1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài chính sách giữ gìn và phát triển văn hóa trong quá trình toàn cầu hóa ở việt nam

21 499 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 123,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới năm 1986 là một bước ngoặtquan trọng trong sự phát triển của Việt Nam, nó gần như thay đổi bộ mặt của đấtnước không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, xã hội mà còn ảnh hưởng không nhỏ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Thị Trâm Thùy 0769151Phạm Hà Thảo Nguyên 0769097

Nguyễn Thị Bích Phương 0769111

Lê Thị Kim Phượng 0769113Huỳnh Thị Thu Sen 0769121Trần Thị Minh Thành 0769134

Trang 2

I DẪN NHẬP

Toàn cầu hóa là một quá trình tất yếu khách quan, đó là xu thế của thờiđại Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó Đổi mới năm 1986 là một bước ngoặtquan trọng trong sự phát triển của Việt Nam, nó gần như thay đổi bộ mặt của đấtnước không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, xã hội mà còn ảnh hưởng không nhỏ đếnvăn hóa của nước ta Kinh tế cởi mở hơn, đặc biệt là có sự giao thương buôn bánvới nước ngoài, và sự xâm nhập ngày càng sâu rộng của các tập đoàn đa quốcgia tạo nên một nền kinh tế đa dạng và phong phú Kinh tế phát triển, thu nhậpcủa người dân ngày càng tăng cao, GDP bình quân đầu người từ 200USD năm

1990 tăng lên 640USD năm 2005, và vượt ngưỡng 1.000USD năm 2008 (nguồn

Tổng cục thống kê) Đây là một dấu hiệu đáng mừng đặc biệt từ khi gia nhập

WTO năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành một thành viên của cộngđồng quốc tế, sự hội nhập không dừng lại ở kinh tế mà nó đã kéo theo sự thayđổi mọi mặt trong đời sống xã hội và đặc biệt cả trong văn hóa Nếu sự phát triển

về kinh tế là một dấu hiệu đáng mừng thì sự du nhập văn hóa từ nước ngoài cầnphải được bàn đến nhiều hơn Văn hóa là vốn quý, là nguồn lực nội sinh quantrọng nhất của phát triển Không phải văn hóa nào cũng phù hợp với xã hội, vớinhững chuẩn mực văn hóa của Việt Nam Sự va chạm giữa các nền văn hóa làkhông thể tránh khỏi Tuy nhiên làm thế nào để hội nhập về kinh tế mà không bịhòa tan, biến dạng về văn hóa là chiến lược quan trọng để phát triển Thấy đượctầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc, Đảng và Nhà nước

ta đã đề ra những chính sách có sự nhấn mạnh, điều chỉnh phù hợp trong từngthời kỳ Chính sách về văn hóa không chỉ thể hiện các yêu cầu về văn hóa trongtình hình mới mà còn thể hiện các yếu tố, đặc điểm chính trị sâu sắc

Trang 3

II NỘI DUNG

1 Thao tác hóa các khái niệm

Kraft và Furlong (2004) đưa ra một định nghĩa tổng hợp hơn Theo đó,

chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình.

(Nguồn: Viện Nghiên Cứu Phát Triển TP.HCM – HIDS

http://hids.hochiminhcity.gov.vn )

Văn hóa

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh mộtcách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ làAlfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khácnhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới

Trang 4

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn , vật chất , tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và

nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật , cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.

(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia http://www.wikimedia.org )

Định nghĩa của Hồ Chí Minh về văn hoá: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mụcđích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ chosinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ nhữngsáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá" ( http://baigiang.violet.vn )

Chính sách văn hóa

Chính sách văn hoá là chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước nhằmxây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển con ngườitoàn diện, phục vụ đắc lực yều cầu phát triển đất nước Văn hoá vừa là nền tảngtinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội ( http://baigiang.violet.vn )

Toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa được hiểu như một quá trình mà thông qua đó thị trường vàsản xuất ở nhiều nước khác nhau sẽ trở nên phụ thuộc và liên kết với nhau

Toàn cầu hóa là quá trình hình thành một chuỗi các liên kết ràng buộcgiữa các chính phủ và các nhóm xã hội tạo lập nên một hệ thống thế giới hiệnđại, quyết định hoạt động của cá thể và cộng đồng

Trang 5

Toàn cầu hóa chỉ nên hiểu theo nghĩa kinh tế thế giới, nó là một quan hệkinh tế mang tính phi lãnh thổ Nó quyết định những cái không dừng lại ở cấp độquốc gia hay lãnh thổ.

Theo Thomson, phá vỡ quan hệ kinh tế có thể dẫn đến sự phá vỡ văn hóa,chính trị Đây là quan điểm được nhiều nhà chính trị ủng hộ

Quan điểm của Phidel Castro: toàn cầu hóa là một quá trình lịch sử đangxác định khung cảnh thế giới Đây là hiện tượng không thể đảo ngược, nó mangđặc trưng của các mối quan hệ tương tác kinh tế, dân tộc giữa các quốc giakhông ngừng tăng lên, nó rút ngắn khoảng cách giữa các dân tộc trên thế giới

Tóm lại, toàn cầu hóa là một quy luật mang tính xu hướng thế giới Nhưngquan niệm về toàn cầu hóa và bản chất của toàn cầu hóa thì trong mỗi giai đoạn,trong mỗi quốc gia là khác nhau

(Nguồn: Đề cương bài giảng Xã hội học chính trị, TS Vũ Quang Hà)

2 Khái quát về văn hóa Việt Nam

Lãnh thổ Việt Nam nằm ở phần phía Đông của bán đảo Đông Dương, có4.550km đường biên giới đất liền Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào

và Campuchia, phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông Dải đất liền hình chữ

S với diện tích 331.689km2, trải dài 1.650km từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắctheo hướng Bắc – Nam Chỗ rộng nhất trên đất liền khoảng 500km và nơi hẹpnhất gần 50km Việt Nam có 2 vùng đồng bằng màu mỡ: Đồng bằng Sông Hồng(Miền Bắc) và Đồng bằng Sông Cửu Long (Miền Nam) Hai đồng bằng nối liềnbởi cao nguyên Miền Trung với dãy núi Trường Sơn hùng vĩ

Thủ đô Hà Nội nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng Sông Hồng cùng vớiTP.HCM nằm ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai (Đông Nam Bộ) tạo nên ở hai đầu

Trang 6

đất nước là hai trung tâm phát triển lớn nhất về chính trị, kinh tế, văn hóa và xãhội

Địa lý Việt Nam có vị trí khá đặc biệt Đây cũng là điều kiện thuận lợi đểViệt Nam có thể giao lưu với các nước trên thế giới và có cơ hội tiếp nhận ảnhhưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau, điển hình là văn hóa Phù Nam ở MiềnNam, văn hóa Champa ở Miền Trung, văn hóa Ấn Độ ở Miền Nam, văn hóaTrung Quốc ở Miền Bắc Cộng đồng dân tộc Việt Nam có hơn 86 triệu người

(năm 2009, nguồn Tổng cục thống kê) với 54 dân tộc anh em, trong đó người

Kinh chiếm 85% Dân tộc Việt Nam Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo và tínngưỡng Bên cạnh Phật Giáo và Công Giáo là hai tôn giáo phổ biến ở Việt Namcòn có các tôn giáo khác như: Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành, Hồi Giáo cùng vớinhiều loại tín ngưỡng trong dân gian

Văn hóa của Việt Nam là một sự pha trộn đặc biệt giữa văn hóa cổ xưacùng với văn hóa bản xứ của người Bách Việt Với ảnh hưởng lớn của văn hóaTrung Hoa, văn hóa Việt Nam đã lập ra rất nhiều đặc điểm khá giống với nhữngdân tộc của các nước Đông Á và khác những nước ở khu Thái Bình Dương (như

là Campuchia, Lào và Thái Lan) - nơi vốn chịu một phần lớn ảnh hưởng của vănhóa Ấn Độ Mặc dù ảnh hưởng Trung Hoa được coi là ảnh hưởng lớn nhất củavăn hóa ngoại lai trên nền văn hóa cổ truyền Việt Nam Bên cạnh đó còn chịuảnh hưởng từ văn hóa Phương Tây, nhưng dân tộc Kinh vẫn giữ gìn được rấtnhiều nét văn hóa của riêng mình Cho tới ngày nay những nét riêng ấy vẫn rấtquan trọng trong đời sống của người Việt

Nghiên cứu lịch sử phát triển của Việt Nam các nhà khoa học nhận thấymỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng, đó là biểu hiện của sức sống, sự phát triển

đa sắc màu trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Mỗi nền văn hóa đều làthành tựu của mỗi dân tộc Việt Nam còn có một nền văn hoá khá rộng lớn được

Trang 7

hình thành vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên và pháttriển rực rỡ vào giữa thiên niên kỷ này Đó là văn hoá Đông Sơn Nền văn hoá ấyphát triển cao so với các nền văn hoá đương thời khác trong khu vực, có nhữngnét độc đáo riêng nhưng vẫn mang nhiều điểm đặc trưng của văn hoá vùng ĐôngNam Á Những con đường phát triển khác nhau của văn hoá bản địa tại các khuvực khác nhau (lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả…) đã hội tụ với nhau,hợp thành văn hoá Đông Sơn Đây cũng là thời kỳ ra đời Nhà nước "phôi thai"đầu tiên của Việt Nam dưới hình thức cộng đồng liên làng và siêu làng (để chốnggiặc và đắp, giữ đê trồng lúa) từ đó các bộ lạc nguyên thuỷ phát triển thành dântộc.

Khi tìm hiểu văn hóa Việt Nam, các nhà khoa học đã đặt văn hóa Việttrong mối quan hệ với các nền văn hóa để thấy được những nét tương đồng, cũngnhư những khác biệt và từ đó tìm thấy cái riêng trong bản sắc văn hóa Việt Nam.Mặc dù, chịu ảnh hưởng nhiều nền văn hóa nhưng văn hóa Việt Nam vẫn giữđược những nét đặc trưng riêng Điều đó chứng minh rằng văn hóa Việt Namgiàu bản sắc, có sức sống mãnh liệt trong suốt các giai đoạn lịch sử Đó cũng làbiểu hiện của nền văn hóa luôn ở thế dung hòa, vừa có khả năng tiếp thu nhữnggiá trị văn hóa khác vừa có thể bảo tồn những giá trị văn hóa của riêng mình đểkhông bị đồng hóa, và có khả năng chống lại sự chi phối bởi các nền văn hóakhác Điểm nổi bật trong bản sắc văn hóa Việt Nam là tinh thần yêu nước, yêuhòa bình, yêu độc lập, tự do Hơn thế nữa, chủ nghĩa yêu nước đã trở thành yếu

tố cốt lõi trong hệ tư tưởng Việt Nam

3 Quá trình toàn cầu hóa ở Việt Nam hiện nay

Theo một số nhà nghiên cứu thì thế giới trải qua ba làn sóng toàn cầu hóa:

 Làn sóng thứ nhất, diễn ra từ năm 1870 – 1914, được kích thích bằng sựkết hợp giữa chi phí vận tải giảm và việc cắt giảm các hàng rào thuế quan

Trang 8

Thời kỳ 1914 – 1945 là thời kỳ thụt lùi trở về chủ nghĩa quốc gia Cácnước đã gia tăng chủ nghĩa bảo hộ và áp đặt các biện pháp kiểm soát nhằmngăn chặn xuất khẩu vốn.

 Thời kỳ 1945 – 1980 diễn ra làn sóng toàn cầu hóa thứ hai Trong làn sóngthứ hai này, trên thực tế tồn tại hai hệ thống thương mại: hệ thống Bắc –Nam cũ và hệ thống Bắc – Bắc mới Hầu hết các nước đang phát triểnkhông tham dự vào sự tăng trưởng của các hoạt động thương mại các sảnphẩm chế tạo và dịch vụ trên toàn cầu

 Làn sóng toàn cầu hóa mới (làn sóng thứ ba) được bắt đầu từ thập kỷ 1980với những đặc trưng: nhiều nước đang phát triển đã thâm nhập vào thịtrường toàn cầu, một số nước khác bi cách ly khỏi nền kinh tế thế giới, sự

di dân và di chuyển vốn quốc tế trở nên đặc biệt quan trọng (Toàn cầu hóa

và tác động của hội nhập đối với Việt Nam – NXB Thế giới).

Toàn cầu hóa thực sự được mọi người biết đến nhiều khi nó bắt đầu xuấthiện từ 1986 – 1994 tại một hội nghị thuế quan mậu dịch họp trong vòng 8 năm

ở Uruguay Kết thúc hội nghị, một tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới đã ra đời:WTO Tổ chức này quy ước một số nước với nhau Sự xuất hiện của tổ chức này

đã đẩy mạnh toàn cầu hóa lên một mức độ cao hơn

Là một tiến trình phát triển, toàn cầu hóa không chỉ giới hạn trong lĩnhvực kinh tế, chính trị mà còn mở rộng sang khía cạnh văn hóa, xã hội Trong

đó, toàn cầu hóa kinh tế vừa là trung tâm, vừa là cơ sở và động lực thúc đẩy cáclĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hóa Việt Nam là nước đang phát triển ViệtNam bắt đầu tiến hành mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

từ năm 1986, điều này đã tạo nên nhiều sự thay đổi của đất nước ta Đặc biệt, từkhi Việt Nam gia nhập WTO đến nay đã mang lại nhiều cơ hội và thách thức để

Trang 9

mở rộng giao lưu và phát triển đất nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội.

Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam:

1-1995: Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO Ban Công tác xem xét việcgia nhập của Việt Nam được thành lập với Chủ tịch là ông Eirik Glenne, Đại sứ

Na Uy tại WTO (riêng từ 1998–2004, Chủ tịch là ông Seung Ho, Hàn Quốc)

8-1996: Việt Nam nộp “Bị vong lục về chính sách thương mại”

1996: Bắt đầu đàm phán Hiệp định Thương mại song phương với Hoa kỳ (BTA)

1998 - 2000: Tiến hành 4 phiên họp đa phương với Ban Công tác về Minh bạch hóa các chính sách thương mại vào tháng 7-1998, 12-1998, 7-1999, và 11-

2000 Kết thúc 4 phiên họp, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường

7-2000: ký kết chính thức BTA với Hoa Kỳ

12-2001: BTA có hiệu lực

4-2002: Tiến hành phiên họp đa phương thứ 5 với Ban Công tác Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ Bắt đầu tiến hành đàm phán song phương

2002 – 2006: Đàm phán song phương với một số thành viên có yêu cầu đàm phán, với 2 mốc quan trọng:

 10-2004: Kết thúc đàm phán song phương với EU - đối tác lớn nhất

 5-2006: Kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kỳ - đối tác cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương

26-10-2006: Kết thúc phiên đàm phán đa phương cuối cùng, Ban Công tácchính thức thông qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam Tổng cộng đã

có 14 phiên họp đa phương từ tháng 7-1998 đến tháng 10-2006

Trang 10

7-11-2006: WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội đồng tại

Geneva để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO

(A.P., Sở Ngoại vụ TPHCM, ngày 7-11-2006)

Sự kiện nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) chứng tỏ

sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thay đổi tích cực, to lớn vàtoàn diện trong 20 năm thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn của Ðảng ta Sựkiện này có ý nghĩa sâu sắc về chính trị, kinh tế, xã hội; khẳng định vị thế ngàycàng cao của đất nước ta trên thế giới; thể hiện rõ ý chí của toàn Ðảng, toàn dân

ta quyết tâm xây dựng một quốc gia độc lập tự chủ, ổn định về chính trị, đồngthuận về xã hội, xứng đáng là một trong những nền kinh tế phát triển năng động,sẵn sàng thực hiện các cam kết chung với cộng đồng quốc tế

4 Những chính sách giữ gìn và phát triển văn hóa

Các văn kiện từ Ðại hội lần thứ VI đến Ðại hội lần thứ X của Ðảng đã thểhiện rất rõ quá trình đổi mới tư duy của Ðảng trong lý luận và thực tiễn, với một

hệ thống gồm nhiều vấn đề, liên quan trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực của xã hội,con người Việt Nam, trong đó có việc đặt ra, giải quyết quan hệ giữa văn hóa vàphát triển Trong quá trình đó, bám sát thực tiễn và tổng kết thực tiễn đổi mớicủa đất nước, Ðảng ta đã kế thừa, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bảnđược trình bày trong Ðề cương văn hóa Việt Nam (1943) - văn kiện đầu tiên cótính chất cương lĩnh của Ðảng ta về văn hóa, qua đó xây dựng các quan niệmmới, toàn diện, ngày càng sâu sắc về vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống xãhội và đối với phát triển Ðó là bước tiến rất quan trọng trong tư duy có tínhchiến lược của Ðảng ta đối với sự phát triển bền vững của đất nước

Đại hội Đảng lần thứ VI

Ðại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) tiên phong cho sự đổi mới củađất nước, những vấn đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội được xem là quan

Trang 11

trọng và cấp thiết lúc này đòi hỏi phải có những phương hướng chính sách phùhợp vì sự phát triển của quốc gia và lợi ích của nhân dân

Trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tìnhhình thế giới và khu vực, Đảng luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủtrương, chính sách đổi mới đúng đắn trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vựcvăn hóa, chỉ đạo hoạch định các chính sách văn hóa nhằm thực hiện thắng lợimục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc

Văn kiện Ðại hội Đảng lần thứ VI nhấn mạnh: "Không có hình thái tưtưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tìnhcảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của conngười"

Về chủ trương, đường lối mà Đảng xác định phải xây dựng là nền văn hóavới đặc trưng dân tộc, hiện đại, nhân văn Và có những định hướng phát triển vềvăn hóa Công tác văn hóa, văn học, nghệ thuật phải được nâng cao chất lượng,mỗi hoạt động văn hóa văn nghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốtđến tư tưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa vàtrình độ thẩm mỹ của nhân dân Quan tâm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu lành mạnhcủa các tầng lớp xã hội và các lứa tuổi Xây dựng các hệ thống thư viện, nhà vănhóa, câu lạc bộ, viện bảo tàng, nhà truyền thống từ Trung ương đến địa phương.Công tác xuất bản, công tác điện ảnh và công tác phát hành sách, báo, phim ảnhcần được quản lí chặt chẽ, nâng cao chất lượng thông tin, đưa các phương tiệntruyền thông, về các vùng sâu vùng xa Cải tiến chính sách đối với người làmcông tác nghệ thuật chuyên nghiệp, đãi ngộ xứng đáng đối với lao động nghệthuật, động viên, khuyến khích các tài năng Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuậtcần thiết cho văn hóa và nghệ thuật, giữ gìn và tôn trọng những di tích lịch sử,

Ngày đăng: 04/02/2015, 21:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w