Phối giống cho lợn cái ở lần động dục đầu tiên sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái.. - Nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái: + Tuổi động dục lần đầu: là thời gia
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
DUROC TẠI TRẠI LỢN LINH HÒA XÃ VIỆT HÙNG –
ĐÔNG ANH – HÀ NỘI
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
DUROC TẠI TRẠI LỢN LỢN LINH HÒA XÃ VIỆT
HÙNG – ĐÔNG ANH – HÀ NỘI
Người thực hiện : NGUYỄN THẾ ANH
Hà Nội – 2021
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM ƠN v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ix
Phần I : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2.Yêu cầu của đề tài 2
1.2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 3
2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.2.1 Đặc điểm của các giống lợn 6
2.2.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của lợn nái 9
2.2.3 Quá trình sinh trưởng và phát dục của thai lợn 12
2.2.4 Chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản và yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 15
Phần III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 27
3.1.1 Đối tượng 27
Trang 43.1.2 Địa điểm 27
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 27
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 27
3.2.1 Nội dung 1: 27
3.2.2 Nội dung 2: 27
3.2.3 Nội dung 3: 28
3.2.4 Nội dung 4: 28
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.3.1 Thu thập số liệu gián tiếp 29
3.3.2 Theo dõi trực tiếp 29
3.3.3 Phương pháp xác định tình hình dịch bệnh trên đàn nái và đàn lợn con 30
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 30
Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 MỘT VÀI NÉT CƠ BẢN VỀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 31
4.1.1 Khái quát chung về trang trại 31
4.1.2 Cơ sở vật chất của trại 32
4.1.3 Cơ cấu đàn lợn tại trang trại 32
4.1.4 Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh thú y 33
4.2 CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ SINH DỤC 44
4.3 NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI F1 (L X Y) PHỐI VỚI ĐỰC DUROC 47
4.3.1 Năng suất sinh sản chung của lợn nái F1(L X Y ) 47
4.3.2 Năng suất sinh sản qua các lứa đẻ 52
4.4 TIÊU TỐN THỨC ĂN CỦA LỢN CON CAI SỮA 58
4.5 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON TẠI TRẠI 59
4.5.1 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái sinh sản 60
Trang 54.5.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn con theo mẹ 60
Phần V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
5.1 Kết luận 62
5.1.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của nái lai F1(LxY) 62
5.1.2.Năng suất sinh sản qua các lứa đẻ của nái lai F1(LxY) 62
5.1.3 Đối với chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn 63
5.2 ĐỀ NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong báo cáo tốt nghiệp này được theo dõi thực tế tại trại lợn Linh Hòa xã Việt Hùng –Đông Anh –Hà Nội là hoàn toàn trung thực, chính xác do tôi trực tiếp làm, theo dõi và ghi chép lại
Tôi xin cam đoan các số liệu thu thập được là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ bài báo cáo nào trước đó Các thông tin trích dẫn tham khảo trong khóa luận đều được ghi rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ và hỗ trợ cho khóa thực tập tốt nghiệp này đã được cảm ơn
Hà Nội, ngày 02 tháng 03năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Thế Anh
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam cũng như trong quá trình thực tập tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình, quý báu của nhiều cá nhân và tập thể
Lời đầu tiên tôi xin được cảm ơn Ban giám đốc Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi cùng toàn thể các Thầy Cô giáo đã trang bị cho tôi những kiến thức căn bản về chuyên môn nghề nghiệp và tư cách đạo đức làm nền tảng cho tôi trong cuộc sống và công việc sau này
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả các Thầy Cô giáo Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm
ơn sâu sắc nhất tới ThS Trần Bích Phương đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Cũng nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các anh chị trong trại đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và làm việc tại trang trại để hoàn thành khóa luận của mình
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè
đã khích lệ, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Do trình độ và thời gian có hạn nên khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý của các thầy cô giáo để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 2 tháng 03 năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Thế Anh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhu cầu năng lượng cho lợn nái 21
Bảng 2.2: Nhu cầu protein cho lợn nái 21
Bảng 2.3: Nhu cầu hàng ngày về khoáng cho lợn nái ngoại (ĐVT: %) 22
Bảng 4.1 Cơ cấu giống lợn tại trang trại từ năm 2018 – 2020 33
Bảng 4.2: Chế độ ăn của lợn nái mang thai 34
Bảng 4.3: Chế độ ăn của lợn nái nuôi con 35
Bảng 4.4: Giá trị dinh dưỡng các loại thức ăn sử dụng tại trại 35
Bảng 4.5 Lịch tiêm vacxin cho đàn hậu bị 41
Bảng 4.6 Lịch tiêm vacxin cho đàn heo nái 42
Bảng 4.7 Lịch tiêm vacxin cho đàn lợn đực 42
Bảng 4.8 Lịch tiêm vaccine và điều trị các bệnh thường gặp cho heo con 43
Bảng 4.9 Lịch tiêm vaccine và điều trị các bệnh thường gặp cho heo nái 43
Bảng 4.10: Chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái F1 (L x Y) 44
Bảng 4.11 : Năng suất sinh sản chung của lợn nái F1(L x Y ) 47
Bảng 4.12: Số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ qua các lứa của lợn nái F1(L x Y) 52
Bảng 4.13: Khối lượng sơ sinh/con và khối lượng sơ sinh/ổ 54
Bảng 4.14: Khối lượng cai sữa/con và khối lượng cai sữa/ổ 56
Bảng 4.15: Thời gian cai sữa, thời gian chờ phối, khoảng cách lứa đẻ (n =35) 57
Bảng 4.16: Tiêu tốn thức ăn của lợn con cai sữa (n=15) 59
Bảng 4.17: Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái sinh sản (n=100) 60
Bảng 4.18: Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn con theo mẹ (n=871) 61
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ (con)
53
Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ sơ sinh sống và qua tỷ lệ cai sữa sống qua các lứa đẻ (%) 54
Biểu đồ 4.3: Khối lượng sơ sinh/ổ qua lứa 55
Biểu đồ 4.4: Khối lượng cai sữa/ổ qua các lứa 57
Biểu đồ 4.5: Thời gian chờ phối qua các lứa và thời gian cai sữa qua các lứa 58
Trang 11TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên: Nguyễn Thế Anh
• Xác định lượng thức ăn tiêu tốn cho 1 kg lợn con cai sữa
• Khảo sát được tình hình dịch bệnh trên đàn lợn tại trại
Phương pháp nghiên cứu: nắm được quy trình chăm sóc, xác định
các chỉ tiêu, xử lý số liệu
Kết quả và kết luận: Trên cơ sở kết quả của quá trình nghiên cứu đã
đưa ra kết quả như sau:
• Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire):
Tuổi động dục lần đầu: 197,06 ngày; tuổi phối lần đầu: 238,23 ngày; tuổi
đẻ lần đầu: 352,03 ngày; thời gian mang thai: 114,47 ngày; thời gian cai sữa: 22,77 ngày; khoảng cách lứa đẻ: 140,53 ngày; số lứa/nái/năm: 2,6 lứa
• Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản:
Số con sơ sinh/ổ: 13,25con; số con sơ sinh sống/ổ: 12,37 con; tỷ lệ sơ sinh sống/ổ: 93,49%; số con cai sữa/ổ: 11,18 con; tỷ lệ nuôi sống/ổ: 98,04%; khối lượng sơ sinh/ổ: 20,06 kg; khối lượng cai sữa/ổ: 70,28 kg
Tiêu tốn thức ăn cho 1kg lợn con cai sữa của đàn lợn nái là: 6,32 kg/kg
Trang 12Xã hội phát triển, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, lượng thịt tiêu thụ ngày càng lớn và cũng đòi hỏi chất lượng thịt phải được nâng lên Trong khi đó các giống lợn nội như: lợn Ỉ, lợn Móng Cái,… Không đáp ứng được nhu cầu trên Từ đó nhiều giống lợn ngoại như: Landrace, Yorkshire, Duroc,… có năng suất và chất lượng cao được nhập vào nước ta để lai tạo với các giống lợn nội hoặc nuôi thuần nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt được sản xuất ra hàng năm
Tuy nhiên khi đưa tổ hợp lai này vào nhân rộng sản xuất thì điều kiện ngoại cảnh tác động rất nhiều đến năng xuất, hiệu quả chăn nuôi Vì vậy vấn
đề được đặt ra cho chúng ta là phải đảm bảo các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, điều kiện tiểu khí hậu thích hợp cho đàn lợn nhằm duy trì khả năng sinh sản cũng như năng xuất của chúng
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của BCN khoa,cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Khả năng sinh sản của đàn lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối
với đực Duroc nuôi tại trang trại Linh Hòa tại xã Việt Hùng –Đông Anh –
Trang 13được phối với đực Duroc nuôi tại trang trại Linh Hòa
- Đánh giá tiêu tốn thức ăn/kg lợn, từ đó đề ra những giải pháp, phương pháp chăn nuôi phù hợp sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
- Đánh giá tình hình dịch bệnh trên đàn nái và đàn con theo mẹ
1.2.2.Yêu cầu của đề tài
- Các số liệu thu thập yêu cầu phải đại diện, chính xác, khách quan
- Xác định chỉ tiêu theo dõi và rút ra kết luận
1.2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Những số liệu này có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về lĩnh vực chăn nuôi lợn
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả theo dõi là cơ sở đánh giá đúng thực trạng của đàn lợn tại trại, từ đó có định hướng đúng đắn trong việc xác định công thức lai phù hợp tại trại và phát triển rộng tại Hà Nội
Trang 14Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Lai giống là một trong những biện pháp quan trọng để sản xuất lợn thịt có năng suất chất lưọng cao ở nhiều nước trên thế giới Lúc đầu mới chỉ áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa hai giống lợn, về sau có nhiều
tổ hợp lai kinh tế phức tạp 3, 4, 5 giống lợn Và đó chính là kết quả của ưu thế lai và kỹ thuật thụ tinh nhân tạo tiên tiến từ đó tạo nên bước tiến quan trọng cho ngành chăn nuôi
Theo Gerasimov et al (1997) qua nghiên cứu cho thấy lai hai, ba, bốn
giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/lứa, tỷ
lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Lai giống nhằm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần (10,9 so với 10,1 con), tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa Lai giống là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng sinh sản và cho thịt trong chăn nuôi lợn ở Ba Lan
Theo Tummaruk and Dalin (2000) về khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshine nuôi tại Thụy Sĩ cho biết: Số con sơ sinh/ổ của lợn Landrace là 11,4 ± 2,6 ở lợn Yorkshine là 11,3 ± 2,7; tương tự số con còn sống/ổ lần lượt là 10,7 ± 2,5 và 10,4 ± 2,7 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 167,9
± 19 và 163,3 ± 19,3 ngày; tuổi đẻ lứa đầu là 355,0 ± 27,9 và 371,4 ± 32,6 ngày;
tỷ lệ đẻ là 81,6 và 79,2%
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Các giống lợn nhập vào nước ta dần thích nghi và cho năng suất cao, trong các giống lợn ngoại thì hai giống lợn Landrace và Yorkshire có khả năng thích nghi tốt nhất, đây là hai giống lợn hướng nạc, việc lai tạo hai giống lợn này để tạo ra thế hệ lợn nái lai hai giống là một trong những hướng đi quan
Trang 15trọng để mở rộng quy mô, chất lượng sản phẩm và thay đổi cơ cấu đàn lợn ở các tỉnh phía Bắc và trong nước
Phùng Thị Vân và cs (2000) đã nghiên cứu trên lợn Landrace, Yorkshire
và F1 (Landrace x Yorkshire) lai với lợn đực Duroc cho kết quả tuổi phối lần đầu của ba giống trên lần lượt là 269,6; 269 và 275,7 ngày; tuổi đẻ lứa đầu là 385,2; 384,2 và 391,6 ngày; số con sơ sinh/lứa là 10,9; 11,2 và 11,3 con; số con cai sữa là 9,8; 9,8 và 10,3 con; khối lượng sơ sinh/con là 1,44; 1,41 và 1,38 kg, khối lượng cai sữa/con là 6,25; 6,14 và 6,03 kg; thời gian cai sữa là 24,7; 24,4
và 23,8 ngày; tỷ lệ sống đến cai sữa là 89,8; 86,3 và 89,3%
Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006) thì năng suất sinh sản của lợn nái F1 (LxY) khi phối với đực Pietrain và Duroc có số con sơ sinh/ổ tương ứng là 10,05 và 9,63 con, sổ con ở 21 ngày tuổi là 9,7 và 9,23 con, số con cai sữa/ổ tương ứng là 9,39 và 9,13 con, khối lượng 60 ngày tuổi/con tương ứng là 19,72 và 19,7 kg
Theo kết quả của Đinh Văn Chỉnh và cs (1999), nái lai F1 (LxY) có nhiều chỉ tiêu sinh sản cao hơn so với nái thuần Landrace Nái lai F1 (LxY) có
số lượng con sơ sinh sống và số con cai sữa tương ứng là 9,25 - 9,87 và 8,50 - 8,80 con/ổ; khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa/con tương ứng là 1,32 và 8,12kg Nái Landrace có số con sơ sinh sống, số con cai sữa tương ứng là 9,00
Trang 16+Khối lượng cai sữa/ con tương ứng là: 5,71 ; 5,84 ; 5,53 ; 5,52 ; 5,76 ; 5,72 kg
Kết quả nghiên cứu của Phan Xuân Hảo (2006) về năng suất sinh sản của lợn nái F1 (LxY) cho biết tổng số con sơ sinh sống/ổ 10,97 con, số con sơ sinh sống/ổ là 10,41 con, số con để nuôi/ổ là 9,88 con, khối lượng sơ sinh/ổ là 14,60 kg, khối lượng sơ sinh/con là 1,41 kg, số con 21 ngày/ổ là 9,35 con, thời gian cai sữa là 23,05 ngày, số con cai sữa/ổ là 9,32 con, khối lượng cai sữa/ổ là 52,28 kg và khối lượng cai sữa/con là 5,67 kg
Phùng Thị Vân và cs (2000) cho biết lai 2 giống Landrace và Yorkshire
và ngược lại đều có ưu thế về nhiều chỉ tiêu sinh sản so với giống thuần, (LxY)
và (YxL) có số con cai sữa/ổ tương ứng là 9,38 và 9,36 con với khối lượng cai sữa/ổ ở 35 ngày tuổi là 79,30 kg và 81,50 kg, trong khi đó nái thuần Yorkshire, Landrace có số con cai sữa/ổ tương ứng là 8,82 và 9,26 con với khối lượng cai sữa/ổ ở 35 ngày tuổi là 72,90kg
Nái lai F1 (LxY) và (YxL) khi phối với đực Duroc có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản, giảm chi phí thức ăn để sản xuất 1kg lợn con 60 ngày tuổi Kết quả cho thấy số con cai sữa đạt 9,6 và 9,7 con/ổ với khối lượng cai sữa ở
35 ngày tuổi đạt 80 và 75,7 kg (Phùng Thị Vân và cs., 2000) Con lai 3 máu Du
x (LxY) có mức tăng trọng trung bình 655,90 gam/ngày, tỷ lệ nạc 61,8 %, tiêu tốn thức ăn 2,98 kg/kg tăng trọng, con lai Du x (YxL) mức tăng trọng trung bình 655,70 gam/ngày, tỷ lệ nạc 58,71 %, tiêu tốn thức ăn 2,95kg/kg tăng trọng
Nghiên cứu của Vũ Đình Tôn và Nguyễn Văn Thắng (2010) cho biết rằng năng suất sinh sản, sinh trưởng và chất lượng thịt của các tổ hợp lai Du x (LxY) và L x (LxY) nuôi tại Bắc giang cho biết lợn nái F1 (LxY) phối với đực Duroc, Landrace đều cho năng suất sinh sản tốt nhưng ở tổ hợp lai Du x (LxY) tốt hơn tổ hợp lai Lx(LxY) Khả năng tăng trọng và tiêu tốn thức ăn, tỉ lệ nạc của tổ hợp lai Du x (LxY) tốt hơn tổ hợp lai L x (LxY)
2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trang 172.2.1 Đặc điểm của các giống lợn
2.2.1.1 Đặc điểm của giống lợn Duroc
Nguồn gốc
Giống lợn Duroc có nguồn gỗ từ miền Đông nước Mỹ và vùng Corn Belt Dòng Duroc được tạo ra ở New York năm 1823 bởi Isaac Frink Đây là giống lợn cao sản cho năng suất thịt cao và đặc biệt thịt lợn siêu nạc Lợn Duroc được nhập vào miền Nam Việt Nam trước năm 1975, nhập vào miền Bắc Việt Nam
từ Cuba năm 1978, từ Mỹ năm 2000
Đặc điểm ngoại hình
Lợn Duroc có thân hình vững chắc, lợn toàn thân có lông màu hung đỏ hoặc nâu đỏ (do đó thường gọi là heo bò), đầu to vừa phải, bốn chân to khỏe vững chắc, ngực sâu, rộng, mông vai phát triển và cân đối, mõm thẳng, tai to ngắn, ở phần trước tai cụp, gập về phía trước nhưng gốc tai đứng, lưng còng, ngắn đòn, bụng thon, chân thấp, chất lượng thịt tốt (thịt mềm do mô nạc xem lẫn với mô mỡ dắt), tỷ lệ nạc cao (56-58%), thịt nạc màu đỏ đậm, khả năng tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, đẻ con ít, tiết sữa kém
Đặc điểm sinh trưởng
Lợn Duroc có khả năng sinh trưởng tốt Lợn đực trưởng thành nặng 370kg/con, lợn nái trưởng thành nặng 200 - 300kg con Chúng là giống lợn cho nhiều nạc, mỡ lưng mỏng (10 - 12 mm) Tốc độ tăng trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp Tăng khối lượng bình quân/ngày từ 750 - 800g, tỷ lệ thịt nạc xẻ
300-từ 58 - 60,4%
Đặc điểm sinh sản
Trọng lượng trưởng thành của lợn Duroc có thể đạt 370 kg, số con đẻ ra trên lứa 7 - 8 con, khối lượng sơ sinh từ 1,2 – 1,3kg/con, khối lượng lúc 175 ngày tuổi đạt 105 – 125kg/con Lợn đực có thể bắt đầu khai thác lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch khai thác đạt khoảng 270ml/lần
2.2.1.2 Đặc điểm của giống lợn Landrace
Trang 18Giống lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch bằng cách lai giữa giống Youtland có nguồn gốc từ đức, giống Yorkshire của Anh với các giống trắng địa phương của Đan Mạch
Giống này được nhập vào Việt Nam khoảng những năm 1970 từ Trung Quốc, Cuba, sau này nhập từ Bỉ, Nhật Bản, Thái Lan,…
Màu lông trắng tuyền, thân dày và dài, tai rủ, bụng dài thon, mông phát triển, nẩy tròn, chân to thẳng nhưng hơi yếu, hình dáng như quả thủy lôi, tai to
rủ che kín mặt Lợn Landrace có 12 – 14 vú
Dòng đực Landrace có phần mông đặc biệt phát triển, cho nhiều nạc hơn giống Yorkshire Nái Landrace mắn đẻ, đẻ nhiều, khả năng làm mẹ tốt, ngoại hình đẹp, tăng trọng nhanh
Các chỉ tiêu về năng suất :
- Trọng lượng đực trưởng thành: 300-320kg
- Trọng lượng cái trưởng thành: 220-250kg
- Tỷ lệ nạc: 54-56%
- Dòng lợn nái Landrace mỗi lứa đẻ 10-14 con
- Khối lượng sơ sinh: 1,2-1,4kg/con
- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng: 2,8-3,0kg
- Kháng bệnh tốt
- Nái nuôi con tiết sữa tốt
- Kém thích nghi trong điều kiện thời tiết nóng nước chua phèn mặn
- Nước ta sử dụng Landrace để lai kinh tế và nuôi thuần chủng, trong lai kinh tế thường dùng lai với các giống lợn ngoại khác hoặc các giống lợn nội để thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn
2.2.1.3 Đặc điểm của giống lợn Yorkshire (Đại Bạch – Yorkshire Large White)
Nguồn gốc: Giống lợn Yorkshire có nguồn gốc từ vùng Yorkshire của
nước Anh vào thế kỉ XIX Lợn Yorkshire được nhập vào Việt Nam từ Liên Xô
Trang 19cũ năm 1964, tới năm 1978 được nhập về từ Cu Ba, sau này được nhập từ một
số quốc gia khác như Anh, Pháp, Nhật Bản, Mỹ,…
Đặc điểm ngoại hình: Giống lợn này có toàn thân màu trắng, hơi có ánh
vàng, mặt hơi thô, mõm hơi cong lên, tai to vừa phải và dựng đứng (Vũ Đình Tôn, 2009)
Khả năng sinh trưởng: Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả
năng thích nghi rộng rãi Lợn có khối lượng lớn, con đực trưởng thành nặng từ
350 - 380kg, dài thân 170 - 185cm Con cái trưởng thành nặng từ 250 – 280kg, khối lượng lúc 60 ngày tuổi đạt 16 – 20 kg/con (Võ Trọng Hốt và cs, 2000) Lợn vỗ béo đạt 100kg lúc khoảng 5 - 6 tháng tuổi Lợn Yorkshire cho tỷ lệ nạc đạt 52 - 55% theo trích dẫn của Vũ Đình Tôn (2009)
Khả năng sinh sản: Lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có thể
phối giống lần đầu vào khoảng 240 - 260 ngày, số con đẻ ra trên lứa cao từ
11-13 con, số lứa/năm là 2,0 - 2,2 Khối lượng sơ sinh/con dao động từ 1,3 - 1,4 kg/con Lợn đực khai thác tinh lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh trung bình khai thác được là 232 ml/lần (Vũ Đình Tôn, 2009)
Khả năng thích nghi: Thích nghi cao, chịu kham khổ, ít bị stress
2.2.1.4 Đặc điểm của lợn lai F 1 (L x Y)
Đây là con lai giữa đực Landrace với cái Yorkshire Trong đó con bố được chọn theo hướng tăng trọng và tỉ lệ nạc cao, con mẹ được chọn theo hướng sinh sản tốt
Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân to, tai to bình thường hơi nghiêng
(không sụ xuống mặt cũng không dựng đứng) có thân hình dài đòn, chân cao vừa vững chắc, mông vai nở vừa, dáng làm mẹ tốt, bầu vú phát triển tốt và có
số vú lớn hơn 13 núm, nuôi con khéo
Khả năng sinh trưởng, sinh sản: Nhóm nái lai LxY nâng cao được số con
sơ sinh sống/ổ: 0,24 - 0,62 con/ổ; nâng cao được khối lượng cai sữa từ 0,65 - 3,29 kg/ổ Tuổi đẻ lứa đầu sớm hơn từ 4 - 11 ngày; giảm được số ngày lên giống
Trang 20lại sau cai sữa từ 0,25 - 2,42 ngày; khối lượng lợn con cai sữa tăng từ 0,65 - 3,29 kg/ổ (Nguyễn Thị Viễn và cs,2005)
Ưu thế lai về tính trạng sinh sản của nhóm nái lai LY/YL đạt được từ 0,99 - 7,11% và tính trạng tăng trọng g/ngày giai đoạn từ 90 - 0150 ngày tuổi (kiểm tra năng suất cá thể) đã cải thiện được từ 2,03 - 3,48%
Do vậy công thức lai này được sử dụng rộng rãi, nhằm nâng cao kinh tế, chất lượng thương phẩm
2.2.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của lợn nái
+ Các đặc tính sinh dục phụ bắt đầu xuất hiện
+ Xuất hiện các phản xạ sinh dục: con cái thích gần con đực và chịu đực, con đực có phản xạ giao phối
Thông thường sự thành thục của lợn cái được ghi nhận bằng lần động dục đầu tiên Mặc dù ở lần động dục đầu tiên này lợn cái có trứng rụng và có khả năng thụ thai nhưng người ta thường bỏ qua lần động dục đầu tiên này vì nó chỉ có ý nghĩa cho biết lợn cái bắt đầu có khả năng sinh sản
Phối giống cho lợn cái ở lần động dục đầu tiên sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái Vì lúc này bộ máy sinh sản của lợn nái chưa phát triển hoàn chỉnh đồng thời thể vóc chưa đạt độ thành thục Nếu cho phối giống lần đầu sẽ làm hao mòn và giảm sức bền của lợn nái
Sự thay đổi của cơ thể khi thành thục về tính xảy ra dưới tác dụng của thần kinh và thể dịch
Trang 21Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thành thục về tính của lợn nái như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng
cá thể, ảnh hưởng của con đực,…
- Sự thành thục về thể vóc:
Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, xương đã được cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
về sau Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được
7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg mới nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 110 - 120 kg mới nên cho phối
Chu kỳ sinh dục của lợn nái là hoạt động sinh dục được lặp đi lặp lại nhiều lần trong những khoảng thời gian nhất định Thời gian của một chu kỳ động dục được tính từ lần rụng trứng trước đến lần rụng trứng sau Chu kỳ động dục giao động từ 18 - 24 ngày, trung bình là 21 ngày Lúc này cơ quan sinh dục cái
có sự biến đổi như: Âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục
Trang 22tăng cường hoạt động, ở bên trong buồng trứng có quá trình bao noãn thành thục, chín và rụng Sự phát triển của trứng dưới sự điều khiển của hormone thùy trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng một cách có chu kỳ Mỗi chu
kỳ được chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục
Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 ngày và tính từ khi thể vàng bị tiêu hủy đến lần động dục tiếp theo Đây là giai đoạn chuẩn bị tốt nhất cho trứng và tinh trùng gặp nhau Trạng thái cơ thể và trạng thái thần kinh có sự thay đổi: Bên trong buồng trứng dưới tác dụng của FSH thì các noãn bao tăng nhanh về kích thước và tiết oestrogen Hàm lượng oestrogen tăng cao làm cho cơ quan sinh dục có nhiều biến đổi như âm hộ lợn cái sưng lên, hơi mở ra, có màu hồng tươi,
có dịch nhờn loãng chảy ra, đến cuối giai đoạn lợn bắt đầu lười ăn, hay kêu rít,
tỏ ra không yên tĩnh, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình
Người chăn nuôi có thể quan sát kỹ để phát hiện giai đoạn này, nhưng nên chú ý giai đoạn này trứng chưa rụng nên không dẫn tinh và phối ép
+ Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai, song giai đoạn này chỉ kéo dài 2 - 3 ngày, gồm 3 thời kỳ là hưng phấn, chịu đưc và hết chịu đực Giai đoạn này tế bào trứng tách khỏi noãn bao Toàn bộ cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục biểu hiện hàng loạt các biến đổi sinh lý
- Lượng oestrogen tiết đạt mức cao nhất 112 µg% (bình thường chỉ đạt 64 µg%) gây hưng phấn mạnh mẽ toàn thân
- Các biểu hiện ở cơ quan sinh dục: Âm hộ xung huyết, tấy sưng lên, chuyển từ màu hồng đỏ sang màu mận chín, tử cung hé mở lồi rộng, niêm dịch
âm đạo từ trong loãng rồi chuyển sang keo đặc, dính, có tác dụng làm trơn đường sinh dục, ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn
Trang 23- Trứng rụng: Ở lợn sau khi động dục 24 - 30 giờ thì trứng rụng và thời gian rụng kéo dài 10 - 15 giờ Vì vậy nên phối 2 lần cho lợn sẽ có hiệu quả thụ thai cao
+ Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng 3 - 4 ngày, giai đoạn này là thời gian để toàn bộ cơ thể cái, đặc biệt là cơ quan sinh dục hồi phục lại trạng thái bình thường trước động dục Mọi phản xạ sinh dục giảm dần và quan sát thấy âm hộ teo dần, tái nhợt dần, lợn ăn uống tốt hơn, có thể vẫn còn hiện tượng đi tìm lợn đực nhưng không cho con đực nhảy lên lưng Bên trong buồng trứng thể vàng đang phát triển đường kình khoảng 7 - 8 mm
+ Giai đoạn yên tĩnh
Đây là giai đoạn kéo dài nhất từ 12 - 14 ngày, giai đoạn này con cái hoàn toàn không có phản xạ động dục, con vật yên tĩnh, âm hộ con cái trở lại trạng thái bình thường, ăn uống bình thường, hoàn toàn không có phản xạ với lợn đực nữa Đây là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng vì con vật nghỉ ngơi và hồi phục về mặt cấu tạo, chức năng của cơ quan sinh dục chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo
2.2.3 Quá trình sinh trưởng và phát dục của thai lợn
Quá trình này là vấn đề rất quan trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ mang thai Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới
tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh Thời gian mang thai trung bình của lợn là 114 ngày, có thể dao động trong khoảng 112 – 116 ngày và được chia làm 3 giai đoạn: phôi thai, tiền thai và bào thai
Giai đoạn phôi thai (ngày thứ nhất đến ngày 22)
Đây là thời kỳ phát dục mạnh của phôi Sau khi tinh trùng vào ống dẫn trứng thì bắt đầu thực hiện quá trình phá vỡ các màng của tế bào trứng, cuối cùng chỉ có một tinh trùng chui được vào tế bào trứng kết hợp tạo thành hợp tử Sau khoảng 20 giờ thì hợp tử tiến hành phân chia Sau khi thụ tinh 3 – 4 ngày, hợp tử
Trang 24sẽ chuyển vào bám và làm tổ ở 2 bên sừng tử cung, lúc này hợp tử lấy chất dinh dưỡng từ trứng và tinh trùng, phôi thai được hình thành sau 3 – 4 ngày, lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ noãn hoàng và tinh trùng, sau đó hình thành màng phôi lấy chất dinh dưỡng qua màng bằng hình thức thẩm thấu Đến ngày thứ 5 –
6 túi phôi và mầm thai được hình thành Màng ối hình thành ở ngày thứ 7 – 8 cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi, protein, đường, mỡ…
Màng đệm được hình thành sau 10 ngày, mặt màng đệm có lông nhung
để lấy chất dinh dưỡng từ mẹ chuyền cho phôi.Màng niệu được hình thành sau
12 ngày để chứa nước tiểu cho phôi Ở cuối thời kỳ này, các khí quan cũng dần hình thành phôi thai được hấp thu dinh dưỡng từ noãn hoàng trong hợp tử và sản phẩm tiết từ tuyến nội mạc tử cung dưới sự điều tiết của hormone estrogen
Trong 3 tuần đầu này, sự liên kết giữa cơ thể mẹ và thai chưa chắc chắn, phôi thai mới hình thành nên chưa đảm bảo được an toàn Cuối thời kỳ này khối lượng của phôi thai đạt 1 – 2 gam, thời kỳ này dễ bị tiêu phôi nếu sử dụng thức
ăn ôi thiu, độc tố của nấm trong thức ăn có thể gây hỏng phôi, lợn mẹ cần được yên tĩnh, không được đánh đuổi mạnh Vì vậy, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trong 3 tuần đầu cực kỳ quan trọng Người chăn nuôi cần hạn chế tối đa các tác động của ngoại cảnh (tiếng ồn, ô nhiễm, nhiệt độ…), chú ý tới chất lượng dinh dưỡng và chăm sóc để tránh ảnh hưởng tới phôi thai, dẫn đến sảy thai
Giai đoạn tiền thai ( ngày thứ 23 – 39)
Đây là giai đoạn phát triển rất mạnh và cũng là giai đoạn khó khăn của quá trìnhphát triển bào thai, nhau thai đã được hình thành nên sự kết hợp giữa
cơ thể mẹ và con chắc chắn hơn.Các khí quan hình thành rõ rệt và dinh dưỡng phôi thai lúc này nhờ vào quá trình phân hủy tế bào nội mạc tử cung bởi men nhau thai tiết ra Đến cuối thời kỳ này đã tương đối phát dục xong, khối lượng thai tăng nhanh, đến ngày thứ 30 khối lượng thai đạt 3g, ngày thứ 39 đạt 6 – 7 gam Chất dinh dưỡng được lấy chủ yếu từ cơ thể mẹ
Giai đoạn bào thai (từ ngày 40 – khi đẻ)
Trang 25Ở giai đoạn này sự trao đổi chất của bào thai diễn ra mãnh liệt để hoàn chỉnh nốt những bộ phận còn lại (lông, da, dạ dày, ruột…) và hình thành nên các đặc điểm của giống Bào thai phát triển rất nhanh, đặc biệt ở 30 ngàycuối
và cuối giai đoạn này trọng lượng tăng gần tới mức tối đa Lúc này, thai hoàn toàn phải lấy chất dinh dưỡng từ mẹ nhờ nhau thai, vì vậy chất dinh dưỡng cho
mẹ lúc này có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và khối lượng của con sơ sinh
Hiện nay, người ta chia thời kỳ mang thai của lợn thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn chửa kỳ I: từ khi thụ thai đến 1 tháng trước khi đẻ
- Giai đoạn chửa kỳ II: trước khi đẻ 1 tháng (ba phần tư khối lượng phát triển ở thời kỳ này)
Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng 114 – 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 – 6 giờ Nếu có hiện tượng đẻ khó (do thể trạng lợn mẹ yếu, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu…) cần có biện pháp can thiệp ngay để giảm thiểu tối đa thiệt hại
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ chết phôi như: bệnh tật, tuổi lợn nái, các yếu tố stress, ảnh hưởng của môi trường bên ngoài, môi trường bên trong tử cung, dinh dưỡng, các yếu tố di truyền, giai đoạn chửa…Theo một số tác giả, số con trên lứa của lợn nái phụ thuộc chủ yếu vào số phôi thai chết trong thời kỳ chửa
Yếu tố di truyền chủ yếu liên quan đến các phương pháp nhân giống (nếu nhân giống cận huyết tỷ lệ chết phôi sẽ tăng rất cao) Vấn đề chăm sóc và nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ chết phôi Nếu sau khi phối giống vẫn
sử dụng khẩu phần ăn có nồng độ năng lượng cao sẽ làm tăng tỷ lệ chết phôi Trong thành phần có hàm lượng protein cao, không đủ vitamin (nhất là vitamin
A và E) cũng có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi
Môi trường bên trong tử cung chủ yếu liên quan tới số lượng phôi được hình thành, nếu quá ít dẫn đến hiện tượng tiêu phôi Môi trường bên ngoài chủ yếu liên quan đến điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi như chế độ nhiệt ẩm (nhiệt
Trang 26độ thích hợp là 18 – 210C) Thời gian phối giống và tuổi lợn nái cũng là nguyên nhân căn bản
2.2.4 Chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản và yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản
Để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái có thể dùng nhiều chỉ tiêu sinh sản khác nhau Tùy vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực mà ta có thể chọn nhiều hoặc ít chỉ tiêu Hiện nay thường dùng một số chỉ tiêu sau: Có 2 nhóm chỉ tiêu chính là nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục, nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn
- Nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái:
+ Tuổi động dục lần đầu: là thời gian từ khi sơ sinh cho đến khi lợn nái hậu bị động dục lần đầu điên
Tuổi động dục lần đầu khác nhau tùy thuộc vào giống lợn và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Thường lợn nội động dục sớm hơn lợn ngoại Lợn nái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu muộn hơn lợn nuôi chăn thả Tuổi động dục lần đầu chịu ảnh hưởng nhiều bởi chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc
và quản lý Tuổi động dục lần đầu ảnh hưởng lớn đến tuổi phối giống lần đầu
do đó ảnh hưởng lớn đến thành tích sinh sản của con cái
+ Tuổi phối giống lần đầu:
Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta bỏ qua không phối vì thời điểm này thể vóc phát triển chưa hoàn chỉnh và số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường bỏ qua 1 – 2 lần động dục đầu, và phối giống vào lần động dục thứ
3 Nếu cho lợn nái hậu bị phối giống ở lần động dục đầu tiên sẽ cho tỷ lệ thụ thai thấp và nếu có thụ thai thì số lượng con/lứa thấp
+ Tuổi đẻ lứa đầu: là tuổi mà lợn nái hậu bị đẻ lứa thứ nhất, chính là tuổi phối giống có kết quả cộng với thời gian mang thai Tuổi đẻ lứa đầu của lợn
Trang 27phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi phổi giống lần đầu, kết quả phối giống, thời gian mang thai và giống lợn khác nhau
Với lợn nội tuổi đẻ lứa đầu sớm hơn lợn ngoại do tuổi thành thục về tính dục ngắn hơn
+ Thời gian mang thai: là khoảng thời gian tính từ khi lợn phối giống có chửa đến khi đẻ Thời gian mang thai của lợn thường nằm trong khoảng 112 –
116 ngày, trung bình khoảng 114 ngày
+ Thời gian cai sữa:
Thời gian cai sữa dài hay ngắn thể hiện trình độ, kỹ thuật chăn nuôi Cai sữa sớm cho lợn con sẽ giúp rút ngắn khoảng cách lứa đẻ, giảm sự hao hụt ở lợn mẹ, tăng số lứa đẻ/nái/năm
+ Khoảng cách giữa hai lứa đẻ: là khoảng thời gian bắt đầu lứa trước đến khi lợn đẻ lứa tiếp theo hay có thể tính bằng tổng thời gian mang thai, thời gian nuôi con và thời gian chờ phối Khoảng cách giữa hai lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng
số lứa đẻ/nái/năm
+ Thời gian động dục trở lại sau cai sữa: là thời gian từ lúc cai sữa đến lúc động dục trở lại Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn nuôi con và sau cai sữa
- Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn:
+ Số con đẻ ra/ổ: Là tổng số con đẻ ra trên một lứa Bao gồm cả số con
đẻ ra còn sống, số con chết và cả số thai chết được đẻ ra Thông thường số con
đẻ ra/ổ khác nhau qua các lứa đẻ và tuân theo quy luật, lứa đầu thường không cao sau đó tăng lên ở lứa thứ hai, tương đối ổn định ở các lứa tiếp theo đến lứa thứ 6, 7 sau đó giảm dần
Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai của lợn nái, đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái của cơ sở chăn nuôi
Trang 28+ Số con sống đến 24h/ổ: Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng, nói lên khả năng đẻ nhiều hay ít của con giống, nói lên kỹ thuật thụ tinh của dẫn tinh viên và kỹ thuật chăm sóc lợn nái chửa
+ Tỷ lệ sơ sinh sống:
Số con sơ sinh sống đến 24 giờ/lứa
Số con đẻ ra/lứa
+ Khối lượng sơ sinh/ổ: là trọng lượng của tất cả lợn con sinh ra còn
sống và được phát dục hoàn toàn sau khi lợn con được cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Trọng lượng sơ sinh càng cao thì khả năng sinh trưởng ở các giai đoạn sau càng nhanh
Đây là chỉ tiêu kinh tế, kĩ thuật quan trọng nói lên trình độ chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn mẹ
+ Khối lượng sơ sinh/con: là khối lượng từng con sau khi lợn con sinh ra được lau khô, cắt rốn và chưa bú sữa đầu Chỉ tiêu này cho ta biết được khả năng nuôi thai cũng như mức độ đồng đều của lợn sơ sinh
+ Số con cai sữa/ổ: là số lợn con được nuôi sống đến khi cai sữa
Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng quyết định năng suất của nghề chăn nuôi lợn Nó liên quan đến kỹ thuật chăn nuôi lợn cho con bú, khả năng tiết sữa và khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con
+ Khối lượng cai sữa/ổ: là tổng khối lượng toàn ổ khi cai sữa Khối lượng
toàn ổ lúc cai sữa có ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng xuất chuồng, vì tốc độ
tăng trọng từ lúc cai sữa đến lúc xuất chuồng có hệ số di truyền: h2 = 0,29
+ Khối lượng cai sữa/con: là khối lượng của từng con lúc cai sữa, chỉ
tiêu này đánh giá khả năng sinh trưởng của từng con sau khi cai sữa và khả
năng nuôi con của lợn mẹ
+ Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa:
Trang 29Số con sống đến cai sữa
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa(%) = x 100
Số con sơ sinh sống + Số con cai sữa/nái/năm: là chỉ tiêu tổng quát nhất của quá trình chăn nuôi lợn nái sinh sản, chỉ tiêu này phụ thuộc vào thời gian cai sữa lợn con và
số lượng lợn con cai sữa/nái/năm sẽ cao và ngược lại
Số con cai sữa/nái/năm = Số con cai sữa x Số lứa/nái/năm
+ Số lứa đẻ/nái/năm: là chỉ tiêu quan trọng nó được coi như một hệ số đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Số lứa đẻ/nái/năm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: thời gian lợn nái mang thai, thời gian nuôi con, thời gian động dục trở lại và tuổi động dục lần đầu Trong các yếu tố đó thì thời gian mang thai là thời gian ổn định còn các yếu tố khác đều biến động
Số lứa đẻ/nái/năm =
Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
Trang 30Các nhân tố quyết định thành tích sinh sản của lợn nái:
2.2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản
- Yếu tố di truyền
+ Ảnh hưởng của giống:
Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái, giống khác nhau thì sự thành thục về tính khác nhau và cho năng suất sinh sản khác nhau
Căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính như sau:
Các giống đa dụng như Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyên chủng
được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá
Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản
xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường
Số con cai sữa/nái/năm
Số lợn cai sữa/lứa Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
Tần số trung bình
Hao hụt
chăn nuôi Số con đẻ ra Thời gian phối
giống sau cai sữa
Hợp tử chết
Khoảng cách giữa cai sữa và động dục
Tỷ lệ thụ thai và không thụ thai
Không
có khả năng sinh sản
Trang 31Các giống “dòng bố” thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các
giống đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con + Số trứng rụng/chu kì: có vai trò quan trọng trong đánh giá khả năng sản
xuất của lợn cái Nó chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố: di truyền, tuổi nái và chế độ dinh dưỡng
Theo Nguyễn Thiện (1995), các giống lợn màu trắng có hệ số trứng rụng cao hơn các giống lợn màu đen Số trứng rụng trong các chu kì động dục thay đổi theo tuổi, nếu tuổi lợn nái hậu bị tăng lên 10 ngày thì số trứng rụng tăng thêm 0,67 trứng Ở mỗi chu kì động dục số trứng rụng trung bình là 15- 20 và
sẽ tăng đáng kể trong 4 lứa đầu và đạt mức ổn định ở lứa 6 Vì vậy trong thực
tế sản xuất không nên phối ở chu kì động dục đầu tiên mà nên phối ở chu kì thứ hai trở đi
- Yếu tố dinh dưỡng, chăm sóc và ngoại cảnh
+ Dinh dưỡng: là nhân tố quan trọng cùng với di truyền giống quyết định
hiệu quả trong sản xuất chăn nuôi nhờ tăng và hạ giá thành sản phẩm; cho ăn đúng, cho ăn đủ vật nuôi sẽ tăng trọng nhanh, giảm tiêu tốn thức ăn, giá thành sản phẩm hạ và có lợi nhuận Khẩu phần ăn phải được cung cấp đầy đủ về cả chất lượng và số lượng, khi đó con giống mới phát huy được hết tiềm năng di
truyền của phẩm giống nhất là trong giai đoạn mang thai
Năng lượng: là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất, là yếu tố không
thể thiếu trong mọi hoạt động sống của cơ thể Cơ thể cần năng lượng trước hết vào quá trình trao đổi chất.Trong thời gian có chửa nếu khẩu phần có quá nhiều năng lượng sẽ ảnh hưởng tới thành tích sinh sản của nái: phôi chết, đẻ khó, ăn kém sau khi đẻ, sữa mẹ nhiều mỡ dẫn đến lợn con tiêu chảy, động dục sau cai
sữa của lợn mẹ sẽ chậm lại
Trang 32Bảng 2.1: Nhu cầu năng lượng cho lợn nái Nái Khối lượng lợn nái ME (kcal)
(Nguồn CP-Group)
Protein: là thành phần rất quan trọng trong khẩu phần cung cấp thức ăn
cho lợn Đó là thành phần không thể thay thế được, cần thiết trước tiên cho mọi
hoạt động trao đổi chất trong cơ thể rồi tham gia vào cấu tạo nên các mô trong
cơ thể cũng như tạo sản phẩm Thành phần cơ thể lợn có từ 14 - 15% protein,
nó tùy thuộc một phần vào tuổi lợn, lợn còn non thì thành phần này khá cao và
ngược lại (Vũ Đình Tôn, 2009)
Trong khẩu phần thức ăn lợn, nếu chỉ cung cấp năng lượng mà không cân
bằng với nhu cầu protein thì sẽ là một thiếu sót nghiêm trọng bởi vì protein là
thành phần chủ yếu để tạo nên tế bào trong cơ thể Trong quá trình đồng hóa
và dị hóa cho cơ thể, các tế bào chết được tiết ra ngoài mang theo lượng đạm
lớn
Thức ăn phải có giá trị sinh học cao, dễ tiêu hóa, hấp thụ Để đáp ứng
tốt các yêu cầu trên việc phối hợp khẩu phần thức ăn cho lợn bằng nhiều loại
thức ăn khác nhau là điều cần thiết
Bảng 2.2: Nhu cầu protein cho lợn nái Nái Khối lượng lợn (kg) Protein thô (%)
Trang 33 Khoáng: Năng lượng và protein trong thức ăn vào cơ thể gia súc sẽ tạo thành mỡ, thịt, sữa nhưng bộ xương trong cơ thể phát triển được là do chất khoáng tạo nên Khoáng còn là yếu tố cần thiết để tạo máu, cân bằng nội môi, trong máu muối chiếm được 0,9%, bộ xương chiếm 1/10 trọng lượng cơ thể (Vũ Đình Tôn, 2009) Để bào thai phát triển cân đối, hàng ngày cơ thể mẹ lấy chất khoáng từ thức ăn và phải thường xuyên cung cấp cho thai Vì vậy việc thiếu hoặc thừa các nguyên tố khoáng đều ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Trong các nguyên tố đa lượng thì Ca, P là hai yếu tố đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của cơ thể Lượng Ca, P trong cơ thể tồn tại chủ yếu trong xương và răng, nếu thiếu Ca, P sẽ làm cho xương mềm, dễ gãy và làm cho lợn con sinh trưởng kém Đặc biệt ở lợn nái trong thời kì mang thai, sẽ huy động Ca, P từ xương để ưu tiên phát triển thai Nếu thiếu trong thời gian dài xương lợn mẹ sẽ xốp, dễ gãy, lợn mẹ có thể bị bại liệt ở giai đoạn cuối của quá trình mang thai
Nhu cầu khoáng vi lượng của gia súc là rất nhỏ song chúng không thể thiếu trong khẩu phần Các nguyên tố vi lượng thường có mặt trong các enzim của quá trình trao đổi chất của cơ thể Chúng cũng có vai trò cấu thành nên các thành phần mô của cơ thể Năng suất chăn nuôi sẽ giảm sút đáng kể khi các nguyên tố này không được bổ sung đầy đủ trong khẩu phần ăn Tuy nhiên bổ sung với hàm lượng cao vượt quá giới hạn cho phép sẽ gây ngộ độc nên phải hết sức thận trọng
Bảng 2.3: Nhu cầu hàng ngày về khoáng cho lợn nái ngoại (ĐVT: %)
Nái Trọng
lượng (kg) Ca % Na % % K % P Cl % Mg % % I mg Fe Mg mg Mg Cu
Hậu bị 184 0,7 0,1 0,2 0,6 0,1 0,04 0,1 80 20 5 Nuôi con 200 0,7 0,3 0,2 0,6 0,1 0,04 0,1 80 200 5 ( Nguồn CP-Group )
Trang 34 Vitamin là những yếu tố rất quan trọng và không thể thiếu trong quá trình trao đổi chất của cơ thể Nhu cầu vitamin là khác nhau đối với các loại lợn khác nhau Nhìn chung các vitamin cần thiết được bổ sung trong khẩu phần là vitamin A, D, E
Thiếu vitamin A: lợn con chậm lớn, lợn nái mang thai dễ sảy thai
Thiếu vitamin D: thai phát triển kém, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ Thiếu vitamin E: lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc động dục chậm
Thiếu vitamin PP: lợn còi cọc, ỉa chảy…Đặc biệt lợn nái mang thai, thiếu vitamin sẽ ảnh hưởng tới thành tích sinh sản của lợn nái Do vậy dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần thức ăn hợp lý đáp ứng được các nhu cầu sinh trưởng, phát dục, mang thai, trước và sau khi đẻ, nuôi con…là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất, hiệu quả chăn nuôi
+ Các yếu tố ngoại cảnh:
Khí hậu thời tiết, mùa vụ ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản với các mức độ khác nhau Mùa vụ liên quan tới tỷ lệ thụ thai thể hiện ở sự giảm sụt 10% khi phối giống lợn ở các tháng 6,7,8 so với tháng 11, 12 trong năm Điều này phù hợp với nhận định của các tác giả khác cho rằng vào mùa
hạ nhiệt độ trên 30°C sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi, số con
đẻ ra/lứa thấp Nếu nhiệt độ thấp quá ở mùa đông ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát triển của đàn con, tỷ lệ mắc các bệnh đường hô hấp, tiêu hóa cao Nhiệt độ thích hợp khoảng 18°C - 22°C
+ Điều kiện chăm sóc:
Phương thức chăn nuôi và trình độ kỹ thuật: có ảnh hưởng tới quá trình phát triển sinh dục của lợn cái Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách biệt lợn thì tuổi thành thục sinh dục sẽ dài hơn Trong quy trình chăn nuôi cái hậu
bị đã đạt ra vấn đề tiếp xúc với lợn đực giống hàng ngày
Trang 35- Xác định thời điểm phối giống và kỹ thuật phối giống:
+ Xác định thời điểm phối giống thích hợp:
Căn cứ vào chu kỳ động dục, thời gian rụng trứng thời gian sống cũng như thời gian cần thiết để tinh trùng vận động đến điểm thụ thai thích hợp trong ống dẫn trứng để có thể xác định được thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái
Thời gian rụng trứng của lợn nái thường bắt đầu vào khoảng 16 giờ sau động dục và có thể kéo dài đến 70 giờ
Thời gian cần thiết để tinh trùng vận động đến điểm thụ tinh thích hợp là
2 – 3 giờ và tinh trùng cũng cần thời gian để thực hiện những biến đổi nhất định
để có thể thụ tinh được Bởi vậy tốt nhất là phối giống trước 8 – 12 giờ trước khi trứng rụng
Đối với lợn hậu bị giống ngoại phối giống ngoại phối giống lần đầu vào 12 giờ sau khi chịu đực và sau 12 giờ phối lại Còn đối với lợn nái ngoại đã đẻ 1 lứa thì phối giống lần đầu vào 24 giờ sau chịu đực và sau 12 giờ cho phối lại
+ Kỹ thuật phối giống:
+ Kỹ thuật phối giống ảnh hưởng đến số lượng con/lứa Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa Chú ý rằng nếu lợn nái kéo dài động dục 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8 - 12 giờ trước khi kết thúc chịu đực Cho phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ sẽ giảm nhanh chóng
+ Có hai phương pháp phối giống là trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Thông thường lần phối giống đầu tiên người ta cho lợn nhảy trực tiếp nhưng đến các lần động dục sau thì sử dụng thụ tinh nhân tạo Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng Trong phối giống cho nhảy trực tiếp, ảnh hưởng của cá thể giống là rất rõ rệt Nếu phối trực tiếp sẽ làm giảm khả năng đảm nhiệm của lợn đực nhưng làm tăng khả năng thụ thai do lợn cái được kích thích nhiều hơn Thụ tinh nhân tạo có nhiều ưu điểm hơn nhưng có nhược điểm là giảm tỷ lệ thụ thai do kích thích hưng phấn sinh dục thấp nên người ta thường tiến hành phối
Trang 36đơn, phối kép, phối lặp lại để tăng tỷ lệ thụ thai Thụ tinh không tốt có thể làm sây sát đường niêm mạc sinh dục của con cái dẫn đến viêm đường sinh dục
- Phương pháp nhân giống:
Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau
+ Cho nhân giống thuần chủng thì năng suất của chúng là năng suất của giống đó ví dụ như: Móng Cái x Móng Cái; Yorkshire x Yorkshire
+ Cho lai giống thì năng suất sẽ cao hơn hai giống gốc, các giống gốc càng thuần thì khi lai giống cho ưu thế lai càng cao
Như vậy nhân giống thuần chủng hay nhân giống tạp giao sẽ cho kết quả sản xuất khác nhau
- Thời gian nuôi con:
Thời gian nuôi con có ảnh hưởng tới khoảng cách lứa đẻ qua đó ảnh hưởng tới số lợn con/nái/năm Để rút ngắn thời gian nuôi con cần cai sữa sớm
cho lợn con Vì vậy phải tập cho lợn con ăn sớm vào lúc 7 – 10 ngày tuổi
- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa:
Để nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái cần cai sữa sớm cho lợn con, nhưng nhiều thí nghiệm lại cho rằng: thời gian cai sữa càng sớm thì thời gian động dục trở lại sau cai sữa càng dài và số trứng rụng càng ít (Nguyễn Thiện, 1995) Tốt nhất là cai sữa cho lợn con ở 21 – 28 ngày tuổi
- Lứa đẻ và khoảng cách lứa đẻ:
Khả năng sinh sản của lợn nái bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Khoảng cách lứa đẻ là thời gian để lợn nái hoàn thành một chu kỳ sinh sản gồm: thời gian nuôi con, thời gian động dục trở lại sau cai sữa, thời gian phối giống có chửa và thời gian mang thai Trong 4 yếu tố đó thì thời gian mang thai là không thay đổi, 3 yếu tố còn lại có thể thay đổi Cai sữa sớm cho lợn con
là biện pháp tích cực nhằm tăng số lứa đẻ/nái/năm
- Tuổi đẻ lứa đầu và khối lượng phối giống lần đầu:
Tuổi đẻ lần đầu và khối lượng phối giống lần đầu quá sớm hay quá muộn, quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái Nếu
Trang 37lợn hậu bị đưa vào khai thác quá sớm khi cơ thể phát triển chưa hoàn thiện thì
số trứng rụng ít làm tỷ lệ thụ thai sẽ kém Hơn nữa nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, thể vóc sau này của con mẹ Nếu lợn hậu bị đưa vào khai
thác muộn thì lại làm giảm hiệu quả kinh tế chăn nuôi
- Yếu tố bệnh tật:
Là yếu tố ảnh hưởng khá lớn tới khả năng sinh sản của lợn nái Một số bệnh hay gặp ở lợn nái như: viêm tử cung, teo buồng trứng, viêm vú, bại liệt sau đẻ… Do đó cần có biện pháp phòng tránh thích hợp
Trang 38Phần III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng
Lợn nái F1 (Landace x Yorkshire) phối với đực Duroc và đàn con theo
mẹ từ sơ sinh tới cai sữa
3.1.2 Địa điểm
Đề tài được tiến hành tại trại lợn Linh Hòa tại xã Việt Hùng-Đông
Anh-Hà Nội
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 10/2020 đến tháng 2/2021
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Nội dung 1:
Tình hình chăn nuôi tại trang trại Linh Hòa xã Việt Hùng Đông Anh Hà Nội
3.2.2 Nội dung 2:
Đánh giá năng suất sinh sản của đàn lợn nái F1 (Landrace x Yorkhire)
phối với đực Duroc nuôi tại trại
+ Các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái
- Tuổi động dục lần đầu (ngày)
- Tuổi phối giống lần đầu (ngày)
- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
- Thời gian chờ phối (ngày)
- Thời gian mang thai (ngày)
- Thời gian cai sữa (ngày)
Trang 39- Khoảng cách lứa đẻ (ngày)
+ Các chỉ tiêu năng suất sinh sản:
- Số con đẻ ra/ổ (con)
- Số con đẻ ra còn sống/ổ (con)
- Số con để lại nuôi/ổ (con)
- Số con cai sữa/ổ (con)
- Khối lượng sơ sinh/ ổ (kg)
- Khối lượng sơ sinh/con (kg)
- Khối lượng lúc cai sữa/ổ (kg)
- Khối lượng lúc cai sữa/con (kg)
- Tỷ lệ sống của đàn con (%)
- Tỷ lệ nuôi sống lợn con đến khi cai sữa (%)
- Số lứa đẻ/nái/năm
3.2.3 Nội dung 3:
Xác định tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
- Thức ăn cho lợn nái (chờ phối, chửa và nuôi con) (kg)
- Thức ăn cho lợn con tập ăn (kg)
- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)
- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)
- Thời gian cai sữa (ngày)
- Tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa (kg/kg)
3.2.4 Nội dung 4:
Theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
- Một số bệnh thường gặp trên lợn nái
- Một số bệnh thường gặp trên lợn con