Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên và báo hiệu khả năng có thể sinh sản của lợn nái ở các lứa tiếp theo.. Việc xác định thời gian phối giống thích hợp
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN Ỉ NUÔI TẠI KHU 2 CÔNG TY TNHH LỢN GIỐNG DABACO LƯƠNG TÀI,
HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
Người thực hiện : THÂN VĂN HỘI
Mã sinh viên : 610177
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI - THÚ Y
Người hướng dẫn : TS HÀ XUÂN BỘ
HÀ NỘI - 2021
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Các số liệu mà tôi thu thập trong quá trình thực tập là do tôi trực tiếp theo dõi, ghi chép và thu thập Các số liệu thu thập là trung thực, khách quan và chưa được công bố ở bất kỳ báo cáo nào trước đó Các trích dẫn trong báo cáo có nguồn gốc cụ thể rõ ràng, chính xác
Bắc Ninh, Ngày 25 tháng 2 năm 2021
Sinh viên
Thân Văn Hội
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trải qua 4 năm học tập và rèn luyện tại Học Viên Nông Nghiệp Việt Nam, tôi đã được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo đã giúp đỡ tôi tích lũy kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp cũng như đạo đức và tư cách cảu một kỹ sư trong tương lai
Để hoàn thành được bản khoá luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc, tận tình chỉ bảo của thầy TS
Hà Xuân Bộ và PGS.TS Đỗ Đức Lực, Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể anh chị, cô chú kỹ thuật, công nhân trong trang trại Dabaco Lương Tài đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể tiếp cận thực tế, thu thập số liệu, hoàn thành nội dung của đề tài
Bản thân tôi tự nhận thấy mình còn nhiều thiếu sót về kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nên bài khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong sẽ nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để tôi có điều kiện bổ sung và nâng cao kiến thức, phục
vụ tốt cho công tác sau này
Cuối cùng cho tôi xin phép gửi lời cảm ơn tới tất cả những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành công việc trong thời gian học tập của mình
Bắc Ninh, Ngày 25 tháng 2 năm 2021
Sinh viên
Thân Văn Hội
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ vi
TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giống lợn Ỉ 3
1.1.1 Nguồn gốc 3
1.1.2 Đặc điểm ngoại hình 3
1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng 4
1.1.4 Khả năng sinh sản 4
1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 4
1.2.1 Sự thành thục về tính 4
1.2.2 Sự thành thục về thể vóc 6
1.2.3 Chu kì tính 7
1.2.4 Cơ chế động dục 9
1.2.5 Giai đoạn mang thai 11
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá và yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 11
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái 11
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 17
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 22
Trang 61.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng và thời gian thực hiện 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Quy mô đàn lợn Ỉ từ năm 2016 đến 2020 28
3.2 Quy trình chăn nuôi và kỹ thuật lợn Ỉ tại công ty 30
3.3 Năng xuất sinh sản của đàn lợn Ỉ 34
3.3.1 Năng suất sinh sản của lợn Ỉ phối thuần 34
3.3.2 Năng suất sinh sản của lợn Ỉ phối thuần qua các lứa đẻ 39
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC 52
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Quy mô đàn lợn Ỉ qua các năm từ 2016 đến 2018 (con) 28
Bảng 3.2 Quy mô đàn lợn Ỉ năm 2019 – 2020 (con) 29
Bảng 3.3 Khẩu phần ăn của lợn Ỉ 31
Bảng 3.4 Quy trình vacxin cho Lợn Ỉ 33
Bảng 3.5 Quy trình vacxin cho lợn Ỉ con 34
Bảng 3.6 Năng suất sinh sản của lợn Ỉ phối thuần 34
Bảng 3.7 Năng suất sinh sản của lợn Ỉ phối thuần lứa 1 39
Bảng 3.8 Năng suất sinh sản của lợn Ỉ phối thuần lứa 2 40
Bảng 3.9 Năng suất sinh sản của lợn Ỉ phối thuần lứa 3 40
Trang 8DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Hình ảnh giống Lợn Ỉ 4 Hình 3.1 Mô hình một ô nuôi lợn Ỉ 30 Biểu đồ 3.1 số con sơ sinh và số con để nuôi qua các lứa đẻ 42 Biểu đồ 3.2 Khối lượng sơ sinh/con và khối lượng sơ sinh/ổ qua các lứa đẻ 43
Trang 9TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên tác giả: Thân Văn Hội Mã sinh viên: 610177
Tên đề tài: Năng suất sinh sản của lợn nái Ỉ nuôi tại khu 2 Công ty TNHH
lợn giống Dabaco Lương Tài, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Các nội dung nghiên cứu:
- Một số đặc điểm sinh học của lợn Ỉ
- Tình hình chăn nuôi trong trang trại (Công ty)
- Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn Ỉ được nuôi tại trang trại
Cách tiến hành thí nghiệm:
- Thu thập số liệu ghi chép về năng suất sinh sản của lợn nái Ỉ từ lứa 1 đến lứa 3, thông qua sổ sách ghi chép được lưu trữ tại Công ty TNHH lợn giống Dabaco Lương Tài - Bắc Ninh
- Theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái Ỉ trong thời gian thực hiện khoá luận tốt nghiệp từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 12 năm
2020
+ Với các chỉ tiêu số lượng: Đếm số lượng lợn con sơ sinh sống, số con để nuôi và số con cai sữa ở từng thời điểm cần theo dõi
+ Với các chỉ tiêu khối lượng: Cân xác định khối lượng toàn ổ lợn con
ở các thời điểm sơ sinh và cai sữa Cân lợn bằng các loại cân đồng hồ có độ chính xác 0,1 kg
Trang 10Kết quả chính và kết luận:
- Việc phục tráng và bảo tồn giống lợn Ỉ qua những năm qua của Công
ty bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định với tổng đàn lợn Ỉ từ khi được bàn giao cho công ty với 7 con (năm 2016) đã thích nghi và phát triển tốt trong điều kiện chăn nuôi của công ty, tăng lên 15 con (năm 2017), 72 con (năm 2018), 238 con (năm 2019) và đạt 390 con năm 2020
- Năng suất sinh sản của lợn Ỉ được nuôi tại khu 2 của Công ty TNHH lợn giống Dabaco Lương Tài, Bắc Ninh đạt mức thấp với các chỉ tiêu cụ thể như sau:
Số con sơ sinh: 9,29 con
Số con để nuôi: 8,67 con
Tỷ lệ sơ sinh sống: 90,68 %
Khối lượng sơ sinh ổ: 4,63 kg/ổ
Khối lượng sơ sinh/con: 0,5 kg/con
Thời gian cai sữa: 36,43 ngày
Số con cai sữa: 7,91 con
Tỷ lệ cai sữa: 90,04%
Khối lượng cai sữa/ổ: 50,28 kg/ổ
Khối lượng cai sữa/con: 5,14 kg/con
Trang 111
PHẦN MỞ ĐẦU ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua được sự đầu tư và áp dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi và xu thế hòa nhập với nền kinh
tế thị trường mà ngành chăn nuôi lợn nói riêng đã có những bước tiến đáng
kể trong lĩnh vực về con giống, thức ăn và thuốc thú y Đặc biệt những tiến
bộ lớn trong việc áp dụng những quy trình lai tạo giống, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đã mang lại những thành công đáng kể trong ngành chăn nuôi
Nhằm phát triển số lượng và cải thiện chất lượng gống lợn, đã có nhiều công trình nghiên cứu các giống lợn đều có xu hướng tăng số con sơ sinh sống/ổ, nâng cao khả năng sinh trưởng, giảm chi phí thức ăn cho mỗi
kg tăng khối lượng và nâng cao tỷ lệ và chất lượng thịt nạc giảm chi phí thức ăn, tiết kiệm thời gian nuôi, bảo tồn được nguồn gen
Nhưng hiện nay, yêu cầu về số lượng sản phẩm không còn quá gay gắt Mặt khác số lượng lợn nội với nguồn gen quý đang đứng bên bờ vực tuyệt chủng Riêng giống lợn đã có trên 20 giống được công bố, mỗi vùng, mỗi địa phương đều có giống lợn đặc trưng của vùng mình, ví dụ như: giống lợn Móng Cái ở Quảng Ninh; lợn Lũng Pù ở Hà Giang; lợn Kiềng sắt
ở Quãng Ngãi; lợn Mường Khương ở Lào Cai; lợn Ỉ ở Nam Định; lợn Mẹo
ở Nghệ An Lợn Ỉ và lúa nước luôn gắn liền với người nông dân đồng bằng Bắc Bộ nói chung và đời sống người Việt trong suốt hàng nghìn năm qua Thế nhưng giống lợn Ỉ lại đang bên bờ vực tuyệt chủng
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành triển khai
nghiên cứu đề tài: “NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN Ỉ NUÔI TẠI KHU 2 CÔNG TY TNHH LỢN GIỐNG DABACO LƯƠNG TÀI, HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH”
Trang 12MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được năng suất sinh sản của lợn Ỉ được nuôi tại trại
- Định hướng phát triển giống lợn này ra khắp người dân nhằm duy trì
và phát triển
Yêu cầu của đề tài
- Nắm được một số đặc điểm sinh học và năng suất sinh sản của lợn
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIỐNG LỢN Ỉ
1.1.1 Nguồn gốc
Lợn ỉ là một giống lợn địa phương ở miền Bắc Việt Nam, ngày nay ít được nuôi do hiệu quả kinh tế không cao và đang có nguy cơ tuyệt chủng Trong các năm từ 2001-2003, tại khu vực này có 50 lợn ỉ cái và bốn lợn đực giống được bảo tồn thì đến năm 2007 chỉ còn 30 lợn cái và bốn lợn đực
1.1.2 Đặc điểm ngoại hình
Lợn Ỉ: lông da đen bóng, đa số có lông nhỏ thưa, một số có lông rậm Đầu hơi to, khi béo thì có nọng cổ và má sệ từ khi lợn khoảng 5 – 6 tháng tuổi Vai nở, ngực sâu, lưng võng khi béo thì ít võng hơn, bụng to, mông lúc nhỏ hơi lép cúp về phía sau và nở dần khi trường thành Lợn thịt hoặc hậu bị thì hài chân trước tương đối thẳng, hai chân sau hơi nghiêng Lợn nái thì nhiều con đi vòng kiềng hoặc chữ bát
Lợn Ỉ có nhiều loại hình trong đó phổ biến là Ỉ mở và Ỉ pha
mõm to bè và ngắn, môi dưới thường đài hơn môi trên, lợn nái càng già mõm càng dài và cong lên nhưng luôn ngắn hơn Ỉ pha Thân mình ngắn hơn Ỉ pha, chân thấp hơn Ỉ pha
Lợn ỉ pha: Đầu to vừa phải, trán gần phẳng, mặt ít nhăn , măt lúc nhỏ
và gầy thì bình thường nhưng khi béo thì híp Mõm to và dài vừa phải, lợn nái càng già mõm càng dài và cong lên Từ 8 – 9 tháng vai bằng hoặc lớn hơn mông Thân mình dài hơn so với ỉ mỡ, chân thấp.
Trang 14Hình 1.1 Hình ảnh giống Lợn Ỉ 1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng
Giống lợn Ỉ có thịt ít, mỡ nhiều (tỉ lệ nạc chỉ đạt 36% trong khi mỡ chiếm đến 54%) Nuôi lợn Ỉ cả năm cũng chỉ đạt 40–50 kg, trong khi giống lợn thịt nuôi sáu tháng đã đạt 70 – 80 kg
1.1.4 Khả năng sinh sản
Lợn Ỉ đực nhảy cái rất sớm ngay từ lúc 3-4 tuần tuổi, đến 40 ngày tuổi tinh trùng và trứng đã có khả năng thụ thai tuy xét theo cơ thể học thì sáu tuổi lợn mới trưởng thành Lợn Ỉ cái có 10 nhũ, 4-5 tháng tuổi đã động dục, khả năng sinh sản 8 - 10 con/nái/lứa
1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC CỦA LỢN NÁI
1.2.1 Sự thành thục về tính
Sự thành thục về tính là khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và
có khả năng sinh sản Một cơ thể thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể đã phát triển căn bản hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố, các kích thích bên ngoài (nhiệt độ, ánh sáng, mùi, ) con vật xuất hiện các hiện tượng hưng phấn sinh dục, biểu hiện rõ nhất là lần động dục đầu tiên Lúc đó, ở con cái các noãn bào chín và tế bào trứng rụng Một hai lần động dục đầu tiên thì trứng rụng ít, vì vậy ta thường bỏ qua một đến
hai lần động dục đầu
Trang 15- Chế độ dinh dưỡng:
Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục
về tính của lợn cái Xét khi con vật trong cùng một giống, thường thì lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng ở điều kiện dinh dưỡng tốt thì có tuổi thành thục về tính sớm hơn so với lợn được chăm sóc, nuôi dưỡng ở điều kiện dinh dưỡng kém
Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự kích dục tố, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục, gây tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hormone oestrogen và progesterone trong máu làm hàm lượng của chúng trong cơ thể không phù hợp thúc đẩy sự thành thục
- Mùa vụ và thời gian chiếu sáng:
Sự khác biệt về mùa vụ cũng ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu – đông, điều đó
có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Mùa đông có thời gian chiếu sáng ngắn và mùa hè thì ngược lại Nếu lợn cái được chiếu sáng 12 giờ/ngày sẽ động dục sớm hơn những con được chiếu sáng trong ngày ngắn
Trang 16- Điều kiện ngoại cảnh:
Tiểu khí hậu chuồng nuôi cũng ảnh hưởng đến sự thành thục về tính của lợn nái Tiểu khí hậu chuồng nuôi phụ thuộc vào lượng phân trong chuồng và sự trao đổi không khí trong chuồng Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự thành thục về tính, nếu nhiệt độ quá thấp sẽ ảnh hưởng đến sự phát dục, nhiệt độ cao lại gây trở ngại cho biểu hiện chịu đực, giảm mức ăn và tỉ lệ rụng trứng
Lợn nái hậu bị nuôi ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường
sẽ thành thục về tính sớm hơn so với lợn nái hậu bị nuôi ở vùng ôn đới và hàn đới
- Mật độ nuôi nhốt:
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt với mật độ cao trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Tuy nhiên, nếu nuôi tách biệt từng cá thể cũng sẽ làm chậm sự thành thục về tính so với nuôi nhốt theo nhóm
Ngoài ra yếu tố đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn nái hậu bị Nếu nái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn so với nái hậu bị không được tiếp xúc với đực giống Theo Hughes & Jeme (1996) lợn nái hậu bị từ 90 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15-20 phút thì tới 83% lợn nái hậu bị sẽ động dục lần đầu
Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên và báo hiệu khả năng có thể sinh sản của lợn nái ở các lứa tiếp theo
1.2.2 Sự thành thục về thể vóc
- Thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, xương đã được cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn tuổi thành thục về tính Lúc này, cơ quan sinh dục và sự sinh trưởng, phát dục của cơ thể chưa hoàn
Trang 17chỉnh vì thế không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn nái nội 7 – 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 – 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi
được 8 – 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 – 110 kg nên cho phối
- Khi lợn cái đã thành thục đầy đủ về tính đồng thời với sự thành thục về thể vóc ở mức độ nhất định, đây là lúc phối giống thích hợp nhất Việc xác định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái nhằm tăng thời gian nuôi hữu ích (giảm thời gian không sản xuất trước khi đẻ lứa đầu)
không làm ảnh hưởng đến năng suất của con vật ở giai đoạn sau
Khoảng thời gian này giữa các giống khác nhau không có sự khác nhau nhưng tuổi và chế độ chăm sóc có ảnh hưởng tương đối rõ Lợn còn non thời gian chu kỳ động dục ngắn hơn lợn trưởng thành
Mỗi chu kỳ sinh dục của lợn nái được chia làm 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục (1 – 2 ngày), giai đoạn động dục (2 – 3 ngày), giai đoạn sau động dục (3 – 4 ngày) và giai đoạn yên tĩnh (12 – 14 ngày)
- Giai đoạn tiền động dục
Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 ngày Đường sinh dục có những biến đổi khác thường, noãn bao phát triển và nổi lên trên bề mặt buồng trứng và tăng tiết oestrogen Dưới ảnh hưởng của oestrogen, cơ quan sinh dục có những biến đổi như: Tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh có nhiều nhung mao để đón trứng, đường sinh dục xung huyết, các dịch nhầy ở âm đạo nhiều, niêm dịch tiết ra, cổ tử cung hé mở, bộ phận sinh dục phù thũng,
Trang 18niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều, con vật bỏ ăn, bồn chồn, kêu rít thích nhảy lên lưng con khác… bên trong buồng trứng có một số noãn bao phát triển nổi lên trên bề mặt buồng trứng
- Giai đoạn động dục
Thời gian của giai đoạn này phụ thuộc vào tuổi, giống, chế độ chăm sóc quản lý, thông thường chỉ kéo dài 2 – 3 ngày, là giai đoạn quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai Trong giai đoạn này những biến đổi bên ngoài cơ thể càng thể hiện rõ ràng hơn Âm hộ xung huyết, niêm mạc trong suốt, niêm dịch chảy nhiều Cuối giai đoạn này lợn hưng phấn cao độ, ở trạng thái không yên tĩnh, giảm khả năng thu nhận thức ăn, chạy, kêu phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác Thích gần con đực, có các phản xạ giao phối: hai chân sau dạng ra, đuôi cong về một bên (biểu hiện ở lợn nội rõ hơn lợn ngoại)
Ở giai đoạn này nếu được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại do sự tồn tại của thể vàng và chu kỳ sẽ xuất hiện trở lại sau một thời gian con vật đẻ xong Nếu con cái không thụ thai thì sẽ chuyển sang giai đoạn kế tiếp Giai đoạn này gồm 3 thời kỳ liên tiếp là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực
- Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn sau động dục kéo dài 3 – 4 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung
và cơ quan sinh dục nói riêng dần dần được khôi phục về trạng thái sinh lý bình thường Tất cả mọi phản xạ động dục, tính hưng phấn mất hẳn và chuyển sang giai đoạn yên tĩnh
- Giai đoạn yên tĩnh
Giai đoạn này kéo dài khoảng 10 – 12 ngày, đây là giai đoạn dài nhất
và tùy thuộc vào sự tồn tại của thể vàng, khi thể vàng tiêu biến thì chu kỳ động dục mới lại bắt đầu
Trong thực tế còn gặp trường hợp lợn cái động dục bất thường như động dục ngầm và hiện tượng lưỡng tính Động dục thầm lặng là hiện tượng
Trang 19lợn đến chu kỳ động dục nhưng không có các biểu hiện động dục rõ ràng làm cho người nuôi khó nhận biết (chu kỳ này thường kéo dài 36 – 45 ngày) Hiện tượng lưỡng tính này, cơ quan sinh dục bên ngoài của lợn cái bình thường nhưng có những hành động giới tính thường xuyên do con vật bị rối loạn hocmon hoặc con cái ít cho con đực nhảy lên (trường hợp này phải loại bỏ sớm)
- Thời gian phối giống thích hợp
Dựa vào chu kỳ tính, sự vận động và tồn tại của tinh trùng trong đường sinh dục cái để xác định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái
Hiện nay người chăn nuôi thường áp dụng phương pháp phối nhiều lần, nhất là trong thụ tinh nhân tạo, lần trước cách lần sau khoảng 12 giờ và
có thể phối tới 3 lần cho một lợn nái khi động dục, nhất là đối với lợn ngoại Bằng cách này không chỉ làm tăng tỷ lệ thụ thai từ 5 – 8% mà có thể tăng được khoảng 0,4 con/lứa (ITP, 2000)
1.2.4 Cơ chế động dục
Chu kỳ động dục của lợn nái được điều khiển bởi thần kinh và hormone vùng dưới đồi (Hypothalamus), tuyến yên, buồng trứng theo cơ chế điều hòa ngược Khi các nhân tố ánh sáng, dinh dưỡng, nhiệt độ, mùi vị… được con vật nhận biết qua các cơ quan thính giác, khứu giác, thị giác, vị giác, tín hiệu được chuyển vào vỏ não và đưa tới vùng dưới đồi Tại đây nó giải phóng ra GnRH (Gonadotropine Release Hormone) GnRH kích thích lên thùy trước tuyến yên giải phóng FSH (Folliculine Stimuline Hormone),
LH (Lutein Hormone) và Prolactine FSH kích thích sự phát triển của buồng trứng, còn LH kích thích quá trình rụng trứng và sự phát triển của thể vàng Tác động đồng thời của FSH và LH làm cho bao noãn chín và rụng trứng Trong quá trình bao noãn phát triển và thành thục, tế bào hạt thượng bì noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Hàm lượng oestrogene trong máu tăng gây hiện tượng động dục, đồng thời dưới tác dụng của
Trang 20oestrogen cơ quan sinh dục biến đổi, tử cung âm đạo hé mở, sừng tử cung ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này Đến cuối chu kỳ của động dục Hormone oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết
LH, giảm FSH Khi LH được tiết ra nó kích thích trứng chín và rụng Progesterone do thể vàng tiết ra trong thời gian mang thai có tác dụng ngăn chặn tử cung co bóp, ức chế noãn bao phát triển, ức chế tuyến yên tiết LH Nếu lợn không có chửa thể vàng tiêu biến, progesterone không sản sinh nữa, tuyến yên tiết FSH, một chu kì mới bắt đầu
Chu kỳ động dục của lợn thường là từ 18 - 22 ngày, thời gian động dục kéo dài 5 - 7 ngày, nhưng thời gian chịu đực thường 2,5 ngày, phối giống trong thời gian này đạt hiệu quả cao nhất Sau khi cai sữa khoảng 3-7 ngày thì lợn nái động dục trở lại tùy thuộc vào thời gian cai sữa lợn con sớm hay muộn
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chu kì động dục
+ Giống: Các giống lợn khác nhau có chu kì động dục khác nhau ở lợn
nội chu kì động dục là 18-20 ngày, lợn ngoại là 18-23 ngày
+ Dinh dưỡng: Nếu dinh dưỡng đầy đủ thì chu kì động dục ổn định
và ngược lại
+ Tuổi: Lợn nái tơ có chu kì động dục ngắn hơn sơ với lợn nái già +Các nhân tố khác: nhiệt độ, chế độ chiếu sang, pheromone, tiếng kêu của con đực
- Hiện tượng động dục giả ở lợn
Động dục giả là hiện tượng lợn nái đã có chửa nhưng bên ngoài vẫn có một số biểu hiện lâm sàng giống như lợn phối giống không chửa và động dục lại Cách phân biệt lợn động dục giả và thật: Lợn động dục giả âm hộ sưng đỏ, dịch nhờn có rất ít, không có phản xạ chịu đực, thời gian động dục ngắn 1-2 ngày, ở lợn bình thường là 3-7 ngày Nếu phát hiện lợn động dục giả cần theo
dõi và đưa ra phương án chăm sóc phù hợp
Trang 211.2.5 Giai đoạn mang thai
Sau khi trứng được thụ tinh, hợp tử hình thành và phát triển cho đến khi lợn con được sinh ra Giai đoạn mang thai thường được kéo dài khoảng
từ 113 – 116 ngày, bình quân là 114 ngày Ở giai đoạn này, được chia thành
3 thời kỳ như sau:
- Thời kỳ phôi thai (từ ngày thứ 1 – 22): Là thời kỳ phát dục mạnh
nhất của bào thai, hình dáng và các cơ quan bộ phận như: đầu, hố mắt, tim, gan được hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh
- Thời kỳ tiền thai (từ ngày thứ 23 – 39): Thời kỳ này bắt đầu hình
thành nhau thai, mối liên hệ giữa phôi thai và tử cung chắc chắn hơn Các khí quan hình thành rõ rệt
- Thời kỳ bào thai (từ ngày thứ 40 đến khi đẻ, 114 ngày): quá trình
trao đổi chất của bào thai diễn ra mạnh mẽ nhất để hoàn thành nốt những
bộ phận còn lại như: da, lông, răng, thể hiện đặc điểm của giống Khi các
cơ quan đã phát triển hoàn chỉnh thì cơ thể mẹ đẩy thai ra ngoài
Trong thực tế để áp dụng kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc, người ta chia giai đoạn chửa thành 2 kỳ: 84 ngày đầu là chửa kỳ 1, 30 ngày sau là chửa
kỳ 2 Cần chú ý việc nuôi dưỡng chăm sóc nái chửa kỳ 2, cung cấp thức ăn
có chất lượng tốt, khẩu phần được chia nhỏ để tránh sự chèn ép gây ảnh hưởng tới thai sẽ dẫn đến thai chết, kém phát triển
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Các chỉ tiêu tổng quát để đánh giá năng suất sinh sản của bản thân lợn nái là số con cai sữa/nái/năm.Các chỉ tiêu về số con cai sữa/nái/năm còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Các yếu tố cấu thành nên năng suất sinh sản của lợn nái: Số con cai sữa/nái/năm, số lợn con cai sữa/lứa, số lứa/nái/năm, hao hụt chăn nuôi, số con đẻ ra sống, thời gian phối sau cai sữa, thời gian
Trang 22mang thai, thời gian bú sữa, tỷ lệ rụng trứng, tỷ lệ trứng thụ tinh, hợp tử chết, khoảng cách giữa cai sữa và động dục, tỷ lệ thụ thai/ không thụ thai, không có khả năng sinh sản
Các chỉ tiêu cụ thể hơn thường được dùng để đánh giá năng xuất sinh sản như:
a) Nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái
Tuổi động dục lần đầu
Là thời gian từ sơ sinh đến khi lợn cái hậu bị động dục lần đầu Tùy theo từng giống và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng khác nhau mà tuổi động dục khác nhau Lợn ngoại có tuổi động dục muộn hơn lợn nội do phụ thuộc và điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý hay không hợp lý.Tuổi động dục lần đầu ảnh hưởng đến tuổi phối giống lần đầu, do đó ảnh hưởng tới thành tích sinh sản của con nái
Tuổi phối giống lần đầu
Khi động dục lần đầu, do cơ thể chưa thành thục về thể vóc, người ta thường không phối giống ngay lần động dục đầu, cho nên tuổi phối giống lần đầu thường từ lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 Vì vậy tuổi phối giống lần đầu thường chậm hơn so với tuổi động dục lần đầu 1-2 chu kì Đây là một chỉ tiêu quan trọng bởi việc phối sớm hay phối muộn đều ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
Tuổi đẻ lứa đầu
Là chỉ tiêu đánh giá khả năng đẻ sớm của lợn nái, vì tuổi đẻ lứa đầu ảnh hưởng tới thời gian sinh sản của lợn nái và cũng ảnh hưởng tới chi phí trong chăn nuôi Những con lợn phối giống lần đầu muộn có thể làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái ở các lứa tiếp theo Hơn nữa tuổi đẻ lứa đầu sớm sẽ làm tăng tiến bộ di truyền, khoảng cách thế hệ ngắn lại và tuổi sinh sản dài hơn Tuy nhiên tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào khối lượng cơ thể và điều kiện ngoại cảnh Như vậy rút ngắn tuổi đẻ lứa đầu sẽ làm tăng thời
Trang 23gian sinh sản của lợn nái Đối với lợn ngoại, tuổi đẻ lứa đầu thường muộn hơn lợn nội do tuổi thành thục về tính cũng muộn hơn Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, kết quả phối giống, thời gian mang thai và các giống lợn (Trần Đình Miên, 1997)
Thời gian mang thai
Là khoảng thời gian tính từ khi lợn phối giống có chửa đến khi đẻ Thời gian mang thai của lợn nằm trong khoảng 109-118 ngày, trung bình
114 ngày Gồm 2 kì: chửa kì 1 và chửa kì 2, ở các kì chế độ chăm sóc nuôi dưỡng là khác nhau Thời gian mang thai không chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi lợn nái hoặc mùa vụ
Thời gian cai sữa
Thời gian cai sữa (thời gian nuôi con) dài hay ngắn thể hiện trình độ,
kỹ thuật chăn nuôi Cai sữa sớm cho lợn con sẽ giúp rút ngắn khoảng cách lứa đẻ, giảm sự hao hụt ở lợn mẹ, tăng số lứa đẻ/nái/năm
Thời gian động dục trở lại
Là khoảng thời gian tính từ khi cai sữa đến khi phối giống có chửa,
số ngày phối giống có chửa sau khi cai sữa thường là 4-7 ngày Chỉ tiêu này phụ thuộc vào tỷ lệ hao hụt của lợn nái, trình độ kĩ thuật, chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái khi nuôi con và nái chờ phối Một trong những biện pháp nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái là cai sữa sớm cho lợn con, nhưng thời gian cai sữa sớm cho lợn con phụ thuộc vào thời gian động dục trở lại sau cai sữa của lợn mẹ Thời gian động dục trở lại sau cai sữa không giống nhau giữa các giống Nhiều thí nghiệm đã chỉ ra rằng, thời gian từ lúc đẻ đến lúc cai sữa càng dài thì thời gian động dục của lợn mẹ càng ngắn, số trứng rụng trong một lần động dục càng cao (Gunsett & Robison, 1990)
Việc rút ngắn khoảng cách lứa đẻ bằng cách cai sữa sớm cho lợn con
là một biện pháp làm tăng số lứa đẻ/nái/năm
Trang 24 Khoảng cách hai lứa đẻ
Là khoảng thời gian tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày đẻ lứa sau,
do đó được tính bằng tổng: Thời gian mang thai, thời gian nuôi con, thời gian chờ phối có chửa Khoảng cách lứa đẻ của nái hậu bị ngắn hơn nái rạ Khoảng cách lứa đẻ bị tác động bởi các yếu tố như dinh dưỡng, thời tiết, thời gian nuôi con, thời gian chờ phối có chửa Khoảng cách lứa đẻ quyết định năng suất sinh sản của nái, số lứa/nái/năm (Phan Văn Danh, 2017) Để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ, ta có thể tác động vào hai yếu tố là thời gian nuôi con và thời gian chờ phối có chửa rút ngắn hơn bằng các biện pháp như: cho lợn con tập ăn sớm hơn, tách lợn con sớm hơn, bổ sung các dinh dưỡng cần thiết để lợn nái động dục lại sớm hơn, phối giống đúng thời điểm, chính xác Tuy nhiên, trong các yếu tố thì thời gian mang thai tương đối ổn định và không thay đổi được (Vũ Đình Tôn, 2009)
Số lứa/nái/năm
S
Đây là chỉ tiêu quan trọng, nó được coi như một hệ số đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Số lứa đẻ/nái/năm phụ thuộc vào khoảng cách lứa đẻ Khi khoảng cách lứa đẻ cao thì số lứa đẻ/nái/năm thấp và ngược lại Việt Nam hiện nay có số lứa/nái/năm trung bình khoảng 2,1-2,35 và nếu quản lý tốt hơn thì hệ số này có thể tăng từ 2,45-2,55 (Phan Văn Danh, 2017)
b) Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái
Số con sơ sinh/ổ
Là tổng số con đẻ ra trên một lứa gồm cả số con sống và số con chết Chỉ tiêu này đánh giá khả năng mang thai, mức độ sai con của giống
Số con sơ sinh sống/ổ
Là số con sơ sinh sống đến 24 giờ kể từ khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối với lợn nội 0,5
kg đối với lợn ngoại
Trang 25 Số con cai sữa/ổ
Là số con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn tuỳ thuộc vào điều kiện của từng cơ sở và thể trạng lợn mẹ Trong thực tế người ta thường cai sữa khi lợn con được 21 ngày, hoặc 28 ngày tuổi nhưng cũng có thể là ngắn hơn nhiều nơi cai sữa ở 14 ngày tuổi Đây là chỉ tiêu rất quan trọng thể hiện trình độ chăn nuôi lợn nái sinh sản Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tố hiệu quả kinh tế của quá trình chăn nuôi Thời gian cai sữa tùy thuộc trình độ chăn nuôi bao gồm kĩ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng bệnh, số lợn con cai sữa/lứa đẻ thùy thuộc kĩ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con, nuôi lợn con theo mẹ cũng như khả năng tiết sữa của lợn mẹ và khả năng phòng chống bệnh tật của lợn con
c) Nhóm chỉ tiêu về khả năng nuôi thai nuôi con
Khối lượng sơ sinh trung bình/ổ
Là khối lượng toàn ổ cân được sau khi lợn con sinh ra được lau khô, cắt rốn và chưa bú sữa đầu Chỉ tiêu này cho chúng ta biết được đặc điểm
về giống và khả năng nuôi thai của lợn mẹ
Khối lượng sơ sinh trung bình/con
Là khối lượng từng con sau khi lợn con sinh ra được lau khô, cắt rốn
và chưa bú sữa đầu Chỉ tiêu này cho ta biết được khả năng nuôi thai cũng như mức độ đồng đều của lợn sơ sinh
Trang 26 Khối lượng cai sữa trung bình/ổ
Khối lượng của toàn ổ cân lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ của người chăn nuôi
Khối lượng cai sữa trung bình/con
Khối lượng của từng con lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh trưởng của từng con và khả năng nuôi con của lợn mẹ
Tỷ lệ sống sơ sinh
Đây là tỷ lệ đánh giá sức sống của lợn con sơ sinh Tỷ lệ này được tính đến 24h sau đẻ theo công thức như sau
Tỷ lệ sơ sinh sống(%) = Số con sơ sinh sống đến 24 giờSố con đẻ ra sống x 100
Tỷ lệ này không đảm bảo được 100% do nhiều nguyên nhân như lợn con chết khi đẻ ra, thai gỗ, thai non
Tỷ lệ sống đến cai sữa
Tỷ lệ sống đến cai sữa đánh giá được khả năng tiết sữa và nuôi con của lợn mẹ, được tính bằng công thức sau:
Tỷ lệ sống đến cai sữa(%) = Số con sống đến cai sữaSố con để nuôi x 100
Độ đồng đều của đàn con
Độ đồng đều của lợn con = Khối lượng con nhỏ nhấtKhối lượng con lớn nhất x 100
Tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa
TTTĂ/1kg lợn cai sữa (kg) = Tổng thức ăn tiêu thụ/ổKhối lượng cai sữa/ổ
Tổng thức ăn = Thức ăn lợn nái + Thức ăn tập ăn
Thức ăn lợn nái = Thức ăn chờ phối + Thức ăn mang thai + Thức ăn nuôi con
Trang 271.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
a) Ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Đây là yếu tố trước hết liên quan đến giống, mà giống lại có ảnh hưởng lớn nhất đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Các giống lợn nái khác nhau có khả năng sinh sản rất khác nhau Điều này được thể hiện qua
số lượng và khối lượng lợn con đẻ ra mỗi lứa, qua khả năng mắn đẻ
Hiện nay, các giống lợn có thể được xếp thành bốn nhóm chính như sau:
- Các giống lợn đa dụng như giống Landrace,Yorkshire vừa có khả năng
sinh sản khá, vừa có khả năng cho thịt cao
- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ” điển hình là các giống lợn nguyên
chủng của Trung Quốc (Meishan chẳng hạn) có khả năng sinh sản cao nhưng khả năng sản xuất thịt bị hạn chế
- Các giống chuyên dụng “dòng bố” như giống Pietrain, Landrace Bỉ,
Hampshire có khả năng cho thịt cao nhưng khả năng sinh sản lại hạn chế
- Các giống địa phương nói chung khả năng sinh sản và cho thịt đều hạn
chế nhưng có ưu điểm là khả năng thích nghi cao với điều kiện địa phương
Để nâng cao được khả năng sinh sản, trước hết cần tăng tiến bộ di truyền Thông qua quá trình chọn lọc để tìm ra và phát triển số lượng gen tốt, hạn chế những gen không mong muốn
Thực tế, việc cải tiến các giống lợn ở địa phương hầu hết đã nâng cao khả năng mắn đẻ, tức số lứa/năm của giống lợn đó so với các giống địa phương chưa được cải tiến
a) Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh
Ngoài ảnh hưởng của yếu tố di truyền, khả năng sinh sản của lợn nái còn chịu sự tác động của kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, cùng với các yếu tố khác như thời tiết khí hậu, mùa vụ, dịch bệnh, lứa tuổi của lợn
mẹ, thời gian cai sữa cho lợn con,
Trang 28b) Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, khai thác lợn nái
Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất cả đời sống của cơ thể, nó đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao năng suất
và chất lượng sản phẩm
Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái Giai đoạn lợn chửa và lợn nái nuôi con nếu được cung cấp đầy đủ về chất lượng và chất lượng dinh dưỡng thì kết quả sinh sản sẽ tốt Chế độ dinh dưỡng tốt sẽ làm cải thiện được số trứng rụng nhưng lại làm giảm tỉ lệ thụ thai
Thông thường số lợn con đẻ ra không bao giờ bằng số trứng rụng, thậm chí chỉ bằng 40-50% Có một số yếu tố gây ra sự khác biệt này như sau:
Tỷ lệ giữa số trứng được thụ tinh so với số trứng rụng:
Số lượng trứng rụng ở mỗi lần động dục dao động từ 10-25 trứng (trung bình 16 trứng) Tỷ lệ giữa số trứng thụ tinh/số trứng rụng thường đạt trên 90% Tỷ lệ này chịu ảnh hưởng bởi: Thời điểm thụ tinh, chất lượng tinh dịch và một số bệnh nhiễm trùng tại chỗ (viêm tử cung, âm đạo,…)
Tỷ lệ tiêu phôi, tỷ lệ phôi chết, tỷ lệ xảy thai:
Lợn nái có hiện tượng động dục bất thường, số bào thai quá ít, thai
gỗ có thể gây sảy thai Một số bệnh truyền nhiễm (đóng dấu, dịch tả, Brucellosis…) hay các tác động cơ học mạnh (bị tấn công dồn dập, chấn thương…) cũng có thể gây sảy thai…
Chết lúc sơ sinh:
Chủ yếu liên quan đến hiện tượng đẻ khó Do đó áp dụng chế độ dinh dưỡng "Flushing" trong pha sinh trưởng của buồng trứng lợn nái nên đã làm tăng số lượng trứng rụng (85% so với 64%) và tăng lượng progesteron trong máu (10,5 ng so với 4,5 ng/ml) (Rhoder & cs., 1991) Lợn nái ăn gấp đôi lượng thức ăn ở giai đoạn trước khi phối giống và ở ngày phối giống so với
Trang 29bình thường có tác dụng làm tăng số lượng trứng rụng và số con đẻ ra/ổ Nuôi dưỡng lợn nái với mức cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi
ở lợn nái mới đẻ
Ảnh hưởng của năng lượng:
Là yếu tố cần thiết cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể Nếu thiếu năng lượng đặc biệt là giai đoạn mang thai và nuôi con sẽ dẫn đến hiện tượng suy dinh dưỡng, còi cọc, sức kháng bệnh kém Tuy nhiên nếu cung cấp quá thừa trong giai đoạn có chửa thì dẫn đến hiện tượng chết phôi, chết thai, khó đẻ, ngoài ra còn gây lãng phí thức ăn
Ảnh hưởng của Protein:
Các axit amin đặc biệt là các loại axit amin không thay thế ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn mẹ Nếu khẩu phần ăn thiếu protein thì sẽ chậm động dục và giảm số lứa đẻ/năm Trong giai đoạn mang thai của lợn nái nếu không cung cấp đầy đủ protein thì khối lượng sơ sinh của lợn con giảm thấp và nếu thiếu trong giai đoạn tiết sữa sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của lợn con Trong thời kì chửa cuối, nếu hàm lượng protein thấp trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm khả năng sống của thai và lợn sau khi sinh ra Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kì tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần ăn sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại
Ảnh hưởng của Vitamin:
Vitamin rất cần thiết cho cơ thể lợn nái, nó tham gia vào hầu hết quá trình trao đổi và hoạt động của cơ thể Tuy vitamin chỉ cần một lượng nhỏ nhưng nó lại có ý nghĩa rất lớn đến khả năng sinh trưởng, phát dục của cơ thể Vitamin như những chất xúc tác sinh học, xúc tiến việc tổng hợp, phân giải các chất dinh dưỡng Vitamin không tham gia vào thành phần cấu trúc
mà thường dùng làm coenzim trong các phản ứng trao đổi Đặc biệt cần chú ý vitamin A, D, E và vitamin nhóm B đối với lợn Nếu thiếu các
Trang 30vitamin trong khẩu phần ăn sẽ ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái:
- Thiếu vitamin A: Lợn có hiện tượng sảy thai, đẻ non, chậm động dục,
teo thai, khô mắt
- Thiếu vitamin B: gây hiện tượng thần kinh yếu, co giật, bại liệt tứ
chi,…
- Thiếu vitamin D: Lợn con đẻ ra còi cọc, trọng lượng thấp Lợn mẹ sau
khi đẻ dễ bị bại liệt chân sau, hấp thu Ca và P kém
- Thiếu vitamin E: Lợn chậm động dục, không động dục, chết phôi thai
Ảnh hưởng của khoáng: gồm 2 loại: khoáng vi lượng và khoáng đa lượng
- Khoáng đa lượng gồm: Ca, P, K, Na, cần cho mọi hoạt động của cơ
thể Thiếu khoáng đa lượng làm xương phát triển không bình thường, xương thai nhi phát triển kém,…
- Khoáng vi lượng gồm: Cu, Fe, Zn, Mg, chiếm một tỉ lệ nhỏ trong
khẩu phần ăn nhưng không thể thiếu Thiếu khoáng vi lượng lợn sẽ bị thiếu máu, dễ bị bệnh
Ảnh hưởng cùa việc nuôi nhốt:
Có ảnh hưởng tới quá trình phát triển sinh dục của lợn cái Ở lợn hậu
bị nếu nuôi nhốt và cách biệt lợn đực thì tuổi thành thục sinh dục sẽ dài hơn Theo Hughes & Jemes (1996) thì có đến 83% lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể trên 90kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20-25 phút/lần Mặt khác tuổi động dục lần đầu của lợn nái sẽ bị chậm ít nhất một tháng nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y: để đạt kết quả tốt thì lợn cái hậu bị phải được nuôi chung thành nhóm đồng đều về giống, tuổi, khối lượng với mật độ từng thời kỳ: 3-5 tháng tuổi thì 0,4-0,5m2/con; 6-8 tháng tuổi: 0,5-0,8m2/con (5-6 con/nhóm) sẽ đảm bảo cho lợn động dục lần đầu đúng thời gian lứa đẻ
Trang 31Khả năng sản xuất của lợn nái ở các lứa đẻ khác nhau là khác nhau Thông thường ở lứa đầu, lợn cái hậu bị cho số con thấp nhất (so với các lứa sau), ở các lứa tiếp theo số con đẻ ra bắt đầu tăng lên và ổn định cho đến lứa thứ 6 sau đó giảm dần
Số lần phối và phương thức phối giống:
Số lần phối giống trong môt lần động dục ở lợn nái ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ Phối đơn trong môt chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất
có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối kép trong một lần động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ (Gordon, 1997), do đó trên thực tế muốn tăng số con đẻ ra trong ổ nên phối trực tiếp cho lợn nái 3 lần, mỗi lần cách nhau 24h
Phương thức và kĩ thuật phối giống cũng ảnh hưởng khá rõ rệt Trong phối trực tiếp, ảnh hưởng của con đực rất rõ Thụ tinh nhân tạo có thể làm giảm tỉ lệ thụ thai do kĩ thuật phối giống
c) Thời tiết khí hậu và mùa vụ
Mùa vụ có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái thông qua
số con đẻ ra Nhiệt độ cao vào mùa hè làm giảm khả năng thu nhận thức ăn của lợn nái, tỷ lệ hao hụt sẽ tăng, từ đó kéo dài thời gian động dục trở lại sau cai sữa Khi nuôi lợn nái trong điều kiện nhiệt độ cao còn có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai và giảm sức sống của bào thai Nhiệt độ thích hợp cho lợn nái là từ 18-21 độ C
d) Dịch bệnh
Dịch bệnh làm giảm nghiêm trọng năng suất sinh sản của lợn nái Nếu lợn nái bị viêm nhiễm hoặc chịu những tổn thương có thể dẫn đến chết phôi, nặng hơn là sảy thai Một số dịch bệnh cực kì nguy hiểm như đóng dấu, lở mồm long móng, tai xanh không chỉ làm tăng cao nguy cơ sảy thai,
mà còn dẫn đến tử vong cả lợn mẹ Ngoài việc tiêm phòng vaccine đầy đủ,