- Bảo hiểm trùng: trong bảo hiểm tài sản, nếu một đối tượng bảo hiểm đồngthời được bảo đảm bằng nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một rủi ro với nhữngdoanh nghiệp bảo hiểm khác nhau, nhữn
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Định
HÀ NỘI, 2016
Trang 4nhưng vẫn có tốc độ tăng trưởng mạnh, các sản phẩm bảo hiểm ngày càng đa dạng,thiết thực kèm theo chất lượng dịch vụ được nâng cao Thêm vào đó, thị trường bảohiểm Việt Nam nói chung và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng cũng đangđược mở rộng với sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế vào kinh doanhdịch vụ bảo hiểm Đóng góp không nhỏ cho sự phát triển bền vững của thị trường bảohiểm phi nhân thọ là hoạt động tái bảo hiểm Tái bảo hiểm là sự bảo đảm an toàn tàichính đồng thời cũng là bước cuối cùng xác định khả năng nhận bảo hiểm cho cáchợp đồng bảo hiểm của công ty bảo hiểm, nhất là các hợp đồng bảo hiểm lớn.
Là doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ra đời sớm nhất trên thị trường bảohiểm Việt Nam, Bảo hiểm Bảo Việt đã luôn cho thấy vị thế tiên phong của mìnhtrong hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Để tiếp tục phát triển tươngxứng với tiềm năng hiện có, Bảo hiểm Bảo Việt chú trọng mở rộng khai thác, chiếmlĩnh thị phần trên tất cả các nghiệp vụ đặc biệt là nghiệp vụ tài sản, đồng thời vẫnđảm bảo tính an toàn và ổn định trong quá trình khai thác thông qua hoạt động táibảo hiểm một cách thận trọng nhưng linh hoạt Ngày từ khi đi vào hoạt động, táibảo hiểm đã luôn được Tổng công ty đánh giá cao trong khối quản lý nghiệp vụ,giúp san sẻ rủi ro, chuyển giao rủi ro của công ty sang các công ty bảo hiểm kháchay các nhà tái bảo hiểm khác
Trong nghiệp vụ tài sản, tái bảo hiểm càng chứng tỏ được vai trò quan trọngbởi giá trị thực tế của tài sản tham gia bảo hiểm thường rất lớn Nếu như không cótái bảo hiểm, Bảo Việt không thể đứng ra nhận bảo hiểm cho các khách hàng lớnnhư vậy, bởi chỉ cần xảy ra tổn thất, công ty sẽ hoàn toàn không có khả năng chi trảbồi thường và tiếp tục hoạt động Tuy nhiên, tái bảo hiểm trong bảo hiểm tài sảnvẫn luôn là mảng hoạt động mang tính chất kỹ thuật cao, khó đánh giá và dựa phầnlớn vào lịch sử tổn thất cũng như kinh nghiệm hoạt động của công ty bảo hiểm chonên khi triển khai vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế
Trang 5tài sản tại Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt” làm luận văn của mình.
1.2 Tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu các tác giả tập trung vào nghiêncứu bảo hiểm tài sản, trong đó có điểm qua vai trò quan trọng của tái bảo hiểm màchưa có nhiều bài viết chuyên sâu nào tìm hiểu rõ về hoạt động tái bảo hiểm trongbảo hiểm tài sản Tác giả Hoàng Oanh có nghiên cứu về vấn đề này tại Tổng công
ty bảo hiểm Bảo Việt nhưng bài viết từ năm 2007, đến này các phân tích đều đãkhông còn đúng với bối cảnh kinh tế và vị thế của TCT Bảo hiểm Bảo Việt Ngoài
ra các tác giả khác có nghiên cứu thêm vai trò của tái bảo hiểm trong bảo hiểm xâydựng lắp đặt tại công ty tái bảo hiểm lớn trên thị trường – Vinare hay một số nghiệp
vụ khác và dừng lại ở mức độ nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp đại học
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trước đây đều trong giai đoạn phát triển
cũ của nền kinh tế, chưa thực sự đi sâu vào phân tích cụ thể tầm trọng của tái bảohiểm trong bảo hiểm tài sản Cũng có thể do đây là một đề tài khó, với tính kỹ thuậtcao và số liệu còn chưa rõ ràng, đầy đủ
Trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành công mà các công trình trên đạtđược, luận văn sẽ nghiên cứu một cách toàn diện, tổng thể hoạt động tái bảo hiểmTài sản tại Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề cơ sở lý luận của tái bảo hiểm nói chung, đề tài đisâu nghiên cứu thực trạng hoạt động tái bảo hiểm tài sản tại Tổng công ty bảo hiểmBảo Việt Sau khi có những đánh giá thực tế, những kết quả đạt được cùng nhữnghạn chế và các nguyên nhân khách quan, chủ quan về tình hình hoạt động tái bảohiểm tài sản, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quảhoạt động tái bảo hiểm tài sản tại Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Trang 6- Làm rõ cơ sở lý luận về Tái bảo hiểm Tài sản
- Phân tích thực trạng về hoạt động tái bảo hiểm tài sản tại Tổng công ty Bảohiểm Bảo Việt trong thời gian qua
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường hiệu quả hoạtđộng tái bảo hiểm tài sản tại Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Hoạt động tái bảo hiểm tài sản
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Hoạt động tái bảo hiểm tài sản từ năm
2013 đến nay tại Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Khi viết luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp như phương phápthống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, cơ sở lý thuyết hệ thống
Phương pháp thống kê: tác giả sử dụng phương pháp này để lấy thông tin,thu thập số liệu phục vụ phân tích, đánh giá
- Phương pháp so sánh: tác giả sử dụng phương pháp này để so sánh kết quảhoạt động qua các năm và giữa công ty bảo hiểm này với các công ty bảo hiểm khác
- Phương pháp phân tích tổng hợp, cơ sở lý thuyết hệ thống: tác giả sủ dụng
để từ nội dung phân tích tổng hợp cơ sở lý thuyết, đánh giá, phân tích thực trạng
1.7 Dự kiến đóng góp của luận văn
Là một công trình nghiên cứu ở mức độ luận văn thạc sĩ, bài nghiên cứu tuy chưathể hiện được một cách toàn diện, trên tầm vĩ mô và đưa ra những nhận định sâusắc, mang chính chuyên môn về hoạt động tái bảo hiểm nhưng cũng sẽ là một sựđóng góp để giúp cho hoạt động tái bảo hiểm tài sản tại Tổng công ty bảo hiểmBảo Việt được nhìn nhận khách quan, từ đó sẽ được thay đổi và cải thiện theohướng tích cực để hoàn thiện và tăng cường hiệu quả hơn nữa trong tương lai.Ngoài ra, luận văn cũng là tiền đề cho các bài nghiên cứu sau này, đóng góp vào
Trang 7khối lượng nghiên cứu còn ít của hoạt động kinh doanh rất quan trọng này tronglĩnh vực bảo hiểm.
1.8 Nội dung kết cấu của đề tài
Từ thực tiễn nghiên cứu, tác giả xác định kết cấu đề tài luận văn gồm 04chương, nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu.
Chương 2: Lý luận chung về bảo hiểm tài sản và tái bảo hiểm tài sản Chương 3: Tái bảo hiểm tài sản tại Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt Chương 4: Giải pháp hoàn thiện hoạt động tái bảo hiểm tài sản tại Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt.
Trang 8CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM TÀI SẢN VÀ TÁI BẢO HIỂM
TÀI SẢN
2.1 Khái quát về Bảo hiểm tài sản
2.1.1 Đối tượng và đặc điểm của bảo hiểm tài sản
Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản (cốđịnh hay lưu động) của người được bảo hiểm
Bảo hiểm tài sản có một số đặc điểm sau:
- Áp dụng nguyên tắc bồi thường khi thanh toán chi trả bảo hiểm Số tiềnbồi thường mà người được bảo hiểm nhận được trong mọi trường hợp không vượtquá thiệt hại thực tế trong sự cố bảo hiểm Do bảo hiểm là sự bù đắp ngang bằng
về mặt tài chính cho những thiệt hại của người tham gia bảo hiểm, cho nên trongmọi trường hợp tổn thất, số tiền mà người tham gia được bù đắp sẽ không vượtquá giá trị thiệt hại thực tế và giới hạn trách nhiệm hay chính là số tiền bảo hiểmcủa hợp đồng
- Áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp khi xuất hiện người thứ ba có lỗi
và do đó có trách nhiệm đối với thiệt hại của người được bảo hiểm Theo nguyêntắc này, sau khi trả tiền bồi thường, doanh nghiệp sẽ được thay quyền của ngườiđược bảo hiểm để thực hiện việc truy đòi trách nhiệm của người thứ ba có lỗi.Nguyên tắc thế quyền hợp pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của người được bảo hiểm,chống lại hành vi rũ bỏ trách nhiệm của người thứ ba có lỗi, đồng thời đảm bảonguyên tắc bồi thường Bên cạnh đó, nguyên tắc này cũng giúp đảm bảo công bằngđối với người được bảo hiểm, đối với công ty bảo hiểm và người thứ 3 có lỗi, đồngthời cũng loại bỏ khả năng người được bảo hiểm được bồi thường từ cả phía công tybảo hiểm và người thứ ba
Tuy nhiên có một số trường hợp ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc thế quyềnhợp pháp Đó là khi người thứ ba gây lỗi là trẻ em, hoặc là con cái, vợ chồng, chamẹ… của người được bảo hiểm
Trang 9- Bảo hiểm trùng: trong bảo hiểm tài sản, nếu một đối tượng bảo hiểm đồngthời được bảo đảm bằng nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một rủi ro với nhữngdoanh nghiệp bảo hiểm khác nhau, những hợp đồng bảo hiểm này có điều kiện bảohiểm giống nhau, thời hạn bảo hiểm trùng nhau, và tổng số tiền bảo hiểm từ các hợpđồng này lớn hơn giá trị của đối tượng bảo hiểm đó thì gọi là bảo hiểm trùng.
Trong trường hợp có bảo hiểm trùng, tùy thuộc vào nguyên nhân xảy ra đểgiải quyết Thông thường, bảo hiểm trùng liên quan đến sự gian lận của người thamgia bảo hiểm nhằm trục lợi bảo hiểm Do đó, về nguyên tắc, doanh nghiệp bảo hiểm
có thể hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu phát hiện thấy bảo hiểm trùng có gian lận.Nếu các doanh nghiệp chấp nhận bồi thường thì lúc này, trách nhiệm của mỗi công
ty bảo hiểm đối với tổn thất sẽ được phân chia theo tỷ lệ trách nhiệm mà họ đảmnhận Cụ thể:
STBT của HĐBH A = Giá trị thiệt hại thực tế x
Trên thực tế, một trong số các doanh nghiệp bảo hiểm đã cấp hợp đồng chođối tượng được bảo hiểm trùng này có thể sẽ đứng ra bồi thường theo số thiệt hạithực tế, sau đó sẽ đòi lại các doanh nghiệp bảo hiểm khác phần trách nhiệm của họ
- Chế độ bồi thường bảo hiểm+ Chế độ bảo hiểm theo mức miễn thườngDoanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm đối với những tổn thất mà giátrị thiệt hại thực tế vượt quá một mức đã thỏa thuận được gọi là mức miễn thường.Việc áp dụng bảo hiểm theo mức miễn thường có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc.Nếu giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm thỏa thuận sẽ khôngbồi thường đối với những tổn thất nhỏ hơn mức miễn thường trên cơ sở tự nguyệnthì phí bảo hiểm sẽ đượcgiảm bớt phụ thuộc vào mức miễn thường cụ thể Trongtrường hợp miễn thường bắt buộc, phí bảo hiểm vẫn giữ nguyên Bảo hiểm theomức miễn thường không chỉ tránh cho danh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường chonhững tổn thất quá nhỏ so với giá trị bảo hiểm mà còn có ý nghĩa trong việc nângcao ý thức và trách nhiệm đề phòng hạn chế rủi ro của người được bảo hiểm
Trang 10Có hai loại miễn thường: miễn thường có khấu trừ và miễn thường khôngkhấu trừ Chế độ bảo hiểm miễn thường không khấu trừ đảm bảo đảm chi trả chonhững thiệt hại thực tế vượt quá mức miễn thường những số tiền bồi thường sẽkhông bị khấu trừ theo mức miễn thường.
STBT = Giá trị thiệt hại thực tếTrong chế độ bảo hiểm miễn thường có khấu trừ, thiệt hại thực tế phải lớnhơn mức miễn thường quy định mới được bồi thường nhưng số tiền bồi thường sẽ
bị khấu trừ theo mức miễn thường này
STBT = Giá trị thiệt hại thực tế - Mức miễn thường+ Chế độ bảo hiểm theo tỷ lệ
Có hai loại tỷ lệ được áp dụng: Tỷ lệ Số tiền bảo hiểm/ Giá trị bảo hiểm và tỷ
lệ Số phí đã nộp/ Số phí lẽ ra phải nộp
Tỷ lệ số tiền bảo hiểm/ giá trị bảo hiểm được áp dụng trong các trường hợpbảo hiểm dưới giá trị:
STBH = Giá trị thiệt hại thực tế x
Còn trong trường hợp có sự khai báo không chính xác rủi ro, bên bảo hiểmthường áp dụng tỷ lệ “số phí bảo hiểm đã nộp/số phí bảo hiểm lẽ ra phải nộp” đểthanh toán nếu chấp nhận bồi thường:
STBT = Giá trị thiệt hại thực tế x
- Chế độ bảo hiểm theo rủi ro đầu tiênTheo chế độ bồi thường này, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả số tiền bồi thườngtheo một giới hạn đã thỏa thuận Các tổn thất của người được bảo hiểm nằm tronggiới hạn này được gọi là tổn thất thuộc rủi ro đầu tiên hoặc tổn thất đầu tiên
Còn tổn thất vượt quá giới hạn thỏa thuận này có thể sẽ được bảo hiểm bằngmột đơn bảo hiểm vượt quá Chế độ bồi thường này được áp dụng trong bảo hiểmtrộm cắp Người ta lý luận rằng, ít khi toàn bộ tài sản bị mất trộm, do vậy tài sản
Trang 11thường chỉ muốn bảo hiểm cho phần tổn thất có thể nhất, và do đó được gọi là tổnthất đầu tiên.
2.1.2 Vai trò của Bảo hiểm tài sản
Ngay từ khi ra đời, bảo hiểm tài sản đã đóng một vai trò rất quan trọngkhông chỉ với riêng người được bảo hiểm mà trên bình diện xã hội, kinh tế vĩ mô,bảo hiểm tài sản góp phần không nhỏ cho quá trình phát triển bền vững của mộtquốc gia
- Tài sản được bảo hiểm có thể là tài sản cá nhân cũng có thể là tài sản của tổchức, quốc gia Các công trình nhà ở, nhà xưởng, kho bãi, máy móc, thiết bị, hànghóa, … đều là đối tượng của bảo hiểm tài sản Do đó, bảo hiểm tài sản ảnh hưởngrất lớn đến nhiều người, nhiều đối tượng, giúp duy trì sự ổn định tài chính và hoạtđộng kinh doanh lâu dài của phần đông các cá nhân và tổ chức trong xã hội
- Các rủi ro xảy đến với tài sản, đặc biệt là các tài sản giá trị lớn thường gây
ra ảnh hưởng nặng nề, trên diện rộng như các vụ cháy lớn, lũ lụt,… mà bản thânmột cá nhân hay một tổ chức không thể tự bù lại được, rất dễ dẫn đến khánh kiệthay phá sản Do vậy, bảo hiểm tài sản làm biện pháp đảm bảo an toàn tài chính,giúp người được bảo hiểm nhanh chóng trở lại trạng thái tài chính ban đầu để có thểtiếp tục lao động, phát triển sản xuất, kinh doanh
- Rủi ro luôn tiềm ẩn và có nguy cơ xảy ra với bất cứ ai bất cứ lúc nào, do đóbảo hiểm tài sản đem lại sự an tâm cho người được bảo hiểm khi tiến hành các hoạtđộng sống, sản xuất, kinh doanh liên quan đến tài sản đó Cũng nhờ sự an tâm đó
mà năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh cũng được cải thiện rõ rệt
- Bảo hiểm tài sản ra đời giúp giảm bớt gánh nặng của nhà nước đối với xãhội Một đất nước có thể phát triển được thì cần có môi trường kinh doanh an toàn,
ổn định Nếu các rủi ro xảy đến gây ảnh hưởng lớn đến nhiều cá nhân và tổ chức thìnhà nước sẽ phải đứng ra để trợ giúp họ, điều này đè nặng lên cán cân ngân sáchquốc gia
Trang 122.1.3 Các nghiệp vụ có liên quan trong Bảo hiểm tài sản
Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm rất đa dạng,
do đó, các nghiệp vụ có liên quan trong bảo hiểm tài sản tương đối nhiều, có thể
kể đến như:
- BH hàng hoá vận chuyển bằng đường biển, đường bộ, đường thuỷ nội địa,đường sắt, đường hàng không;
- BH thân tàu biển, tàu sông, tàu cá;
- BH hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt;
- BH xây dựng và lắp đặt;
- BH thiệt hại vật chất xe cơ giới;
- BH mọi rủi ro công nghiệp;
- BH máy móc và thiết bị điện tử;
- BH thân máy bay và phụ tùng máy bay;
ro công nghiệp, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh,…
Trang 132.2 Tái bảo hiểm Tài sản
2.2.1 Sự cần thiết khách quan
Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính đặc biệt, bao gồm các đặc trưng cơ bảnnhư: Bảo hiểm là hoạt động kinh doanh trên những rủi ro Sảm phẩm bảo hiểm làsản phẩm vô hình, là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảohiểm kèm theo là dịch vụ có liên quan Chu kỳ kinh doanh bảo hiểm là chu kỳ đảongược, có nghĩa là sản phẩm được bán ra trước, có doanh thu trước sau đó mới phátsinh chi phí
Từ những đặc trưng cơ bản đó, có thể thấy trong hoạt động kinh doanh bảohiểm, đặc biệt là bảo hiểm tài sản, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi rocủa khách hàng, đến lượt mình, các công ty cũng dễ gặp phải các rủi ro về tài chínhdẫn đến phá sản do các nguyên nhân sau:
- Các tài sản/ đối tượng tham gia bảo hiểm có giá trị lớn mà khả năng tàichính của công ty lại có hạn Ngày nay, khi nền kinh tế càng phát triển, các côngtrình xây dựng với giá trị lớn, các quy trình sản xuất tạo ra khối lượng hàng hóa lớnxuất hiện phổ biến, nhu cầu bảo hiểm cho khối lượng tài sản lớn không ngừng giatăng Một công ty bảo hiểm đơn lẻ không thể đứng ra bảo hiểm một khối lượng tàisản lớn như vậy bởi nếu xảy ra tổn thất sẽ không có khả năng bồi thường và phá sản
là không tránh khỏi
- Các công ty bảo hiểm dựa vào khai báo của khách hàng để xem xét chấpnhận đối tượng bảo hiểm nên cũng có thể xảy ra sự man trá, trục lợi từ phía ngườiđược bảo hiểm để hưởng tiền bảo hiểm Phí bảo hiểm thường chiếm một tỷ lệ nhỏcủa số tiền bảo hiểm, trong khi đó tổn thất xảy ra thường cao hơn rất nhiều so vớiphí đã đóng cho nên khách hàng dễ nảy sinh ý định cố tình gây tổn thất để được bồithường Trong bảo hiểm thì nguyên tắc trung thực tuyệt đối luôn được đặt lên hàngđầu, mọi thông tin người tham gia bảo hiểm khai báo phải đảm bảo trung thực,trong trường hợp các công ty bảo hiểm phát hiện ra hành vi gian lận của người đượcbảo hiểm thì đơn bảo hiểm sẽ tự động vô hiệu lực
Trang 14- Từ việc đánh giá không chính xác về rủi ro, xác định phí và các điều khoảnhợp đồng không chính xác Xác định phí không chính xác, thu không đủ bù chicũng dẫn đến phá sản Đánh giá rủi ro luôn rất khó, đặc biệt là với các tài sản mới.Mỗi khi muốn triển khai một loại hình bảo hiểm, các công ty bảo hiểm đều phảitham khảo và xem xét kĩ lịch sử tổn thất, bản chất của tài sản và kinh nghiệm củacác công ty đi trước đề đánh giá mức độ rủi ro của tài sản trước khi chấp nhận triểnkhai dịch vụ đó Bởi nếu đánh giá sai, mức phí thu quá thấp trong khi phải bồi tiềnlớn thì chắc chắn sẽ gây thâm hụt ngân sách nghiêm trọng.
- Có nhiều tổn thất xảy ra liên tục hoặc thảm họa lớn xảy ra, công ty bảohiểm phải chi trả cho nhiều tổn thất với số tiền bảo hiểm quá lớn, vượt quá khả năngthanh toán từ đó dẫn đến phá sản Trường hợp này xảy ra không ít, đặc biệt lànghiệp vụ bảo hiểm tài sản Rủi ro thiên tai thường xuyên xảy ra, gây thiệt hại trêndiện rộng, cho nên cùng một thời điểm, công ty bảo hiểm sẽ phải đứng ra chi trả bồithường cho nhiều đơn bảo hiểm, vượt quá khả năng tài chính của công ty
Các hợp đồng bảo hiểm tài sản thường có số tiền bảo hiểm rất lớn, xác suấtrủi ro tương đối cao nên khi xảy ra tổn thất, số tiền bồi thường sẽ rất lớn, lớn hơnnhiều so với phí bảo hiểm mà người được bảo hiểm đóng Ngoài ra, loại hình bảohiểm này cũng dễ xảy ra trục lợi bảo hiểm do khách hàng cố tình khai báo thông tinthiếu chính xác, hoặc thậm chí cố tình để xảy ra tổn thất hoặc không cố gắng thựchiện các biện pháp hạn chế tổn thất sau đó khiếu nại đòi bồi thường công ty bảohiểm nhằm trục lợi Hơn nữa, việc đánh giá rủi ro đối với các dịch vụ bảo hiểm tàisản tương đối phức tạp Có rất nhiều loại tài sản được bảo hiểm với các đặc tínhkhác nhau, điều kiện điều khoản khác nhau, mức độ rủi ro khác nhau và hay gặpphải tổn thất liên hoàn Bên cạnh đó, khí hậu Việt Nam ngày càng có những biếnđổi khác thường, thiên tai như lũ lụt, giông bão vẫn xảy ra theo mùa, theo đó tài sảntham gia bảo hiểm dễ xảy ra tổn thất rất lớn và trên diện rộng
Như vậy, tái bảo hiểm đối với các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản ra đời là tấtyếu, là biện pháp có ưu điểm vượt trội hơn hẳn đồng bảo hiểm, giúp hạn chế tối đanhững rủi ro xảy ra cho các công ty bảo hiểm, bảo đảm hoạt động kinh doanh ổn
Trang 15định, bền vững Thị trường bảo hiểm càng phát triển thì tái bảo hiểm càng trở nênkhông thể thiếu.
2.2.2 Vai trò của tái bảo hiểm trong Bảo hiểm tài sản
Tái bảo hiểm giữ vai trò phân tán rủi ro, giảm thiểu tổn thất, ổn định tàichính và tăng khả năng cạnh tranh của các công ty bảo hiểm gốc Riêng đối vớinghiệp vụ Bảo hiểm tài sản, tái bảo hiểm có các vai trò sau:
- Giúp các công ty bảo hiểm gốc ổn định về mặt tài chính khi tham gia bảohiểm cho các hợp đồng bảo hiểm tài sản có số tiền bảo hiểm lớn, nguy cơ xảy ra tổnthất cao, đặc biệt là trong trường hợp xảy ra sự cố mang tính chất thảm họa, tích tụrủi ro Nhờ được phân tán rủi ro cho các công ty bảo hiểm khác, mức chi bồi thườngcủa công ty bảo hiểm sẽ luôn nằm trong dự tính và được kiếm soát
- Tái bảo hiểm giúp tăng khả năng nhận bảo hiểm của các công ty bảo hiểmgốc trước các rủi ro vượt quá khả năng tài chính của họ, từ đó giữ được khách hànglớn, nâng cao và bảo vệ uy tín của công ty Kinh tế đất nước càng phát triển, cáccông trình xây dựng ngày càng nhiều, các đối tượng tham gia bảo hiểm tài sản càng
đa dạng với giá trị bảo hiểm lớn Nếu chỉ dựa vào tình hình tài chính của nhà bảohiểm gốc thì không thể đứng ra nhận bảo hiểm được vì khi có tổn thất, các công tybảo hiểm gốc không có khả năng bồi thường Nhờ có các chương trình tái bảo hiểm
mà các công ty bảo hiểm gốc hoàn toàn có thể nhận bảo hiểm và sau đó phân tán rủi
ro cho các nhà nhận tái bảo hiểm để bảo vệ mình
- Thông qua tái bảo hiểm, các nhà bảo hiểm gốc có thể nhận được các hỗ trợ
về kỹ thuật từ các nhà tái về nghiệp vụ tài sản, nhất là các nhà tái chuyên nghiệp vàgiàu kinh nghiệm trên thị trường Bảo hiểm tài sản là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớntrong hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm, mang lạidoanh thu cao thường xuyên nhưng cũng đồng thời tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thấtlớn Do vậy sự học hỏi kinh nghiệm từ các nhà tái trên thị trường là hết sức cầnthiết, giúp các công ty bảo hiểm gốc từng bước nâng cao khả năng đánh giá, quản lýrủi ro, nâng cao năng lực đội ngũ nhân viên và phát triển các sản phẩm bảo hiểm tàisản mới
Trang 16- Tái bảo hiểm các nghiệp vụ tài sản góp phần giúp ổn định tài chính chongười tham gia bảo hiểm, cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn xãhội Khi người tham gia bảo hiểm được an tâm với tài sản họ sở hữu thì sẽ khôngngừng phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo ra của cải cho toàn xã hội.
- Tái bảo hiểm các nghiệp vụ tài sản diễn ra thường xuyên, liên tục chính là
sự gia tăng nguồn thu ngoại tệ của đất nước đồng thời góp phần phát triển quan hệkinh tế giữa các nước thông qua hoạt động nhận tái và nhượng tái bảo hiểm
2.2.3 Các hình thức tái bảo hiểm trong Bảo hiểm tài sản
Tái bảo hiểm là nghiệp vụ thông qua đó một doanh nghiệp bảo hiểm (doanhnghiệp bảo hiểm gốc hay công ty nhượng tái) chuyển cho một hoặc nhiều doanhnghiệp bảo hiểm khác (công ty nhận tái) một phần rủi ro đã nhận đối với một đốitượng bảo hiểm nhất định trên cơ sở chuyển nhượng bớt một phần số phí bảo hiểm
đã nhận
Về bản chất, Tái bảo hiểm là cơ chế phân tán rủi ro Có nghĩa là các doanhnghiệp bảo hiểm cũng muốn giảm bớt lo âu, tìm kiếm sự an toàn cho sự tồn tại củachính họ bằng việc mua tái bảo hiểm Trong cơ chế này, công ty bảo hiểm gốc cóthể san sẻ bớt rủi ro các một công ty bảo hiểm khác hoặc cho nhiều doanh nghiệpbảo hiểm khác cùng một lúc dựa vào khả năng tài chính và mối quan hệ kinh doanhcủa họ trong thị trường bảo hiểm
Từ góc độ kỹ thuật, tái bảo hiểm cho phép các doanh nghiệp phân tán bớt rủi
ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác sau khi đã giữ lại phần rủi ro có thể đảmnhận Từ góc độ tài chính, khả năng giữ lại của một doanh nghiệp bảo hiểm phụthuộc vào sức mạnh tài chính của nó Phần vượt quá khả năng giữ lại đó cần phảiđược bù đắp, hỗ trợ của các công ty nhận tái bảo hiểm
Các hình thức tái bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản thường bao gồm:
2.2.3.1 Tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn (tái bảo hiểm tạm thời)
Đây là phương thức tái bảo hiểm cơ bản và cổ điển nhất Theo phương thứcnày, công ty nhượng toàn quyền lựa chọn rủi ro cần phải tái bảo hiểm và nhà tái bảohiểm có quyền nhận hay từ chối rủi ro đó
Trang 17Như vậy, công ty nhượng tái và nhận tái đều ý thức được trách nhiệm củamình trước rủi ro Công ty nhượng tái bảo hiểm có thể quyết định mức giữ lại vànhượng đi căn cứ trên đặc điểm của rủi ro và khả năng của mình Công ty nhận táicũng hoàn toàn tự chủ về quyết định nhận hay từ chối rủi ro mà công ty nhượng đưa
ra thị trường
Trình tự tiến hành tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn như sau:
- Công ty nhượng thông báo cho nhà tái bảo hiểm một dịch vụ nào đó mà họcần tái bảo hiểm dưới hình thức một đề nghị ( bản chào tái bảo hiểm tạm thời) trong đóghi các đặc điểm chính của rủi ro được bảo hiểm, ví dụ như:
+ Tên và địa chỉ người được bảo hiểm+ Ngành nghề kinh doanh
+ Tính chất của rủi ro được bảo hiểm+ Ngày bắt đầu và chấm dứt thời hạn bảo hiểm+ Loại hình bảo hiểm tham gia, điều kiện điều khoản chính, bổ sung+ Số tiền được bảo hiểm, phí bảo hiểm, phần giữ lại của công ty nhượng+ Tỷ lệ hoa hồng nhượng tái bảo hiểm,…
Sau khi nhận được bản chào, công ty nhận tái bảo hiểm có quyền lựa chọnnhận toàn bộ hay một phần tỷ lệ nào đó hay một số tiền cố định trên cơ sở rủi rođược đề nghị Nhà tái bảo hiểm xác nhận phần tham gia của mình vào bản chào vàgửi lại cho công ty nhượng tái bảo hiểm Đồng thời cũng có thể yêu cầu công tynhượng cung cấp các thông tin cần thiết để xem xét khả năng nhận tái Chỉ khi đượcthông báo chấp nhận, dịch vụ tái bảo hiểm tạm thời mới có hiệu lực và cũng tự độngchấm dứt nếu đến ngày hết hạn mà không có sửa đổi bổ sung thêm
Tái bảo hiểm tạm thời không ràng buộc nhà tái bảo hiểm phải chấp nhậnnhững sửa đổi, bổ sung về nội dung, điều kiện hay tỷ lệ phí đã được thỏa thuận giữa
họ và công ty nhượng, nếu những thay đổi đó không báo trước cho nhà tái bảohiểm Tái bảo hiểm tạm thời được thỏa thuận theo từng rủi ro riêng lẻ: Mỗi rủi ro táibảo hiểm được ý một hợp đồng tái bảo hiểm riêng Các rủi ro này thường bị rơi vàomột trong ba trường hợp: Các rủi ro bị loại trừ khỏi hợp đồng cố định; rủi ro vượt
Trang 18quá mức trách nhiệm của hợp đồng cố định; hoặc công ty nhượng không muốn đưarủi ro vào hợp đồng cố định và cần trợ giúp kỹ thuật của nhà tái bảo hiểm.
Ưu điểm của tái bảo hiểm tạm thời:
+ Giúp công ty nhượng, nhất là các công ty nhỏ, mới thành lập, ít kinhnghiệm yên tâm để nhận bảo hiểm cho các rủi ro, đặc biệt là các rủi ro có giá trị bảohiểm lớn vượt quá khả năng tài chính của họ
+ Tạo điều kiện để công ty nhượng chấp nhận bảo hiểm cho những rủi ronguy hiểm được bảo hiểm như rủi ro động đất, bạo loạn, chiến tranh, hay bảo hiểmcho các đối tượng có giá trị bảo hiểm lớn Giúp công ty nhượng tái bảo hiểm cóđiều kiện lựa chọn để duy trì kết quả kinh doanh bảo hiểm của mình được cân đối,tức là giúp cho công ty nhượng có thể loại bỏ được những rủi ro đặc biệt lớn hoặcnguy hiểm mà khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm có thể làm ảnh hưởng lớnđến kết quả kinh doanh của mình trong năm kế hoạch ở một nghiệp vụ bảo hiểmriêng biệt nào đó Đối với các công ty bảo hiểm còn non trẻ, hình thức tái bảo hiểmnày rất phù hợp nhằm bảo vệ cho các đơn vị bảo hiểm có giá trị lớn bảo hiểm chocác loại rủi ro công nghiệp, số tiền bảo hiểm tăng không ngừng, sự tập trung giá trịcủa tài sản được bảo hiểm tăng theo thời gian và kéo dài
+ Tạo điều kiện cho công ty nhượng có thể cải thiện vận may rủi trong việcđạt được những lợi ích tối đa theo các điều kiện quy định trong các hợp đồng tái bảohiểm cố định
+ Tạo ưu thế để công ty nhượng phát triển kinh doanh như sử dụng thủ tụcphí theo thang lũy tiến, theo lãi,…
Hạn chế của tái bảo hiểm tạm thời:
+ Công ty nhượng phải thường xuyên thông báo đầy đủ mọi thông tin về hợpđồng gốc, do đó, không đảm bảo bí mật, mất thời gian
+Hình thức này cũng có thể kéo dài thời gian khai thác bảo hiểm gốc và có thểlàm mất cơ hội kinh doanh của công ty bảo hiểm gốc Việc thu xếp hợp đồng tái chohợp đồng hoặc rủi ro đơn lẻ trên cơ sở chấp thuận tự nguyện của nhà tái dẫn đến công
Trang 19ty nhượng không có sự đảm bảo chắc chắn của thị trường tái bảo hiểm khi họ nhận bảohiểm một rủi ro nào đó Việc kéo dài thời gian do chờ đợi sự chấp thuận của nhà tái cóthể là cơ hội cho các công ty bảo hiểm khác có khả năng phục vụ tốt hơn dành dịch vụ,hoặc ít nhất cũng làm ảnh hưởng đến uy tín của công ty nhượng do chậm trễ trả lờingười được bảo hiểm.
+ Thường xuyên phải đàm phán thiết lập hợp đồng tái bảo hiểm; chi phí hànhchính, thủ tục, giấy tờ tốn kém cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty nhượng, nhất
là trong trường hợp phí tái bảo hiểm cao hơn phí bảo hiểm gốc
+ Tái bảo hiểm tạm thời có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh củacông ty nhượng trong trường hợp khi khả năng tiếp nhận rủi ro của thị trường táibảo hiểm quốc tế đã gần đạt tới mức tối đa, dày đặc Hoặc khi hợp đồng tái bảohiểm tạm thời chỉ có thể thực hiện được với một mức phí cao hơn so với mức phígốc hoặc buộc phải giảm bớt mức thủ tục phí tái bảo hiểm Điều này có thể làm chocông ty nhượng hoặc phải gánh chịu mức sai lệch hoặc phải giảm bớt phần tráchnhiệm mà mình cam kết trong hợp đồng bảo hiểm gốc
2.2.3.2 Tái bảo hiểm bắt buộc (tái bảo hiểm cố định)
Tái bảo hiểm cố định là sự thỏa thuận giữa công ty nhượng và nhà tái bảohiểm, trong đó công ty nhượng bắt buộc phải nhượng cho nhà tái bảo hiểm tất cảcác đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc mà hai bên đã thỏa thuận từ trước, ngược lại, nhà táibảo hiểm cũng phải bắt buộc chấp nhận toàn bộ các đơn vị rủi ro đó
Như vậy, theo hình thức này một mặt đảm bảo kinh doanh cho công tynhượng; nhưng mặt khác cũng ảnh hưởng đến lợi ích của công ty nhượng Bởi vì cónhững đơn vị rủi ro mà khả năng tài chính công ty nhượng có thể đảm bảo đượcnhưng buộc phải tái cho các nhà tái bảo hiểm
Trong hình thức tái bảo hiểm này, công ty nhượng toàn quyền việc chấpnhận bảo hiểm gốc, định phí,… mà không phải tham khảo ý kiến của nhà tái bảohiểm Đồng thời, công ty nhượng cũng đơn phương thanh toán các vụ tổn thất cóliên quan đến các rủi ro được bảo hiểm với mục đích bảo vệ quyền lợi chung củacông ty nhượng và tái bảo hiểm Ngược lại, nhà tái bảo hiểm sẽ chia sẻ những may
Trang 20rủi với công ty nhượng và sẽ chấp nhận thanh toán tổn thất thuộc phạm vi hợp đồngtái bảo hiểm đã thỏa thuận.
Tái bảo hiểm cố định là hình thức tái bảo hiểm ràng buộc các bên chặt chẽhơn hình thức tái bảo hiểm tạm thời Tái bảo hiểm cố định có các đặc điểm sau:
- Trong các hợp đồng tái bảo hiểm cố đinh, công ty nhượng và công ty nhậnbảo hiểm thỏa thuận trước về đặc điểm của rủi ro nhượng tái bảo hiểm
- Hợp đồng tái bảo hiểm theo phương thức tái bảo hiểm cố định ràng buộc tráchnhiệm bắt buộc nhượng tái/nhận tái đối với các bên tham gia hợp đồng
- Bảng thanh toán hàng quý liên quan đến bảng thanh toán phí: thông tin vềtừng rủi ro chuyển nhượng, bảng thanh toán bồi thường, thông tin về tổn thất củatừng rủi ro được công ty nhượng gửi công ty nhận hàng quý
Ưu điểm của tái bảo hiểm cố định:
+ Tái bảo hiểm theo hình thức này giúp công ty nhượng chủ động trong việc
ký kết hợp đồng với nguời tham gia bảo hiểm Thủ tục ký kết được tiến hành nhanhchóng, tiết kiệm chi phí, giảm thiểu thời gian giao dịch, góp phần nâng cao năng lựccạnh tranh của các công ty bảo hiểm
+ Tỷ lệ hoa hồng tái bảo hiểm mà công ty bảo hiểm nhận được từ các nhà táithường khá cao và cao hơn các hinh thức tái bảo hiểm khác
+ Nhà tái bảo hiểm có điều kiện thu được số phí lớn nhất, phù hợp vớinguyên tắc “Quy luật số đông” giúp cho các nhà tái bảo hiểm thực hiện tốt vai tròkinh tế quốc dân của họ về đẩy mạnh những tiến bộ kỹ thuật của ngành bảo hiểmbằng việc chấp nhận rủi ro mới và các dạng bảo hiểm mới
Nhược điểm của tái bảo hiểm cố định:
+ Khi sử dụng hình thức này công ty bảo hiểm gốc được chủ động trong việcđánh giá rủi ro, quyết định điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, tuy vậy, nó cũng
có những bất lợi nhất định Một số công ty mới, còn thiếu kinh nghiệm về năng lựcđánh giá và quản lý rủi ro có thể gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của
cả hai bên
Trang 21+ Do ký kết nhanh chóng nên dễ xảy ra tình trạng sơ suất không đáng có về mặt
kỹ thuật, chủ yếu liên quan đến những nghiệp vụ bảo hiểm mới ra đời
+ Công ty nhận tái không có quyền từ chối những dịch vụ có rủi ro cao Công tynhượng lại bắt buộc phải chuyển cả những dịch vụ tốt, có thể nằm trong khả năng tàichính và quản lý rủi ro của bản thân công ty nhượng tái bảo hiểm
2.2.3.3 Tái bảo hiểm kết hợp tuỳ ý lựa chọn- bắt buộc (tái bảo hiểm mở)
Đây là hình thức tái bảo hiểm kết hợp giữa hình thức trên Theo đó, công tynhượng không bắt buộc phải nhượng tất cả các dịch vụ mà mình nhận bảo hiểm;ngược lại nhà tái bảo hiểm buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượngchuyển giao với điều kiện là những dịch vụ đó phải phù hợp với nội dung và điềukhoản đã quy ước cuả hợp đồng tái bảo hiểm thỏa thuận Như vậy, nhà tái bảohiểm bất lợi hơn so với hình thức tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn vì không có quyền
từ chối những rủi ro mà công ty nhượng đưa ra mặc dù họ không muốn Ở đâycông ty nhượng không được lợi dụng hình thức này để lựa chọn rủi ro nhằm mụcđích đẩy phần bất lợi này cho nhà tái bảo hiểm Tất nhiên, nhà tái bảo hiểm cũngphải cảnh giác với những ý đồ của công ty nhượng
Do đó, khi tái bảo hiểm theo hình thức này phải chú ý giải quyết thỏa đángquyền lợi của công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm, không bắt ép nhau, không nângcao thủ tục phí,…
Ưu điểm của tái bảo hiểm mở:
+ Rất phù hợp với công ty nhượng mới thành lập, khả năng non yếu, quan hệhạn hẹp
+ Trong quan hệ quốc tế bây giờ, đây là hình thức tái bảo hiểm dễ thực hiệnnhất bởi vì hầu hết các Công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp trên thế giới đều cótiềm lực tài chính mạnh và họ luôn luôn muốn mở rộng thị trường đến những nướcđang phát triển và chậm phát triển, vì vậy mối quan hệ giữa Công ty nhượng và nhàtái bảo hiểm là rất thoải mái
+ Vì là hình thức tái bảo hiểm để ngỏ cho nên dù đến cuối năm nghiệp vụbảo hiểm Công ty nhượng mới thu xếp được những dịch vụ bảo hiểm mới, số tiền
Trang 22bảo hiểm lớn nhưng vẫn có thể thỏa thuận để tái bảo hiểm theo hình thức này và cácnhà tái bảo hiểm vẫn có thể ưu tiên giúp đỡ họ.
Nhược điểm của tái bảo hiểm mở:
+ Do nhà tái bảo hiểm luôn luôn bị bất lợi cho nên với những nghiệp vụ bảohiểm mới, công ty nhượng tái thường bị ép phí
+ Nếu công ty nhượng gặp phải nhà tái bảo hiểm mà hoạt động kinh doanhcủa họ đang trong giai đoạn khó khăn hoặc thị trường tái bảo hiểm cung vượt quácầu thì mức phí cũng như hoa hồng tái bảo hiểm phải thỏa thuận lại, do đó sẽ ảnhhưởng đến hoạt đông kinh doanh của công ty nhượng
Với những ưu điểm đó, hình thức tái bảo hiểm này rất phù hợp với nhữngdịch vụ như bảo hiểm xây dựng lắp đặt, dầu khí, nông nghiệp,… có giá trị bảohiểm lớn
Có thể phân biệt các hình thức tái theo bảng so sánh sau:
được chào tái bảohiểm riêng biệt chonhà tái bảo hiểm+ Nhà tái bảo hiểmđược quyền tự do lựachọn tỷ lệ tham gia
mà họ muốn hoặc từchố không tham gia
+ Phụ thuộc vào cácđiều kiện và nội dung
đã được thỏa thuậngiữa các bên và đượcđặt ra trong hợp đồng+ Công ty nhượng đềubắt buộc phải đem táibảo hiểm và nhận táibảo hiểm các rủi ro củamọi bảo hiểm gốc màhai bên đã quy địnhtrong hợp đồng,…
+ Nhà tái bảo hiểmđồng ý chấp nhận mộtcách bắt buộc mộtphần hoặc toàn bộ bất
cứ dịch vụ nào đó phùhợp với những điềukiện định trước về loạinghiệp vụ bảo hiểm,loại rủi ro,… do đốitượng sau đây chào:Công ty nhượng hoặcmôi giới
+ Công ty nhượng haymôi giới không bắtbuộc phải tái bảo hiểmmọi dịch vụ
Phươngpháp áp
Chủ yếu dạng tái bảohiểm theo tỷ lệ
Tái bảo hiểm tỷ lệ vàtái bảo hiểm phi tỷ lệ
Chủ yếu dạng tái bảohiểm mức dôi
Trang 23Hình thức TBH tạm thời TBH cố định TBH mở
dụng
2.2.4 Các phương pháp tái bảo hiểm
2.2.4.1 Tái bảo hiểm theo tỷ lệ
Tái bảo hiểm theo tỷ lệ là phương pháp phân bổ trách nhiệm giữa công tynhượng và các nhà tái bảo hiểm đối với đơn vị rủi ro được bảo hiểm theo tỷ lệ thamgia của mỗi bên trên cơ sở số tiền bảo hiểm
Đặc điểm của phương pháp này:
- Trách nhiệm của công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm được tính theo tỷ lệtương ứng của mỗi bên tham gia vào quá trình phân tán rủi ro của đơn vị rủi ro đượcbảo hiểm
- Số phí bảo hiểm, số tiền bồi thường của mỗi đơn vị rủi ro liên quan cũngđược chia sẻ giữa công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm theo tỷ lệ tham gia của mỗibên trên cở sở số tiền bảo hiểm
Các phương pháp tái bảo hiểm theo tỷ lệ:
a, Tái bảo hiểm số thành (Quota Share)Tái bảo hiểm số thành là phương pháp tái bảo hiểm theo tỷ lệ mà theo đó,trách nhiệm quyền lợi và nghĩa vụ của công ty nhượng và các nhà tái bảo hiểm đượcphân chia theo tỷ lệ mà các bên đã thỏa thuận
Đặc điểm của tái bảo hiểm số thành là công ty nhượng giữ lại một tỷ lệ nhấtđịnh của số tiền bảo hiểm của tất cả các rủi ro đã nhận bảo hiểm, số vượt quáchuyển giao cho nhà tái bảo hiểm Tỷ lệ đó đó được thỏa thuận giữa 2 bên – công tynhượng và nhà tái bảo hiểm Theo đó, phí bảo hiểm và số tiền bồi thường cũngđược phân chia cho công ty nhượng và nhà tái theo tỷ lệ tương ứng đối với mỗi đơn
vị rủi ro
Ưu điểm của phương pháp tái bảo hiểm số thành:
- Đây là phương pháp đơn giản, dễ xử lý, ít tốn kém
- Công ty nhận tái tham gia vào mọi rủi ro, do đó, đảm bảo cân đối thu chi(vì rủi ro được dàn đều)
Trang 24Hạn chế của phương pháp tái bảo hiểm số thành:
- Công ty nhượng phải tái mọi rủi ro cho nên không khai thác hết khả năngcủa mình
- Công ty nhượng không khống chế tỷ lệ bồi thường đối với mức giữ lại, do
đó có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh Điều này được hiểu là tổn thất có thểrơi vào rủi ro đem tái, cũng có thể rơi vào phần giữ lại của công ty nhượng
Do đó, sau nhiều năm kinh doanh tái bảo hiểm, nhà tái không đảm bảo kếtquả kinh doanh thì có thể yêu cầu công ty nhượng tăng phí bảo hiểm gốc, cắt giảm
tỷ lệ thủ tục phí bảo hiểm hoặc bỏ điều kiện phí tạm giữ,… Ngược lại, công tynhượng không đảm bảo kết quả kinh doanh họ cũng có thể yêu cầu người tham giatăng tỷ lệ phí, tăng tỷ lệ thủ tục tái bảo hiểm đối với nhà tái bảo hiểm
Tái bảo hiểm số thành thường được sử dụng trong bảo hiểm trách nhiệm, bảohiểm vận chuyển hàng hóa và thường kết hợp với tái bảo hiểm mức dôi Phươngpháp này cũng được sử dụng bởi các công ty bảo hiểm mới thành lập, hay áp dụngcho các sản phẩm bảo hiểm mới
b Tái bảo hiểm mức dôi (Surplus)Đặc trưng của tái bảo hiểm mức dôi là công ty nhượng ấn định mức giữ lạinhất định cho một đơn vị rủi ro, số vượt quá tái đi Số tái đi được tái theo lớp, mỗilớp là bội số của mức giữ lại Công ty nhận tái bảo hiểm lớp nào sẽ bồi thường theolớp đó Các hợp đồng tái bảo hiểm lớp nào sẽ bồi thường theo lớp đó Các hợp đồngtái bảo hiểm mức dôi thường ấn định giới hạn tối đa của hợp đồng tái bảo hiểm
Do ấn định mức giữ lại là một số tiền bảo hiểm nhất định, phần vượt quámức giữ lại mới phải tái đi nên chỉ những đơn vị rủi ro có số tiền bảo hiểm vượt quámức giữ lại công ty nhượng mới phải tái bảo hiểm, các đơn vị rủi ro có số tiền bảohiểm nhỏ hơn mức giữ lại công ty nhượng sẽ giữ lại cho mình Phí và số tiền bồithường của công ty nhượng và nhà tái sẽ được phân chia theo tỉ lệ trách nhiệm màmỗi bên đảm nhận
Trang 25Tái bảo hiểm mức dôi thường được sử dụng đối với các nghiệp vụ bảo hiểm cháy,bảo hiểm vận chuyển hàng hóa, trộm cắp, tai nạn thân thể về nhân thọ,…
Tái bảo hiểm mức dôi có ưu điểm hơn tái bảo hiểm số thành Đó là công tynhượng chỉ phải đem tái những đơn vị rủi ro có giá trị (hoặc số tiền) bảo hiểm vượtquá khả năng giữ lại đã ấn định Như vậy, công ty nhượng khai thác hết khả năngcủa công ty, đảm bảo cân bằng trong kinh doanh và tạo điều kiện để công ty nhượng
có thể bảo hiểm những rủi ro có giá trị lớn hơn khả năng tài chính của mình
Nhưng, tái bảo hiểm mức dôi cũng có những hạn chế: tính toán phức tạp, chiphí hành chính nhiều hơn tái bảo hiểm số thành, nếu tổn thất rơi vào nhiều các đơn
vị rủi ro mà công ty nhượng giữ lại sẽ ảnh hưởng đến kinh doanh của công ty gốc(công ty nhượng)
Theo phương pháp này, số phí bảo hiểm và tiền bồi thường tổn thất đượcphân bổ cho các công ty tham gia hợp đồng theo tỷ lệ tương ứng của từng đơn vị rủi
ro riêng biệt
Trong tái bảo hiểm mức dôi, vấn đề quan trọng là xác định mức giữ lại và tái
đi Các công ty nhượng rất quan tâm đến vấn đề xác định mức giữ lại Xác địnhmức giữ lại hợp lý là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh củacông ty Thông thường để xác định mứ giữ lại và tái đi hợp lý phải dựa trên cơ sởthống kê và xác suất tổn thất trong một giai đoạn nhất định (từ 3 đến 5 năm) Dó đó,thường căn cứ vào: Các yếu tố chính của rủi ro; Số tiền bảo hiểm, loại tiền; Mức dựtrữ hiện có
Nguyên tắc chung cuả tái bảo hiểm mức dôi tính bằng số lần theo bội số củamức giữ lại (mức giữ lại này được coi một lần hay lớp) Vì vậy số dư thừa vượt quákhả năng tái của hợp đồng tái bảo hiểm mức dôi thứ nhất, công ty nhượng tự gánhchịu hoặc thu xếp hợp đồng tái bảo hiểm mức dôi thứ hai, mức dôi thứ ba,…
Hợp đồng tái bảo hiểm mức dôi thứ hai là tiếp tục tái phần dư thừa sau khitái lần thứ nhất và nếu còn dư thừa sẽ tiếp tục mức dôi thứ ba, thứ tư,
Trang 26Có thể phân biệt tái bảo hiểm số thành và tái bảo hiểm mức dôi theo một sốđiểm như sau:
Tái bảo hiểm số thành Tái bảo hiểm mức dôi
- Công ty nhượng giữ lại tỷ lệ nhất địnhtrên mỗi đơn vị rủi ro nên mức giữ lạikhông đều nhau
- Mọi rủi ro đều phải tái theo tỷ lệ nhấtđịnh
- Phí bảo hiểm được phân bổ giữa công
ty nhượng và nhà Tái bảo hiểm theo tỷ lệphân bổ trách nhiệm đã quy định tronghợp đồng
- Công ty nhượng và nhà tái bảo hiểmchia sẻ sự may rủi (tức phân chia số tiềnbồi thường) theo tỷ lệ tái bảo hiểm củatất cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm (theo tỷ
lệ thống nhất)
- Công ty nhượng ấn định mức giữ lạicho mỗi đơn vị rủi ro nên mức giữ lạibằng nhau (đối với những rủi ro có tái)
- Chỉ những rủi ro có số tiền bảo hiểmvượt quá mức giữ lại mới tái
- Phí bảo hiểm phân bổ giữa công tynhượng và công ty nhận tái bảo hiểmmức dôi luôn thay đổi theo tỷ lệ phân bổ
số tiền bảo hiểm
- Công ty nhượng và nhà tái bảo hiểmchia sẻ sự may rủi theo tỷ lệ tái bảo hiểmcủa từng đơn vị rủi ro bảo hiểm
2.2.4.2 Tái bảo hiểm phi tỷ lệ
Tái bảo hiểm phi tỷ lệ là phương pháp tái bảo hiểm theo đó công ty nhượng ấnđịnh một giới hạn bồi thường bằng một số tiền hoặc một tỷ lệ bồi thường nhất định
mà họ có thể gánh chịu cho tổn thất của một sự kiện đối với một rủi ro được bảohiểm, phần tổn thất vượt quá hạn mức đó được chuyển giao cho nhà tái bảo hiểm
Phân định trách nhiệm giữa công ty nhượng và công ty nhận tái bảo hiểm làcăn cứ vào số tiền bồi thường tổn thất, không căn cứ vào tỷ lệ phí, giới hạn tráchnhiệm, do đó gọi là tái bảo hiểm phi tỷ lệ Trong trường hợp này, công ty nhượngbồi thường theo giới hạn mức giữ lại gọi là mức tự bồi thường; nhà tái bảo hiểm bồithường phần vượt quá gọi là hạn mức trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm
Trang 27Ưu điểm của tái bảo hiểm phi tỷ lệ:
- Công ty nhượng khống chế mức bồi thường tối đa, tổn thất vượt quá điểm
tự bồi thường sẽ được bảo hiểm
- Công ty nhượng đảm bảo kinh doanh do thu phí của những rủi ro bảo hiểmthuộc giới hạn điểm tự bồi thường
- Chi phí hành chính tốn kém vì không phải phân loại đơn vị rủi ro, tính toánmức giữ lại,…
Nhược điểm của tái bảo hiểm phi tỷ lệ:
- Nếu xác định không chính xác điểm tự bồi thường sẽ ảnh hưởng đến kếtquả kinh doanh của công ty
- Phương pháp tính phí phức tạp, nhất là tái bảo hiểm rủi ro thảm họa
a Tái bảo hiểm vượt mức bồi thườngTheo hình thức tái bảo hiểm này, công ty nhượng ấn định cho mình một sốtiền bồi thường nhất định, số tổn thất vượt quá điểm tự bồi thường được chuyểngiao cho nhà tái bảo hiểm
Trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm trong hợp đồng tái bảo hiểm vượt mức bồithường có thể có giới hạn hoặc không giới hạn Trường hợp có giới hạn, hợp đồngquy định trách nhiệm tối đa của công ty nhận tái bảo hiểm
Nếu tổn thất vượt quá giới hạn trách nhiệm đó, công ty nhượng thường phảithu xếp hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường tiếnhành theo từng lớp Các lớp đó không nhất thiết phải bằng nhau Khi tổn thất xảy ra,công ty nhượng bồi thường đến điểm tự bồi thường, tổn thất vượt quá sẽ thuộc tráchnhiệm của các công ty nhận tái bảo hiểm theo thứ tự các lớp mà các nhà tái đảmnhận Nghĩa là các công ty nhận tái lớp thứ nhất bồi thường đến ngưỡng của mình,
số vượt quá đến lớp thứ hai, thứ ba,…
Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường có hai loại: tái bảo hiểm vượt mức bồithường đảo bảo nghiệp vụ và tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo thảm họa
- Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo nghiệp vụ
Trang 28Đây là dạng tái bảo hiểm nhằm đảm bảo quyền lợi công ty nhượng, nghĩa làbất kỳ tổn thất nào xảy ra nhà tái bảo hiểm đều chia sẻ trách nhiệm bồi thường vớicông ty nhượng.
Căn cứ để tiến hành dạng tái bảo hiểm này là tổn thất của từng đơn vị rủi ro
và được chia ra: TBH bồi thường đảm bảo nghiệp vụ có hạn mức và không có hạnmức cho từng sự kiện bảo hiểm
Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo nghiệp vụ không hạn mức là táibảo hiểm áp dụng cho từng đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc và không hạn chế tổng số bồithường trong trường hợp có nhiều vụ tổn thất xảy ra từ một sự kiện bảo hiểm
Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo nghiệp vụ có hạn mức từng sựkiện áp dụng trong trường hợp nhiều rủi ro xảy ra trong cùng một sự kiện bảo hiểm
có tổng số tiền bồi thường quá lớn Loại tái bảo hiểm này khống chế mức bồithường tối đa của nhà tái bảo hiểm này trong trường hợp nhiều rủi ro xảy ra trùngcùng một sự kiện bảo hiểm
- Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo thảm họaDạng tái bảo hiểm này nhằm bảo vệ công ty nhượng tránh được những tổnthất quá lớn đối với những sự kiện nằm ngoài khả năng kiểm soát của con người.Nói cách khác, tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo thảm họa nhằm bảo vệcông ty nhượng đối với sự tích tụ rủi ro hay tổng hợp nhiều tổn thất xảy ra trongcùng một sự kiện bảo hiểm hay sự việc có tính chất quan trọng khốc liệt như độngđất, bão tố, nhiều ô tô va chạm trong một vụ tai nạn
b Tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thườngTheo phương pháp này, công ty nhượng khống chế trách nhiệm bồi thườngmột tỷ lệ nhất định, phần tỷ lệ bồi thường vượt quá mức ấn định của công tynhượng được chuyển giao cho công ty nhận tái bảo hiểm
Trang 292.3 Hợp đồng tái bảo hiểm
Hợp đồng tái bảo hiểm là sự thỏa thuận được ký kết giữa công ty nhượng vànhà tái bảo hiểm, mà trong đó nhà tái bảo hiểm cam kết bồi thường cho công tynhượng phần trách nhiệm mà họ phải gánh chịu trong hợp đồng bảo hiểm của mình.Hợp đồng tái bảo hiểm có 3 đặc trưng:
- Nhà tái bảo hiểm cam kết bồi thường cho công ty nhượng - người ký hợpđồng chuyển nhượng tái bảo hiểm
- Tái bảo hiểm có thể bồi thường toàn bộ hoặc 1 phần đối với những tráchnhiệm mà công ty nhượng phải gánh chịu theo hợp đồng tái bảo hiểm
- Hợp đồng tái bảo hiểm là hợp đồng riêng biệt giữa nhà tái bảo hiểm với công
ty nhượng còn người được bảo hiểm không tham gia vào hợp đồng tái bảo hiểm
Trong hợp đồng tái bảo hiểm, có một số điểm quan trọng như: hoa hồng táibảo hiểm, mức giữ lại, quản lý hợp đồng,…
a Hoa hồng tái bảo hiểmHoa hồng tái bảo hiểm là một khoản tiền mà công ty nhận tái bảo hiểm trảcho công ty nhượng khi họ nhận tái bảo hiểm của công ty nhượng Hoa hồng nàynhằm mục đích chi phí cho dịch vụ của công ty nhượng, nó được tính toán trên cơ
sở tỷ lệ bồi thường của dịch vụ bảo hiểm Hoa hồng chỉ áp dụng trọng tái bảo hiểm
tỷ lệ Tuy nhiên trong một số trường hợp rất hãn hữu, tái bảo hiểm phi tỷ lệ cũng ápdụng Hoa hồng nhượng tái bảo hiểm nhằm mục đích bù đắp một phần chi phí khaithác của công ty nhượng Tuy nhiên, hoa hồng nhượng tái bảo hiểm mà công tynhượng nhận được có thể cao hơn hoặc thấp hơn chi phí thực tế mà họ đã chi ra.Nguyên nhân là do thủ tục phí tái bảo hiểm được tính toán trên cơ sở số phí thuđược của dịch vụ tái bảo hiểm hoặc tỷ lệ bồi thường của dịch vụ tái bảo hiểm
Khi tính hoa hồng nhượng tái bảo hiểm, các bên tham gia hợp đồng cần cânnhắc đến các yếu tố:
- Phương pháp tái bảo hiểm số thành hay mức dôi
- Phí TBH trên cơ sở phí toàn phần hay có khấu trừ;
- Trong phí gốc có các khoản giảm phí hay không (No claim bonus);
Trang 30- Chi phí quản lý và chi phí hành chính của công ty nhiều hay ít;
- Tình hình bồi thường qua các năm;
- Công ty nhượng sử dụng phí nhàn rỗi như thế nào;
Những yếu tố đó là căn cử để xác định tỷ lệ thủ tục phí hợp lý nhằm đảm bảoquyền lợi kinh doanh của công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm
Căn cứ vào đặc điểm tính toán, thủ tục phí tái bảo hiểm có 3 loại:
- Hoa hồng tái bảo hiểm cố địnhHoa hồng nhượng tái bảo hiểm cố định là một số tiền mà nhà tái bảo hiểm trảcho công ty nhượng theo một tỷ lệ cố định của phí tái bảo hiểm toàn phần khi nhàtái bảo hiểm nhân hợp đồng từ công ty nhượng
- Hoa hồng tái bảo hiểm theo thang lũy tiến
Hoa hồng nhượng tái bảo hiểm theo thang đo lũy tiến là trường hợp hoa hồng táibiến động theo sự biến động của tỷ lệ bồi thường Nếu tỷ lệ bồi thường giảm 2 đơn vị, tỷ lệthủ tục phí tăng 1 đơn vị Tỷ lệ thủ tục phí thấp nhất là 20% Đây là căn cứ để tính tỷ lệthủ tục phí theo thang lũy tiến (cao nhất 30%)
Trang 31Dự phòng chonhững tổn thấtchưa giải quyếtcuối năm
-Dự phòng chonhững tổn thấtchưa giải quyếtđầu năm
- Hoa hồng tái bảo hiểm theo lãiHoa hồng theo lãi thường được trả cho công ty nhượng khi kết quả kinhdoanh thực tế của nhà tái bảo hiểm tốt hơn nhiều so với tỷ lệ bồi thường trung bình
dự kiến
Theo phương pháp này, nhà tái bảo hiểm phải trả thêm cho công ty nhượngmột khoản lợi nhất định được tính bằng tỷ lệ của lợi nhuận thực tế mà nhà tái bảohiểm thu được khi kết quả của hợp đồng tái bảo hiểm có lãi Như vậy, thủ tục phítheo lãi chỉ được tính trên cơ sở thực lãi của nhà tái bảo hiểm
Căn cứ để xác định lãi (lỗ) của nhà tái bảo hiểm là tài khoản lỗ lãi:
1 Dự trữ cho những rủi ro còn phảithanh toán năm trước chuyển sang
4 Dự trữ cho những tổn thất còn phảithanh toán vào cuối năm
2 Dự trữ cho những tổn thất đang chờ giảiquyết từ năm trước chuyển sang
5 Dự trữ cho những tổn thất đang chờ giảiquyết cuối năm
Trang 327 Các khoản thủ tục phí tái bảo hiểm đã trả
8 Chi phí hành chính của nhà tái bảo hiểm
9 Lỗ từ năm trước chuyển sang (nếu có)
10 Chi phí khác (thuế, )
b Phí tạm giữ (phí dự trữ)Phí tạm giữ là khoản dự phòng riêng giúp cho công ty nhượng có thuận lợitrong việc giải quyết bồi thường cho nghiệp vụ bảo hiểm gốc trước khi quyết toánđòi bồi thường của nhà tái bảo hiểm
Việc tạm giữ một khoản phí tái bảo hiểm của nhà tái bảo hiểm là nhằm đảmbảo cân đối thanh toán những dịch vụ tái bảo hiểm chuyển ra nước ngoài; đồng thời
nó cũng phản ánh mối quan hệ giữa bảo lãnh của nhà tái bảo hiểm đối với khả năngthanh toán của công ty nhượng Nhờ có phí tạm giữ, công ty nhượng có thêm nguồntài chính để giải quyết bồi thường kịp thời những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểmcủa hợp đồng bảo hiểm gốc
Thông thường khoản phí tạm giữ chiếm khoảng 35 – 40% phí tái bảo hiểmtoàn phần Phí tạm giữ này được trả lại cho nhà tái bảo hiểm vào thời điểm quy địnhcủa năm kế tiếp và phải thêm một khoản lãi nhất định (theo lãi suất cho vay của thịtrường)
Trong trường hợp nhà tái bảo hiểm không tham gia tiếp tục hợp đồng thì phítạm giữ sẽ được giải quyết như sau:
+ Tiếp tục chịu trách nhiệm đối với những rủi ro còn hiệu lực cho tới khichấm dứt
Trang 33+ Hoặc chuyển giao cho nhà tái bảo hiểm mới theo thỏa thuận,…
Việc thanh toán phí tạm giữ còn phải căn cứ vào việc giải quyết bồi thường.Nếu trong năm không phát sinh trách nhiệm bồi thường của nhà tái bảo hiểm, việcthanh toán diễn ra như đã trình bày ở phần hoàn lại phí Nếu có phát sinh tráchnhiệm bồi thường của nhà tái bảo hiểm thì phải căn cứ vào trách nhiệm bồi thườngcủa nhà tái bảo hiểm và đối chiếu số phí hoàn lại từng quý (hoặc cả năm) để thanhtoán Nếu bồi thường ít hơn số phí hoàn lại, công ty nhượng phải chuyển trả chonhà tái bảo hiểm; ngược lại nếu bồi thường nhiều thì nhà tái bảo hiểm phải chuyểntiếp cho công ty nhượng,…
Trang 34c Mức giữ lạiTrước khi quyết định tái bảo hiểm, người bảo hiểm gốc cần cân nhắc vàquyết định mức giữ lại Đây là quyết định quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả kinhdoanh của công ty bảo hiểm gốc Mức giữ lại là một khoản tiền tối đa có thể giữ lạitrên một đơn vị rủi ro.
Mức giữ lại của hợp đồng tái bảo hiểm được xác định trên cơ sở luật quyđịnh Mức giữ lại được quy định trên mỗi đơn vị rủi ro căn cứ vào vốn chủ sở hữuloại hình nghiệp vụ bảo hiểm, khả năng quản lý rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểmgốc Các công ty bảo hiểm gốc thường phân cấp cho bộ phận tái trong việc ấn địnhmức giữ lại, nếu mức giữ lại vượt quá mức phân cấp thì thường do lãnh đạo công tyquyết Ngoài ra, để bảo vệ mình, công ty bảo hiểm gốc có thể thu xếp hợp đồng táibảo hiểm vượt mức bồi thường để tránh trường hợp tổn thất vượt khả năng chi trảcủa mình
d Quản lý hợp đồng tái bảo hiểmMột công ty bảo hiểm gốc thường có nhiều hợp đồng tái bảo hiểm khác nhaubao gồm các hợp đồng tái bảo hiểm bắt buộc và tái bảo hiểm tạm thời Tất cả cáchợp đồng tái bảo hiểm đều được cấp mã số theo dõi
Đối với các hợp đồng tái bảo hiểm bắt buộc, việc nhượng tái bảo hiểmthường được quản lý bởi chương trình hạch toán hợp đồng tái bảo hiểm cố định Phíbảo hiểm được thanh toán hàng quý và bất kỳ tổn thất nào có ảnh hưởng đến phạm
vi bảo hiểm sẽ được thông báo kịp thời cho các nhà tái bảo hiểm theo chương trìnhhạch toán và thẩm định tái bảo hiểm cố định
Tất cả các điều kiện kinh doanh được quy định sẵn khi hợp đồng tái bảohiểm có hiệu lực và được rà soát lại hàng tháng hoặc hàng quý
Các tổn thất phải được thông báo ngay cho nhà tái bảo hiểm Tùy từng công
ty bảo hiểm, tuy nhiên các công ty bảo hiểm gốc định kỳ hàng quý hoặc nửa năm sẽ
tổ chức các cuộc gặp gỡ với các nhà tái bảo hiểm để giải quyết các vấn đề phát sinh
Trang 35Phí nhượng tái bảo hiểm thường được thu đồng thời với việc thanh toán phítái bảo hiểm gốc Công ty bảo hiểm gốc có thể thỏa thuận riêng với các nhà táitrong việc ứng trước bồi thường bằng tiền mặt từ nhà tái bảo hiểm theo hợp đồng cốđịnh để chi trả cho các khiếu nại lớn Mục đích của hoạt động này nhằm mục đíchđảm bảo tính thanh khoản của công ty bảo hiểm gốc trong mọi thời điểm Công ty
sẽ theo dõi thường xuyên và chặt chẽ số dư các khoản phải thu
Mỗi hợp đồng tái bảo hiểm được định giá hằng năm để đánh giá tình hình lãi
lỗ của các nhà nhận tái bảo hiểm cũng như khả năng của các công ty này trong việctiếp tục đáp ứng các cam kết của hợp đồng tái bảo hiểm Công ty bảo hiểm gốc cầntuyệt đối tuân thủ quy trình này đối với các hợp đồng dài hạn
Trang 36CHƯƠNG 3
TÁI BẢO HIỂM TÀI SẢN TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO
VIỆT
3.1 Khái quát về TCT BHBV
3.1.1 Sự hình thành và phát triển của Tổng Công ty bảo hiểm Bảo Việt.
Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (TCT BHBV) là công ty thành viênđược Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt đầu tư 100 vốn
Tập đoàn Bảo Việt được thành lập ngày 15/1/1965, đến nay đã trở thành Tậpđoàn Tài chính - Bảo hiểm hàng đầu Việt Nam và là một trong số 25 doanh nghiệp lớnnhất của Việt Nam được Nhà nước công nhận và xếp hạng
Hiện tại Tập đoàn có trụ sở tại Hà Nội với hơn 150 chi nhánh trên khắp 63tỉnh thành cả nước Bảo Việt tự hào là công ty bảo hiểm đầu tiên thành lập tại ViệtNam Trong lễ kỷ niệm 50 năm thành lập vào tháng 01/2015, Bảo Việt đã vinh dựđược Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động Hạng Nhất Bảo Việtđược tổ chức BVQI (Vương quốc Anh) cấp chứng chỉ quản lý chất lượng theo tiêuchuẩn quốc tế ISO 9001:2000 từ tháng 8/2001 và ISO 9001:2008 vào năm 2009
Từ tháng 6/2009, cổ phiếu Bảo Việt (BVH) đã được niêm yết trên Sở Giao dịchChứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay, Tập đoàn Bảo Việt cung cấp dịch vụtài chính toàn diện, bao gồm bảo hiểm, ngân hàng, quản lý quỹ, chứng khoán và đầu
tư Tại thời điểm 31/12/2014, Tập đoàn có tổng nguồn vốn chủ sở hữu là 12.125 tỷđồng Là doanh nghiệp nhà nước đầu tiên thành công trong việc tìm kiếm cổ đôngchiến lược nước ngoài (HSBC là đối tác chiến lược nước ngoài đầu tiên của Bảo Việt
từ 2007 - 2012) với nhà đầu tư chiến lược Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Sumitomo
(Sumitomo Life) của Nhật Bản chính thức sở hữu 18% cổ phần của Tập đoàn kể từ
ngày 20/12/2012
Trong quá trình phát triển, Bảo Việt liên tục đạt được những thành tích vượttrội, doanh thu, lợi nhuận và các khoản đóng góp ngân sách Nhà nước liên tục tăng,doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân trên 20% trong 5 năm qua
Trang 37Năm 2014, Tập đoàn Bảo Việt đã đạt được sự tăng trưởng ổn định về doanhthu và lợi nhuận:
Việt là 19.050 tỷ đồng, tăng trưởng 1,1% so với năm 2013; Lợi nhuận sau thuế hợpnhất là 1.627 tỷ đồng
nguồn vốn chủ sở hữu đạt 12.244 tỷ đồng
Lợi nhuận sau thuế của Công ty Mẹ đạt 1.121 tỷ đồng, tăng trưởng 1,01% so vớinăm 2013, hoàn thành 100,1% kế hoạch năm 2014 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều
lệ của Công ty Mẹ đạt 16,5%, đảm bảo mức chi trả cổ tức là 15% trên mệnh giá cổphiếu (1.500 đồng/cổ phiếu), tương ứng số tiền 1.021 tỷ đồng, bằng 92,43% lợinhuận sau thuế; đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, quyền lợicho khách hàng, nhà đầu tư và người lao động
Lĩnh vực kinh doanh truyền thống là bảo hiểm đạt kết quả khả quan, tiếp tụckhẳng định vị trí số 1 thị trường bảo hiểm phi nhân thọ với 23,1% thị phần; Doanh thukhai thác mới bảo hiểm nhân thọ đạt 1.873 tỷ đồng, tăng 1.2% Các lĩnh vực kinhdoanh khác như chứng khoán, quản lý quỹ, đầu tư, ngân hàng,… đạt được sự tăngtrưởng ổn định, góp phần tạo dựng nền tảng vững chắc để Bảo Việt tiếp tục triển khaiđịnh hướng phát triển trong giai đoạn 2015-2016
Năm 2015 Tập đoàn Bảo Việt hướng tới nhiệm vụ trọng tâm là phát huy sứcmạnh tổng thể trên cơ sở khơi thông mọi nguồn lực, tăng cường hợp tác nội bộ trêntoàn hệ thống Bảo Việt, hướng tới hoàn thành mục tiêu chiến lược kinh doanh 5năm 2011 -2015 của Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt, tạo đà phát triểnnhanh và bền vững trong giai đoạn 2016 - 2020
Ngày 04/10/2015 tại lễ trao giải Sao vàng đất Việt, tập đoàn Bảo Việt dành
cú đúp cho giải thưởng TOP10 Doanh nghiệp tiêu biểu trách nhiệm xã hội vàTOP100 Thương hiệu Việt Nam 2015
Trang 38Là một thành viên chủ chốt của Tập Đoàn Bảo Việt, trải qua chặng đườnggần nửa thế kỷ hình thành và phát triển (từ 15/01/1965 đến nay), Bảo hiểm Bảo Việt(BHBV) tự hào là doanh nghiệp bảo hiểm lâu đời nhất tại Việt Nam, luôn khẳngđịnh vị trí dẫn đầu thị trường cả về thị phần, doanh thu phí bảo hiểm gốc lẫn quy môvốn điều lệ Bảo hiểm Bảo Việt đã nỗ lực không ngừng để thực hiện tốt vai trò vàtrách nhiệm của nhà bảo hiểm hàng đầu Việt Nam trong công tác hỗ trợ, giải quyếtbồi thường cho khách hàng cũng như trong công tác an sinh xã hội; nhằm bảo đảmphát triển bền vững và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.
179/CP của Chính phủ ngày 17/12
ngày 15/01 với trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh duy nhất tại Hải Phòng
nước kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và tàu biển ở miền Bắc
trên toàn lãnh thổ Việt Nam với mạng lưới rộng khắp và các sản phẩm bảo hiểm đadạng như bảo hiểm hàng không, bảo hiểm con người, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểmtàu sông – tàu cá…
số 27-TCQĐ-TCCB ban hành bởi Bộ Tài chính ngày 17/02
trong 25 doanh nghiệp Nhà nước lớn nhất tại Việt Nam
chất lượng sản phẩm, dịch vụ với slogan “Phục vụ khách hàng tốt nhất để phát triển”
hiểm Bảo Việt (tên giao dịch là Bảo hiểm Bảo Việt) với slogan Niềm tin vững chắc,cam kết vững bền
Trang 39 2013: Bảo hiểm Bảo Việt tăng vốn điều lệ từ 1.800 tỷ đồng lên 2.000 tỷđồng, trở thành doanh nghiệp đứng đầu về quy mô vốn điều lệ trong lĩnh vực Bảohiểm Phi Nhân thọ tại Việt Nam
Với hệ thống mạng lưới gồm 67 công ty thành viên và hơn 300 phòng kinhdoanh phục vụ khách hàng trên toàn quốc, hơn 3.000 cán bộ nhân viên có trình độchuyên môn cao, tiềm lực tài chính vững mạnh, sản phẩm đa dạng và ưu việt, nănglực quản trị – kinh doanh, quản lý rủi ro và giải quyết bồi thường tốt, Bảo hiểm BảoViệt tự tin về khả năng tư vấn và đáp ứng mọi yêu cầu bảo hiểm của khách hàng cánhân và khách hàng doanh nghiệp
Trong những năm gần đây, Bảo hiểm Bảo Việt là một trong những doanhnghiệp tiên phong trong việc triển khai mô hình kinh doanh theo định hướng quản
lý tập trung, đa dạng hóa sản phẩm và kênh phân phối, đẩy mạnh công tác quản lýrủi ro và xây dựng hệ thống công nghệ thông tin tiên tiến nhằm mang đến cho kháchhàng những dịch vụ hoàn hảo và giá trị lâu bền
3.1.2 Tổ chức của Tổng Công ty bảo hiểm Bảo Việt.
Mô hình tổ chức của TCT BHBV là sự kết hợp của mô hình tổ chức theochức năng và theo sản phẩm
Ban kiểm soát của TCT gồm có Hội đồng Thành viên và Ban Tổng giámđốc Trong đó, Ban Tổng Giám đốc nằm dưới sự giám sát của Hội đồng Thànhviên, chịu trách nhiệm trước Hội đồng về hoạt động của mình Tiếp đó, Ban Tổnggiám đốc sẽ trực tiếp giám sát mọi hoạt động của các khối hoạt động, báo cáo kếtquả với Hội đồng Thành viên Các khối hoạt đồng được chia thành nhiều ban giữcác chức năng nhiệm vụ riêng BHBV tuân thủ rất chặt chẽ quy định ISO, vì vậycác ban đều có quyết định ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng, lànhững cánh tay đắc lực bảo đảm mọi mặt cho sự phát triển chung của toàn bộ hệthống quản lý doanh nghiệp TCT cũng rất chú trọng việc tinh giản bộ máy quản lý,thường xuyên đánh giá hiệu quả công việc của từng vị trí công tác, không để tìnhtrạng phân bổ công việc không đồng đều giữa các phòng ban, giữa các cán bộ nhânviên
Trang 40BHBV hiện có 67 công ty thành viên tại 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc,mỗi công ty thành viên đều có Giám đốc và Phó giám đốc đảm nhiệm điều hànhhoạt động của từng đơn vị
Bộ máy quản lý điều hành doanh nghiệp của BHBV gồm những lãnh đạogiàu kinh nghiệm quản lý, điều hành, có trình độ cao về bảo hiểm và quản trị doanhnghiệp, am hiểu thị trường bảo hiểm trong và ngoài nước
Đội ngũ cán bộ của BHBV luôn được đánh giá là đội ngũ có trình độ, giàukinh nghiệm và được đào tạo cơ bản
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của TCT BHBV
Ban Pháp chế
Khối TGĐ chỉ đạo trực tiếp
Khối quản
lý hoạt động
Khối quản
lý tài chính
Khối quản
lý và pt kinhdoanh
Khối phát triển kênh phân phối
Khối kinh doanh trực tiếp
Văn phòng TSC
Ban Tổ chức Nhân sự
Hội đồng Thành viên
Ban Tổng giám đốcKiểm soát viên
Ban Kiểm tra nội bộ
và QLRRBan Tái Bảo hiểm
Ban Kế hoạch tài chínhBan Kế toánBan Đầu tư
Ban Xây dựng cơ bản
Ban QLDA các công trình BHBV
Ban Quản trị
Ban Giám định bồi thường (XCG &
TSKT)Ban Giám định bồi thường Hàng hảiBan Bảo lãnh và chi trả viện phíTrung tâm DVKH
Ban BHYT và tai nạn con ngườiBan BH Tài sản
Ký thuậtBan BH Hàng hảiBan BH
Xe cơ giới
Ban KDBH Phi hàng hảiBan KDBH Hàng hóaBan KDBH Tàu thủyBan BH
Dự ánBan BH Dầu khí – Hàng không
Ban Đào tạo và phát triển đại lýBan Bancassurance
Ban Dự án BH Nông nghiệp