Sự có mặt của người Hoa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là một quá trình di cư từ Trung Quốc vào Việt Nam trong những thời gian và các lý do khác nhau, đây là quá trình cưu trú phân bố dân cư của tộc người, là quá trình hòa hợp dân tộc, là quá trình xã hội với các mối quan hệ trên nhiều phương diện để cùng tồn tại, mưu sinh và phát triền. Nửa sau thế kỉ XVII (1680), lần đầu tiên ở ĐBSCL xuất hiện những nhóm di dân người Hán từ các vùng miền nam TQ đến, đây đều là những binh lính (khoảng 7000 người) trung thành với nhà Minh và bị thất bại trong phong trào đấu tranh chống chế độ Mãn Thanh. Lúc đầu họ đổ bộ bằng thuyền lên Hội An và bị triều đình nhà Nguyễn buộc dời toàn bộ vào đất Gia Định để khai khẩn vùng đất Tiền Giang và Đồng Tháp hiện nay. Năm 1715, một cuộ di dân đông người từ vùng đất Triều Châu lại đổ bộ lên đất Hà Tiên (Kiên Giang) . Cuối thế kỉ XVIII, những lớp dân cư gốc Triều Châu và Quảng Đông đầu tiên ờ ĐBSCL phần lớn đã trở thành người Minh Hương (tức lai Việt) hoặc là người Việt hoàn toàn. Hoa là tên gọi chính thức của dân tộc được Đảng, Nhà nước và quốc hội ta công nhận. Người Hoa còn có tên gọi khác như Hán,Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Hạ, Xa Phang…Đó là những công dân Việt Nam có nguồn gốc từ Trung quốc đã di cư và sống hòa hợp với các dân tộc ở Việt nam từ lâu đời. Đó là những người có quan hệ gắn bó với lịch sử khai phá đồng bằng sông Cửu Long với cuộc đấu tranh chống áp bức và bóc lột, chống xâm lược ở Nam Bộ. Căn cứ theo quê hương xuất phát, người Hoa còn có hai tên gọi phân biệt:người Tiều (tức người Triều châu) và người Quảng(tức người Quảng Đông). Thời kỳ chính quyền Ngô Đình Diệm (sau 1954), tất cả Hoa Kiều ở miền Nam Việt Nam phải chấp nhận một tên gọi mới, đó là”người Việt gốc Hoa”. Đạo dụ số 58, ngày 25101956 của chính quyền Ngô Đình Diệm đã buộc tất cả các dân tộc thiểu số ở miền Nam đều phải tự xem mình là người Việt (tức người Kinh).Từ đó đã xuất hiện các tên gọi như: người Việt gốc Hoa, người Việt gốc Miên, người Việt gốc Chàm, người Việt gốc Thượng.
Trang 1VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
NAM BỘ VIỆT NAM
1.2 Dân số, phân bố dân cư
2 Văn hóa mưa sinh
Trang 23.2.2 Trang phục nam giới
4 Văn hóa phi vật thể
4.1 Tôn giáo, tín ngưỡng
4.1.1 Tôn giáo
4.1.2 Tín ngưỡng
4.2 Lễ hội
4.3 Văn hóa dân gian
4.3.1 Văn học dân gian
4.3.2 Tri thức dân gian
5 Văn hóa tổ chức xã hội
Trang 37 Xu hướng biến đổi hiện nay
7.1 Xã hội và gia đình người Hoa
Trang 4Sự có mặt của người Hoa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là một quá trình
di cư từ Trung Quốc vào Việt Nam trong những thời gian và các lý do khác nhau,đây là quá trình cưu trú phân bố dân cư của tộc người, là quá trình hòa hợp dân tộc,
là quá trình xã hội với các mối quan hệ trên nhiều phương diện để cùng tồn tại,mưu sinh và phát triền
Nửa sau thế kỉ XVII (1680), lần đầu tiên ở ĐBSCL xuất hiện những nhóm didân người Hán từ các vùng miền nam TQ đến, đây đều là những binh lính (khoảng
7000 người) trung thành với nhà Minh và bị thất bại trong phong trào đấu tranhchống chế độ Mãn Thanh Lúc đầu họ đổ bộ bằng thuyền lên Hội An và bị triềuđình nhà Nguyễn buộc dời toàn bộ vào đất Gia Định để khai khẩn vùng đất TiềnGiang và Đồng Tháp hiện nay Năm 1715, một cuộ di dân đông người từ vùng đấtTriều Châu lại đổ bộ lên đất Hà Tiên (Kiên Giang)
Cuối thế kỉ XVIII, những lớp dân cư gốc Triều Châu và Quảng Đông đầu tiên
ờ ĐBSCL phần lớn đã trở thành người Minh Hương (tức lai Việt) hoặc là ngườiViệt hoàn toàn
Hoa là tên gọi chính thức của dân tộc được Đảng, Nhà nước và quốc hội tacông nhận Người Hoa còn có tên gọi khác như Hán,Triều Châu, Phúc Kiến,Quảng Đông, Hải Nam, Hạ, Xa Phang…Đó là những công dân Việt Nam có nguồngốc từ Trung quốc đã di cư và sống hòa hợp với các dân tộc ở Việt nam từ lâu đời
Đó là những người có quan hệ gắn bó với lịch sử khai phá đồng bằng sông CửuLong với cuộc đấu tranh chống áp bức và bóc lột, chống xâm lược ở Nam Bộ Căn cứ theo quê hương xuất phát, người Hoa còn có hai tên gọi phânbiệt:người Tiều (tức người Triều châu) và người Quảng(tức người Quảng Đông) Thời kỳ chính quyền Ngô Đình Diệm (sau 1954), tất cả Hoa Kiều ở miền NamViệt Nam phải chấp nhận một tên gọi mới, đó là”người Việt gốc Hoa” Đạo dụ số
58, ngày 25/10/1956 của chính quyền Ngô Đình Diệm đã buộc tất cả các dân tộcthiểu số ở miền Nam đều phải tự xem mình là người Việt (tức người Kinh).Từ đó
đã xuất hiện các tên gọi như: người Việt gốc Hoa, người Việt gốc Miên, người Việtgốc Chàm, người Việt gốc Thượng
1.
2 Dân số, địa bàn cư trú
Trang 5Người dân tộc Hoa có 5 nhóm ngôn ngữ chính là Quảng Đông, Triều Châu,Phúc Kiến, Hải Nam và tiếng Khách Gia (đôi khi còn gọi là tiếng Hẹ)
Người Hoa sinh sống thành từng cụm dân cư và xen kẽ với người Khmer,người Kinh từ lâu đời Phần lớn người Hoa đều nói được tiếng Khmer và tiếngViệt Người Hoa ở miền Tây Nam Bộ sống ở nông thôn, một số tập trung sông ởven biển và những thị trấn, thị tứ đầu mối các đường giao thông thủy và bộ Phầnđông những người Hoa ở các tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang cógốc từ Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay Ở các tỉnh Bến Tre, Long An,Tiền Giang chủ yếu là người Hoa gốc Quảng Đông Phúc Kiến Ở An Giang, sốngười Hoa gốc Quảng Đông, Phúc Kiến và người Hoa gốc Triều Châu gần xấp xỉnhau
Ở ĐNB người Hoa sống tập trung chủ yếu ở TP.HCM (Quận 5 và 11) với dân
số 418.768 người, Bình Phước 7.947 người, Bình Dương 14.455 người, Tây Ninh3.892, Đồng Nai 102.444, Bà Rịa - Vũng Tàu 10.761 Chiếm tỷ lệ 64,7% toànquốc (số liệu năm 1999) Ở TNB, người Hoa có số dân là 628.546 người, chiếm tỷ
lê 2,97% dân số trong toàn vùng Người Hoa tuy phân bố không đều song có mặtrải rác ở hầu khắp các tỉnh châu thổ ĐBSCL
2.Văn hóa mưu sinh
Hiện nay, người Hoa có đóng góp quan trọng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế.Tuy nhiên phần lớn các hoạt động kinh tế của người Hoa thuộc thành phần kinh tế
tư nhân, sản xuất nhỏ Ở thành phố thị xã, thị trấn của người Hoa, phổ biến là xínghiệp gia đình các thành viên thường là họ hàng, mỗi cơ sở thành viên trên dưới
10 người
Hoạt động kinh tế của người Hoa ở Nam Bộ có tính chất khác với các tộcngười trong vùng, ít hoặc không lấy sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi ),ngư nghiệp (đánh cá, chế biến thủy sản ) làm chính mà thiên về sản xuất tiểu thủcông nghiệp và thương mại dịch vụ
Sự hình thành các nhóm hoạt động kinh tế theo địa phương, nghề nghiệp khác
là đăc trưng của người Hoa gắn với quá trình di cư sang Việt Nam trong thế kỉXVIII và XIX
2.1 Nông nghiệp
Trang 6Ngay cả trước khi thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ, người Hoa đã chuyên canhcác loại cây nông nghiệp đặc biệt như tiêu, hành đỏ, thơm, dâu tằm, các loại trà Tiêu được trồng nhiều ở Hà Tiên và Phú Quốc theo những phương thức và mùa vụthích hợp.
Vùng Tắc Cậu - Ngã Ba Tàu (Châu Thành - Kiên Giang), nơi cư trú của nhómngười Hoa Triều Châu chuyên nghề làm rẫy: khoai lang, khoai ngọt, cải, bí và rau,chuyên canh khóm, dứa Kỹ thuật trồng khóm ở đây đã đạt đến trình độ chuyênnghiệp nooit tiếng và sau đó, trồng xen với khóm là trầu, cau và dừa trở thành đặcsản của miệt Rạch Giá
Có lẽ vì không đượcc luật pháp các triều đại trước đây bảo hộ cho việc sở hữunhững vùng đất đai màu mỡ để cấy lúa nên hầu như người Hoa không canh tác lúa.Tuy nhiên, ở Sóc Trăng, Bạc Liêu có một phần lớn ruộng lúa do người Hoa canhtác; hầu hết nông dân là người Hoa Triều Châu, Hải Nam,
2.2 Thủ công nghiệp
Nghề làm gốm và gạch gói là một nghề thủ công lâu đời của người Hoa Tàiliệu cổ xưa nhất liên quan đến nghề này là ghi chú xóm Lò Gốm (Phú Lâm,TP.HCM) trên bản đồ Sài Gòn - Bến Nghé do Trần Văn Học vẽ năm 1815 Đây làkhu vực tập trung nhiều lò gạch ngói và lò gốm, được gọi chung là “Gốm CâyMai” Các lò gốm này sản xuất các đồ gia dụng (lu, hũ, chích, muỗng, niêu, ) vàbiệt nổi tiếng là các sản phẩm sành cứng men màu gọi chung là “công nghệ miếuvũ” (tượng thờ, tượng và nhóm tượng biểu tượng trang trí các đền miếu chùachiền ) Các lò gốm Cây Mai (bao gồm cả quẩn 6, quận 8 và quận 11 ở TP.HCM)hoạt động đến trước 1945 thì ngừng Từ những năm đầu TK XX vì tốc độ pháttriển đô thị và nguồn nguyên liệu cạn dần nên các lò gốm dời về Lái Thiêu, BiênHòa Người Hoa Phước Kiến mở lò gốm ở Bình Dương hồi cuối TK XIX tại BàLụa, Chòm Sao, Lái Thiêu, Tân Phước Khánh Các log gốm ở đây đã sản xuấtnhiều chủng loại gốm gia dụng (khạp, lu da bò, siêu, tay cầm, chén bát, lư hương,bình bông) và đồ gốm mỹ nghệ cung cấp cho thị trường Nam Bộ, Trung Bộ vàxuất khẩu
Người Hoa (chủ yếu là người Hẹ) đã đến định cư ở Bửu Long khai mở nghềlàm đá từ những năm bản lề của TK XIX, đầu TK XX và dần tạo nên một làngnghề nổi tiếng Họ gồm thợ đá (khai thác đá, chẻ đá xây dựng) và thợ đục chạm tạonên các sản phẩm gia dụng (cối giã, cối xay) và các sản phẩm công nghệ miếu vũ(đồ tự khí, tượng thờ linh thú, bia và mộ đá các kiểu) cung cấp cho cả Nam Bộ
Trang 7Nghề điêu khắc gỗ, nhất là nghề tạc tượng gỗ ở Nam Bộ là do người Hoa khởilập Tác phẩm của nhóm thợ người Hoa chủ yếu ở các chùa Ông, chùa Bà và một
số chùa Phật của người Việt Việc khắc các bản in chữ Hán trên gỗ cũng như cácbản in hình họa liên quan đến việc chúc tụng, cúng tế (đồ thế, giấy vàng mã, giấyvãng sanh,các bộ đồ cúng ông Táo, bùa nêu ) ở vùng đất một phần là do ngườiHoa đảm nhận
Nghề làm sáp/ đèn cầy và làm nhang phục vụ cho nhu cầu cúng kiếng
Nghề chế biến thủy hải sản (tôm khô, cá khô, ), đậu nành, nước tương, cácloại nước chấm, bún gạo, hủ tiếu, mì sợi bánh kẹo, dầu dừa, đậu phộng
=> Các ngành nghề thủ công của người Hoa về cơ bản đã phát triển lên thànhsản xuất công nghiệp
Nhóm Triều Châu hoạt động chế biến lương thực thực phẩm (làm bánh, ướp
cá khô, làm đường ) vận tải đường bộ, đường thủy và hoạt động xuất nhập cảng, Nhóm người Hẹ kinh doanh các loại thuốc bắc và đông nam dược, độc quyềntrong việc sản xuất bánh mỳ cho nhà hàng lớn
Từ những năm 60 và 70 của thế kỉ XX, tư sản người Hoa phát triển nhiềungành nghề mới ở Nam Bộ như: thực phẩm, thuốc lá, dệt, giấy, hóa chất, đồ gốm
Nhóm Quảng Đông có dân số đông nhất, hoạt động kinh tế là các tiệm tạp hóa,cung cấp các nhu yếu phẩm, các vật dụng đơn giản ngoài ra họ còn kinh doanhtiệm ăn, khách sạn, nhà hàng
Tuy canh tác lúa ít, nhưng trước đây người Hoa kiểm soát việc buôn bán lúagạo Họ chi phối toàn bộ công đoạn của thị trường lúa gạo: vận chuyển, chế biến
Có khoảng 75% người Hoa làm chủ trong số 75 nhà máy xay xát lúa gạo ở miền
Trang 8Nam VN (trước 1975) Quan hệ đến hoạt động này là các nhánh thu mua và cáctiệm tạp hóa với chức năng cho vay tiền trước mùa gặt Nhóm Phúc Kiến có nhiềuthương gia hoạt động mua bán lúa gạo toàn Nam Bộ và Campuchia Họ mua lúacủa nông dân tập trung về khu Chợ Lớn để xay xát, xuất khẩu và thu mua phế liệukim loại.
Nhóm Hải Nam kinh doanh các quán ăn (nhậu) bình dân, cà phê vỉa hè, nhiềungười làm đầu bếp làm việc cho các nhà hàng ăn Âu,
Điều kiện kinh tế, hoàn cảnh xã hội, môi trường địa lý phần nào thể hiệntrong nhà người Hoa Có thể phân biệt nhà của người Hoa theo hai loại hình: nhàđất (nhà trệt, nhà có gác, có lầu) và nhà sàn (ở vùng ngập nước)
3.1.1.1 Nhà đất
Nhìn chung, người Hoa ở Nam Bộ thường ở nhà đất với một hoặc ba gian,hoặc ba gian hai trái Mặt bằng sinh hoạt thường có dạng nhà chữ nhị (tức là xếpđọi), rất ít hoặc thậm chí không có nhà dạng chữ đinh, chữ công
Bộ phận cư dân người Hoa làm rẫy ở nông thôn chủ yếu sinh sống trongnhững căn nhà trệt ba gian được xây cất phần lớn bằng vật liệu kiên cố, thoạt nhìnkhông có sự khác biệt nhà người Việt, người Khmer cư trú cùng địa bàn Bộ khungnhà vẫn theo kiểu vì cột cổ truyền hoặc vì kèo giống nhà người Việt Bên ngoàikhung cửa chạm hai “con mắt” cửa tròn hoặc vuông với chữ “phúc” hay chữ “thọ”.Nhà được chia thành hai phần là khách đường (ở phía ngoài, là nơi đặt bàn ghế tiếpkhách và có phòng dành cho khách) và chính đường (ở phía trong, nơi đặt bàn thờ
và phòng ngủ của các thành viên trong gia đình (nam tả, nữ hữu)) Người ta dễ
Trang 9phân biệt nhà người Hoa với người Kinh bởi các yếu tố tín ngưỡng và màu đỏtrang trí ở cửa nhà cũng như cách bài trí từ ngoài vào trong với các bàn thờ thầnthánh, tổ tiên, gia đình với các băng giấy màu đỏ viết chữ Hán ghi lời cầu nguyện,chúc mừng điều tốt lành như: xuất nhập bình an, nhất bản vạn lợi, Kim Ngọc mãnđường,
Ở những vùng thị xã thị trấn, người Hoa còn sở hữu một số căn nhà trệt kiểu cổxưa được xây dựng hàng trăm năm nay Trong những căn nhà mang kiểu cách xưacòn có một số nhà khá lớn, bề thế mà chủ của nó từng là đại điền chủ hoặc thươngnhân buôn bán lúa gạo loại nhà này có cách phân bố khá đặc thù theo kiểu nhàTrung Quốc với ba gian nhà ở giữa được coi là cái lõi Phía trước gồm gian tiềnsảnh, nhà kho ở hai bên và bếp phía sau bao bọc quanh nha theo kiểu phòng thủtrộm cướp
Người Hoa thường sinh sống phổ biến nhất trong những căn nhà một giangiống nhau xây cất liền sát theo từng dãy phố theo dạng nhà trệt, nhà gác nhà cólầu Loại nhà ở dãy phố này là nhà trệt một lầu, hoặc nhà trệt có gác, mà thôngthường thì phần trệt để buôn bán, phần lầu hoặc gác để ở Trên lầu phía trướcthường không có hàng hiên, bao lớn mà vách suốt, chỉ có cửa sổ Phía trước cửa sổngười ta đúc nổi bằng xi măng hoặc treo bảng tên cửa hiệu buôn bán, xưởng sảnxuất bằng Hán tự, có kem theo chữ Việt cùng nghĩa
3.1.1.2 Nhà sàn
Ở những vùng ngập nước (định kỳ hay thường xuyên như Châu Phú (An
Giang), Hồng Ngự (Đồng Tháp) người Hoa cũng cư trú trên nhà sàn giống nhưnhà sàn người Việt
Phân bố mặt bằng sinh hoạt nhà sàn của người Hoa giống nhà sàn người Việttheo kiểu cách như sau: phòng khách đặt bộ bàn ghế, ván và hệ thống tủ thờ, phíatrong là buồng của cha mẹ và các thành viên trong gia đình Có khi người ta làmthêm cái chái bên hiên để tăng diện tích phòng của con cái và làm nhà bếp
3.1.2 Các công trình kiến trúc
Chùa đình của người Hoa có kiến trúc vô cùng độc đáo gắn với bản sắc, lịch sử
và quá trình định cư ở Nam Bộ Các ngôi đình Chùa đều được ra đời trước thế kỉXVIII tại Thành phố Hồ CHí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long còn
Trang 10nhiều ngôi Chùa, đình như: đình Minh Hương Gia Thạch, chùa Ông (thờ QuanCông), chùa Bà (thờ Bà Thiên Hậu), chùa Tam Sơn các đình chùa lúc đầu có quy
mô nhỏ bé, đơn giản về sau được cải tạo phát triển hoàn thiện tùy theo sự làm ăn,phát triển cộng đồng tại địa phương, mỗi nhóm địa phương của người Hoa có sắcthái kiến trúc trang trí riêng song có đặc điểm chung là thường được xây dựng theolối chữ Quốc hay chữ Khẩn, có người gọi là “trái ấn” với các dãy nhà khép kín,vuông góc tạo không gian ở giữa gọi là sân trời “thiên tinh” để điều tiết ánh sáng,không khí, vừa kín đáo vừa thông thoáng
Không gian chùa của người Hoa gồm có : Sân chùa, cổng, cửa chùa chạm trổcông phu, gỗ quý Trước cửa chùa có hai con Kỳ Lân (nếu thờ nữ thần hoặc vănthần) hoặc sư tử (nếu thờ nam thần và phái võ) Tiền điện, gian ở ngay sau khibước vào cửa chùa được trang trí thoáng đãng, thờ Quan Công, Thổ Địa, Thần Tàihoặc Ông Bổn Trung điện là nơi bày lư hương lớn bằng các chất liệu khác nhautùy từng chùa, Chính điện là nơi thờ Quan Công, bà Thiên Hậu, Ngọc HoàngThượng đế và các vị Thần Tài, Ông Bổn, Dược Sư, Bà Thai Sinh, Ngũ HànhNương Nương, Sân Thiên tinh của các chùa đều tạo không khí trang nghiêm Các hành lang và gian nhà phụ nối giữa các điện, tạo lối đi trang nghiêm và tiện lợikhi mưa nắng Có chùa đặt bàn thờ Thổ Địa, Thần Tài, Ông Bổn, dọc hành lang,trên vách gắn các bia đá, một số chùa dùng các gian phụ để hội họp, bán nhang,tiếp khách, bày lễ,
Nhìn chung các ngôi chùa của người Hoa được xây, lợp ngói, có viền bằngngói, ống men màu xanh thẫm Chùa là sự kết hợp của kỹ thuật xây dựng theo kiếntrúc Trung Hoa với nghệ thuật điêu khắc (tượng tròn, phù điêu chạm nổi, chạmlộng, ) và hội họa (tranh và thư pháp với các chưx thường được viết trong chùanhư: nhân, nghĩa, dũng, phúc, lộc, thọ, )
Trang 11(bên phải) vòng qua sườn, có 5 nút thắtbằng vải, cổ áo cao mềm, tà xẻ từ hai bênhông Họ thường mặc bên trong áo này một chiếc áo cánh trắng Thêm vào bộ yphục này là chiếc khăn tay nhỏ trắng thường khi cài ngay chỗ hò áo để lau tay, laumặt Kiểu áo trên, giưới tuổi trung tuần cũng mặc nhưng may bằng vải hoa cónhuyễn.
Chiếc quần truyền thống của nữ giới Hoa có màu đen may bằng vải hoặc lụa,đáy lá nem, trên có 1 khoanh vải màu trắng may theo chiều ngang Chiếc quần nàycòn có 1 sợi dây lụa, hai đầu có kết 2 miếng ngọc hoặc 2 miếng đá cứng (ngọcbội) Khi mặc, quần được kéo cao sát nách, người phụ nữ lấy dây lưng buộc ngangbụng, 2 đầu kéo thẳng xuống nhờ 2 miếng ngọc bội, còn tấm vải lưng quần, cuốicùng được gút cứng, giắt mối trước bụng
Giới trẻ thích mặc y phục màu sắc sặc sỡ, vui tươi Họ thường chú ý đếnnhững sợi chỉ kim tuyến, những sợi chỉ vải viễn quanh bầu cổ, viền quanh hò, tà,những nút vải thắt hình cái hoa, cầu kỳ hơn nút áo người lớn tuổi
Người Triều Châu thích mặc y phục sẫm màu (tổ tiên của họ làm nghề laođộng chân tay), kích cỡ vừa phải để tiện sinh hoạt Người Quảng Đông thích mặc yphục có màu tươi như quần đen áo trắng, quần đen áo lam, quần đen áo hồng cóhoa y phục người Quảng Đông rộng hơn Triều Châu, vì họ sinh hoạt theo phongcách thị dân
*Trang phục dịp lễ, tết
Vào dịp này họ thường mặc áo dài “chuyền chí” hay “xườn xám”, thường làmàu đỏ, thêu hoa, cổ đứng, cộc tay, xẻ tà phía dưới chân (từ gối xuống đến bànchân) Loại áo này thường đi với các loại trang sức như vòng cổ, vòng tay bôngtai Phụ nữ thường mang địu bằng vải lụa có tua quàng từ sau ra trước Nhữngngười lớn tuổi thường mặc áo dài màu xám hoặc đen, đội mũ chóp vải chùm đầu,chân đi giày vải, miệng ngậm tẩu thuốc
Có những gia đình người Hoa mang theo trang phục truyền thống từ thời nhàThanh sang cất giữu như 1 bảo vật hay kỉ niệm và mặc vào những dịp lễ tết hoặcdịp đặc biệt
*Kiểu tóc, trang sức
Trang 12Người phụ nữ Hoa lớn tuổi thường búi tóc (bây giờ không còn nhiều) Búi tócphụ nữ người Hoa đẹp, nằm sát ót, trên giắt trâm (thường bằng vàng hoặc bạc, cóchạm trổ, là vật bất ly thân) Hiện nay, đa số phụ nữ trung niên đều cắt tóc ngắn, đểdài tự nhiên đến chấm vai, đường ngoi ở giữ trán, vén sau 2 tai
Nữ trang của phụ nữ Hoa khá đa dạng Họ mang dây chuyền, chuỗi hạt, kiềng
có mặt chạm hình hoa mẫu đơn (tượng trưng cho sự giầu sang), hoa mai (tượngtrưng sự thanh cao), hoa sen (tượng trưng sự tinh khiết), con cá (sự như ý) Trẻ conthường đeo dây chuyền hay kiềng mặt hình cái khóa (bình an) Các loại nữ trang
họ thường đeo là neo, xuyến vòng, hoa tai thường có hình nụ hoa Nữ trang thườnglàm bằng vàng, có loại bằng vàng khảm ngọc, khảm kim cương Người phụ nữHoa thích nhất là vòng ngọc thạch đeo tay (tượng trưng cho sự phồn vinh, báo hiệuđiềm lành dữ cho chủ nhân)
*Trang phục lễ cưới cổ truyền
Trang phục cưới của người Hoa chỉ còn xuất hiện hiếm hoi, phần lớn trongnhững gia đình nền nếp, phong lưu, do họ có ý thức bảo tồn trang phục cũ Lễ phụccưới của cô dâu gọi là “tài khoành” màu đỏ, tượng trưng cho hạnh phúc trọn vẹn
Bộ lễ phục này gồm một chiếc xiêm đỏ bằng gấm thêu dài chấm gót và chiếc áongắn thêu bằng gấm ngũ sắc, cổ đứng, cài nút giữa, tay áo dài và rộng để lộ chiếc
áo trắng bên trong, 2 bên có thêu hình hai con chim phượng đứng trên cành hoamẫu đơn, nên có tên là áo phượng (phụng y = phùng xám)
Theo tục cổ, cô dâu bới tóc cao, thoa dầu bóng loáng, giắt trâm hình cành hoatrắc bá tượng trưng cho hạnh phúc vĩnh cửu Đầu cô dâu còn đội thêm một chiếc
mũ hoa, trên có gắn hình chim phượng, trước mặt che lụa đỏ hay một bức rèm kếtbằng ngọc trai Cô dâu còn cầm quạt (xấm phù xịt) để che mặt khi e thẹn Chân đihài bọc gấm hoặc nhung thêu hoa Trong tiệc cưới, cô dâu thường mặt áo dài kiểuThượng Hải màu đỏ Loại áo này có cổ cao, tay ngắn hoặc không có tay, gài nútmột bên, chỉ dài tới gối, vạt xẻ đến đùi
3.2.2 Trang phục nam giới
*Thường phục nam giới
Trang phục của Nam giới người Hoa lớn tuổi thuộc thành phần bình dân rấtđơn giảm Trước đây người Hoa thường mặc đùi màu đen (khấu cúa), kiểu quầnvận, chỉ dài đến gối, đáy lá nem Để giữ chiếc quần này chặt, họ phải đeo bụng mộtdây nịt da, to bản, mặt dây nịt thường làm bằng bạc (có khi nạm ngọc hoặc đá
Trang 13quý) Khia lao động họ mặc quần áo vải đen, áo “xá xẩu” cổ truyền, đây là loại áo
cổ đứng, xẻ giữa từ cổ xuống vạt, cài nút thắt, lưng áo có đường nối Vào đầu thế
kỉ này, người Hoa nghèo ở ĐBSCL chỉ mặc quần đùi dài ngang gối, áo xá xẩu tay
lỡ, ít khi cài cúc, đội nón “cời lối” hoặc “tức lối”, đây là loại nón đan bằng tre,vành rất rộng và đỉnh nón có chỏm nhọn Nam giới còn dùng khăn rằn hoặc khănvải bông vắt vai hoặc quấn quanh bụng để lau mồ hôi khi lao động hoặc thời tiếtnắng nóng
Trang phục của nam giới thuộc thành phần trung lưu thì mặc quần dài lãnh đenrất rộng, áo “xá xẩu” bằng gấm, tay áo dài, cửa tay rộng, bên trong mặc áo lót, đigiày gỗ (spây chương sơ) hoặc hia gấm, đội mũ quả dưa hấu hoặc quả bí (quá pìmũ) màu đen
*Trang phục cưới cổ truyền
Chú rể mặc bộ xiêm và áo bằng gấm xanh, dệt chữ thọ hoặc chữ phúc, nếu áo
có thêu rồng gọi là “lùng xám” Xiêm có thể cùng hoặc khác màu với áo Áo kiểuthường dài, cổ áo cao, tay dài và rộng, cài cúc ở sườn phải hoặc ở giữa Bên trongmặc áo màu trắng, trên đầu đội mũ quả bí hoặc mũ dưa hấu (xí que bò) màu xanhsậm; chân đi hia bọc gấm hặc đi giày nhung, màu đen, lót đuôi ngựa Giữa ngựcchú rể có đính một bông hoa vải to màu đỏ, các dải dây cột chéo vào người Cũng
có khi chú rể không cài hoa mà mặc bên ngoài áo dài một chiếc áo ngắn không tay,
xẻ giữa, gọi là áo “mẻ khoành” tức “mạ hoa”
3.2.3 Tang phục
Các nhóm người Hoa có đặc điểm tang phục khác nhau, được chia ra làmnhiều loại
Nhóm người Hoa Tang phục
Phúc Kiến + Con trai : áo dài đến chân không có nút, bên ngoài là một
áo nhỏ ngắn có cài nút vải Con trai cầm gậy bằng dọng,ngày xưa mặc áo vải bố bên ngoài nay chỉ cắt một miếng vải
bố tượng trưng+ Con gái: mặc áo dài đội khăn ba góc, khâu một miếng vải
bố trên khăn
Trang 14+ Con rể: mặc màu trắng nhưng có một chấm đỏ để phânbiệt không phải con ruột.ngoiài ra còn một miếng vải trắngkéo ngang thân có một chấm đỏ.
+ Cháu nội thì đội khăn xanh có chấm xanh Cháu nội đíchtôn thì mặc áo màu vàng khăn màu vàng có chấm xanh
+ Cháu ngoại: khăn có chấm đỏ
Triều Châu + Con trai: mặc vải xô, bên ngoài là áo và vải bố nhỏ
Người Triều Châu đội nón hình tam giác đeo một chiếc túi
ba màu xanh đỏ trắng trong túi đựng những hạt đậu Ngàynay con trai Triều Châu chỉ đeo một khăn tang màu trắng
Nhìn chung thì tang phục của người Hoa đã được giản tiện đi nhiều
3.2.4 Trang phục trẻ em
Trước đây trẻ con thường được mẹ địu sau lưng bằng những chiếc đai lụa (pítụa) thêu nhiều hoa văn tươi đẹp Người ta cũng mặc cho những đứa trẻ loại yếmlụa thêu nhiều họa tiết màu sắc sặc sỡ Trẻ em cũng được đeo dây chuyền ở cổ hìnhcon cá (ngư: ngụ ý được như ý, giàu sang, khỏe mạnh), bằng ngọc bích, nhữngđồng tiền xưa, các chiếc kiềng, khánh bạc chạm bỗn chữ “trường sinh bổn mệnh”cầu mong đứa bé được bình yên, tốt lành
3.3 Ẩm thực
Ẩm thực của người Hoa nổi tiếng với các món ăn ngon miệng được nhiềungười công nhận Phong cách nấu ăn của người Hoa là cả một nghệ thuật, món ănđược chế biến thích hợp, không làm mất chất dinh dưỡng Đặc điểm trong bữa ănngười Hoa là sự tổng hợp món chính với món phụ tránh sự đơn điệu (như gà nấuvới nấm rơm, cải bẹ xanh; vịt mấu với táo khô, hạt sen, nấm hương )
Lương thực chính của người Hoa là gạo, họ còn bổ sung thếm lương thực chếbiến từ bột mì như mì vằn thắm, mì sợi
Trang 15Họ ăn ba bữa trong một ngày, thường ăn cháo ít hơn ăn cơm Hàng ngày, vàobữa sáng, người Hoa thường ăn món cháo với củ cải muối, hoặc một cái màn thầu(bánh bao không nhân) với xíu mại Kỹ thuật nấu cháo của người Hoa rất công phuvới loại gạo tấm được chọn kỹ, nấu nhừ có bỏ bạch quả gọi là cháo bạch quả, nhàkhá giả bỏ bào ngư Mùa giáp hạt, cháo được độn thêm ngô, khoai, sắn, Thức ănđược chế biến bằng nhiều cách… Xu hào, bắp cải, củ cải đen muối chua; Đỗ chếbiến thành madi, xì dầu…
Cách chế biến thức ăn của người Hoa nói chung đều giống nhau trên đại thể,song trong từng nhóm người Hoa địa phương cũng có những phong cách riêng.Người Quảng Đông thường sử dụng nhiều dầu mỡ là chất trung gian để nấu ăn.Người Triều Châu có khẩu vị mặn, người Phước Kiến lại thích ăn cay Người Hoa
ăn món chiên, xào thường có thêm bát canh để đỡ ngấy Gia vị trong món ănthường là dầu hào, dầu mè, xì dầu, húng lìu,
Món “lục” (nước lèo) rất nổi tiếng của người Hoa được chế biến từ xương heothêm củ cải trắng, có khi cả cải bắc thảo để ngọt canh Họ dùng nước lèo này đểnấu với mì sợi, hủ tiếu, nấu canh, nấu xúp
Hủ tiếu là món ăn ưa thích của người Hoa được bày bán trong các cửa hiệuhoặc các xe đẩy lưu động Bánh bao là món ăn của người Hoa chế biến, được phổbiến ở nhiều vùng vượt ra khỏi phạm vi cộng đồng, đưược mọi người ưa dùng Bột mì là nguyên liệu tạo nên vằn thắn, nhưng vằn thắn có sự khác nhau giữacác nhóm người Hoa Mì Quảng Đông có thịt băm, nạc; người Phước Kiến cho cá
vo viên, tàu hũ ăn kèm với bánh tôm; mì của người Triều Châu thì mặn, sợi dài,được chần qua nước sôi
Dịp tết Trung thu họ làm nhiều loại bánh cúng trăng rất ngon, hấp dẫn về hìnhthức Vào ngày tết, nhà người Hoa nào cũng hấp bánh tổ và dự trữ lạp xưởng vớinhiều loại: Lạp xưởng thịt heo ướp ngũ vĩ hương; lạp xưởng rượu Mai quế lộ; lạpxưởng gan heo…Đến ngày 30 Tết, người Hoa Quảng Đông cúng thần tài, tổ tiên
và các vị thần bằng thịt gà mái còn gà trống, gà thiến thì cúng vào mùng hai haymùng ba Họ ít ăn thịt vào đầu năm vì cho rằng xui xẻo, lận đận Trong khi đóngười Hoa Triều Châu lại thích ăn thịt vịt hoặc thịt ngỗng vào đầu năm Họ thíchnhất là món “vịt ram”
Trang 16Món ăn ngọt của người Hoa cũng rất phong phú đặc sắc Riêng về bánh ngườiHoa Triều Châu có 24 loại khác nhau, còn người Hoa Quảng Đông thì có nhiềumón chè như: chè mè đen, chè đậu nành, chè hạt sen, chè khoai môn… Thức ănchơi của người Hoa còn có các loại hoa quả khô muối ngâm đường.
Về thức uống người Hoa cũng thể hiện yếu tố tộc người Rượu là thức uốngkhông thể thiếu trong các bữa cơm, bữa tiệc Rượu được pha với các vị thuốc bắc
có tác dụng điều hòa và bồi bổ cơ thể Ngoài ra ,uống trà còn là thói quen trong đờisống và giao tiếp của người Hoa Cách trồng, ướp trà và uống trà của người Hoacũng rất tinh tế, nổi tiếng nhất là trà lài (Triều Châu), người Kinh còn hay gọi nốiuống trà đó là “chè Tàu”
3.4 Phương tiện vận chuyển
Đây là sáng tạo văn hóa phục vụ cho tâp quán mưu sinh và đời sống sinh hoạt
của các cộng đồng gắn với môi trường tự nhiên.
Người Hoa ở vùng sông nước miền Tây Nam Bộ phương tiện chủ yếu là ghe,thuyền, đi lại buôn bán trên sông
3.5 Nhạc cụ
Nhạc cụ chủ yếu là tỳ bà, nhị, sáo, tam thập lục,
4 Văn hóa phi vật thể
4.1 Tôn giáo, tín ngưỡng
4.1.1 Tôn giáo
Người Hoa ở Nam bộ cũng theo một số tôn giáo lớn như: Phật giáo, Đạo giáo,Thiên Chúa giáo, Tin Lành Các tôn giáo của người Hoa cho thấy sự tiếp cận vớicác tôn giáo thế giới gắn với quá trình lịch sử cư trú và phát triển ở vùng Nam Bộnước ta
*Phật giáo
Phật giáo theo người Hoa vào Nam Bộ từ những thế kỉ trước Ban đầu, ngườiHoa tập trung xây cá miếu làm nơi cho công đồng thờ cúng trước và tron miếu cóchỗ thờ Quan Âm, Quan Công và bà Thiên Hậu
Trang 17Vào những năm 30 của TK XX, người Hoa mới vận động trong cộng đồngquyên góp để xây dựng những ngôi chùa riêng Những năm 60 của TK XX ngườiHoa vận động thành lập “Hội Phật giáo người Hoa” (Hoa tông) hoặc “Lâm Nguyệt
cư sĩ Lâm Phật học hội” Phật giáo người Hoa ở Nam Bộ gồm nhiều tống phái:Lâm Tế (Thiên Tông), Tịnh Độ Tông, Hoa Nghiêm Tông
Kiến trúc chùa thờ Phật của người Hoa khá phức tạp và đa dạng vì liên quánđến địa điểm xây dựng Tu sĩ trong chùa của người Hoa ở Nam Bộ rất ít, các thửthách để trở thành tăng, ni không phù hợp với tập quán người Hoa
Trong năm, các chùa người Hoa tổ chức một số lễ hội chính như Lễ Phật đản,
Lễ Vu lan, ngày vía của a Di đà, ví Địa tạng, Chùa còn là nơi diễn ra hoạt động
từ thiện của cộng đồng người Hoa (có phòng thuốc Đông y cứu giúp trẻ em, ngườigià, ngưười tàn tật hay bị thiên tai )
*Đạo giáo
Đây là tôn giáo có nguồn gốc từ Trung Hoa và được người Hoa mang theo vàoNam Bộ, thờ Lao Tử (Thái Thượng Lão Quân) Cơ sở thờ tự duy nhất ở Nam Bộđặt tại TP.HCM gọi là “Khánh Vân Nam Viện”
Lễ lớn nhất của Đạo giáo là lễ Lữ Tổ, tổ chức vào 14/4 âm lịch hàng năm, gồm
3 bước: Sơ lễ, Nhị hiến và Tam hiến Ngoài ra, trong năm còn có các ngày vía: víaQuan Công (24/6 ÂL), vía Ngọc Hoàng (9/1 ÂL) lễ Phật Đản (15/4 ÂL) Trongnhững ngày vía đạo sĩ niệm kinh theo quy định Đồ cúng thường có 5 thứ tượngtrưng cho “ngũ hành, ngũ tạng” của Đạo giáo như : bút tàu, đậu hủ ky, nấm mèo,kim châm, các loại nấm khác
Người gia nhập đạo giáo phải tự nguyện viết đơn, có 2 tín đồ của đạo đã quy ygiới thiệu, đảm bảo và đọc thuộc quyể sách có tên là “Lữ Việt Nam Chợ Lớn KhánVân Viện quy” còn gọi là Bộ quy tắc
Tín đồ quy y Đạo giáo gọi là “đạo sĩ”, nữ gọi là “đạo cô” Đạo sĩ, đạo có thể ởnhà, lấy chồng sinh con và ăn uống bình thường Khi sinh hoạt tại tu viện, các đạo
sĩ, đạo cô mặc áo dài phủ gót chân, màu xanh, xẻ nách phải, tay áo rộng, đội mũmàu đen Đạo giáo của người Hoa ở TP.HCM có khoảng trên 2.000 tín đồ
Trang 18Ban trị sự tại “chùa” gồm 12 người, nhiệm kì 2 năm Sinh hoạt đạo giáo mangtính phương thuật, ma thuật Người Hoa thực tế không biết nhiều về giáo lý Đạogiáo mà chỉ xem Lão tử như một vị thần, mà các phương thuật, ma thuật của Đạogiáo có thể giúp họ trừ ma quỷ, tai nạn,
*Thiên Chúa giáo
Thiên Chúa giáo du nhập vào cộng đồng người Hoa vào khoảng đầu TK XIX,
do những giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo vào vùng Nam Bộ Cộng đồng ngườiHoa có khoảng trên dưới 5.000 người theo Thiên Chúa giáo, đa số là người gốcQuảng Đông, chủ yếu ở TP.HCM
Trên địa bàn TP.HCM có 4 nhà thờ do người Hoa xây dựng (nhà thờ ChaTam, Đức Bà Hòa Bình, Phú Thọ Hòa và nhà thờ Giuse) Hàng ngày bà con đếnnhà thờ nghe giảng kinh (bằng tiếng Hoa Quảng Đông), làm lễ cầu nguyện; ngoài
ra, họ còn đến nhà thờ để các vị giáo sĩ thực hiện các nghi thức trong cưới xin, tang
ma, rửa tội Một số ngày lễ lớn được nhà thờ tổ chức trang trọng hàng năm như:
Lễ phục sinh (21/3 - 21/4), Lễ giáng sinh (25/12)
Kiến trúc nhà thờ đêu theo kiểu kiến trúc giáo đường Thiên Chúa giáo, đôi khikết hợp với kiến trúc Trung Hoa (nhà thờ Cha Tam có cổng kiệu Trung Quốc) Cácpho tượng chúa Jesu, Đức mẹ Maria được đặt tỏng các hộp kính Trong giáođường, nơi hình tượng Chúa bị đóng đinh trên thập ác là 2 bức câu đối bằng gỗ sơnson thếp vàng, chạm chữ Hán màu đen, ca tụng công lao to lớn của Chúa “Thiênhương vĩnh phúc phương năng suy thiện tâm/ Ảo thế phù vinh bất túc mãn nhânnguyện”
*Tin Lành
Đạo Tin Lành của người Hoa tiếp thu từ người Việt khoảng đầu TK XX Năm
1921, mục sư TQ sang Nam Bộ truyền đạp Tin Lành và Hội thánh Tin Lành ngườiHoa được thành lập Hiện nay, ở TP.HCM có 8 hội thánh Tin Lành người Hoa vớihơn 1.500 tín đồ
Mỗi hội thánh Tin Lành có 1 Ban cán sự gồm 9 - 11 người, đảm trách nhữngcông việc liên quan đến giáo vụ, nhiệm kỳ 2 năm Các tu sĩ có thể có gia đình, vợcon, cũng có thể ly dị, không phải chịu nhiều nghi lễ kiêng cữ phiền phức Lễ “bắptêm” là nghi lễ quan trọng cho những người tự nguyện ra nhập đạo
Trang 19Chủ nhật hàng tuần, các tín đồ ra nhà thờ làm lễ, nghe mục sư hoặc truyền đạoviên giảng Kinh thánh (thường giảng bằng tiếng Hoa Quảng Đông), làm lễ cầunguyện Tối thứ 5 hàng tuần, một số tín đồ đế nhà thờ tổ chức hộp nhóm bàn luận
về thánh kinh, việc xã hội, hỏi thăm nhau Tín đồ theo đạo không được uống rượu,hút thuốc, sử dụng chất kích thích, không tin vào ma quỷ, phù phép Trong giađình tín đồ không lập bàn thờ Chúa, bàn thờ tổ tiên, đám tang không thắp nhang,không đồ cúng mà chỉ có mục sư đến làm lễ và ban ca nhạc hát thánh ca đưa linhhồn người chết về với Chúa
Nhà thờ đạo Tin Lành tuân thủ phong cách kiến trúc theo quy định chung, haimái dốc, phía hồi mặt tường có phù điêu cây thánh giá Nhìn chung kiến trúc đơngiản, ít họa tiết trang trí, ít pha tạp kiến trúc Hoa
4.1.2 Tín ngưỡng
Tín ngưỡng của người Hoa rất đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức.tín ngưỡng là chỗ dựa tinh thần của cộng đồng, gia đình giúp cho họ tự tin, trụvững và phát triển trong quá trình di dân từ TQ về phương nam và trở thành mộttrong những chủ nhân của vùng Nam Bộ Đặc điểm nổi bật trong tín ngưỡng củangười Hoa là sự thờ cúng các vị thần
Bàn thờ được đặt ở nơi trang trọng trong phòng khách Trên bàn thừ có đặtbài vị của những người đã khuất ghi rõ họ tên, chức vị, ngày sinh ngày mất; trướcmỗi bài vị có một lư hương nhỏ bẳng đồng hoặc bằng gốm, giá cắm nến, đĩa đựngtrái cây, chén nước Bàn thờ dán giấy hoặc sơn đỏ, phía sau có chữ “Thần”