũng phải xem xét khả năng có thể thu hồi khí gas phục vụ cuộc sống
- Yêu cầu chung xử lý CTRYT nguy hại: Không gây ô nhiễm thứ cấp, nằm
trong quy định chung về quản lý và xử lý chất thải, đảm bảo đúng quy định Luật bảo vệ môi trường Toàn bộ CTRYT nguy hại đều phải được quản lý và xử lý triệt
để CTYT thông thường xử lý như rác thải sinh hoạt (4)
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế/bệnh viện
1.2.1.1 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới
Theo H.Ô-ga-oa cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khỏe, môi trường khu vực Châu Á, phần lớn các nước đang phát triển không kiểm soát tốt chất thải y tế, chưa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải (15)
Tác giả Kizito Kuchibanda và Aloyce W Mayo nghiên cứu tại 3 bệnh viện thành phố Shinyangga, Tazania cho thấy sự yếu kém trong quản lý CTRYT, các bệnh viện chưa phân loại riêng CTRYT, các TTB bảo hộ không đầy đủ, không có hàng rào che chắn tại khu vực lưu giữ tạm thời Khi vận chuyển CTRYT đến bãi rác thành phố không có thùng đựng riêng biệt đậy kín, có thể rơi vãi rác thải, gây nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân (16)
Năm 2016 một nghiên cứu tại 7 bệnh viện ở Lagos, Nigeria, mỗi người bệnh thải ra 0,181 kg/ngày/giường CTRYT; việc trang bị phương tiện vận chuyển chưa đúng quy định Công tác xử lý chất thải còn kém Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá thực trạng, chưa phân tích các yếu tố liên quan đến quản lý chất thải trên địa bàn (17)
Theo tổ chức y tế thế giới có 18 - 64% các cơ sở y tế chưa có biện pháp xử
lý chất thải thải đúng cách Tại các cơ sở y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý chất thải y tế Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là
HUPH
Trang 19dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển chất thải đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy (15)
Các nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế (15), (18), (19), (20)
Các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng (21), (22), (23); tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị (24)
Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý CTRYT của một số nước trên thế giới cho thấy rằng, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi CTRYT với hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thụy Sĩ (33%), trong lúc đó Singapore chỉ
sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%)…các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong việc quản lý CTRYT là Phần Lan (84%), Thái Lan (84%), Anh (83%), Liên Bang Nga (80%), Tây Ban Nha (80%) (25)
HUPH
Trang 20Trong khu vực Đông Nam Á: Những thách thức đáng kể vẫn tồn tại liên quan đến việc quản lý thích hợp và xử lý CTYT Lượng CTYT ở các nước này liên tục tăng là kết quả của việc mở rộng các hệ thống và dịch vụ chăm sóc sức khỏe Trong thập kỷ qua, hệ thống QLCT toàn diện hơn được phát triển cho các nước Đông Nam Á Điều này cũng bao gồm việc thành lập hệ thống xử lý CTYT thay thế Những phát triển trong nước thấp hơn thu nhập trung bình được quan tâm đặc biệt, như đầu tư lớn được lên kế hoạch (19)
1.2.1.2 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
* Phân loại chất thải bệnh viện
Bộ Y tế đã quy định, CTRYT phải phân loại ngay tại nơi phát sinh, không để lẫn với chất thải thông thường, cho vào túi có màu sắc khác nhau và hộp an toàn
Theo số liệu liên đoàn kiểm tra liên Bộ và báo cáo của các tỉnh, còn hiện tượng phân loại nhầm, chất thải thông thường được đưa vào CTYT gây tốn kém trong xử lý Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày đúng quy định; có tới 63,6% sử dụng túi nhựa PE, PP CTYT đựng trong các thùng đựng chất thải theo đúng quy định (26)
Nghiên cứu của tác giả Lê Chính Phong năm 2016 tại bệnh viện Mắt Hà Nội, chất thải được phân loại ngay tại nơi phát sinh nhưng chủ yếu phân thành hai nhóm là CTYT nguy hại và CTYT thông thường Tỷ lệ phân loại đúng CTYT đạt thấp chỉ chiếm 53,3% (27) Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Chiến nghiên cứu năm
2017 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước kết quả cho thấy phần lớn quy định
về CTRYT đã được thực hiện tốt từ khâu phân loại CTRYT thông thường và CTRYT lây nhiễm, nguy hại tại nơi phát sinh đạt 98,2% theo quy định thông tư
58 Nghiên cứu cũng cho thấy bệnh viện còn tồn tại hai kết quả chưa đạt đó là: phân loại chất thải sắc nhọn vào thùng kháng thùng màu vàng, và CTYT nguy hại không lây nhiễm vào thùng màu đen chỉ đạt 14% (28)
Theo báo cáo của trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, đa số các bệnh viện (81,25%) đã thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên tham gia công tác này chưa được đào tạo
đủ tới mức trở thành kỹ năng Việc phân loại còn chưa theo đúng quy cách như tách
HUPH
Trang 21các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế, còn lẫn nhiều chất thải sinh hoạt vào chất thải y tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đúng qui chế quản lý chất thải bệnh viện, còn tuỳ tiện, có gì sử dụng này (29)
Còn nhiều bệnh viện (45%) chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu huỷ chất thải Trong số các bệnh viện đã thực hành tách riêng vật sắc nhọn, có tới 11,4% bệnh viện tuy có tách vật sắc nhọn nhưng chưa thu gom vào các hộp đựng vật sắt nhọn theo đúng tiêu chuẩn quy định, đa số các bệnh viện (88,6%) thường đựng các vật sắc nhọn vào chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước hay vật dụng tự tạo (30)
Kết quả quan trắc môi trường tại 16 BV thuộc khu vực phía Nam năm 2014 của Viện Y tế công cộng TP.HCM cho thấy: Tại 228 khoa tại 16 BV thuộc 2 tuyến (Trung ương và tỉnh) cho thấy 100% khoa đều thực hiện phân loại rác ngay tại nguồn, tại nơi phát sinh rác luôn có túi để thay thế và đảm bảo tần suất thu gom tại các khoa ít nhất 1 lần/ngày Tại tuyến Trung ương, tất cả các khoa được khảo sát đều có quy định vị trí đặt thùng thu gom rác, rác sau khi phân loại được chứa trong túi đúng màu sắc, lượng túi rác trong thùng chứa không quá vạch quy định Trên 90% số khoa không có hiện tượng phân loại sai giữa chất thải sinh hoạt và CTYT Tại tuyến tỉnh/thành, trên 90% số khoa thực hiện tốt việc quy định vị trí đặt thùng thu gom rác, rác sau khi phân loại được chứa trong túi đúng màu sắc, lượng rác trong túi không vượt quá vạch quy định, không có tình trạng phân loại rác sai và các túi rác trong thùng đều được buộc kín miệng trước khi được thu gom và vận chuyển
về nơi lưu giữ Trong 16 BV được quan trắc, có 11 BV xử lý CTRYT bằng phương pháp thiêu đốt tại chỗ (chiếm tỷ lệ 68,7 %), bao gồm 01 BV trực thuộc tuyến Trung ương (BVĐK Trung ương Cần Thơ) và 10 BV thuộc tuyến tỉnh/thành Các BV tại khu vực TP Hồ Chí Minh (BV Chợ Rẫy, BV Thống Nhất, BV Cấp cứu Trưng Vương (31)
* Thu gom chất thải bệnh viện
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà tại bệnh viện Việt Đức - Hà Nội (2018) cho thấy công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện còn nhiều hạn chế: Phương tiện
HUPH
Trang 22thu gom như: túi, thùng đựng chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn mà nguyên nhân sâu xa nhất là thiếu kinh phí, nguồn hỗ trợ cho công tác này còn hạn hẹp trong giai đoạn vận chuyển chưa thực hiện đúng quy trình vận chuyển chất thải y tế Công tác quản lý chất thải y tế cần tăng cường các trang thiết bị và phương tiện thu gom chất thải y tế, tăng cường việc kiểm tra giám sát việc thu gom và vận chuyển CTYT (32)
Bô Y tế đã chỉ ra những bất cập tại các bệnh viện trong vấn đề quản lý chất thải rắn y tế đó là:
- Việc phân loại chất thải rắn y tế còn chưa đúng quy định: Cho đến nay ở hầu hết các bệnh viện công tác quản lý chất thải rắn y tế đều chưa hợp lý từ các bước thu gom, phân loại và xử lý Việc phân công công việc, trách nhiệm còn chồng chéo không rõ ràng, nhân lực thực hiện việc quản lý chất thải rắn y tế chưa được đào tạo kỹ (33)
- Phương tiện thu gom như túi, thùng chứa chất thải còn thiếu và chưa đồng
bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn mà nguyên nhân sâu xa nhất đó là thiếu kinh phí, nguồn hỗ trợ cho công tác này còn hạn hẹp (33)
- Xử lý chất thải gặp nhiều khó khăn: giá các lò đốt rác thải quá đắt để có thể trang bị cho các bệnh viện và chi phí xử lý quá cao cho dù có lò đốt đi nữa thì việc hoạt động thường xuyên cũng hiếm vì nó không mang lại hiệu quả kinh tế cho các bệnh viện Bên cạnh đó, còn có nhiều khó khăn về nguồn nhân lực, TTB phục vụ cho việc xử lý rác thải (33)
- Thiếu nơi tái chế chất thải: CTYTcó chứa một phần lớn rác được phép tái chế, song để đảm bảo vệ sinh cho các sản phẩm tái chế để có thể sử dụng an toàn thì cần phải có nơi tái chế hoạt động theo một quy trình riêng phù hợp với loại rác thải
y tế này (33)
- Vấn đề quản lý CTYT có thể tái chế được còn nhiều bất cập từ khâu thu gom, vận chuyển cho đến lưu giữ để bán cho các cơ sở tái chế phải được kiểm tra, theo dõi chặt chẽ nhằm tránh hiện tượng những vật dụng có khả năng lây nhiễm được sử dụng lại chẳng hạn cần làm biến dạng các vật dụng đó trước khi bán ra ngoài (33)
HUPH
Trang 23Việc thu gom và vận chuyển các CTYTvà chất thải thông thường đều được
hộ lý hoặc y công thu gom hàng ngày ngay tại khoa phòng về nơi lưu giữ, xử lý chất thải của bệnh viện Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ áo bảo hộ
và các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải Các đối tượng khác như bác sỹ, dược sĩ, điều dưỡng,
hộ sinh, kỹ thuật viên còn chưa được giáo dục, huấn luyện để tham gia và phối hợp vào các hoạt động quản lý chất thải y tế (34) Theo khảo sát của Bộ TNMT năm
2011 có 90,9% CTR ở các bệnh viện được thu gom hàng ngày (35)
* Vận chuyển chất thải y tế tới nơi tiêu huỷ
Chất thải rắn y tế được thu gom phân loại và vận chuyển về khu trung chuyển tại bệnh viện Thực tế trong quy hoạch xây dựng cũng chưa có những hướng dẫn cho việc xây dựng, các khu vực trung chuyển chất thải rắn bệnh viện Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn y tế được bố trí trên một khu đất bên trong khuôn viên bệnh viện thành một khu trung chuyển Các khu trung chuyển
có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ dàng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một
số điểm tập trung rác không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí lại gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có một số ít bệnh viện có nơi lưu trữ chất thải đạt tiêu chuẩn qui định (36)
Nghiên cứu “Đánh giá kiến thức, thực hành quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y tế và yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa khoa Huyện Lấp Vò, Đồng Tháp năm 2014” của Nguyễn Văn Quân Châu năm 2014 cho thấy cơ sở vật chất không có xe chuyên dùng, túi thùng phục vụ đủ, không có đường vận chuyển riêng, nhà lưu trữ không đạt chuẩn Kết quả nghiên cứu cho thấy phương tiện và
cơ sở vật chất chưa đảm bảo đủ điều kiện (37)
Việc phối hợp liên ngành kém hiệu quả trong mọi công đoạn của quy trình quản lý chất thải bệnh viện Mới có vài công ty bước đầu nghiên cứu sản xuất được phương tiện để thu gom, vận chuyển chất thải, tuy nhiên còn đang ở giai đoạn thí điểm chưa sản xuất đại trà Đối với các bệnh viện đã phân loại, tách chất thải y tế và chất thải sinh hoạt để xử lý riêng, nhưng ngay ở một số địa phương
HUPH
Trang 24Công Ty Môi Trường Đô Thị do chưa có hệ thống thiết bị đốt, thiêu huỷ chất thải rắn y tế nguy hại nên đã từ chối vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế Chỉ có 18,75% trong tổng số các bệnh viện có chất thải được vận chuyển ra khỏi bệnh viện bằng xe chuyên dụng của Công ty Môi trường đô thị (36)
Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Trung năm 2019 tại bệnh viện Krông Bông tỉnh Đắk Lắk việc vận chuyển CTRYT tại bệnh viện thực hiện chưa tốt, có 3/6 tiêu chí thực hiện chưa đạt là “tần suất vận chuyển xử lý nội bộ thực hiện hàng ngày và khi cần”, “tem dán xuất xứ của chất thải”, “chất thải được vận chuyển theo đường quy định” Còn tình trạng ùn đọng rác, nhiều thùng rác bốc mùi hôi thối,… Các gói thùng thu gom không có tem dán xuất xứ nên không biết được rác đó phát sinh từ khoa nào Đường vận chuyển CTRYT không được quy định cụ thể (38)
* Lưu giữ chất thải bệnh viện
Nhiều nghiên cứu hiện nay cho thấy các bệnh viện chưa đầu tư xây dựng các khu lưu giữa chất thải theo đúng quy định; chưa có khu lưu giữ riêng biệt (29), (39)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên (2017) đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý CTRYT nguy hại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cho thấy: Khoảng 23,49% CSYT có khu vực lưu giữ hoặc thùng chứa; 57,8% không có khu vực riêng biệt; 100% không trang bị vật liệu hấp thụ, xẻng, thiết bị phòng cháy; 0,04% chỉ có thùng lạnh để lưu chứa; 18,8% CSYT phát sinh CTRYT nguy hại với lượng rất ít nên không có thùng chứa (39)
Nghiên cứu của Lâm Hoàng Dũng (2015) đánh giá thực trạng thiết bị tại một
số bệnh viên chuyên khoa thành phố Cần Thơ cho thấy: thực trạng chung về nơi lưu giữ CTRYT có 1/3 bệnh viện đạt Trong đó, 2/3 bệnh viện đạt tiêu chuẩn thùng thu gom CTRYT; có 1/3 bệnh viện có nơi lưu giữ tại bệnh viện đạt chuẩn (29)
Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Trung năm 2019 về thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện Krông Bông tỉnh Đắk Lắk cho thấy thiết bị, dụng cụ dùng để lưu giữ và xử lý CTRYT là nhà lưu giữ chất đều đạt quy định, có 2 tiêu chí không đạt là: đụng cụ lưu chứa không có biểu tượng bên ngoài để nhận biết chất thải và trong kho lưu giữ chất thải không
có vật liệu hấp phụ và xẻng Nghiên cứu cho thấy thời gian lưu giữ chất thải đều
HUPH
Trang 25đạt không có tình trạng để quá 48 giờ, tuy nhiên tại tiêu chí CTRYT được lưu giữ tại buồng riêng biệt không đạt Tại nhà lưu chứa, các thùng lưu chứa chất thải sinh hoạt còn để ngoài trời, nếu chưa kịp vận chuyển ra ngoài thì dồn ứ lại, bốc mùi hôi thối Kết quả nghiên cứu còn cho thấy có tình trạng người dân bên ngoài khu vực lưu giữ chất thải sinh hoạt để xới tìm rác thải nhựa để bán đồng nát, rất mất vệ sinh và cực kỳ nguy hiểm cho sức khoẻ của họ (38)
* Xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn y tế
- Thiêu đốt chất thải rắn y tế
Theo đánh giá của WHO, thời gian qua công tác quản lý CTRYT ở Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể, đặc biệt từ sau khi Luật cùng các văn bản dưới luật về bảo vệ môi trường ra đời (40)
Tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng chính quyền thành phố đã tích cực khuyến khích cho công tác đầu tư và xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, các cơ sở xử lý và các đội xe chuyên dụng trong công tác thu gom, vận chuyển chất thải y tế Tại các bệnh viện ban giám đốc bệnh viện rất quan tâm tới công tác quản lý chất thải rắn y tế Tuy nhiên vẫn còn có những hạn chế
Hiện có 612 bệnh viện (73,3%) xử lý chất thải nguy hại bằng lò đốt tại chỗ của bệnh viện hoặc lò đốt tập trung cho toàn thành phố (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh) Công suất các lò đốt hiện đại chỉ mới chỉ xử lý chất thải của 40% các bệnh viện và 30% các bệnh viện dùng lò đốt thủ công (thiêu đốt chất thải nguy hại ngoài trời) Tuy nhiên một số lò đốt không được vận hành hoặc vận hành không hết công suất Nhiều lò đốt không đáp ứng được yêu cầu môi trường đặc biệt gây phát thải dioxin/furan Hơn thế nữa còn gần 27% bệnh viện tự chôn lấp chất thải y tế nguy hại trong khuân viên bệnh viện hoặc chuyển chất thải y tế nguy hại đi chôn lấp ở bãi chôn lấp chung của địa phương Chính vì công tác xử lý chất thải y tế rất đa dạng, phong phú với nhiều loại hình khác nhau nên khó có thể kiểm soát (41)
Một thực tế là trong nhiều năm trước đây khi đầu tư xây dựng bệnh viện chúng ta hoàn toàn chưa hoạch toán đến khoản chi phí cho xử lý chất thải Phần lớn các bệnh viện tự xây dựng lấy lò đốt của mình và cũng không theo một thiết kế mẫu nào Tình trạng chung của phần lớn các bệnh viện trong cả nước hiện nay là thiêu
HUPH
Trang 26đốt chất thải y tế tại các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải kể cả những bệnh viện có khối lượng chất thải y tế cần thiêu đốt rất đáng kể ở Hà Nội Trong các lò đốt thủ công xây bằng gạch chất thải được đốt bằng củi hoặc dầu, theo cách thủ công nên khi vận hành khói bụi mù mịt, mùi khí cháy khó chịu bay ra khu dân cư (42)
Hiện nay Việt Nam có 2 lò đốt CTRYTtheo mô hình tập trung lò đốt Del Monego 200 tại xí nghiệp đốt rác Tây Mỗ - Hà Nội và lò đốt Hoval GG-24 tại xí ngiệp đốt rác Bình Hưng Hoà - Thành Phố Hồ Chí Minh với công nghệ nhập của nước ngoài Thành Phố Hồ Chí Minh cơ bản đã ổn định được công tác xử lý chất thải bệnh viện nhờ có hệ thống quản lý, thu gom năng động Còn tại Hà Nội, sau
8 tháng thử nghiệm lò đốt hoạt động tốt, tuy vậy công suất của lò đốt này cũng chỉ giải quyết được 4 tấn/ngày so với nhu cầu của hàng chục bệnh viện tại thành phố là trên 12 tấn/ngày (42)
Đa số các bệnh viện tiêu huỷ CTRYT bằng lò đốt thủ công không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường Trong các năm 1999 - 2000, tổ chức y tế thế giới đã viện trợ cho Bộ Y Tế 2 lò đốt chất thải chế tạo tại nước ngoài để trang bị cho 2 bệnh viện tuyến tỉnh trong đó có lò INCINCO lắp đặt và đưa vào vận hành tại bệnh viện đa khoa Bắc Ninh Cũng trong thời gian nêu trên, chính phủ đã phê duyệt dự án của bộ
y tế trang bị 25 lò đốt chất thải bệnh viện kiểu Hoval bằng nguồn vốn vay của chính phủ cộng hoà Áo, hiện tại 25 lò đốt rác y tế này đã đi vào hoạt động và cải thiện đáng kể năng lực tiêu huỷ chất thải rắn y tế nguy hại của nhiều địa phương
Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các lò đốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các lò thiết kế và chế tạo trong nước Một vấn đề mà các nhà môi trường quan tâm là ô nhiễm thứ cấp tạo ra trong quá trình đốt CTRYT nguy hại cần được quan tâm nghiên cứu (42)
- Chôn lấp chất thải y tế
Trong hầu hết các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh, chất thải y tế được chôn lấp tại bãi rác công cộng hay chôn lấp trong khu đất của bệnh viện Trường hợp chôn lấp trong bệnh viện chất thải được chứa trong hố đào
HUPH
Trang 27và lấp đất lên, nhiều khi lớp đất phủ trên mặt quá mỏng không đảm bảo vệ sinh (43)
Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, một số loại chất thải đặc biệt như bào thai, rau thai và bộ phận cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom để đem chôn trong khu đất của bệnh viện hoặc chôn trong nghĩa trang của địa phương Do diện tích mặt bằng của bệnh viện bị hạn chế nên nhiều bệnh viện hiện nay gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn lấp chất thải nguy hại (43)
Một thực trạng là vật sắc nhọn được chôn lấp cùng với chất thải y tế khác tại khu đất bệnh viện hay tại bãi rác cộng đồng Hiện nay, ở một số bệnh viện vẫn còn hiện tượng chất thải nhiễm khuẩn nhóm A được thải lẫn với chất thải sinh hoạt và được vận chuyển ra bãi rác của thành phố, do vậy chất thải nhiễm khuẩn không có
xử lý đặc biệt gì trước khi tiêu huỷ chung (43)
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng quản lý CTRYT của cơ sở y tế
1.2.2.1 Các nghiên cứu trên Thế giới
* Yếu tố quản lý điều hành
Theo nghiên cứu của Ignasio S Kagonji năm 2016 về việc Phân tích nhận thức của nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện ở Tanzania cho thấy nhận thức về quản lý chất thải của các nhân viên y tế đã được cải thiện hầu hết các bệnh viện, tuy nhiên, bệnh viện D vẫn để lẫn chất thải đô thị và chất thải nguy hại Để tăng cường thực hành quản lý chất thải thống nhất và phù hợp trong toàn bộ Nhà nước, cần phải nâng cao năng lực ở tất cả các cấp và cả các chính sách và hướng dẫn xây dựng (44)
Theo nghiên cứu của Jafar Sadegh Tabrizi (2018) đã điều tra việc quan sát các tiêu chuẩn quản lý CTYT tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe cộng đồng Tabriz, tây bắc Iran kết quả cho thấy khoảng 98% trung tâm y tế không có kế hoạch quản lý chất thải Các hội nghị tập huấn về kiến thức quản lý chất thải chỉ được tổ chức cho nhân viên ít nhất một lần một năm (45)
Theo nghiên cứu của Okechukwu Bonaventure Anozie năm 2017 về Kiến thức, thái độ và thực hành của các nhà quản lý y tế để quản lý CTYT và thực hành
an toàn lao động ở Đông Nam Nigeria kết quả cho thấy 40% cán bộ quản lý y tế đã
HUPH
Trang 28được đào tạo về quản lý CTYT và an toàn lao động Chỉ có 01 bệnh viện thực hiện quy trình xử lý chất thải theo đúng tiêu chuẩn (1,9%), trong khi có đến 98,1% (53/54) thực hiện xử lý chất thải bừa bãi Hộp an toàn tiêm đã được phổ biến rộng rãi ở tất cả các cơ sở y tế, tuy nhiên, 1,9% (1/54) cơ sở sử dụng lò đốt và xử lý chất thải Ngoài ra chỉ có một bệnh viện cung cấp bảo hiểm cho nhân viên (1,9%), trong khi không bệnh viện nào có gói bồi thường cho nạn nhân rủi ro nghề nghiệp Hơn một nửa (55,6%; 30/54) số người được hỏi cung cấp cả phương tiện bảo vệ cá nhân
và phương pháp điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với HIV (46)
* Yếu tố nhân lực cho quản lý CTRYT
Theo nghiên cứu của Jafar Sadegh Tabrizi (2018) đã điều tra việc quan sát các tiêu chuẩn quản lý CTYT tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe cộng đồng Tabriz, tây bắc Iran kết quả cho thấy tỷ lệ trung bình tuân thủ các tiêu chuẩn quản lý chất thải ở các trung tâm y tế cộng đồng Tabriz, Tabriz, Iran là 29,8% Chỉ có là 22,8% trung thực hiện tốt về quản lý và đào tạo, 27,3% thực hành đúng về phân loại
và thu gom, 31,2% thực hành đúng về vận chuyển và lưu trữ tạm thời, và 42,9% thực hiện đúng về xử lý chất thải Thiếu phân loại chính các chất thải, chu trình thu gom và xử lý chất thải không phù hợp và bỏ qua các thủ thuật an toàn (40)
Kết quả nghiên cứu của Ignasio S Kagonji (2016) về việc Phân tích nhận thức của nhân viên y tế về quản lý CTYT tại các bệnh viện ở Tanzania cho thấy, tại bệnh viện Amana, 61% nhân viên y tế có kiến thức thấp và 39% có trình độ hiểu biết cao, trong khi tại Ligula, kết quả cho thấy 57% NVYT có kiến thức thấp
và 43% nhân viên y tế có kiến thức và kỹ năng cao về quản lý chất thải Khi các kết quả được tích hợp, quan sát thấy ở cả hai bệnh viện rằng khoảng 60% nhân viên y tế có kiến thức và kỹ năng thấp về quản lý chất thải có thể được sử dụng làm giá trị trung bình quốc gia (41)
Nghiên cứu của Kuchibanda K và cộng sự (2015) về rủi ro sức khỏe cộng đồng do quản lý kém CTYTtrong các cơ sở y tế của thành phố Shinyanga, Tanzania cho thấy thiếu sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện đến công tác quản lý CTRYT không được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc gia và khuyến cáo của WHO (16)
HUPH
Trang 29* Yếu tố về tài chính
Kết quả nghiên cứu của tác giả Harhay MO năm 2009 cho thấy hầu hết các
cơ sở y tế đều thiếu kinh phí cho công tác quản lý CTRYT Thiếu kinh phí cho việc mua trang thiết bị như lò đốt, trang thiết bị để xử lý RTYT Việc thiếu kinh phí hoạt động đã khiến các CSYT không đủ nguồn lực hoạt động quản lý CTYT (20) Nghiên cứu của Susi A Wilujeng và cộng sự (2019) tại Surabaya cho thấy thiếu kinh phí thường xuyên là yếu tố ảnh hưởng, gây khó khăn cho hoạt động quản lý lý CTYT tại các cơ sở y tế (47) Kết quả nghiên cứu của tác giả Al Emad, AA năm 2011 tại Yemen cũng cho thấy ngân sách không được phân bổ cho mục đích quản lý chất thải, dẫn đến tình trạng thiếu thiết bị xử lý chất thải và thiếu các chương trình đào tạo cho nhân viên làm ảnh hưởng chung đến kết quả quản lý CTYT tại các bệnh viện(6)
Nghiên cứu của Timothy Kurannen Baaki và cộng sự (2020) về các yếu tố thành công quan trọng của thực hiện quản lý CTRYT trong các CSYT tại Nigeria cho thấy yếu tố tài chính và đầu tư là một trong 3 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thành công thực hiện quản lý CTRYT tại các CSYT Nghiên cứu cũng cho thấy việc thực hiện quản lý CTRYT tại các CSYT là kém, các vấn đề góp phần vào việc thực hiện kém bao gồm thiếu nhận thức về các hướng dẫn quản lý CTYT hiện hành; thiếu chính sách quốc gia có hiệu lực hoặc quy định về quản lý chất thải y tế; tài chính không đầy đủ giữa những người khác (7)
* Yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị
Nghiên cứu của Kagonji IS năm 2016, nghiên cứu nhận thức của nhân viên
y tế về quản lý CTYT tại các bệnh viện ở Tanzania cho thấy xe cút kít được sử dụng ở mức độ nhỏ và không có loại xe đặc biệt nào được thiết kế cho mục đích vận chuyển chất thải y tế trong bệnh viện Vấn đề về cơ sở lưu trữ chất thải kém
là rất nghiêm trọng ở các bệnh viện ở Tanzania, nơi cho phép trộn lẫn chất thải trong quá trình lưu trữ của động vật và người nhặt rác, gây ra nguy cơ sức khỏe cho người vận hành lò đốt và người vận chuyển ngoài công trường Nghiên cứu
đã chỉ ra thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến quản
lý CTYT tại các bệnh viện (44) Nghiên cứu của Timothy Kurannen Baaki và
HUPH
Trang 30cộng sự (2020) tại Nigeria cung cho thấy thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị để phân loại, thu gom, nhất là xử lý rác làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động quản
lý CTYT tại các CSYT tại Nigenia (7)
1.2.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
* Yếu tố quản lý điều hành
Cơ sở pháp lý: Ở nước ta CTRYT đã được ban hành bằng hệ thống các văn bản pháp luật do Quốc hội, chính phủ và các Bộ ban ngành ban hành Thông
tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản
lý chất thải y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành ngày 31/12/2015 Theo đó, quy định cụ thể các vấn đề về phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, giảm thiểu, tái chế chất tải y tế nguy hại và chất thải y
tế thông thường Thông tư này còn quy định rõ trách nhiệm trách nhiệm thực hiện công tác đào tạo về quản lý CTRYT hàng năm cho NVYT của người đứng đầu cơ
sở y tế, đồng thời công tác truyền thông nhằm nâng cao sức khỏe cũng được nêu
rõ trong thông tư này (4)
Việc ban hành đầy đủ các văn bản, hướng dẫn là cơ sở pháp lý để các cơ sở y
tế căn cứ thực hiện: Nghiên cứu của Đinh Tấn Hùng (2013) tại Bệnh viên đa khoa Khánh Hòa cho thấy việc tổ chức thực hiện quy chế, quyết định, văn bản pháp quy cũng như việc sớm ban hành các quyết định liên quan và hành lang pháp lý vững chắc là điều kiện tốt để thực hiện hoạt động quản lý CTRYT (30)
Tác giả Lê Thị Hồng Thắm nghiên cứu thực trạng quản lý CTRYT và chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng tại các TYT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2018 trong đó có: nhóm yếu tố môi trường chính sách bao gồm các yếu tố: văn bản quy định về quản lý CTRYT của Bộ Y tế va Bộ Tài nguyên Môi trường, sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, công tác tổ chức, đào tạo, tập huấn, công tác kiểm tra/giám sát và khen thường/xử phạt về công tác quản lý CTRYT (8)
Kiểm tra, giám sát thường xuyên sẽ tạo ra được thói quen giúp CBYT tuân thủ thực hành quản lý CTRYT được tốt hơn Trong quá trình kiểm tra giám sát phát hiện những thiếu sót của NVYT trong việc thực hành quản lý CTRYT và kịp thời nhắc nhở tại chỗ; đồng thời có những chế tài xử phạt phù hợp sẽ khiến CBYT tuân
HUPH
Trang 31thủ thực hành quản lý CTRYT được nghiêm túc và hiệu quả hơn Hoạt động giám sát nhà nước về công tác quản lý CTRYT còn chưa đầy đủ, năng lực giám sát và điều tiết còn hạn chế, đội ngũ thanh kiểm tra thiếu và yếu, các chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe; đó là yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thực hành quản lý CTRYT
Nghiên cứu của Trịnh Tuấn Sĩ (2013), tại bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi cũng cho thấy có mối liên quan giữa thiếu sự kiểm tra, giám sát và hoạt động của người bệnh có ảnh hưởng đến việc tuân thủ gom, lưu giữ CTRYT (48) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương (2017) tại Trung tâm Y tế Sóc Sơn cho thấy việc thiếu kiểm tra, giám sát của bệnh viện có ảnh hưởng tiêu cực đến quản lý CTRYT (49) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Thơ (2017) tại bệnh viện 71 trung ương cho kết quả: Thực tế còn thiếu khu lưu giữ chất thải thông thường; chưa có thùng đạt chuẩn cho chất thải lây nhiễm do lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức tới phục vụ quản lý CTR Việc quản lý CTRYT gặp nhiều khó khăn do yếu tố cơ sở vật chất (50)
Tác giả Lê Thị Hồng Thắm (2018) cho kết quả: nhóm yếu tố điều kiện cơ
sở vật chất gồm các yếu tố cơ sở vật chất, TTB, dụng cụ phục vụ quản lý CTRYT
và kinh phí cho công tác quản lý CTRYT tại TYT chưa cung cấp đủ túi đựng chất thải về số lượng và loại màu sắc Lò đốt tại một số trạm chưa có, và có vài trạm
lò đốt đang hư hỏng xin sửa chữa (8)
Nghiên cứu của Đỗ Kim Tạo nghiên cứu tại bệnh viện Xanh Pôn năm
2018 chỉ ra một số khó khăn như: bệnh viện chưa trang bị túi, thùng màu trắng cho CTRYT và đen cho chất thải nguy hại Kho chứa CTRYT chật chội cũng là một trong những khó khăn tác động đến công tác phân loại CTRYT (51)
Quản lý chất thải rắn y tế đóng vai trò quan trọng nhằm tránh được sự phơi nhiễm cho nhân viên y tế và cộng đồng đối với chất thải y tế bệnh viện
Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị Chiến năm 2017 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước về “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước” cho thấy vấn đề vào cuộc của
HUPH
Trang 32các cấp lãnh đạo về bố trí kinh phí cho công tác quản lý CTYT ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động này (28)
Kết quả nghiên cứu của Bùi Quốc Dũng năm 2018 “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Long An năm 2018” cho thấy sự quan tâm của lãnh đạo là yếu tố quan trọng nhất tác động đến việc quản lý CTRYT tại bệnh viện (52) Nghiên cứu của Hồ Thị Nga (2013) tại Bệnh viên đa khoa Gia Lộc, tỉnh Hải Dương cho thấy sự quan tâm điều hành của lãnh đạo được đánh giá là yếu tố quan trọng nhất tác động đến quản lý CTRYT tại bệnh viện (53)
Đào tạo, tập huấn: Việc đào tạo, tập huấn của CSYT về quản lý CTRYT được quy định rõ ràng tại Thông tư liên tịch số 58/2015TTLT-BYT_BTNMT Đây
là yếu tố quan trọng trong vấn đề quản lý chất thải, liên quan trực tiếp đến công tác quản lý CTRYT Nhiều nghiên cứu cho thấy, những bệnh viện được tập huấn thường xuyên về quản lý CTRYT thì thực hành của NVYT về quản lý CTRYT được tốt hơn và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác Quản lý CTRYT tại các CSYT Đào tạo, tập huấn sẽ giúp NVYT cập nhật cũng như hệ thống lại kiến thức về CTRYT Kết quả nghiên cứu của Tô Minh Hùng (2020), nghiên cứu về thực trạng quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai cho thấy công tác đào tạo, tập huấn được thực hiện thường xuyên liên tục về các quy định, quy trình quản lý CTRYT, cùng với đào tạo, tập huấn công tác kiểm tra, giám sát được bệnh viện coi trọng Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện (54) Nghiên cứu của Lê Văn Trung về thực trạng quản lý CTRYT và một số yếu tố liên quan tại BVĐK huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lăk năm 2019 cho thấy cán bộ chuyên trách về công tác quản lý chất thải của bệnh viện chỉ tham gia các lớp tập huấn sơ bộ về quản lý chất thải y tế, chưa được đào tạo bài bản nên chưa có kiến thức chuyên môn về công tác quản lý CTRYT Do đó, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc quản lý CTRYT (55) Nghiên cứu của Võ Thị Xuân Uyên về quản lý CTRYT và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Đồng Tháp năm 2020 cũng cho thấy công tác đào tạo, tập huấn chưa được chú trọng đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động quản lý CTRYT tại bệnh viện, cần tăng cường
HUPH
Trang 33công tác đào tạo, tập huấn cho NVYT trong tất cả các khâu của quy trình quản lý CTRYT (56)
* Yếu tố nhân lực cho quản lý CTRYT
Tăng cường truyền thông thay đổi hành vi đến với tất cả nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh môi trường, nhân viên vận hành hệ thống xử lý CTYT tại các cơ sở y
tế thực hiện hành vi quản lý CTRYT trong cơ sở y tế đúng quy định
Kiến thức về quản lý CTRYT tốt sẽ khiến NVYT có nhận thức tốt về tác hại của CTYT đối với môi trường, đối với cá nhân và cộng đồng, từ đó thúc đẩy thực hành của họ
sẽ tốt hơn; ngược lại những NVYT kiến thức về quản lý CTRYT không tốt thì có xu hướngthực hành quản lý CTRYT thấp hơn Kiến thức là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thực hành quản lý CTRYT của mỗi NVYT và công tác quản lý CTRYT của mỗi cơ sở y tế hiện nay Khi mỗi NVYT tại các cơ sở y tế được trang bị kiến thức tốt thì hoạt động quản lý CTRYT tại cơ sở y tế đó sẽ tốt hơn (53)
Trong quản lý CTYT, yếu tố con người là rất quan trọng Cho dù có hệ thống
xử lý chất thải có hiện đại nhưng nếu các cán bộ y tế, những người liên quan trực tiếp đến công tác quản lý, xử lý chất thải và cộng đồng không nhận thức rõ tác hại
và tầm quan trọng của CTYT đối với công tác bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người thì hệ thống đó hoạt động cũng không hiệu quả (57)
Hầu hết cơ sở y tế thực hiện quản lý chất thải đều chưa tốt và không thường xuyên vì nguồn nhân lực chuyên trách không có, đa số là kiêm nhiệm cùng công tác chuyên môn hoặc bán thời gian Nhiều bệnh viện hiện nay đã áp dụng xã hội hóa công tác quản lý CTRYT cho các công ty đủ điều kiện về lĩnh vực này song vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập vì trong quản lý CTRYT việc áp dụng nguyên tắc phân loại CTRYT ngay tại nguồn là vô cùng quan trọng, trong khi chính cán bộ NVYT là người trực tiếp thực hiện phân loại Thực trạng dẫn đến quản lý CTRYT gặp nhiều khó khăn Hiện nay theo khuyến cáo của Bộ Y tế - Cục quản lý môi trường y tế, việc quản lý CTRYT nên giao cho bộ phận hoặc khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn là phù hợp và đúng với chuyên môn vì quá trình kiểm tra, giám sát di cùng với kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện (1)
HUPH
Trang 34Những người làm ở vị trí công việc chuyên trách thì đó là công việc chính của họ vì vậy việc chú tâm vào công việc và thực hành phân loại, thu gom vận chuyển, lưu giữ và xử lý CTRYT tốt hơn nhưng người công tác ở các vị trí khác Nhân viên y tế ở các khoa phòng khác họ thường xuyên bận rộn với công việc chuyên môn, tập trung vào công việc chính chăm sóc điều trị người bệnh nên ít tập trung cũng như tuân thủ việc QLCTRYT
Kết quả nghiên cứu về Thực trạng quản lý CTRYT và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của NVYT tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh năm 2013 của tác giả Nguyễn Thị Hồng Điệp cho thấy vị trí công việc chuyên trách là yếu tố ảnh hưởng đến quản lý CTRYT (58)
* Yếu tố về tài chính
Việc đầu tư kinh phí cho xử lý chất thải tại các cơ sở y tế còn gặp rất nhiều khó khăn Các cơ sơ y tế phần lớn là các đơn vị sự nghiệp, không có khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các công trình xử lý chất thải Kinh phí cho xử lý chất thải chưa được kết cấu vào chi phí đầu giường bệnh nên khó khăn trong việc duy trì hoạt động xử lý chất thải Việc khoán chi ở bệnh viện, đã làm cho các bệnh viện phần lớn chỉ quan tâm đến việc đầu tư máy móc thiết bị, vật tư chuyên môn, ít quan tâm đầu tư cho quản lý, xử lý chất thải Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến công tác quản lý, xử lý chất thải tại các bệnh viện còn nhiều hạn chế và bất cập Theo tính toán, bình quân chi phí cho việc xử lý chất thải rắn và chất thải lỏng cho một giường bệnh dao động từ 5.000 tới 8.000đ/GB/ngày Nếu bệnh viện thuê trung tâm đốt CTYT sẽ mất vào 9.000đ/kg/ngày (59) Kinh Phí và trang thiết bị là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý chất thải rắn y tế
Kết quả nghiên cứu Nguyễn Huy Mạnh năm 2017 “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế Bù Đăng, Bình Phước năm 2017” cho thấy chi phí quản lý chất thải hằng năm khá lớn so với nguồn thu của đơn vị Đơn vị cần đảm bảo nguồn ngân sách nhà nước và nguồn thu khác (viện phí + khác) thực hiện quản lý chất thải rắn y tế theo đúng quy định Xây dựng quy chế chi tiêu thực hiện quản lý chất thải rắn y tế (60)
HUPH
Trang 35* Yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị
Cơ sở vật chất, trang thiết bị là yếu tố quan trọng, cần thiết để mỗi cơ sở y
tế hoạt động hiệu quả Thiếu trang thiết bị xử lý CTRYT, thiếu dụng cụ, thiếu khu lưu giữ CTRYT đạt tiêu chuẩn, đây là tình trạng chung của nhiều cơ sở y tế, điều này ảnh hưởng nhiều đến công tác quản lý CTRYT tại cac bệnh viện Nghiên cứu của Trịnh Tuấn Sĩ (2013), tại bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi cũng cho thấy có mối liên quan giữa cơ sở vật chất, trang thiết bị không đảm bảo, ảnh
hưởng đến việc tuân thủ gom, lưu giữ CTRYT (48)
Nghiên cứu của Phan Thị Thu (2015) về thực trạng kiến thức, thực hành của NVYT về quản lý CTRYT tại các trạm Y tế xã trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, Nghệ
An cho thấy thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý CTRYT (61) Nghiên cứu của Nguyễn Bá Tòng (2015) tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp cũng cho thấy cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, vật tư tiêu hao cho công tác phân loại, thu gom thiếu số lượng quy cách, mã màu, là yếu tố khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CTRYT (62)
HUPH
Trang 361.3 Khung lý thuyết
Quản lý điều hành
- Chính sách
- Kiểm tra, giám sát
- Sự quan tâm của lãnh đạo
Cơ sở vật chất, trang thiết bị
- Cơ sở hạ tẩng;
- Trang thiết bị, vật dụng: bao, túi,
thùng, hộp, xe vận chuyển,…
Thực trạng quản lý CTRYT
- Hiểu biết của NVYT về quản lý
CTRYT; kiêm nhiệm
- Sự đáp ứng của nhân lực về số lượng,
thực hành quản lý CTRYT
Tài chính quản lý CTRYT
- Kinh phí xử lý chất thải;
- Kinh phí đầu tư TTB quản lý CTRYT
Hình 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu HUPH
Trang 371.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện đa khoa Thị xã Buôn Hồ là bệnh viện hạng II, bệnh viện được giao 280 giường kế hoạch, số lượng người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện hàng năm không ngừng gia tăng, công suất hoạt động của bệnh viện luôn đạt ở mức
110 - 115% Bệnh viện có tổng số 05 phòng chức năng và 13 khoa; với 198 cán bộ công nhân viên chức; trong đó có 118 NVYT làm việc trực tiếp liên quan đến chăm sóc và điều trị bệnh nhân tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng (38 bác sĩ, 60 điều dưỡng, 4 y sỹ YHCT, 8 nữ hộ sinh và 8 KTV xét nghiệm) (63)
Quy trình quản lý chất thải của bệnh viện được thực hiện qua 5 giai đoạn chính: phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải Theo kết quả điều tra của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, số lượng chất thải rắn y tế phát sinh trung bình một tháng của bệnh viện như sau: chất thải lây nhiễm 1.126kg/tháng, chất thải tái chế 771 kg/tháng, chất thải thông thường là 3.798 kg/tháng Thành phần và khối lượng các loại chất thải có sự khác nhau giữa các khoa phòng (63)
Tuy nhiên, Lượng người bệnh tăng lên hàng năm cùng với đó lượng CTYT phát sinh ngày một nhiều đòi hỏi bệnh viện phải có kế hoạch bổ sung nhân lực, cơ
sở, vật chất, TTB, Đây cũng là khó khăn chung của các bệnh viện hiện nay
HUPH
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu định lượng: Cán bộ y tế có liên quan đến công tác quản lý
CTRYT tại bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ
bộ liên quan đến công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 5 năm 2021 đến tháng 9 năm 2021
- Địa điểm: Tại 10 khoa lâm sàng, cận lâm sàng và 01 khu lưu trữ, 01 xử lý chất thải (gọi tắt là khoa/khu) của Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
+ Nghiên cứu định lượng: Nhằm mô tả thực trạng quản lý CTRYT tại bệnh
viện đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lắk năm 2021
+ Nghiên cứu định tính: Nhằm phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản
lý CTYT tại bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lắk năm 2021
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu định lượng:
2.4.1 Cỡ mẫu định lượng
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ, ta có:
2 ) 2 / 1
d
p p
HUPH
Trang 39- Trong đó:
+ n: số lượt quan sát xử lý chất thải rắn y tế
+ p: Tỷ lệ phân loại đạt CTRYT tại Viện Y Dược học Cổ truyền Dân tộc Thành Phố Hồ Chí Minh của tác giả Hồ Thị Thanh Tú là 90%; chọn p=0,9 (64)
+ Chọn d = 0,05
+ Z(1-α/2) = Hệ số tin cậy (khoảng tin cậy 95%, Z(1-α/2) = 1,96)
- Theo công thức trên ta tính được: n = 138
2.4.1.2 Chọn mẫu định lượng:
* Giai đoạn phân loại CTRYT
Tại Bệnh viện Đa khoa thị xã Buôn Hồ có 10 Khoa lâm sàng, cận lâm sàng
và 01 khu lưu trữ, 01 khu xử lý chất thải Các khoa LS, CLS và khu lưu trữ chất thải theo quy trình bệnh viện thì thực hiện 2 lần/ ngày, riêng khu xử lý (đốt) chất thải thì ngày 1 lần (hoặc 2 ngày/lần - tùy theo lượng rác) Theo công thức cỡ mẫu trên có được 138 mẫu: Như vậy mỗi khoa hoặc khu lưu trữ thực hiện 12 lượt quan sát riêng khu xử lý chất thải thực hiện 6 lượt quan sát
Một lượt quan sát phân loại: một lần quan sát tất cả các túi, thùng rác ở một khoa tính thành 1 lượt quan sát
Để đảm bảo chất lượng của các quan sát, mỗi tuần nhóm nghiên cứu chỉ thực hiện quan sát cho 5 khoa LS hoặc CLS, như vậy khi đủ số lượng quan sát theo cỡ mẫu tính như trên cần 6 tuần cụ thể:
* Giai đoạn thu gom CTRYT
CTRYT được thu gom từ các túi, hộp, thùng tại các vị trí trong khoa về thùng rác đặt tại nơi lưu trữ tạm thời ở mỗi khoa theo quy định Quá trình quan sát của NCV ở giai đoạn phân loại tiến hành ngay trước giờ tiến hành thu gom, vận chuyển rác theo quy định
Do mỗi ngày chỉ thực hiện thu gom 2 lần tại mỗi khoa nên có 12 lượt quan sát thu gom tại mỗi khoa tức là 6 ngày Để đảm bảo tính đại diện nghiên cứu thực hiện quan sát quá trình thu gom CTRYT tại 10 khoa trong 5 ngày làm việc trong 3 tuần (mỗi tuần 1- 2 ngày) và một ngày nghỉ bất kỳ trong 3 tuần đó, mỗi khoa có 12
HUPH
Trang 40lượt quan sát Cỡ mẫu đối với giai đoạn thu gom cho 10 khoa LS, CLS là 120 lượt quan sát thu gom CTRYT
Một lượt quan sát thu gom: một lần quan sát tất cả các túi, thùng rác ở một khoa tính thành 1 lượt quan sát
* Giai đoạn vận chuyển CTRYT
Hàng ngày nhân viên thu gom CTRYT theo lịch phân công tiến hành vận chuyển rác từ các khoa theo đường vận chuyển về nhà lưu trữ rác của bệnh viện Mỗi ngày vận chuyển tối thiểu là 2 lần, RTYT được vận chuyển ở tất cả các khoa
do đó lượt quan sát là tất cả các đợt vận chuyển nên không tính cỡ mẫu ở giai đoạn này
Thực hiện quan sát theo thời gian quy định về vận chuyển của bệnh viện Tương tự quá trình thu gom, nghiên cứu thực hiện quan sát quá trình vận chuyển CTRYT tại 10 khoa trong 5 ngày làm việc trong 3 tuần (mỗi tuần 1-2 ngày) và một ngày nghỉ bất kỳ trong 3 tuần đó Mỗi khoa có 12 lượt quan sát Cỡ mẫu đối với giai đoạn thu gom cho 10 khoa LS, CLS là 120 lượt quan sát vận chuyển CTRYT
Một lượt quan sát vận chuyển: một lần quan sát tất cả các xe vận chuyển ở một khoa tính thành 1 lượt quan sát
* Giai đoạn lưu trữ CTRYT
Bệnh viện có 01 kho lưu trữ CTRYT ĐTV tiến hành quan sát cùng với thời điểm quan sát thu gom và vận chuyển chất thải từ các khoa LS, CLS theo ngày (vào chiều tối) trong 6 tuần (tương ứng với 10 khoa), mỗi tuần chỉ quan sát 1 ngày (và phải có một ngày nghỉ bất kỳ trong 6 tuần đó), vậy tại khu lưu giữ cũng có 6 lượt quan sát
* Giai đoạn xử lý CTRYT
Bệnh viện có 01 khu xử lý CTRYT ĐTV tiến hành quan sát theo ngày quan sát xử lý chất thải của các khoa phòng (± 1 ngày vì có thể ngày quan sát không trùng ngày đốt rác), có 6 lượt quan sát tại khu xử lý chất thải vào 6 tuần thực hiện quan sát thu gom và tập kết chất thải
2.4.2 Cỡ mẫu định tính: Thực hiện 05 cuộc PVS và 3 buổi TLN
* Phỏng vấn sâu: tổng cộng 05 cuộc/05 người:
HUPH