ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng của nghiên cứu định lượng:
NVYT đang làm viêc tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh
- Bác sĩ, điều dưỡng/hộ sinh đang làm tại các khoa lâm sàng của bệnh viện
- Thời gian công tác: ≥12 tháng trở về trước tính từ thời điểm nghiên cứu
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- NVYT đang trong thời gian nghỉ hoặc đi học dài hạn, đang trong nghỉ chế độ thai sản
2.1.2 Đối tượng của nghiên cứu định tính: Đối tương tham gia vào nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) bạo gồm:
+ Đại diện ban giám đốc bệnh viện
+ Trưởng các phòng ban chức năng
+ Cán bộ chủ chốt các khoa Khám bệnh, Cấp cứu và Hồi sức tích cực – chống độc
+ Nhân viên y tế tại khoa lâm sàng đã từng bị bạo lực và chưa từng bị bạo lực.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 12 năm 2020
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa Đông Anh, đường Cao Lỗ, tổ 1 thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu áp dung thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lượng đã được tiến hành bằng cách sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để thu thập và đánh giá tình hình bạo lực đối với nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa Đông Anh.
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm cung cấp thông tin về các yếu tố ảnh hưởng và nguyên nhân dẫn đến bạo lực thể chất và tinh thần, đã được ghi nhận từ nghiên cứu định lượng Từ đó, nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu bạo lực đối với nhân viên y tế nói chung và nhân viên y tế lâm sàng nói riêng tại bệnh viện đa khoa Đông Anh.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:
Nghiên cứu này sử dụng cỡ mẫu n và tỷ lệ ước tính bạo lực nhân viên y tế (NVYT) là p = 0.727, dựa trên kết quả nghiên cứu của Đào Ngọc Phức tại Bệnh viện Nhi Trung ương vào năm 2017.
Z = 1,96 (α = 0,05, độ tin cậy 95%, tra cứu từ bảng Z) d = 0,05 là sai số tuyệt đối Áp dụng các giá trị vào công thức trên, ta tính được cỡ mẫu n = 305
Tại 14 khoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa Đông Anh với tổng số NVYT là
300 Vì vậy, nghiên cứu viên áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ, 300 NVYT
HUPH được mời tham gia vào nghiên cứu
Nghiên cứu viên áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích
Tổng cộng:10 cuộc phỏng vấn sâu, 02 cuộc thảo luận nhóm với tổng số 20 NVYT tham gia
Cỡ mẫu phỏng vấn sâu: 10 cuộc
+ Đại diện Ban giám đốc bệnh viện: PVS 01 cuộc
+ Trưởng phòng ban chức năng như Kế hoạch tổng hợp, Điều dưỡng, tổ chức hành chính phụ trách về quản lý cán bộ: Phỏng vấn sâu 03 cuộc
+ Trưởng khoa và điều dưỡng trưởng các khoa Cấp cứu, khám bệnh, hồi sức tích cực – chống độc: 06 cuộc
Cỡ mẫu thảo luận nhóm : 02 cuộc
Nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên y tế (NVYT) đã từng trải qua bạo lực tại nơi làm việc trong vòng 12 tháng trước thời điểm nghiên cứu, dựa trên kết quả của nghiên cứu định lượng Đồng thời, nhóm nhân viên y tế không trải qua bạo lực được chọn ngẫu nhiên, với mỗi nhóm bao gồm 05 người, thông qua 02 cuộc thảo luận nhóm.
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
2.5.1.1 Bộ công cụ cho nghiên cứu định lượng
Phiếu điều tra được xây dựng trên mục tiêu nghiên cứu, các tiêu chuẩn biến số nghiên cứu và một số tài liệu tham khảo
Bộ công cụ được thiết kế dựa trên các tiêu chuẩn của ILO, WHO, ICN và PSI, đã được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu cả trong nước và quốc tế Nghiên cứu của tác giả Dương Tấn Quân tại Bệnh viện Bà Rịa cũng đã tham khảo bộ công cụ này.
HUPH được hiệu chỉnh một số câu hỏi cho phù hợp với tình hình thực tiễn của Bệnh viện Đa khoa Đông Anh
Cấu trúc bộ câu hỏi bao gồm các nội dung chính như thông tin chung về đối tượng nghiên cứu, các câu hỏi liên quan đến thực trạng bạo lực thể chất, thực trạng bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế, cùng với một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực này.
Bộ câu hỏi thu thập số liệu sẽ được thử nghiệm trên 15 đối tượng từ 03 khu vực đại diện cho các khối (khoa cấp cứu, khoa khám bệnh, khoa ngoại tổng hợp) Điều tra viên sẽ tiến hành điều tra thử trên 05 nhân viên y tế tại mỗi khoa đã chọn để kiểm tra và phát hiện các nội dung chưa phù hợp, cũng như những câu từ không rõ nghĩa, từ đó thực hiện các hiệu chỉnh cần thiết trước khi tiến hành nghiên cứu.
2.5.1.2 Bộ công cụ cho nghiên cứu định tính
Bộ công cụ thu thập cho nghiên cứu định tính bao gồm hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, nhằm thu thập thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với nhân viên y tế Nội dung tập trung vào các câu hỏi liên quan đến đặc điểm cá nhân, tình trạng bệnh của bệnh nhân, giao tiếp và ứng xử của nhân viên y tế, các biện pháp an ninh, cũng như tình trạng quá tải trong công việc.
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Nhóm nghiên cứu gồm 02 người, bao gồm 01 học viên và 01 nhân viên hỗ trợ, đã thu thập số liệu định lượng bằng phương pháp phát vấn Trước khi tiến hành, nghiên cứu viên cần xin phép và nhận sự đồng ý từ Ban giám đốc bệnh viện Họ cũng đã trao đổi với cán bộ chủ chốt của từng khoa phòng để thống nhất kế hoạch và thời gian thu thập số liệu cụ thể.
Nhóm nghiên cứu sẽ mã hóa riêng từng NVYT theo từng khoa dựa trên danh sách được cung cấp từ lãnh đạo khoa trước khi thu thập số liệu.
Thời điểm thu thập số liệu diễn ra vào đầu buổi sáng sau giờ giao ban tại phòng hành chính của khoa Nhân viên y tế tham gia nghiên cứu được mời ở lại để thực hiện khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn Trước khi phát phiếu, điều tra viên giải thích mục đích nghiên cứu và hướng dẫn cách điền phiếu cho các nhân viên Những người đồng ý tham gia sẽ ký vào phiếu đồng ý, sau đó điều tra viên phát phiếu điều tra đã mã hóa Để đảm bảo tính chính xác của số liệu, điều tra viên yêu cầu nhân viên không thảo luận câu trả lời Sau khi hoàn tất, điều tra viên kiểm tra nội dung câu trả lời và yêu cầu chỉnh sửa nếu cần, trước khi thu phiếu điều tra.
Nghiên cứu này nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với nhân viên y tế (NVYT) trong bệnh viện Để thực hiện, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu với lãnh đạo bệnh viện và trưởng các phòng ban chức năng, dựa trên các câu hỏi hướng dẫn Họ cũng phỏng vấn cán bộ quản lý một số khoa lâm sàng và tổ chức thảo luận nhóm với NVYT đã và chưa từng trải qua bạo lực trong vòng một năm trước khi nghiên cứu được tiến hành.
Nghiên cứu viên sẽ gặp gỡ đối tượng nghiên cứu để giải thích lý do, mục đích và phương pháp nghiên cứu Sau khi nhận được sự đồng ý, nhóm nghiên cứu sẽ thống nhất với đối tượng về kế hoạch phỏng vấn, bao gồm nội dung, thời gian và địa điểm Tiếp theo, nghiên cứu viên sẽ thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận với nhóm nhân viên y tế về các câu hỏi trong hướng dẫn Để đảm bảo cuộc phỏng vấn diễn ra hiệu quả, nhóm nghiên cứu sẽ chuẩn bị máy ghi âm và biên bản ghi lại nội dung phỏng vấn.
HUPH vấn Thời gian cho 1 cuộc phỏng vấn sâu từ 30 - 40 phút và thời lượng cho buổi thảo luận nhóm là 2 -3 giờ.
Biến số, chủ đề nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng
Thông tin chung bao gồm tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ chuyên môn, khoa phòng làm việc, thâm niên công tác, tần suất trực đêm, và mức độ tiếp xúc với bệnh nhân, cùng với mục đích của việc tiếp xúc này.
Bạo lực tại nơi làm việc đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng, với nhiều đối tượng nghiên cứu đã từng trải qua các hình thức bạo lực khác nhau Tần suất và thời điểm xảy ra bạo lực, cùng với các thủ phạm gây ra, cần được ghi nhận để hiểu rõ hơn về tình hình Phản ứng của nhân viên y tế khi gặp phải bạo lực, cũng như việc báo cáo và điều tra các sự cố này, đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu hậu quả Sự hỗ trợ từ lãnh đạo cũng là yếu tố then chốt trong việc xử lý và ngăn chặn bạo lực tại nơi làm việc.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với nhân viên y tế (NVYT) bao gồm đặc điểm của bệnh nhân như độ tuổi, giới tính, văn hóa và tính chất bệnh; kỳ vọng cao từ bệnh nhân đối với dịch vụ y tế; thời gian chờ đợi và sự đáp ứng không kịp thời của dịch vụ chăm sóc; tính minh bạch trong cung cấp dịch vụ; cơ chế giám sát và hoạt động của bảo vệ; sự thiếu kỹ năng ứng phó của NVYT; và tình trạng quá tải trong bệnh viện Để phòng tránh bạo lực, cần đưa ra các giải pháp phù hợp cho môi trường bệnh viện.
Các biến số trong nghiên cứu được diễn giải chi tiết trong phụ lục 5
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
- Một số yếu tố ảnh hưởng tới bạo lực đối với NVYT từ bệnh nhân và NNBN tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh
- Nhóm yếu tố NVYT: Thông tin cá nhân, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng giao tiếp, sự hài lòng khi chăm sóc y tế
- Nhóm yếu tố bảo vệ: Chính sách hỗ trợ bạo lực, biện pháp an ninh bảo vệ, giải pháp phòng ngừa bạo lực, hệ thống báo cáo bạo lực
- Nhóm yếu tố công việc: Tính chất theo khoa, trực đêm, quá tải công việc, thiếu cơ sở vật chất cho dịch vụ
Nhóm yếu tố đặc trưng của người bệnh bao gồm tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, đặc điểm bệnh tật, mức độ hài lòng với dịch vụ y tế, thói quen sử dụng rượu bia, kỳ vọng cao vào bệnh viện hoặc khoa phòng, và thời gian chờ đợi kéo dài.
Phương pháp phân tích số liệu
2.7.1 Phương pháp phân tích số liệu định lượng
Dữ liệu định lượng được nhập vào máy tính thông qua phần mềm Epidata 3.1 Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 22.0, với mục tiêu nghiên cứu rõ ràng Phần thống kê mô tả sử dụng tần suất và tỷ lệ phần trăm để cung cấp cái nhìn tổng quát về đối tượng và thực trạng bạo lực Đồng thời, phần thống kê suy luận áp dụng phân tích đơn biến và hồi quy logistic để khám phá mối liên hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực.
Một số các chỉ số đước áp dụng trong nghiên cứu được định nghĩa như sau:
Tỷ lệ bạo lực thể chất được xác định bằng cách tính số lượng đối tượng nghiên cứu bị tác động bởi các hình thức bạo lực như đánh đập, đá, tát, đâm, bắn, xô đẩy, và cấu véo, so với tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu.
Tỷ lệ bạo lực tinh thần được xác định bằng cách tính số lượng đối tượng nghiên cứu chịu ảnh hưởng bởi các hình thức như la hét, lời lẽ thiếu tôn trọng, và lăng mạ Ngoài ra, nó cũng bao gồm việc sử dụng quyền lực để ép buộc, hạ thấp phẩm chất, buộc thay đổi công việc, và hành vi gây tổn hại vật chất, so với tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu.
Tỷ lệ bạo lực được xác định bằng cách tính số lượng cá nhân chịu ảnh hưởng của bạo lực thể chất hoặc bạo lực tinh thần so với tổng số người tham gia nghiên cứu.
2.7.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính:
Băng ghi âm các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) được chuyển đổi thành văn bản Word Nghiên cứu viên tiến hành đọc và mã hóa thông tin từ các cuộc phỏng vấn Phương pháp phân tích theo chủ đề được áp dụng để xử lý dữ liệu Kết quả thu được là thông tin định tính có giá trị.
HUPH nhằm làm rõ kết quả nghiên cứu định lượng, trong đó một số thông tin từ đối tượng nghiên cứu sẽ được sử dụng để trích dẫn và minh họa cho các kết quả đạt được.
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện sau khi Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo công văn số 401/2020/YTCC-HD3 vào ngày 12 tháng 10 năm 2020, cùng với sự đồng ý của Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đông Anh.
Tất cả nhân viên y tế tham gia nghiên cứu đều được điều tra viên giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và đã đồng ý tham gia Kết quả nghiên cứu sẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực đến bất kỳ ai tham gia.
Tất cả thông tin cá nhân của người tham gia sẽ được bảo mật tuyệt đối thông qua mã hóa Dữ liệu thu thập chỉ phục vụ cho nghiên cứu và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
Nghiên cứu đã cung cấp thông tin cho lãnh đạo bệnh viện và các đối tượng tham gia về tỷ lệ bạo lực đối với nhân viên y tế, cùng với những yếu tố ảnh hưởng Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu bạo lực trong bệnh viện.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm nhân khẩu học Số lượng (n00) Tỷ lệ (%) Tuổi
Tình trạng hôn nhân Độc thân 28 9,3
Bác sỹ 91 30,3 Điều dưỡng, hộ sinh 209 69,7
Sau đại học, đại học 143 47,6
Theo dữ liệu từ bảng 3.1, nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh chủ yếu là người trên 30 tuổi, chiếm 63,3%, gấp gần 2 lần so với nhóm dưới 30 tuổi (36,7%) Tỷ lệ nữ giới là 79,7%, cao gấp gần 4 lần so với nam giới (20,3%) Hơn 88,7% nhân viên y tế đã lập gia đình, trong đó điều dưỡng/hộ sinh chiếm 69,7%, gấp hơn 2 lần so với bác sĩ (30,3%) Nhân viên làm chuyên môn chiếm 82,3%, cao hơn 4 lần so với nhóm quản lý, hành chính (17,7%) Tỷ lệ nhân viên có trình độ cao đẳng, trung cấp là 52,4%, vượt trội hơn so với nhóm có trình độ đại học và sau đại học (47,6%) Đặc biệt, 71,0% nhân viên y tế có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên.
Bảng 3.2: Đặc điểm công việc của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm công việc Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Khu vực làm việc (n00)
Tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân/NNBN (n00)
Mục đích của tiếp xúc (n&7)
Số người làm chung trong 1 cas trực (n'2)
Theo số liệu tại bảng 3.2, nhân viên y tế (NVYT) làm việc tại hai khoa Cấp cứu và Khám bệnh chiếm tỷ lệ 16,0% Hầu hết NVYT đều tiếp xúc với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, đạt 98,0% Mục đích của việc tiếp xúc này là để thực hiện các công việc chuyên môn như thăm khám, điều trị, tư vấn bệnh, kỹ thuật chăm sóc và hướng dẫn.
Thủ tục hành chính tại HUPH ảnh hưởng đến bệnh nhân và gia đình họ Trong số 272 nhân viên y tế trực đêm, có 65,4% có tần suất trực trên 6 buổi trong tháng, trong khi 34,6% có tần suất dưới 6 buổi Đặc biệt, 60,3% trong số những người trực cùng là từ dưới.
4 người và 39,7% là trên 4 người.
Thực trạng bạo lực đối với nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Đông
Bảng 3.3 Tỷ lệ bạo lực và tỷ lệ từng loại bạo lực đối với nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Đông Anh
Các loại bạo lực Số lượng (n00) Tỷ lệ (%) Bạo lực thể chất
Theo số liệu từ Bảng số 3.3, tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) từng trải qua bạo lực trong 12 tháng qua là 68,3% Trong số đó, 5,3% đối tượng nghiên cứu đã từng bị bạo lực thể chất.
205 người bị ít nhất một trong các hình thức của bạo lực tinh thần chiếm 68,3%
3.2.1 Thực trạng bạo lực thể chất đối với nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh
Bảng 3.4 trình bày tỷ lệ và đặc điểm của bạo lực thể chất đối với nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Đông Anh, với số lượng và tỷ lệ phần trăm cụ thể cho từng đặc điểm của bạo lực thể chất.
Số lần bạo lực trong 1 năm
Sử dụng vũ khí có 2 12,5
Không 14 87,5 Đối tượng của bạo lực
Bệnh nhân và người nhà 8 50,0
Thời điểm xảy ra bạo lực
Ngày xảy ra bạo lực
Chăm sóc bệnh nhân/khám bệnh/điều trị 7 43,8
Hướng dẫn/giải thích/tư vấn 9 56,2
Số liệu tại Bảng 3.4 cho biết, trong số 16 NVYT bị bạo lực thể chất trong vòng
Trong 12 tháng qua, có 14 trường hợp nhân viên y tế (NVYT) bị bạo lực, chiếm 87,5%, với tần suất 1 lần Ngoài ra, có 2 trường hợp (12,5%) bị bạo lực 2 lần Trong số này, 14 NVYT (87,5%) bị bạo lực thể chất không sử dụng vũ khí, trong khi 2 NVYT (12,5%) bị bạo lực từ đối tượng có sử dụng vũ khí.
Thủ phạm của các vụ bạo lực thể chất đối với nhân viên y tế (NVYT) cho thấy rằng 50% (07 NVYT) là do bệnh nhân và người nhà bệnh nhân gây ra, trong khi 12,5% (02 NVYT) là do người bệnh và 37,5% (06 NVYT) do người nhà gây ra.
HUPH bạo lực thể chất xảy ra khi NVYT thực hiện công việc chuyên môn và 56,2% (09 NVYT) xảy ra NVYT khi giải thích hướng dẫn, tư vấn
Bạo lực thường xảy ra chủ yếu từ 18 giờ đến trước 24 giờ, chiếm 68,7% với 11 trường hợp Trong đó, 12,5% các vụ bạo lực thể chất xảy ra vào thứ 7 và chủ nhật, và 87,5% nhân viên y tế không nhớ ngày xảy ra bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng qua.
Trong số 16 trường hợp bạo lực thể chất đối với nhân viên y tế (NVYT), có 37,5% (6 trường hợp) cố gắng tự bảo vệ, 50% (8 trường hợp) tìm kiếm sự giúp đỡ, và 12,5% (2 trường hợp) không hành động gì Tất cả các vụ bạo lực đều được NVYT báo cáo lên lãnh đạo khoa và Ban giám đốc bệnh viện Qua phỏng vấn với lãnh đạo khoa và thảo luận nhóm, chúng tôi nhận thấy phần lớn các vụ bạo lực không có vũ khí, NVYT thường bị tấn công bất ngờ và không kịp phản ứng Một lãnh đạo khoa Cấp cứu chia sẻ: “Trong năm vừa rồi, khoa tôi đã xảy ra một vài vụ bạo lực, như tháng trước có một người đàn ông xăm trổ lao vào đấm đá nhân viên, nhưng may mắn không có chấn thương nào xảy ra.”
Trong một cuộc thảo luận với nhóm nhân viên y tế chưa từng trải qua bạo lực trong 12 tháng qua, một nhân viên chia sẻ: “Hôm vừa rồi, khi tôi mang hồ sơ bệnh án vào khoa, tôi thấy anh H chạy toán loạn vì một bệnh nhân cầm giày đuổi theo May mắn là anh H đã kịp chạy thoát, và tôi nhận ra bệnh nhân đó là người cùng làng với tôi.”
Bảng 3.5: Hậu quả của bạo lực thể chất đối với nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh
Hậu quả của bạo lực thể chất Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Chấn thương
Chấn thương nhẹ, không phải nghỉ làm 3 18,8
Sợ hãi, không nghỉ làm 9 56,2
Sợ hãi, phải nghỉ từ 1 – 6 ngày 3 18,8
Theo Bảng 3.5, trong số 16 trường hợp bạo lực thể chất, 75% (12 trường hợp) không bị chấn thương, 18,8% (03 trường hợp) bị chấn thương nhẹ nhưng vẫn làm việc, và 6,2% (01 trường hợp) phải nghỉ làm do chấn thương Về hậu quả tâm lý, 25% (04 trường hợp) không có ảnh hưởng, 56,2% (09 trường hợp) cảm thấy sợ hãi nhưng không nghỉ làm, trong khi 18,8% (03 trường hợp) vừa sợ hãi vừa phải nghỉ làm.
Trong số 05 NVYT từng bị bạo lực được mời vào thảo luận nhóm nhận thấy có
Một nhân viên y tế tại khoa Cấp cứu đã xin nghỉ phép do chấn thương nhẹ và tâm lý lo lắng sau khi bị bạo lực thể chất Trong khi đó, một nhân viên y tế khác tại khoa Khám bệnh cũng gặp phải sự lăng mạ từ bệnh nhân, gây ra cảm giác bức xúc và lo lắng, nhưng họ vẫn tiếp tục thực hiện công việc của mình.
Bảng 3.6: Biện pháp xử lý bạo lực thể chất đối với với nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh
Biện pháp xử lý Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Điều tra bạo lực (n)
Cơ quan điều tra bạo lực (n=6)
Lãnh đạo hỗ trợ khi bị bạo lực (n)
Trong số 16 vụ bạo lực thể chất đối với nhân viên y tế, có 8 vụ được điều tra, chiếm 50% Trong số các vụ được điều tra, 4 vụ (50%) do lãnh đạo bệnh viện thực hiện, trong khi 2 vụ (25%) do công an và lãnh đạo khoa phòng điều tra Lãnh đạo bệnh viện đã có những trao đổi về vấn đề này.
Các vụ bạo lực thể chất tại các khoa đều được báo cáo, nhưng không thể điều tra tất cả Đối với những vụ nghiêm trọng, bệnh viện sẽ phối hợp với công an Đông Anh để hỗ trợ điều tra.
Có 08 trường hợp NVYT được lãnh đạo tư vấn, trò chuyện, hỗ trợ tinh thần/vật chất (chiếm 100%) và 02 trường hợp được lãnh đạo hỗ trợ báo cáo (chiếm 20%) Về vấn đề này được điều dưỡng trưởng khoa Hồi sức tích cực có chia sẻ “ bạn đấy bị như thế bị người nhà đánh vào đầu, cũng được lãnh đạo bệnh viên cũng rất quan tâm thăm hỏi, động viện và công đoàn cũng hỏi thăm kịp thời và có động viên tinh thần ” (PVS điều dưỡng trưởng khoa Hồi sức tích cực)
3.2.2 Thực trạng bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Đông Anh
3.2.2.1 Hình thức của bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế
Biểu đồ 3.1: Hình thức của bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh
Trong vòng 12 tháng qua, bảng biểu đồ cho thấy nhân viên y tế (NVYT) đã phải đối mặt với nhiều hình thức bạo lực tinh thần từ bệnh nhân và người nhà bệnh nhân (NNBN) Hình thức bạo lực bằng lời nói, đặc biệt là la hét, chiếm tỷ lệ cao nhất với 67,7% Ngoài ra, các hành vi lăng mạ nhằm hạ thấp nhân phẩm và uy tín của NVYT, cùng với việc sử dụng lời nói thiếu tôn trọng, lần lượt chiếm 31,6% và 18,7% Hơn nữa, việc sử dụng quyền lực để ép buộc NVYT cũng ghi nhận tỷ lệ 6,3% Các hành vi khác gây tổn hại đến tài sản và uy hiếp tinh thần của NVYT chiếm 7,6%.
La hét, nói to Lời thiếu tôn trọng
Lăng mạ Dùng quyền lực Hành vi khác
3.2.2.2 Thủ phạm của bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế
Biểu đồ 3.2: Thủ phạm của bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh
Theo Biểu đồ 3.2, thủ phạm chính của các vụ bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế (NVYT) chủ yếu là người nhà bệnh nhân (NNBN), chiếm 70,3% Trong khi đó, 22,4% vụ việc do cả bệnh nhân và NNBN gây ra, và chỉ có 7,3% vụ bạo lực tinh thần là do bệnh nhân đơn thuần.
3.2.2.3 Hậu quả của bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế
Biểu đồ 3.3: Hậu quả của bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh
Biểu đồ 3.3 cho thấy hậu quả của bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế (NVYT), trong đó phần lớn NVYT bị bạo lực tinh thần không gặp phải hậu quả nghiêm trọng nào.
Bệnh nhân NNBN Bệnh nhân và NNBN
Không Sợ hãi không nghỉ làm Sợ hãi nghỉ làm
71,2%; 27,3% NVYT có sợ hãi nhưng không phải nghỉ làm và có 1,5% sợ hãi phải nghỉ làm khi bị bạo lực tinh thần
3.2.2.3 Phản ứng và xử lý của nhân viên y tế khi bị bạo lực tinh thần
Bảng 3.7: Phản ứng và xử lý khi bị bạo lực tinh thần đối với nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh
Phản ứng và cách xử lý Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Phản ứng của NVYT (n 5)
Lý do không báo cáo bạo lực (n3)
Nghỉ rằng không quan trọng 46 32,2
Nghỉ rằng không tác dụng gì 82 57,3
Cảm thấy có lỗi 10 7,0 Điều tra nguyên nhân bạo lực (n 5)
BÀN LUẬN
Tình hình bạo lực nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh bởi người bệnh hoặc/và người nhà người bệnh
Tình trạng bạo lực trên thế giới đang gia tăng cả về số lượng và tính chất, với nhiều hình thức như đánh đập, đe dọa và quấy rối tình dục Nhân viên y tế tại Việt Nam, đặc biệt là tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh, đang phải đối mặt với nguy cơ bạo lực ngày càng cao Bệnh viện này, được đầu tư nâng cấp với cơ sở vật chất hiện đại và trang thiết bị tiên tiến, đã nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và giảm tải cho tuyến trên Tuy nhiên, từ năm 2017, bệnh viện đã tự chủ trong chi thường xuyên, dẫn đến áp lực lớn lên nhân viên y tế và một số vấn đề trong quản lý và bố trí nhân lực Mặc dù có sự quan tâm đến an ninh, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, và một số nhân viên y tế còn thiếu kỹ năng giao tiếp, gây bức xúc cho bệnh nhân Cần đánh giá thực trạng bạo lực và đề xuất giải pháp can thiệp hiệu quả.
Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Đông Anh nhằm giảm thiểu bạo lực đã chỉ ra rằng tình trạng bạo lực đối với nhân viên y tế trong 12 tháng qua là rất đáng lo ngại.
Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh trong 12 tháng qua cho thấy 68,3% nhân viên y tế (NVYT) từng bị bạo lực, trong đó bạo lực tinh thần chiếm tỷ lệ cao nhất với 205 trường hợp Mặc dù nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã chỉ ra tình trạng bạo lực đối với NVYT, tỷ lệ bạo lực trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi trung ương năm 2017 (72,7%) Sự khác biệt này có thể do nhóm đối tượng nghiên cứu của chúng tôi bao gồm cả bác sĩ và điều dưỡng, trong khi nghiên cứu trước chỉ tập trung vào điều dưỡng Thêm vào đó, Bệnh viện đa khoa Đông Anh là bệnh viện hạng 2 với môi trường làm việc ít áp lực hơn, điều này có thể lý giải cho tỷ lệ bạo lực thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi.
Tỷ lệ bạo lực trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các nghiên cứu trong nước tại bệnh viện Bà Rịa và bệnh viện Nhân Dân trung ương, với kết quả là 61,4% Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi vì nghiên cứu của chúng tôi bao gồm cả bác sĩ và điều dưỡng, trong khi hai nghiên cứu trước chỉ tập trung vào đối tượng điều dưỡng.
Nghiên cứu năm 2016 tại Peru cho thấy 73,4% nhân viên y tế đã từng trải qua bạo lực tại nơi làm việc, với 1054 người tham gia Kết quả của nghiên cứu này cao hơn so với kết quả của chúng tôi.
HUPH có thể khác nhau do hai nghiên cứu được thực hiện với quy mô và tính chất khác nhau Bên cạnh đó, sự khác biệt trong tập tục và văn hóa giữa các vùng miền cũng có thể là nguyên nhân giải thích cho điều này.
Nghiên cứu trên 100 nhân viên y tế tại một bệnh viện ở Bahrain cho thấy 78% đã trải qua bạo lực tinh thần và 11% là nạn nhân của bạo lực thể xác trong năm qua Một nghiên cứu khác tại Ả Rập với 270 nhân viên y tế tại 12 cơ sở y tế cho thấy 94,3% đã từng bị bạo lực tinh thần, trong khi 6,5% bị bạo lực thể chất Kết quả của chúng tôi thấp hơn so với hai nghiên cứu này, có thể do sự khác biệt về số lượng người tham gia và quy mô thực hiện của mỗi nghiên cứu.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ bạo lực thể chất đối với nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Đông Anh thấp hơn so với nghiên cứu tại bệnh viện Nhi trung ương (30,7%) Tại Iran, 23,5% điều dưỡng đã trải qua bạo lực thể chất, trong khi ở Hàn Quốc, 27,6% điều dưỡng mới được cấp phép gặp phải tình trạng này trong vòng 12 tháng qua Sự khác biệt trong tỷ lệ bạo lực thể chất giữa các nghiên cứu có thể được giải thích bởi các tiêu chuẩn phục vụ khác nhau tại từng cơ sở y tế ở các khu vực khác nhau.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 205 nhân viên y tế (68,3%) bị bạo lực tinh thần, cao hơn so với tỷ lệ 60,5% trong nghiên cứu tại bệnh viện Bà Rịa năm 2017 Sự khác biệt này có thể do nhóm đối tượng và số lượng nghiên cứu khác nhau Tỷ lệ nhân viên y tế bị bạo lực tinh thần trong nghiên cứu của chúng tôi cũng cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Phú tại bệnh viện Nhân Dân, với tỷ lệ 64,4% Điều này cho thấy rằng các yếu tố như nhóm đối tượng và phạm vi nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến kết quả.
Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào nhóm đối tượng bác sĩ và điều dưỡng/hộ sinh tại các khoa lâm sàng, trong khi tác giả Nguyễn Ngọc Phú chỉ thực hiện nghiên cứu trên toàn bộ nhân viên y tế tại khoa Cấp cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng trong các loại bạo lực, với mức độ khác nhau giữa chúng Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu đều chỉ ra rằng nhân viên y tế thường xuyên phải đối mặt với bạo lực tinh thần, chiếm tỷ lệ cao hơn so với bạo lực thể chất.
Các yếu tố liên quan đến bạo lực nhân viên y tế tại bệnh viện bởi bệnh nhân hoặc/và người nhà bệnh nhân
Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Đông Anh đã chỉ ra rằng các yếu tố như tuổi tác, ca trực đêm và trình độ chuyên môn của nhân viên y tế (NVYT) có ảnh hưởng đáng kể đến bạo lực trong môi trường y tế.
Nghiên cứu về mối liên quan giữa tuổi tác của nhân viên y tế (NVYT) và bạo lực cho thấy nhóm NVYT dưới 30 tuổi có nguy cơ bị bạo lực cao gấp 1,98 lần so với nhóm trên 30 tuổi (95%CI: 1,16-3,38) Tuy nhiên, phân tích logistic không tìm thấy mối liên quan giữa tuổi và bạo lực (95% CI 0,88-5,41; p>0,05) Kết quả này khác biệt so với nghiên cứu của Dương Tấn Quân tại một bệnh viện ở Việt Nam với OR = 2,26; 95%CI: 1,26-4,18, p