116 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG PHẠM BÁ TOẢN THỰC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRUNG TÂM Y TẾ CƯ JÚT, ĐẮK NÔNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG NĂM 2020 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH 8720701 30 i HÀ NỘI, 2020 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG PHẠM BÁ TOẢN THỰC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRUNG TÂM Y TẾ CƯ JÚT, ĐẮK NÔNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG NĂM 2020 LUẬN VĂN TH.
Trang 1PHẠM BÁ TOẢN
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRUNG TÂM Y TẾ CƯ JÚT, ĐẮK NÔNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI, 2020
Trang 2PHẠM BÁ TOẢN
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRUNG TÂM Y TẾ CƯ JÚT, ĐẮK NÔNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS TRẦN THỊ TUYẾT HẠNH
HÀ NỘI, 2020
Trang 3Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn luận văn của tôi với những hướng dẫn, góp ý vô cùng quan trọng kể từ khi bắt đầu cho đến khi hoàn thành luận văn Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, cô đã giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, cùng với sự quan tâm, hỗ trợ để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu cùng các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Y tế Công Cộng đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập
để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo cũng như toàn thể các đồng nghiệp tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tận tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và những người thân đã ủng hộ, dành cho tôi những điều kiện tốt nhất, giúp tôi yên tâm học tập và hoàn thành luận văn này
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn, tuy nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những góp ý của Quý thầy cô để luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
MỤC LỤC
MỤC LỤC……….……….…….……….…… …. i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… … ……… …… ii
DANH MỤC BẢNG ……… …… ………. iv
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ……… ………. v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ……… …… ………… … vi
ĐẶT VẤN ĐỀ……….…….………….…… ……….………… 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU…….…….………….…… ……….…………. 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 4
Trang 41.2 Tổng quan về thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y
tế và một số yếu tố ảnh hưởng 10
1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu …… 20
1.4 Khung lý thuyết 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu ……… ……… 24
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu……… ……… 24
2.3 Thiết kế nghiên cứu ….……….… ……… 25
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ……… ………… 25
2.5 Phương pháp thu thập số liệu………… … …… ……… 26
2.6 Biến số nghiên cứu ….….……… ……….… 30
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành tuân thủ VSTTQ 30 2.8 Phương pháp phân tích số liệu… ………… 31
2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu … 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Thực trạng tuân thủ VSTTQ của NVYT tại TTYT huyện Cư Jút 33
3.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu……… 33
3.1.2 Thực trạng kiến thức về VSTTQ của NVYT ………… 34
3.1.3 Thực trạng thái độ về VST thường quy của NVYT … 38
3.1.4 Thực trạng tuân thủ VSTTQ của NVYT 40
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến TTVSTTQ của NVYT ……… 44
3.2.1 Yếu tố cá nhân …… … 44
3.2.2 Yếu tố cơ chế chính sách, tổ chức, quản lý 45
3.2.3 Yếu tố cơ sở vật chất, TTB, phương tiện VST … 51
Chương 4 BÀN LUẬN ……… ………… ……… 55
4.1 Thực trạng tuân thủ VSTTQ của NVYT tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút năm 2020 55
4.1.1 Thực trạng kiến thức về VSTTQ của NVYT……… 55
4.1.2 Thực trạng thái độ về VSTthường quy của NVYT 58
4.1.3 Thực trạng tuân thủ VSTTQ của NVYT……… 58
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VSTTQ NVYT tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút năm 2020 63
4.2.1 Yếu tố cá nhân …… … 63
4.2.2 Yếu tố cơ chế chính sách, tổ chức, quản lý 65
4.2.3 Yếu tố cơ sở vật chất, TTB, phương tiện VST … 70
Trang 5KẾT LUẬN ……… ……… 74
KHUYẾN NGHỊ……… ……… 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………. 76
Phụ lục 1 Bảng kiểm đánh giá thực hành VSTTQ ……… …… 81
Phụ lục 2 Phiếu khảo sát kiến thức……… ……… … 83
Phụ lục 3 Cách chấm điểm đánh giá kiến thức về VSTTQ ……….… 90
Phụ lục 4 Cách chấm thái độ……… ……… 93
Phụ lục 5 Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu……… 94
Phụ lục 6 Hướng dẫn thảo luận nhóm……… 96
Phụ lục 7 Hướng dẫn phỏng vấn sâu……… 98
Phụ lục 8 Nhóm chủ đề thu thập thông tin định tính……… 99
Phụ lục 9 Biến số nghiên cứu……… 100
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TTVSTTQ Tuân thủ vệ sinh tay thường quy
WHO (World Health Organization) Tổ chức Y tế Thế Giới YHCT-PHCN Y học cổ truyền-Phục hồi chức năng
Trang 6Bảng Tên bảng Trang
3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 33
3.2 Tập huấn về VSTTQ của NVYT 34
3.3 Kiến thức đúng của nhân viên y tế về VST 35
3.4 Kiến thức đúng của nhân viên y tế về dung dịch rửa tay phù hợp nhất trong các trường hợp cần rửa tay 36
3.5 Kiến thức đúng của NVYT về thời gian một lần VSTTQ … 37
3.6 Thái độ của NVYT về vai trò VSTTQ trong KSNK ……… 38
3.7 Tỷ lệ TTVSTTQ theo cơ hội/thời điểm cần quan sát ……… 40
3.8 Phương pháp VSTTQ trong số cơ hội tuân thủ VSTTQ …… 41
3.9 Tỷ lệ tuân thủ quy trình 6 bước VST thường quy theo các cơ quan sát 41
3.10 Tuân thủ VSTTQ theo khoa phòng 42
3.11 Tỷ lệ NVYT (theo chức danh) tuân thủ VSTTQ đầy đủ theo cơ hội và 6 bước 42
3.12 Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với TTVSTTQ 44
3.13 Mối liên quan giữa kiến thức với TTVSTTQ 44
3.14 Mối liên quan giữa thái độ với TTVSTTQ 45
Trang 7TT Tên hình, biểu đồ Trang
1.1 Năm thời điểm phải vệ sinh tay 5
1.2 Quy trình vệ sinh tay thường quy 6
3.1 Phân loại kiến thức chung về VSTTQ của NVYT 38
3.2 Phân loại thái độ chung về VSTTQ 40
3.3 Tỷ lệ NVYT tuân thủ VSTTQ 43
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Vệ sinh tay là một trong các biện pháp bảo đảm an toàn cho nhân viên y tế
Trang 8biến phức tạp của đại dịch COVID-19, công tác thực hiện vệ sinh tay được chútrọng hơn bao giờ hết Để đánh giá được mức độ tuân thủ vệ sinh tay thường quy
của nhân viên y tế tôi thực hiện nghiên cứu: Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế Trung tâm y tế Cư Jút, Đắk Nông và một số yếu tố ảnh hưởng năm 2020 Với mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và (2) phân
tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tuân thủ vệ sinh tay thường quy của
nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông năm 2020
Nghiên cứu mô tả cứu cắt ngang, nghiên cứu kết hợp phương pháp địnhlượng và định tính thông qua việc quan sát bằng bảng kiểm 92 nhân viên y tế thựchiện quy trình trên 368 cơ hội vệ sinh tay và thu thập thông tin qua phỏng vấn 92nhân viên y tế, thực hiện 04 cuộc phỏng vấn sâu và 02 cuộc thảo luận nhóm, thờigian thu thập từ tháng 3 đến hết tháng 6/2020 Nghiên cứu Sử dụng phần mềmEpidata 3.1 để nhập liệu và quản lý số liệu; phần mềm Stata 14.0 phân tích số liệu
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy theo cơ hội quansát của nhân viên y tế là 81,79%, thấp nhất ở thời điểm trước khi tiếp xúc với ngườibệnh (56,52%) và chỉ có 43,15% thực hiện đủ 6 bước của quy trình Tỷ lệ tuân thủchung cả 6 khoa là 14,13%; thấp nhất ở khoa Khám - Cấp cứu - Liên chuyên khoa(5,56%) Tỷ lệ tuân thủ ở nhóm điều dưỡng cao nhất (20,59%) Yếu tố ảnh hưởngđến tuân thủ vệ sinh tay thường quy gồm: Trình độ học vấn, kiến thức và thái độ; sựquá tải trong công việc; phương tiện thiếu và sắp xếp không hợp lý; công tác giámsát chưa tốt, thiếu nhân lực; công tác thi đua, khen thưởng chưa hợp lý; chưa đánhgiá được chất lượng công tác đào tạo, tập huấn và hóa chất vệ sinh tay chưa hợp lý
Khuyến nghị: Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ vệ sinh tay; bố tríthêm nhân lực các khoa đông bệnh nhân, đặc biệt là cần tăng cường tối thiểu 02nhân lực cho khoa Khám - Cấp cứu - Liên chuyên khoa; có chế tài thưởng phạt sựtuân thủ vệ sinh tay thường quy tại các khoa phòng, bộ phận khi thực hiện côngviệc mà có yêu cầu phải vệ sinh tay
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) được coi là việc áp dụng những biện phápcan thiệp làm hạn chế tối đa sự lan truyền của tác nhân gây nhiễm khuẩn ở các cơ
sở y tế (CSYT) Trong đó, vệ sinh tay (VST) là một trong các biện pháp bảo đảm
độ an toàn cho nhân viên y tế (NVYT), nó có thể giúp loại bỏ tối đa vi sinh vật nằm
ở trên bàn tay Đồng thời nó có tác dụng hạn chế tối đa các tác nhân nhiễm khuẩnbệnh viện Do đó VST là một biện pháp khá đơn giản nhưng lại hiệu quả nhất và íttốn kém nhất, không chỉ trong công tác khám - chữa bệnh mà ở cộng đồng VSTcũng là một việc làm cực kỳ hữu ích khi mà đang còn rất nhiều dịch bệnh có nguy
cơ xảy ra như: dịch tả, cúm A H5N1, cúm AH1N1(1) Đặc biệt đại dịch COVID-19đang lan rộng và diễn biến phức tạp như hiện nay thì công tác VST để phòng chốngdịch bệnh COVID-19 là hết sức quan trọng
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh taythường quy (VSTTQ) của NVYT vẫn chưa đồng nhất và chưa cao, năm 2016 trongmột đánh giá của Farinaz Farhuodi và các cộng sự trên một bệnh viện (BV) đại họctại 14 khoa ở Shiraz của Iran về cải thiện VST cho thấy việc tuân thủ vệ sinh taythường quy (TTVSTTQ) của NVYT chiếm 29,8% (2) Năm 2016, một nghiên cứutại bệnh viện Erikawati tại Malang của Indonesia cho thấy việc TTVSTTQ trướccan thiệp và sau can thiệp ở nhi khoa (24,1% lên 43,7%; p <0,001), nội khoa (5,2%đến 18,5%; p < 0,001) và sản phụ khoa (10,1% đến 20,5%; p < 0,001) (1) Đặc biệtvới tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 thì công tác VST hết sứcquan trọng Điều đó thể hiện tại nghiên cứu của Qian Zhou và cộng sự (2020) về đolường sự tuân thủ VST dựa trên hướng dẫn dự phòng COVID-19 tại Trung Quốccho thấy tỷ lệ TTVSTTQ chung là 79,44%; tuân thủ hành vi VST 96,71% và tuânthủ quy trình VST là 95,74% (3)
Tại Việt Nam công tác VST ngày càng được chú trọng hơn Năm 2012nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh ở BV Xanh Pôn Hà Nội chỉ ra rằng việcNVYT tuân thủ các cơ hội của VST đạt tỷ lệ 58% và buổi sáng có tỷ lệ đạt cao hơnbuổi chiều (đạt 60,7% so với đạt 50,3%) (4) Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới
Trang 10TTVSTTQ ở NVYT, nghiên cứu của Mai Ngọc Xuân cho thấy tỉ lệ TTVSTTQcủa điều dưỡng (ĐD) cao hơn bác sĩ (BS) (60,4% so với 49,6 (5) Cũng nhưnghiên cứu năm 2019 của Phạm Thị Thuỷ tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh ĐắkLắk cho thấy việc TTVSTTQ tại BV là khá thấp chiếm 12,1%, những NVYT cókiến thức đạt thì TTVSTTQ cao gấp 11,3 lần những NVYT có kiến thức không đạt
về TTVSTTQ (6) Năm 2017, Bộ Y tế ban hành "Hướng dẫn thực hành vệ sinh taytrong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh"(12) và trong thời điểm hiện tại VST cònđược Bộ Y tế đưa vào nội dung chấm điểm 83 tiêu chí hàng năm (9), đặc biệt trongthời điểm dịch bện COVID-19 đang diễn biến phức tạp việc kiểm soát lây nhiễmbệnh COVID-19 trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì vệ sinh tay là một trongnhững biện pháp quan trọng giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm COVID-19;việc VST cần phải được thực hiện thường xuyên tất cả lúc, tất cả nơi theo đúng 5thời điểm VST trong quá trình chăm sóc và điều trị người bệnh (10)
Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Cư Jút có 135 giường bệnh (thực kê 200giường) với tổng số cán bộ là 233 người (7) Năm 2019 công suất sử dụng giườngbệnh đạt 110% với nhập nội trú 9.085 lượt NB; tổng số khám bệnh trong năm là108.205 lượt, tổng số lượt phẫu thuật 1228 ca và tổng số lượt thủ thuật 72672 ca,điều đó đồng nghĩa với việc tổng số lượt khám bệnh và nhập nội trú vượt chỉ tiêu
Sở Y tế giao dẫn đến tình trạng người bệnh thường xuyên quá tải (8) Vì vậy việcthực hiện VSTTQ đối với NVYT càng trở nên quan trọng, góp phần đáng kể trongviệc giảm thiểu thời gian và chi phí điều trị cho bệnh nhân Khi thực hiện tất cả cácdịch vụ kỹ thuật đều đòi hỏi NVYT phải TTVSTTQ đúng theo quy trình từ khâuchuẩn bị cho tới khâu kết thúc Để đánh giá được mức độ tuân thủ quy trình VSTTQcủa NVYT nhằm xây dựng kế hoạch hành động cụ thể phù hợp với Trung tâm vềcông tác KSNK nói chung và VSTTQ nói riêng Đồng thời tại tỉnh Đắk Nông cũngnhư Trung tâm Y tế huyện Cư Jút chưa có đề tài nghiên cứu nào về nội dung
VSTTQ Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế Trung tâm y tế Cư Jút, Đắk Nông và một số yếu tố ảnh hưởng năm 2020.
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành tuân thủ vệ sinh tay thườngquy của nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tuân thủ vệ sinh taythường quy của nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông năm2020
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các khái niệm, quy định, tiêu chí liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.1.1 Các khái niệm
Kiểm soát nhiễm khuẩn: là việc áp dụng những biện pháp hạn chế tối đa sự
lan truyền của tác nhân gây nhiễm khuẩn trong thực hành khám - chữa bệnh (12)
Nhiễm khuẩn bệnh viện: Là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian
NB nằm điều trị tại bệnh viện (BV), nhiễm khuẩn không xuất hiện trong giai đoạn ủbệnh ở thời điểm bệnh nhân nhập viện, mà nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) thườngxuất hiện sau 48 giờ kể từ khi bệnh nhân nhập viện (12)
Vệ sinh tay: Là làm sạch tay bằng nước với xà phòng có hay không có chất
sát khuẩn và sát khuẩn tay với dung dịch có chứa cồn (14)
Vệ sinh tay trong phòng chống COVID-19: là một trong những biện pháp
quan trọng giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm COVID-19 Việc VST cần phảiđược thực hiện thường xuyên tất cả lúc, tất cả nơi theo đúng 5 thời điểm VST trongquá trình chăm sóc và điều trị người bệnh (10)
Chà tay khử khuẩn: Là thực hiện chà toàn bộ bàn tay bằng các dung dịch
VST chứa cồn (không được dùng nước khi thực hiện), nhằm làm giảm tối đa lượng
vi khuẩn có trên bề mặt bàn tay (12)
Dung dịch VST chứa cồn: Là những chế phẩm VST dạng dung dịch, dạng
gel hoặc dạng bọt chứa cồn (12)
Tuân thủ cơ hội VSTTQ của NVYT: Là việc NVYT có thực hiện VST
trong các tình huống cơ hội cần VST theo quy định các thời điểm mà cần VST(15)
Một cơ hội VST được xem là tuân thủ khi đảm bảo 2 yêu cầu (*):
(1) Có thực hiện VST khi có cơ hội cần phải VST;
(2) Phải VST với nước và xà phòng hoặc dung dịch VST có chứa cồn/cồn
NVYT tuân thủ VSTTQ: Là khi NVYT tuân thủ đúng các cơ hội cần VST
thường quy và tuân thủ đúng QTVSTTQ (15).
Trang 13Thời điểm VSTTQ/Cơ hội VSTTQ: Là thời điểm NVYT trực tiếp tham gia
thực hiện công tác điều trị, chăm sóc NB đều cần phải VSTTQ bằng nước và xà phòngthường hoặc là chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn vào 5 thời điểm (12)
Hình 1.1 Năm thời điểm phải vệ sinh tay (12)
Tuân thủ quy trình VSTTQ: Là việc NVYT thực hiện đúng và đầy đủ ở tất cả
6 bước trong quy trình VST thường quy Nếu đảo lộn các bước trong quá trình thựchiện sẽ không được tính đạt bước (15)
Tuân thủ quy trình VSTTQ đúng, đủ bao gồm:
+ TTVST như (*) ở trên
+ Thực hiện VST tuân thủ đúng 6 bước của quy trình không làm đảo lộn cácbước và mỗi bước phải thực hiện đủ 5 lần
Kỹ thuật VSTTQ: Cho dù nhân viên y tế có VST bằng xà phòng và nước
hoặc là chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn đều phải thực hiện đúng và đủ 6 bước
Trang 14kỹ thuật (14).
Hình 1.2 Quy trình vệ sinh tay thường quy (12)
Khi NVYT thực hiện QTVSTTQ phải đảm bảo: Phải lựa chọn đúng các
phương pháp VST; phải lấy đủ số lượng dung dịch VST từ 3ml đến 5 ml/1 lần thựchiện; phải tuân thủ đúng kỹ thuật VST; phải tuân thủ đúng thời gian VST; phòngsau khi đã chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn thì không được rửa lại tay bằngnước và xà; tránh làm ô nhiễm lại bàn tay sau VST và không sử dụng máy sấy tay đểlàm khô tay (12)
Chỉ định và cơ hội VST: Là thời điểm cần VST khi thực hiện chăm sóc,
điều trị NB nhằm cắt đứt hoặc hạn chế tối đa sự lan truyền mầm bệnh thông qua bàntay (12)
Chỉ định: Cần phải thực hiện VST tại một thời điểm xác định.
Cơ hội VST: Cơ hội VST là số lần cần VST; một cơ hội VST được tạo ra từ ít
nhất một chỉ định (12)
Trang 151.1.2 Mốc lịch sử và tầm quan trọng của vệ sinh tay
1.1.2.1 Mốc lịch sử
Trong quá trình xuyên suốt lịch sử, việc VST đã được WHO và các nhànghiên cứu trên thế giới quan tâm, đồng thời cũng khuyến cáo việc TTVST với tỷ lệcao là tương đối khó, bởi vì tại các cơ sở y tế thường chưa đáp ứng 1 số điều kiện
về VST là những lý giải cho sự phản ứng của nhân viên y tế trước khuyến cáo VSTsau những lần tiếp xúc với những người bệnh (NB) khác nhau Hầu như có rấtnhiều NVYT cho rằng VST như vậy là không cần thiết và quá nhiều Tại Mỹ năm
1910, Rosephine Baker đã tổ chức khoá tập huấn đầu tiên về VST cho các NVYTchăm sóc bệnh nhân nhi Đến năm 1992, một nghiên cứu về VST tại khoa hồi sứccấp cứu cho thấy mặc dù đã áp dụng những biện pháp giáo dục và giám sát đặc biệt,tuy nhiên tỷ lệ đạt của NVYT tại khoa Hồi sức cấp cứu về VST chỉ 48% (16) Cũngtrong năm đó CDC (Mỹ) cho biết tỷ lệ NKBV giao động từ 5- 15% tại các bệnhviện, điều này dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn mắc phải trên nhân viên y tế và năm
1993 đã có 11 nhân viên y tế mắc bệnh viêm gan A do không VST sau khi tiếp xúcvới 1 trong 2 bệnh nhân viêm gan A (16)
1.1.2.2 Tầm quan trọng của vệ sinh tay
* Cấu trúc của da
Da là một cơ quan tương đối lớn, chiếm khoảng 16% tổng trọng lượng cơthể, nằm ở bề mặt ngoài, là nơi tiếp xúc trực tiếp với môi trường Da là bộ phận vôcùng quan trọng của cơ thể, nó được coi giống như một chiếc áo tự nhiên nhằm bảo
vệ cơ thể chống lại các tác nhân có hại ở bên ngoài và có các chức năng như: bàitiết, điều hòa nhiệt độ Tổng diện tích da của người trưởng thành là 1,2m2 đến 2m2
Da người có ba lớp: lớp thượng bì, lớp trung bì và lớp hạ bì Các nghiên cứu chothấy, ở người bình thường trên bề mặt da cứ 1 cm2 có chứa tới khoảng 40.000 vikhuẩn, còn trên bề mặt da bàn tay thì có số lượng vi khuẩn cao hơn, vì bàn tay lànơi tiếp xúc với tất cả vật dụng, đồ dùng thường xuyên nhất trong cuộc sống Nhiềulúc chúng ta quên rằng đang rất nhiều vi khuẩn hoặc virus đang rình rập chờ thời cơtiếp xúc mang yếu tố lây nhiễm và tấn công da bàn tay khi có cơ hội, cho nên có thểnói bàn tay là trung gian đưa mầm bệnh vào cơ thể con người (16)
Trang 16* Tác nhân gây nhiễm khuẩn do da bàn tay
Hiện nay, nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là hậu quả không mong muốntrong thực hành khám - chữa bệnh và chăm sóc NB (17) Đồng thời NKBV cũng làmột trong các nguyên nhân hàng đầu đe dọa sự an toàn của NB, đây là một vấn đềngày càng được hệ thống y tế trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm NKBVlây truyền qua nhiều con đường khác nhau, mà phổ biến nhất là qua bàn tay củanhân viên y tế, nói chính xác hơn bàn tay cũng chính là công cụ dùng để điều trị vàchăm sóc NB hàng ngày Bàn tay cũng là nơi tiếp xúc thường xuyên với máu, da,dịch tiết của NB làm cho vi khuẩn truyền từ NB qua và làm cho bàn tay trở thànhnơi các vi sinh vật gây bệnh cư trú (18)
Vi khuẩn thường cư trú trên bàn tay (thông thường tập trung số lượng lớn nơi
kẽ tay và ở kẽ móng tay), một số người hiểu vi khuẩn giống như các vết bẩn có thểnhìn thấy được bằng mắt thường Tuy nhiên, trong môi trường vi khuẩn tồn tạitrong phạm vi rất rộng như: "trên các đồ vật, quần áo, trong không khí và thực tếđang có rất nhiều vi khuẩn trên da bàn tay mà bằng mắt chúng ta thường không thểnào nhìn thấy được" Có rất nhiều loại vi khuẩn nằm trên bàn tay, tuy nhiên thườnggặp nhất là: Vi khuẩn định cư: Nó ít có gây ra nhiễm khuẩn vì nó chỉ xâm nhập vào
cơ thể thông qua các thủ thuật xâm lấn Vậy nên trong trường hợp này chúng ta cầnVST bằng hóa chất khử khuẩn với lượng thời gian đủ dài để loại bỏ các vi khuẩnnày; Vi khuẩn vãng lai: Thường cư trú trên bề mặt da bàn tay nhiễm bẩn khi tiếpxúc với NB hoặc tiếp xúc với đồ không sạch có ở môi trường của các CSYT; khithực hiện điều trị và chăm sóc cho NB, đây cũng được coi là nguyên nhân chính gây
ra NKBV Trên thực tế có thể loại bỏ tối đa chúng bằng các việc thực hiện VSTTQvới nước và xà phòng thường /với dung dịch VST có chứa cồn (12)
* Hiệu quả của tuân thủ vệ sinh tay
VST là một biện pháp khá đơn giản, có thể nói là ít tốn tiền nhất và cũng tiệnlợi, hiệu quả bậc nhất trong KSNK, vì vậy chúng ta cần tăng cường sự TTVST.Việc TTVST của NVYT là một biện pháp để phòng ngừa NKBV (19) Để đảm bảocông tác VST được tuân thủ tốt thì các CSYT phải đảm bảo có đầy đủ nước sạch và
có đủ các phương tiện vệ sinh tay cũng như có sẵn các dung dịch sát khuẩn tay có
Trang 17chứa cồn ở những nơi thăm khám, điều trị và chăm sóc NB Tại các cơ sở chữa bệnh, việc sát trùng tay của NVYT nhằm làm giảm chỉ số mắc một số bệnhnhiễm trùng có liên quan đến công tác chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân (17)
khám-Vấn đề VST trong những năm gần đây luôn được chú trọng, phải nói VST làbiện pháp hữu hiệu để hạn chế tối đa vấn đề lây lan của kháng kháng sinh, đồngthời làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng có liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện (20) ViệcVST giúp dự phòng nhiễm khuẩn BV và giảm tỷ lệ lây truyền của các tác nhân gâybệnh trong các cơ sở khám - chữa bệnh trên thực tế khi tuân thủ quy trình VST củaNVYT thường sẽ làm giảm ít nhất là 20% tỷ lệ nguy cơ làm gia tăng NKBV (21).Bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2009, WHO tổ chức thực hiện xây dựng và ban hànhcác hướng dẫn thực hành về VST trong các CSYT Song song với việc ban hànhhướng dẫn, WHO tổ chức thực hiện kêu gọi tham gia cam kết và ủng hộ chiến dịchVST tại các quốc gia và quyết định hàng năm lấy ngày 5/5 là “Ngày rửa tay toàncầu” Ngày 5/5/2009 được WHO đưa ra thông điệp kêu gọi các Quốc gia trên toànthế giới “Vì sự sống hãy rửa tay” cũng như mong muốn vào thời điểm 5/5/2010 sẽ
có khoảng 10.000 BV trên thế giới tham gia ủng hộ (22)
Tại Việt Nam, một số thông tư, quyết định, công văn đã được Bộ Y tế banhành có liên quan đến VST như: Thông tư số 16 /2018 /TT - BYT ngày 20/7/2018
về việc quy định về KSNK trong các cơ sở KBCB (23) và Quyết định số BYT (12), trong đó có nói về việc kiểm tra giám sát đảm bảo việc tuân thủ các quyđịnh về VST của NVYT, công văn 7517 / BYT-ĐTr, về việc hướng dẫn thực hiệnQTVSTTQ và sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn (14); gần đây Bộ Y tế
3916/QĐ-có ban hành Quyết định 468/QĐ-BYT ngày 19/02/2020 về việc hướng dẫn phòng
và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do vi rút Corona 2019(COVID-19) trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (10) Các can thiệp đếnTTVSTTQ của NVYT đã mang lại hiệu ứng tích cực và đáng ghi nhận, tỷ lệ NKBVtrước can thiệp 17,1% giảm xuống còn 6,9% sau khi can thiệp Cũng theo nghiêncứu của Lục Thị Thu Quỳnh và cộng sự đã cho thấy: Ở giai đoạn một, khi việcTTVST tăng từ 33,3% lên tới 55,8% sẽ làm cho tỷ lệ NKBV từ 11,5% giảm xuốngcòn 6,77% và ở giai đoạn hai, khi TTVST tăng từ 55,8% lên tới 61,9% sẽ làm cho
Trang 18tỷ lệ NKBV từ 6,77% giảm xuống còn 3,69% (24).
1.2 Tổng quan về thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y
tế và một số yếu tố ảnh hưởng
1.2.1 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế về vệ sinh tay thường quy trên thế giới
Nếu thực hiện tốt việc TTVST thì sẽ giảm thiểu tối đa được tỷ lệ NKBV, nhưngthời điểm hiện tại cho thấy việc TTVST còn thấp và theo đánh giá của WHO về việctuân thủ những điều kiện VST của cán bộ y tế trung bình là 37,8% (giao động từ 5-89%) Từ thực trạng này, WHO kêu gọi NVYT phải chú ý đến việc VST thườngxuyên, ưu tiên đầu tiên là VST bằng dung dịch sát trùng; còn nếu không có dungdịch sát trùng thì nhất thiết phải rửa bằng xà phòng thường (22)
Năm 2016, nghiên cứu của tác giả Erikawati, tại bệnh viện Dr Saiful Anwar
ở Malang, Indonesia cho thấy tỷ lệ trước can thiệp và sau can thiệp TTVST củaNVYT ở nhi khoa (24,1% lên 43,7%; p <0,001), nội khoa (5,2% đến18,5%; p <0,001) và sản phụ khoa (10,1% đến 20,5%; p <0,001) Các chương trìnhgiáo dục đã cải thiện sự tuân thủ VST và tăng cường kiến thức về VST của NVYT ởhai trong ba khoa tại bệnh viện Dr Saiful Anwar có nguồn lực hạn chế ở Indonesiađược can thiệp, theo kết quả nghiên cứu thì công tác đào tạo mô hình vai trò có tácđộng nhiều nhất trong thiết lập này Tuy nhiên, điều chỉnh chiến lược là cần thiết đểcải thiện hơn nữa công tác VST tại bệnh viện Dr Saiful Anwar (1)
Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2015 tới 8/2016, nghiên cứu của LiShen và cộng sự được thực hiện ở BV Y học cổ truyền Tây An, Trung Quốc chothấy tỷ lệ TTVST là 66,27%, tuân thủ đúng quy trình đạt tỷ lệ 47,75% đây làmột tỷ lệ VST trước can thiệp khá cao (25) Tương tự theo đánh giá của FarinazFarhuodi và các cộng sự tại 14 khoa trên một BV đại học ở Shiraz của Iran cũngcho thấy sự TTVST của NVYT với tỷ lệ 29,8% (2) Nghiên cứu của Shan Zhang
BN và cộng sự (2019) tại Bắc Kinh, Trung Quốc cho thấy tỷ lệ TTVSTTQ trungbình của NVYT là 26,6% (26) Đặc biệt với tình hình diễn biến phức tạp của dịchbệnh COVID-19 thì công tác VST hết sức quan trọng, điều đó thể hiện tại nghiêncứu của Qian Zhou và cộng sự (2020) về đo lường sự tuân thủ VST dựa trên hướng
Trang 19dẫn COVID-19 tại Trung Quốc cho thấy tỷ lệ TTVSTTQ chung là 79,44%; tuân thủhành vi VST 96,71%; tuân thủ quy trình VST là 95,74% (3).
Qua các nghiên cứu cho ta thấy sự chuyển biến tích cực của NVYT trongviệc TTVSTTQ ở thời điểm sau khi có sự can thiệp, đồng thời có thể khẳng địnhrằng việc tổ chức tập huấn, đào tạo cũng như việc giám sát TTVSTTQ tại cácCSYT là yếu tố gây ảnh hưởng nhiều nhất đến tỷ lệ tuân thủ của NVYT trong việcthực hiện VSTTQ
1.2.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại Việt Nam
Trong cuộc sống hàng ngày, một số hành vi thường gặp của nhiều ngườinhư: dùng tay dụi mắt, quẹt miệng hoặc cầm nắm vật dụng bẩn nhưng lại khôngVST sạch, điều đó đã vô tình làm “cầu nối” giúp vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào
cơ thể và có thể gây một số bệnh nguy hiểm Có thể thấy VST là một biện phápkhá đơn giản, ít tốn kém, tiện lợi và hiệu quả nhất trong KSNK do WHO phátđộng Với chiến dịch "Bảo vệ sự sống: hãy rửa tay", hưởng ứng lời kêu gọi củaWHO chiều ngày 20/05/2009 Việt Nam là quốc gia thứ 118 ký kết tham giaChiến dịch này với các hoạt động như tiếp tục triển khai chiến dịch VST nhằmthúc đẩy và cải thiện thực hành VST của cán bộ y tế trong các BV tại Viêt Nam.Kết quả đạt được chủ yếu như trang bị phương tiện VST, đào tạo, còn tỷ lệTTVST tại các cơ sở y tế vẫn còn thấp (27)
Các quyết định, thông tư hoặc công văn hướng dẫn được Bộ Y tế ban hành
có đề cập đến VST như: Thông tư 16/ 2018/ TT-BYT ngày 20/7/ 2018 quy định
về việc tổ chức thực hiện KSNK trong các cơ sở y tế, trong thông tư có qu y địn h
là khi thực hiện công tác điều trị, chăm sóc cho NB, nhân viên y tế phải đảm bảoTTVST theo đúng và đủ quy trình trong các hướng dẫn của cơ sở y tế (23), đặcbiệt Qu yết địn h số 3916/QĐ-BYT năm 2017, trong đó đã hướng dẫn về thựchành VST trong CSYT (12) Thời gian gần đây cho thấy, các phong trào VST đãđược Bộ Y tế tổ chức phát động ở các BV và ở cộng đồng Tại BV Bạch Mai có tỷ
lệ cán bộ y tế thực hiện VST trước khi thăm khám NB là 26% và tỷ lệ VSTTQtrước khi chuyển từ thao tác bẩn sang thao tác sạch trên cùng một NB là 4,2% (28)
Một nghiên cứu của Trần Thị Thúy Hằng và Phan Thị Hằng ở BV Hùng
Trang 20Vương tại thành phố Hồ Chí Minh về tổ chức đánh giá hiệu quả chiến dịch “Bàn taysạch” cho ta thấy, trong 24.892 cơ hội VST thì việc TTVST trước can thiệp là 29%
và tăng lên 40% (2011), 53% (2012) sau can thiệp, điều đó giúp cải thiện sựTTVST và làm giảm tỷ lệ NKBV (29) Nghiên cứu năm 2012 của Nguyễn ThịHồng Anh cũng cho ta thấy tỷ lệ các cơ hội VST được tuân thủ của NVYT chiếm58%, tuân thủ buổi chiều có tỷ lệ thấp hơn buổi sáng (50,3% so với 60,7%) (4).Nghiên cứu tại khoa Nội tổng quát thuộc BV Chợ Rẫy của Trương Ngọc Hải vàcộng sự tổ chức đánh giá về TTVST cho kết quả sự TTVST chung của NVYTtrước khi can thiệp chiếm tỷ lệ là 25,8% (30)
Nghiên cứu năm 2014 của Phùng Văn Thủy cho ta thấy sự t uân thủ củaNVYT về các cơ hội VST chiếm 41,7% và NVYT có tỷ lệ thực hành VSTTQ là14,8% (31) Cũng như nghiên cứu của Dương Nữ Tường Vy, nghiên cứu chỉ ra rằngsau khi can thiệp những biện pháp tăng cường VST thì sự TTVST tăng từ 14,8% lênđến 43,7% sau can thiệp và tỷ lệ tuân thủ đúng QTVST của NVYT tăng tỷ lệ từ62,1% lên 82,3% (32) Tiếp theo là nghiên cứu năm 2015 của Hoàng Thị Hiền, kếtquả cho thấy việc TTVSTTQ đúng quy định chiếm 52,9% Sự TTVSTTQ củanhân viên y tế ở cơ hội sau khi tham gia tiếp xúc với dịch cơ thể, máu là cao nhấtchiếm 100% và sau khi động chạm vào đồ vật; bề mặt xung quanh NB là thấpnhất chiếm 66,2% (33)
Trong năm 2017, nghiên cứu tại BV tai mũi họng của Trần Thị Thu Trang
và cộng sự cho thấy tỷ lệ TTVST chung của NVYT tăng từ 24,6% lên tới 55,1%sau can thiệp (với p < 0,001) (34) Tương tự nghiên cứu tại Viện Bỏng Quốc Giacủa Nguyễn Thị Hương và cộng sự cho ta thấy tỷ lệ thực hiện VST của NVYT từ28,9% tăng lên tới 46,5%; còn việc chấp hành QTVST từ 14,4% tăng lên tới 35,8%(P<0,05) (35) Cũng như nghiên cứu của Nguyễn Quang Toàn và cộng sự tại BVTrung ương Quân đội 108 cho thấy tỷ lệ TTVST là 58,71% (36)
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền tại BV Tim Hà Nội năm 2018
về đánh giá TTVSTTQ của ĐD cho thấy tỷ lệ điều dưỡng TTVSTTQ là 46% (37).Cũng như nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương thì tỷ lệ điều dưỡng TTVSTTQ43%, qua đó cho thấy tỷ lệ TTVSTTQ nằm ở mức trung bình so với tổng chung
Trang 21bình của các BV (38).
Gần đây nhất là trong năm 2019 nghiên cứu tại bệnh viện Y học cổ truyềntỉnh Đắk Lắk của Phạm Thị Thuỷ chỉ ra rằng tỷ lệ tuân thủ cơ hội VST củaNVYT đạt 63,68% (trong tổng số 396 cơ hội được quan sát), tuy nhiên tỷ lệ tuânthủ VST của NVYT chỉ chiếm 12,1% Điều đó cho thấy sự TTVST của NVYTtương đối thấp và kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự liên quan tới kiến thức
và thái độ của NVYT (6)
Trên thực tế cho thấy, trong các cơ sở y tế, NVYT chưa quan tâm tới vai trò
và tầm quan trọng của VSTTQ, vấn đề này thường do ý thức, sự nhìn nhận của một
số cá nhân chưa tốt, chưa tạo thành thói quen về VSTTQ, chưa hiểu được tầm quantrọng của việc VSTTQ Tuy nhiên, có thể nói rằng hiện nay vấn đề NKBV và việcTTVST của NVYT đã có những chuyển biến tích cực và đang ngày được quan tâmhơn Qua các nghiên cứu cho thấy tình trạng NVYT chỉ quan tâm đến các thời điểm
có nguy cơ lây nhiễm cao, trái với quy định mới nhất của việc VST trong tình hìnhdịch bệnh COVID-19 đang ngày một phức tạp thì cần phải được thực hiện thườngxuyên tất cả lúc, tất cả nơi theo đúng 5 thời điểm VST trong quá trình chăm sóc vàđiều tri bệnh nhân, những vấn đề đó sẽ được làm rõ hơn trong nghiên cứu này
1.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế
1.2.3.1 Yếu tố cá nhân
Yếu tố tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp cũng như thâm niên làm việc
Nghiên cứu của 6 đơn vị y tế chuyên sâu tại Italia cho thấy tỷ lệ TTQTVST
và các biện pháp phòng ngừa cho thấy nhóm trợ lý y tá tuân thủ cao hơn so vớinhóm y tá và thấp nhất là nhóm BS (86%, 45% và 28%) (39) Cũng như nghiêncứu của Đặng Thị Vân Trang cho ta thấy tỷ lệ TT VST của ĐD cao hơn BS(67,5% so với 24,6%) (40) Tương tự theo nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Huyềncũng chỉ ra rằng NVYT có nhận thức tốt về vai trò của VST là 72% và ở nữ caohơn ở nam (nữ chiếm 76,1% còn nam chỉ chiếm 62,5%), tuy nhiên việc TTVSTchỉ đạt tỷ lệ là 34%, trong đó ĐD có tỷ lệ TTVSTTQ tốt hơn BS (34,9% và 27%)
Trang 22(41) Một nghiên cứu của Mai Ngọc Xuân cũng cho thấy tỉ lệ TTVSTTQ của ĐDcao hơn BS (60,4% so với 49,6%) (5) Trong nghiên cứu của Phùng Văn Thủynăm 2014 tại bệnh viện đa khoa tỉnh vĩnh phúc những NVYT có trình độ học vấncao hơn thì sẽ TTVSTTQ cao hơn và kết quả này có ỹ nghĩa thống kê với (p<0,05)(31) Trong nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương năm 2018 tại bệnh viện Sản NhiBắc Ninh thì cho thấy yếu tố liên quan đến thực hành tuân thủ VSTTQ về nhómtuổi, giới tính, trình độ học vấn và thâm niên công tác tại bệnh viện dưới 1 năm và
từ 1 năm trở lên có sự khác biệt nhỏ tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩathống kê (p>0,05) (38)
Yếu tố khoa làm việc
Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà và cộng sự cho thấy có sự khác biệt vềTTVSTTQ giữa các khoa, việc TTVSTTQ của nhóm NVYT ở khoa Sơ sinh caonhất (55,6 %); tiếp đến là khoa Cấp cứu tổng hợp (40,9 %) và cuối cùng là khoa Hồisức tích cực – chống độc thấp nhất (27,3 %) (42)
Khối lượng công việc
Cường độ làm việc của NVYT càng cao thì số cơ hội cần VST càng nhiều,thì thời gian cho VST sẽ ít đi Vậy nên việc thực hiện đúng các hướng dẫn vềTTVST sẽ gặp một số khó khăn nhất định (43) Cũng như một nghiên cứu chỉ rarằng khi tăng thêm 10 cơ hội phải VST, thì tỷ lệ TTVST sẽ giảm xuống 5% trong 1giờ (44) Nghiên cứu của Shan Zhang BN và cộng sự (2019) tại Bắc Kinh, TrungQuốc cho thấy khối lượng công việc của điều dưỡng trung bình mỗi ca là 6,7 giờ vànghiên cứu cũng cho thấy khối lượng công việc nhiều có liên quan tiêu cực đến tỷ lệTTVSTTQ của điều dưỡng (26)
Nơi cần VST với tần suất cao hay thấp phụ thuộc vào cường độ, tính chấtlàm việc của các khoa, như khoa hồi sức cấp cứu là nơi cần VST với tần xuất cao(trung bình 20 cơ hội VST/ 01 giờ) thì việc TTVST thấp nhất với tỷ lệ là 36%,ngược laị nơi có tần suất VST thấp như khoa Nhi (trung bình 8 cơ hội VST/ 01giờ) thì việc TTVST lại có tỷ lệ tương đối cao là 59% Điều đó cũng chỉ ra rằng sựkhông đồng đều giữa khối lượng công việc và nhân lực của NVYT cũng dẫn đếntình trạng kém TTVST hơn (45) Theo nghiên cứu của Phùng Văn Thủy và Hoàng
Trang 23Thị Hiền khi thực hiện phỏng vấn NVYT cho thấy với áp lực công việc cao, khốilượng lớn, đồng thời số lượng bệnh nhân đông và một số nhân viên y tế làm thêmnhiều công việc khác nữa cho nên việc tổ chức thực hiện hết các hướng dẫn, quyđịnh của BV là hạn chế và không thực hiện vì không đủ thời gian, mà trong đó có cảcác hướng dẫn, quy định về công tác TTVSTTQ của NVYT (31), (33).
Yếu tố kiến thức, thái độ về TTVSTTQ của NVYT
Năm 2002, tại Italy, Nonile và cộng sự đã tiến hành đánh giá kiến thức, thái
độ và thực hành VST của NVYT tại các khoa Hồi sức tích cực của 24 bệnh việnvùng Campania và Calabria cho thấy 53,2% NVYT có kiến thức đúng, 96,8% cóthái độ tích cực về VST, thái độ tích cực của nhóm NVYT có trình độ học vấn cao
và nhóm nữ, lớn tuổi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm khác, tỷ lệTTVST của NVYT tại thời điểm trước khi chăm sóc người bệnh đạt 60% và sauchăm sóc đạt 72,5% (46)
Một nghiên cứu cắt ngang phân tích được tiến hành tại hai bệnh viện trườngđại học ở Iran năm 2015 sử dụng bảng câu hỏi kiến thức vệ sinh bàn tay của WHO(sửa đổi năm 2009) cho kết quả: tất cả đối tượng nghiên cứu đều có điểm kiến thức
về vệ sinh bàn tay, tuy nhiên chỉ có 10,6% y tá và trợ lý y tá có điểm kiến thức đượcđánh giá ở mức tốt (47)
Một nghiên cứu của Khaled M và cộng sự năm 2018 cho thấy kiến thức vềVST của ĐD tốt hơn BS, tuy nhiên BS lại tuân thủ tốt hơn ĐD (37,5%), nhưng tỷ lệbác sỹ VST đúng chỉ là 11,6%, đây là 1 tỷ lệ khá thấp (48) Năm 2015, một nghiêncứu được thực hiện ở hai BV trường đại học tại Iran cho thấy tất cả nhân viên y tế đều
có điểm kiến thức về VST, tuy nhiên nhóm có điểm kiến thức tốt là y tá và trợ lý y táchiếm 10,6% (15) Một nghiên cứu của Musu M và các cộng sự (2017) tại Italiatrong sáu đơn vị chăm sóc chuyên sâu, kết quả chỉ ra tỷ lệ "Vệ sinh tay trước khitiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân" (38,4%) và "Vệ sinh tay sau khi tiếp xúc trực tiếpvới bệnh nhân" (55,1%) (15)
Theo báo cáo nghiên cứu của Hoàng Thị Xuân Hương về “Tăng cường vệ sinhbệnh viện” trước và sau can thiệp của BS và ĐD cho thấy kiến thức của nhân viên y tế
về VST sau can thiệp đạt tăng 12,7% (tỷ lệ từ 59,5% tăng lên 82,5%, với p<0,001), BV
Trang 24đã tổ chức các hình thức can thiệp làm tăng sự TTVST từ 53,1% tới 60,4% (với p <0,05) Qua đó cũng cho ta thấy về kiến thức và TTVST thì ĐD là người có tỷ lệ caohơn BS (49)
Nghiên cứu năm 2012 của Nguyễn Thị Hồng Anh cho thấy ĐD có kiếnthức tốt về thực hành VST là 70,1% và kiến thức của ĐD khoa Ngoại tốt hơn
ĐD khoa Nội (với tỷ lệ là 63,6% và 36,4%) đồng nghĩa với việc sự quan tâm vềcông tác VST của khoa ngoại cao hơn so với khoa nội (4)
Một khảo sát khác về kiến thức, thái độ TTVSTTQ của BS, ĐD được thựchiện trong các khoa lâm sàng tại BV Việt Nam - Cu Ba của Lò Thị Hà, PhanThanh Tình và Quách Thị Anh Thư cho thấy 20,8% các ĐD, BS chưa có kiếnthức đúng thời điểm VST Số nhân viên y tế có thái độ đúng về 3 thời điểm VSTkhá cao với tỷ lệ: 98,0%; 90,1%; 95,0% Nhóm ĐD có kiến thức đúng VSTTQcao hơn so với nhóm BS (p<0,05), điều đó cho thấy sự quan tâm về VSTTQ củacác BS chưa được cao (50)
Nghiên cứu trong năm 2017 của Đặng Thị Thu Hương, Phạm Hồng Nhung ở
BV Nhi Trung ương cho thấy kiến thức của NVYT về VST có tỷ lệ tăng từ 60,5%lên đến 86,3% sau can thiệp (với p< 0,05) Tương tự nghiên cứu của Nguyễn QuangToàn và cộng sự cho thấy nhân viên y tế không đạt về kiến thức VST; vẫn còn18,43%, NVYT cho rằng có thể thay thế VST bằng mang găng là 27,56% và 2,2%
tỷ lệ nhân viên có thái độ không tích cực với VST
Trong năm 2018, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền nói rằng kiến thứcVSTTQ của ĐD đạt là 72% cao hơn nhiều so với ĐD chưa đạt là 28%, trong đókiến thức sắp xếp 6 bước đúng thứ tự của QTVSTTQ của ĐD là 74%; có tới 91% tỷ
lệ ĐD có thái độ tích cực về VST thường quy, đó là 1 tỷ lệ cao so với mặt bằngchung của các BV (37) Cũng như nghiên cứu năm 2018 của Nguyễn Thùy Dươngthì tỷ lệ điều dưỡng không đạt kiến thức về TTVSTTQ còn cao chiếm 31,1% Trong
đó kiến thức sắp xếp 6 bước quy trình sai lên đến 34,4%, điều đó cũng đồng nghĩavới việc ý thức và sự chấp hành TTVSTTQ tại bệnh viện chưa tốt (38)
Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền cho kết quả: về TTVST, nhómNVYT có thái độ không tích cực không TTVST cao gấp 2,7 lần so với có thái độ
Trang 25tích cực (p<0,05) (33) Tương tự nghiên cứu năm 2017 của Nguyễn Quang Toàn
và cộng sự cho thấy nhân viên không đạt về kiến thức VST là 18,43%, đặc biệtvẫn còn 27,56% tỷ lệ nhân viên cho rằng có thể thay thế VST bằng mang găng và
tỷ lệ NYT có thái độ không tích cực với VST là 2,2% (36)
Như vậy có thể thấy theo kết quả của một số nghiên cứu trên thế giới về kiếnthức, thái độ của NVYT về VSTTQ thì tỷ lệ NVYT có kiến thức, thái độ cao khônghoàn toàn đồng nghĩa với việc tỷ lệ TTVSTTQ đúng của họ cao Tỷ lệ NVYT cókiến thức, thái độ về VSTTQ tương đối cao, tuy nhiên tỷ lệ TTVSTTQ đúng lạikhông cao Đồng thời có rất ít nghiên cứu nói về tỷ lệ NVYT sắp xếp đúng thứ tự 6bước trong quy trình VSTTQ cũng như việc NVYT còn khá lúng túng khi lựa chọncác phương pháp VST hiệu quả và phù hợp tại các thời điểm VST, những vấn đề đó
sẽ được làm rõ hơn trong nghiên cứu này
1.2.3.2 Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách, tổ chức, quản lý
Các hướng dẫn, quy định của Trung tâm
Quy định VSTTQ tại các CSYT là một hình thức thể hiện ý chí của lãnh đạotại đơn vị về việc áp dụng các văn bản, quy định hướng dẫn VSTTQ vào hoàn cảnh
cụ thể của đơn vị mình Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền và Nguyễn ThịThuỳ Dương cũng chỉ ra rằng khi BV thực hiện treo các văn bản về VST tại các vịtrí quan trọng trong BV và có báo cáo với thông điệp tích cực sẽ làm thay đổi hành
vi của NVYT (37), (38)
Các biện pháp kiểm tra, giám sát tuân thủ VSTTQ
Nghiên cứu của Hoàng Xuân Hương và nghiên cứu Nguyễn Thị Hồng Anhchỉ ra rằng khi thực hiện những biện pháp kiểm tra giám sát TTVST khiến cho việctuân thủ VSTTQ nhiều hơn; đồng thời giúp nhân viên y tế cập nhật, bổ sung kiếnthức cũng như tầm quan trọng của VSTTQ nhiều hơn, từ đó có thái độ, có kiến thứccũng như thực hành TTVST tốt hơn khi điều trị, chăm sóc NB (49), (4)
Công tác thi đua và chế độ khen thưởng
Cũng Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền và Nguyễn Thị Thuỳ Dươngviệc đưa các quy định thưởng - phạt và yếu tố thi đua vào quy chế làm việc giúp choNVYT có ý thức và thúc đẩy VST thường quy tại nơi mình công tác (37), (38)
Trang 26Công tác tập huấn, đào tạo về VSTTQ
Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền cũng cho thấy các yếu tố đào tạo, tậphuấn và giám sát là yếu tố ảnh hưởng tới TTVSTTQ Việc cập nhật thường xuyênkiến thức là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới thực hành TTVSTTQ (33)
Nghiên cứu của Yang, J và cộng sự (2019) tại Hàn Quốc cho thấy trong số222.599 người tham gia, có 169.662 (76,2%) người cho biết đã được tập huấn vềrửa tay đúng cách Những người đã được tập huấn hoặc xem các tài liệu quảng cáoliên quan đến rửa tay thì có kiến thức, thực hành VSTTQ cao hơn những ngườichưa được tập huấn (p<0,001) Nghiên cứu cũng cho thấy dịch bệnh COVID-19bùng phát đã ảnh hưởng đến nhận thức của các cá nhân về hành vi rửa tay, thúc đẩyNVYT và người bệnh tuân thủ VSTTQ hơn (51)
Thiếu nhân lực KSNK thực hiện giám sát
Việc giám sát VST chưa thành thường quy ở một số cơ sở y tế vì còn đanggặp phải nhiều khó khăn về năng lực thực hiện việc giám sát còn yếu, nhân lựccòn thiếu, đặc biệt là việc lãnh đạo các cơ sở y tế chưa quan tâm nhiều đến côngtác tăng cường giám sát VST Theo nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương thì côngtác kiểm tra và giám sát trong việc thực hiện VST còn yếu và chưa đồng bộ khi chỉthực hiện hàng tháng (01 tháng/lần), việc giám sát chưa đưa vào tiêu chí đánh giáxếp loại thi đua và chưa kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm (38)
Nói chung các yếu tố về cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý như: các hướngdẫn, quy định, các biện pháp kiểm tra, giám sát tuân thủ VSTTQ, công tác thi đua
và chế độ khen thưởng, công tác tập huấn, đào tạo về VSTTQ của Trung tâm lànhững yếu tố ảnh đến thực thực hành TTVSTTQ của NVYT
1.2.2.3 Yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện
Cơ sở hoạt động của Trung tâm Y tế khang trang, sạch sẽ Đội ngũ cán bộcông chức, viên chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làmtrong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo tốt về công tác chuyên môn từhuyện đến xã Tính sẵn có của trang thiết bị phục vụ VST và khả năng tiệp cận phươngtiện VST: Trang bị phương tiện VST (khăn lau tay, bồn nước, xà phòng) tại các vịtrí VST trong các CSYT luôn giúp cải thiện TTVST ở NVYT và sự tiếp cận với nó
Trang 27cũng ngày 1 được giới hạn lại, tác động đến sự quan tâm, chú ý của cán bộ y tế ngàymột nhiều hơn về công tác VST (20)
Theo báo cáo trong nghiên cứu cũng của Voss và Widmer cho thấy quãngđường một ĐD tới bồn VST và thực hiện xong một quy trình VST thì phải mất mộtkhoảng thời gian trung bình là 62 giây Tuy nhiên, nếu thực hiện VST bằng dungdịch sát khuẩn tay nhanh ngay tại giường bệnh thì thời gian bằng 1/4 thời gian VSTthông thường (20)
Tại Việt Nam, trong buồng bệnh chỉ đạt 37,6% có bồn VST và ít trang bị khănlau tay (khăn sử dụng 1 lần), điều đó cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ TTVST của NVYT.Đặc biệt nếu bình cồn được bố trí tại phòng bệnh sẽ giúp NVYT tuân thủ VST tốthơn và tiết kiệm tối đa được 2/3 thời gian việc thực hiện VST (52)
Một số hoá chất khi thường xuyên được sử dụng trong các CSYT có thể gây rakích ứng, khô da tay; nhiều khi lo ngại hóa chất VST sẽ có tác dụng làm khô da taynên nhiều nhân viên y tế chọn cách là hạn chế VST, đồng thời nhiều NVYT cònchưa nắm được kiến thức về VST, nên nó cũng được coi là 1 yếu tố cản trở sựTTVSTTQ (45) Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại hóa chất VST có tácdụng diệt khuẩn rất tốt và đang được trong các cơ sở khám chữa bệnh Trong đó cóthể nói xà phòng thường là một hóa chất tốt và xà phòng khử khuẩn tốt hơn xàphòng thường, tuy nhiên cuối cùng tốt nhất vẫn là chế phẩm VST chứa cồn Đồngthời WHO cũng khuyến khích các NVYT thực hiện khử khuẩn tay bằng dung dịchVST chứa cồn trong 20 giây - 30 giây trong các thao tác khi thực hiện điều trị vàchăm sóc NB Phương tiện VST thường quy phải có sẵn ở mọi vị trí trong CSYT vàcần được trang bị thêm dung dịch VST chứa cồn nhằm cải thiện tốt sự TTVSTTQ,nếu phương tiện bị thiếu hoặc không đảm bảo được chất lượng sẻ gây ảnh hưởngnhiều đến TTVST của NVYT (12), (32), (36), (18)
Qua kết quả của các nghiên cứu cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếpđến sự TTVSTTQ của NVYT Nếu trang thiết bị phục vụ cho công tác VSTTQ đạtchuẩn cũng như việc tiếp cận với phương tiện VSTTQ của NVYT được dễ dàng thì
tỷ lệ TTVSTTQ của NVYT tăng lên
Phương tiện VST không phù hợp/ phương tiện thiếu
Trang 28Phương tiện VST như: bồn nước, khăn lau tay sử dụng 1 lần, xà phòng phảiluôn có sẵn ở khu vực phục vụ cho công tác chăm sóc, điều trị NB cũng như côngtác thu gom chất thải y tế Theo quy định tại các khu vực có nguy cơ lây nhiễm caocần được trang bị dung dịch VST có chứa cồn Nếu tại CSYT mà không có hoặcthiếu phương tiện VST thì đây được coi là một trong những yếu tố ảnh hưởng tiêucực đến việc TTVST tại bệnh viện và ngược lại (12).
Mang găng tay
Việc đeo găng tay trong khi thực hiện điều trị, chăm sóc cho NB của NVYT
là rất phổ biến Hiện nay một số NVYT có thói quen chỉ sử dụng một đôi găng taytrong chăm sóc, điều trị cho nhiều bệnh nhân; thói quen này tiềm ẩn nhiều nguy cơgây lây nhiễm chéo trong bệnh viện và giảm tỷ lệ TTVSTTQ của NVYT Nhưchúng ta đã biết ở 30% bàn tay của NVYT có chứa vi sinh vật khi thực hiện côngtác điều trị, chăm sóc NB có mang găng Khi đó vi sinh vật có thể sẽ xâm nhập vàobàn tay của NVYT thông qua các lỗ nhỏ ở găng hoặc trong khi tháo găng Do đó,việc mang găng không ngăn ngừa và hạn chế được ô nhiễm bàn tay và đặc biệt làkhông thay thế được VST mà còn là yếu tố ảnh hưởng đến việc làm giảm tỷ lệTTVSTTQ, đồng thời cũng làm tăng nguy NKBV (12), (44)
Qua kết quả các nghiên cứu cho ta thấy có nhiều yếu ảnh hưởng đến tỷ lệTTVST của NVYT cũng như tỷ lệ NKBV Sự quá tải và việc thiếu phương tiện vàphương tiện không phù hợp trong khi thực hiện công việc cũng như công tác giámsát chưa tốt thường dẫn đến tình trạng NVYT kém TTVSTTQ
1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Cư Jút là CSYT hạng III trực thuộc Sở Y
tế Đắk Nông, Trung tâm Y tế có 135 giường bệnh theo chỉ tiêu (thực kê 200giường) với tổng số cán bộ là 233 người Trung tâm gồm có 3 phòng chức năng, 09khoa lâm sàng - cận lâm sàng; 08 trạm y tế xã, thị trấn (8)
Chất lượng công tác khám chữa bệnh (KCB) tại đơn vị không ngừng đượcnâng cao; lượng bệnh nhân đến KCB năm sau luôn cao hơn năm trước Hàng nămthực hiện các hoạt động chuyên môn luôn đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch giao Năm
2019 công suất sử dụng giường bệnh đạt 110% với nhập nội trú 9.085 lượt NB;
Trang 29tổng số khám bệnh trong năm là 108.205 lượt, tổng số lượt phẫu thuật 1228 ca vàtổng số lượt thủ thuật 72672 ca, điều đó đồng nghĩa với việc tổng số lượt khámbệnh và nhập nội trú vượt chỉ tiêu Sở Y tế giao dẫn đến tình trạng người bệnhthường xuyên quá tải (8)
Trung tâm đã ban hành các quy định, quy trình cũng như hướng dẫn vềVSTTQ theo Quyết định 3916/QĐ – BYT, đặc biệt mới nhất là Bộ Y tế đã ban hànhQuyết định số 468/QĐ-BYT ngày 19/2/2020 về việc ban hành Hướng dẫn phòng vàkiểm soát lây nhiễm bệnh, trong đó có đề cập đến việc kiểm soát lây nhiễm bệnhCOVID-19 trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì vệ sinh tay là một trongnhững biện pháp quan trọng giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm COVID-19
Do đó công tác triển khai thực hiện VSTTQ đối với NVYT càng trở nên quan trọng,góp phần đáng kể trong việc giảm thiểu thời gian và chi phí điều trị cho bệnh nhân,cũng như việc giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm COVID-19 Việc thực hiệntất cả các dịch vụ kỹ thuật trên đều đòi hỏi NVYT phải TTVSTTQ đúng theo quytrình từ khâu chuẩn bị cho tới khâu kết thúc, trong thời điểm hiện tại VST được coi
là một trong những biện pháp quan trọng giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễmCOVID-19 Việc VST cần phải được thực hiện thường xuyên tất cả lúc, tất cả nơitheo đúng 5 thời điểm VST trong quá trình chăm sóc và điều trị NB Đồng thời cònđược Bộ Y tế đưa vào nội dung chấm điểm 83 tiêu chí hàng năm Tuy nhiên, Trungtâm đã tiến hành tổ chức việc giám sát sự TTVSTTQ ở NVYT nhưng chưa đem lạihiệu quả cao, đây cũng được coi là 1 bước hạn chế trong việc triển khai và giám sát
sự tuân thủ VST của NVYT
Mô hình tổ chức KSNK tại Trung tâm Y tế huyện Cư Jút được thực hiện theoThông tư số 16/2018 TT-BYT ngày 20/7/2018 của Bộ Y tế bao gồm:
Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn(KSNK) và Tổ KSNK: Hội đồng KSNKthành lập và kiện toàn kịp thời theo từng giai đoạn và có nhiệm vụ tham mưu, cũngnhư tư vấn và đề xuất cho Giám đốc Trung tâm về các vấn đề liên quan đến côngtác KSNK Công việc của Tổ KSNK bao gồm: Khu vực tiệt khuẩn, xử lý chất thải,
xử lý nước thải và giặt là
Qua khảo sát ban đầu tại TTYT, cho thấy hầu hết các khoa lâm sàng tại Trung
Trang 30tâm Y tế đều có các điểm VST, tuy nhiên đa số các điểm VST đều được đặt trongphòng hành chính, khu vực chờ tại các khoa và có tới 90% trong các phòng bệnh chưa
có hệ thống dung dịch sát khuẩn tay nhanh được lắp đặt nhằm phục vụ cho nhu cầuVST của nhân viên y tế, đây được coi là yếu tố thúc đẩy gia tăng tỷ lệ NKBV và giảm
sự TTVST của VNYT (11)
Trang 311.4 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng dựa vào tổng quan tài liệu, đồng thời dựatheo quyết định số 3916/QĐ - BYT của Bộ Y tế ngày 28/8/2017 (12) và tham khảonghiên cứu của Phạm Thị Thuỷ tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk năm
2019 (6), ngoài ra có sự điêu chỉnh để phù hợp với thực tế tại TTYT huyện Cư Jút
Chương 2
Khung lý thuyết nghiên cứu
TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY
- Tuân thủ VSTTQ trong các cơ hội cần VST
- Tuân thủ VSTTQ theo 06 bước của quy trình VSTTQ
tiện
- Tính sẵn có của TTB phục vụ VSTTQ:
- Khả năng tiếp cận phương tiện VSTTQ
Yếu tố cơ chế chính sách tổ chức, quản lý
- Các hướng dẫn, quy định của Trung tâm
- Kiểm tra, giám sát
- Thi đua và khen thưởng
- Đào tạo tập huấn
- Quá tải trong công việc
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng
NVYT công tác tại TTYT huyện Cư Jút
Tiêu chuẩn lựa chọn: Bác sĩ (BS), y sĩ (YS), điều dưỡng (ĐD), hộ sinh (HS),
kỹ thuật viên (KTV) trực tiếp khám, điều trị, chăm sóc và thực hiện các thủ thuậtcho bệnh nhân tại 4 khoa lâm sàng, 1 khoa cận lâm sàng, 1 Khoa khác (bao gồm tổCSKH, tổ KSNK, tổ Tăng cường) và hộ lý (HL) tham gia thu gom, phân loại chấtthải trong Trung tâm đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Những NVYT không tham gia nghiên cứu và những
trường hợp không có mặt tại thời điểm nghiên cứu
2.1.2 Nghiên cứu định tính
Lãnh đạo Trung tâm Y tế; đại diện tổ KSNK của Trung tâm; đại diện cáckhoa/bộ phận và NVYT các khoa/bộ phận
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Bắt đầu thực hiện từ tháng 02/2020 đến tháng 7/2020, trong đó thời
gian thu thập số liệu từ tháng 3 đến tháng hết tháng 6/2020
- Địa điểm: tại 4 khoa lâm sàng ((khoa Khám-Cấp cứu-Liên chuyên khoa
(CCLCK); khoa NgoạiChăm sóc sức khoẻ sinh sản (CSSKSS); khoa Nội Nhi Nhiễm; khoa Y học cổ truyền & Phục hồi chức năng (YHCT-PHCN)), 1 khoa Xétnghiệm- Chẩn đoán hình ảnh, 1 khoa Xét nghiệm- Chẩn đoán hình ảnh (XN-CĐHA), 1 Khoa khác (bao gồm tổ CSKH, tổ KSNK, tổ Tăng cường) thuộc TTYThuyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông Đây là các khoa/bộ phận hoạt động công tác chuyênmôn của NVYT diễn ra với cường độ và tần suất rất cao, do đó sẽ tạo cơ hội VSTnhiều để tiến hành quan sát theo cỡ mẫu nghiên cứu
-2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang Nghiên cứu kết hợpphương pháp định lượng và định tính trong đó nghiên cứu định tính được thực hiện
Trang 33sau khi thu thập xong số liệu định lượng, nhằm bổ sung và làm rõ hơn một số kếtquả định lượng.
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
- Nhân viên y tế: Chọn mẫu toàn bộ NVYT trực tiếp khám, điều trị, chăm
sóc, thực hiện các thủ thuật cho NB và NVYT trực tiếp phân loại chất thải với tổng
số 92 NVYT đạt tiêu chuẩn nghiên cứu
- Cơ hội VSTTQ: Đánh giá việc TTQTVST thường quy của NVYT: thông
qua các cơ hội VST phải thực hiện của NVYT, nghiên cứu áp dụng công thức cỡmẫu cho xác định một tỷ lệ:
Trong đó:
- n: Cỡ mẫu tối thiểu
- Z: là hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95%; α: mức ý nghĩa thống kê (α = 0,05)thì Z(1- α/2) = 1,96
- Chọn p = 0,636 Đây là tỷ lệ tuân thủ cơ hội VSTTQ trong nghiên cứu củaPhạm Thị Thuỷ tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk năm 2019 là 63,68%(6)
- Chọn d (Sai số cho phép) = 0,05
Áp dụng vào công thức: n= 356 số cơ hội VST
Số đối tượng thực tế tham gia nghiên cứu là 92 người; mỗi NVYT được quansát 4 cơ hội VSTTQ Số cơ hội quan sát thực hiện là 368 cơ hội
2.4.2 Nghiên cứu định tính
Chọn mẫu định tính:
Phỏng vấn sâu (PVS): 04 người:
- 01 lãnh đạo Trung tâm Y tế (Phụ lục 7): Quản lý 1
- 01 đại diện tổ KSNK (Phụ lục 7 ): Quản lý 2
- 01 đại diên phòng Kế hoạch - Nghiệp vụ (Phụ lục 7): Quản lý 3
- 01 đại diện phòng Hành chính - Kế toán (Phụ lục 7): Quản lý 4
n =
Z2(1 - /2) × p (1- p)
d2
Trang 34Thảo luận nhóm (TLN): có trọng tâm và được thực hiện trên 02 nhóm:
- Nhóm 1: Nhóm đại diện khoa/ bộ phận (Phụ lục 6): 07 người
- Nhóm 2: Nhóm nhân viên y tế (Phụ lục 6): Mỗi khoa/bộ phận chọn một 2NVYT tham gia (NVYT không tuân thủ và NVYT tuân thủ VSTTQ) đồng ý thamgia thảo luận nhóm: gồm 12 người
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
- Bảng kiểm quan sát thực hành VSTTQ được xây dựng dựa trên bộ công cụ
và hướng dẫn đánh giá TTVST của WHO và Bộ Y tế tại Phụ lục 1
- Các câu hỏi phát vấn về kiến thức và thái độ của NVYT về VSTTQ đượcxây dựng theo tiêu chuẩn của WHO và Bộ Y tế Phụ lục 2
- Tổ chức hướng dẫn phỏng vấn sâu đối tượng nghiên cứu: Có trọng tâm vàthực hiện phỏng vấn đối với phó giám đốc TTYT, Tổ trưởng KSNK, Phụ tráchphòng Kế hoạch - Nghiệp vụ và Phụ trách công tác thi đua khen thưởng thuộcphòng Hành chính - Kế toán tại Phụ lục 7
- Tổ chức hướng dẫn thảo luận nhóm đối tượng nghiên cứu: Có trọng tâm vàthực hiện trên 2 nhóm đối tượng khác nhau Phụ lục 6
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
* Thu thập số liệu định lượng
Nghiên cứu viên trực tiếp đến các khoa có NVYT tham gia nghiên cứu
Điều tra viên (ĐTV) đã bao gồm học viên và thành viên là những người cóđầy đủ kiến thức, cũng như có kỹ năng tốt trong việc giám sát, kiểm tra, đánh giá
công tác KSNK (ưu tiên thành viên trong mạng lưới hoặc trong hội đồng KSNK và đang thực hiện công tác giám sát KSNK hàng ngày).
Học viên thu thập 40% phiếu quan sát thực hành và tiến hành tổ chức trựctiếp phát vấn về kiến thức, thái độ về VST của nhân viên y tế
Điều tra viên được tập huấn trong 01 ngày về mục đích, nội dung nghiên cứu
và phương pháp thu thập số liệu
Nội dung tập huấn bao gồm: Hướng dẫn điều tra viên cách thức quan sát cơhội VST, quy trình VST 6 bước của NVYT theo đúng bảng kiểm cũng như hướng
Trang 35dẫn cách điền các thông tin đúng vào các bảng kiểm.
Danh sách đối tượng nghiêncứu: danh sách do nghiên cứu viên lập ra baogồm: Họ tên, khoa làm việc, mã số nghiên cứu, mã số này phải giống nhau trongquan sát thực hành (Phụ lục 1) và phiếu khảo sát kiến thức và thái độ TTVSTTQ(Phụ lục 2), danh sách được gửi đến Điều tra viên phân công lịch quan sát cụ thể.Đồng thời hướng dẫn điền bảng kiểm quan sát thực hành VST (Phụ lục 1) gồm 2phần: (1) Phần thôngtin hành chính; (2) Quan sát thực hành TTVSTTQ
- Phần thông tin hành chính:
+ Mã số nghiên cứu: là mã số của NVYT trong danh sách nghiên cứu
+ Khoa: là khoa mà NVYT đó công tác
+ Thời điểm quan sát: Tích vào ô "Sáng" nếu thời gian quan sát là buổi sáng,
"Chiều" nếu thời gian quan sát là buổi chiều
+ Chức danh: Chọn và khoanh tròn vào chức danh của NVYT đang quan sát
* Quan sát thực hành cơ hội VST:
Trên bảng kiểm có sẵn 4 ô tương đương 4 cơ hội VSTTQ cần quan sát đốivới 1 NVYT Điều tra viên sử dụng bảng kiểm dùng để quan sát xem NVYT cóthực hiện VST khi có cơ hội VST hay không sau đó điền vào các bảng kiểm
+ Cột kỹ thuật: Tích vào các bước mà NVYT thực hiện VSTTQ theo quytrình (bỏ bước nào thì không chọn bước đó)
Điều tra viên sẽ xuống tận các khoa cầm theo bảng danh sách đối tượng thamgia nghiên cứu để tiến hành quan sát Trong danh sách đã ghi đầy đủ thông tin cánhân; ĐTV sẽ quan sát ĐTNC thực hành và điền số thứ tự đã được mã hóa trongdanh sách trùng khớp với phiếu quan sát trước khi quan sát thực hành để tránh sựnhầm lẫn Khi quan sát không để NVYT biết sẽ cố tình thực hành tốt hơn, việc này sẽ
Trang 36phản ánh không đúng thực trạng tuân thủ VSTTQ tại Trung tâm Y tế Mỗi NVYT, mỗichức danh sẽ quan sát 4 lần (tương ứng với 4 cơ hội) vào các thời điểm khác nhautrong ngày (sáng và chiều) ĐTV sẽ quan sát trong 5 thời điểm VST, ĐTNC thực hiệnthời điểm nào thì đánh dấu vào thời điểm đó, tiếp tục quan sát ĐTNC có VST bằngnước và xà phòng hay VST bằng cồn sát khuẩn hay không Tiếp đến ĐTV quan sátĐTNC thực hiện các bước trong 6 bước của quy trình VSTTQ, làm bước nào thì ghinhận bước đó Kết thúc 1lần quan sát ĐTV có thể sang khoa khác hoặc NVYT khác vàlưu ý tránh để NVYT biết mình đang bị giam sát
Hàng ngày ĐTV đến các khoa quan sát vào khung giờ hành chính, buổi sángbắt đầu từ 7h30 đến 11h sáng, buối chiều từ 13h30 đến 16h30 được tiến hành quansát từ thứ 2 đến thứ 6, thực hiện quan sát không tham gia và điền vào bảng nhưhướng dẫn phía trên, bảo đảm số liệu thu thập phải có chất lượng và tránh được cácsai số Thời gian thu thập đủ số liệu định lượng trong khoảng 2 tháng
Mục đích quan sát để đánh giá các tỉ lệ: tuân thủ VSTTQ trong các cơ hộiphải VSTTQ; phương pháp VSTTQ và tuân thủ VSTTQ đầy đủ 6 bước quy trìnhVSTTQ
Khi thực hiện quan sát ĐTV chọn góc khuất, không để cho NVYT phát hiện
ra mình đang bị quan sát, nhưng vẫn đảm bảo quan sát được NVYT tuân thủVSTTQ như thế nào Vì nhóm ĐTV là thành viên thuộc mạng lưới, hội đồngKSNK, công việc chính là giám sát hoạt động KSNK chung nên sẽ lồng ghép việcgiám sát tuân thủ VSTTQ vào cùng với các hoạt động giám sát KSNK khác
* Điều tra kiến thức, thái độ và các yếu tố ảnh hưởng đến TTVST thường quy của NVYT
92 NVYT sau khi hoàn thành việc quan sát được điều tra viên chọn địa điểm, thờigian cụ thể mời tham gia trả lời bộ câu hỏi phát vấn điền vào phiếu (Phụ lục 2) về kiếnthức, thái độ và các yếu tố ảnh hưởng đến TTVST sau ngay buổi giao ban Trước khi tiếnhành phát vấn nghiên cứu viên, điều tra viên đã trao đổi mục đích của nghiên cứu vàcách điền phiếu NVYT đồng ý tham gia nghiên cứu, đánh dấu vào ô “đồng ý” vàtiếp tục tự điền phần trả lời vào phiếu NVYT đánh dấu vào ô “Không đồng ý” điềutra viên kết thúc phần phát vấn đối với NVYT đó Thời gian điền phiếu tối đa là 20
Trang 37phút Trong quá trình điền phiếu khách quan, minh bạch, tránh những yếu tố ảnhhưởng đến kết quả nghiên cứu Khi NVYT trả lời xong thì nộp phiếu cho điều traviên kiểm tra lại phiếu để tránh bỏ sót thông tin.
* Thu thập số liệu định tính
Nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn kết quả nghiên cứu định lượng đã thực hiệntrước đó và tìm một số giải pháp nâng cao mức độ TTVSTTQ của NVYT
Sau khi tiến hành nghiên cứu định lượng, học viên xử lý sơ bộ kết quả và có
sự điều chỉnh nội dung hướng dẫn thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu dựa trên kếtquả nghiên cứu bước đầu của nghiên cứu định lượng
Phỏng vấn sâu
Dựa vào nội dung bản hướng dẫn phỏng vấn sâu, tiến hành phỏng lãnh đạoTrung tâm Y tế, đại diện tổ KSNK, đại diện phòng Kế hoạch - Nghiệp vụ và đạidiện phòng Hành chính - Kế toán (Phụ lục 7)
Học viên trực tiếp điều hành cuộc phỏng vấn, đồng thời thêm một thư ký (đãtham gia việc giám sát TTVST), khi phỏng vấn nội dung được thư ký ghi âm lại vàsau đó tóm tắt trong biên bản có ký xác nhận
- Thời gian phỏng vấn từ 30 đến 45 phút mỗi cuộc
- Địa điểm phỏng vấn tại phòng làm việc của đối tượng nghiên cứu
là các cán bộ phụ trách khoa và NVYT có thâm niên trên 5 năm
Tiến hành thảo luận nhóm đối với cán bộ phụ trách khoa (Phụ lục 6) theo bảnhướng dẫn NVYT tham gia thảo luận nhóm 1 gồm 06 người phụ trách khoa; nhóm
2 gồm 12 nhân viên y tế đã được quan sát, phát vấn và có thời gian công tác trên 5năm
Học viên trực tiếp điều hành cuộc phỏng vấn, đồng thời thêm một thư ký ghi
âm lại nội dung cuộc thảo luận và sau đó tóm tắt bằng biên bản có ký xác nhận
Trang 38- Thời gian thảo luận nhóm: từ 45 đến 60 phút/cuộc thảo luận.
- Địa điểm thảo luận: tại Hội trường Trung tâm
2.6 Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng
- Thông tin chung của ĐTNC cứu bao gồm: Tuổi, giới, trình độ học vấn, nơicông tác, thâm niên công tác, chức danh
- Các biến số về đào tạo tập huấn: Tham gia đào tạo tập huấn, nơi tập huấn,
số lớp được đào tạo tập huấn trong 2 năm qua, hình thức nhóm học, hình thức đàotạo Tài liệu tập huấn, nhu cầu đào tạo, tập huấn; kênh cung cấp thông tin phù hợp
- Các biến số về tổ chức, quản lý bao gồm: Thực hiện kiểm tra, giám sát;hình thức, tần xuất, chế tài thưởng phạt, hình thức thưởng phạt; nguyên nhân khôngthực hiện VSTTQ
- Các biến số về kiến thức VSTTQ của NVYT: Kiến thức về tầm quan trọngcủa VST với NKBV, kiến thức về các thời điểm VST, hóa chất VST, thời gianVST; kiến thức về quy trình VST
- Các biến số về thái độ của NVYT về TTVSTTQ: mối liên quan giữa VSTvới NKBV, thái độ về VST với sử dụng găng tay, thái độ VST nhiều lần trong ngày, thái
độ khi thấy đồng nghiệp không tuân thủ VSTTQ,…
- Các biến số về thực hành bao gồm: cơ hội VST, phương pháp VST, TTVST
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính (Phụ lục 6,7, 8)
- Các yếu tố ảnh hưởng tới TTVSTTQ của NVYT: Các yếu tố cơ chế chínhsách, tổ chức, quản lý bao gồm các hướng dẫn, quy định của Trung tâm; công táckiểm tra, giam sát; công tác thi đua khen thưởng; công tác đào tạo tập huấn; nhânlực KSNK Các yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện bao gồm:
- Tính sẵn có của trang thiết bị VST (bồn VST; nước và xà phòng; dung dịch cóchứa cồn)
- Khả năng tiếp cận phương tiện VST
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành tuân thủ VSTTQ
2.7.1 Đánh giá tuân thủ VSTTQ
Cách tính: Theo WHO và BYT, để đánh giá TTVSTTQ sử dụng các chỉ số:
Trang 39- Tỷ lệ % cơ hội TTVSTTQ = (Số cơ hội có VSTTQ của NVYT / Tổng số cơ
hội VST được quan sát của NVYT) × 100%
- Tỷ lệ % NVYT tuân thủ QTVSTTQ = (Số NVYT tuân thủ QTVSTTQ / Tổng
số NVYT tham gia nghiên cứu) × 100%
- Tỷ lệ % NVYT tuân thủ VSTTQ = (Số NVYT tuân thủ VSTTQ/Tổng số
NVYT tham gia nghiên cứu) × 100%
2.7.2 Đánh giá kiến thức, thái độ về VSTTQ
Phần đánh giá kiến thức gồm 20 câu tương ứng 20 điểm, kiến thức đượcđánh giá Đạt khi tổng số điểm đạt ≥ 75% tương ứng ≥ 15 điểm, chưa đạt khi
điểm số < 15 điểm (Phụ lục 3)(6), (37).
Phần đánh giá thái độ gồm có 8 câu hỏi tương đương 8 điểm được chia làm 2mức“Không đồng ý” và “Đồng ý” để nhân viên y tế lựa chọn Điểm tối đa củaphần đánh giá thái độ là: 8 điểm Nhân viên y tế được đánh giá là có thái độ tíchcực khi số điểm ≥ 6 điểm (≥75% tổng số điểm); Chưa tích cực khi số điểm <6 điểm
(Phụ lục 4)(6), (37).
2.7.3 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VSTTQ
Các yếu tố ảnh hưởng đến TTVSTTQ của NVYT được xác định bằng:
Phương pháp định lượng: Xác định mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân,kiến thức, thái độ với TTVSTTQ
Phương pháp định tính: Thông qua kết quả thảo luận nhóm kết hợp vớiphỏng vấn sâu để phân tích các yếu tố ảnh hưởng thông qua trả lời các câu hỏi: Yếu
tố cơ chế chính sách, tổ chức, quản lý và Yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị,phương tiện ảnh hưởng như thế nào đến việc TTVSTTQ của NVYT
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
2.8.1 Số liệu định lượng
Sau mỗi ngày điều tra, nghiên cứu viên chính kiểm tra và làm sạch các phiếutrả lời của NVYT; ghép cặp phiếu phát vấn và bảng kiểm quan sát cho mỗi NVYTđược quan sát
Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu và quản lý số liệu; phần mềmStata 14.0 phân tích số liệu Áp dụng các phân tích mô tả: Tính tần số (n), tỷ lệ phần
Trang 40trăm (%) đối với biến định tính Để so sánh, tìm sự khác biệt cho biến định tính trên
1 nhóm, áp dụng fisher’s exact test Tính OR và p Mức có ý nghĩa thống kê với p <0,05
2.8.2 Số liệu định tính
Có 03 nhóm chủ đề chính: Nhóm các yếu tố cá nhân; yếu tố cơ chế chínhsách, tổ chức, quản lý; yếu tố cơ sở vật chất, TTB, phương tiện là các yếu tố ảnhhưởng của NVYT khi thực hiện VSTTQ
Nội dung mỗi cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu đều có 01 mã số khácnhau Trong thảo luận nhóm, mỗi thành viên có 01 mã số, mỗi chủ đề được đánhdấu bằng 01 màu Nghiên cứu viên chính trực tiếp nghe lại các băng ghi âm, đọccác bản gỡ băng, mã hoá và phân tích các thông tin theo chủ đề, tổng hợp thông tinđịnh tính
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Việc đối tượng tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện, có quyền từ chốitham gia nghiên cứu hoặc từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào và kết thúc cuộc phỏng vấnhoặc điền phiếu điều tra khi họ muốn, được giải thích về mục đích, nội dung nghiêncứu
Nghiên cứu được tiến hành sau khi được Hội đồng Đạo đức của Trường Đạihọc Y tế Công cộng thông qua theo Quyết định số 33/2020/YTCC-HD3, ngày 17tháng 02 năm 2020
Số liệu trong nghiên cứu chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, khôngphục vụ cho mục đích nào khác
Kết quả nghiên cứu được phản hồi và báo cáo cho lãnh đạo Trung tâm khikết thúc nghiên cứu để việc tuân thủ VSTTQ tại Trung tâm Y tế được thực hiện tốthơn