1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022

154 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện C Đà Nẵng năm 2021 – 2022
Tác giả Nguyễn Thị Tứ
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thúy Nga
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý y tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 4,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Các định nghĩa khái niệm (14)
      • 1.1.1. Sự cố y khoa (14)
      • 1.1.2. Báo cáo sự cố y khoa (14)
    • 1.2. Tầm quan trọng của báo cáo sự cố y khoa (15)
      • 1.2.1. Ba yếu tố chính của việc báo cáo (15)
      • 1.2.2. Tầm quan trọng khi không báo cáo sự cố y khoa (16)
    • 1.3. Xử lý, ghi nhận, tổng hợp và phân loại báo cáo sự cố y khoa (16)
      • 1.3.1. Xử lý, ghi nhận, tổng hợp, và học tập từ các báo cáo sự cố (16)
      • 1.3.2. Phân loại sự cố y khoa theo nhóm mức độ tổn thương (16)
      • 1.3.3. Phân loại sự cố y khoa theo nhóm sự cố (17)
      • 1.3.4. Phân loại sự cố theo nhóm nguyên nhân gây ra sự cố (17)
      • 1.3.5. Đánh giá mức độ tổn thương trên tổ chức (17)
      • 1.3.6. Phân loại sự cố y khoa theo mục tiêu an toàn người bệnh (17)
    • 1.4. Một số thông tư, quy trình, quy định báo cáo sự cố y khoa (18)
      • 1.4.1. Thông tư, quy định hướng dẫn báo cáo sự cố y khoa, an toàn người bệnh (18)
      • 1.4.2. Thông tư, quy trình, quy định an toàn người bệnh, báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện (20)
    • 1.5. Thực trạng và một số nghiên cứu về báo cáo sự cố y khoa (23)
      • 1.5.1. Báo cáo sự cố y khoa trên thế giới (23)
      • 1.5.2. Báo cáo sự cố y khoa tại Việt Nam (25)
    • 1.6. Một số yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo sự cố y khoa (27)
      • 1.6.1. Yếu tố nhân viên y tế (27)
      • 1.6.2. Yếu tố quản lý điều hành (31)
      • 1.6.3. Yếu tố bên ngoài (35)
    • 1.7. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu (35)
    • 1.8. Khung lý thuyết (37)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (38)
      • 2.1.1. Nghiên cứu định lượng (38)
      • 2.1.2. Nghiên cứu định tính (38)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (38)
      • 2.2.1. Thời gian nghiên cứu (38)
      • 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu (38)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (38)
    • 2.4. Cỡ mẫu (38)
      • 2.4.1. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng (38)
      • 2.4.2. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính (38)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (39)
      • 2.5.1. Nghiên cứu định lượng (39)
      • 2.5.2. Nghiên cứu định tính (39)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (40)
      • 2.6.1. Nghiên cứu định lượng (40)
      • 2.6.2. Nghiên cứu định tính (40)
    • 2.7. Các biến số nghiên cứu (41)
      • 2.7.1. Biến số trong nghiên cứu định lượng (41)
      • 2.7.2. Chủ đề trong nghiên cứu định tính (42)
    • 2.8. Tiêu chuẩn đánh giá (43)
    • 2.9. Phân tích và xử lý số liệu (43)
    • 2.10. Đạo đức nghiên cứu (44)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (45)
    • 3.1. Thông tin chung về các báo cáo sự cố tại Bệnh viện C Đà Nẵng (45)
    • 3.2. Báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng (46)
      • 3.2.1. Tổng số báo cáo sự cố y khoa phân theo sự cố đã xảy ra và tình huống nguy cơ gây ra sự cố (46)
      • 3.2.2. Đối tượng báo cáo sự cố y khoa (47)
      • 3.2.3. Địa điểm xảy ra sự cố y khoa (48)
      • 3.2.4. Các báo cáo sự cố phân theo thời gian (49)
      • 3.2.5. Đặc điểm thông tin trong các báo cáo sự cố (51)
      • 3.2.6. Phân bố phân loại các báo cáo sự cố y khoa (52)
    • 3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng (57)
      • 3.3.1 Yếu tố về nhân viên y tế (57)
      • 3.3.2 Yếu tố quản lý và điều hành (60)
      • 3.3.3 Yếu tố bên ngoài (68)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (70)
    • 4.1. Báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng (70)
      • 4.1.1. Đối tượng báo cáo sự cố (71)
      • 4.1.2. Địa điểm xảy ra sự cố (74)
      • 4.1.3. Các báo cáo sự cố y khoa phân theo thời gian (75)
      • 4.1.4. Phân bố phân loại báo cáo sự cố y khoa (77)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng . 72 1. Yếu tố về nhân viên y tế (82)
      • 4.2.2. Yếu tố về quản lý điều hành (84)
      • 4.2.3. Yếu tố bên ngoài (90)
    • 4.3. Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu (91)
  • KẾT LUẬN (10)
    • 5.1. Báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng (93)
    • 5.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng . 83 KHUYẾN NGHỊ (93)
    • 6.1. Đối với nhân viên y tế (94)
    • 6.2. Đối với các khoa, phòng, trung tâm (94)
    • 6.3. Đối với Bệnh viện (94)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (95)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Số liệu thứ cấp: các báo cáo SCYK tại bệnh viện

Các báo cáo SCYK từ các khoa, phòng và trung tâm trong Bệnh viện được gửi đến phòng QLCL thông qua Google biểu mẫu, trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 4 năm 2021 đến ngày 31 tháng 3 năm 2022.

- Tiêu chuẩn loại trừ: Không có

Cán bộ, NVYT theo chức danh, biên chế và hợp đồng của Bệnh viện

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả các đối tượng là viên chức, hợp đồng lao động của Bệnh viện trên 6 tháng

- Tiêu chuẩn loại trừ: NVYT mới vào làm việc chưa được hợp đồng và NVYT hợp đồng lao động của Bệnh viện dưới 6 tháng.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Tại Bệnh viện C Đà Nẵng.

Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính.

Cỡ mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng

Trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 4 năm 2021 đến ngày 31 tháng 3 năm 2022, đã thu thập được 269 báo cáo SCYK từ các khoa và trung tâm thông qua biểu mẫu Google gửi về phòng QLCL.

2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:

Phỏng vấn sâu: 12 NVYT và thảo luận nhóm: 18 NVYT cụ thể như sau:

Ban Giám đốc Bệnh viện: 02 người

Lãnh đạo phòng Quản lý Chất lượng: 01 người

Lãnh đạo phòng Vật tư – Thiết bị Y tế: 01 người

Lãnh đạo phòng Hành chính Quản trị: 01 người

Lãnh đạo khoa Ngoại Chấn thương – Thần kinh: 01 người

Lãnh đạo khoa Nội Thần kinh – Cơ xương khớp: 01 người

Lãnh đạo khoa Hồi sức Tích cực Chống độc: 01 người

Lãnh đạo khoa Nội Tim mạch: 01 người

Lãnh đạo khoa Huyết học: 01 người

Lãnh đạo khoa Thăm dò Chức năng: 01 người

Lãnh đạo khoa Chẩn đoán Hình ảnh: 01 người

Nhóm NVYT các khoa lâm sàng và cận lâm sàng đã từng báo cáo SCYK: 07 người (02 bác sĩ, 4 điều dưỡng, 01 kỹ thuật viên)

Nhóm NVYT các khoa lâm sàng và cận lâm sàng chưa từng báo cáo SCYK:

07 người (03 bác sĩ, 3 điều dưỡng, 01 kỹ thuật viên)

Nhóm NVYT ở khối phòng, ban chưa từng báo cáo SCYK: 04 người (02 kỹ sư, 02 công nhân kỹ thuật)

Phương pháp chọn mẫu

Chọn toàn bộ các báo cáo SCYK được lưu trữ và quản lý tại phòng QLCL trong thời gian từ ngày 01 tháng 4 năm 2021 đến ngày 31 tháng 3 năm 2022

2.5.2 Nghiên cứu định tính: Áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích: Lãnh đạo bệnh viện; Lãnh đạo phòng QLCL bệnh viện; Một số lãnh đạo các khoa, phòng, trung tâm trong bệnh viện; Một số NVYT đang công tác tại các khoa, phòng, trung tâm tại Bệnh viện C Đà Nẵng

Phương pháp thu thập số liệu

Từ ngày 1 tháng 4 năm 2021 đến ngày 31 tháng 3 năm 2022, tất cả các báo cáo SCYK đã được thu thập qua Google Biểu mẫu Bộ công cụ “Mẫu phiếu báo cáo sự cố y khoa” của Bộ Y tế, theo Thông tư 43/2018/TT-BYT ngày 26/12/2018, được áp dụng (Xem phụ lục I).

Mẫu phiếu báo cáo bao gồm các thông số quan trọng như hình thức báo cáo, đơn vị báo cáo, đối tượng báo cáo, và vị trí xảy ra sự cố Nó cũng ghi nhận thời gian xảy ra sự cố, thời gian báo cáo, mô tả ngắn gọn về sự cố, cùng với đề xuất giải pháp ban đầu và xử lý ban đầu đã thực hiện Ngoài ra, mẫu phiếu cần xác định nguyên nhân gốc rễ của sự cố, thông báo cho người có trách nhiệm, người bệnh và người nhà, cũng như ghi nhận vào hồ sơ bệnh án và sổ sách Cuối cùng, phiếu báo cáo phải phân loại ban đầu về sự cố, đánh giá mức độ ảnh hưởng và tổn thương trên tổ chức, cũng như phân loại theo nhóm sự cố và nguyên nhân.

Nghiên cứu viên chính là người thu thập số liệu PVS và TLN, và đã được trưởng phòng QLCL đào tạo lại về “Hướng dẫn quốc gia phòng ngừa sự cố y khoa” theo thông tư 43/2018/TT-BYT vào năm 2020.

Công cụ thu thập số liệu bao gồm bộ câu hỏi PVS và TLN, được thiết kế riêng cho từng đối tượng Hướng dẫn sử dụng PVS có trong Phụ lục VI, VII, VIII, trong khi Hướng dẫn TLN được trình bày trong các phụ lục tương ứng.

Nghiên cứu viên đã thực hiện phỏng vấn theo bản hướng dẫn PVS với 02 thành viên trong Ban Giám đốc bệnh viện, 01 lãnh đạo phòng QLCL phụ trách hệ thống ghi nhận SCYK, và 09 lãnh đạo các khoa, phòng, trung tâm khác Trước khi tiến hành phỏng vấn, nghiên cứu viên đã chào hỏi, giới thiệu về tên, mục đích, nội dung, phương pháp nghiên cứu, cũng như các vấn đề liên quan đến đạo đức nghiên cứu, và xin phép ghi âm, ghi chép biên bản trong quá trình phỏng vấn.

Thời gian PVS: 40 – 45 phút/cuộc PVS

Thời gian thực hiện là ngoài giờ hành chính, tại phòng làm việc riêng của lãnh đạo bệnh viện, cùng với sự tham gia của lãnh đạo phòng Quản lý Chất lượng và một số lãnh đạo các khoa, phòng, trung tâm trong bệnh viện.

Nghiên cứu viên tiến hành TLN theo hướng dẫn, tập trung vào nhóm NVYT đã và chưa báo cáo SCYK trong mạng lưới QLCL và các khoa, phòng, trung tâm Họ thông báo cho các đối tượng nghiên cứu, hẹn thời gian thảo luận cho cả hai nhóm Trong buổi thảo luận, nghiên cứu viên giới thiệu tên, mục đích, nội dung, phương pháp và các vấn đề đạo đức liên quan, đồng thời yêu cầu các thành viên giữ bí mật thông tin và ghi biên bản, ghi âm cho mỗi lần thảo luận.

Thời gian TLN: 55– 60 phút/cuộc TLN

Thời gian thực hiện là ngoài giờ hành chính, với địa điểm tại phòng giao ban khoa Răng hàm mặt cho nhóm nhân viên y tế đã từng báo cáo SCYK, và tại phòng giao ban khoa Nội Thần kinh – Cơ xương khớp, phòng Vật tư – Thiết bị Y tế cho nhóm nhân viên y tế chưa từng báo cáo SCYK.

Các biến số nghiên cứu

2.7.1 Biến số trong nghiên cứu định lượng

Các biến số phần định lượng được xây dựng dựa trên mẫu phiếu báo cáo sự cố y khoa theo Thông tư số 43/TT/BYT.

26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc “ Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”

Nhóm biến số đánh giá việc thực hiện báo cáo SCYK gồm 8 nhóm, 31 biến:

Nhóm biến số liên quan đến số lượng báo cáo SCYK bao gồm hai biến chính: số lượng báo cáo về "sự cố y khoa đã xảy ra" và "tình huống có nguy cơ gây ra sự cố".

Nhóm biến số liên quan đến hình thức báo cáo SCYK gồm 2 biến: hình thức báo cáo sự cố, cách thức báo cáo sự cố

Nhóm biến số liên quan đến đối tượng báo cáo bao gồm bốn biến chính: đơn vị báo cáo, đối tượng báo cáo, thông tin của đối tượng báo cáo và đối tượng xảy ra sự cố.

Nhóm biến số liên quan đến địa điểm xảy ra SCYK gồm 2 biến: đơn vị xảy ra sự cố, vị trí xảy ra sự cố

Nhóm biến số liên quan đến thời gian báo cáo SCYK bao gồm 7 biến: giờ xảy ra sự cố, thứ trong tuần xảy ra sự cố, tháng xảy ra sự cố, giờ báo cáo sự cố, thứ trong tuần báo cáo sự cố, tháng báo cáo sự cố và thời gian báo cáo muộn.

Nhóm biến số liên quan đến việc mô tả, xử lý và phân tích sự cố bao gồm năm yếu tố chính: mô tả ngắn gọn về sự cố, đề xuất giải pháp ban đầu, xử lý ban đầu, phân tích nguyên nhân gốc rễ và giải pháp để tránh lặp lại sự cố.

Nhóm biến số liên quan đến việc ghi nhận và thông báo sự cố bao gồm bốn yếu tố chính: ghi nhận vào hồ sơ sổ sách, thông báo cho người có trách nhiệm, thông báo cho bệnh nhân, và thông báo cho người nhà của bệnh nhân.

Nhóm biến số trong phân loại báo cáo sự cố bao gồm 5 yếu tố chính: phân loại sự cố dựa trên mức độ tổn thương của người bệnh, tổn thương trên tổ chức, phân loại theo nhóm sự cố, phân loại theo nhóm nguyên nhân, và phân loại theo 6 mục tiêu an toàn cho người bệnh.

2.7.2 Chủ đề trong nghiên cứu định tính

Yếu tố nhân viên y tế:

Kiến thức, thái độ của NVYT về SCYK và báo cáo SCYK

Quản lý hệ thống báo cáo SCYK tại bệnh viện là yếu tố quan trọng, bao gồm việc điều hành và đánh giá quy trình báo cáo từ cán bộ y tế.

Công tác đào tạo, tập huấn tại bệnh viện

Phương tiện báo cáo SCYK

Môi trường làm việc của NVYT

Kiểm tra, giám sát về SCYK và báo cáo SCYK

Chính sách động viên, khuyến khích, thúc đẩy báo cáo SCYK tại bệnh viện

Thông tư 43/2018/TT-BYT ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc hướng dẫn phòng ngừa SCYK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Hướng dẫn triển khai Thông tư 43/2018/TT-BYT: Hướng dẫn triển khai hệ thống báo cáo trong cơ sở y tế

Nhận thức xã hội về SCYK bao gồm sự hiểu biết của người dân về SCYK, cũng như vai trò của báo chí trong việc đưa tin và báo cáo liên quan đến SCYK từ các bệnh viện lân cận.

Tiêu chuẩn đánh giá

Tiêu chuẩn đánh giá dựa trên tiêu chuẩn hướng dẫn báo cáo SCYK của Bộ Y tế ban hành kèm theo Thông tư 43/2018/TT – BYT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của

Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Hướng dẫn phòng ngừa SCYK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Phân loại SCYK theo mức độ tổn thương: chưa xảy ra (A - NC0), tổn thương nhẹ (B,C,D - NC1), tổn thương trung bình (E,F - NC2), tổn thương nặng (G,H,I - NC3) – Phụ lục XV

Mức độ nghiêm trọng của SCYK được phân loại theo Danh mục SCYK nghiêm trọng (NC3) – Phụ lục XVI.

Phân tích và xử lý số liệu

Các báo cáo SCYK được nhập vào Microsoft Excel và mã hóa để phân loại sự cố Dữ liệu sau đó được chuyển sang phần mềm SPSS 16.0 để tiến hành phân tích số liệu.

Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả tần số và tỷ lệ phần trăm của các biến trong nghiên cứu để mô tả thực trạng báo cáo SCYK

Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được gỡ băng, mã hóa và phân tích đối sánh minh họa, giải thích kết quả theo chủ đề.

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học của Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo Quyết định số 79/2022/YTCC-HD3 vào ngày 28 tháng 3 năm 2022, cùng với sự chấp thuận của Hội đồng khoa học và Công nghệ Bệnh viện C Đà Nẵng.

Nẵng thông qua theo Quyết định số 602/QĐ-BVC ngày 20 tháng 4 năm 2022

Các đối tượng tham gia phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm phải hoàn toàn tự nguyện Nhóm nghiên cứu cần giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu và đảm bảo rằng các đối tượng có quyền từ chối tham gia.

Dữ liệu nghiên cứu chỉ được sử dụng cho mục đích khoa học, không được sao chép và không tiết lộ danh tính của các đối tượng tham gia Nội dung nghiên cứu sẽ được quản lý bởi lãnh đạo.

Bệnh viện C Đà Nẵng cam kết hỗ trợ nghiên cứu nhằm cải thiện chất lượng báo cáo SCYK, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các đối tượng tham gia Kết thúc nghiên cứu, sẽ có phản hồi và báo cáo gửi đến lãnh đạo bệnh viện cùng các bộ phận liên quan.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về các báo cáo sự cố tại Bệnh viện C Đà Nẵng

Kết quả nghiên cứu chúng tôi thu thập được 269 báo cáo SCYK từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022 tại Bệnh viện C Đà Nẵng Cụ thể:

Bảng 3.1 Đặc điểm thông tin trong các báo cáo sự cố Đặc điểm thông tin

Thông tin xác nhận của đối tượng báo cáo sự cố

Có xác nhận họ và tên 175 65,1 94 34,9

Có xác nhận số điện thoại 122 45,4 147 54,6

Thông tin xác nhận của báo cáo sự cố

Có ghi thông tin về khoa, phòng, trung tâm 269 100 0 0,0

Có xác nhận về mã số

Có xác nhận về tuổi người bệnh 120 44,6 149 55,4

Có xác nhận về họ tên người bệnh 67 24,9 202 75,1

Có xác nhận về giới tính người bệnh 143 53,2 126 46,8

Trong số các trường hợp báo cáo sự cố, có 175 trường hợp (65,1%) ghi thông tin họ tên người báo cáo, 122 trường hợp (45,4%) ghi số điện thoại, và 78 trường hợp (29%) ghi địa chỉ Email của người báo cáo.

Tất cả 269 báo cáo sự cố đều ghi đầy đủ thông tin về khoa và trung tâm, đạt tỷ lệ 100% Trong đó, có 143 trường hợp (53,2%) xác nhận giới tính người bệnh, 120 trường hợp (44,6%) xác nhận tuổi người bệnh, 67 trường hợp (24,9%) xác nhận họ tên người bệnh, và 56 trường hợp (20,8%) xác nhận mã số hồ sơ bệnh án.

Bảng 3.2 Báo cáo sự cố phân theo hình thức báo cáo và đối tượng xảy ra sự cố Đặc điểm báo cáo sự cố Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Hình thức báo cáo sự cố

Báo cáo bắt buộc 3 1,1 Đối tượng xảy ra sự cố

Trong các báo cáo sự cố, 98,9% là báo cáo tự nguyện với 266 trường hợp, trong khi chỉ có 1,1% là báo cáo bắt buộc với 3 trường hợp Sự cố chủ yếu xảy ra ở người bệnh với 54,3% (146 trường hợp), tiếp theo là nhân viên y tế với 34,2% (92 trường hợp), trang thiết bị với 9,7% (26 trường hợp), cơ sở vật chất với 1,1% (3 trường hợp), và thấp nhất là người nhà bệnh nhân với 0,7% (2 trường hợp).

Báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng

3.2.1 Tổng số báo cáo sự cố y khoa phân theo sự cố đã xảy ra và tình huống nguy cơ gây ra sự cố

Biểu đồ 3.1 Tổng số báo cáo sự cố y khoa

Tình huống nguy cơ gây ra sự cố

Tổng số có 269 báo cáo SCYK, trong đó tình huống nguy cơ gây ra sự cố (near miss) với 194 (72,1%) trường hợp và sự cố đã xảy ra 75 (27,9%) trường hợp

3.2.2 Đối tượng báo cáo sự cố y khoa

Bảng 3.3 Số lượng các báo cáo sự cố phân theo khoa, trung tâm

STT Khối Khoa, trung tâm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

2 Nội Thần kinh – Cơ xương khớp 30 11,2

4 Ngoại Chấn thương – Thần kinh 19 7,1

10 Hồi sức Tích cực - Chống độc 9 3,3

15 Thận Nhân tạo - Lọc máu 6 2,2

Khoa Hô hấp ghi nhận tỷ lệ báo cáo sự cố cao nhất với 14,5%, trong khi các khoa Hóa sinh, Nội Tim mạch và Phục hồi chức năng chỉ báo cáo 1 sự cố mỗi khoa, tương đương 0,4% Tổng số báo cáo sự cố từ khối lâm sàng là 239 trường hợp, chiếm 88,8%, trong khi khối cận lâm sàng có 30 trường hợp, chiếm 11,2% Đáng chú ý, khối phòng ban không có bất kỳ báo cáo sự cố nào.

Bảng 3.4 Đối tượng báo cáo sự cố được phân theo nhóm chức danh Đối tượng báo cáo sự cố y khoa Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Kỹ thuật viên 12 4,5 Điều dưỡng 240 89,2

Trong tổng số 269 sự cố được báo cáo, nhóm điều dưỡng chiếm ưu thế với 240 trường hợp, tương đương 89,2% Tiếp theo là nhóm kỹ thuật viên với 12 trường hợp (4,5%), nhóm dược sĩ với 10 trường hợp (3,7%), và nhóm bác sĩ có số lượng báo cáo thấp nhất với 7 trường hợp (2,6%).

3.2.3 Địa điểm xảy ra sự cố y khoa

Bảng 3.5 Sự cố y khoa xảy ra phân theo khối

Sự cố y khoa phân theo khối Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Khối lâm sàng hệ nội 172 63,9

Khối lâm sàng hệ ngoại 36 13,4

Bảng 3.5 cho thấy khối lâm sàng hệ nội có số lượng sự cố cao nhất với 172 trường hợp (63,9%), tiếp theo là khối lâm sàng hệ ngoại với 36 trường hợp (13,4%), khối cấp cứu với 32 trường hợp (11,9%), và khối cận lâm sàng với 29 trường hợp (10,8%) Đáng chú ý, khối hành chính không ghi nhận bất kỳ sự cố nào trong nghiên cứu này.

Bảng 3.6 Các báo cáo sự cố y khoa phân theo vị trí cụ thể xảy ra sự cố

Vị trí xảy ra sự cố Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Phòng thực hiện thủ thuật 24 8,9

Phòng thực hiện phẫu thuật 3 1,1

Hành lang trước phòng bệnh 4 1,5

Phòng làm việc của nhân viên 27 10

Trong các báo cáo sự cố, phòng bệnh là nơi xảy ra nhiều sự cố nhất, chiếm 33,5% tổng số trường hợp với 90 sự cố Tiếp theo là giường bệnh với 15,2%, tương ứng với 41 trường hợp.

Trong tổng số 32 trường hợp (chiếm 11,9%), các vị trí khác như phòng thực hiện thủ thuật, xe tiêm, máy tính, hồ sơ bệnh án và hành lang trước phòng bệnh ghi nhận sự cố xảy ra với tần suất thấp, từ 3 đến 27 trường hợp.

3.2.4 Các báo cáo sự cố phân theo thời gian

Biểu đồ 3.2 Thời gian sự cố xảy ra và báo cáo sự cố phân theo tháng

Sự cố xảy ra Báo cáo sự cố

Trong các báo cáo sự cố, tháng Chín ghi nhận số lượng sự cố cao nhất với 45 trường hợp (16,7%), trong khi báo cáo sự cố chỉ có 36 trường hợp (13,4%) Tháng Mười có 12 sự cố (4,5%) nhưng lại có 40 báo cáo sự cố (14,9%) Tháng Mười Hai có 19 sự cố (7,1%) và là tháng có số lượng báo cáo sự cố cao nhất với 42 trường hợp (15,6%).

Bảng 3.7 Khoảng cách thời gian báo cáo sự cố sau khi xảy ra sự cố

Khoảng cách thời gian báo cáo tính theo ngày (từ khi sự cố xảy ra đến khi báo cáo)

Tỷ lệ (%) Báo cáo trong vòng 1 ngày 88 100 0 0,0 88 32,7 Báo cáo sự cố sau 1 ngày đến 60 ngày 126 97,7 3 2,3 129 48

Báo cáo sự cố sau 60 ngày 52 100 0 0,0 52 19,3

Trong các báo cáo sự cố, 48% trường hợp được ghi nhận sau 1 đến 60 ngày, trong khi 32,7% trường hợp xảy ra trong vòng 1 ngày Chỉ có 19,3% trường hợp báo cáo sự cố sau 60 ngày.

Bảng 3.8 Khoảng cách thời gian báo cáo sự cố trong vòng 24 giờ

Khoảng thời gian báo cáo tính theo giờ

Tỷ lệ (%) Báo cáo ngay trong vòng

1 giờ đầu xảy ra sự cố 18 100 0 0,0 18 6,7

Trong tổng số trường hợp báo cáo sự cố, có 181 trường hợp (chiếm 67,3%) được ghi nhận sau 24 giờ kể từ khi sự cố xảy ra Trong số này, có 3 trường hợp là báo cáo bắt buộc.

HUPH cố sau 1 giờ đến 24 giờ có 70 (26%) trường hợp; báo cáo sự cố ngay trong vòng 1 giờ đầu xảy ra sự cố thấp 18 (6,7%) trường hợp

3.2.5 Đặc điểm thông tin trong các báo cáo sự cố

Bảng 3.9 Thông tin mô tả, xử lý, nguyên nhân, giải pháp khắc phục Đặc điểm thông tin Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Mô tả ngắn gọn về sự cố Có mô tả ngắn gọn về sự cố 269 100 Điều trị/ xử lý ban đầu Ghi đầy đủ 244 90,7

Ghi chưa phù hợp 6 2,2 Đề xuất giải pháp ban đầu

Nêu nguyên nhân gốc Phù hợp 229 85,1

Giải pháp tránh lặp lại sự cố

Tất cả các báo cáo sự cố đều được mô tả ngắn gọn với 269 trường hợp (100%) Trong số đó, 252 trường hợp (93,7%) đã đưa ra giải pháp ban đầu phù hợp, 245 trường hợp (91,1%) đề xuất giải pháp để tránh lặp lại sự cố, và 229 trường hợp (85,1%) nêu rõ nguyên nhân gốc phù hợp.

Bảng 3.10 Thông tin ghi nhận, thông báo trong các báo cáo sự cố Đặc điểm thông tin Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Có ghi nhận vào hồ sơ bệnh án/ giấy tờ liên quan

Thông báo cho bác sĩ điều trị/ người có trách

HUPH nhiệm Không ghi nhận 16 5,9 Thông báo cho người bệnh

Thông báo cho người nhà người bệnh

Trong các báo cáo sự cố, có 175 trường hợp (65,1%) đã thông báo cho bác sĩ điều trị hoặc người có trách nhiệm Ngoài ra, 151 trường hợp (56,1%) được ghi nhận vào hồ sơ bệnh án hoặc giấy tờ liên quan Có 79 trường hợp (29,4%) báo cáo sự cố đã thông báo cho người bệnh, và 37 trường hợp (13,8%) đã thông báo cho người nhà của bệnh nhân.

3.2.6 Phân bố phân loại các báo cáo sự cố y khoa

Bảng 3.11 Phân loại báo cáo sự cố theo mức độ tổn thương của người bệnh

Mức độ tổn thương trên người bệnh Tần số (n) Tỷ lệ (%)

NC0 (Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố) 194 72,1

NC2 (Tổn thương trung bình) 8 3,0

Các báo cáo sự cố phân loại mức độ tổn thương trên người bệnh, trong đó tình huống nguy cơ xảy ra sự cố chiếm 194 trường hợp (72,1%) Tiếp theo là tổn thương nhẹ với 64 trường hợp (23,8%), tổn thương trung bình có 8 trường hợp (3%), và tổn thương nặng là 3 trường hợp (1,1%).

Bảng 3.12 Phân loại báo cáo sự cố theo diễn biến tình huống của người bệnh

Phân nhóm theo diễn biến tình huống của người bệnh Tần số (n) Tỷ lệ

Nhóm sự cố chưa can thiệp điều trị

A Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố 194 72,1

B Sự cố đã xảy ra, chưa tác động trực tiếp đến người bệnh 33 12,3

C Sự cố đã xảy ra, tác động trực tiếp đến người bệnh Chưa gây nguy hại 23 8,6

Nhóm sự cố có can thiệp điều trị

D Sự cố đã xảy ra, tác động trực tiếp đến người bệnh, cần phải theo dõi hoặc đã can thiệp điều trị kịp thời nên không gây nguy hại

E Sự cố đã xảy ra, gây nguy hại tạm thời và cần phải can thiệp điều trị 7 2,6

F Sự cố đã xảy ra, gây nguy hại tạm thời, cần phải can thiệp điều trị và kéo dài thời gian nằm viện 1 0,4

G Sự cố đã xảy ra, gây nguy hại kéo dài, để lại di chứng 1 0,4

H Sự cố đã xảy ra, gây nguy hại cần phải hồi sức tích cực 2 0,7

I Sự cố đã xảy ra, có ảnh hưởng hoặc trực tiếp gây tử vong 0 0,0

Trong nghiên cứu, tỷ lệ các sự cố chưa can thiệp điều trị ở mức độ A, B, C lần lượt là 72,1%; 12,3%; 8,6% Trong khi đó, các sự cố có can thiệp điều trị theo diễn biến tình huống của người bệnh ở mức độ D, E, F, G, H chiếm tỷ lệ 3,0%; 2,6%; 0,4%; 0,4%; 0,7% Đặc biệt, không có trường hợp nào ghi nhận người bệnh diễn biến ảnh hưởng hoặc trực tiếp gây tử vong (I) trong các báo cáo sự cố.

Bảng 3.13 Phân loại báo cáo sự cố theo mức độ ảnh hưởng trên tổ chức

Phân loại theo mức độ ảnh hưởng trên tổ chức Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Tăng nguồn lực phục vụ cho người bệnh 240 89,2

Vừa tổn hại tài sản và tăng nguồn lực phục vụ cho người bệnh 12 4,5

Các báo cáo sự cố được phân loại theo mức độ ảnh hưởng đến tổ chức, trong đó 89,2% trường hợp (240 trường hợp) cho thấy sự gia tăng nguồn lực phục vụ người bệnh Tiếp theo, 6,3% trường hợp (17 trường hợp) liên quan đến tổn hại tài sản, và 4,5% trường hợp (12 trường hợp) là sự cố vừa gây tổn hại tài sản vừa tăng cường nguồn lực phục vụ cho người bệnh.

Bảng 3.14 Phân loại báo cáo sự cố theo nhóm sự cố

Nhóm sự cố Tần số

1 Thực hiện quy trình kỹ thuật, thủ thuật chuyên môn 110 40,9

Có chỉ định nhưng không thực hiện 5 1,9

Thực hiện chưa đúng thủ thuật/quy trình/phương pháp điều trị 105 39

Các loại nhiễm khuẩn khác 2 0,7

Cấp phát không đúng thuốc, dịch truyền 7 2,6

Bỏ sót thuốc, liều thuốc 1 0,4

5 Tai nạn đối với người bệnh 9 3,3

Bị hư hỏng, bị lỗi 16 5,9

Thiếu hoặc không phù hợp 2 0,7

7 Quản lý nguồn lực, tổ chức 25 9,3

Tính phù hợp đầy đủ của dịch vụ khám bệnh 25 9,3

8 Hồ sơ, tài liệu, thủ tục hành chính 78 29

Tài liệu mất hoặc thiếu 1 0,4

Tài liệu không rõ ràng, không hoàn chỉnh 59 21,9

Nhầm hồ sơ tài liệu 18 6,7

Trong các báo cáo sự cố, nhóm thực hiện quy trình và kỹ thuật thủ thuật chuyên môn chiếm tỷ lệ cao nhất với 110 trường hợp (40,9%) Tiếp theo là sự cố liên quan đến hồ sơ, tài liệu và thủ tục hành chính với 78 trường hợp (29%) Các nhóm sự cố còn lại được báo cáo không đồng đều, dao động từ 4 đến 25 trường hợp.

Bảng 3.15 Phân loại báo cáo sự cố theo nhóm nguyên nhân gây ra sự cố

Nhóm nguyên nhân gây ra sự cố Tần số

Nhận thức về kiến thức và hiểu biết đạt 4 với tỷ lệ 1,5%, trong khi thực hành kỹ năng thực tế chưa đúng quy định hướng dẫn chiếm 169 với tỷ lệ 62,8%.

Thái độ hành vi cảm xúc 21 7,8

Nhận thức (kiến thức, hiểu biết, quan niệm) 3 1,1 Thực hành (kỹ năng thực hành chưa đúng quy định hướng dẫn) 18 6,7

Thái độ hành vi cảm xúc 5 1,9

Tâm sinh lý, thể chất, bệnh lý 15 5,6

Cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị 25 9.3

Nội quy, quy định và đặt tính kỹ thuật 2 0,7

Tuân thủ quy trình thực hành chuẩn 6 2,2

Sản phẩm công nghệ và cơ sở hạ tầng 1 0,4

Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng

3.3.1 Yếu tố về nhân viên y tế

3.3.1.1 Kiến thức của NVYT về báo cáo SCYK

NVYT cần nắm vững khái niệm SCYK và mục đích của báo cáo SCYK Họ cũng phải có kỹ năng phân tích sự cố, xác định nguyên nhân gốc rễ và hạn chế sự cố lặp lại Ngoài ra, NVYT có khả năng thực hiện báo cáo SCYK một cách hiệu quả hơn.

Sự cố y khoa là những vấn đề thường gặp tại bệnh viện, có thể ảnh hưởng đến bệnh nhân, trang thiết bị y tế, và cơ sở vật chất, đồng thời gây tổn hại đến tài sản và danh tiếng của bệnh viện.

Gần đây, chúng tôi tự tin hơn trong việc báo cáo sự cố, học hỏi từ các trải nghiệm trước đó và giảm thiểu sai sót cho bệnh nhân.

Khi có kiến thức, nhân viên y tế sẽ nhận diện được hậu quả của sự cố y khoa (SCYK) và phân biệt rõ ràng giữa SCYK và các tình huống có nguy cơ xảy ra sự cố Điều này giúp họ nhận ra tầm quan trọng của việc báo cáo SCYK, từ đó khuyến khích việc tăng cường báo cáo sự cố, chia sẻ thông tin và học hỏi từ các kinh nghiệm rút ra từ những báo cáo sự cố đã xảy ra.

Khoa tôi ghi nhận nhiều sự cố hơn khoa bạn, vì chúng tôi nhận thấy rằng hậu quả của các sự cố thường nhẹ Phần lớn các sự cố gần xảy ra được báo cáo nhằm học hỏi và phòng ngừa những sự cố nghiêm trọng hơn, đặc biệt là những sự cố có thể ảnh hưởng đến bệnh nhân.

Nhân viên báo cáo sự cố giúp chúng tôi phân tích nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm cho toàn bộ khoa.

Hậu quả của sự cố y khoa dẫn đến việc một số bệnh nhân phải trải qua thời gian điều trị kéo dài hơn, đồng thời cần có thêm sự phân công điều dưỡng và bác sĩ để chăm sóc và theo dõi tình trạng sức khỏe của họ.

Nhiều nhân viên y tế (NVYT) thiếu kiến thức đúng đắn có thể bỏ qua các sự cố chưa được nhận diện và không thực hiện báo cáo Một số NVYT hiểu sai rằng sự cố y khoa (SCYK) chỉ là những sai sót ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân, không phải là những sự cố đã xảy ra hoặc có khả năng xảy ra Do đó, khi sự cố xảy ra, họ thường tự xử lý để đảm bảo an toàn nhưng không báo cáo sự cố.

Bác sĩ cần phải nhận diện và báo cáo các sự cố y khoa một cách kịp thời Việc này giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

“Chúng tôi chưa báo cáo sự cố, sự cố y khoa là những vấn đề sai sót nào đó ảnh hưởng đến người bệnh” TLN2

“Nhiều lúc có sự cố xảy ra là tự xử lý cho an toàn người bệnh mà không biết báo cáo” TLN2

“Phòng tôi chưa báo cáo sự cố y khoa vì sự cố không ảnh hưởng đến người bệnh” PVS - PV11

Bên cạnh đó một số NVYT chưa có kiến thức nhận diện về SCYK và báo cáo SCYK có lẽ do họ chưa được đào tạo tập huấn

Chúng tôi chưa được đào tạo về quy trình quản lý sự cố y khoa và chưa thực hiện báo cáo sự cố cho phòng Quản lý Chất lượng.

“Chúng tôi chưa được đào tạo tập huấn nhận biết sự cố y khoa, nên chưa biết báo cáo” TLN2

“Năm 2019 bệnh viện có xây dựng và ban hành quy trình quản lý sự cố y khoa nhưng chúng tôi cũng chưa nắm quy trình này” TLN1

3.3.1.2 Thái độ của NVYT về báo cáo SCYK

Thái độ tích cực và tự tin trong việc báo cáo SCYK của nhân viên y tế sẽ nâng cao cả số lượng lẫn chất lượng các phiếu báo cáo sự cố Điều này rất quan trọng cho việc cải thiện chuyên môn, quy trình và hoạt động của bệnh viện Việc báo cáo sự cố giúp xác định hướng xử lý, khắc phục, học hỏi kinh nghiệm và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.

Nhân viên tự nguyện báo cáo sự cố y khoa, giúp đề xuất quy trình mới hoặc sửa chữa quy trình còn thiếu, từ đó học hỏi từ các sự cố và hạn chế sai sót chuyên môn.

Gần đây, nhân viên của chúng tôi đã báo cáo nhiều sự cố hơn trước, và những báo cáo về sự cố y khoa rất hữu ích Chúng ta có thể cải tiến quy trình, nâng cao kỹ năng giao tiếp và thực hiện công việc hiệu quả hơn.

Khi nhân viên y tế (NVYT) có thái độ tích cực, họ sẽ trang bị cho mình kiến thức cần thiết, thực hiện báo cáo SCYK đúng thời gian và theo quy định, từ đó nâng cao hiệu quả công việc của cán bộ.

HUPH tiếp nhận, phân tích, tìm nguyên nhân sai sót ở đâu và giúp nhân viên sửa chữa lần sau chăm sóc bệnh nhân tốt hơn:

“Theo tôi thì báo hết các sự cố xảy ra trong vòng 12 giờ” PVS - PV5

Chúng tôi xem xét các báo cáo về sai sót trong các cuộc họp và phòng Quản lý Chất lượng, đồng thời hướng dẫn từ trưởng khoa về cách ngăn chặn sự tái diễn của các sự cố.

BÀN LUẬN

Báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng

Tại Bệnh viện C Đà Nẵng, từ tháng 4/2021 đến tháng 3/2022, đã có 269 báo cáo sự cố y khoa (SCYK), tăng 140,1% so với năm 2020, cho thấy nhân viên y tế đã nâng cao nhận thức về việc báo cáo SCYK theo thông tư 43/2018/TT-BYT Lãnh đạo các khoa nhận thấy việc báo cáo sự cố giúp phòng ngừa sai sót trong tương lai và đã có những chuyển biến tích cực trong việc thực hiện báo cáo, với nhiều hình thức động viên và khuyến khích nhân viên Mặc dù số lượng báo cáo SCYK tại Bệnh viện C vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà năm 2018 (1380 sự cố), nhưng lãnh đạo bệnh viện nhận thấy các bệnh viện cùng tuyến có số lượng báo cáo cao hơn Một số đơn vị trong bệnh viện vẫn chưa chú trọng đến công tác báo cáo SCYK, và một số nhân viên y tế thiếu kiến thức về vấn đề này Thêm vào đó, trong thời gian thu thập dữ liệu, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp khiến số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị giảm, giúp nhân viên y tế có thời gian tập trung hơn vào công tác chăm sóc và điều trị, có thể dẫn đến việc xảy ra ít sự cố hơn.

72,1% có tình huống nguy cơ gây ra sự cố (near miss) được báo cáo, gấp hơn

Kết quả cho thấy một số nhân viên y tế đã nhận thức được tầm quan trọng của việc báo cáo sự cố y khoa (SCYK) và đã cập nhật kiến thức liên quan Họ có khả năng nhận diện các sự cố sắp xảy ra và phát hiện các nguy cơ tiềm ẩn, từ đó báo cáo để mọi người có thể học hỏi và ngăn ngừa sự cố lặp lại Điều này là rất khích lệ và động viên, theo nhóm tác giả Rodziewicz TL.

Nghiên cứu của Houseman B và Hipskind JE cho thấy các sự cố gần xảy ra là cơ hội để phát triển các chiến lược và hành động phòng ngừa, tương tự như các sự cố đã xảy ra Barach P đã ước tính rằng các sự cố suýt xảy ra thường xuyên hơn từ 3 – 300 lần so với các sự cố thực tế Mặc dù tỷ lệ báo cáo sự cố suýt xảy ra trong nghiên cứu của chúng tôi (60%) thấp hơn so với nghiên cứu của Lâm Ngọc Minh Thành (88,8%), nhưng vẫn cao hơn so với một số nghiên cứu khác như của Nguyễn Thị Thu Hà (1,2%) và Ngô Hoàng Anh (25,5%) Điều này cho thấy một số nhân viên y tế tại bệnh viện chúng tôi có khả năng phát hiện và báo cáo các nguy cơ tiềm ẩn, từ đó rút kinh nghiệm và hạn chế sự cố trong tương lai Việc khuyến khích nhân viên y tế báo cáo những sai sót chưa ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh nhân là rất cần thiết để đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

4.1.1 Đối tượng báo cáo sự cố

Khối lâm sàng ghi nhận số lượng báo cáo sự cố cao nhất, gấp gần 8 lần so với khối cận lâm sàng, điều này phản ánh tính chất công việc phức tạp và khối lượng công việc lớn của nhân viên y tế Số lượng nhân viên y tế tại khối lâm sàng cũng gấp gần 4 lần so với khối cận lâm sàng và gần 5 lần so với khối phòng Ngược lại, khối cận lâm sàng có số lượng báo cáo SCYK thấp, trong khi khối phòng không có báo cáo nào, điều này có thể do nhân viên không nhận thức được các tình huống nguy cơ hoặc không hiểu tầm quan trọng của việc báo cáo sự cố Hơn nữa, cán bộ kỹ thuật tại phòng Vật tư – Thiết bị Y tế và phòng Hành chính quản trị thường gặp phải tình trạng quá tải công việc, dẫn đến việc không thể báo cáo sự cố kịp thời.

Bệnh viện HUPH yêu cầu báo cáo sự cố chỉ tại phòng Quản lý Chất lượng để giải quyết và khắc phục sự cố Theo quy định, người báo cáo sự cố có thể là người gây ra hoặc chứng kiến sự cố, xảy ra tại đơn vị mình hoặc phát hiện ở đơn vị khác Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà cho thấy năm 2018 có 243 trường hợp báo cáo sự cố, trong khi nghiên cứu của Kiều Quang Phát chỉ ghi nhận 17 trường hợp Điều này cho thấy khối phòng tại Bệnh viện cần chú trọng hơn đến việc báo cáo sự cố, vì hiện tại, nhiều cán bộ chưa nắm rõ quy trình và biểu mẫu báo cáo, mặc dù họ nhận thức được tầm quan trọng của hậu quả sự cố Họ chỉ báo cáo sự cố trong các cuộc họp giao ban mà không thông báo cho phòng Quản lý Chất lượng, cho thấy sự thiếu sót trong việc tập huấn quy trình báo cáo cho nhân viên y tế và trách nhiệm của cán bộ kiểm tra, giám sát trong việc quản lý báo cáo sự cố.

Số lượng báo cáo sự cố giữa các khoa lâm sàng không đồng đều, với khoa Nội Hô hấp có số lượng báo cáo cao nhất, trong khi khoa Nội Tim mạch và Phục hồi Chức năng chỉ báo cáo 1 trường hợp mỗi khoa Mặc dù khoa Nội Tim mạch có số lượng bệnh nhân đông nhất và nhiều bệnh nhân nặng, nhưng số lượng báo cáo sự cố lại thấp nhất Tại khoa Hồi sức Tích cực Chống độc, mặc dù có nhiều bệnh nhân nặng và thủ thuật xâm lấn, chỉ có 9 trường hợp báo cáo sự cố về phòng QLCL mà không có trường hợp NKBV nào được ghi nhận Kết quả này không phù hợp với thống kê giám sát của khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn về số lượng bệnh nhân NKBV từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022.

Năm 2022, tại khoa Hồi sức Tích cực Chống độc, đã ghi nhận 98 ca NKBV Tuy nhiên, vẫn có tình trạng các khoa chưa báo cáo đầy đủ tất cả các sự cố xảy ra, do tâm lý lo ngại rằng việc báo cáo sẽ ảnh hưởng đến uy tín của bản thân, đồng nghiệp và bệnh viện.

Khoa Thăm dò Chức năng có số lượng báo cáo sự cố cao nhất trong khối cận lâm sàng, nhờ vào việc lãnh đạo tổ chức đào tạo cho nhân viên về SCYK và quy trình báo cáo Đơn vị này cũng thực hiện kiểm tra, giám sát sau đào tạo và thường xuyên nhắc nhở nhân viên y tế về báo cáo sự cố trong các buổi giao ban Môi trường làm việc cởi mở khuyến khích nhân viên tự tin báo cáo sai sót, với sự hỗ trợ từ lãnh đạo khoa trong việc phân tích và rút kinh nghiệm Điều dưỡng là nhóm báo cáo sự cố nhiều nhất, gấp 34,29 lần so với bác sĩ, do họ là nhóm nhân viên y tế đông đảo nhất (44,7%) và trực tiếp chăm sóc bệnh nhân Nghiên cứu cho thấy điều dưỡng có tỷ lệ báo cáo cao nhất, tương đồng với các nghiên cứu khác tại Việt Nam Ngược lại, tỷ lệ báo cáo của bác sĩ thấp có thể do thiếu kiến thức về quy trình báo cáo SCYK và chỉ báo cáo với trưởng khoa khi có sự cố xảy ra.

Nghiên cứu của Bagenal J, Sahnan K, Shantikumar S cho thấy bác sĩ cấp dưới thường thiếu tự tin và không thoải mái khi báo cáo sự cố, trong khi điều dưỡng lại có cái nhìn tích cực và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động báo cáo Ngược lại, nghiên cứu của Alsafi E và các cộng sự chỉ ra rằng bác sĩ có xu hướng không báo cáo sai sót y tế nếu không có tổn hại cho bệnh nhân, mặc dù họ nhận thấy việc báo cáo lỗi có thể dẫn đến những cải tiến trong chăm sóc bệnh nhân Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho thấy bác sĩ tích cực hơn trong việc báo cáo sự cố so với điều dưỡng.

K, Fernhout J, đối tượng bác sĩ báo cáo SCYK (19%) cao hơn điều dưỡng báo cáo SCYK (12,3%) (13); Nghiên cứu của Trần Thị Bích Bo, nhóm bác sĩ tích cực báo cáo sự cố hơn nhóm điều dưỡng (64) Đây cũng là một vấn đề cần đặt ra cho nhóm đối tượng báo cáo sự cố là bác sĩ và bộ phận giám sát quy trình chuyên môn của các bác sĩ, bộ phận này cần tăng cường công tác giám sát trao đổi về sự cố hay các tình huống nguy cơ xảy ra sự cố và báo cáo sự cố để cùng rút kinh nghiệm kịp thời tránh sự cố lặp lại, đặc biệt là cho các bác sĩ trẻ

4.1.2 Địa điểm xảy ra sự cố

Khối lâm sàng hệ nội có số lượng sự cố báo cáo cao hơn so với khối lâm sàng hệ ngoại và khối cấp cứu, điều này không hợp lý vì khối ngoại và cấp cứu thường tiếp nhận bệnh nhân nặng hơn, cần nhiều thao tác cấp cứu và can thiệp phẫu thuật Số lượng sự cố báo cáo thấp có thể do nhân viên y tế (NVYT) ở các khối này chưa báo cáo đầy đủ, có thể do thiếu thời gian và mong muốn có phần mềm báo cáo tiện lợi hơn Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ báo cáo sự cố ở khối ngoại và cấp cứu cũng thấp hơn khối nội, tương tự như một số nghiên cứu tại Việt Nam Tuy nhiên, các chuyên gia quốc tế nhận định rằng phẫu thuật vẫn dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao trên toàn cầu.

Theo thống kê, có khoảng 7 triệu người mỗi năm phải đối mặt với các biến chứng phẫu thuật dẫn đến tàn phế, và hơn 1 triệu người tử vong vì những biến chứng này (5) Một nghiên cứu của Treadwell JR, Lucas S, Tsou đã chỉ ra rằng những biến chứng phẫu thuật không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân mà còn gây ra gánh nặng kinh tế và xã hội đáng kể.

Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật nội trú dao động từ 3 đến 17% Nghiên cứu của Wang M và Tao H cho thấy nhân viên tại các đơn vị phẫu thuật báo cáo nhiều sự cố hơn so với các đơn vị khác Đặc biệt, nghiên cứu của Đặng Thị Hoàng Oanh chỉ ra rằng khối ngoại sản chiếm tỷ lệ báo cáo sự cố cao nhất, lên đến 44,46% Điều này cho thấy việc báo cáo sự cố tại Bệnh viện chúng tôi chưa được chú trọng, và lãnh đạo các đơn vị này chưa quan tâm đúng mức đến công tác này.

Sự cố thường xảy ra chủ yếu tại phòng bệnh và giường bệnh, với tỷ lệ 36,2% theo nghiên cứu của Kiều Quang Phát So với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà năm 2018, tỷ lệ này cao hơn (56,6%) so với kết quả của chúng tôi (39%) Điều này cho thấy rằng, do công tác chăm sóc và điều trị chủ yếu diễn ra tại phòng bệnh, giường bệnh, nên khả năng xảy ra sự cố tại đây là cao hơn so với các vị trí khác.

4.1.3 Các báo cáo sự cố y khoa phân theo thời gian

Báo cáo cho thấy sự không đồng đều trong việc ghi nhận sự cố giữa các tháng, cho thấy nhân viên chưa báo cáo đầy đủ các sự cố xảy ra Một số tháng chỉ có từ 4 đến 10 trường hợp được báo cáo, điều này không phản ánh đúng thực tế công việc và quy mô của Bệnh viện tuyến Trung ương, nơi có 19.000 lượt bệnh nhân điều trị nội trú và 320.818 lượt bệnh nhân đến khám, làm xét nghiệm và thăm dò chức năng trong thời gian nghiên cứu Tháng 10 và tháng 12 cần được xem xét kỹ lưỡng hơn.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng 72 1 Yếu tố về nhân viên y tế

4.2.1 Yếu tố về nhân viên y tế

Kiến thức, thái độ của NVYT về báo cáo SCYK: Kiến thức và thái độ của

NVYT là 2 vấn đề cần có trong công tác thực hiện báo cáo SCYK

Nghiên cứu cho thấy rằng những người có kiến thức vững và thái độ tích cực sẽ thực hiện báo cáo SCYK hiệu quả hơn Các nhóm nhân viên y tế có hiểu biết về SCYK và khả năng nhận diện nguy cơ tiềm ẩn thường tự nguyện báo cáo các sự cố Việc chia sẻ và học hỏi từ những sai sót giúp chúng ta ghi nhớ lâu hơn và tránh lặp lại sai sót cho bệnh nhân khác Hơn nữa, báo cáo SCYK còn giúp phát hiện những bất cập trong quy trình, từ đó cải thiện chuyên môn và hướng tới an toàn người bệnh Theo nghiên cứu của Shepherd L và cộng sự, sai lầm là bài học quý giá, giúp chúng ta rút ra kinh nghiệm để không lặp lại Do đó, việc cập nhật kiến thức và tăng cường báo cáo SCYK là cần thiết để phòng ngừa các sự cố trong tương lai.

Một số nhân viên y tế (NVYT) vẫn chưa nắm vững kiến thức về SCYK và báo cáo SCYK, dẫn đến việc họ không biết báo cáo SCYK là gì Những nhân viên này chủ yếu thuộc nhóm lâm sàng, cận lâm sàng và các phòng ban chưa từng thực hiện báo cáo SCYK Nguyên nhân có thể do họ chưa được cập nhật kiến thức kịp thời hoặc chưa tham gia đào tạo về nhận diện và quy trình quản lý SCYK Điều này ảnh hưởng đến khả năng phát hiện sự cố và các tình huống nguy cơ, dẫn đến số lượng báo cáo sự cố y khoa tại các đơn vị này chưa đầy đủ Vấn đề này một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến thức NVYT trong việc báo cáo SCYK.

Nghiên cứu của Naome T, James M, Christine A, Mugisha TI, NVYT chỉ ra rằng thiếu kiến thức về sự cố và báo cáo sự cố sẽ dẫn đến việc không có nhóm báo cáo sự cố Do đó, bệnh viện cần tập trung vào việc đào tạo và tập huấn cho toàn bộ nhân viên y tế về báo cáo sự cố Việc đào tạo cần đi đôi với kiểm tra, giám sát và phân loại những đối tượng cần tiếp tục đào tạo, thực hiện thường xuyên và đa dạng hình thức để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của báo cáo sự cố Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà và Kiều Quang Phát cũng nhấn mạnh rằng đào tạo cần phải kiên trì, liên tục và lâu dài.

Thái độ của nhân viên y tế (NVYT) đóng vai trò quan trọng trong việc tự tin báo cáo sự cố y khoa (SCYK) Những người có kiến thức đúng nhưng thiếu thái độ tích cực thường lẩn tránh việc báo cáo Nghiên cứu cho thấy, NVYT có thái độ tích cực sẽ tự tin báo cáo sự cố, nhận thấy rằng việc này không chỉ giúp họ nhận được sự hỗ trợ trong việc xử lý và phân tích nguyên nhân gốc rễ, mà còn giúp phòng ngừa tái diễn và học hỏi từ các sự cố Theo nghiên cứu của Dương Minh Đức, thái độ tích cực trong báo cáo sự cố giúp đồng nghiệp học hỏi lẫn nhau, từ đó giảm thiểu nguy cơ tái diễn sự cố và phòng ngừa sai sót trong tương lai Ngược lại, một số NVYT có thái độ tiêu cực xem việc báo cáo là không cần thiết và tốn thời gian.

Nhiều nhân viên y tế (NVYT) tại bệnh viện có thái độ tiêu cực đối với báo cáo sự cố SCYK, dẫn đến việc một số người nhút nhát và không dám báo cáo sai sót của mình Họ lo ngại bị đồng nghiệp chê trách về chuyên môn, sợ bị xử phạt, và mất uy tín cá nhân cũng như cho đồng nghiệp Tâm lý e dè này ảnh hưởng lớn đến số lượng báo cáo SCYK Điều này cho thấy rằng lãnh đạo một số khoa, phòng, và trung tâm chưa có sự hướng dẫn rõ ràng để giúp NVYT vượt qua những lo lắng và sợ hãi khi xảy ra sự cố.

Báo cáo SCYK tại HUPH liên quan đến cơ chế động viên và khuyến khích trong các khoa, phòng và bệnh viện Nghiên cứu cho thấy rằng những khoa có chính sách khuyến khích nhân viên y tế báo cáo SCYK bằng tiền thưởng và tạo ra môi trường cởi mở, thân thiện sẽ có số lượng báo cáo sự cố cao hơn Điều này cũng dẫn đến việc nhân viên y tế cảm thấy vui vẻ và tự nguyện hơn trong việc báo cáo.

Kiến thức và thái độ của nhân viên y tế (NVYT) là hai yếu tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động báo cáo sự cố y khoa (SCYK) tại bệnh viện NVYT có kiến thức tốt sẽ hình thành thái độ tích cực, trong khi nếu chỉ có kiến thức mà thiếu thái độ tốt, họ có thể ngần ngại trong việc báo cáo do sợ ảnh hưởng đến bản thân hoặc lo ngại về chuyên môn Ngược lại, những người có thái độ tốt nhưng thiếu kiến thức sẽ không nhận diện được SCYK, không biết cách báo cáo hay phân tích nguyên nhân sự cố Do đó, việc trang bị kiến thức cho NVYT về nhận diện SCYK, hiểu rõ hậu quả và quy trình báo cáo là cần thiết, cùng với cơ chế khuyến khích để tạo ra môi trường cởi mở, giúp NVYT vượt qua tâm lý sợ hãi khi báo cáo Mục tiêu cải thiện thái độ và kiến thức của NVYT nhằm tăng cường hiệu quả báo cáo SCYK là rất quan trọng.

4.2.2 Yếu tố về quản lý điều hành Điều hành quản lý hệ thống báo cáo SCYK tại Bệnh viện:

Bệnh viện đã đầu tư mạnh mẽ vào công tác Quản lý Chất lượng và An toàn người bệnh (ATNB), cùng với việc quản lý hệ thống báo cáo sự cố y khoa (SCYK) từ năm 2013 theo Thông tư 19/2013/TT-BYT Hằng năm, bệnh viện cải tiến quy trình báo cáo SCYK, phân công rõ ràng trách nhiệm cho từng thành viên và bộ phận trong việc tiếp nhận, hỗ trợ, xử lý, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp cho các sự cố Năm 2018, Thông tư 43/2018/TT-BYT được ban hành, hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa, từ đó bệnh viện đã xây dựng quy trình quản lý SCYK và tổ chức tập huấn cho mạng lưới Quản lý Chất lượng.

HUPH cung cấp đầy đủ quy trình tiếp nhận, hỗ trợ, xử lý, phân tích và phản hồi các báo cáo Hệ thống quản lý báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện đã được triển khai hiệu quả, đặc biệt trong việc quản lý các sự cố y khoa nghiêm trọng có ảnh hưởng đến bệnh nhân Nghiên cứu của nhóm tác giả Naome T và James đã chỉ ra những điểm quan trọng trong công tác này.

M, Christine A, Mugisha TI, 55.7% NVYT đồng ý rằng việc cung cấp các hành động xử lý, khắc phục về các báo cáo sự cố làm tăng báo cáo sự cố (33) Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thấy rằng việc tiếp nhận phân tích báo cáo sự cố tại Bệnh viện chúng tôi chỉ có bộ phận phòng QLCL Bệnh viện thực hiện mà không thấy sự phối hợp của ban an toàn y tế Khi NVYT báo cáo sự cố, phòng QLCL tiếp nhận, hỗ trợ tìm nguyên nhân gốc rễ, phản hồi về cách cải tiến, đưa ra bài học kinh nghiệm đến từng nhân viên, từng bộ phận và trên giao ban viện, điều này rất tốt để NVYT nhận thấy điểm yếu của mình mà cải tiến công việc tốt hơn và tự tin báo cáo sự cố Theo các chuyên gia nước ngoài cũng nhận thấy vấn đề này: Nghiên cứu của Hasan SF, Hamid M, phản hồi sớm và thường xuyên cho NVYT có thể giúp kích thích sự tham gia tự nguyện báo cáo sự cố (32); Nghiên cứu của nhóm tác giả Howell AM, Burns EM, Bouras G, Donaldson LJ, Athanasiou T, Darzi A, việc giữ bí mật các báo cáo, thông báo cho nhân viên về các sự cố và đưa ra phản hồi về các sáng kiến đã làm tăng tỷ lệ báo cáo sự cố (61) Qua đó cho thấy, NVYT báo cáo sự cố mà được tiếp nhận, hỗ trợ xử lý, phản hồi cho từng cá nhân, từng khoa, phòng họ sẽ nhận thấy được sự quan tâm khi họ báo cáo sai sót, được phân tích tìm nguyên nhân, có giải pháp thì bản thân họ cũng nhận ra được cái sai khi có sự góp ý của NVYT khác mà nếu không báo cáo sự cố sẽ không nhận ra để khắc phục Vậy việc tiếp nhận báo cáo sự cố, tìm ra nguyên nhân từ các sự cố, phân tích, phản hồi sớm các báo cáo sự cố đến NVYT là yếu tố ảnh hưởng làm tăng động lực để NVYT báo cáo sự cố Đa số các báo cáo sự cố ảnh hưởng đến người bệnh được tập trung ưu tiên khắc phục hậu quả, điều tra, phân tích đánh giá, phản hồi thông tin đến các khoa, phòng, trung tâm Các tình huống nguy cơ gây ra sự cố được phổ biến, cảnh báo và đưa ra bài học rút kinh nghiệm trong toàn Bệnh viện để cùng nhau tránh lỗi lặp lại

Nhiều SCYK vẫn chưa báo cáo trực tiếp lên phòng Quản lý Chất lượng, dẫn đến việc nhân viên thường báo cáo sự cố với lãnh đạo khoa thay vì phòng QLCL, gây khó khăn cho việc tiếp nhận và phân tích báo cáo Khi nhận được báo cáo từ lãnh đạo khoa, họ thường hỗ trợ và xử lý sự cố, đồng thời rút ra bài học trong các buổi giao ban, cho thấy trách nhiệm của lãnh đạo đối với các báo cáo sự cố Nghiên cứu của Phạm Đức Mục và cộng sự chỉ ra rằng chỉ có 30% sự cố được báo cáo với bệnh viện, trong khi các khoa thường tự giải quyết nội bộ mà không thông báo.

Nghiên cứu của Anderson JG và Abrahamson K cho thấy chỉ có dưới 10% các sai sót y tế được báo cáo, điều này cho thấy nhân viên y tế (NVYT) chưa tự tin chia sẻ sai sót của mình Có thể do họ chưa nắm rõ quy định mới về báo cáo sự cố, hoặc chưa hiểu quy trình báo cáo sự cố y tế Họ thường chỉ báo cáo với lãnh đạo khoa để được hỗ trợ xử lý, nhằm đảm bảo an toàn người bệnh Do đó, cần có sự tăng cường trong việc động viên và hướng dẫn NVYT về cách thức báo cáo và quy trình quản lý sự cố y tế, để họ biết cách báo cáo và biết báo cáo đến đâu.

Quy trình, quy định, đào tạo, tập huấn báo cáo SCYK:

Năm 2013, Bệnh viện đã bắt đầu quy trình báo cáo các sự cố sai sót, tuy nhiên, số lượng báo cáo trong giai đoạn từ 2013 đến 2018 vẫn còn rất thấp, chỉ dao động từ 28 đến một con số chưa được xác định.

Năm 2019, theo Thông tư 43/2018/TT-BYT, số lượng báo cáo sự cố SCYK đã tăng lên đáng kể, với 93 báo cáo trong năm 2019 và 192 báo cáo trong năm 2020 Đặc biệt, từ tháng 4/2021 đến tháng 3/2022, số lượng báo cáo sự cố đã đạt 269 trường hợp, tăng 140.1% so với năm 2020 nhờ việc sử dụng Google biểu mẫu Bệnh viện cũng đã xây dựng quy trình quản lý SCYK vào năm 2019, được Giám đốc Bệnh viện ký Quyết định ban hành và triển khai trên mạng nội bộ, giúp phổ biến đến tất cả các khoa, phòng, trung tâm Quy trình này đơn giản, dễ hiểu và đầy đủ biểu mẫu, góp phần làm tăng số lượng báo cáo.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà và Kiều Quang Phát chỉ ra rằng quy trình báo cáo sự cố đơn giản và dễ thực hiện có thể làm tăng tỷ lệ báo cáo sự cố.

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Rodziewicz TL, Houseman B, Hipskind JE. Medical Error Reduction and Prevention. StatPearls. Treasure Island FL: © 2021, StatPearls Publishing LLC.;2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medical Error Reduction and Prevention
Tác giả: Rodziewicz TL, Houseman B, Hipskind JE
Nhà XB: StatPearls Publishing LLC
Năm: 2021
2. WHO. Patient Safety curriculum guide. Multi-professional Edition. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Patient Safety curriculum guide. Multi-professional Edition
Tác giả: WHO
Năm: 2011
3. Alkhenizan AH, Shafiq MR. The process of litigation for medical errors in Saudi Arabia and the United Kingdom. Saudi Med J. 2018;39(11):1075-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The process of litigation for medical errors in Saudi Arabia and the United Kingdom
Tác giả: Alkhenizan AH, Shafiq MR
Nhà XB: Saudi Med J
Năm: 2018
4. Seys D, Wu AW, Van Gerven E, Vleugels A, Euwema M, Panella M, et al. Health care professionals as second victims after adverse events: a systematic review. Eval Health Prof. 2013;36(2):135-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health care professionals as second victims after adverse events: a systematic review
Tác giả: Seys D, Wu AW, Van Gerven E, Vleugels A, Euwema M, Panella M
Nhà XB: Eval Health Prof
Năm: 2013
5. The L. Patient safety: too little, but not too late 2019 [updated Sep 14. 2019/09/19:[895]. Available from:https://www.who.int/features/factfiles/patient_safety/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Patient safety: too little, but not too late
Tác giả: The L
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2019
6. Bộ Y tế. Thông tư số 43/TT/BYT ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 43/TT/BYT ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2018
7. Bộ Y tế. Hướng dẫn quốc gia phòng ngừa sự cố y khoa triển khai thông tư 43/2018/TT-BYT. 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quốc gia phòng ngừa sự cố y khoa triển khai thông tư 43/2018/TT-BYT
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2020
8. Bộ Y tế. Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2017 về việc Hướng dẫn giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2017 về việc Hướng dẫn giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2017
9. Bệnh viện C Đà Nẵng. Tổng hợp báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng năm 2020. 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện C Đà Nẵng năm 2020
Tác giả: Bệnh viện C Đà Nẵng
Năm: 2020
10. Singh G, Patel RH, Boster J. Root Cause Analysis and Medical Error Prevention. StatPearls. Treasure Island FL: © 2021, StatPearls Publishing LLC.;2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Root Cause Analysis and Medical Error Prevention
Tác giả: Singh G, Patel RH, Boster J
Nhà XB: StatPearls Publishing LLC
Năm: 2021
11. Sherman H, Castro G, Fletcher M, Hatlie M, Hibbert P, Jakob R, et al. Towards an International Classification for Patient Safety: the conceptual framework. Int J Qual Health Care. 2009;21(1):2-8.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Towards an International Classification for Patient Safety: the conceptual framework
Tác giả: Sherman H, Castro G, Fletcher M, Hatlie M, Hibbert P, Jakob R
Nhà XB: Int J Qual Health Care
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Đặc điểm thông tin trong các báo cáo sự cố - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.1. Đặc điểm thông tin trong các báo cáo sự cố (Trang 45)
Bảng 3.2. Báo cáo sự cố phân theo hình thức báo cáo và đối tượng xảy ra sự cố - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.2. Báo cáo sự cố phân theo hình thức báo cáo và đối tượng xảy ra sự cố (Trang 46)
Bảng 3.3. Số lượng các báo cáo sự cố phân theo khoa, trung tâm - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.3. Số lượng các báo cáo sự cố phân theo khoa, trung tâm (Trang 47)
Bảng 3.6. Các báo cáo sự cố y khoa phân theo vị trí cụ thể xảy ra sự cố - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.6. Các báo cáo sự cố y khoa phân theo vị trí cụ thể xảy ra sự cố (Trang 49)
Bảng 3.7. Khoảng cách thời gian báo cáo sự cố sau khi xảy ra sự cố - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.7. Khoảng cách thời gian báo cáo sự cố sau khi xảy ra sự cố (Trang 50)
Bảng 3.9. Thông tin mô tả, xử lý, nguyên nhân, giải pháp khắc phục - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.9. Thông tin mô tả, xử lý, nguyên nhân, giải pháp khắc phục (Trang 51)
Bảng 3.11. Phân loại báo cáo sự cố theo mức độ tổn thương của người bệnh - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.11. Phân loại báo cáo sự cố theo mức độ tổn thương của người bệnh (Trang 52)
Bảng 3.12. Phân loại báo cáo sự cố theo diễn biến tình huống của người bệnh - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.12. Phân loại báo cáo sự cố theo diễn biến tình huống của người bệnh (Trang 53)
Bảng 3.13. Phân loại báo cáo sự cố theo mức độ ảnh hưởng trên tổ chức - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.13. Phân loại báo cáo sự cố theo mức độ ảnh hưởng trên tổ chức (Trang 54)
Bảng 3.15. Phân loại báo cáo sự cố theo nhóm nguyên nhân gây ra sự cố - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.15. Phân loại báo cáo sự cố theo nhóm nguyên nhân gây ra sự cố (Trang 55)
Bảng 3.16. Phân loại theo 6 mục tiêu an toàn người bệnh - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
Bảng 3.16. Phân loại theo 6 mục tiêu an toàn người bệnh (Trang 56)
HÌNH THỨC BÁO CÁO SỰ CỐ Y - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
HÌNH THỨC BÁO CÁO SỰ CỐ Y (Trang 102)
Hình  thức  báo  cáo - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
nh thức báo cáo (Trang 140)
Hình  thức  trích  dẫn  định - Báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c đà nẵng năm 2021 – 2022
nh thức trích dẫn định (Trang 152)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w