ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng: Đối tượng nghiên cứu:
Điều dưỡng và hộ sinh tại 7 khoa lâm sàng của Bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh thực hiện công tác thăm khám, chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân Tất cả nhân viên tham gia nghiên cứu đều có thâm niên công tác ít nhất 6 tháng tại bệnh viện và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Những điều dưỡng, hộ sinh nghỉ thai sản, đi học hoặc chỉ làm hành chính
Lãnh đạo Bệnh viện chịu trách nhiệm về Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn, bao gồm lãnh đạo khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn và Điều dưỡng trưởng của hai khoa Trong đó, một điều dưỡng trưởng có đội ngũ nhân viên thực hiện tốt quy định vệ sinh tay, trong khi điều dưỡng trưởng còn lại có nhân viên chưa tuân thủ đầy đủ các biện pháp vệ sinh tay.
Hai cuộc thảo luận nhóm đã được tổ chức với các điều dưỡng hộ sinh trực tiếp chăm sóc bệnh nhân tại bảy khoa lâm sàng Một nhóm gồm những điều dưỡng tuân thủ tốt quy định vệ sinh tay thường quy, trong khi nhóm còn lại chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp này.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
+ Địa điểm nghiên cứu: Tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh + Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2019 đến tháng 8/2020.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính, trong đó nghiên cứu định tính được thực hiện sau nghiên cứu định lượng để làm rõ kết quả của mục tiêu 1 và trả lời cho mục tiêu 2 của nghiên cứu.
Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỉ lệ:
+ Với 𝛼 =0,05, với độ tin cậy là 95%, p = 0,367 (tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy), theo nghiên cứu của Ngô Thị Mỹ Liên và Lê Thị Thanh Hương, năm
2019 (25), với khoảng sai lệch mong muốn d = 0,1 n = (1,96)
2 × 0,367 ×(1−0,367) 0,1 2 = 90, Vậy mẫu cần quan sát là 90 điều dưỡng, hộ sinh
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn toàn bộ 120 điều dưỡng và hộ sinh đang làm việc trực tiếp tại 7 khoa lâm sàng của Bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh.
Trong nghiên cứu này, 120 điều dưỡng và hộ sinh đã được tham gia, với mỗi người được quan sát 3 cơ hội vệ sinh tay trong tổng số 360 cơ hội cần thực hiện Các cơ hội này bao gồm: (1) trước khi tiếp xúc bệnh nhân, (2) trước khi thực hiện thủ thuật vô trùng, (3) sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, (4) sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết, và (5) sau khi tiếp xúc vùng xung quanh bệnh nhân Việc quan sát này được thực hiện do thực tế công việc và nguồn lực hạn chế về thời gian và địa điểm.
+ Phỏng vấn sâu (PVS): 04 cuộc PVS
- 01 Lãnh đạo bệnh viện là chủ tịch Hội đồng KSNK của bệnh viện
- 01 Lãnh đạo khoa kiểm soát nhiễm khuẩn
Trong nghiên cứu này, chúng tôi so sánh hai khoa điều dưỡng trưởng, trong đó một khoa có tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh tuân thủ vệ sinh tay tốt, trong khi khoa còn lại có tỷ lệ tuân thủ chưa đạt yêu cầu Việc phân tích này nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp vệ sinh tay trong môi trường chăm sóc sức khỏe.
+ Thảo luận nhóm (TLN): 2 cuộc TLN
- 02 nhóm điều dưỡng, hộ sinh (Nhóm tuân thủ vệ sinh tay và nhóm chưa tuân thủ vệ sinh tay).
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng
Xây dựng bảng kiểm đánh giá dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế về kỹ thuật 6 bước rửa tay thường quy và 5 cơ hội cần vệ sinh tay theo Tổ chức Y tế Thế giới là rất quan trọng để nâng cao ý thức vệ sinh tay trong cộng đồng.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành quan sát trực tiếp 3 cơ hội vệ sinh tay theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới về 5 thời điểm cần vệ sinh tay và 6 bước vệ sinh tay của Bộ Y tế Việc vệ sinh tay được thực hiện bằng nước và xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn có chứa cồn Nhóm quan sát gồm 3 người, trong đó có một nghiên cứu viên và hai nhân viên giám sát kiểm soát nhiễm khuẩn Quan sát vệ sinh tay được thực hiện song song với công tác giám sát kiểm soát nhiễm khuẩn hàng ngày, với nhân viên giám sát sử dụng bảng kiểm đã thiết kế sẵn để theo dõi việc tuân thủ vệ sinh tay, đồng thời lựa chọn vị trí quan sát để tránh bị phát hiện bởi điều dưỡng và hộ sinh.
Mỗi đối tượng nghiên cứu cần được quan sát ít nhất 3 cơ hội VST khác nhau theo quy định của Bộ Y tế, với thời gian quan sát mỗi lần là 20 phút.
Nếu sau 30 phút, điều dưỡng và hộ sinh vẫn chưa hoàn thành công việc thăm khám, chăm sóc và hỗ trợ người bệnh, quan sát viên sẽ tiếp tục theo dõi cho đến khi công việc được hoàn tất.
Các quan sát được thực hiện trong giờ hành chính, từ 7 giờ 30 đến 9 giờ 30 vào buổi sáng và từ 13 giờ 45 đến 15 giờ 45 vào buổi chiều, từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần Nghiên cứu viên tham gia thu thập dữ liệu và giám sát toàn bộ quá trình để giảm thiểu sai số và đảm bảo chất lượng dữ liệu thu thập.
2.5.2 Thu thập số liệu định tính
Tiến hành phỏng vấn sâu các cán bộ chủ chốt, bao gồm Lãnh đạo bệnh viện phụ trách Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn, Lãnh đạo khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, và Điều dưỡng trưởng của hai khoa: một khoa có tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay cao và một khoa có tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay chưa cao.
Thảo luận nhóm giữa điều dưỡng và hộ sinh về công tác chăm sóc bệnh nhân, tập trung vào việc phân tích sự tuân thủ vệ sinh tay Nhóm tuân thủ vệ sinh tay sẽ chia sẻ những phương pháp hiệu quả, trong khi nhóm chưa tuân thủ sẽ thảo luận về những thách thức và nguyên nhân dẫn đến việc không thực hiện đúng quy trình vệ sinh tay.
Thời gian cho mỗi cuộc phỏng vấn sâu dự kiến là 25 - 30 phút, thảo luận nhóm là 45 - 60 phút (Hướng dẫn phỏng vấn và thảo luận nhóm ở phụ lục 2, 3, 4, 5)
Biến số nghiên cứu
2.6.1 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy
Các thông tin chung của điều dưỡng và hộ sinh: giới tính, tuổi, khoa làm việc, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn
Thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng:
- Số cơ hội thực hành vệ sinh tay
- Cơ hội tuân thủ vệ sinh tay
- Phương pháp vệ sinh tay
- Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy
- Tỷ lệ thực hành đúng vệ sinh tay thường quy
(Bảng các biến số nghiên cứu chi tiết xin xem ở Phụ lục 7)
2.6.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ vệ sinh tay thường quy ở điều dưỡng và hộ sinh
+ Các yếu tố quản lý và tạo điều kiện cho điều dưỡng, hộ sinh tăng cường VSTTQ
- Các văn bản, quy định vệ sinh tay của Bộ Y tế, của Sở Y tế Trà Vinh, của Bệnh viện
- Việc thực hiện triển khai các quy định về tuân thủ vệ sinh tay trong bệnh viện
- Các quy định về kiểm tra, giám sát của bệnh viện, khoa phòng
- Tập huấn về vệ sinh tay của bệnh viện
- Sự quan tâm của Lãnh đạo Bệnh viện, khoa phòng
- Chính sách khen thưởng, khiển trách
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng và hộ sinh
- Phương tiện, trang thiết bị hỗ trợ vệ sinh tay
- Mong muốn của điều dưỡng và hộ sinh về VSTTQ trong công tác khám chữa bệnh
Tiêu chí đánh giá tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh
Tuân thủ VSTTQ là rất quan trọng, đặc biệt là khi nhân viên y tế thực hiện rửa tay tại 5 thời điểm bắt buộc theo hướng dẫn của WHO Việc rửa tay nên được thực hiện bằng dung dịch rửa tay có chứa xà phòng hoặc dung dịch rửa tay có cồn để đảm bảo hiệu quả trong việc ngăn ngừa lây nhiễm.
Tuân thủ VSTTQ đúng: Có rửa tay khi có cơ hội RTTQ và phải làm theo đúng/đủ quy trình 06 bước rửa tay của BYT (2)
Điều dưỡng và hộ sinh được đánh giá có tuân thủ vệ sinh tay (VSTTQ) khi thực hiện VST trong cả 3 cơ hội quan sát Họ đều sử dụng nước và xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn có chứa cồn Mỗi lần VST, điều dưỡng và hộ sinh phải tuân thủ đủ và đúng thứ tự 6 bước theo quy trình VST của Bộ Y tế, đồng thời đảm bảo thời gian VST là từ 30 – 45 giây với nước và xà phòng, và từ 20 – 30 giây với dung dịch chứa cồn hoặc cồn.
Một điều dưỡng hoặc hộ sinh được xem là không tuân thủ quy định vệ sinh tay khi có ít nhất một trong ba cơ hội quan sát không thực hiện vệ sinh tay hoặc thực hiện nhưng không đúng thứ tự.
6 bước theo quy trình của Bộ Y tế.
Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu sau khi quan sát thu thập sẽ được kiểm tra, làm sạch sau đó nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata
Dữ liệu định lượng được phân tích theo mục tiêu nghiên cứu bằng thuật toán thống kê mô tả, sử dụng phần mềm SPSS 20 Kiểm định chi-square được áp dụng để xác định mối liên quan giữa tuân thủ VST và các yếu tố liên quan, với mức ý nghĩa p < 0,05, cho thấy có mối liên quan với độ tin cậy 95%.
Số liệu định tính được từ gỡ băng phân tích và trích dẫn theo các chủ đề đã được xác định.
Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu này đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế Công Cộng phê duyệt theo Quyết định số 199/2020/YTCC – HD3 vào ngày 07 tháng 5 năm 2020, cùng với sự đồng ý của Lãnh đạo Bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh.
Các đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và đồng ý tham gia một cách tự nguyện Nghiên cứu cam kết bảo mật thông tin và số liệu mà các đối tượng cung cấp, đồng thời tôn trọng họ trong quá trình phỏng vấn Chúng tôi khuyến khích các đối tượng cung cấp thông tin chính xác và tôn trọng quyền từ chối cung cấp thông tin của họ.
Kết quả nghiên cứu được báo cáo lại cho lãnh đạo bệnh viện khi hoàn thành nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n0)
Thông tin Tần số Tỷ lệ %
Nơi công tác Khu khám – Cấp cứu 17 14,2
Phẫu thuật gây mê hồi sức 26 21,7
Khoa ngoại sản – Phụ khoa hiếm muộn 19 15,8
Trình độ học vấn Đại học và sau đại học 28 23,3
Trung học và cao đẳng 92 76,7
Bảng 3.1 cung cấp thông tin về đối tượng nghiên cứu, trong đó 24,5% ĐNTC có độ tuổi dưới 30, trong khi 75,8% còn lại trên 30 tuổi Đối tượng tham gia nghiên cứu chủ yếu là nữ giới, chiếm 86,7% Về phân bố công việc, Khoa Gây mê hồi sức có số lượng ĐTNC cao nhất với 21,7%, tiếp theo là Khoa Sản và Khoa Ngoại Sản, mỗi khoa chiếm 15,8% Khu Khám – Cấp cứu chiếm 14,2%, Khoa Nội Nhi 11,7%, và Khoa Ngoại Nhi thấp nhất với 5% Hầu hết điều dưỡng, hộ sinh có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên.
HUPH lên chiếm 91,7% Số có trình độ đại học chiếm 23,3%, còn lại là cao đẳng và trung học (76,7%)
Bảng 3.2 Thông tin chung về các lượt quan sát vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng, hộ sinh tại 7 Khoa lâm sàng
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Thời điểm quan sát Sáng 207 57,5
Phẫu thuật gây mê hồi sức 78 21,7
Bảng 3.2 cung cấp thông tin về lượt quan sát VSTTQ của điều dưỡng và hộ sinh tại 7 khoa lâm sàng trong thời gian nghiên cứu Trong đó, 207 lượt quan sát (57,5%) được thực hiện vào buổi sáng và 153 lượt (42,5%) vào buổi chiều Khoa Phẫu thuật gây mê hồi sức ghi nhận số lượt quan sát cao nhất với 21,7%, trong khi Khoa Ngoại Nhi có số lượt quan sát thấp nhất, chỉ chiếm 5,0%.
3.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh
Bảng 3.3 Tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh có vệ sinh tay thường quy trên tổng số cơ hội vệ sinh tay thường quy được quan sát
Số cơ hội quan sát (n)
Số cơ hội có vệ sinh tay (n)
Cơ hội thực hiện VSTTQ
Trước khi tiếp xúc với người bệnh 117 44 37,6
Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn 114 97 85,1
Sau khi tiếp xúc với người bệnh 110 103 93,6
Sau tiếp xúc với máu, dịch người bệnh 9 7 77,8
Sau tiếp xúc vùng xung quanh người bệnh 10 7 70,0
Phẫu thuật gây mê hồi sức 78 75 96,2
Thời điểm vệ sinh tay
Bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ thực hiện vệ sinh tay (VSTTQ) của điều dưỡng và hộ sinh trong 360 cơ hội quan sát theo 5 thời điểm VST Trong đó, vệ sinh tay thường quy đạt 258 cơ hội, chiếm 71,7% Tỷ lệ thực hiện cao nhất là sau khi tiếp xúc người bệnh (93,6%), tiếp theo là trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn (85,1%) và sau khi tiếp xúc máu dịch (77,8%) Tỷ lệ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc vùng xung quanh bệnh nhân là 70,0%, trong khi tỷ lệ thấp nhất là trước khi tiếp xúc người bệnh chỉ đạt 37,6% Kết quả cho thấy đa phần các cơ hội thực hiện VST tương đối tốt, ngoại trừ cơ hội trước khi tiếp xúc người bệnh cần cải thiện.
HUPH thực hiện vệ sinh tay chiếm 62,4% cao nhất trong 5 cơ hội vệ sinh tay, kết quả này cũng giống ý kiến
Trong quá trình đi buồng, tôi nhận thấy nhân viên tuân thủ 5 thời điểm VSTTQ với tỷ lệ khá cao Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ VSTTQ trước khi chăm sóc bệnh nhân lại thấp hơn so với các thời điểm khác Mặc dù vậy, tất cả các quy trình VSTTQ và 5 thời điểm VST đều được thực hiện đúng.
Theo báo cáo của nhân viên giám sát, điều dưỡng và hộ sinh thường không thực hiện việc rửa tay trước khi tiếp xúc với bệnh nhân, nhưng lại có thói quen rửa tay sau khi tiếp xúc.
Bảng 3.4 Phương pháp vệ sinh tay thường quy trong số cơ hội có vệ sinh tay thường quy
Cơ hội vệ sinh tay Bằng nưới với xà phòng
Bằng cồn/dung dịch chứa cồn
Tổng số cơ hội có VST Tần số
Trước khi tiếp xúc người bệnh 21 48,8 22 51,2 43 16,7
Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn 36 37,1 61 62,9 97 37,6
Sau khi tiếp xúc với người bệnh 79 76,0 25 24,0 104 40,3
Sau khi tiếp xúc với máu, dịch của người bệnh 6 85,7 1 14,3 7 2,7
Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh người bệnh 3 42,8 4 57,2 7 2,7
Bảng 3.4 nêu rõ phương pháp VSTTQ của điều dưỡng và hộ sinh trong việc vệ sinh tay Kết quả cho thấy tỷ lệ sử dụng nước xà phòng để rửa tay cao hơn so với tỷ lệ sử dụng nước.
Tỷ lệ vệ sinh tay bằng nước và xà phòng tại HUPH sinh tay với cồn và dung dịch chứa cồn lần lượt là 56,2% và 43,8% Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay bằng nước và xà phòng cao nhất là sau khi tiếp xúc với máu và dịch của người bệnh (85,7%), tiếp theo là sau khi tiếp xúc với người bệnh (76,0%) và sau khi tiếp xúc vùng xung quanh người bệnh (42,8%) Tỷ lệ thấp nhất là trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn (37,1%) Ngược lại, vệ sinh tay bằng cồn và dung dịch chứa cồn cao nhất trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn (62,9%), sau đó là sau khi tiếp xúc vùng xung quanh người bệnh (57,2%) và thấp nhất là sau khi tiếp xúc với máu và dịch (14,3%) Kết quả cho thấy đa phần điều dưỡng, hộ sinh ưu tiên phương pháp vệ sinh tay bằng nước và xà phòng, điều này cũng phù hợp với ý kiến chung.
Hiện tại, bệnh viện đang cung cấp dung dịch rửa tay nhanh chủ yếu là cồn nước, tuy nhiên, điều này vẫn hạn chế việc rửa tay của nhân viên Để cải thiện tình hình, bệnh viện dự kiến sẽ cung ứng dung dịch cồn có chứa chất giữ ẩm, giúp nhân viên không lo hư hại da tay, từ đó nâng cao mức độ tuân thủ quy định rửa tay.
Do bệnh viện chỉ có cồn để sát khuẩn tay nhanh, điều dưỡng và hộ sinh nữ lo ngại về tình trạng khô da tay Với 86,7% số lượng điều dưỡng và hộ sinh là nữ, phương pháp vệ sinh tay bằng xà phòng và nước trở thành lựa chọn phổ biến hơn.
Rửa tay là việc cần thiết mọi lúc, và em thích sử dụng xà phòng vì cảm giác an tâm mà nó mang lại Xà phòng không chỉ giúp làm sạch mà còn bảo vệ da tay Đôi khi, sau khi làm việc, em tháo găng tay và về phòng mới rửa tay, nhưng điều đó không có nghĩa là em không tuân thủ việc rửa tay.
Bảng 3.5 Tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng, hộ sinh theo 5 cơ hội vệ sinh tay thường quy được quan sát
Cơ hội vệ sinh tay Tuân thủ
Trước khi tiếp xúc người bệnh
Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn
Sau khi tiếp xúc với người bệnh
Sau khi tiếp xúc với máu, dịch của người bệnh
Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh người bệnh
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Sản – Nhi được trình bày trong Bảng 3.5, cho thấy cơ hội "Sau tiếp xúc với người bệnh" có tỷ lệ cao nhất là 55,5% Cơ hội "Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn" đứng thứ hai với 31,6%, tiếp theo là "Sau tiếp xúc xung quanh người bệnh" với 30,0% Tỷ lệ thấp nhất thuộc về "Sau khi tiếp xúc với máu dịch NB" chỉ đạt 11,1%, và "Trước khi tiếp xúc với NB" là 16,2% Mặc dù việc tuân thủ vệ sinh tay là quy định bắt buộc trong chăm sóc y tế, nhưng tỷ lệ tuân thủ tại bệnh viện vẫn còn thấp do nhiều yếu tố, trong đó có tình trạng quá tải bệnh nhân Kết quả phỏng vấn sâu cũng xác nhận điều này.
Tại khoa Sản, trong tình huống cấp cứu, thời gian rất hạn chế, vì vậy nhân viên y tế thường phải mang găng tay vô khuẩn để thăm khám nhanh chóng Sau khi khám xong, họ phải nhanh chóng tháo găng tay và chuyển sang ca cấp cứu khác, dẫn đến việc ghi hồ sơ không kịp Do đó, việc tuân thủ vệ sinh tay trong khu cấp cứu không được thực hiện đầy đủ và thường xuyên như ở khu khám.
Cường độ làm việc của điều dưỡng và hộ sinh tăng cao do bệnh đông, dẫn đến việc thực hiện VSTTQ liên tục không đủ theo cơ hội VST.
Nhiều nhân viên y tế thừa nhận rằng họ thường quên rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, đặc biệt trong những tình huống khẩn cấp khi số lượng bệnh nhân cần chăm sóc quá lớn Điều này dẫn đến việc không tuân thủ quy định vệ sinh tay, một phần cũng do ý thức của nhân viên, khi họ cho rằng nếu không thấy dịch tiết bằng mắt thường thì có thể bỏ qua việc rửa tay.
Bảng 3.6 Tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng và hộ sinh theo thời điểm vệ sinh tay
Thời điểm quan sát Tuân thủ
Theo bảng 3.6, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh theo thời điểm VST cho thấy tỷ lệ tuân thủ vào buổi sáng là 34,8%, cao hơn so với buổi chiều là 32,7%, tuy nhiên sự chênh lệch này không đáng kể.
Bảng 3.7 Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh khi có cơ hội vệ sinh tay theo khoa phòng
Khoa làm việc Tuân thủ VSTTQ Không tuân thủ
Khu khám cấp cứu 22 43,1 29 56,9 51 100 Phẫu thuật gây mê hồi sức
Một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh năm 2020
3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng và hộ sinh
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa thời điểm vệ sinh tay thường quy và tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh
Yếu tố thời điểm làm việc
Kết quả từ bảng 3.2 cho thấy việc áp dụng phân tích số liệu bằng kiểm định khi bình phương và tỷ suất chênh với mức ý nghĩa p < 0,05 là có ý nghĩa trong ca làm việc sáng chiều.
Tuân thủ VSTTQ Không tuân thủ VSTTQ
HUPH là biến độc lập, trong khi sự tuân thủ VSTTQ là biến phụ thuộc Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy theo thời điểm vệ sinh tay, với giá trị p > 0,05, cho thấy không có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.10 Mối liên quan về tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh giữa các khoa
Yếu tố Khoa làm việc
Bảng 3.10 cho thấy mối liên quan giữa tuân thủ vệ sinh tay (VSTTQ) của các khoa, với Khoa làm việc là biến độc lập và sự tuân thủ VSTTQ là biến phụ thuộc Phân tích dữ liệu bằng kiểm định khi bình phương cho thấy Khoa PTGMHS có tỷ lệ tuân thủ VSTTQ cao hơn đáng kể so với các khoa khác Cụ thể, tỷ lệ tuân thủ của Khoa PTGMHS cao gấp 0,449 lần so với Khu khám cấp cứu (p < 0,05, 95% CI = 0,219 – 0,922) và cao gấp 3,126 lần so với Khoa HSTC (p < 0,05, 95% CI = 1,534 – 6,370).
HUPH có sự khác biệt đáng kể so với các khoa khác, cụ thể là gấp 14,362 lần Khoa Sản (p < 0,05, 95% CI = 5,485 – 37,604), gấp 7,941 lần Khoa Ngoại Sản (p < 0,05, 95% CI = 3,488 – 18,079), gấp 4,762 lần Khoa Nội Nhi (p < 0,05, 95% CI = 2,083 – 10,888) và gấp 13,517 lần Khoa Ngoại Nhi (p < 0,05, 95% CI = 2,898 – 63,054) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Kết quả định lượng và định tính từ các cuộc phỏng vấn cho thấy cường độ công việc ở mỗi khoa khác nhau, ảnh hưởng lớn đến sự tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế Cụ thể, tại Khoa sản, việc không có bồn vệ sinh tay trong phòng sinh buộc hộ sinh phải di chuyển sang phòng kế bên, trong khi cường độ công việc cao khiến họ phải thăm khám nhiều sản phụ liên tiếp Điều này dẫn đến việc sử dụng găng tay thay cho vệ sinh tay, làm giảm tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay tại khoa này Kết quả này cũng được xác nhận bởi lãnh đạo khoa KSNK trong cuộc phỏng vấn.
Mặc dù các khoa đều cam kết tuân thủ VST với Lãnh đạo BV, nhưng tỷ lệ tuân thủ VSTTQ giữa các khoa không đồng nhất Sự quan tâm đến VSTTQ có thể khác nhau ở mỗi khoa, và điều này phần lớn phụ thuộc vào tính chất đặc thù của công việc trong từng khoa, ảnh hưởng đến sự tuân thủ VSTTQ của hộ sinh và điều dưỡng.
3.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh tại bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh năm 2020
3.3.2.1 Các yếu tố tạo điều kiện và thúc đẩy sự tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh
Các văn bản quy định về vệ sinh tay
Bệnh viện đã thực hiện Quyết định 3916/QĐ – BYT ngày 28/8/2017 về hướng dẫn thực hành vệ sinh tay cho toàn bộ nhân viên y tế, đồng thời áp dụng Thông tư 16/TT – BYT ngày 20/7/2018 quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám, chữa bệnh Điều 6 của thông tư quy định về tổ chức thực hiện các quy định về vệ sinh tay, yêu cầu trang bị đầy đủ phương tiện và hóa chất vệ sinh tay cho nhân viên y tế, học viên, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và khách thăm tại các vị trí khám bệnh, điều trị và chăm sóc bệnh nhân Ngoài ra, cần thực hiện kiểm tra, giám sát để đảm bảo tuân thủ các quy định này.
Bệnh viện đã phân công Phó giám đốc phụ trách kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) và Khoa KSNK để xây dựng và triển khai các quy trình, quy định phù hợp cho nhân viên y tế, học viên, người bệnh, người nhà người bệnh và khách thăm.
Bệnh viện đã gửi các văn bản và hướng dẫn về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm (VST) Tại khoa, các thông tin này được công bố cho toàn bộ nhân viên sau các buổi giao ban Đồng thời, bệnh viện tổ chức buổi tập huấn để hướng dẫn nhân viên thực hiện các quy định, và khoa cũng cử nhân viên tham gia tập huấn để triển khai kiến thức cho đồng nghiệp trong khoa.
Bệnh viện Sản – Nhi đặc biệt chú trọng đến việc vệ sinh tay của nhân viên y tế, vì tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng bệnh viện Để nâng cao nhận thức về các quy định này, bệnh viện tổ chức hàng năm các buổi tập huấn và hướng dẫn về vệ sinh tay cũng như kiểm soát nhiễm khuẩn, theo chia sẻ của Lãnh đạo Bệnh viện.
Lãnh đạo BV Sản – Nhi nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác vệ sinh và an toàn thực phẩm (VST) trong bệnh viện Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, bệnh viện đã nghiêm túc thực hiện các quy định về VSTTQ trong quá trình thực hiện kỹ thuật và nhiệm vụ của nhân viên y tế Điều này không chỉ đảm bảo an toàn cho bệnh nhân mà còn là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá chất lượng bệnh viện.
Sự quan tâm của Lãnh đạo về vệ sinh tay của điều dưỡng, hộ sinh trong công tác khám chữa bệnh
Bệnh viện không chỉ ban hành các văn bản và quy định về vệ sinh tay trong công tác thăm khám và chăm sóc người bệnh, mà còn yêu cầu các khoa phòng ký cam kết thực hiện vệ sinh tay với Giám đốc bệnh viện Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của điều dưỡng và hộ sinh vẫn chưa đạt yêu cầu.
Hàng năm, các Trưởng khoa ký cam kết tuân thủ VSTTQ với Giám đốc, điều này giúp lãnh đạo khoa phòng thực hiện nghiêm túc VSTTQ, từ đó nâng cao ý thức của nhân viên trong việc thực hiện VSTTQ Tuy nhiên, mặc dù có tuân thủ quy định của BYT, việc thực hiện vẫn còn mang tính hình thức.
HUPH thức bởi vì kết quả nhận định của chúng tôi việc tuân thủ VST chỉ 50% – 60%, thậm chí có thể thấp hơn” (PVS Lãnh đạo BV)
Kết quả khảo sát cho thấy sự khác biệt trong việc tuân thủ VSTTQ giữa các Khoa phòng Những Khoa có sự quan tâm thường xuyên từ Lãnh đạo về việc thực hiện VSTTQ trong công tác chăm sóc người bệnh có tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh tuân thủ cao hơn.
Lãnh đạo khoa luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ vệ sinh tay, đặc biệt trong thời điểm dịch Covid Họ đã yêu cầu đặt dung dịch sát khuẩn ở những vị trí thuận tiện cho bệnh nhân và người nhà, nhằm khuyến khích việc rửa tay thường xuyên Điều dưỡng trưởng cũng thường xuyên kiểm tra và nhắc nhở nhân viên về việc bổ sung dung dịch rửa tay, đảm bảo rằng mọi người đều có điều kiện để thực hiện vệ sinh tay đúng cách Sự quan tâm này thể hiện rõ ràng trong công tác phòng chống dịch bệnh.
Công tác kiểm tra giám sát vệ sinh tay
BÀN LUẬN
Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh năm 2020
4.1.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh Để đánh giá việc tuân thủ vệ sinh tay thường quy của 120 điều dưỡng, hộ sinh trực tiếp làm công tác chăm sóc người bệnh tại 7 khoa lâm sàng, giám sát viên thực hiện quan sát mỗi điều dưỡng, nữ hộ sinh đủ 3 cơ hội vệ sinh tay khác nhau ở mỗi lần có cơ hội vệ sinh tay trong 5 cơ hội vệ sinh tay của Tổ chức Y tế thế giới Với 120 điều dưỡng và hộ sinh thì tổng số quan sát được là 360 cơ hội vệ sinh tay thì tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh có VSTTQ là 71,7% trong đó tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh tuân thủ VSTTQ là 33,3% và tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh VSTTQ đúng là 30,3%.Tỷ lệ này cao hơn kết quả của một nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy (2011) là 28,6% (35), nghiên cứu của Đặng Thi Vân Trang và Lê Thị Anh Thư (2010) là 25,7% (29) và nghiên cứu tại bệnh viện Hiwot Fana (2018) là 18,7% (27) Tỷ lệ thấp hơn nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương (2018) là 43% (22), tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền (2018) là 46,4% (24) và nghiên cứu ở một bệnh viện đai học ở bang Rio Grande do Sul
Tỷ lệ nghiên cứu năm 2017 đạt 54,2% (18), tương đồng với nghiên cứu tại Bệnh viện trung ương lớn ở Việt Nam năm 2019 với tỷ lệ 30,6% (21) Ngoài ra, nghiên cứu của Ngô Thi Mỹ Liên năm 2019 ghi nhận tỷ lệ 36,7% (25) và nghiên cứu của Lê Thị Khánh Quy cùng năm đạt 36,9% (23).
Các nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt trong một số kết quả, điều này có thể được giải thích bởi việc nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng bác sĩ Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng bảng kiểm để thu thập dữ liệu, và một số kết quả cũng tương đồng với nghiên cứu này khi thực hiện trên đối tượng điều dưỡng và hộ sinh.
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay cao nhất được ghi nhận là 55,5% sau khi tiếp xúc với người bệnh, vượt qua các nghiên cứu trước đây như của Ngô Thị Mỹ Liên (2019) với 36,1% và Lê Thị Khánh Quy (2019) với 50,0%.
(23), nhưng lại tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Phùng Văn Thủy
Năm 2014, tỷ lệ tuân thủ quy định an toàn y tế đạt 54,2%, trong khi tỷ lệ tuân thủ thấp nhất được ghi nhận là 11,1% sau khi tiếp xúc với máu và dịch của người bệnh Tỷ lệ này trái ngược với một số nghiên cứu khác.
Nghiên cứu của Lê Thị Khánh Quy (2019) cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với máu và dịch là rất thấp, chỉ đạt 33,1%.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ cơ hội vệ sinh tay sau tiếp xúc với máu dịch thấp, chủ yếu do điều dưỡng và hộ sinh không thực hiện vệ sinh tay sau khi tháo găng Kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại một cơ sở chăm sóc sức khỏe ở Nigeria năm 2017, cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay sau tiếp xúc máu dịch chỉ đạt 33%, trong khi tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay sau khi tháo găng chỉ là 18%.
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay 6 bước trong nghiên cứu này không đồng đều, với bước 1 đạt 71,4%, bước 5 chỉ 43,9% và bước 6 là 50,8%, tổng tỷ lệ tuân thủ đủ 6 bước chỉ đạt 33,9% Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền (68,4%) nhưng cao hơn so với Ngô Thị Mỹ Liên (6,4%) và tương đồng với Nguyễn Thị Hương (35,8%) Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ giảm dần ở các bước cuối, điều này được lý giải bởi ý kiến của điều dưỡng và hộ sinh rằng do khối lượng công việc và số lượng bệnh nhân đông, dẫn đến việc rửa tay nhanh chóng, thường bỏ qua các bước cuối Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Đặng Thị Thu Hương, cho thấy tỷ lệ tuân thủ giảm ở các bước 4, 5, 6.
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của điều dưỡng, hộ sinh ở khoa Phẫu thuật gây mê hồi sức đạt 62,8%, cao nhất trong các khoa, trong khi Khoa Sản có tỷ lệ thấp nhất là 10,5% Các khoa khác như Khoa Ngoại Nhi và Khoa Ngoại Sản lần lượt đạt 11,1% và 17,5% Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Thị Khánh Quy (2019) và Ngô Thi Mỹ Liên (2019), cho thấy Khoa Sản và Khối Ngoại có tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thấp Tỷ lệ tuân thủ cao nhất ở khoa Phẫu thuật gây mê hồi sức phản ánh ý thức và sự quan tâm của nhân viên cũng như lãnh đạo trong việc phòng ngừa lây nhiễm cho bệnh nhân, đặc biệt là trong việc chăm sóc vết mổ sau phẫu thuật.
Tỷ lệ vệ sinh tay bằng nước và xà phòng đạt 56,2%, cao hơn so với 43,8% của phương pháp bằng cồn, điều này trái ngược với nghiên cứu của Phùng Văn Thủy cho thấy 71,3% nhân viên sử dụng cồn Tuy nhiên, kết quả này lại tương đồng với nghiên cứu tại Bệnh viện Quân Y 103, nơi tỷ lệ vệ sinh tay bằng xà phòng và nước là 79,11% Nguyên nhân có thể là do nhân viên cảm thấy an tâm hơn khi sử dụng nước và xà phòng, mặc dù bệnh viện đã trang bị dung dịch vệ sinh tay nhanh bằng cồn Một lý do khác là thiếu các sản phẩm sát khuẩn tay nhanh có chứa chất dưỡng ẩm, khiến một số nhân viên ngại sử dụng cồn vì lo ngại về tình trạng khô da tay.
Mặc dù Bộ Y tế đã quy định việc tuân thủ vệ sinh tay là bắt buộc trong công tác thăm khám và điều trị người bệnh, thực trạng hiện nay cho thấy tỷ lệ tuân thủ của điều dưỡng và hộ sinh vẫn còn thấp Điều này không phải do nhân viên y tế không nhận thức được tầm quan trọng của vệ sinh tay, mà còn do nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến việc thực hiện quy định này trong quá trình chăm sóc người bệnh.
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh năm 2020
4.2.1 Các yếu tố tạo điều kiện và thúc đẩy điều dưỡng, hộ sinh tuân thủ vệ sinh tay
Các văn bản, quy định về vệ sinh tay
Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh đã cụ thể hóa các quy định và hướng dẫn thực hành vệ sinh tay của Tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y tế, nhằm triển khai và phổ biến cho toàn bộ nhân viên y tế Bệnh viện cũng thiết kế bảng biểu quy trình thực hành vệ sinh tay 6 bước và 5 thời điểm vệ sinh tay theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới, với hình thức bắt mắt, dễ nhìn, được dán tại các điểm vệ sinh tay như lavabo, nơi có dung dịch vệ sinh tay nhanh, hành lang và cửa ra vào.
HUPH nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rửa tay cho nhân viên y tế, người nhà và bệnh nhân, nhằm đảm bảo tuân thủ quy trình vệ sinh tay đúng cách Điều này không chỉ giúp nhân viên y tế thực hành vệ sinh tay theo đúng 6 bước và 5 thời điểm mà còn nâng cao ý thức vệ sinh trong môi trường bệnh viện.
Công tác kiểm tra giám sát vệ sinh tay tại Bệnh viện Sản – Nhi là rất quan trọng để đảm bảo tuân thủ quy định và quy trình Sau khi ban hành các văn bản hướng dẫn, bệnh viện đã tổ chức tập huấn cho nhân viên về việc thực hiện vệ sinh tay trong thăm khám và chăm sóc bệnh nhân Đồng thời, bệnh viện cũng thành lập tổ giám sát và xây dựng quy trình giám sát nhằm đảm bảo việc thực hiện vệ sinh tay được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả.
Việc giám sát tuân thủ vệ sinh tay là rất quan trọng và cần thực hiện thường xuyên để nâng cao ý thức của nhân viên y tế Nghiên cứu tại bệnh viện đại học Hàn Quốc năm 2014 cho thấy, chương trình giám sát và phản hồi đã giúp tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của bác sĩ tăng từ 19,0% lên 74,5% và của y tá từ 52,3% lên 91,2% Tương tự, nghiên cứu của Pittet năm 2002 cũng ghi nhận sự cải thiện đáng kể từ 48% lên 66% khi có biện pháp giám sát và phản hồi Do đó, giám sát tuân thủ vệ sinh tay là một phần không thể thiếu trong công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện, như tại Bệnh viện Sản – Nhi, nơi thực hiện kiểm tra và nhắc nhở nhân viên để thúc đẩy sự tuân thủ.
Về thi đua khen thưởng
Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu
4.3.1 Ưu điểm của nghiên cứu
Nghiên cứu tại Bệnh viện Sản – Nhi được thực hiện với sự hỗ trợ của Ban Giám đốc và Khoa KSNK, cùng với sự giúp đỡ từ các giảng viên Đại học Y tế công cộng Phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính cho phép thu thập và phân tích thông tin từ nhiều góc độ, nhằm đạt được kết quả khách quan Dữ liệu từ nghiên cứu định tính bổ sung và giải thích rõ hơn cho kết quả định lượng Chúng tôi đã chọn nhân viên giám sát VSTTQ có kinh nghiệm và được đào tạo về KSNK, giúp hạn chế sai số trong quan sát.
4.3.1 Hạn chế của nghiên cứu
Mặc dù có một số điểm mạnh như đã nêu, nghiên cứu này cũng có những hạn chế nhất định Cụ thể là:
Mặc dù vị trí quan sát đã được lựa chọn để theo dõi việc thực hiện VSTTQ của điều dưỡng và hộ sinh, nhưng việc quan sát trực tiếp có thể bị ảnh hưởng khi đối tượng nhận ra mình đang bị quan sát, dẫn đến giảm độ chính xác của kết quả nghiên cứu Khi phát hiện điều này, chúng tôi sẽ loại bỏ kết quả và tiếp tục quan sát trong các lần sau để giảm thiểu sai số Hiện tại, Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh chưa có camera để hỗ trợ quan sát, do đó, phương pháp quan sát trực tiếp là lựa chọn phù hợp nhất, mặc dù có một số hạn chế nhất định.
Do giới hạn về thời gian và nguồn lực, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang tại 7 khoa lâm sàng, trong đó chỉ quan sát ngẫu nhiên các đối tượng thực hiện.
Nghiên cứu về việc tuân thủ vệ sinh tay (VSTTQ) tại Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh chỉ được thực hiện ở 3 thời điểm liên tiếp và chưa đủ 5 thời điểm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là điều dưỡng và hộ sinh tại các khoa lâm sàng, mà chưa bao gồm các nhân viên y tế khác Hơn nữa, do một số hộ sinh được điều động hỗ trợ công tác điều dưỡng ở các khoa khác, kết quả chỉ phản ánh một phần thực trạng tuân thủ VSTTQ Do đó, cần tiến hành nghiên cứu quy mô lớn hơn và lắp đặt camera quan sát để đánh giá toàn diện hơn về thực trạng tuân thủ VSTTQ của nhân viên y tế tại bệnh viện.