ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng: Đối tƣợng là CBYT tại Trung tâm, bao gồm tất cả các bác sỹ, y sĩ, điều dƣỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dƣợc sĩ, đang làm việc tại TTYT, thời gian công tác tối thiểu 2 năm tính đến tháng 12/2019 đã đƣợc cấp CCHN
2.1.2 Nghiên cứu định tính: Đối tượng là Giám đốc Trung tâm; Trưởng phòng Tổ chức hành chính; Trưởng phòng Kế hoạch Nghiệp vụ; Trưởng phòng điều dưỡng; bác sĩ, y sĩ, điều dƣỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dƣợc sĩ
Đối tượng của bài viết là các cán bộ có trình độ chuyên môn khác nhau như kế toán, công nghệ thực phẩm, văn thư lưu trữ và công nghệ thông tin Những đối tượng này không được cấp chứng chỉ hành nghề, điều này ảnh hưởng đến khả năng hành nghề của họ.
- Đối tƣợng đang nghỉ thai sản, nghỉ ốm, đi học trong thời gian nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: đƣợc tiến hành từ tháng 03/2020 đến tháng 9/2020
- Địa điểm nghiên cứu: tại TTYT huyện Tân Thạnh.
Thiết kế nghiên cứu
Áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả, kết hợp phương pháp định lượng và định tính.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng Áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ CBYT bao gồm Bác sĩ, Y sĩ, Điều dƣỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dƣợc sĩ đang làm việc tại Trung tâm có mặt tại thời điểm và đáp ứng là đối tượng nghiên cứu Cỡ mẫu thực tế là 113 người
Số liệu thứ cấp các báo cáo công tác ĐTLT giai đoạn 2017-2019 và các báo cáo, số liệu khác có liên quan
Chọn mẫu có chủ đích các đối tƣợng:
- Lãnh đạo bệnh viện: 01 Giám đốc TTYT huyện
- 03 Trưởng các phòng: phòng Tổ chức Hành chính, phòng Kế hoạch Nghiệp vụ, phòng Điều dƣỡng
- 06 CBYT các chức danh bác sĩ, y sĩ, điều dƣỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dƣợc
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu định lượng
* Công cụ thu thập số liệu:
- Sử dụng bộ câu hỏi phát vấn để thu thập thông tin từ CBYT của Trung tâm (Phụ lục 3)
Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm một lần trên sáu đối tượng, bao gồm trưởng phòng Tổ chức hành chính, phòng Kế hoạch nghiệp vụ, cùng với nhóm bác sĩ, điều dưỡng và dược sĩ Sau khi thử nghiệm, chúng tôi đã tiến hành chỉnh sửa để đảm bảo tính phù hợp.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo công tác ĐTLT của TTYT huyện Tân Thạnh, bao gồm các báo cáo tổng kết hàng năm trong giai đoạn 2017-2019, kế hoạch chương trình ĐTLT, và danh sách cán bộ y tế tham gia ĐTLT trong giai đoạn này.
* Phương pháp thu thập số liệu định lượng
Nghiên cứu viên chính đã tổ chức buổi tập huấn cho các điều tra viên, hướng dẫn họ về phương pháp thu thập số liệu Trong buổi tập huấn, các điều tra viên cũng được hướng dẫn cách lập danh sách cán bộ của từng khoa phòng và chọn đối tượng tham gia nghiên cứu theo tiêu chuẩn đã đề ra.
Dữ liệu được thu thập trực tiếp từ các cán bộ y tế tại Trung tâm Nghiên cứu viên đã liên hệ với trưởng khoa để sắp xếp thời gian phát phiếu lấy thông tin Họ thông báo mục đích nghiên cứu, gửi phiếu đồng ý tham gia và hướng dẫn chi tiết cách trả lời bộ câu hỏi Sau khi hoàn tất, nghiên cứu viên tổng hợp các phiếu tự điền và kiểm tra về số lượng cũng như chất lượng.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo công tác đào tạo liên tục của Trung tâm Y tế huyện Tân Thạnh, bao gồm thông tin từ sổ theo dõi đào tạo, báo cáo công tác và các tài liệu liên quan.
Nghiên cứu viên đã tiến hành thu thập dữ liệu hai lần từ sổ theo dõi đào tạo và báo cáo công tác ĐTLT tại phòng KHNV, đồng thời chỉnh sửa phiếu thu thập thông tin cho phù hợp.
2.5.2 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu định tính
Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu được thiết kế riêng cho từng đối tượng PVS, bao gồm Giám đốc Trung tâm (PVS1), Trưởng phòng Tổ chức hành chính, Trưởng phòng Điều dưỡng, và Trưởng phòng Kế hoạch nghiệp vụ (PVS2), cùng với các đối tượng như Bác sĩ, Y sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, và dược sĩ (PVS3) Các câu hỏi này có thể được điều chỉnh và bổ sung trong quá trình nghiên cứu.
Nghiên cứu viên sắp xếp lịch hẹn với người được phỏng vấn, dựa vào hướng dẫn để thực hiện
Thời gian trung bình cho mỗi cuộc phỏng vấn sâu là 30 phút, diễn ra tại phòng giao ban của TTYT Học viên sẽ trực tiếp chủ trì phỏng vấn, trong khi một điều tra viên sẽ ghi chép và ghi âm nếu được sự đồng ý của đối tượng.
Sau khi thực hiện phân tích định lượng, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng để hiểu rõ hơn về thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo lực lượng tại Trung tâm.
Các biến số nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các thông tin quan trọng như giới tính, nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ chuyên môn, chức danh nghề nghiệp, bộ phận công tác, thâm niên công tác và phạm vi hoạt động chuyên môn.
Trong giai đoạn 2017-2019, thực trạng đào tạo liên tục (ĐTLT) của cán bộ y tế (CBYT) được thể hiện qua nhiều biến số quan trọng Tỷ lệ CBYT tham gia ĐTLT, tỷ lệ phù hợp với chứng chỉ hành nghề, và tỷ lệ tham gia đủ 48 tiết trong 2 năm liên tiếp đều là những chỉ số đáng chú ý Bên cạnh đó, số khóa và số lượt ĐTLT, hình thức tổ chức đào tạo, địa điểm và thời lượng đào tạo cũng cần được xem xét Nhận xét về các khóa ĐTLT, kinh phí tham gia, lý do tham gia, cùng những yếu tố tác động tích cực đến việc tham gia ĐTLT cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo này.
Nhu cầu tham gia ĐTLT bao gồm nhiều yếu tố quan trọng như thời gian, địa điểm, giảng viên, hình thức đào tạo, kinh phí, cũng như nhu cầu về chuyên môn, quản lý và kỹ năng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục (ĐTLT) bao gồm: nhóm yếu tố cá nhân của đối tượng tham gia ĐTLT, nhóm yếu tố liên quan đến Trung tâm y tế, và một số yếu tố khác.
2.6.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính
- Thực trạng công tác tham gia ĐTLT của CBYT
- Nội dung cần đƣợc ĐTLT
- Những thuận lợi, khó khăn trong ĐTLT
- Một số yếu tố cá nhân: tuổi tác, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, …
- Kinh phí cho công tác đào tạo liên tục
Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá
Đào tạo liên tục trong ngành y tế bao gồm các khóa đào tạo ngắn hạn nhằm bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng và nghiệp vụ chuyên môn Các hình thức đào tạo này bao gồm đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật và các khóa đào tạo chuyên môn khác, không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân.
Theo Thông tư 22/2013/TT-BYT, để đáp ứng yêu cầu đào tạo liên tục, cán bộ y tế (CBYT) cần có chứng chỉ hành nghề và đang thực hiện khám bệnh, chữa bệnh Trong giai đoạn 2018-2019, CBYT phải hoàn thành ít nhất 48 tiết đào tạo liên tục được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ.
Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do Sở Y tế tỉnh Long An cấp cho những cá nhân đáp ứng đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009.
Chủ đề chuyên môn bao gồm kiến thức về khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em, kỹ năng điều dưỡng cơ bản, kiểm soát nhiễm khuẩn, y tế dự phòng, phòng chống bệnh truyền nhiễm, cũng như triển khai và quản lý các bệnh không lây nhiễm.
- Các chủ đề quản lý: là các kỹ năng về quản lý chất lƣợng bệnh viện, quản lý khoa phòng, quản lý điều dƣỡng
Kỹ năng mềm là những kỹ năng thiết yếu trong cuộc sống, bao gồm kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, thuyết trình và tổ chức cuộc họp Những kỹ năng này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả công việc mà còn nâng cao khả năng tương tác xã hội.
Xử lý và phân tích số liệu
2.8.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định lƣợng
Số liệu phát vấn sau khi thu thập đƣợc xử lý sạch, nhập liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
Số liệu thứ cấp đƣợc tổng hợp, chọn lọc, nhập vào máy tính và thống kê bằng phần mềm excel
2.8.2 Xử lý thông tin nghiên cứu định tính
Thông tin định tính được xử lý, mã hóa và phân tích theo từng chủ đề nghiên cứu, với các nội dung liên quan được trích dẫn phù hợp với từng mục tiêu nghiên cứu.
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo quyết định số 127/2020/YTCC-HD3 vào ngày 30/3/2020 Đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu trước khi tham gia trả lời khảo sát, và nghiên cứu chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý của họ Để đảm bảo tính khách quan và trung thực của thông tin thu thập, các đối tượng nghiên cứu không cần ghi tên vào phiếu khảo sát.
Mỗi đối tượng nghiên cứu sẽ được cấp một mã số để ghi vào phiếu khảo sát Thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và sẽ được bảo mật, chỉ có nghiên cứu viên mới có quyền truy cập.
Nghiên cứu này hỗ trợ việc xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục cho cán bộ y tế trong thời gian tới, với nội dung phù hợp và nhận được sự đồng ý, ủng hộ từ Lãnh đạo Trung tâm.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về CBYT tại TTYT Đặc điểm Số lƣợng
(tuổi trung bình 38,80; min: 26; max: 56)
Tình trạng hôn nhân Độc thân 14 12,4
Ly dị, ly thân, góa 3 2,7
Chúc danh chuyên môn Bác sĩ 31 27,4
Trình độ chuyên môn CKII/ Tiến sĩ 0 0
CKI/ Thạc sĩ 17 15,0 Đại học 33 29,2
Bộ phận công tác Khối hành chính 13 11,5
Thâm niên công tác Dưới 5 năm 10 8,8
Tổng số cán bộ y tế tham gia nghiên cứu là 113 người Kết quả nghiên cứu cho thấy nữ giới chiếm 67,3%
Tuổi trung bình là 38,80 ± 8,9, theo nhóm tuổi thì nhóm từ 31-40 tuổi chiếm đa số (40,7%), thấp nhất là cán bộ có độ tuổi trên 50 (15%)
Tình trạng hôn nhân đa số là kết hôn 85%, độc thân 12,4% và thấp nhất là ly dị, ly thân, goá 2,7%
Các chức danh chuyên môn bác sĩ/ y sĩ tương đương nhau (27,4%/ 23,9%), thấp nhất là kỹ thuật y chỉ có 1,8%
Về trình độ chuyên môn, 50,4% là trung cấp, đại học 29,2%, CKI/ thạc sĩ 15% và 5,3% cao đẳng, không có cán bộ có trình độ CKII/ tiến sĩ
Phân theo bộ phận công tác thì cán bộ thuộc khối lâm sàng chiếm đa số 52,2%, thấp nhất là khối hành chính 11,5%
Cán bộ y tế có thâm niên công tác cao nhất từ 10 đến 19 năm chiếm 38,1%, thấp nhất là dưới 5 năm 8,8%
Bảng 3.2 Cơ cấu CBYT phân theo chức danh chuyên môn
CK I/ thạc sĩ Đại học Cao đẳng Trung cấp Tổng số n % n % n % n %
Tỷ lệ cán bộ y tế có trình độ chuyên khoa I/Thạc sĩ là 15,04%, trong khi tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học đạt 29,20% Tỷ lệ thấp nhất thuộc về trình độ cao đẳng với 5,31%, và tỷ lệ cao nhất là ở trình độ trung cấp, chiếm 50,44%.
Tỷ lệ CBYT có trình độ chuyên môn CK 1/ Thạc sĩ cao nhất là chức danh Bác sĩ 13,27%, thấp nhất là chức danh Điều dƣỡng, Kỹ thuật y là 0%
Tỷ lệ CBYT có trình độ chuyên môn Đại học cao nhất là chức danh Bác sĩ 14,16%, thấp nhất là chức danh Kỹ thuật y 0.88%
Tỷ lệ CBYT có trình độ chuyên môn Cao đẳng cao nhất là chức danh Dƣợc sĩ 2.65%, chức danh Kỹ thuật y là 0 %
Tỷ lệ CBYT có trình độ chuyên môn Trung cấp cao nhất là chức danh Y sĩ chiếm 23.89%, thấp nhất là chức danh Kỹ thuật y 0.88 %
Nghiên cứu định tính đã tìm hiểu nguyên nhân tình trạng chuyên môn trung cấp còn nhiều, kết quả là do:
CBYT không trúng tuyển mặc dù đơn vị đã tạo điều kiện cho việc cử đi học Trung tâm đã xây dựng kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho giai đoạn 2016.
Trong năm 2020, chúng tôi đã tập trung vào việc cử cán bộ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt là trong đào tạo bác sĩ Tuy nhiên, trong vòng 3 năm qua, chỉ có 4 người trúng tuyển.
Số lượng cán bộ y tế có chuyên môn là y sỹ vẫn còn nhiều, tuy nhiên, số người đăng ký thi liên thông lên đại học y và đạt yêu cầu không cao.
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ CBYT phân theo bộ phận công tác
Tổng số cán bộ y tế có chức danh chuyên môn cho thấy Bác sĩ chiếm tỷ lệ cao nhất với 27,43%, tiếp theo là Y sĩ với 23,89%, trong khi tỷ lệ chuyên môn Kỹ thuật Y chỉ đạt 1,8%.
Khối hành chính, tỷ lệ có chuyên môn cao nhất là chức danh Bác sĩ 48,39%, chức danh Điều dƣỡng 23,08%, thất nhất là Y sĩ, Kỹ thuật y là 0%
Các khoa lâm sàng, tỷ lệ có chuyên môn cao nhất là chức danh Bác sĩ 33,90%, thấp nhất là Kỹ thuật y 0%
Các khoa cận lâm sàng, tỷ lệ có chuyên môn cao nhất là chức danh Dƣợc sĩ 69,57%, thấp nhất là Hộ sinh 0%
Khối hành chính Các khoa lâm sàng Các khoa cận lâm sàng Hệ Dự phòng
Bác sĩ Y sĩ Điều dưỡng Dược sĩ Hộ sinh Kỹ thuật Y
Các khoa hệ dự phòng, tỷ lệ có chuyên môn cao nhất là chức danh Y sĩ 61,11%, thấp nhất là Điều dƣỡng, Kỹ thuật y 0%
Bảng 3.3 Tỷ lệ cơ cấu bộ phận, chuyên môn theo TT 08/TTLT-BYT-BNV
STT Cơ cấu Số lƣợng Tỷ lệ % Tỷ lệ theo quy định
Cận lâm sàng và Dƣợc 23 24,21% 22-15%
Bác sĩ/ điều dƣỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên 31/34 1/1.08 1/3-1/3.5
Dƣợc sĩ Đại học/ Bác sĩ 7/31 1/4.42 1/8-1/1.5
Dƣợc sĩ Đại học/ Dƣợc sĩ trung học 7/13 1/1.85 ẵ-1/2.5
Tỷ lệ cán bộ y tế theo cơ cấu bộ phận chưa đáp ứng quy định của Thông tư 08/TTLT-BYT-BNV, với sự mất cân đối rõ rệt giữa bộ phận cận lâm sàng và dược (chiếm 24,21%) so với bộ phận quản lý, hành chính (chỉ 13,68%).
Về cơ cấu chuyên môn, tỷ lệ giữa chức danh bác sĩ trên các chức danh điều dƣỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên là 1/1.08, chƣa đạt theo quy định
Nghiên cứu định tính đã tìm hiểu nguyên nhân tình trạng mất cân đối nhân lực, kết quả có 2 nguyên nhân:
Trong kỳ tuyển dụng viên chức gần đây, đơn vị đã lập kế hoạch tuyển dụng cho các vị trí điều dưỡng và kỹ thuật y, nhưng số lượng ứng viên dự tuyển không đạt yêu cầu theo chỉ tiêu đã đề ra.
Kế hoạch tuyển dụng chưa được phê duyệt: "Từ năm 2017 đến nay, Sở Y tế chưa phê duyệt kế hoạch tuyển dụng viên chức mới, dẫn đến việc không bổ sung được nhân lực cho các bộ phận còn thiếu" (PVS2-CBQL).
Bảng 3.4 Tỷ lệ CBYT phân theo chứng chỉ hành nghề
Phạm vi hoạt động chuyên môn Số lƣợng (n) Tỷ lệ %
KCB bằng phương pháp YHCT 5 4,4
KCB hệ nội và nhi khoa 1 0.9
KCB hệ nội và CK mắt 1 0.9
KCB nội khoa và CĐHA 2 1.8
KCB nội khoa va GMHS 1 0.9
KCB thông thường CK mắt và thực hiện chức năng điều dƣỡng 1 0.9
Tham gia sơ cứu ban đầu, KCB thông thường 12 10.6
Thực hiện chức năng điều dƣỡng 30 26.5
Thực hiện chức năng hộ sinh 12 10.6
Thực hiện kỹ thuật HAYH 1 0.9
Thực hiện kỹ thuật Xét nghiệm 2 1.8
Tỷ lệ cán bộ y tế có chứng chỉ hành nghề thực hiện chức năng điều dưỡng cao nhất đạt 26,5%, trong khi tỷ lệ khám chữa bệnh ở các chuyên khoa như Răng hàm mặt, mắt, tai mũi họng và sản phụ khoa chỉ chiếm 0,9%.
Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng Trung tâm Y tế đa chức năng hiện tại còn thiếu một số chuyên khoa cần thiết so với cơ cấu chuyên khoa đã có.
“… theo quy định về chức năng nhiệm vụ cần thiết của một Trung tâm Y tế đa chức
HUPH năng thì hiện nay tại Trung tâm còn thiếu một số chuyên khoa như: Y học dự phòng,
Ban Giám đốc đã có kế hoạch cử bác sĩ đào tạo các chuyên khoa như y tế công cộng, hồi sức cấp cứu, lão khoa, nội tiết và tâm thần Điều này nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ các chức năng theo quy định của Bộ Y tế.
Thực trạng công tác đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm
3.2.1 Thực trạng về nội dung ĐTLT
Bảng 3.5 Tỷ lệ khóa đào tạo liên tục đƣợc tổ chức phân theo nội dung
(Số liệu thu thập từ phòng chức năng)
Năm Chuyên môn Quản lý Kỹ năng mềm Tổng n % n % n % n %
Trong giai đoạn 2017 - 2019, các khoá ĐTLT chủ yếu đào tạo về chuyên môn 83,15%, đào tạo liên tục về quản lý chỉ đạt 7,59% và kỹ năng mềm đạt 9,26%
Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng Trung tâm tập trung vào hai lĩnh vực chính: đào tạo chuyên môn và kỹ năng mềm, trong khi kỹ năng quản lý chưa được chú trọng Trung tâm đã lên kế hoạch đào tạo các chuyên khoa nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ y tế, đáp ứng nhu cầu điều trị và chăm sóc bệnh nhân Đồng thời, cần chú trọng rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử, nâng cao tinh thần phục vụ, củng cố niềm tin và sự hài lòng của bệnh nhân.
Bảng 3.6 Tỷ lệ CBYT đƣợc tham gia các khóa ĐTLT theo nội dung
(Số liệu thu thập từ phòng chức năng)
Năm Chuyên môn Quản lý Kỹ năng mềm Tổng n % n % n % n %
Nhìn chung, số lƣợt cán bộ tham gia đào tạo liên lục theo chuyên môn đạt tỷ lệ cao nhất 86,67%, về quản lý đạt thấp nhất 1,19%
Nghiên cứu định tính đã chỉ ra rằng nguyên nhân tham gia đào tạo liên tục (ĐTLT) không đồng nhất giữa các cán bộ y tế (CBYT) do họ được phân công theo chuyên môn Lãnh đạo tập trung vào việc cập nhật kiến thức chuyên môn, dẫn đến việc khi nhận được giấy mời hoặc công văn từ tuyến tỉnh về các lớp tập huấn chuyên đề, đơn vị đều cử cán bộ tham gia.
CBYT vẫn chưa chú trọng đầy đủ đến việc đào tạo kỹ năng mềm Mặc dù trung tâm tổ chức 1-2 buổi mỗi năm về quy tắc ứng xử và kỹ năng giao tiếp, nhưng số lượng cán bộ tham gia rất hạn chế Nguyên nhân là do một số người phải ra trực, trong khi những người còn lại bận rộn với công việc chuyên môn, dẫn đến tỷ lệ tham gia thấp.
3.2.2 Thực trạng về hình thức tổ chức ĐTLT
Bảng 3.7 Thực trạng về hình thức tổ chức ĐTLT Thực trạng về hình thức ĐTLT Số lƣợng (nS) Tỷ lệ (%)
Tập trung giảng lý thuyết 14 26,41
Lý thuyết và thực hành 12 22,64
Trong giai đoạn 2017-2019, hình thức tổ chức các khoá ĐTLT chủ yếu diễn ra trực tuyến với tỷ lệ 39,62% Các khoá học tập trung vào giảng lý thuyết chiếm 26,41%, trong khi hình thức kết hợp lý thuyết và thực hành là 22,64% Ngoài ra, hội thảo và hội nghị cũng đóng góp một phần với tỷ lệ 11,32%.
Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng hình thức đào tạo trực tuyến mang lại nhiều lợi ích cho cán bộ tham gia Cụ thể, các lớp tập huấn trực tuyến được tổ chức thường xuyên, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ y tế tham gia, không chỉ giúp nâng cao trình độ chuyên môn mà còn đáp ứng đủ số tiết đào tạo liên tục theo quy định.
3.2.3 Thực trạng về cách thức tổ chức ĐTLT
Bảng 3.8 Số khóa và số lƣợt ĐTLT CBYT đã tham gia đào tạo qua các năm theo địa điểm
(Số liệu thu thập từ phòng chức năng) Đào tạo tại chỗ Cử đi đào tạo Tổng số
Số lƣợt CBYT đƣợc đào tạo
Số lƣợt CBYT đƣợc đào tạo
Số lƣợt CBYT đƣợc đào tạo
Trong giai đoạn 2017-2019, CBYT đã tham gia tổng cộng 53 khóa đào tạo liên tục, bao gồm 33 khóa đào tạo tại chỗ và 20 khóa đào tạo cử đi nơi khác.
Trong 3 năm qua, tổng số lượt cán bộ y tế (CBYT) tham gia đào tạo là 360 lượt, với 113 CBYT tại Trung tâm Trung bình mỗi CBYT được đào tạo 1,06 lượt/năm, trong đó 0,93 lượt là tham gia đào tạo tại chỗ và chỉ 0,13 lượt được cử đi học Năm 2017 ghi nhận số khóa và lượt CBYT được cử đi đào tạo nơi khác thấp nhất, với trung bình chỉ 0,07 lượt/năm.
Trong giai đoạn 2017-2019, trung bình mỗi khóa học tổ chức tại chỗ chỉ có 9,4 cán bộ tham gia, trong khi số lượng cán bộ được cử đi đào tạo tại nơi khác chỉ đạt 2,1 người mỗi khóa.
Khóa học tại Trung tâm chỉ có từ 6-11 người tham gia, cho thấy số lượng cán bộ tham dự quá ít Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng nguyên nhân là do khóa học bị ghép với nhiều đối tượng khác, bao gồm cả cán bộ y tế tại các Trạm y tế xã và cán bộ y tế tại Phòng khám tư nhân Điều này dẫn đến số lượng cán bộ trung bình mỗi khóa học của CBYT tại Trung tâm không đạt yêu cầu.
Các lớp tập huấn tại Trung tâm đã tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ y tế tham gia, và kết quả này phù hợp với nghiên cứu định tính.
Hình thức tập huấn chuyên đề trực tuyến trong hoạt động đào tạo tại chỗ những năm gần đây mang lại sự thuận tiện cho cán bộ y tế tham gia, đồng thời đáp ứng nhu cầu thực hiện công việc hiệu quả.
Việc tham gia các lớp đào tạo liên tục tại Trung tâm giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho học viên Họ có cơ hội cập nhật kiến thức mới mà không cần phải di chuyển xa.
Số lượng khóa đào tạo và lượt tham gia rất thấp do các lớp cử đi đào tạo yêu cầu di chuyển xa, gây tốn kém về chi phí và thời gian.
TP Hồ Chí Minh, khi lãnh đạo cử cán bộ tham gia học, có một số ít từ chối vì lo ngại về khoảng cách, thời gian và chi phí đi lại.
Bảng 3.9 Thực trạng về khoảng thời gian tổ chức các khóa đào tạo trong giai đoạn 2017-2019
(Số liệu thu thập từ phòng chức năng)
Khoảng thời gian Đào tạo tại chỗ Cử đi đào tạo Tổng số
Số lƣợt CBYT đƣợc đào tạo
Số lƣợt CBYT đƣợc đào tạo
Số lƣợt CBYT đƣợc đào tạo
Trong năm, quý 2 là thời gian có nhiều khóa học được tổ chức nhất, chiếm 35,85% tổng số khóa, với 43,33% cán bộ y tế tham gia Quý 1 đứng thứ hai với tỷ lệ khóa học đạt 30,19% và số lượt tham gia là 25,56% Hai quý còn lại có số lượng khóa học và lượt tham gia không đáng kể Đào tạo tại chỗ cũng ghi nhận số lượt tham gia cao nhất trong quý 2, chiếm 38,61%.
Bảng 3.10 Thực trạng về thời lƣợng tổ chức các khóa đào tạo
Thời lƣợng đào tạo Số khóa đào tạo Tỷ lệ (%)
Nhu cầu về tham gia ĐTLT
Biểu đồ 3.3 Mong muốn đƣợc đào tạo liên tục của CBYT
Kết quả phát vấn cho thấy trong 113 cán bộ y tế tham gia nghiên cứu, 98,20% có mong muốn tham gia các lớp ĐTLT, tỷ lệ không mong muốn tham gia
Có mong muốn Không mong muốn
HUPH chỉ chiếm 1,8%, nhưng mong muốn đào tạo này phù hợp với xu hướng phát triển của Trung tâm, nhằm nâng cao chuyên môn và kỹ thuật cho cán bộ y tế.
Bảng 3.20 Nhu cầu về thời gian, địa điểm các lớp ĐTLT
Số lớp học trong năm
Khoảng thời gian trong năm
Bệnh viện, trung tâm tuyến tỉnh 45 40,5
BS, chuyên gia tuyến tỉnh/ thành phố
Lý thuyết và thực hành 62 55,86
Kiểm tra, đánh giá Có 105 94,6
Cấp chứng nhận, chứng chỉ
Về kinh phí đào tạo Cấp toàn bộ kinh phí 96 86,5
Số lớp đào tạo liên tục trong năm, đa số cán bộ y tế lựa chọn 1-2 lớp trong năm chiếm tỷ lệ 67,6% hoặc từ 3-5 lớp tỷ lệ 20,7%
Khoảng thời gian đào tạo trong năm, 56% cán bộ y tế chọn mở lớp trong quý 2, thấp nhất là quý 4 (5,5%)
Trong một khảo sát về thời gian và địa điểm đào tạo của cán bộ y tế, 59,6% người tham gia lựa chọn thời gian đào tạo từ 1-2 ngày, trong khi 6,4% chọn thời gian đào tạo kéo dài hơn 30 ngày Về địa điểm đào tạo, 48,6% được thực hiện tại Trung tâm, còn 40,5% diễn ra tại các Bệnh viện và Trung tâm tuyến tỉnh.
Giảng viên: mong muốn cao nhất 84,7% Giảng viên là Bác sĩ, chuyên gia tuyến tỉnh/ thành phố
Hình thức đào tạo: mong muốn hình thức kết hợp đào tạo lý thuyết và thực hành chiếm cao nhất 55,86%
Kiểm tra đánh giá: có 94,6% CBYT mong muốn đƣợc kiểm tra đánh giá trong khoá học và 100% mong muốn đƣợc cấp chứng chỉ chứng nhận sau khoá học
Kinh phí đào tạo: 86,5% CBYT mong muốn đƣợc cấp kinh phí khi tham gia các khoá ĐTLT
Kết quả phù hợp với nghiên cứu định tính nhu cầu về thời gian, địa điểm, hình thức tổ chức ĐTLT cho CBYT:
Thời gian đào tạo cho một khóa ngắn ngày nên được giới hạn từ 1 đến 2 ngày để đạt hiệu quả tốt nhất Hình thức kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ mang lại kết quả cao hơn.
Việc tham gia các lớp đào tạo trực tuyến tại Trung tâm sẽ mang lại sự tiện lợi, giúp người học không cần di chuyển xa mà vẫn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định.
Quý 2 là thời điểm thuận tiện nhất để triển khai các kế hoạch hoạt động, trong khi quý 1 thường cần thời gian để lập kế hoạch và quý 4 thường phải tập trung vào việc hoàn thiện hồ sơ và sổ sách.
HUPH sách để kiểm tra cuối năm, nên khoảng thời gian mở lớp để thuận tiện nhất là trong quý 2” (PVS2-CBQL)
Giảng viên nên là bác sĩ và chuyên gia có kinh nghiệm làm việc tại các bệnh viện, trung tâm từ tuyến tỉnh, thành phố, vì họ sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn khi làm việc ở tuyến trên.
Hầu hết CBYT đều mong muốn được kiểm tra/ đánh giá trước và sau khi kết thúc đào tạo:
Để đánh giá sự khác biệt giữa nhận thức trước và sau đào tạo, việc thực hiện bài test đầu vào và đầu ra là cần thiết Nếu có sự khác biệt, điều này chứng tỏ kết quả đào tạo có giá trị và hiệu quả Tuy nhiên, để có cái nhìn toàn diện về hiệu quả đào tạo, cần áp dụng nhiều hình thức và phương pháp đánh giá khác nhau Dù vậy, đối với các lớp tập huấn, việc sử dụng bài test vẫn là một phương pháp chấp nhận được.
Khi tham gia đào tạo từ xa, việc cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận là rất quan trọng Điều này không chỉ cung cấp bằng chứng về số tiết đã tham gia mà còn giúp cộng dồn đủ số tiết đào tạo theo quy định.
Bảng 3.21 Nhu cầu về nội dung ĐTLT của CBYT Lĩnh vực mong muốn đƣợc đào tạo Số lƣợng Tỉ lệ %
Chăm sóc bà mẹ trẻ em 22 19,82
Kỹ thuật điều dương cơ bản 32 28,83
Y tế dự phòng, phòng chống bệnh truyền nhiễm 27 24,32
Triển khai, quản lý các bệnh không lây nhiễm 29 26,13
Quản lý chất lƣợng bệnh viện 35 31,53
Kỹ năng làm việc nhóm 50 45,05
Cách tổ chức cuộc họp 21 18,92
Nhu cầu đào tạo về khám bệnh, chữa bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất 57,66%, đào tạo về nội dung khác (về quản lý dƣợc, kỹ thuật xét nghiệm, …) 16,22%
Nhu cầu đào tạo về kỹ năng quản lý hiện đang ở mức thấp, với tỷ lệ cao nhất là 44,14% cho vị trí quản lý khoa, phòng Trong khi đó, nhu cầu đào tạo về kỹ năng giao tiếp lại cao hơn, đạt 74,77%.
Nghiên cứu định tính cho kết quả phù hợp với mong muốn của đối tƣợng bác sĩ, điều dƣỡng:
Nhu cầu cập nhật chuyên môn trong khám chữa bệnh ngày càng trở nên cấp thiết do sự thay đổi của mô hình bệnh tật, sự gia tăng của bệnh mạn tính và sự xuất hiện của các bệnh dịch mới với diễn biến phức tạp Bác sĩ trực tiếp làm công tác khám chữa bệnh như tôi rất mong muốn được đào tạo thêm để nâng cao kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực này.
Đào tạo về kỹ thuật điều dưỡng và kiểm soát nhiễm khuẩn là rất quan trọng trong việc chăm sóc người bệnh Như một nhân viên y tế đã chia sẻ: “Chúng tôi cũng muốn được đào tạo lại về kỹ thuật điều dưỡng và kiểm soát nhiễm khuẩn” (PVS 3).
Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng Trung tâm đặc biệt chú trọng đào tạo kỹ năng quản lý cho cán bộ y tế Theo một chuyên gia, để nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm trong giai đoạn hiện nay, việc quản lý chất lượng bệnh viện và các khoa, phòng là điều bắt buộc.
Kỹ năng ứng xử và giao tiếp của nhân viên y tế đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và đáp ứng sự hài lòng của người bệnh Việc này giúp người bệnh cảm thấy yên tâm và thoải mái trong quá trình điều trị Mặc dù Trung tâm thường xuyên tổ chức tập huấn về quy tắc ứng xử, nhưng cần thiết phải có lớp đào tạo về kỹ năng giao tiếp, đặc biệt cho điều dưỡng, để họ có thể tương tác tốt hơn với bệnh nhân, từ đó giảm thiểu phản ánh tiêu cực về thái độ phục vụ.
Kỹ năng làm việc nhóm đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công việc của cán bộ y tế Khi làm việc nhóm hiệu quả, điều dưỡng có cơ hội chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm từ nhau, từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
Mặc dù Trung tâm tổ chức các khóa đào tạo hàng năm để nâng cao kỹ năng giao tiếp cho cán bộ y tế nhằm tăng cường sự hài lòng của người bệnh, vẫn còn một số ít cán bộ y tế có thái độ ứng xử chưa tốt Điều này dẫn đến việc họ chưa đáp ứng được mong đợi của bệnh nhân và chưa hòa nhã với đồng nghiệp trong công việc Qua kiểm tra giám sát, nhận thấy rằng phần lớn vấn đề xuất phát từ việc nhân viên y tế thiếu kỹ năng giao tiếp và chưa giải thích tốt cho người bệnh.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ĐTLT cán bộ y tế
3.4.1 Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa tình trạng CBYT đƣợc ĐTLT đáp ứng theo
TT22/2013/TT-BYT với một số yếu tố cá nhân Một số yếu tố Đủ 48 tiết/ 2 năm liên tục p
Từ 40 tuổi trở lên 14 (34,1%) 27 (65,9%) OR=0,742
CI 95%=0,325-1,695 Tình trạng hôn nhân
CI 95%=0,204-2,249 Độc thân/ Ly dị, ly thân, góa
CI 95%=0,807-4,167 Điều dƣỡng/ hộ sinh/ kỹ thuật y, dƣợc
CKI/ Thạc sĩ/ Đại học
Hành chính và dự phòng
Lâm sàng, Cận lâm sàng
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tình trạng ĐTLT đủ 48 tiết/
Theo quy định TT 22/2013/TT-BYT, trong 2 năm liên tiếp, một số yếu tố cá nhân như giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, chức danh chuyên môn, trình độ chuyên môn và thâm niên công tác sẽ được xem xét.
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tình trạng ĐTLT đủ 48 tiết/2 năm liên tục theo quy định Thông tư 22/2013/TT-BYT giữa bộ phận hành chính và dự phòng so với các khoa lâm sàng/cận lâm sàng, với giá trị p = 0,009, nhỏ hơn 0,05.
Tỷ lệ cán bộ y tế (CBYT) tại bộ phận hành chính và dự phòng được đào tạo liên tục đạt 48 tiết trong 2 năm liên tiếp, cao gấp 3,1 lần so với tỷ lệ CBYT ở bộ phận lâm sàng và cận lâm sàng.
Tại Trung tâm, cán bộ nữ chiếm ưu thế, và nhu cầu đào tạo giữa nam và nữ có sự khác biệt rõ rệt Các nhân viên nam thường ưa thích các lĩnh vực kỹ thuật như bó bột, X-quang, hoặc các chương trình phòng dịch trong cộng đồng Ngược lại, nữ giới không mặn mà với những lĩnh vực này và mong muốn được đào tạo, cập nhật kiến thức liên quan đến công việc của họ.
Nghiên cứu định tính cho thấy rằng nhóm tuổi từ 40 trở lên có số lượng tham gia đào tạo ít hơn, dẫn đến tỷ lệ đáp ứng theo quy định cũng thấp hơn.
Những cán bộ lớn tuổi thường ít tham gia các khóa đào tạo, trong khi cán bộ trẻ lại năng động và tích cực học tập để nâng cao kiến thức.
“… tuổi trẻ thì năng động, ham học hỏi nhằm nâng cao kiến thức, tạo cơ hội cho bản thân thăng tiến hơn trong quá trình công tác…”(PVS2-CBQL)
Nghiên cứu định tính cho thấy rằng cán bộ y tế với trình độ chuyên môn khác nhau sẽ được phân công vào các vị trí khác nhau Do đó, nội dung đào tạo cũng sẽ khác biệt giữa các đối tượng tham gia.
“… các cán bộ trình độ trung cấp thường làm công việc chuyên môn, vì thế trong đào tạo họ thường được cử tham gia nhiều hơn…” (PVS2-CBQL)
Nghiên cứu định tính cho thấy rằng các cán bộ y tế có vị trí công tác và trình độ chuyên môn khác nhau, dẫn đến sự khác biệt trong việc tham gia đào tạo giữa các đối tượng.
Các cán bộ tại khoa lâm sàng thường xuyên được cử tham gia các lớp đào tạo nhằm cập nhật và nâng cao kiến thức chuyên môn, từ đó cải thiện chất lượng điều trị cho bệnh nhân.
Một số cán bộ có trình độ sau đại học thường đảm nhận vai trò quản lý trong đơn vị, điều này góp phần tạo ra thái độ tích cực hơn trong việc tham gia đào tạo.
3.4.2 Yếu tố thuộc về Trung tâm:
Bảng 3.23 Kinh phí bình quân cho ĐTLT/ CBYT giai đoạn 2017-2019
Chuyên môn Quản lý Kỹ năng mềm Tổng cộng
Số lƣợt CBYT đƣợc đào tạo
Số lƣợt CBYT đƣợc đào tạo
Số lƣợt CBYT đƣợc đào tạo
Số lƣợt CBYT đƣợc đào tạo
Số tiền bình quân/CBYT 0,746 6 0,6 0,797
Số tiền bình quân/CBYT 0,4 8 0,466 0,453
Số tiền bình quân/CBYT 0,481 9 0,411 0,608
Trong giai đoạn 2017-2019, đơn vị đã chi tổng cộng 207.000.000đ cho công tác đào tạo liên tục (ĐTLT) cho cán bộ y tế (CBYT), trong đó 156.000.000đ được dành cho ĐTLT về chuyên môn, chiếm 76,47% tổng kinh phí Số tiền bình quân cho mỗi CBYT là 0,496 triệu đồng.
Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng, khi tham gia các lớp đào tạo liên tục, cán bộ y tế thường phải tự chi trả hoặc nhận được một phần hỗ trợ tài chính Yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến việc triển khai đào tạo liên tục tại Trung tâm y tế huyện Tân Thạnh.
Trung tâm Y tế đang gặp khó khăn về chi phí đào tạo, vì vậy họ chỉ thanh toán 100% học phí và trợ cấp đi học cho các khoá đào tạo liên thông đại học y và chuyên khoa I, theo quy định và quy chế chi tiêu nội bộ Đối với các khoá đào tạo liên tục cập nhật kiến thức, đơn vị chỉ hỗ trợ một phần chi phí.
Tại Trung tâm, chỉ những cán bộ tham gia học liên thông dài hạn hoặc các khóa định hướng chuyên khoa mới được thanh toán kinh phí từ nguồn phát triển sự nghiệp của đơn vị Trong khi đó, đối với các chương trình đào tạo liên tục và các lớp tập huấn chuyên đề, cán bộ phải tự chi trả.
Khi tham gia các khóa học ngoại ngữ, tin học, hoặc tự học để nâng cao trình độ lên cao đẳng, đại học, chúng tôi hoàn toàn tự lực về kinh phí Cơ quan chỉ hỗ trợ về thời gian để chúng tôi có thể tham gia học tập.