Địa vh (Geo culture) là thuật ngữ xuất hiện từ lâu, nhưng đc Joel Bonnemaison nhà địa lý học ng Pháp pt’ (sau này là Paul Claval). Ô đã đb chú ý đến vc “làm sáng tỏ cách tiếp cận địa vh và những cs Vh của địa lý học nhân văn” Theo khuynh hướng đó, những quy luật KH giải thích cơ cấu tổ chức con người và k gian thông qua những cấu trúc KT, XH và dĩ nhiên là cả cấu trúc k gian. Như vậy, sự phân bố về mặt k gian của dân cư và hđ của con ng tuân theo những quy luật mà chúng có thể đc khám phá thông qua vc sd những mô hình giống như kiểu mô hình toán học (Harvey 1989) Cảnh quan (cả về “dấu ấn” và “ảnh hưởng” của vh) và vh k thể tách những đặc trưng thuộc về tự nhiên ra khỏi những đặc điểm nhân văn trong 1 MT cụ thể
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN ĐỊA VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC (Khoa Văn hóa Dân tộc thiểu số - Đại học Văn hóa Hà Nội)
C1: Trình bày khái niệm địa - VH, thuyết sinh thái học VH, thuyết sinh thái học tộc người và thuyết vùng Vùng Văn hóa?
* Khái niệm địa - Vh:
- địa vh k gian và mt tự nhiên (KHTN)
vh tinh thần (khxh)
- Địa vh (Geo - culture) là thuật ngữ xuất hiện từ lâu, nhưng đc Joel Bonnemaison - nhà địa lý học ng Pháp pt’ (sau này là Paul Claval) Ô đã đb chú ý đến
vc “làm sáng tỏ cách tiếp cận địa vh và những cs Vh của địa lý học nhân văn”
- Theo khuynh hướng đó, những quy luật KH giải thích cơ cấu tổ chức con người
và k gian thông qua những cấu trúc KT, XH và dĩ nhiên là cả cấu trúc k gian Như
vậy, sự phân bố về mặt k gian của dân cư và hđ của con ng tuân theo những quy luật
mà chúng có thể đc khám phá thông qua vc sd những mô hình giống như kiểu mô hình
toán học (Harvey 1989)
- Cảnh quan (cả về “dấu ấn” và “ảnh hưởng” của vh) và vh k thể tách những đặc trưng thuộc về tự nhiên ra khỏi những đặc điểm nhân văn trong 1 MT cụ thể
- ở VN, kn về địa vh và phương pháp tiếp cận, NC VH dưới góc nhìn địa VH đc thể hiện rất rõ trong những NC của GS Trần Quốc Vượng Ô luôn kiên trì 1qđ “ vh là
1 thực thể có sự vận động trong k gian và thời gian” Nhìn theo chiều thời gian,
Địa vh (3 chiều kích của k gian cảnh quan trong địa vh)
Lãnh thổ: lq đến các cột
mốc, đg biên giới lãnh
thổ, cơ cấu CT với
những vùng trọng điểm,
trung tâm và ngoại vi
MT địa lý: 1 cấu trúc địa lý và sinh thái
- đất trồng, TV, nước, khí hậu, mật độ dân cư, hệ thống thông tin liên lạc =>
con ng hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống sinh thái này vì toàn bộ MT địa
lý đc phân hóa thành 1 quy mô nhỏ hơn
hoặc lớn hơn Biểu tượng địa lý: cấu trúc
biểu tượng 1 MT địa lý và ý nghĩa của nó (những tác động
và những giá trị con ng đem lại cho cảnh quan, gọi là giá trị tinh thần, linh hồn của xứ
sở
Trang 2VHVN là 1 diễn trình LS có những quy luật pt’ của nó Nhìn trong k gian, VHVN có
sự vận động qua các vùng, xứ, miền khác nhau
* Thuyết sinh thái học VH
- Do Julian Haynes Steward (1902 - 1972) - nhà nhân học Mỹ khởi xướng
- Trong những NC của mình ô đb quan tâm đến “mqh tương tác giữa con ng,
MT, kĩ thuật, cấu trúc xã hội cũng như cách thức tổ chức công việc Ô đb nhấn mạnh
đến tầm quan trọng của MT trong sự biến đổi mang tính tiến hóa của vh theo lập
trường của tiến hóa đa hệ
- Thuyết sinh thái học vh hướng đến việc làm rõ “mqh giữa vh và MT từ qđ coi con ng là thể tồn tại thích ứng với MT thông qua vh, đến lượt mình, vh chịu ảnh hưởng tác động lớn của các loại tài nguyên MT do con ng sd”
- Trong công trình của mình, J.Steward nêu ra 3 bước đối với NC sinh thái học vh:
1.C/m đc các kỹ thuật và phương pháp đc dùng để khai thác MT và sống trong MT đó
2.Xem xét những mô thức ứng xử vh của con ng lq đến việc sd MT
3.Đáng giá sức tác động của những mô thức kể trên đối với các bình diện khác của vh
- J.Steward cũng quan tâm đến việc lý giải “sự giống nhau giữa các nền văn hóa trong những khu vực khác nhau” Theo ô “những khu vực khác nhau nhưng có MT giống nhau và phương pháp khai thác MT giống nhau dễ dẫn đến có những nền vh giống nhau” Đó là những đặc tính chung có tính quy luật về biến đổi vh và xem đó như là chìa khóa để hiểu tính đa dạng của vh và tổ chức xã hội theo qđ tiến hóa vh”
* Thuyết sinh thái học tộc người
- Sinh thái học là chuyên ngành khoa học NC về mqh tương hỗ giữa 3 yếu tố: thiên nhiên, XH và kĩ thuật do nó đẻ ra”, theo đó con ng và tự nhiên luôn có mqh biện chứng
- Sinh thái - tộc ng là 1 k/n hình thành trên cơ sở truyền thống thích ứng của các cộng đồng tộc người trong MT sinh thái cảnh quan nhất định Đây là yếu tố ổn định, mang tính truyền thống của dân tộc, nó chi phối định hướng khai thác tài nguyên thiên nhiên và truyền thống vh của các tộc ng
- Trong địa lý học, cảnh quan là cấp phân loại của một vùng địa lý tổng thể Ở đó
có sự đồng nhất cao về địa hình, khí hậu, TG động thực vật, để phân biệt với 1 địa tổng thể khác Cỏ thể hiểu vùng cảnh quan trên quy mô rộng như sa mạc, thảo nguyên, rừng mưa nhiệt đới, hay hẹp hơn như đồng bằng, ven biển, miền núi, Trong 1 tiểu vùng cảnh quan, như tiểu vùng miền núi, những yếu tố về đất đai, động thực vật, khí
Trang 3hậu, địa hình cũng k thuần nhất; kiến tạo địa chất ở miền núi k chỉ có quá trình nâng lên mà còn có quá trình lún xuống tạo thành những địa hình lòng chảo hay thung lũng,
vì vậy, vùng núi bao giờ cũng tồn tại 2 kiểu địa hình vừa thống nhất, vừa đối lập => sinh sống trong MT tự nhiên quen thuộc như vậy, mỗi tộc ng đã hình thành những kiểu thích ứng với MT nhất định, tạo nên những truyền thống, KT, XH, VH riêng (VD: miền núi canh tác nương rẫy, đồng bằng canh tác lúa nước, ) Như vậy, có sự trùng hợp giữa phân bố cư trú tộc ng và vùng cảnh quan theo một quy định nhất định, tạm gọi là sinh thái - tộc ng Do vậy, việc pt’ KT - XH của các tộc ng phải coi những kiểu thích ứng với MT, những truyền thống trên như 1 trong những thế mạnh để khai thác, phát huy
- Khi NC các vđ KT -XH và vh của các dân tộc cần phải nhìn dưới góc độ sinh thái tộc người, đó là cách nhìn tổng hợp cả 2 yếu tố tự nhiên (k gian cụ thể) và con ng (1 dân tộc sinh tồn ở 1 thời đại nhất định) Do vậy khi bàn luận về thế mạnh, cơ cấu
KT phải gắn với nhân tố con ng của 1 dân tộc cụ thể hay bàn luận về XH và VH phải
đi liền với MTTN
- Mqh giữa con ng - MT tự nhiên
+ Con ng cần (là MT để duy trì sự sống) và phụ thuộc vào tự nhiên, chịu sự chi phối mạnh mẽ từ mt [mt tự nhiên(khí hậu, đất, ) và mt xh( csvc, con ng, sự giao lưu, )]
+ Chủ động nhất định trong lựa chọn việc thích ứng làm thay đổi hay khi MT
tự nhiên thay đổi => chủ động trong việc lựa chọn hướng biến đổi của vh tộc ng
- Yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến vh tộc ng đối với các dân tộc ở VN thể hiện qua quá trình hình thành đặc trưng vh các vùng và tiểu vùng
VD:
+ các dân tộc sống ở ĐB, sông ngòi kênh rạch chằng chịt (Kinh, chăm, khmer),
họ xd nền vh văn minh nông nghiệp lúa nc, phương tiện vận chuyển là thuyền, chú trọng đến thủy lợi => yếu tố sông nc luôn hiện hưu trong đs tâm linh và sh vh (thờ thần nc, đua thuyền trên sông, thực phẩm chính là mắm và cá, )
+các dân tộc sông ở miền núi (đa số) pt’ nếp sống vh nương rẫy, mt sống là rừng, mất rừng là thay đổi tận gốc vh của cư dân nơi đây => cuộc sống phụ thuộc vào tự nhiên nên có tín ngưỡng đa thần, đb là thờ thần lúa, mt miền núi cách trở về giao thông nên các tộc ng khá tách biệt vs TG bên ngoài, còn duy trì trạng thái xh ở gđ tiền g/c hoặc mới bước đầu của xh phân hóa g/c
*Thuyết vùng vh (vh vùng/ vh lãnh thổ)
-Vùng vh là 1 vùng lãnh thổ gồm có:
+ Những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên
+ Dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mqh nguồn gốc và LS
Trang 4+ Có những tương đồng về trình độ pt’ KTXH
+ Giữa họ đã diễn ra nhưng giao lưu, ảnh hưởng vh qua lại
+ Hình thành những đặc trưng chung của vùng, thể hiện trong những sh vhvc
và vhtt của cư dân, có thể pb với vùng vh khác
- Vùng vh là 1 đơn vị k gian vh nhất định, đc tạo thành bởi các đơn vị dân cư trên
1 phạm vi địa lý của một hay nh tộc ng, sáng tạo ra 1 hệ thống các dạng thức vh mang đậm sắc thái tâm lý cộng đồng, thể hiện trong mt xh nhân văn thông qua các hình thức ứng xử của con ng với tự nhiên, xh và ứng xử với nhau trên 1 tiến trình LS pt’ lâu dài
- Có 2 yếu tố tạo bản sắc vh vùng:
+ Yếu tố về mt sinh thái - tự nhiên mà từ đó sinh ra, quy định ra cách thức cư trú, canh tác, đấu tranh sinh tồn và phát triển
VD: mt đồng bằng, miền núi, cao nguyên, duyên hải cùng với các hoạt động KT như săn bắt, hái lượm,làm nương rẫy, đánh cá, đã quy định và để lại dấu ấn trong đs
vh, hình thành nên những sắc thái vh Hò Huế gắn với mt sông nc, sơn thủy hữu tình; chèo là sp của cư dân nông nghiệp ở ĐBBB; hò Bả trạo gắn liền với vh của cư dân làm biển vùng Duyên Hải; đàn đá đc sinh ra trong hoạt động nông nghiệp nương rẫy của ng TS - TN,
+ Yếu tố chứa đựng các hình thức biểu hiện vh của con ng, tạo ra cung cách nhận thức - hoạt động riêng, tạo ra nếp sống, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật, ngôn ngữ và các qh giao lưu KT - VH, giữa nội bộ cộng đồng hay với cư daanc ủa các vùng đất, địa phương khác
- Vùng vh hình thành và tồn tại là kq của nh nhân tố tự nhiên - xh, trong đó qh giao lưu, ảnh hưởng qua lại có vai trò quan trọng hàng đầu, trong 1 vùng vh có thể có
nh tộc ng cùng sinh sống và 1 tộc ng có thể sinh sống ở nh vùng vh khác nhau, với vùng vh đa tộc ng thì tính thống nhất vh có được do giao lưu, tiếp xúc trong 1 thời gian lâu dài
- Ngô Đức Thịnh đã đưa ra phương án phân vùng vh nc ta thành 7 vùng vh lớn
đó là: Việt Bắc (Đông Bắc), Tây Bắc và miền núi BTB, ĐB sông Hồng, Duyên hải BTB, Duyên hải Trung và NTB, TS - TN, Gia Định - Nam Bộ và 26 tiểu vùng
C2: So sánh sự tương đồng và khác biệt về văn hóa vật chất của người Việt
ở đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ
*Giống nhau
- Sd tre trong xd nhà ở
- Cơ cấu bữa ăn 2 vùng đều phải có: cơm - rau - cá
- Ăn mặc giản dị, màu sắc đơn giản, tối màu (màu nâu ở ĐBBB, đen ở ĐBNB), phù hợp với công việc lao động chân tay
Trang 5- Sử dụng thuyền, đò, xuồng, ghe, làm phương tiện đi lại, vận chuyển trên sông
*Khác nhau
Văn hóa vật chất Đồng bằng Bắc Bộ Đồng bằng Nam bộ Nhà ở - Đặc điểm: Nhà trệt,
thường quay về hướng nam, k
có chái, mà là nhà khung cột với hình thức nhà vì kèo
Ngôi nhà ở đây có nhiều khả năng mở rộng lòng nhà, hoàn thiện kết cấu kĩ thuật Là cư dân nông nghiệp với tâm lý ngại di chuyển nên họ thường xây những ngôi nhà bền chắc,
to đẹp -Nguyên liệu vật liệu xd:
gỗ, tre, bùn đất, rơm rạ là nguyên liệu xd chính yếu;
tiếp thu các kỹ thuật và vật liệu mới như gạch, ngói, xi măng, sắt, thép,
-khuôn viên căn nhà gồm: nhà chính, nhà phụ, vườn, ao, tường/hàng rào tre
và cổng => ngôi nhà có bề thế, định cư lâu bền
-Xây dựng nhà cửa tản mát theo bờ sông, theo ruộng lúa
-Mô hình khuôn viên nhà ưa thích “tiền viên hậu điền” (trc vó vườn sau có ruộng), nhà ở khuôn theo thế đất canh tác, kh quy tụy theo kiểu mật tập của làng xóm ngoài Bắc
-Đặc điểm nhà: đơn
sơ, nhà 3 gian, 2 chái; ở đây ng dân k có ước vọng vươn tới “nhà ngói, sân gạch, cây mít” như mông dân ĐBBB
-Nguyên vật liệu xd: làm bằng tre, nứa, lợp lá dừa, phên vách
-Nhà nổi : là nơi cư trú, đồng thời là phương tiện mưu sinh của những
gđ làm nghề nuôi cá bè, buôn bán ở các chợ nổi,
Ẩm thực -Cơ cấu bữa ăn: cơm -
rau - cá(đạm thủy sinh) -có gia tăng thành phần thịt và mỡ trong khẩu phần để thích ứng với khí hậu màu đông lạnh
- Nét độc đáo là chịu ảnh hưởng bởi các món ăn
TQ trong kĩ thuật nấu cỗ -Khẩu vị k hướng về việc dùng nh gia vị mạnh (cay, chua, đắng)
-Cơ cấu bữa ăn: cơm
- canh - rau - tôm cá Để cân bằng vs khí hậu nóng nực các tộc ng ở đây chuộng canh chua, nghiêng
về những món ăn có tác dụng giải nhiệt
-Mắm (mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm ruốc, mắm nêm, ) rất phong phú, với những cách chế biến khác nhau tùy vào mỗi tộc ng như mắm sống, mắm kho, bún mắm, -Có nh món ăn bình dân hấp dẫn: canh chua cá kèo, chuột đồng xào sả ớt,
Trang 6cháo cá rau đắng,
-mỗi địa phương lại
có những đặc sản nổi tiếng: chuột đồng Cao Lãnh (Đồng Tháp), bánh pía (Sóc Trăng, nc mắm Phú Quốc (Kiên Giang), Trang phục -Ng dân lđ nông nghiệp
là chính nên ăn mặc bình dị, màu sắc nền nã
-Đặc điểm trang phục:
+Khi lđ: đàn bà mặc váy thâm với yếm và chiếc áo nâu, đầu chít khăn mỏ quạ;
đàn ô mặc quần lá tọa, áo cánh nâu sồng Đầu đội nón
lá tránh mưa nắng +Khi hội hè, lễ tết: phụ
nữ mặc váy thâm, áo dài tứ thân/áo dài mớ ba mớ bảy;
đàn ô mặc quần trắng, áo dài the, đầu đội khăn xếp
-Khi tiếp xúc với phương Tây, cu dân đô thị vừa cải biến những hình thức
ăn mặc cổ truyền, điển hình là
sự ra đời chiếc áo dài tiêu biểu cho phụ nữ VN; vừa tiếp thu kiểu cách ăn mặc của
ng TQ, của ng châu Âu qua
ng Pháp
-Sống trong mt nhiệt đới, nông dân Nam bộ rất thích chiếc áo bà ba đen, may bằng vải mộc (gọn nhẹ rất tiện dụng khi chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng,
có túi để có thể đựng một vài vật dụng cần thiết) và chiếc khăn rằn (đc dùng để che đầu, lau mồ hôi, dùng
để quấn ngang ng để thay quần
Phương tiện vận
chuyển, đi lại hệ thống sông ngòi dày đặc -Địa hình bằng phẳng,
nên vc đi lại của cư dân trong vùng khá dễ dàng
-đa phần ng dân đi bộ với đôi quang gánh là phương tiện vận chuyển chính, họ cũng thg xuyên di chuyền bằng đg sông với những con
đò ngang, đò dọc bằng gỗ hoặc bằng nan
-Đây là xứ sở của văn minh kênh rạch; kênh rạch tạo thành hệ thống chằng chịt bám chặt vào mọi nẻo của vùng
-Thuyền, xuồng ghe
là phương tiện đi lại, chuyên chở chính yếu
Di sản vật thể khác -đây là 1 vùng vh có bề
dày LS cũng như mật độ dày đặc của các di tích vh, các di chỉ khảo cổ, các di sản vh hữu
Trang 7thể tồn tại ở khắp các địa phương; đình, chùa, đền, miếu, có mặt ở hầu khắp các địa bàn
-một số di tích nổi tiếng:
đền Hùng, Cổ Loa, Hoa Lư, Lam Sơn, phố Hiến, chùa Dâu,
C7: C/m tính thống nhất và đa dạng của vh VN (dưới góc nhìn địa vh)?
*Tính đa dạng trong vh VN:
Đa dạng là bản chất của vh, với VN tính đa dạng đó càng đc thể hiện rõ hơn trên
nh phương diện với nh mức độ khác nhau như tính đa dạng của sắc thái vh tộc ng, vh địa phương, vh nghề nghiệp, vh g/c, Trong đó sự đa dạng về vh tộc ng và vh vùng (địa phương) là nổi trội và rõ rệt hơn cả
- Đa dạng về tự nhiên => đa dạng ứng xử tương ứng
+VN nằm trong vùng chuyển tiếp giữa lục địa Đông Á, Nam Á với lục địa Úc châu, nên tự nhiên và hệ sinh vật rất đa dạng và phong phú
+coi vh là kq, thể hiện quá trình thích ứng của con ng trong MT tự nhiên nhất định thì từ đa dạng sinh học => đa dạng về vh (vh lúa nc, vh nương rẫy, vh biển, ),
đó là quy luật, là mqh bản chất => muốn bảo tồn và làm giàu sự đa dạng về vh thì phải bảo tồn và làm giàu sự đa dạng sinh học Dưới sự tác động của con ng vào MT tự nhiên thì tính đa dạng cũng đc thể hiện rõ nét
+Vn có nh tộc ng, nh nhóm địa phương cùng sinh sống, nên cho dù cùng 1 hoàn cảnh tự nhiên nhưng mỗi nhóm cư dân đều có cách thích ứng riêng mang truyền thống và bản sắc vh tộc ng (VD: )
- Đa dạng tộc ng => đa dạng vh
+ VN có 54 dân tộc ae cùng sinh sống, mỗi dân tộc mang 1 đặc trưng vh riêng Tính đa dnagj về vh tộc ng đc thể hiện trên bình diện các nhóm ngôn ngữ - dân tộc, nhóm địa phương của mỗi tộc ng, ở nc ta có mặt đại diện của hầu hết các nhóm ngôn ngữ - dân tộc ở ĐNA như Việt - Mường, Tày - Thái, Môn - Khmer, Nam Đảo, Hmong
- Dao, Tạng -Miến, Hán, mỗi dân tộc lại gồm nh nhóm địa phương với những sắc thái vh rất phong phú đa dạng
+ Trên nề tảng vh bản địa, có thể thấy các mảng sắc vh tộc ng khác nhau trên
sự đa dạng của các đktn như: vh lúa nc đồng bằng: kinh, hoa, khmer; vh thung lũng: tày, nùng, mường, thái, ; vh nương rẫy vùng núi và cao nguyên: cư dân môn - khmer;
vh biển đảo: cư dân Nam đảo, ven biển; hơi hướng vh du mục vùng Trung Á: Hmong
Trang 8- dao, tạng - miến, Các sắc thái vh tộc ng đó thâm nhập, đan kết, tiếp biến giữa nhân
tố bản địa và ngoại lai, tạo nên bức tranh đa dạng sắc thái vh các tộc ng ở VN
- Đa dạng của sắc thái vh vùng: theo nhà NC Ngô Đức Thịnh, VN có thể phân chia thành 7 vùng vh lớn, trong đó bao gồm các tiểu vùng vh nhỏ: vùng vh ĐBBB (5 tiểu vùng), vùng vh Đông Bắc (3 tiểu vùng), vùng vh Tây Bắc (3 tiểu vùng), vùng vh duyên hải BTB (tiểu vùng), vùng vh duyên hải trung và nam trung bộ (3 tiểu vùng), vùng vh TS -TN (4 tiểu vùng), vùng vh Nam Bộ (3 tiểu vùng) Các đặc trưng vh vùng
đó đc hình thành trên những ứng xử giữa con ng - tự nhiên, con ng - xh, đc thể hiện qua nếp sống, lối sống của cư dân, cách thức ăn, mặc, ở, giao tiếp, vui chơi giải trí, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, hội hè, các hđ vhnt, tâm lý, p/c sống của con ng,
- Đa dạng giao lưu, tiếp biến với vh bên ngoài: giao lưu tiếp biến vh ở VN k chỉ xét đến quá trình giao lưu giữa các tộc ng trong 1 quốc gia ( vd: làm cho sắc thái ng việt ở BB khác với vh ng việt ở Trung Bộ và Nam Bộ) mà còn lá quá trình giao lưu, hội nhập với các quốc gia trong khu vực và trên TG (ĐNA, châu Á, phương Tây, )
=> đa dạng vh
> Cơ tầng vh ĐNA: vùng ĐNA có 1 cơ tầng vh riêng biệt, phi Hoa, phi Ấn,
nó đc xd trên cơ sở có sự tương đồng về đktn (vùng ĐB xen lẫn đồi núi và biển cả, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa) và LS dân cư Các yếu tố nội sinh của vh VN mang những đặc điểm chung của cơ tầng vh ĐNA Giống như các nc ĐNA khác, VN là 1 quốc gia
đa dân tộc, ng Việt là tộc ng chủ thể (1 cộng đồng tộc ng làm ruộng nc đc hình thành trong quá trình khai phá vùng châu thổ sông Hồng, rồi từ đó lan tỏa ra các vùng khác trong cả nc), các tộc ng thiểu số khác sinh sống ở các vùng sinh thái khác nhau đã hình thành nên đặc trưng vh nông nghiệp nương rẫy, tạo nên vh VN thống nhất trong
đa dạng Trên cơ tầng vh ĐNA và đktn thuận lợi cho các dân tộc ở VN giao lưu, tiếp biến với các dân tộc ở ĐNA lục địa và hải đảo (địa hình dốc ở sườn đông, thoải dần về phía tây nên các tộc ng ở TS -TN có sự tương đồng về nguồn góc và vh với các tộc ng bên Lào, Campuchia thông qua quá trình giao lưu, tiếp biến; qua hđ trao đổi buôn bán các tộc ng vùng duyên hải đã có sự giao lưu về nguồn gốc tộc ng và vh với các dân tộc
ở khu vực ĐNA, Nam Á hải đảo; các tộc ng ở Nam bộ có sự giao lưu và tương đồng
vh với các tộc ng ở Campuchia, Thái lan bởi sự tương đồng về MT sinh thái (địa hình,
KH, tài nguyên) và nằm trong phạm vi ảnh hưởng của vh Ấn Độ qua con đg tơ lụa trên biển)
> sự gần gũi về vị trí địa lý và tương đồng về đktn, dân cư nên từ rất sớm,
VN nằm trong phạm vi lan tỏa của CT, VH, văn minh Trung Hoa Sự giao lưu, tiếp biến giữa vh VN và vh trung hoa diễn ra rất dài, trong nh thời kỳ của LS VN cho đến nay, k thể phủ nhận đc sự ảnh hưởng của vh TH đối với vh VN, quá trình này diễn ra
ở cả 2 trạng thái: cưỡng bức và tự nguyện Quá trình giao lưu vh cưỡng bức của vh
TH đến vh VN diễn ra trong gđ LS đất nc ta bị PK phương bắc xâm lược, đô hộ; lần 1 diễn ra trong thiên niên kỷ I (từ TK I - X), trong LS VN đc gọi là thời kỳ bắc thuộc và lần 2 xảy ra trong thời kỳ nhà Minh xâm lược (1407 -1427) VH VN cũng giao lưu 1 cách tự nguyện với vh TH, trong những di chỉ vh thời kỳ Đông Sơn ở VN đã có những
Trang 9di vật thời Hán (tiền, gương đồng, ấm đồng, ) có thể là những sp’ dùng để trao đổi thông thương giữa các láng giềng Sau khi giành độc lập ng Việt lại giao lưu tiếp nhận
vh TH 1 cách tự nguyện, điều đó đc thể biện ở vc nhà nc Đại việt đc xd và quản lý theo mô hình nhà nc TH, lấy nho giáo làm hệ tư tưởng chính (đb dưới thời Lê), dùng chứ Hán để ghi chép, tiếp thu kinh nghiệm sx (rèn kim khí, ) Các dân tộc VN đã tạo
đc nh thành tựu trong quá trình giao lưu vh này, nhưng vẫn giữ đc bản sắc vh (tiếng nói, vh ứng xử, ) bên cạnh việc sáng tạo những đặc trưng vh từ những khúc xạ vh TH trong hc đktn - đặc điểm xh ở VN
> Vh Ấn độ cũng có những ảnh hưởng sâu đậm đến vh VN, qua con đg thông thương là chủ yếu (k chung đg biên giới nhưng VN nằm trên con đg tơ lụa trên biển giữa TQ và ÂD), tiếp biến 1 cách tự nhiên và tự nguyện Những năm đầu của thiên niên kỉ I SCN ở VN tồn tại 3 nền vh (vh Việt ở BB, vh Chămpa ở trung bộ, vh Óc eo
ở NB) Óc eo là vh của 1 quốc gia đc xd trên cs nền nông nghiệp trồng lúa nc khá pt’ vùng trung nguyên sông cửu long của cư dân Môn - khmer kết hợp vs nghề biển cổ truyền của cư dân Nam đảo, trên cơ tầng các đạo sĩ Bàlamon từ ÂD đã tổ chức ở đây 1 quốc gia mô phỏng theo mô hình ÂD trên tất cả các măt (CT, thiết chế XH, giao thông, đô thị hóa, giao thương buôn bán, tôn giáo, ) , với các tộc ng NB vh ÂD còn
in đậm trong vh của ng Khmer hiện nay VH Chămpa là nền vh rực rỡ do ng chăm ở miền trung kiến tạo, những ảnh hưởng của ÂD qua quá trình giao thương đã góp phần quan trọng vào vc hình thành nền vh Chămpa rực rỡ, ng Chăm đã tiếp nhận và khúc
xạ mô hình vh ÂD từ vc xd chế độ vương quyền đến tạo dựng các thành tố trong vh Chămpa mang bản sắc tộc ng, trên các khía cạnh: tôn giáo, chữ viết, đẳng cấp xh, trc khi vh ÂD tràn sang, vh việt đã đc định hình và pt’ ở vùng châu thổ BB, ng việt tiếp nhận vh ÂD vừa trực tiếp vừa gián tiếp; những TK đầu công nguyên, vùng châu thổ BB là địa bàn trung chuyển vh Ấn Độ nhất là tôn giáo (Phật giáo), các nhà sư ấn
độ qua Luy lâu (thuận thành, bắc ninh) để lên phương bắc, các nhà sư TQ sang ấn độ thỉnh kinh cũng phải đi qua Luy lâu Do ảnh hưởng của vh Hán nên ảnh hưởng vh Ấn
độ chỉ diễn ra trong tầng lớp dân chúng nhưng lại có sức pt’ rất lớn, ng việt tiếp nhận đạo phật 1 cách dung dị vào cơ tầng vh bản địa bởi tính nhân văn, bác ái của nó, với tín ngưỡng đa thần, ng Việt dễ dàng tiếp nhận phật giáo đại thừa, mang tính dân tộc sâu sắc => quá trình giao lưu tiếp biến có những điểm khác nhau, nhưng là 1 quá trình giao tiếp hòa bình, tự nhiên, tự nguyên đã tạo nên cội rễ sâu đậm của vh VN truyền thống
> sự giao lưu, tiếp biến giữ vh VN và vh phương Tây diễn ra trong hc nhân dân ta 1 mặt phải tiến hành đấu tranh chống CN thực dân để giành độc lập dân tộc, mặt khác tiếp nhận nền vh phương tây để hiện đại hóa đất nc => vh VN đc cấu trúc lại, dẫn tới vc dần từ bỏ phương thức sx Châu Á (nền văn minh nông nghiệp truyền thống) để đi vào quỹ đạo của nền văn minh CN phương Tây -> diện mạo vh VN có những thay đổi, tuy nhiên vh Việt đã Việt hóa những yếu tố ngoại sinh này để xd bản sắc vh dân tộc
Trang 10> sự giao lưu với TG hồi giáo: do Chămpa nằm trên đường mậu dịch hàng hải Đông - Tây mà ở đây cũng có một cộng đồng Arap Hồi giáo sinh sống trong khoảng trước- sau thế kỷ X, đóng vai trò tiếp xúc thương mại và ngoại giao (phiên dịch); nên giữa vh VN và TG hồi giáo có sự giao lưu, tiếp biến một cách tự nguyện Đối với người Chăm, đặc biệt là người Chăm Nam Bộ ở Việt Nam thì vai trò của Hồi giáo rất lớn trong đời sống văn hoá và tâm linh, vẫn giữ đc nh nghi lễ và quy tắc của đạo hồi chính thống, đb là những kiêng kị (kiếng ăn thịt lợn, vì lợn là con vật bẩn thỉu, ) và tâm nguyện hành hương đến thánh địa Mecca (vd: Tin tưởng Thượng đế Allah là tối cao duy nhất, và Muhammad là sứ giả cuối cùng của Allah, là người khai sáng Islam; Mỗi ngày đêm phải cầu nguyện đủ 5 lần; Phải ăn chay trọn tháng Ramadan; Phải bố thí để giúp đỡ người khó khăn hơn mình, ) Đạo Hồi là một tôn giáo xuất hiện khá sớm ở Việt Nam nhưng không phổ biến mà chỉ trong một phạm vi nhỏ, chủ yếu của người Chăm ở miền Trung và miền Nam Việt Nam Sự quá ngặt nghèo của nghi lễ Hồi giáo, sức sống trường tồn của văn hóa bản địa, sự ảnh hưởng sâu rộng của đạo Phật, đạo Hindu từ Ấn Độ và Trung Quốc, đạo Thiên chúa giáo với sự bảo trợ của các thuyền buôn và thực dân phương Tây… là những nguyên nhân cản bước đạo Hồi thâm nhập vào Việt Nam, thậm chí những khu vực đạo Hồi đã thâm nhập cũng biến đổi khá nhiều để phù hợp với văn hóa truyền thống của cư dân bản địa (đặc biệt là người Chăm Bàni ở Ninh Thuận và Bình Thuận, họ lưu giữ và pha trộn nhiều tập tục Hindu trong tín ngưỡng và cấm kị Hồi giáo Họ không theo đầy đủ, không đúng quy tắc và không liên hệ gì với thế giới Hồi giáo cũng như với những đồng đạo của mình ở miền Nam Họ không biết giáo lý Hồi giáo, không biết chữ Arab, không thông hiểu kinh Coran (chỉ một vài người đứng đầu có thể đọc được kinh Coran bằng tiếng Arab nhưng không phải tiếng Arab hiện đại )
>giao lưu, tiếp biến trong xh hiện đại: tự nguyện, hội nhập
* Tính thống nhất trong vh VN:
Có thể thấy vh VN k chỉ đa dạng mà còn rất thống nhất, đó là sự thống nhất trong đa dạng và thống nhất từ đa dạng Nó đc hình thành và phát triển bởi những thích ứng của con người với đktn Ngoài ra, nguồn gốc LS tộc ng, LS đất nc quy định những xu thế pt’ chung của LS vh dân tộc Tính thống nhất đc thể hiện trên các phương diện sau:
- Sự thống nhất của vh VN có cơ sở từ đktn
+T/c nhiệt đới, gió mùa quy định hoạt động sx nông nghiệp ở nc ta chủ yếu là trồng lúa => hình thành nên vh lúa nc ở đồng bằng (ng kinh, hoa, khmer) và vh nương rẫy ở miền núi và cao nguyên (cư dân môn - khmer)
+Từ những đặc điểm của đktn đó, con ng đã thích ứng để hình thành những đặc điểm trong sinh hoạt vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại, ) phù hợp VD: cơ cấu bữa ăn truyển thống là cơm - rau - cá; thực phẩm đc ủ, lên men để bảo quản để tránh bị ôi thui do thời tiết nóng ẩm, vi khuẩn dễ phát sinh; ngày xưa mặc khố, váy, đc nhuộm từ củ nâu, chàm, đi chân đất => ăn mặc đơn, giản gọn gàng, thích nghi với khi hậu nóng