1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

75 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Văn Hóa Làng Nghề Rèn Phúc Sen, Huyện Quảng Uyên, Tỉnh Cao Bằng
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đi suốt chiều dài đất nước, bất cứ địa phương nào cũng có làng nghề truyền thống, nơi kết tinh những tinh hoa văn hóa lâu đời của ông cha ta. Làng nghề đã xuất hiện, phát triển thăng trầm qua từng giai đoạn lịch sử của dân tộc và là một bộ phận quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Trong các làng quê bình dị, ngoài công việc đồng áng, ruộng vườn, người nông dân còn có thêm nghề phụ, tham gia sản xuất các sản phẩm thủ công. Nhiều sản phẩm đa dạng và tinh tế được sản xuất từ làng nghề như: gốm sứ, tranh dân gian, dệt lụa, giấy dó, chạm khắc gỗ, sơn mài… Mỗi sản phẩm của nghề truyền thống là một tác phẩm nghệ thuật, lưu giữ nhiều dấu ấn văn hoá, phong tục, tập quán của xã hội và con người Việt Nam.Làng nghề truyền thống không chỉ lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, mà còn đóng vai trò kinh tế quan trọng trong việc sản xuất ra các sản phẩm tiêu dùng, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động.Nghề rèn truyền thống của người Nùng An xã Phúc Sen,huyện Quảng Uyên,tỉnh Cao Bằng lịch sử hình thành và phát triển lâu đời,không chỉ có giá trị về văn hóa mà còn có giá trị về kinh tế xã hội. Sản phẩm làm ra không chỉ phục vụ gia đình mà còn được đem trao đổi các vùng lân cận cũng như khu vực toàn tỉnh và thậm chí cả nước ngoài. Chất lượng sản phẩm, mẫu mã đa dạng ,giá cả hợp lý với thị trường dần dần được bạn bè xa gần biết tới. Ngoài ra nghề rèn còn giải quyết được công ăn việc làm cho số lượng lớn nông dân thất nghiệp, hạn chế bớt được hiện tượng di dân, dân cư được tập trung. Làng nghề rèn Phúc Sen là một làng nghề truyền thống lâu đời, vị trí giao thông thuận lợi, con người nơi đây cần cù chịu khó, chăm chỉ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp. Thế nhưng hiện nay,dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa và việc tác động của nền kinh tế thị trường nhiều giá trị văn hóa của làng nghề rèn truyền thống đang bị mai một, bí quyết nghề nghiệp bị thất truyền cùng với sự ra đi của nhiều nghệ nhân lớn tuổi. Những ý nghĩa văn hóa truyền thống của mỗi sản phẩm không được các thế hệ sau tiếp thu và phát huy một cách đúng mực dẫn đến mất dần bản sắc nghề. Thậm chí còn có xu hướng thương mại hóa ,chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận làm cho giá trị văn hóa của sản phẩm làng nghề bị suy giảm, thương hiệu bị phai mờ. Vì vậy vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của làng nghề đang là vấn đề được các cấp,các ngành, địa phương hết sức quan tâm.Từ những thực tế trên, vừa là một người con của làng nghề rèn truyền thống, vừa là một sinh viên của Khoa Văn hóa Dân tộc thiểu số nên tôi đã chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng” làm đề tài nghiên cứu của mình.Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về làng nghề truyền thống ở Cao Bằng nhưng với đề tài này tôi muốn tìm hiểu, phản ánh thực trạng công tác quản lý bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm bảo tồn,duy trì và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống, phát huy những lợi thế, tiềm năng về văn hóa,du lịch của địa phương, thúc đẩy làng nghề rèn phát triển bền vững, góp phần gìn giữ và phát triển làng nghề.

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ VÀ TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ RÈN PHÚC SEN 8

1.1 Một số khái niệm 8

1.1.1 Khái niệm làng nghề ,làng nghề truyền thống 8

1.1.2 Giá trị văn hóa làng nghề 10

1.2 Quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề 12

1.2.1 Quan điểm về bảo tồn 12

1.2.2 Quan điểm về phát huy 14

1.3 Tổng quan về làng nghề rèn Phúc Sen 14

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 14

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 16

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ RÈN PHÚC SEN 23

2.1 Giá trị văn hóa của làng nghề rèn Phúc Sen 23

2.1.1 Cố kết cộng đồng 23

2.1.2 Bí quyết nghề rèn truyền thống Phúc Sen 24

2.1.3 Nghệ thuật thẩm mĩ 27

2.1.4 Nghệ nhân truyền dạy nghề rèn 28

2.1.5 Kinh tế du lịch 29

2.1.6 Phong tục tập quán, tục thờ tổ nghề 30

2.2 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen 31

2.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản,chính sách của địa phương, Nhà nước 31

2.2.2 Chính sách khen thưởng thợ nghề 37

2.2.3 Phát triển làng nghề gắn với du lịch 38

2.2.4 Tuyên truyền quảng bá làng nghề rèn và bảo vệ môi trường 40

2.3 Đánh giá về vấn đề đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen 42

2.3.1 Thuận lợi 42

Trang 2

2.3.2 Khó khăn 44

2.3.3 Nguyên nhân 45

2.4 Xu hướng biến đổi và phát triển làng nghề rèn Phúc Sen 47

Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ RÈN PHÚC SEN 49

3.1 Chính sách phát triển của địa phương, Nhà nước 49

3.1.1 Về công tác quản lý của địa phương, Nhà nước đối với làng nghề rèn Phúc Sen 49

3.1.2 Về thị trường 49

3.1.3 Về vốn đầu tư 50

3.1.4 Về chính sách thuế 51

3.1.5 Về kỹ thuật 51

3.2 Nâng cao chất lượng nguồn lực và công tác truyền dạy nghề 52

3.3 Tôn vinh và có chính sách ưu đãi đối với các nghệ nhân 54

3.4 Phong tục tập quán, tục thờ tổ nghề 54

3.5 Nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ 55

3.6 Liên kết với các công ty lữ hành du lịch tổ chức các tour du lịch có điểm đến là làng nghề rèn Phúc Sen 55

3.7 Thành lập khu du lịch làng nghề 56

3.8 Tuyên truyền,quảng bá giới thiệu về làng nghề rèn Phúc Sen và sản phẩm làng nghề 58

3.9 Bảo tồn các phong tục, tập quán, duy trì tục thờ tổ nghề 59

KẾT LUẬN 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 64

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết

6 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

7 VH&TT Văn hóa và thể thao

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đi suốt chiều dài đất nước, bất cứ địa phương nào cũng có làng nghềtruyền thống, nơi kết tinh những tinh hoa văn hóa lâu đời của ông cha ta.Làng nghề đã xuất hiện, phát triển thăng trầm qua từng giai đoạn lịch sử củadân tộc và là một bộ phận quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Trong cáclàng quê bình dị, ngoài công việc đồng áng, ruộng vườn, người nông dân còn

có thêm nghề phụ, tham gia sản xuất các sản phẩm thủ công Nhiều sản phẩm

đa dạng và tinh tế được sản xuất từ làng nghề như: gốm sứ, tranh dân gian,dệt lụa, giấy dó, chạm khắc gỗ, sơn mài… Mỗi sản phẩm của nghề truyềnthống là một tác phẩm nghệ thuật, lưu giữ nhiều dấu ấn văn hoá, phong tục,tập quán của xã hội và con người Việt Nam.Làng nghề truyền thống khôngchỉ lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, mà còn đóng vaitrò kinh tế quan trọng trong việc sản xuất ra các sản phẩm tiêu dùng, tạo công

ăn việc làm cho nhiều lao động

Nghề rèn truyền thống của người Nùng An xã Phúc Sen,huyện QuảngUyên,tỉnh Cao Bằng lịch sử hình thành và phát triển lâu đời,không chỉ có giátrị về văn hóa mà còn có giá trị về kinh tế - xã hội Sản phẩm làm ra khôngchỉ phục vụ gia đình mà còn được đem trao đổi các vùng lân cận cũng nhưkhu vực toàn tỉnh và thậm chí cả nước ngoài Chất lượng sản phẩm, mẫu mã

đa dạng ,giá cả hợp lý với thị trường dần dần được bạn bè xa gần biết tới.Ngoài ra nghề rèn còn giải quyết được công ăn việc làm cho số lượng lớnnông dân thất nghiệp, hạn chế bớt được hiện tượng di dân, dân cư được tậptrung Làng nghề rèn Phúc Sen là một làng nghề truyền thống lâu đời, vị trígiao thông thuận lợi, con người nơi đây cần cù chịu khó, chăm chỉ, cảnh quanthiên nhiên tươi đẹp Thế nhưng hiện nay,dưới tác động của xu thế toàn cầuhóa và việc tác động của nền kinh tế thị trường nhiều giá trị văn hóa của làng

Trang 5

cùng với sự ra đi của nhiều nghệ nhân lớn tuổi Những ý nghĩa văn hóa truyềnthống của mỗi sản phẩm không được các thế hệ sau tiếp thu và phát huy mộtcách đúng mực dẫn đến mất dần bản sắc nghề Thậm chí còn có xu hướngthương mại hóa ,chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận làm cho giá trị văn hóa củasản phẩm làng nghề bị suy giảm, thương hiệu bị phai mờ Vì vậy vấn đề bảotồn và phát huy các giá trị văn hóa của làng nghề đang là vấn đề được cáccấp,các ngành, địa phương hết sức quan tâm.

Từ những thực tế trên, vừa là một người con của làng nghề rèn truyềnthống, vừa là một sinh viên của Khoa Văn hóa Dân tộc thiểu số nên tôi đã

chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng” làm đề tài nghiên cứu của mình.

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về làng nghề truyền thống ở Cao Bằngnhưng với đề tài này tôi muốn tìm hiểu, phản ánh thực trạng công tác quản lýbảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen Từ đó đưa ra giảipháp nhằm bảo tồn,duy trì và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống,phát huy những lợi thế, tiềm năng về văn hóa,du lịch của địa phương, thúc đẩylàng nghề rèn phát triển bền vững, góp phần gìn giữ và phát triển làng nghề

2 Tình hình nghiên cứu

Từ trước tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về làng nghềtruyền thống cũng như làng nghề truyền thống ở Cao Bằng nói riêng, trong đóphải kể đến :

- Những công trình nghiên cứu về làng nghề truyền thống có: “Bảo tồn

và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa”

của Tiến sĩ Dương Bá Phượng, NXB Khoa học xã hội ( 2001 ) Tác giả đã đềcập khá đầy đủ lý luận và thực trạng làng nghề: khái niệm, đặc điểm, conđường hình thành và quá trình phát triển, giải pháp cũng như hướng phát triểncủa làng nghề truyền thống

- Những công trình nghiên cứu về nghề thủ công truyền thống của

người Nùng: “Nghề thủ công truyền thống của người Nùng” ( Bảo tàng Dân

Trang 6

tộc học ), “Văn hóa làng nghề của người Nùng” của tác giả Nguyễn Thị

Uyên

- Công trình “ Địa chí Cao Bằng” đã đề cập tới điều kiện tự nhiên, kinh

tế văn hóa xã hội, các ngành nghề thủ công truyền thống của tỉnh Cao Bằng.Đây là nguồn tư liệu khá đầy đủ và phong phú giúp tôi có thể thực hiện tốtđược đề tài

- Những công trình nghiên cứu cụ thể về làng nghề rèn truyền thống

Phúc Sen có: Luận văn thạc sĩ “ Giải pháp phát triển nghề rèn truyền thống Phúc Sen,huyện Quảng Uyên,tỉnh Cao Bằng ” của tác giả Nông Thanh Tùng – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Khóa luận tốt nghiệp “ Vai trò của nghề rèn truyền thống với việc phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của người Nùng

An xã Phúc Sen,huyện Quảng Uyên,tỉnh Cao Bằng ” của tác giả Nông Thị Nga – Đại học Văn Hóa Hà Nội Khoas luận tốt nghiệp “ Nghề rèn của người Nùng An xã Phúc Sen,huyện Quảng Uyên,tỉnh Cao Bằng ” của tác giả Mã Thị

Phương – Đại học Văn Hóa Hà Nội

Những luận văn trên đã đề cập một cách rất khái quát về sự phát triểncủa nghề rèn cũng như vai trò của nghề rèn trong sự phát triển kinh tế - vănhóa – xã hội tại xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng Cho tới nayvẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề bảo tồn và phát huy giátrị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làngnghề rèn là một vấn đề hết sức quan trọng và ý nghĩa, vừa góp phần gìn giữnhững nét văn hóa truyền thống của làng nghề vừa phát huy được những lợithế tiềm năng văn hóa, du lịch của địa phương, góp phần thúc đẩy làng nghềrèn phát triển bền vững

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu các giá trị văn hóa của làng nghề rèn Phúc Sen

- Thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen

- Đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu : làng nghề rèn Phúc Sen và các giá trị văn hóalàng nghề rèn Phúc Sen

- Phạm vi nghiên cứu : xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh CaoBằng

- Thời gian nghiên cứu : từ năm 2015 đến 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điền dã,khảo sát thực tế

- Phương pháp thu thập tài liệu

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp

- Phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết thúc thì bố cục đề tài gồm 3 phần chính :

Chương 1 : Những vấn đề lý luận chung về bảo tồn,phát huy giá trị văn hóa làng nghề và tổng quan về làng nghề rèn Phúc Sen.

Chương 2 : Thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của làng nghề rèn Phúc Sen.

Chương 3 : Giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen.

Trang 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY

GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ VÀ TỔNG QUAN

có cư dân sản xuất các mặt hàng thủ công, lâu dần lan truyền ra cả làng, xãtạo nên những làng nghề và truyền nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác Đề tàilàng nghề truyền thống là đề tài rất thú vị, đã có rất nhiều nhà văn hóa nghiêncứu về đề tài này Theo Tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “Làng nghề truyềnthống Việt Nam” thì làng nghề được định nghĩa như sau: “ làng nghề là mộtđơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinhhoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề khôngnhững là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghềsống hợp quần để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của các làngnghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dântộc và các cá biệt của địa phương ” [1, tr9] Xét theo góc độ kinh tế, trongcuốn: “ Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ” Tiến sĩ Dương Bá Phượng cho rằng: “ Làng nghề

là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủcông nghiệp và kinh doanh độc lập Thu thập từ các làng nghề đó chiếm tỉtrọng cao trong tổng giá trị toàn làng ” [3, tr13]

Trang 9

Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có: làng nghề truyềnthống và làng nghề mới khóa luận chỉ đi sâu tìm hiểu định nghĩa làng nghềtruyền thống vì có nhiều ý nghĩa trong phát triển du lịch.

 Làng nghề truyền thống

Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về làng nghề truyềnthống, nhưng ta có thể hiểu làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghềthủ công truyền thống

Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng thì làng nghề là: “ Làng nghề là làng

ấy, tuy có trồng trọt theo lối thủ nông và chăn nuôi (gà, lợn, trâu,…) làm một

số nghề phụ khác ( thêu, đan lát,…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinhxảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, cóông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm, có quy trìnhcông nghệ nhất định “ sinh ư nghệ, tử ư nghệ ”, “ nhất nghệ tinh, nhất thânvinh ”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công,những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và

có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thị trường đôthị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài.”[8,tr12]

Làng nghề ở đây không nhất thiết là tất cả mọi người dân trong làngđều sản xuất thủ công, người thợ thủ công cũng có thể là người nông dân làmthêm nghề phụ trong lúc nông nhàn Tuy nhiên do yêu cầu về tính chuyênmôn hóa cao đã tạo ra những người thợ thủ công chuyên nghiệp, chuyên sảnxuất hàng thủ công truyền thống ngay tại quê hương của mình Nghiên cứumột làng nghề thủ công truyền thống là phải quan tâm đến nhiều mặt, tính hệthống, toàn diện của làng nghề thủ công truyền thống đó, trong đó yếu tốquyết định là nghệ nhân của làng, sản phẩm thủ công, thủ pháp kĩ thuật sảnxuất và nghệ thuật Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuấthàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làmnghề mang tính lâu đời, được truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên

Trang 10

kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thốngdoanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là bán lẻ, họ có cùng tổ nghề, các thànhviên luôn có ý thức tuân theo những hương ước, chế độ, gia tộc, cùngphường nghề trong quá trình lịch sử phát triển đã hình thành nghề ngay trênđơn vị cư vị cư trú của xóm của họ Làng nghề thủ công truyền thốngthường có đại đa số hoặc một số lượng lớn dân cư làm nghề cổ truyền, thậmchí là 100% dân cư làm nghề thủ công hoặc một vài dòng họ chuyên làmnghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối Sản phẩm của họ không những có tínhứng dụng cao mà còn là những sản phẩm độc đáo, ấn tượng, tinh xảo Ngàynay trong quá trình phát triển của kinh tế xã hội Làng nghề đã thực sự thànhđơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp, có vai trò, tác dụng tích cực rất lớn đốivới đời sống kinh tế xã hội.

1.1.2 Giá trị văn hóa làng nghề

 Giá trị

Là phạm trù riêng có của loài người, liên quan đến lợi ích vật chất cũngnhư tinh thần của con người Bản chất và ý nghĩa bao quát của giá trị là tínhnhân văn Chức năng cơ bản nhất của giá trị là đinh hướng, đánh giá và điềuchỉnh các hoạt động của cá nhân và cộng đồng Giá trị gắn liền với nhu cầucủa con người Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng được biểuhiện dưới nhiều hình thức khác nhau Chính nhu cầu là động cơ thúc đẩymạnh mẽ hành động của con người, giúp con người tạo nên những giá trị vậtchất và tinh thần

 Giá trị văn hóa

Là sự đánh giá mang tỉnh cộng đồng đối với những hiện tượng, sảnphẩm văn hóa do con người tạo ra trong bối cảnh xã hội nhất định Những giátrị đó được coi là là tốt đẹp, là có ích, đáp ứng nhu cầu của con người trongtrong mọi thời đại Một khi những giá trị đó hình thành và được định hình thì

Trang 11

con người trong mỗi cộng đồng ấy Giá trị văn hóa về thực chất là sự khẳngđịnh của con người đối với sư tồn tại vật chất và tinh thần trong đời sống xãhội, quan hệ, trật tự của mình, hành vi, thái độ của mình, khích lệ con người

sống và phát triển theo thang giá trị mà cộng đồng xã hội tôn vinh.

 Văn hóa làng nghề

Trong cuốn : “ Từ điển Bách khoa Văn hóa học ” của A.A.Raduginxuất bản vào những năm 90 của thế kỷ XX có định nghĩa về thủ công mỹnghệ dân gian như sau: “ Thủ công mỹ nghệ dân gian là một bộ phận quantrọng của nền văn hóa dân gian, dựa trên sang tạo tập thể phát triển truyềnthống văn hóa tại địa phương ”(1.tr.521)

Trong công trình : “ Văn hóa dân gian trong các làng nghề ”của tác giảRobert MsCart đăng trong tác phẩm : “ Một số thuật ngữ đương đại ” của haitác giả là Ngô Đức Thịnh và Frank Proschan đã nêu ra quan niệm về làngnghề thủ công: “Các khía cạnh biểu cảm của nơi làm việc với sự chú trọngđặc biệt đến các chuyện kể, kỹ xảo và nghi lễ được biết đén bằng cách khôngchính thức và được trao truyền từ thế hệ người lao động này đến thế hệ ngườilao động khác …” (26.tr393)

Nghề thủ công Việt Nam gắn liền với làng xa nên việc định dạng thuậtngữ làng nghề là điều tất yếu Văn hóa làng nghề bao gồm văn hóa làng vàvăn hóa nghề trong đó văn hóa làng được coi là nền tảng còn văn hóa nghềđược coi là yếu tố quyết định cho sự hình thành nên đặc trưng của văn hoalàng nghề

Các yếu tố hình thành nên văn hóa làng bao gồm : cơ cấu tổ chức, diệnmạo làng xã, … văn hóa vật thể gồm: đền, chùa, miếu, … văn hóa phi vật thể:phong tục tập quán, ứng xử làng xóm, lễ hội, tín ngưỡng dân gian, … Cácyếu tố hình thành nên văn hóa nghề bao gồm: thợ thủ công đặt trong mối quan

hệ với nghề nghiệp với làng xóm, gia đình, dòng họ, … phường/ hội, bí quyết

và quy trình nghề, thờ tổ nghề, tập tục riêng biệt của tổ nghề,…

Trang 12

Trong tác phẩm “ Nghề thủ công mỹ nghệ đồng bằng sông Hồng tiềmnăng, thực trạng và một số kiến nghị ” của tác giả Lê Hồng Lý đã nêu lên kháiquát những nét cơ bản của văn hóa làng nghề.

Có một thực tế phổ biến đó là ở hầu hết các làng nghề vố văn hóatruyền thống được gìn giữ bên lâu hơn những làng khác Vốn văn hóa ấy lạilại phong phú với nhiều loại hình khác nhau Hiện nay các làng còn giữ đượcnhững nét văn hóa truyền thống nhất lại là những làng nghề Từ di tích, phongtục cùng các tiềm năng văn hóa khác đều được gìn giữ khá tốt so với các làngnông nghiệp thuần túy khác, làng nghề có điều kiện nhiều hơn về kinh tế Hơnnữa họ có tay nghề cho nên các di tích trong làng thường xuyên được tu bổnhờ sự giúp đỡ của các “ mạnh thường quân ”hơn và được công đức nhiềuhơn Đặc biệt là một số phong tục, nghi lễ nông nghiệp sơ khai và rất cổ lại dochính quyền làng lưu giữ giữ nhiều hơn các làng nông nghiệp thuần túy Thờcúng tổ nghề cũng là một nét văn hóa khác của làng nghề, gần như không cómột làng nghề nào là không thờ một vị tổ sư của làng nghề mình Cùng với tổnghề là lễ hội làng nghề, nếu ngày giỗ tổ nghề đồng thời là ngày hội làng thì

lễ hội làng ấy có quy mô khá lớn Vốn dĩ là làng nông nghiệp nên làng nghề

có những đặc tính của làng xã nông thôn Việt Nam Vì vậy do nhu cầu trởthành làng nghề do nhu cầu bảo vệ nghề và việc phải cố kết làm ăn trước cáccộng đồng nghề khác, nên tính cộng đồng của họ ở mặt nào đó còn cao hơn ởlàng nông nghiệp Văn hóa làng nghề ngoài lễ hội, khoán ước, và giỗ tổ nghềcòn nhiều loại hình khác phong phú như : ca dao, ngạn ngữ nói về nghề,những truyền thuyết nói về các vị tổ nghề, ca dao làng nghề (17.tr.135-145)

1.2 Quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề

1.2.1 Quan điểm về bảo tồn

1.2.1.1 Bảo tồn nguyên vẹn

Trang 13

Trước đây đã từng có quan niệm bảo tồn nguyên vẹn, bảo tồn văn hóađược hiểu là sự nỗ lực nhằm bảo vệ và gìn giữ các sản phẩm văn hóa ( vốnđược chắt lọc, chưng cất qua từng bước phát triển thăng trầm của lịch sử ) vàkhông gian tồn tại của nó theo dạng thức vốn có Nghĩa là những sản phẩmcủa quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn như nó vốn có, cố gắngphục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật chất và tinh thần cũng như cách

ly di sản khỏi xã hội đương đại Song vấn đề đặt ra, văn hóa luôn gắn bó vớiđời sống con người, với môi trường xã hội trong sự vận động của nó, nhất làvăn hóa di sản phi vật thể Chính vì vậy quan điểm bảo tồn nguyên vẹn sẽkhông phải là cách tiếp cận của trường hợp nghiên cứu này

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Liêm có bài viết : “ Bảo tồn và phát huy “ hay

“ kế thừa và phát triển “ văn hóa dân tộc trong nền kinh tế thị trường xã hộichủ nghĩa được in trong cuốn kỷ yếu hội thảo 60 năm đề cương văn hóa ViệtNam ( 1943 – 2013 ) có nêu ra quan điểm:

“ Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóahay biến thái,… Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có kháiniệm “ cải biến ”, “ nâng cao ” hoặc “ phát triển ” Hơn nữa, khi nói đối tượng

“ phải được nhìn là tinh hoa “, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khảnăng tồn tại theo thời gian, với nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đốitượng được bảo tồn (16.tr.269)

1.2.1.2 Bảo tồn trên cơ sở kế thừa

Bảo tồn trên cơ sở kế thừa những giá trị đọc đáo của quá khứ dườngnhư là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay khi bàn đến disản văn hóa nói chung và quản lý di sản văn hóa nói riêng Quan điểm nàydựa trên cơ sở mỗi di sản văn hóa cần thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ởmột thời gian và không gian cụ thể Khi giá trị văn hóa di sản ấy tồn tại ởkhông gian và thời gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa – xã

Trang 14

hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợpvới xã hội ấy.

Nếu như quan điểm bảo tồn nguyên vẹn gặp khó khăn trong việc xácđịnh đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phát sinh, và và giữ gìn nguyêngốc là giữ gìn những yếu tố nào, thì quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa gặpphải khó khăn trong khâu xác định yếu tố nào thực sự là giá trị cần kế thừa vàphát huy, yếu tố nào không còn phù hợp, cần loại bỏ, cũng cần phải khuếncao rằng sự loại bỏ ấy có thể sẽ đánh mất những giá trị văn hóa mà chúng tachưa hiểu một cách sâu sắc và thấu đáo

1.2.2 Quan điểm về phát huy

Xung quanh vấn đề phát huy di sản văn hóa phi vật thể cũng đặt ranhiều vấn đề Song điều quan trọng hơn cả đối với việc phát huy những di sảnvăn hóa nói chung và giá trị văn hóa làng nghề nói riêng là làm sao khơi dậyđược ý thức của cộng đồng, niềm tự hào về di sản văn hóa hóa phi vật thể, để

di sản ấy sông trong cộng đồng như đúng bản chất của nó Trong công tácphát huy, vấn đề được đặt ra đó là truyền dạy, tuyên truyền, giáo dục trongcộng đồng, nhất là thế hệ trẻ có hiểu biết về làng nghề với những giá trị vănhóa truyền thống của nó Chính đây là cây cầu để chúng ta đưa những giá trịvăn hóa làng nghề với cộng đồng và hơn thế nữa cộng đồng chính là môitrường sản sinh ra văn hóa làng nghề mà còn là nơi tốt nhất bảo tồn, làm giàuthem và phát huy nó trong đời sống xã hội

Phát huy trên cơ sở sàng lọc, duy trì và làm phong phú thêm những nétđẹp văn hóa vốn có Phát huy giá trị văn hóa là hành động hướng tới mục đíchnhằm đưa sản phẩm văn hóa vào trong xã hội thực tiễn

1.3 Tổng quan về làng nghề rèn Phúc Sen

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 15

Nằm trên quốc lộ 3 từ thị xã Cao Bằng vào các huyện miền Đông(Quảng Uyên, Phục Hòa, Trùng Khánh, Hạ Lang) của tỉnh đều đi qua xã PhúcSen Cách thị xã Cao Bằng khoảng 30 km Phúc Sen có vị trí địa lý giáp vớinhiều địa phương khác thuận lợi cho việc đẩy mạnh giao lưu, trao đổi hànghóa, phát triển kinh tế.

Phía Bắc giáp xã Quốc Dân, xã Quốc Phong

Phía Đông giáp thị trấn Quảng Uyên, xã Chí Thảo

Phía Nam giáp xã Chí Thảo, xã Tự Do, xã Đoài Khôn

Phía Tây giáp xã Đoài Khôn

Xã Phúc Sen bao gồm các xóm : Chang Dưới, Chang Trên, Đơu Cọ, BảnKhào A,Bản Khào B, Lũng Vài, Pác Rằng, Lũng Sâu, Tỉnh Đông, Lũng Vài

1.3.1.2 Địa hình

Địa hình xã Phúc Sen thuộc địa hình miền cát – tơ địa hình phức tạp,gồm các hệ thống dãy núi đá vôi và phân cách mãnh liệt núi có đỉnh nhọndạng tai mèo, gồ ghề lởm chởm cao thấp khác nhau, hay các dốc giữa xemcác thung lũng hẹp

Địa hình xã miền núi, nằm ở độ cao trung bình 567m so với mực nướcbiển Bao bọc là các thung lũng lớn nhỏ với các núi đá vôi, dải núi đá vôi Córất nhiều hang động nhưng chủ yếu là hang vừa và nhỏ không có hang to

1.3.1.3 Đất

Do địa hình gồm có thung lũng và các núi đá vôi nên đất đai ở đâykhông thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, đất nông nghiệp chỉ phân bố rảiquanh các thung lũng, không có song suối nên chỉ sản xuất 01 vụ

Tổng diện tích đất theo ranh giới hành chính là 1.290,43 ha Bình quândiện tích đất tự nhiên là 0,67 ha/ người Hiện nay hầu hết đất đai ở xã đềuđược sử dụng với mục đích khác nhau, còn lại 31,37 ha đất chưa sử dụng,trong đó đất bằng có 11,59 ha là chưa sử dụng, đất đồi là 19,78 ha Đất đai ởPhúc được chia làm 2 nhóm đất chính :

Trang 16

- Đất nông nghiệp diện tích 1.196,58 ha chiếm 92,73 % trong đó có :+ Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 25,73 % tổng diện tích đất, dùng đểcanh tác lúa và một số cay hoa màu khác.

+ Đất lâm nghiệp diện tích 862, 17 ha chiếm 66,81 % diện tích đất tựnhiên

+ Đất nuôi trồng thủy sản diện tích 1,78 ha chiếm 0,14 % diện tích đất

Mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau

Nhiệt độ trung bình năm là 19,5 độ C, nhiệt độ thấp nhất là – 2 độ C,nhiệt độ cao nhất là 37 độ C, hướng gió chính là Hướng Đông Bắc Độ ẩmtrung bình năm là 80 %, lượng mưa trung bình năm không cao, khoảng1.665,5 mm, lượng mưa phân bố không đều trong năm, lượng mưa lớn nhất là286,3 mm Mưa tập trung nhiều nhất từ tháng 6, 7, 8 Do địa hình bị chia cắtmạnh, độ dốc lớn nên vào mùa mưa thường có lũ quét , sạt lở đất, mùa khôthiếu nước, hạn hán kéo dài ảnh hưởng đến sản xuất sinh hoạt của nhân dân

1.3.1.5 Thủy văn

Nguồn nước mặt có nguồn nước nhỏ ở khu đầu nguồn Thanh Minh,cung cấp nước tưới tiêu cho cánh đồng 6 xóm, khu trung tâm và một số mỏnhỏ rải rác ở các xóm khác, các mỏ này phụ thuộc vào lượng mưa tự nhiên

Trang 17

lớn phụ thuộc vào thiên nhiên và khai thác tận dụng nguồn nước ngầm.Nguồn nước ngầm phân bố khá rộng, chủ yếu sâu từ 10 – 15 m đây là nguồnnước có thể khai thác phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của bà con.

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.3.2.1 Vài nét khái quát về người Nùng ở Phúc Sen

Người Nùng cùng với các nhóm nói tiếng Tày – Thái nằm trong khốiBách Việt Vào thế kỷ III trước công nghuyên, ở lưu vực sông Hồng và songCầu nước Âu Lạc đã hình thành với thủ lĩnh là An Dương Vương Thục Phán,

mà người Nùng có thể là một thành phần của nó

Nhóm người Nùng hiện nay vẫn mang tộc danh Nùng thì mới chỉ di cưsang Việt Nam trong những thế kỷ gần đây Những gia phả, sách cúng đồngbào còn giữ lại được đã cho thấy họ mới tới Việt Nam Một trong những bằngchứng chứng tỏ người Nùng hiện thời cư trú trên lãnh thổ Việt Nam chưa lâu

là đặc điểm phân bố của họ Họ ở các thung lũng nhỏ hẹp, ít có điều kiện làmlúa nước, thường phải khai phá một phần nương rẫy

Đại bộ phận người Nùng là những người di cư từ Trung Quốc sang Họ

di cư theo từng nhóm, nguyên nhân của những cuộc thiên di chủ yếu là do bị

áp bức bóc lột nặng nề, bị chèn ép, nhất là bị đàn áp tàn sát đâm máu sau cáccuộc khởi nghĩa không thành công Loạn lạc cướp bóc, đồng thời nạn thiếuruộng đất cũng thúc đẩy họ đi tìm nơi sinh sống dễ chịu hơn

Người Nùng ở Việt Nam có nhiều nhóm địa phương với tên gọi khácnhau: có nhóm gọi theo tên quê hương cũ thuộc các huyện Quảng Đông vàQuảng Tây,… Của Trung Quốc như : Nùng An ( An Kết ), Nùng Inh ( LongAnh ), Nùng Lòi ( Hạ Lôi ), Nùng Cháo ( Long Châu ), Nùng Phàn Sinh( Vạn Thành ),… Có nhóm gọi theo đặc điểm trang phục : Nùng U ( có túiváy ), Nùng Hu Lài ( Khăn đội đầu có đốm trắng ), Nùng Khen Lài ( ống tay

có mảng hoa văn )… Ngoài những yếu tố chung của tộc người còn có đặcđiểm riêng của từng nhóm Nùng thể hiện qua trang phục, cấu trúc nhà cửa,

Trang 18

phong tục tập quán, lễ tết và các nghề thủ công truyền thống Các nhóm Nùng

ở Việt Nam cư trú chủ yếu theo nhóm địa phương như : Nùng Phàn Sinh tậptrung chủ yếu ở Lạng Sơn, Nùng U tập trung chủ yếu ở Quảng Ninh, NùngGiang Nùng An ở Cao Bằng

Dân tộc Nùng An là dân tộc có số dân đông thứ 2 ở Cao Bằng, chỉ saudân tộc Tày Theo kết quả điều tra dân số và nhà cửa của Cục Thống kê CaoBằng tháng 4/ 2019, Cao Bằng có 157.607 người Nùng cư trú, chiếm hơn 31

% dân số toàn tỉnh Người Nùng phân bố rải rác ở các huyện trong tỉnh như :

Hạ Lang, Thông Nông, Hòa An, Trà Lĩnh, Thạch An, Trùng Khánh, QuảngUyên, Hà Giang,…

Dân tộc Nùng ở Cao Bằng tập trung đông nhất tại huyện Quảng Uyênvới 23.063 người Phân bố tại các xã như : Tự Do, Hồng Quang, Chí Thảo,Phi Hải, Bình Lăng, … Trong đó tập trung nhiều nhất tại 3 xã là Phúc Sen,Đoài Khôn và Quốc Dân, đây là 3 xã duy nhất có người Nùng An sinh sống.Riêng xã Phúc Sen có 450 hộ dân với 1.984 nhân khẩu

Ngôn ngữ của người Nùng An thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái thuộcngữ hệ Tai – Kadai Theo nhiều tài liệu , người Nùng An có nguồn gốc từLong An – Quảng Tây – Trung Quốc , họ đến cư trú khoảng hơn 200 nămtrước, phải diễn đực 12 – 13 đời, tức là khoảng cuối thế kỷ 17 đầu thế 18

1.3.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề rèn Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

1.3.2.2.1 Lịch sử hình thành làng nghề rèn Phúc Sen

Nghề rèn ở Phúc Sen là một trong những nghề thủ công truyền thốngcòn tồn tại tới ngày nay, nghề rèn đã gắn bó với người Nùng An từ rất lâu đời.Nghề rèn ở Phúc Sen có từ bao giờ và do ai truyền dạy ? Quả thực câu hỏinày đã thu hút rất nhiều sự quan tâm nhưng tới nay vẫn chưa có chứng cớchính xác về mốc thời gian nghề rèn xuất hiện và cũng như là chưa tìm ra “

Trang 19

ông tổ “ của nghề rèn là ai.Tuy nhiên dân gian vẫn lưu truyền những câuchuyện khác nhau về nguồn gốc ra đời của nghề rèn.

 Câu chuyện thứ nhất :

Nghề rèn vào Phúc Sen bằng con đường di dân Vào khoảng thế kỷ18,19 người Nùng An di cư từ Trung Quốc sang, trong ba gia đình dừng lạikhai khẩn đất đai ở bản Phya Chang ( nay chia làm Chang Trên và ChangDưới ) xã Phúc Sen thì họ Hoàng là họ có nghề ren sắt gia truyền , gia đìnhnày đã rủ hai gia đình còn lại rồi mở lò rèn sản xuất ra các nông cụ phục vụviệc khai khẩn đất hoang tại nơi ở mới Nghề rèn từ đó lưu truyền từ đời nàysang đời khác tới ngày nay

 Câu chuyện thứ hai :

Làng rèn Phúc Sen một thuở đã từng chế tác vũ khí cung cấp cho côngcuộc kháng chiến chống giặc xâm lược, qua nhiều giai đoạn biến động xã hội.Theo lịch sử ghi lại cùng những dấu tích là những minh chứng hiện hữu, làngrèn Phúc Sen một thuở đã là công binh xưởng đúc rèn cơ khí, chế tạo vũ khícủa triều đại nhà Mạc Đó là câu chuyện bi kịch của lịch sử, khi nhà Mạc tháochạy khỏi kinh đô Thăng Long năm 1593, lên Cao Bằng theo lời tiên đoáncủa Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm, lập căn cứ chống lại nhà Lê Một thờiđoạn chiến tranh, nhà Mạc đã lập đô tại Cao Bằng, hùng cứ một phương, kéodài đến hơn 80 năm Chính vì thế binh xưởng chế tác vũ khí cho quân đội nhàMạc đã hình thành ở Phúc Sen, cách thành phố Cao Bằng chừng 30km vềphía đông Sau khi nhà Mạc tan rã các thợ rèn đã ở lại họ sống đan xen vớingười địa phương và sống bằng nghề rèn Khi người Nùng An tới cư trú ởvùng đất này họ đã tìm ra thợ rèn công cụ lao động , cuối cùng họ tìm thấymột lão thợ rèn già và nhờ lão rèn các loại cuốc, dao Sau này lão thợ rènđược người dân Nùng An đưa về sống ở bản và trước khi qua đời ông đãtruyền nghề lại cho người dân nơi đây Ngoài ra ra cũng có ý kiến cho rằng,trong thơi gian ở Cao Bằng để mở mang lực lượng nhà Mạc đã có nhữngchính sách lôi kéo và khuyến khích nhiều dòng người từ bên kia biên giới

Trang 20

sang Cao Bằng Họ đã cử người từ Long An – Quảng Tây – Trung Quốc đóncác thợ rèn người Nùng về giú rèn sung ống, sau đó họ ở lại lập nên các làngvới làng nghề truyền thống hiện nay.

Cho tới tận bây giờ vẫn chưa ai có thể kiểm chứng được độ thực hư củanhững câu chuyện trên, tuy nhiên chúng vẫn tồn tại trong tiềm thức người dân,ảnh hưởng tới tập quán tín ngưỡng của người dân Có một điều chắc chắn đó lànghề rèn đã xuất hiện từ rất lâu đời khoảng hơn 200 năm tồn tại và phát triểncùng với sự tồn tại và phát triển của đồng bào Nùng An ở Phúc Sen

1.3.2.2.2 Quá trình phát triển làng nghề rèn Phúc Sen

Nghề rèn cũng như các làng nghề thủ công truyền thống khác đã trảiqua quá trình phát triển lâu dài với nhiều cách thức tổ chức sản xuất khácnhau Có thể chia làm 3 giai đoạn phát triển của làng nghề rèn nơi đây:

Giai đoạn trước 1960

Ban đầu nghề rèn khi mới ra đời chỉ được coi là nghề phụ của gia đình,

họ chỉ rèn khi nào cần tới dụng cụ lao động nên sản phẩm rèn chỉ mang tính

tự túc tự cấp Khi đó sản phẩm của nghề rèn chủ yếu là các dụng cụ phục vụtrực tiếp cho lao đọng sản xuất như dao, cuốc, xẻng, cưa,… chỉ phục vụ giađình, dòng họ, làng bản Tổ chức sản xuất thời kỳ này theo hộ gia đình hoặcdòng họ mỗi lò rèn chỉ có từ 3 – 4 người đều thuộc một hộ gia đình hoặc anh

em trai của một dòng họ trong làng xã

Saen phẩm của làng nghề rèn trở thành vật ngang giá trao đổi và bướcđầu trở thành hàng hóa từ những năm 1950 trở đi Do nhu cầu của cuộc sốngcần những nhu yếu phẩm khác phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày, người dânPhúc Sen đã đem sản phẩm của nghề rèn đổi lấy dầu, muối,… Có thể nói bắtđầu từ đó sản phẩm của nghề rèn nơi đây không hoàn toàn mang tính tụ cung

tự cấp, bởi ngoài phục vụ cho nhu cầu gia đình làng bản các vật dụng họ làm

ra đã đáp ứng phần nào nhu cầu của đồng bào lân cận và được nhiều người

Trang 21

trong huyện biết tới Tuy nhiên giai đoạn này đồng bào Nùng An vẫn chỉ sảnxuất với quy mô nhỏ,sản phẩm chưa thật sự phong phú về chủng loại.

 Giai đoạn 1960 – 1979:

Từ năm 1960 HTX nông nghiệp ở Phúc sen đuuợc thành lập theo khuvực hành chính là bản, mỗi bản có một HTX Khi HTX Nông nghiệp đi dầnvào ổn định, đời sống kinh tế - xã hội được phát triển nhờ các biện pháp thâmcanh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và một phần là thu nhập them từ cácnghề phụ, trong đó sản phẩm của nghề rèn là nguồn thu nhập thêm chủ yếu Tháng 9/1960 HTX tiểu thủ công nghiệp đầu tiên của xã Phúc Sen được thànhlập tại bản Phia Chang Sau đó các HTX tiểu thủ công nghiệp lần lượt đượcthành lập tại các bản khác như Pác Rằng, Tỉnh Đông,… Tới năm 1975 cả xãPhúc Sen có 7 bản có HTX tiểu thủ công nghiệp Cũng giống như khi gianhập HTX nông nghiệp , các hộ gia đình ở đay đều đưa tài sản của gia đìnhmình vào HTX và được hưởng mọi quyền lợi của người xã viên với phươngthức làm việc tập trung và ăn chia sản phẩm theo công điểm

Năm 1975 Liên minh các HTX thủ công nghiệp xã Phúc Sen được thànhlập trên cơ sở tập hợp 7 HTX tiểu thủ công nghiệp của 7 bản thuộc xã PhúcSen Liên minh các HTX thủ công nghiệp xã Phúc Sen tồn tại và phát triểntrong vòng 5 năm từ năm 1975 đến năm 1979 dưới sự chỉ đạo và quản lý củaHiệp hội lien minh các HTX tỉnh Cao Bằng Thời kỳ này HTX thủ công nghiệpcủa xã Phúc Sen đã được Hiệp hội liên minh các HTX tỉnh Cao Bằng đầu tưtrang thiết bị cho một số máy móc tương đối hiện đại để phục vụ cho khâu chếtác như máy mài, máy tiện,… Các sản phẩm rèn của HTX thời gian này mộtphần phục vụ người tiêu dùng tại chỗ , một phần do Hiệp hội Liên minh cácHTX tỉnh điều tiết phân phối cho người tiêu dùng trên phạm vi toàn tỉnh

Từ khi thành lập các HTX tiểu thủ công nghiệp , đặc biệt là sau khiLiên minh các HTX thủ công xã Phúc Sen được thành lập sản phẩm của nghềrèn nơi đây đã tăng nhanh về số lượng và chất lượng được nâng cao Các thợrèn có cơ hội học hỏi kinh nghiệm với nhau vì vậy kỹ thuật sản xuất của các

Trang 22

xã viên cũng được nâng lên đáng kể so với thời kỳ sản xuất cá thể đơn lẻ giađình Mặt khác HTX cũng bầu ra một tổ kiểm định chất lượng kỹ thuật baogồm các thợ lành nghề giàu kinh nghiệm Chính vì vậy họ đã xây dựng đượcniềm tin với khách hàng bởi các sản phẩm tốt, sản phẩm rèn thời kỳ này đãthoát khỏi phạm vi tỉnh Cao Bằng đến với nông dân các tỉnh lân cận : BắcCạn, Tuyên Quang, Lạng Sơn,…

Để tăng thu nhập cho các hộ gia đình ngoài thời gian làm việc tại HTXcác xã viên còn về nhà tranh thủ rèn tại lò rèn của gia đình mình Như vậy,đây là giai đoạn tồn tại hai thức hình thức tổ chức sản xuất là : sản xuất HTX

và sản xuất gia đình

 Giai đoạn 1979 đến nay :

Trong khi HTX thủ công xã Phúc Sen đang trên đà phát triển, thịtrường tiêu thụ sản phẩm đang được mở rộng thì tới năm 1979 ở biên giới tỉnhCao Bằng xảy ra chiến sự, sự kiện này đã làm gián đoạn công việc sản xuất ởPhúc Sen bởi bọn giặc phá hoại gần hết các cơ sở vật chất ở đây Bắt đầu từnăm 1979 HTX thủ công xã Phúc Sen giải thể Khi không còn HTX thủ công,thợ rèn của các bản lại trở về lò rèn của các gia đình tiếp tục sản xuất các sảnphẩm phục vụ tiêu dùng tại chỗ cho bà con trong làng bản và nhân dân trongtỉnh

Năm 1984 và năm 1985 sản phẩm rèn của xã được đưa tới tham dự hộichợ triển lãm kinh tế - kỹ thuật toàn quốc và sản phẩm của họ được Ban tổchức của hội chợ trao tặng Huy chương vàng về chất lượng Sản phẩm rèn củalàng nghề rèn được nhiều người biết tới bởi chất lượng của nó, những ngườithợ rèn rất nhanh nhạy nắm bắt thị trường, chế tác các sản phẩm theo yêu cầucủa người tiêu dùng Dần dần sản phẩm rèn của Phúc Sen đã đến được với bàcon vùng Tây Nguyên và các tỉnh lân cận, chiếm được cảm tình của nhiềungười Cho tới nay sản phẩm của làng rèn Phúc Sen là sự lựa chọn đáng tincậy của rất nhiều khách hàng trong và ngoài tỉnh Năm 2007, mô hình HTX

Trang 23

kiểu mới được thành lập ở Phúc Sen Tuy nhiên cho tới nay mô hình HTXmới chỉ mang tính chất hình thức chưa hoạt động hiệu quả.

Trang 24

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA

LÀNG NGHỀ RÈN PHÚC SEN

2.1 Giá trị văn hóa của làng nghề rèn Phúc Sen

2.1.1 Cố kết cộng đồng

Mỗi con người chúng ta ai cũng đuề đang sống trong một cộng đồng

Đó là tập hợp một cộng đồng cư dân sinh sống trên cùng một lãnh thổ chính

vì vậy họ có ý thức tình cảm và sự thống nhất trong một địa phương, khả năngtham gia cac hành động mang tính tập thể vì quyền lợi của địa phương đó.Trong các cộng đồng, tính cố kết cộng đồng cao nhất phải nói đến cộng đồngcác dân tộc thiểu số Họ cùng thuộc một dân tộc riêng, phong tục tập quánđồng nhất và từ ngàn đời xưa vẫn vậy

Ở làng nghề rèn Phúc Sen, duy nhất chỉ có một tộc người sinh sống đó

là người Nùng An Cộng đồng người Nùng An ở đây sống tập trung lại thànhbản, cùng nhau làm ăn sinh sống từ xa xưa Phương thức canh tác sinh sốngchủ yếu là làm ruộng làm nương rẫy Về sau khi nghề rèn đi vào Phúc Sen từmột vài hộ gia đình sản xuất dần dần họ chia sẻ bí quyết truyền nghề, pháttriển nghề rèn rộng ra khắp xã Phúc Sen Mới đầu là sản xuất nhỏ lẻ chủ yếuphục vụ cho hộ gia đình, dòng họ, làng bản, những sản phẩm còn thô sơ chưa

có gì đặc sắc Qua quá trình sử dụng họ đã cùng nhau đóng góp ý kiến khắcphục dần để có được những sản phẩm tinh tế chất lượng như bây giờ

Tính cố kết cộng đồng của Nùng An rất cao, thể hiện qua các phươngdiện như : cùng giúp đỡ nhau trong quá trình rèn nghề, chia sẻ học hỏi kinhnghiệm lẫn nhau, đoàn kết động viên nhau trong quá trình rèn Một lò rènthường chỉ có 3 – 4 người trong cùng một hộ gia đình với nhau hoặc nhữngngười anh em trai trong dòng họ, nhưng đó là trên lý thuyết còn thực tế các lò

Trang 25

xuất Quá trình rèn sản xuất ra một sản phẩm phải trải qua rất nhiều côngđoạn khác nhau đòi hỏi phải có đủ sức khỏe cũng như lực lượng nhân công.Nhưng cũng có nhiều thời điểm trong năm khi số lượng sản phẩm khách yêucầu lớn các lò rèn cùng nhau sản xuất, chia số lượng ra các lò rèn không phânbiệt lò nào với lò nào, vì số lượng nhân công không đủ Điều đặc biệt, bíquyết rèn dao nơi đây không nơi nào có được bởi lẽ chỉ có những người Nùng

An nơi đây mới có và chỉ truyền lại và chia sẻ với nhau trong cộng đồng này.Những bí quyết, kinh nghiệm này chỉ truyền nhau trong cộng đồng ngườiNùng An, cùng nhau khắc phục những mặt hạn chế đúc kết ra những bí quyết

và kỹ thuật tinh tế

Tính cố kết cộng đồng của người Nùng An rất cao, thể hiện tinh thầnđoàn kết giữa những cá nhân trong cộng đồng, những hộ gia đình trong cộngđồng Đó là một nét văn hóa đẹp trong lối sống của họ, họ không chỉ đẹp vềcách sống mà còn trong cả cách rèn dao, họ đặt vào những sản phẩm củamình một tâm hồn đầy sáng tạo, sự cảm nhận tinh tế,… ở họ không có sựcạnh tranh, ganh đua với nhau Trong một cộng đồng họ cùng nhau gắn kết,phát triển, thể hiện những đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam Tính cốkết cộng đồng có ở khắp mọi làng nghề truyền thống trên đất nước Việt Namnhưng riêng đối với nghề rèn ở Phúc Sen nó đẹp toát lên từ phẩm chất củamỗi người thợ rèn, cách họ ứng xử với nghề với các thợ khác trong nghề

2.1.2 Bí quyết nghề rèn truyền thống Phúc Sen

Một điểm đặc biệt để những sản phẩm dao Phúc Sen bền tốt còn nằm ởnguyên liệu nung Ở một số làng nghề khác, người ta lấy than đá nung, nhiệt

độ cao thường làm cháy chất thép Trong khi đó, người Nùng An chỉ dùngthan từ những loại gỗ cứng như gỗ nghiến, giúp giữ nhiệt và than mau đỏ, từ

đó người thợ rèn dễ dàng kiểm soát được nhiệt độ của thép nên thép khi đượcnung xong sẽ không quá già hoặc quá non Theo kinh nghiệm của ông NôngVăn Hiệp, một thợ rèn lành nghề, để giữ được nhiệt độ, lò phải xếp bằng đá,

Trang 26

dùng rơm hoặc trấu trộn vào, tạo thành chất liệu xây lò, vừa chịu nhiệt vừachắc chắn Người thợ rèn cảm nhận sản phẩm bằng sự tinh tế của đôi tai, đôimắt, của đôi tay người thợ, cùng kinh nghiệm lâu năm trong nghề Trong đó,

bí quyết đặc biệt là rèn dao bằng mắt Nhờ vào đôi mắt tỏ tường của mìnhngười thợ rèn có thể xác định được độ chín của từng sản phẩm của lò than đểkịp đem nhúng vào chậu nước tôi bên cạnh Đây là giai đoạn quyết định đếnchất lượng của sản phẩm sau này Nghề rèn là việc làm tổng hợp của mọi giácquan, phải dùng tay, dùng sức, sự cảm nhận đặc biệt là sự nhạy bén của đôimắt, sản phẩm làm ra dẻo mà không mềm, rắn mà không giòn Khác với lòrèn của người Kinh lò rèn của người Phúc Sen được đắp ngang hông ngườithợ, công sức đắp tuy có tốn nhưng lại mang nhiều tiện lợi Khi đun lò ngườithợ không phải cúi gập người, bễ thổi nằm ngang vừa tầm tay kéo, người thợđồng thời thực hiện được hai công việc cùng lúc

Theo ông Nông Văn Tuấn, chủ hợp tác xã Minh Tuấn ở Khu ThanhMinh: "Chủ yếu bằng mắt thôi, tai nghe mắt thấy, làm hơn chục năm rồi, daonhỏ làm khoảng 50 phút, còn dao to khoảng 1 tiếng mới được Hai tay đều sửdụng hết, đánh không đều là bật ra ngoài ngay" Từ những thanh nhíp ô tô, ngườithợ phải tính toán chọn chiếc nào, cắt ra kích cỡ bao nhiêu để đem vào lò nung.Những thanh thép được đưa vào lò nung khoảng 10 phút cho tới khi nóng đỏ.Tuy nhiên, thời gian chỉ là yếu tố tương đối, thép thế nào là được lại phải nhờvào kinh nghiệm của người thợ rèn Người thợ rèn phải dùng mắt để điều chỉnhđôi bàn tay quai búa, cảm nhận sản phẩm tới mức nào là đạt yêu cầu

Với cách rèn thông thường, dao sẽ được hình thành từ phần chuôi trướcrồi mới đến phần lưỡi Nhưng người Nùng An thì ngược lại Khi nào rèn đượcphần lưỡi ưng ý, người ta mới trau chuốt đến phần chuôi Lưỡi dao khi tôi chỗvòng phải không già, không non, tôi đều lưỡi dao mới bén Người có kỹ thuậtcao mới làm được công đoạn này Sau khi mài thô cho sạch xỉ và chỉnh lạinhững phần còn cong ở thân, dao được mài tay bằng đá khoảng 20 phút Cho

Trang 27

dao tốt sau khi mài phải bóng, phần lưỡi qua nước tôi phải có 2 màu, 1 màuánh xanh, 1 màu vàng nổi trên nền bóng của lưỡi dao Lúc đó, con dao mớiđạt yêu cầu về độ sắc và độ bền lên tới 5-10 năm

Trong các công đoạn để rèn được một sản phẩm, người Nùng quantrọng nhất nước tôi Người ta dùng tro gỗ lim ngâm với nước vôi để qua đêm.Sáng hôm sau, họ chắt lấy thứ nước nổi ở bề mặt để làm nước tôi dao Nướctôi chuẩn, trong, nhìn dao sẽ biết chính xác độ sắc Lưỡi dao được đưa nhanh,lướt qua mặt nước tôi Chỉ ngập chừng 1-2 cm Đây chính là phần lưỡi sắccủa dao Nước tôi có tốt thì lưỡi dao mới lâu cùn Sau khi tôi, dao phải ngaylập tức đưa trở lại lò Đây là giai đoạn quan trọng nhất mà chỉ người thợ cảmới có thể làm được, vì nếu mắt nhìn không chuẩn, sản phẩm sau này có thể

bị dẻo do nung còn non, hay giòn do nung quá già

Quá trình đốt lò cũng là một khâu quan trọng trong quá trình rèn, ngườidân đã đúc kết thành kinh nghiệm thể hiện qua một số câu cao dao :

“ Tôi dao cần nhỏ lửaTôi búa cần lửa to”

Sự phân công lao động trong quá trình rèn cũng một phần nói lên tinhthần đoàn kết của cộng đồng người Nùng An, tùy từng sản phẩm lại có những

kỹ thuật và sự phân công sức lao động riêng :

“ Sam pấu le hóon phấuNậu tọoc le hóon liềm ”( Ba người thì rèn búaMột người thì rèn liềm )Tất cả những bí quyết rèn nghề, những kinh nghiệm được đúc kết lại đó

là những nét văn hóa đặc trưng của Phúc Sen, là một giá trị văn hóa tiêu biểuđược mọi người biết tới Bí quyết rèn nghề mang tính quyết định đến chấtlượng sản phẩm của nghề Những người nghệ nhân nắm giữ bí quyết rèn nghề

là những người đang nắm trong tay mình những tinh hoa, nắm giữ linh hồncủa sản phẩm Điều đó không chỉ thể hiện bàn tay tài hoa khối óc đa tài củangười thợ rèn đã sản xuất ra những sản phẩm đặc sắc để khách hàng mọi miền

Trang 28

mọi vùng đều biết tới Mặt khác, những bí quyết kinh nghiệm ấy còn thể hiệnđược sự độc đáo của làng rèn, các Đoàn thể, Ban ngành nên quan tâm hơnnữa tới việc bảo tồn và phát huy nghề rèn trong toàn khắp xã Phúc Sen.

2.1.3 Nghệ thuật thẩm mĩ

Để khẳng định thương hiệu nghề rèn của riêng mình, sau khi các sảnphẩm nông cụ được hoàn tất các công đoạn, chủ cơ sở rèn đều cho đóng dấunổi tên cơ sở gia đình mình Ví như, khi cầm trên tay con dao chặt, có ký hiệu

"M.Tuấn" được dập trên nền con dao, ấy chính là tên viết tắt của cơ sở sảnxuất dao - kéo của HTX Nông Văn Tuấn

Một số sản phẩm lưu niệm dùng để trang trí như : đao, gươm ngắn,gươm dài, mã tấu, … được sản xuất tỉ mỉ phần chuôi vỏ, chuôi làm bằng gỗthơm chia làm các đốt ngắn giữa các đốt thợ rèn bọc kim loại mạ vàng Phầm

vỏ gỗ được sơn một lớp sơn bóng màu vàng tăng thêm độ sang trọng và tinhxảo của sản phẩm Một số sản phẩm khác theo yêu cầu của khách hàng thợrèn còn khắc thêm các họa tiết hoa lá, chim chóc, hoặc hình rồng vào phần vỏlàm tăng thêm độ cầu kỳ cho sản phẩm Những kỹ thuật trang trí của sảnphẩm thể hiện được tay nghề kỹ thuật, đầu óc tư duy của người thợ rèn Mặtkhác thể hiện được nét đẹp văn hóa của làng nghề nghề, những nét đẹp đặctrưng chỉ riêng ở Phúc Sen mới có

Bảng so sánh sản phẩm của làng rèn Phúc Sen với các loại sản phẩm

ngoại nhập ( lấy con dao quắm làm đối tượng so sánh ) ST

T Tiêu chí so sánh Hàng rèn ngoại nhập Hàng rèn Phúc Sen

2 Chuôi dao To và nhẵn bóng Thon gọn, dễ cầm

Trang 29

5 Độ sắc Kém và mau cùn, khi

cùn khó mài sắc

Sắc bén, khi cùn có thểmài lại

8 Thị hiếu Không phù hợp với sản

xuất ở vùng núi

Hợp thị hiếu và hợpvùng miền núi

Nghệ thuật trang trí sản phẩm của thợ rèn Phúc Sen ngoài làm tăng tínhthẩm mỹ của sản phẩm thì nó còn thể hiện con mắt thẩm mĩ sáng tạo củangười làm, từ những sản phẩm thô sơ đơn giản tự cung tự túc không có mộtphần nào lien quan đến nghệ thuật thẩm mỹ giờ đã được các thợ rèn sáng tạo.Sáng tạo, cải tiến đẹp hơn vừa bắt mắt lại vừa chất lượng hài long kháchhàng Nghệ thuật trang trí thể hiện nét đặc trưng riêng của văn hóa dân tộcNùng An, nét văn hóa đặc sắc góp phần vào việc bảo tồn phát huy các giá trịvăn hóa làng nghề

2.1.4 Nghệ nhân truyền dạy nghề rèn

Các thợ rèn của làng nghề rèn Phú Sen hầu hết đều không qua lớp đàotạo dạy nghề nào, mà họ chỉ truyền dạy trong phạm vi gia đình dòng họ Theokiểu “ cha truyền con nối “ Thợ rèn toàn là những người đàn ông trong giađình, thợ cả là những người có nhiều kinh nghiệm cũng như kỹ thuật nhấttrong gia đình, dòng họ Còn thợ phụ là những người trẻ, một số là đã hoànthành nghĩa vụ trở về, một số là học sinh đã tốt nghiệp Phổ thông trung họckhông thi đỗ chuyên nghiệp nên ở nhà làm nghề gia đình của gia đình Để họcnghề rèn ai nhanh cũng mất 3 năm cũng có người học tới 10 năm vẫn chưahọc được học được, mà phải tùy vào nhận thức và cách tiếp thu của từng cánhân Kỹ thuật rèn ở làng rèn Phúc sen không có một chuẩn công thức nào mà

là theo dạng “ truyền khẩu “ nên chỉ cảm nhận bằng sự tinh tế của tai, mắt vàbàn tay của người thợ đặc biệt đó là tham gia trực tiếp vào quá trình Sảnphẩm sắc bén, thép được tôi đúng độ, rắn mà không giòn, dẻo mà không

Trang 30

mềm,… do vậy nó phụ thuộc và độ bắt nhanh của người học nghề, làm rènkhông quá khó nhưng để trở thành một người thợ rèn tài ba làm ra những sảnphẩm đẹp bắt mắt về mặt thẩm mĩ, dễ dàng, thuận tiện cho người sử dụng,vừa sắc bén đến có thể dung loại dao chắt để cạo long, vừa bền bỉ dù để chặt

gỗ hay chặt xướng Điều đó đòi hỏi rằng người thợ phải tích cực học hỏi , rènluyện , kiểm nghiệm thực tế thật nhiều, đặc biệt đó là các hộ gia đình chỉ toàncon gái hoặc con đi học chuyên nghiệp thì việc truyền dạy cho giới trẻ ngàycàng khó khăn, vì họ không ghi chép vào sach vở mà chỉ truyền theo cáchtrực tiếp làm trực tiếp nhìn xung quanh Vì vậy nếu không được tham gia vàotrực tiếp làm thì sẽ không biết được để rèn gia một sản phẩm tốt Nghệ nhântruyền dạy chủ yếu là các già làng đã gắn bó với nghề lâu năm, có kỹ thuậtđiêu luyện Kỹ thuật rèn nghề được truyền theo kiếu “ cha truyền con nối “ từđời này sang đời khác, lứa trẻ theo học thường là từ 12 -15 tuổi ban đầu theoông, cha kéo bễ dần dần học theo cách ông cha làm và được tham gia vào quytrình gia công Sau khi đã thuần thục các công đoạn cơ bản, sẽ được tham giavào những công đoạn chính Phải mất rất nhiều thời gian mới có thể trở thànhmột người thợ rèn chính Trải qua quá trình trải nghiệm và tích lũy nhữngđiều nhỏ nhặt nhất, theo thời gian trở thành kinh nghiệm theo nghề Quá trìnhrèn nghề có thể nói là một phương thức để lưu giữ và bảo tồn các nét đẹp củagiá trị văn hóa dân tộc

cho tài nguyên du lịch Cao Bằng thêm đa dạng và phong phú Các giá trị văn

hóa của làng nghề chính là hạt nhân quan trọng tạo nên sức hấp dẫn cho dulịch làng nghề Làng nghề truyền thống là tài nguyên du lịch nhân văn góp

Trang 31

phong phú đa dạng, tạo nên nhiều lựa chọn hấp dẫn cho du khách.Ngoài ra dulịch làng nghề truyền thống còn làm đa dạng các sản phẩm du lịch, khai tháchết tiềm năng của làng nghề.

Ngoài mục đích tự cung tự cấp cho các hộ gia đình ra thì nghề rèn cònđược đem ra làm hàng hóa để trao đổi với các khu vực lân cận đặc biệt còn đểphục vụ cho kinh tế du lịch Các lò rèn nằm ở hai bên đường quốc lộ thuận lợicho khách du lịch trải nghiệm thăm thú, khách du lịch được thử các côngđoạn trong quy trình làm dao Các sản phẩm của làng rèn được đem trưng bày

ở các hội chợ du lịch, các khu bán đồ lưu niệm vừa để quảng bá cho làngnghề vừa là một sản phẩm du lịch độc đáo Du lịch đang là vấn đề nổi cộmđược các ban ngành và chính quyền quan tâm Du lịch làng nghề không chỉmang tới cho người dân lợi ích về kinh tế không mà còn là một con đườngquảng bá và giới thiệu làng nghề Những giá trị văn hóa vốn có sẽ được bảotồn và phát huy một cách triệt để kết hợp cùng con đường du lịch Như vậy,

du lịch đã góp phần đánh thức và bảo tồn các ngành nghề thủ công mỹ nghệ

cổ truyền

Một số sản phẩm du lịch đặc biệt : Súng kíp ( rung ) đây là một loạisúng săn bắn của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, bộ cò và nòngsúng được rèn với kỹ thuật cao Các loại kiếm, kiếm ngắn, kiếm dài, đao, mãtấu,… được người thợ rèn hình dáng bắt mắt chất lượng cho khách du lịchđem làm quà tặng lưu niệm

2.1.6 Phong tục tập quán, tục thờ tổ nghề

Ở mỗi lò rèn đều có riêng cho mình một bát hương để thờ tổ nghề, mỗingày khi trước khi lò rèn đỏ lửa người thợ rèn đều thắp hương nhớ tới tổnghề Người dân Phúc Sen ngày xưa nghèo khó lam lũ từ ngày biết rèn dao,đời sống được cải thiện hơn, việc thờ cúng tổ nghề thể hiện đạo lý truyềnthống tốt đẹp của người Việt Nam nói chung và người Nùng An nói riêng.Người dân Nùng An xưa nay hiền hòa chân chất, họ biết nhớ ơn những người

Trang 32

đu trước có công truyền dạy và để lại những giá trị văn hóa dân tộc đáng quý.Hằng năm cứ đến ngày lễ hội Thanh Minh mùng 03/ 03 âm lịch các lò rèntrong các xóm tổ chức thi rèn giữa các xóm Cuộc thi tìm người có kỹ thuậtrèn độc đáo và xuất sắc nhất, tuy là một cuộc thi nhưng ý nghĩa của nó làtưởng nhớ tới ông cụ ngày xưa đã truyền nghề lại cho Phúc Sen.

Thờ cúng tổ nghề có ý nghĩa nhắc nhở con cháu trong việc duy trì vàthực hiện những nghi thức văn hóa tâm linh đối với nghề: ngày giỗ, tuần tiết,sóc vọng… Sinh hoạt văn hóa tâm linh là sợi dây gắn kết những người làmnghề truyền thống với nhau Góp phần làm đa dạng bản sắc văn hóa củangười Việt Nam

Không chỉ vậy, việc thực hiện các phong tục tập quán và thờ tổ nghềcòn thể hiện được tinh thần tương trợ lẫn nhau trong cùng làng nghề, tinh thầntương trợ ấy xuất phát từ tinh thần tương thân, tương ái của người Việt Namnói chung và sự đoàn kết, gắn bó của người trong làn nghề rèn truyền thống.Vào mỗi dịp giỗ Tổ nghề, lễ tết hay ngày sóc vọng, các phường nghề tổ chứcgặp mặt, ngoài việc thể hiện lòng biết ơn, sự tri ân thì đây cũng là dịp đoànviên của các thợ rèn tròng làng nghề để ôn lại quá trình sản xuất trong mộtnăm, trao đổi, phổ biến những kinh nghiệm hay, những bí quyết nghề để, cảitiến chất lượng sản phẩm Và quan trọng hơn cả, trong những dịp lễ, các xómtrong nghề thường có lễ trình nghề, một hình thức giới thiệu, tiếp thị nhữngsản phẩm mới của nghề mình Qua đó, nhiều mối làm ăn, buôn bán được thiếtlập, tạo dựng niềm tin, thương hiệu của mỗi nghề Bên cạnh đó, thờ cúng tổnghề có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức truyền thống cho thế

hệ sau, giúp con cháu hiểu về công lao của tổ nghề đồng thời lấy đó làm tấmgương sáng để noi theo

Thờ cúng tổ nghề là tín ngưỡng của người Nùng An Phúc Sen có vaitrò to lớn đến diện mạo văn hóa của làng nghề rèn Phúc Sen Nó mang màusắc riêng biệt của nghề thủ công truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc

Trang 33

2.2 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen

2.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản,chính sách của địa phương, Nhà nước

2.2.1.1 Công tác quản lý của Nhà nước đối với nghề rèn Phúc Sen

Nhà nước cùng như địa phương đã có rất nhiều chính sách ban hành vềphát triển kinh tế Phúc sen cùng như những hoạt động bảo tồn và phát huy cácgiá trị văn hóa làng nghề Cụ thể như:

- Chủ trương “ ba nhiều ” của lãnh đạo xã ( 02 – NQ/ĐU ngày08/05/2001 ) về việc thực hiện 3 nội dung lớn : “Trồng nhiều cây, nuôi nhiềucon, làm nhiều nghề” Trong đó nội dung “ làm nhiều nghề ” là phát triểnnghề truyền thống gồm : đan lát, nhuộm vải, và làm rèn Hơn 2000 nhân khẩutrong xã đã ủng hộ chủ trương và thực hiện,hơn 90% hộ dân trong xã thựchiện và hoàn thành chủ trương của xã đề ra góp phần gìn giữ nền văn hóatruyền thống với bản sắc riêng biệt trong cộng đồng người Nùng

- Nghị quyết 25 – NQ/ĐU ngày 18/01/2016 Về việc thực hiện các mụcđích nhiệm vụ kinh tế - xã hội – an ninh – quốc phòng Công tác xây dựngĐảng năm 2016 với nội dung phát huy và bảo tồn làng nghề truyền thống, bảotồn những giá trị văn hóa làng nghề bên cạnh đó phát huy phát triển làng nghềtheo hướng du lịch

- Nghị quyết 50 – NQ/ĐU ngày 29/01/2018 Hội nghị lần thứ 38 Banchấp hành Đảng bộ xã khóa XV về mục tiêu, và một số nhiệm vụ trọng tâmnăm 2018 trong đó chú trọng việc bảo tồn và phát huy làng nghề rèn pháttriển, phát triển đồng đều nghề thủ công truyền thống song song với nghềnông Góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế

- Công văn số 3362 – UBND/NL ngày 22/10/2018 Về việc triển khaiNghị định số 52/2018/ NĐ – CP ngày 12/04/2018 về phát triển ngành, nghềnông thôn Trong đó đặc biệt chú trọng đến nghề rèn Phúc Sen Đề ra được

Trang 34

nhiều phương án phát triển, từ cải thiện mẫu mã, thị trường và một số giảipháp ủng hộ sự phát triển kinh tế nhiều ngành nghề, nghề ở Cao Bằng.

- Công văn số 07 – CTr/TU Chương trình Định hướng và hỗ trợ pháttriển doanh nghiệp và HTX giai đoạn 2016 – 2020 Văn bản đề cập tới nhữngphương hướng phát triển hỗ trợ người dân trong việc áp dụng khoa học kỹthuật và máy móc vào sản xuất Trong đó 2 HTX được kể đến là HTX MinhTuấn và HTX Long Chiến, đến năm 2016 2 HTX đã được hỗ trợ và có đủmáy móc phục vụ cho sản xuất, đặc biệt HTX Long Chiến đã lựa chọn các tổhợp thợ sản xuất theo dây truyền, kết hợp phương thức sản xuất cổ truyền với

kỹ thuật hiện đại Hơn 85 – 90% số hộ rèn đã có đá mqafi

- Về du lịch có 6 chương trình trọng tâm của tỉnh trong đó có phát triểnlàng nghề rèn Phúc Sen trở thành điểm thu hút khách du lịch, du lịch trảinghiệm làng nghề truyền thống Từ năm 2015 trở lại đây du lịch trải nghiệmđược trú trọng với số lượng khách ghé thăm 150 – 200 lượt/ ngày

- Công văn số 10 – CTr/TU ngày 29/02/2016 chương trình phát triển dulịch giai đoạn 2016 – 2020 về việc phát triển du lịch làng nghề truyền thốngkết hợp với khu du lịch sinh thái Pác Rằng trở thành điểm du lịch thu hútkhách du lịch

- Công văn số 08 – CTr/ HU ngày 09/12/2016 chương trình Phát triển

du lịch huyện Quảng Uyên giai đoạn 2016 – 2020 nhằm phát triển kinh tế mũinhọn là du lịch với ba loại hình du lịch chính :

+ Du lịch trải nghiệm làng nghề

+ Du lịch sinh thái

+ Du lịch văn hóa ( lễ hội )

Với nội dung là nêu ra mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để phát triển dulịch chung cho toàn huyện Du lịch trải nghiệm làng nghề là một trong 3 loạihình du lịch chính, mối quan hệ giữa ba loại hình du lịch Ngoài ra chươngtrình này còn đề cập tới việc bảo tồn và phát huy các các giá trị văn hóa dân

Trang 35

tộc trong đó có giá trị văn hóa làng nghề rèn, phát triển nguồn nhân lực phục

vụ du lịch

Từ năm 2015 đến nay có khoảng hơn 200 văn bản của Nhà nước, địaphương đề cập trực tiếp cũng như lien quan đến các vấn đề về bảo tồn và pháthuy các giá trị văn hóa của làng nghề rèn Phúc Sen Trong số các văn bảnđược ban hành, số văn bản đã thực hiện đem lại kết quả thì chỉ có khoảng 150văn bản, còn số văn bản còn lại kết quả mang lại chưa được tích cực như :Công văn số 10 – CTr/TU ngày 29/02/2016 chương trình phát triển du lịchgiai đoạn 2016 – 2020, Công văn số 08 – CTr/ HU ngày 09/12/2016 chươngtrình Phát triển du lịch huyện Quảng Uyên giai đoạn 2016 – 2020 nhằm pháttriển kinh tế mũi nhọn là du lịch với ba loại hình du lịch chính, … vẫn chưathực hiện được hết các phương đề ra mà mới chỉ là các văn bản giấy

Bộ phận tổ chức thực hiện và quản lý các chính sách, văn bản vẫn cònchưa hoạt động đúng hết nhiệm vụ của mình Đa số những văn bản từ trênđưa xuống chỉ được triển khai trong nội bộ UBND xã chưa đưa ra triển khaithực hiện với người dân một cách triệt để Phần lớn người dân chỉ được nghequa mà chưa có một kế hoạch chi tiết nào được triển khai

2.2.1.2 Về thị trường

Trước năm 2015 thị trường chủ yếu chỉ có các xã, huyện lân cận trongtỉnh Cao Bằng, một số sản phẩm vượt xa thị trường trong tỉnh ra một số tỉnhnhư Lạng Sơn, Bắc Cạn, Tuyên Quang, … Từ năm 2015 sản phẩm làng rèncàng được đông đảo khách vùng xa biết tới hơn, sản phẩm làng rèn đượcngười dân vùng Tây Nguyên ưa chuộng đặt hàng với số lượng lớn, không chỉngừng lại ở đó nhiều sản phẩm gươm đao phục vụ du lịch theo khách du lịch

đi khắp cả nước hơn nữa còn ra đến thị trường nước ngoài và được mọi ngườiphản hồi rất tích cực Thị trường khách hàng vùng biên giới cũng là một thịtrường có tiềm năng bởi số lượng mỗi lần yêu cầu rất lớn lên tới 100 – 200sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng

Trang 36

Bảng số liệu ước tính thống kê một số thị trường tiêu thụ sản phẩm

hộ gia đình

- Công văn số 07 – CTr/TU Chương trình Định hướng và hỗ trợ pháttriển doanh nghiệp và HTX giai đoạn 2016 – 2020 Văn bản đề cập tới nhữngphương hướng phát triển hỗ trợ người dân trong việc áp dụng khoa học kỹ

Trang 37

được đầu tư ( Trong đó 2 HTX được kể đến là HTX Minh Tuấn và HTXLong Chiến là hai cơ sở đã có đầy đủ hệ thống máy móc phục vụ sản xuất.Định hướng cho các lò rèn tới năm 2020 sẽ có đầy đủ hết hệ thống máy móc

hỗ trợ quá trình rèn sản phẩm

2.2.1.4 Về cơ sở hạ tầng

Vì diện tích nhỏ và để tận dụng được tốt nhất có thể người dân thường

bố trí ở tầng dưới của ngôi nhà Hiện nay, ở Phúc Sen có 175 lò rèn, trong đó

có 52 lò rèn phân bố cạnh trục đường quốc lộ, có 17 cơ sở mở buôn bán kinhdoanh không tham gia hoạt động rèn nghề.So với trước năm 2015 Chủ củacác cơ sở buôn bán là những người dân buôn từ mạn xuôi và huyện lân cận tớichứ không phải hoàn toàn là người dân trong xã Các cơ sở buôn bán và rèndao có diện tích không lớn chỉ là những ngôi nhà tạm bợ ven đường chưađược xây dựng vững chắc, quy mô nhỏ

- Chỉnh sửa sản phẩm, mài, tôi, dũa sản phẩm

Hiện nay, ở Phúc Sen có 175 lò rèn, trong đó có 52 lò rèn phân bố cạnhtrục đường quốc lộ, có 17 cơ sở mở buôn bán kinh doanh không tham gia hoạtđộng rèn nghề Chủ của các cơ sở buôn bán là những người dân buôn từ mạnxuôi và huyện lân cận tới chứ không phải hoàn toàn là người dân trong xã.Các cơ sở buôn bán và rèn dao có diện tích không lớn chỉ là những ngôi nhàtạm bợ ven đường chưa được xây dựng vững chắc, quy mô nhỏ Máy móc cònthô sơ đơn giản, cơ sở bán với các lò rèn chính của từng hộ cách xa nhau,những lò rèn chính thường ở trong làng và sản phẩm được vận chuyển ra cơ

Ngày đăng: 12/07/2023, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Nam (1992), Dân tộc Nùng Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Nùng Việt Nam
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộcHà Nội
Năm: 1992
2. Phạm Công Sơn (2004), Làng nghề truyền thống Việt Nam, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề truyền thống Việt Nam
Tác giả: Phạm Công Sơn
Nhà XB: NXBVăn hóa Dân tộc
Năm: 2004
3. Hoàng Thị Nhuận (2011), Nghề rèn truyền thống của người Nùng An bản Phya Chang, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề rèn truyền thống của người Nùng Anbản Phya Chang
Tác giả: Hoàng Thị Nhuận
Nhà XB: NXB Khoa học xãhội
Năm: 2011
4. Hoàng Thị Nhuận, Nguyễn Thị Uyên (2005), Văn hóa làng nghề người Nùng, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng nghềngười Nùng
Tác giả: Hoàng Thị Nhuận, Nguyễn Thị Uyên
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2005
5. Bùi Văn Vượng (1998), Làng nghề thủ công truyền thống, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề thủ công truyền thống
Tác giả: Bùi Văn Vượng
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội
Năm: 1998
7. Dương Bá Phượng, Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, NXB Khoa học xã hội (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quátrình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội (2001)
10. Mai Thế Hởn (2003), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa , NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề truyền thống trong quátrình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
Tác giả: Mai Thế Hởn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
11. Nguyễn Thị Thúy (2012), Nghề thủ công truyền thống của người Nùng ở Việt Nam, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, NXB Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ công truyền thống của ngườiNùng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy
Nhà XB: NXB Thời đại
Năm: 2012
6. UBND xã Phúc Sen, Báo cáo tổng kết năm 2013 Khác
9. Bảo tàng Dân tộc học, Nghề thủ công truyền thống của người Nùng Khác
12. UBND huyện Quảng Uyên (1975), Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Uyên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh sản phẩm của làng rèn Phúc Sen với các loại sản phẩm - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
Bảng so sánh sản phẩm của làng rèn Phúc Sen với các loại sản phẩm (Trang 28)
Bảng số liệu ước tính thống kê một số thị trường tiêu thụ sản phẩm - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề rèn Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
Bảng s ố liệu ước tính thống kê một số thị trường tiêu thụ sản phẩm (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w