Cùng với sự đi lên của xã hội, với những chính sách tạo điều kiện phát triển cho đồng bào thiểu sổ thì đời sống của người M’nông phần nào được cải thiện hơn trước. Một vài phong tục của người M’nông đã có sự biến đổi cho phù hợp với điều kiện sống. Ví dụ như về phong tục hôn nhân: Trước kia, tổ chức xã hội người M’nông theo chế độ mẫu hệ, phụ nữ chủ động trong hôn nhân, sau đám cưới, đôi vợ chồng trẻ phải ở nhà gái 7 ngày sau đó về nhà trai 7 ngày, trước khi về bên nhà gái ở trọn đời. Với lễ cưới truyền thống của đồng bào M’Nông Gar, tới nay không còn việc phụ nữ chủ động trong hôn nhân, mà là người đàn ông. Trong lễ ngỏ lời, nhà trai không nhờ ông mối như tập tục của người M’Nông Peh, mà là một người cậu của chàng trai đảm nhiệm công việc này. Tại lễ ngỏ lời, người cậu của chàng trai sẽ phải nói cho bên nhà cô gái biết họ hàng nhà mình. Nếu hai bên cùng thấy không lấn bấn về quan hệ họ hàng thì mới được tiến hành đến bước thứ hai là dạm hỏi. Lễ này cũng không tiến hành ngay sau lễ ngỏ lời như các dòng người M’Nông khác, mà với người M’Nông Gar chỉ được tiến hành sau 1 năm. Lễ của nhà trai biếu nhà gái bao giờ cũng có một chuỗi cườm, một vòng đồng và một ống măng chua. Khi nhà gái nhận lễ, cũng có nghĩa là đã chính thức đồng ý. Thể hiện của sự đồng ý là đại diện nhà gái lấy tiết của con gà trống thiến dùng làm lễ, chấm lên trán đôi trẻ, trước khi cùng nhau uống rượu vui vẻ và bàn về lễ cưới. Trước đây, theo phong tục trong lễ cưới nhà gái phải tặng nhà trai khá nhiều quà, trong đó có 50 cái tô, 50 cái bát, 50 chuỗi cườm. Đến nay, việc hai bên (nhất là nhà gái) tặng quà cho nhau đã giảm rất nhiều, nhưng không vì thế mà lễ cưới không diễn ra vui vẻ. Tuy thế, người M’Nông Gar vẫn giữ lại tục sau khi lễ cưới chính thức ở nhà gái, thì nhà trai cũng tổ chức, mời nhà gái tham dự. Khi nhà gái ra về, cô dâu ở lại bên nhà chồng trong vòng 7 ngày (khác với người M’Nông Peh là chàng trai ở nhà cô gái trước). Sau đó, cha mẹ cô gái mới sang nhà trai xin đón đôi trai gái về ở nhà mình. Cho tới nay, với người M’Nông việc ở nhà trai hay nhà gái không còn quá quan trọng, miễn là đôi vợ chồng trẻ ưng ý và được hai bên gia đình chấp thuận. Nhưng đa phần cho đến bây giờ dân tộc M’ Nông vẫn bảo lưu được nhiều nét bản sắc văn hoá đặc trưng của mình, trong đó người MNông ở Buôn Đôn vẫn duy trì nghề thuần d¬ưỡng voi nổi tiếng. Đặc biệt là họ vẫn bảo tồn được những làn điệu dân ca giàu chất trữ tình và các bộ sử thi. Trong đó bộ sử thi “Ót N’Rông” của dân tộc M’ Nông được coi là bộ sử thi lâu đời và cổ xưa nhất, phản ánh tiến trình phát triển của xã hội các dân tộc Tây Nguyên trong đó có người M’Nông. Cộng đồng người M’Nông nhiều nơi hiện vẫn giữ gìn được những sinh hoạt văn hoá đặc trưng của dân tộc mình và chính quyền, các ngành chức năng ở các địa phương cũng rất quan tâm đến công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống này. Nhà nước đã triển khai nhiều biện pháp hình thức để bảo tồn, ngành văn hoá phục dựng các lễ hội truyền thống, tổ chức truyền dạy nghề, dạy múa, đánh chiêng, các lớp truyền dạy sử thi. Điều quan trọng là đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động bà con để người dân cảm thấy yêu văn hoá truyền thống của mình. Tại các địa phương, các cơ quan chức năng còn mở các trại sáng tác âm nhạc, văn học, hội họa, nhiếp ảnh, hội thi dân ca, dân vũ, thi hát kể sử thi... Các hoạt động thiết thực này đã và đang giúp đồng bào dân tộc M’Nông giữ gìn được nét đặc trưng của văn hóa của dân tộc mình trong xu thế hội nhập và phát triển..
Trang 11.2 Dân số và địa bàn phân bố
Ở Việt Nam năm 2009 người Mnông có số dân là 102.741 người Trên địa bànmiền Đông Nam Bộ người M’nông cư trú chủ yếu ở tỉnh Bình Phước với 7.136người, số còn lại ở các tỉnh đều không đáng kể, trừ Đồng Nai có 36 người NgườiM’nông còn lại 92,23% cư trú tập trung ở các tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông và LâmĐồng cư trú xen kẽ và có quan hệ qua lại với các dân tộc cư trú láng giềng nhưngười Ê Đê, Cơ Ho, Mạ, Xtiêng
Ư
2 Lịch sử hình thành và phát triển
- Tên gọi : M'nông
- Tên gọi khác: Pnông, Nông, Prê, Bu Đăng, Bia, Gar,
- Địa bàn cư trú: Chủ yếu ở các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Đăk Nông, ĐăkLăk ,Lâm Đồng
M’nông là dân tộc bản địa ở nước ta, nói ngôn ngữ Môn-Khmer, thuộc loại hìnhnhân chủng Anhđônêdiêng Quá trình lịch sử phát triển và quá trình cư trú tại cácvùng đất ( có tính độc lập tương đối và khép kín trước đây) đã làm cho cộng đồngM’nông hình thành nhiều nhóm địa phương, song các nhóm đều tự nhận mình lànhóm M’nông Ở Nam Bộ họ chỉ là một bộ phận nhỏ và thuộc nhóm M’nông Đói,M’nông Biat và M’nông Bu Đệ, số còn lại cư trú trên các địa bàn tỉnh Tây Nguyênvới nhiều nhóm và phương ngữ khác nhau
Hoạt động kinh tế:
Nông nghiệp:
Kinh tế nương rẫy đóng vai trò trọng yếu trong đời sống của người M’nông,ruộng nước có rất ít ven đầm hồ, sông suối, mỗi làng đều có một vùng canh tác
Trang 2riêng với hai loại rẫy cơ bản là rẫy dốc (vùng đất đỏ ba zan) và rẫy bằng ( rẫy phátrừng phát cỏ gianh) Việc phát rừng làm rẫy trước đây tiến hành vào những ngàyđầu năm, sau một số nghi lễ nông nghiệp Đốt rẫy được coi là một việc rất hệ trọngliên qua đến việc “kéo lửa” từ trên rẫy về cho cả làng đốt Cây trồng chính là lúangoài ra còn có các loại cây trồng như ngô khoai, bầu, bí, các loại dưa, Lúa nướcđược cắt bằng liềm, lúa tẻ suốt bằng tay cho vào giỏ và gùi Công cụ sản xuất chủyếu là chà gạc (công cụ để phát rẫy), rìu, cuốc làm đất và các loại cuốc chăm sóccây trồng, gậy chọc lỗ đầu bịt sắt, liềm cắt lúa suốt lúa Trên rẫy trước đây còn cókho chứa lúa
Cho đến nay, người M'nông Gar, M'nông Chil ở Lâm Đồng vẫn duy trì phươngthức phát rừng, làm rẫy truyền thống với các bước phát, đốt và chọc lỗ, chỉa hạtgiống như người Mạ và người Cơ Ho Việc sử dụng đất rẫy của người M'nông ởđây theo chế độ luân khoảnh Chu trình quay vòng của rẫy từ 6 đến 12 năm tùytheo độ phì nhiêu của đất- rẫy
Đặc điểm của việc làm rẫy của nhóm M'nông Gar ở Lâm Đồng là lửa để đết rẫyphải được '' kéo '' ngay trên rẫy với phương pháp cổ truyền bằng cách ma sát cái lạtcật nứa vào một khúc tre lồ ô già, khô để bật lửa và làm cháy một mớ bùi nhùi tre.Người M'nông Gar gọi người kéo lửa theo phương pháp cổ truyền là Rmút Từ đó,lửa được đem về cho dân làng cùng đốt rẫy ở một khu rừng đã định
Chăn nuôi:
Người Mnông chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như trâu,lợn,gà,vịt, chó Trâu
nuôi để làm vật trao đổi ngang giá, ăn tết, làm vật hiến sinh cho lễ hội”đâm trâu”chứ không để làm sức kéo làm đất phục vụ sản xuất
Thủ công nghiệp:
Kinh tế thủ công của người M’nông là nghề phụ trong gia đình như dệt, đan lát,rèn,gốm ,mộc Dệt vải và trang trí hoa văn trên vải đạt trình độ kĩ thuật và mĩthuật cao Nghề đan lát với kỹ thuật đan cài hoa văn bằng nan rất phong phú trêncác loại gùi ,giỏ ,thúng, mủng, mẹt Nghề rèn cũng phổ biến trong các buôn songchỉ để sửa chữa các công cụ bằng kim loại chứ chưa mang tính hàng hóa Trướcđây nghề gốm phát triển ở một vài nơi với các sản phẩm chủ yếu là loại nồi đất ,hũnhỏ bát ,sành, Nghề mộc chỉ yếu đáp ứng nhu cầu làm nhà, các công trình liênquan và làm thuyền độc mộc để đi trên sông
Hái lượm, săn bắt:
Trang 3Trong đời sống hàng ngày hoạt động kinh tế hái lượm của người M’nông có vaitrò trực tiếp bổ sung các nguồn thực phẩm như rau xanh, cá ,thịt và các loại lâmsản có giá trị như măng khô, nấm hương, mộc nhĩ, mật ong, song mây Các loạilâm sản trên được đồng bào đem đi đổi lấy các loại nhu yếu phẩm như muối, kimchỉ, vải sợi, đồ sành sứ, thuốc men
Việc săn thú phát triển ở vùng M'nông Gar, ở địa phương với nhiều kinh nghiệmsăn lùng, săn rình và gài cạm bẫy để bắt thú rừng Đặc biệt là nghề săn bắt và thuầndưỡng voi rừng của người M'nông Voi rừng săn được, đem về thuần dưỡng biếnthành vật nuôi trong gia đình và được dùng làm phương tiện vận chuyển đườngrừng rất hữu hiệu Xưa kia, người M'nông còn dùng voi làm chiến tượng trongchiến tranh bộ lạc
3 Tổ chức xã hội
Người M’nông cư trú theo bon hay buôn như các làng của người Kinh Trong xãhội cổ truyền các bon có quy mô khác nhau, loại nhỏ gồm trên dưới mươi nóc nhà,loại lớn gồm trên dưới hai mươi nóc nhà dài Các nhà cư trú trong bon có quan hệ
về hôn nhân, huyết thống thiên về bên nữ đó là một cộng đồng gắn bó với nhautheo một địa vựa đất đai nhất định gồm các loại đất ở, canh tác, chăn nuôi, luâncanh, rừng hái lượm, song suối đầm hồ và đất làm nghĩa địa đất làng thuộc quyền
sở hữu của cộng đồng, mỗi gia đình được quyền khai thác trên một phạm vi nhấtđịnh
Người đứng đầu gọi là Rnúi hay Kroanh bon, do thủ lĩnh cũ chọn thủ lĩnh mới,hoặc là người già trong bon tham gia lựa chọn người đứng đầu điều hành mọi hoạtđộng của cộng đồng làng có người giúp việc gọi là Rnor, Rnop; lo việc giao chiến.sau các cuộc giao tranh, tù binh của làng khác và những người vi phạm luật tục đềutrở thành những nô lệ gia định Thành viên của làng đánh dấu sự trưởng thànhbằng một tập tục là cà rang và nhuộm rang đen vào độ tuổi 15 16 và tục sâu lỗ dáitai thực hiện từ khi 5-6 tuổi cà rang là tục cắt đi 4 răng cửa và 2 răng nanh hàmtrên đối với con trai, sau đó mới trở thành trai làng, có nghĩa vụ và quyền lợi hơntrong bon, đặc biệt là tham gia vào những đội dân binh khi chiến sự xảy ra
Người M’nông có các dòng họ như Pang Ting, Buôn Krông, Ryam, Chin, Triếc,Đắc Chắt, Tơr, Rtung và các họ khác như Nong, Nđu, Phôk, Srúk, Vmăk, Ja, Lưk,Mđrang, Uê dak Các dòng họ thực hiện nguyên tắc ngoại hôn từ lâu đời, cư trúgần nhau và có chung một nghĩa địa một số bon của người M’nông có tên trùngvới tên của các nhóm địa phương của tộc người và các dòng họ
Trang 4Xã hội cổ truyền của người M’nông có 2 tầng lớp cơ bản là nông dân tự do vàtầng lớp trên – những điều hành làng Những tầng lớp trên có một chút ít tài sảnnhư chiêng, ché, một số gia súc như trâu, lợn để làm lễ hiến sinh, voi để đi săn vàchiến đấu, phân biệt với nhà thường qua trang trí kiến trúc, đặc biệt là có nô lệ giađình Tính cộng đồng, dân chủ trong làng phổ biến trong làng hình thành cácnhóm lân gia – một tổ chức tương trợ của nông dân Giữa các thành viên tronglàng, ngoài họ hay với các làng khác còn có tục kết nghĩa thông qua lễ hiến sinh,cúng thần linh để chứng giám.
Sự tồn tại và sức mạnh của cộng đồng M’nông được duy trì bởi Luật tục Nê PhátKđôi là người đứng ra tổ chức tòa án phong tục, căn cứ vào tập quán để tiến hànhxét xử những kẻ vi phạm tập quán Tập quán M’nông xung đột với tự do cá nhân,đây chính là sợi dây vô hình tạo nên tính cố kết cộng đồng
Người M’nông nam cũng như nữ xưa kia đều trổ lỗ tai và đeo các vật trang sức,như cục ngà voi (suy chao), hay cục gỗ nhỏ (co), thậm chí chỉ là đoạc nứa (kar).Trong đó ống nứa chỉ được dung chon nam giới tùy theo mức độ to nhỏ của lỗ tai
mà người ta đeo những vật trang sức khác nhau Tuy nhiên lỗ tai càng to, dáy taicàng chảy xệ, thì theo quan niệm dân gian càng đẹp và càng được người khác kính
Người M’nông có một số nhóm địa phương như: M’nông Gar, M’nông Bù Dâng,M’nông Prông… Nhưng nhìn chung trang phục của các nhóm cơ bản giống nhau
Trang phục phụ nữ M’nông Gar gồm có: Áo (ao mứt), váy (sie băn rơ nấk) ,chuỗi đeo cổ (mai rban), vòng chân (coong dàng).
Trang 5- Áo dài tay (ao mứt) làm bằng vải sợi bông tự dệt màu đen hoặc màu xanh đen.Cũng như 1 số dân tộc khác ở Tây Nguyên, áo phụ nữ M’nông phổ biến là kiểu
chui đầu (ao trùm) Áo có 2 loại dài tay và không tay nhưng tên gọi của chúng
giống nhau
+ Áo dài tay (ao mứt): Là loại áo không khoét cổ Cổ áo (câu rơ căng) bằng vai, được viền bởi một dải vải đó Tay áo (ty ao) dài 46cm, màu xanh đen Ở cổ tay áo
và phần nách giáp thân áo có 2 dải hoa văn bằng chỉ màu đỏ, trắng ,vàng, xanh
Hai thân áo (bra ao) rộng 43cm, là 1 mảnh vải gập đôi và khâu lại ở 1 bên sườn.
Phần gấu áo có dải hoa văn cao 2 cm , chạy vòng quanh áo Nhìn tổng thể áo phụ
nữ M’nông Gar thiên về màu xanh đen, hoa văn trang trí dệt bằng chỉ màu đỏ,vàng, đen,trắng mang tính đối lập
Hoa văn trang trí ở cổ áo, vai, nách, hai cửa tay và gấu áo là hoa văn hình da con
trăn (nơ dương trăn).
Trên vai và cổ tay áo nẹp mỗi bên một dải len đỏ dài 21cm và đính những núm
nhôm và dây nhỏ tạo thành hình mặt trăng (ơ khe).
Ngoài ra, còn có những đường chỉ trắng khâu ở 2 tay, nách gọi là con trăn (tiếc
triêng kring).
+ Áo ngắn tay (ao mứt): may kiểu chui đầu, bằng vải tự dệt nhuộm màu xanh
đen, kích thước phụ thuộc vào người mặc Loại áo này chủ yếu mặc ở nhà, khi ra
ngoài xã hội họ mặc áo dài tay Cổ áo (câu rơ căng) được viền bằng 1 dải lên đỏ Thân áo (bra ao) là 1 mảnh vải gập đôi và khâu lại ở 1 bên sườn gấu áo là dải hoa
văn khác màu cao 3cm chạy vòng quanh áo Trang trí chủ đạo là mô tip dệt hoa
văn hình da con trăn (nơ dương lăn) bằng chỉ các đường trắng, đỏ cách đoạn Trên
vai mỗi bên đính 1 vải len đỏ dài trên 20cm và đính những núm nhỏm nhỏ hình
mặt trăng (ơ khe) Ngoài ra còn trang trí những đường chỉ trắng, đỏ ở nách gọi là
tiếc triêng kring (con trăn).
- Váy (sie băn rơ nắk): Là loại váy cuốn có dệt cải hoa văn đỏ, xanh, trắng trên
nền xanh đen ,mô tip đơn giản, ít hư cấu Hoa văn trọng tâm thường nằm ở phầngấu váy và đường viền Hai đầu váy có tua băng len đỏ, đầu tua bịt bằng các ống
đồng thau (n’dum) Tua được thắt nút (stiêng) Hoa văn chủ yếu là hình cổ con chim gáy còn gọi là nơ tớp.
Khi mặc người ta cuốn váy quanh người, phần hoa văn nơi gấu váy và dải hoavăn ngang thân váy để lộ ra ngoài
Trang 6Đây là loại váy cổ truyền của phụ nữ M’nông Ngày nay loại váy này họ ít mặc.Tuy nhiên mỗi gia đình vẫn có 1-2 bộ để mang theo khi chết.
- Chuỗi đeo cổ (mai rban) của phụ nữ người M’nông có nhiều loại khác nhau:
Loại dài ,loại ngắn, hạt to, hạt nhỏ với các màu: Đỏ, vàng, xanh da trời, xanh đậm,xanh đen,… Vòng cổ không chỉ là vật trang sức mà còn là vật kỉ niệm trong tìnhyêu đôi lứa hay kỉ vật trong các cuộc hiến sinh Nhiều chuỗi cườm đã được lưutruyền qua nhiều đời nên rất có giá trị
- Vòng chân (Coong dàng) là đồ trang sức không thể thiếu của người M’nông
cũng như 1 số tộc người khác ở Tây Nguyên như Ê Đê, Gia Rai hay Tà Ôi Phụ nữthường dùng nhiều vòng tay, vòng chân, vòng cổ bằng đồng, còn vòng làm bằngbạc hay nhôm rất ít và chỉ có ở những gia đình khá giả Vòng làm bằng chất liệuđồng lá uốn tròn, rỗng bên trong, hai đầu để hở Khi đeo vào chân nếu nhỏ quá thì
họ bẻ lệch đi mới xỏ vào được Mỗi người thường đeo mỗi bên chân 3 chiếc vòng Theo quan niệm của người M’nông, vòng đeo chân không chỉ là đồ trang sức màcòn là vật giúp tránh được đau ốm, rủi ro khi đi đường và bảo vệ tính mạng conngười Vì vậy, trước đây người nào, gia đình nào càng có nhiều vòng đồng càngthể hiện sự giàu có, vị thế cao của mình Ngày nay, họ không dùng nữa nó trởthành vật kỉ niệm của gia đình
- Trang phục nam giới M’nông:
Trước đây, bộ trang phục của nam giới M’nông gồm có: Áo vỏ cây (ao dưr), áo (ao kru nút), khố (sư troan kơte).
- Áo vỏ cây là 1 loại áo phổ biến trước đây của đàn ông M’nông Hiện nay một
số ít người vẫn mặc khi khai thác song mây, phát rẫy, đặc biệt khi đi săn, nhất làsăn voi Áo được làm bằng xơ vỏ cây tí (si tí) theo 1 quy trình chế biến vỏ cây Haivạt áo được xỏ những sợi dây để khi mặc cột lại với nhau như cài cúc áo vải Mặc
áo vỏ cây còn có tác dụng vừa mát vừa chống được gai cào
- Áo là loại áo cổ truyền của nam giới người M’nông cũng như người Ê Đê , GiaRai Tuy nhiên loại áo này chỉ những gia đình giàu có mới sắm được và mặc trongnhững ngày lễ hội, cưới xin
Thoáng nhìn, chiếc áo kru nút của nam giới người M’nông khá giống áo mặc
thường ngày của nam giới người Ê Đê Đó là chiếc áo dài tay, có cổ, xẻ ngực, tà áodài tới bắp đùi
Trang 7+ Cổ áo: Là loại cổ tròn được viền bằng 3 sợi len tơ khâu liền nhau Phần ngực
áo được đắp một tấm vải đỏ dệt bằng sợi len hình thang cầu
+ Tay áo: Dài 50cm, cửa tay rộng 10cm Ở nách và cổ tay áo có đường hoa văn
da con trăn trên nền vải chàm
+ Nơi khuỷu tay có đính một miếng vải màu trắng hình chữ nhật 6*10cm
+ Áo gồm 4 thân: Hai thân trước dài 66cm có 2 dải hoa văn hình da con trănchạy suốt từ vai xuống gấu áo Hai thân sau dài hơn thân trước 4cm Ở 4 góc của tà
áo trước và sau có đính miếng vải hình tam giác vuông màu trắng Áo xẻ tà 2 bêndài 16cm, người M’nông gọi là đuôi chim én Đây là áo nam giới người M’nôngtrước đây thường mặc Ngày nay, loại áo này hầu như ít thấy vì đồng bào khôngdệt nữa
- Khố: Là loại khố chỉ những gia đình giàu có, khá giả mới sử dụng Tuy nhiên,
họ ít dùng trong sinh hoạt hàng ngày, chủ yếu dùng trong hội lễ, lễ cúng trâu,cúngvoi hay cúng Yàng (trời)
Khố là 1 loại khổ vải nền xanh đen dài 58cm, rộng 26cm Sự khác biệt giữa khốmặc ngoài đời thường và trong lễ hội là ở hai đầu loại khố mặc trong lễ hội có đínhhạt cườm màu trắng chạy suốt bề rộng của khố
Trên nền vải màu xanh đen của thân khố dệt các chữ màu trắng, đỏ Ở hai mépkhố dệt 2 mảng hoa văn bằng chỉ trắng-đỏ trên nền đen-đỏ, mỗi bên 6 hàng nhưngkhông rõ là hình dáng gì
Hai đầu khố, mỗi đầu có một mảng hoa văn rộng 5cm, chủ yếu là các chữ màutrắng, xanh, đỏ, hồng, hoa văn hình móc câu hay hoa văn hình tam giác
Ngày nay, nam giới M’nông không còn mặc khố nữa mà thay vào đó họ mặcquần, áo như người Kinh
4.2 Về Ẩm thực:
Người M’nông Gar, M’nông Chil ngoài cách nấu cơm bằng nồi đất nung, đồng
bào còn có thói quen ăn cháo chua vào bữa trưa Khi đi làm rấy, cháo chua thườngđược đựng trong trái bầu khô mang theo
Thức ăn thông thường của đồng bào là muối ớt, cá khô, thịt thú săn được và cácloại rau rừng…
Trang 8Canh nấu bằng ống tre: Là món ăn bổ dưỡng và độc đáo của đồng bào người
M’nông Nguyên liệu chủ đạo là nhiều loại rau củ, cá suối, bột bắp và lá nhíp đượcnấu với nhau
Cơm lam: Cơm lam là món được nhiều người ưa thích Trước khi nấu, đồng bào
thường ngâm cho gạo mềm sau đó mới cho vào ống nứa, lấy lá chuối nút lại sau đóđặt lên bếp khi ăn, có thể cầm cả ống cơm lam, tách phần nứa còn bám vào để lấycơm ăn cắt thành từng khúc Nhưng khi ăn cơm lam, khách tự bóc lấy sẽ thú vịhơn
Đối với đồng bào thì da các loại thú như nai, lợn rừng, trâu cũng là những mónđặc sản người ta lấy da, để nguyên cả long, thái từng miếng dài và phơi thật khôrồi treo lên giàn bếp để dành Khi cần ăn, lấy xuống đốt cháy rồi đập cho mềm, cạosạch long và phần ám khói, thái nhỏ và bỏ vào nồi nấu lúc da chin mềm, người ta
bỏ vào các gia vị và rau rừng thịt nấu trong ống cũng có hương vị rất hấp dẫn, nhất
là bộ long trâu, bò, heo, dê làm sạch cho vào ống, thịt cứng săn lại, khô, thơm ngàongạt, không hề có mùi tanh hôi
Cá nướng trong ống nứa: Đây cũng là món ăn phổ biến của nhiều tộc người trong
các dịp lễ tết cá thường được nướng chín rồi xông khô, bỏ vào ống nứa trên giànbếp rồi cũng được chế biến như thịt khô Ngoài ra cá được nướng trong ống chođến khi cá khô như được phơi rồi để dành ăn dần
Trong các dịp lễ hội, nhất là lễ cưới, ngoài việc ủ rượu cần, đồng bào còn làmnhiều ống cơm rượu để đãi khách Cơm rượu được làm bằng nếp huyết hay nếpthan Khi nấu cơm nếp trộn men vào rồi cho vào ống tre để vài ngày cho lên menthành cơm rượu cơm rượu ống tre có vị thơm, ngọt, ăn nhiều có thể bị say nhẹ nhưngười uống rượu
Canh thụt: Người M’nông còn có món canh thụt nguyên liệu cho món canh thụt
là gạo, lá rau rừng, lá sắn, lá ớt nhưng để đầy đủ và đủ vị thì phải có lá bép, đọtmây, cà đắng canh có thể được nấu với thịt rung tươi hoặc khô nhưng thường thấyhơn cả là nấu với cá suối hoặc với ếch nhái, đặc biệt là chúng đều không được làmruột các gia vị kèm theo là mắm, ớt, muối, sau này có thêm mì chính Khi nấungười ta cho tất cả vào ống lồ ô rồi để nghiêng trên bếp lửa để nấu đặc trưng chomón này là phải dung một chiếc que tre có chiều dài hơn ông để thụt cho nguyênliệu nhuyễn và trộn đều với nhau trước và trong khi nấu nên vì vậy người ta mớigọi là canh thụt
4.3 Nhà ở người M’nông:
Trang 9Về nhà ở, người M’nông có 2 loại hình: Nhà sàn và nhà đất (nhà trệt) Nhà sànphổ biến hơn nhà đất.
- Nhà sàn:
Về cấu trúc gần giống với cấu trúc nhà Ê Đê
Những nhóm canh tác ruộng nước là chủ yếu, sống định cư ở vùng chân núi, chịuảnh hưởng nhiều nếp sinh hoạt của đồng bào Ê Đê như M’nông Rlăm, M’nôngChil, M’nông Kuênh, điển hình là nhóm M’nông Rlăm ở ven hồ Lak thì ở nhà sàn.Không chỉ phục vụ sinh hoạt mà còn giúp phòng tránh những đe dọa của tự nhiên(thú dữ, lũ quét )
Bộ khung của ngôi nhà cũng hình thành trên cơ sở các vì cột Do vậy bộ khungvới bộ nóc là hai bộ phận riêng biệt nóc úp trên bộ khung cột Mỗi vì cột nhà chỉ
có: 2 cột (kmek), 1 quá giang (êđa) và các vì cột chung nhau hai đòn tay cái dặt ở
hai đầu cột
Kết cấu mặt sàn: Dưới cùng là các dầm ngang đặt trên các dầm ngang là các dầmdọc, phía trên đặt mộ , lớp cây nhỏ song song với các dầm ngang ở bên dưới trêncùng là lớp dát sàn Bộ sườn của mái, lớp dưới là các kèo giả Trên kèo là các đòntay Trên nữa là đến rui rồi đến mè, trên cùng là lớp cỏ tranh
Nhà có hai mái chính, nhưng có nhà có thêm mái phụ ở hai đầu hồi thụt sâu vàohai mái chính để tránh mưa hắt vào nhà
Mặt bằng sinh hoạt: Trước cửa nhà của người M’nông có 1 cửa dùng chungnhưng có hai cầu thang (cầu thang lớn có tạc hình đôi bầu vú dành cho phụ nữ, còncầu thang nhỏ hơn dành cho nam giới) Thang được đặt vào sân sàn Thang thường
là những thân gỗ được đẽo thành bậc để lên xuống
Trên mặt bằng sinh hoạt chia làm hai phần theo chiều ngang: Từ cửa trước vàokhoảng trên hai gian là phần gah, phần này rộng và là khoảng không gian để tiếpkhách và dành cho sinh hoạt chung của cả nhà dài Trong gah có cột khách, đốidiện cột khách là cột chiêng, cột thứ 3 là cột ngăn, giới hạn giữa không gian củaphần gah và phần ok
Phần ôk chia đôi theo chiều dọc, về phía bên trái được coi là “trên”, phần đối diện
là phần dưới phần trên chia thành nhiều phòng nhỏ Phần cuối của phần ôk là của
vợ chồng chỏ nhà, tiếp là phòng để đò đồng, ché, ú Đồng thời cũng là phòng củacon gái út Tiếp nữa là phòng dành riêng cho từng cặp vợ chồng của em gái vợ
Trang 10hoặc các con gái của chủ nhà Phần dưới là một hành lang thông thoáng để đi lại dễdàng.
- Nhà đất:
Những nhóm người “làm nương” là chủ yếu, sống trên vùng cao thì ở nhà đấtnhư : M’nông Gar, M’nông Nông, M’nông Prăng, Preh mà điển hình là nhómM’nông Gar còn giữ được nhiều nếp sinh hoạt cổ truyền
Cũng như nhà của nhiều cư dân khác ở Tây nguyên, nhà người M’nông chỉ có vỉcột không có vỉ kèo Mỗi vỉ chỉ có 2 cột chính Mỗi căn hộ trong nhà đều có 1 khothóc Mặt sàn của kho thóc được giới hạn bởi 4 cột thuộc 2 vỉ cột của một gian.Sàn kho thóc cách mặt đất chừng hơn một sải tay Dưới gầm kho thóc đặt bếp
Về tổ chức mặt bằng sinh hoạt: Nếu nhà chỉ có 1 hộ, thì người ta làm nhà haigian hai chái Chái thường rất hẹp khoảng 1 mét Gian thứ nhất là nơi có kho thóc,bếp nấu ăn, chỗ nằm của vợ chồng chủ nhà và còn là nơi để đồ ăn thức đựng cácthứ lặt vặt khác Gian thứ hai giành cho khách, gian này bao giờ cũng rộng hơn cácgian khác Nơi đây có bếp phụ Trên sạp nằm có vách ngăn với gia chủ
Với nhà có 2 hộ thì hai gian chủ đặt ở phía hai đầu nhà Hai gian khách ở giữa.Cách bố trí trên sạp nằm thuộc phạm vi sử dụng của từng hộ
4.4 Phương tiện đi lại, phương tiện vận chuyển
Người M’nông giống như các dân tộc khác như Xtiêng, Chơro, Mạ, vốn là cưdân sống ở phía Nam cao nguyên Trung Bộ, với nền kinh tế nương rấy và gắn bóvới núi rừng là chủ yếu nên phương tiện vận chuyển chủ yếu là chiếc gùi được đan
và tạo hình với đặc trưng khác nhau Chiếc gùi được dung để vận chuyển hoa màu,lương thực, lâm thổ sản và nhiều vật dụng trong lao động và cuộc sống thườngnhật tùy từng chức năng vận chuyển mà gùi được đan với kỹ thuật dày, thưa khácnhau Gùi để vận chuyển đi xa thường được đan công phu và trang trí hoa văn Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng ngườiMnông voi là người bạn thân thiết chiếm vị trí quan trọng trong đời sống củađồng bào M’nông Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc
4.5 Văn hóa mưu sinh
Về nông nghiệp:
Người M’nông là cư dân nông nghiệp từ lâu đời, người M’nông làm rẫy là chính.Trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp (đao canh hỏa chủng), phát, đốt, rồi