Nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái Tuổi động dục lần đầu Tuổi động dục lần đầu là thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn nái hậu bị động dục lần đầu tiên, tùy theo từng giống
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
Bộ môn : HÓA SINH ĐỘNG VẬT SĐT : 0333835138
Email : dddkhanh@gmail.com
HÀ NỘI – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ trong một khóa luận nào Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho khóa thực tập tốt nghiệp này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Kính gửi Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam cùng các thầy cô
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ từ phía Học Viện và các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám đốc trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, các thầy cô giáo trong Ban chủ nhiệm khoa và toàn thể thầy cô giáo đã dạy bảo giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài này, dưới sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy PGS.TS Đặng Thái Hải – CBGV khoa Chăn nuôi và các thầy cô giáo trong bộ môn Hóa sinh động vật tôi đã hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô đã giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong quá trình làm đề tài
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các cô, bác, anh, chị tại trang trại chăn nuôi New Hope – tỉnh Thanh Hóa đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa luận của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã động viện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
ĐỖ LINH KHÁNH
Trang 5Mục lục
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN x
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 2
1.2.1 MỤC ĐÍCH 2
1.2.2 YÊU CẦU 2
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 LỢN LANDRACE 3
2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SINH LÝ SINH SẢN CỦA LỢN NÁI 3
2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 3
2.3 NHỮNG BIẾN ĐỔI SINH LÝ CHỦ YẾU TRONG CƠ THỂ MẸ KHI CÓ THAI 8
2.3.1 Những biến đổi trong cơ thể mẹ 8
2.3.2 Sự điều tiết thần kinh thể dịch khi chửa 8
2.4 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI 9
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái 9
2.4.2 Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái 10
2.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI 12
2.5.1 Yếu tố di truyền 12
2.5.2 Yếu tố ngoại cảnh 13
2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 19
2.6.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19
2.6.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 22
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 24
3.2.1 Tình hình chung của trang trại 24
3.2.2 Quy trình chăn nuôi và công tác vệ sinh phòng bệnh 25
3.2.3 Một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 33
3.2.4 Năng suất sinh sản của lợn nái 33
3.2.4 Tình hình dịch bệnh 34
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
Trang 63.3.1 Tiến hành nghiên cứu trực tiếp theo đúng đối tượng nghiên cứu 35
3.3.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh dục 35
3.3.3 Theo dõi các chỉ tiêu 35
3.3.4 Tình hình dịch bệnh 37
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 38
PHẦN IV : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN NÁI 39
4.2 NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA NÁI GGP LANDRACE 41
4.2.1 Năng suất sinh sản chung 41
4.2.2 Năng suất sinh sản theo từng lứa của đàn lợn nái thuần Landrace 45
4.4 Năng suất khối lượng lợn con theo từng lứa 47
4.5 TIÊU TỐN THỨC ĂN/KG LỢN CON CAI SỮA 49
4.4 KẾT QUẢ THEO DÕI TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH CỦA ĐÀN LỢN 51
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 KẾT LUẬN 53
5.1.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của nái Landrace GGp 53
5.1.2 Một số chỉ tiêu về năng suất sinh sản của tổ hợp 53
5.1.3 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 53
5.1.4 Tình hình dịch bệnh trên đàn nái và đàn lợn con theo mẹ tại trang trại 53
5.2 ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
A TÀI LIỆU VIỆT NAM 55
B TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI 56
C MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG THỜI GIAN THỰC TẬP 56
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhu cầu năng lượng cho nái 14
Bảng 2.2 Nhu cầu protein cho lợn nái 15
Bảng 3.1 Giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn dùng cho đàn lợn tại trại 27
Bảng 3.2 Biểu hiện lợn nái trước khi đẻ 29
Bảng 3.3 Lịch tiêm vacsin cho lợn của trang trại NewHope 32
Bảng 4.1 Chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái Landrace tại trại 39
Bảng 4.2 Năng suất sinh sản chung của lợn nái Landrace 42
Bảng 4.3 Số con sơ sinh/ổ số con sơ sinh sống/ổ và tỷ lệ sơ sinh sống/ổ và tỷ lệ nuôi sống qua 2 lứa đẻ 45
Bảng 4.4 Theo dõi năng suất khối lượng lợn con 47
Bảng 4.5 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa (kg) 50
Bảng 4.6 Theo dõi bệnh của đàn lợn tại trại NewHope 51
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Số con sơ sinh, số con sơ sinh sống và số con cai sữa (con) 46
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ con sơ sinh sống và tỷ lệ sống đến cai sữa (%) 47
Biểu đồ 4.3 Khối lượng sơ sinh/con và khối lượng sơ sinh/ổ (kg) 48
Biểu đồ 4.4 Khối lượng cai sữa/con và khối lượng cai sữa/ổ (kg) 49
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CS : Cộng sự ĐVT : Đơn vị tính
KL : Khối lượng
L : Giống lợn Landrace NLTĐ : Năng lượng trao đổi
TĂ : Thức ăn
TT : Tăng trọng TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn KLCS/ổ : Khối lượng cai sữa/ổ
Trang 10TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN
PHẦN TÀI LIÊU THAM KHẢO
Tến tác giả: ĐỖ Linh Khánh sinh viên: 600504
Tên đề tài: “NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN NÁI LANDRACE NUÔI TẠI TRANG TRẠI NEW HOPE -XÃ THẠCH TƯỢNG- HUYỆN
- Xác định tiêu tốn thức ăn/1kg lợn cai sữa
Phương pháp nghiên cứu:
Các chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản
Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa(kg)
là 5,34 và 143.07
+Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace đạt kết quả tốt: Số con đẻ ra/ổ là
15.267 con; Khối lượng sơ sinh/con là 1,31 kg Số con cai sữa/ổ là 13.1 con; Khối lượng cai sữa/con là 6.2 kg;
+ Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace qua các lứa đẻ có xu hướng thấp nhất ở lứa 1, sau đó tăng dần ở lứa 2
+ Tiêu tốn thức ăn/1kg lợn cai sữa đặt tương đối tốt:
Tiêu tốn thức ăn/1kg lợn cai sữa của lợn nái Landrace là 5,03
Trang 11PHẦN I: MỞ ĐẦU
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn ở nước ta và trên thế giới là một ngành kinh tế quan trọng cung cấp nguồn thực phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho xã hội Ngoài ra sản phẩm phụ của quá trình chăn nuôi cho trồng trọt cũng như cung cấp nguyên liệu cho các ngành nghề khác như là thời trang, thuốc y tế,…
Vai trò của ngành chăn nuôi lợn ở nước ta là vô cùng quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi lợn cùng với trồng lúa nước là hai thành phần quan trọng và xuất hiện sớm nhất trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Chăn nuôi lợn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Không chỉ cung cấp thực phẩm cho tiêu dung trong nước mà chăn nuôi lợn còn là nguồn thực phẩm xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế cao
Cùng với nhu cầu của người tiêu dùng hiện nay ngày một tăng cao, đòi hỏi chất lượng thịt cần được cải thiện hơn về: tỷ lệ nạc cao, tỷ lệ mỡ thấp, thịt có màu sắc đẹp, hương vị thơm ngon, tỷ lệ mỡ dắt cao, không bị tồn dư kháng sinh, chất cấm và các chất kích thích khác… Đây là một thách thức cho ngành chăn nuôi nói chung và các ngành khác nói riêng Do vậy chăn nuôi lợn ở nước ta ngày càng được quan tâm sâu rộng hơn, không chỉ đơn giản phát triển về quy
mô, cải tiến phương thức nuôi dưỡng mà quan trọng hơn cả là tạo được con giống tốt để đáp ứng được các nhu cầu nói trên Để làm được điều này phải có giống thuần giống cao sản để nhân giống, đem lai tạo ra con lai có khả năng sinh sản, sinh trưởng tốt tăng trọng nhanh mà lại tiêu tốn ít thức ăn, thích nghi tốt với môi trường sống, có sức chống đỡ bệnh cao đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trang 12Xuất phát từ tình hình trên, để góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn ngoại trong điều kiện chăn nuôi hiện nay, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace nuôi tại trại New Hope – thôn Tượng liên 1, xã Thạch Tượng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa”
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU
1.2.1 MỤC ĐÍCH
Đánh giá quy trình nuôi dưỡng chăm sóc
Đánh giá năng suất sinh sản của đàn lợn nái
Xác định tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa
Theo dõi tình hình dịch bệnh và công tác vệ sinh thú y tại trang trại
Đánh giá được hiệu quả chăn nuôi lợn nái tại trang trại
1.2.2 YÊU CẦU
Số liệu thu thập được phải chính xác, đầy đủ và khách quan
Tiến hành cân, đo, đong đếm chính xác trong thí nghiệm
Trang 13PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 LỢN LANDRACE
- Đặc điểm ngoại hình
Xuất xứ từ Đan Mạch, lợn có thân hình cao dài, tỷ lệ thịt nạc cao, nuôi tang trọng nhanh Lợn toàn thân có màu trắng tuyền, đầu nhỏ dài, tai to, cụp, rủ về kín mặt Mình tròn lằn, hình nêm, ngực và bụng gọn, 4 chân thon chắc, mông nở, đầy, thân hìh nhọn về phía trước, càng về sau càng phát triển
- Năng suất sản xuất
10 – 12 con/lứa, 2,2 nái/nứa/năm, nuôi con khá
- Khả năng thích nghi
Dễ bị stress, thích nghi kém trong điều kiện nóng bức
2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SINH LÝ SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
Sinh sản là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể sống nhằm đáp ứng duy trì nòi giống và đảm bảo cho sự tiến hoá của sinh vật, đây là một đặc tính của sinh vật
Đặc biệt trong chăn nuôi lợn nái sinh sản rất quan trọng và được quan tâm hàng đầu Nhắm tới mục đích làm sao cho lợn nái sinh sản nhiều nhất trong một thời gian ngắn, từ đó đem lại hiệu quả cao cho người chăn nuôi
Trang 14+ Bộ máy sinh dục gần hoàn thiện, con cái xuất hiện chu kỳ động dục lần đầu, trứng bắt đầu rụng, con đực sinh tinh Lúc này, trứng và tinh trùng gặp nhau
có khả năng thụ thai Nhưng trong thực tế sản xuất không bao giờ cho lợn 4 cái sinh sản ở lần động dục đầu tiên vì cơ thể đã phát triển nhưng chưa hoàn thiện
+ Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp: bẹ vú phát triển và lộ rõ hai hàng vú, âm hộ to lên hồng hào
+ Xuất hiện các phản xạ sinh dục: con đực có biểu hiện nhảy lên con cái,
có phản xạ giao phối Con cái động dục
+ Sự thành thục về tính thường sớm hơn sự thành thục về thể vóc Lợn nội thành thục lúc 4 đến 5 tháng, lợn ngoại 6 đến 7 tháng Để tăng thời gian và hiệu quả sử dụng lợn nái, thì việc xác định tuổi thành thục có ý nghĩa hết sức quan trọng
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính:
+ Giống: Các giống khác nhau sẽ có tuổi thành thục về tính khác nhau, thông thường giống nội sẽ thành thục về tính sớm hơn giống ngoại Ở cùng một giống thì gia súc cái thành thục về tính sớm hơn gia súc đực
+ Các yếu tố ngoại cảnh: Yếu tố di truyền, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, khí hậu, nhiệt độ… tất cả đều có ảnh hưởng đến sự thành thục của lợn nái
+ Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng: Lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cung cấp đầy đủ về nhu cầu năng lượng, protein, khoáng, vitamin thì tuổi thành thục về tính sớm hơn lợn nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém
Theo Gurger (1972), lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình là 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng là 80
kg và nếu nuôi trong điều kiện kém thì tuổi thành thục khoảng 234,8 ngày (trên
7 tháng tuổi) và với khối lượng là 48,4 kg
+ Mùa vụ và thời gian chiếu sáng: Lợn cái sinh ra trong mùa xuân sẽ thành thục về tính sớm hơn so với các mùa khác
Trang 15+ Thời tiết, nhiệt độ: Các yếu tố thời tiết và ngoại cảnh cũng ảnh hưởng tới độ tuổi thành thục về tính Các con lợn ở vùng khí hậu nóng luôn thành thục sớm hơn những con ở vùng có khí hậu lạnh
+ Ảnh hưởng của lợn đực: Theo Hughes và James (1996) cho biết lợn nái đạt 90 kg thể trọng trở lên ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần 15 – 20 phút thì có tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu Qua đó cho thấy, đực giống cũng có ảnh hưởng đến động đục của lợn cái
Sự thành thục về thể vóc
Khi đã thành thục về tính con vật vẫn tiếp tục sinh trưởng, phát triển để hoàn thiện về thể vóc Hoàn thiện về thể vóc là tuổi mà con vật đã có sự phát triển hoàn thiện về ngoại hình, xương đã được cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn định đây mới là thời điểm tốt nhất để con vật thực hiện các hoạt động sinh sản
Tuổi thành thục về thể vóc bao giờ cũng muộn hơn tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục đầu tiên Lúc này
sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính thì không nên cho gia súc sinh sản quá sớm Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt nhất, nên số con
đẻ ra ít, chất lượng đời con kém
Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp nên dễ gây hiện tượng khó đẻ Nó sẽ gây ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Đối với lợn nái nội khi được 7- 8 tháng tuổi lúc đó khối lượng đạt 50 - 60
kg nên cho phối, với lợn nái ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi khối lượng đạt
100 –120 kg mới nên cho phối
b) Chu kỳ tính và sự điều tiết chu kỳ tính
Chu kỳ tính
Khi lợn nái thành thục về tính, cơ thể của nó có những biến đổi theo từng giai đoạn, bên trong có hiện tượng rụng trứng Các biến đổi sau này lặp đi lặp lại trong khoảng thời gian nhất định theo chu kỳ gọi là chu kỳ tính Nắm vững chu
kì tính ta sẽ có nhiều lợi ích:
Trang 16- Phát hiện kịp thời hiện tượng động dục và trứng rụng nâng cao được tỷ lệ thụ thai, góp phần phát triển đàn lợn
- Chủ động điều khiển kế hoạch sinh sản, nuôi dưỡng, khai thác sản phẩm Góp phần đề phòng hiện tượng vô sinh
- Thời gian của mỗi chu kỳ trung bình là 21 ngày, có thể dao động từ 18 - 25 ngày và chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục Giai đoạn này kéo dài khoảng 1 - 2 ngày kể từ khi thể vàng bị tiêu hủy đến khi động dục lần tiếp theo Giai đoạn này noãn bao phát triển nổi lên bề mặt của buồng trứng và tăng tiết hormone oestrogen làm cho cơ quan sinh dục cái có nhiều biến đổi như: tử cung, âm đạo bắt đầu xung huyết, các tuyến sinh dục phụ và âm đạo tiết ra dịch nhầy nhằm bôi trơn đường sinh dục Một số con có biểu hiện nhảy lên lưng con khác nhưng chưa cho con khác nhảy lên Đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cho đường sinh dục của con cái đón trứng, tiếp nhận tinh trùng và thụ tinh
+ Giai đoạn động dục Đây là giai đoạn quan trọng nhất, khoảng từ 2 - 3 ngày bao gồm 3 thời kỳ liên tiếp: hưng phấn, chịu đực, hết chịu đực Hormone oestrogen tiết ra nhiều nhất làm cho con vật hưng phấn mạnh nhất Biểu hiện cụ thể như: âm hộ xung huyết có màu đỏ hồng, càng gần thời điểm rụng trứng càng
có màu sẫm Tử cung mở rộng âm đạo tiết nhiều dịch nhầy Thông thường trứng rụng khoảng 24 - 30 giờ sau khi động dục và kéo dài từ 10 - 15 giờ Trong giai đoạn này lợn có biểu hiện: ăn ít, bồn chồn, đứng ngồi không yên, nhiệt độ cơ thể lợn nái cũng tăng lên
+ Giai đoạn sau động dục
Kéo dài khoảng 3 ngày được tính từ khi hết động dục và kéo dài trong khoảng thời gian vài ngày Khi thể vàng hình thành hormone progesteron được tiết ra để ức chế trung khu sinh dục vùng dưới đồi, tuyến yên giảm tiết 7 hormone estrogen từ đó giảm hưng phấn, bài tiết tử cung giảm đi, âm hộ teo và tái lại, lợn ăn tốt hơn, lợn cái không chịu đực, cơ thể dần trở lại bình thường, sau
Trang 1714 – 15 ngày thể vàng sẽ tiêu biến và một chu kỳ mới lại bắt đầu còn nếu gia súc mang thai thể vàng sẽ tồn tại đến 2 – 3 ngày trước khi đẻ
+ Giai đoạn yên tĩnh
Kéo dài trong khoảng 6 ngày, thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi rụng trứng nếu trứng không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng bị hủy Giai đoạn này cơ thể hoàn toàn bình thường, không có biểu hiện hưng phấn về sinh dục Đây là giai đoạn chuẩn bị cho kỳ tiếp theo
Hiện nay người chăn nuôi thường áp dụng phương pháp phối nhiều lần, nhất là thụ tinh nhân tạo, lần trước cách lần sau 12 giờ và có thể phối tới 3 lần cho một con nái khi động dục, nhất là đối với lợn ngoại
Sự điều tiết chu kỳ tính
Chu kỳ tính của lợn nái được điều khiển bởi thần kinh và thể dịch theo cơ chế điều hòa ngược
Dưới tác động của yếu tố ngoại cảnh, não bộ tác động đến vùng dưới đồi giải phóng ra hormone sinh dục GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone) GnRH kích thích thùy trước tuyến uyên sản xuất ra các hormone như FSH, LH, Prolactin
FSH (Follicle Stimulating Hormone): thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của noãn bao, làm cho noãn bao phân chia qua các thời kỳ khác nhau
LH (Luteinzing Hormone): làm trứng chín và rụng, kích thích sự hình thành thể vàng
Prolactin: thúc đẩy sự tiết sữa, kích thích sự hoạt động của thể vàng, tiết progesteron và thúc đẩy bản năng làm mẹ
FSH tiết ra trước, LH tiết ra sau Trứng rụng khi tỉ lệ FSH/LH = 2/1 - 3/1 Thể vàng được hình thành sau khi rụng trứng và sẽ sản sinh ra hormone progesteron Hormone này cùng với estrogen thúc đẩy sự tăng sinh lớp nội 8 mạc tử cung chuẩn bị đón hợp tử Progesteron duy trì quá trình mang thai, kích thích tuyến vú phát triển và ức chế tuyến yên tiết FSH và LH
Trang 182.3 NHỮNG BIẾN ĐỔI SINH LÝ CHỦ YẾU TRONG CƠ THỂ MẸ KHI
CÓ THAI
2.3.1 Những biến đổi trong cơ thể mẹ
Khi gia súc có thai, kích tố của thể vàng và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác Thời kỳ đầu có thai lợn ăn uống tốt, quá trình trao đổi chất tăng nên lợn thường béo và mượt lông hơn khi chưa có thai Khi có thai thời kỳ cuối, thai phát triển mạnh, nhu cầu cung cấp dinh dưỡng cao, do đó nếu chăm sóc kém, khẩu phần ăn của mẹ không đảm bảo đầy đủ đạm, khoáng và các nguyên tố vi lượng, vitamin thì không những bào thai phát triển không bình thường mà sức khoẻ của lợn mẹ còn giảm sút Đặc biệt nếu thiếu Ca
và P nghiêm trọng thì lợn mẹ bị bại liệt trước khi đẻ
Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục: Khi lợn có thai, trên bề mặt buồng trứng xuất hiện thể vàng, ở lợn số lượng thể vàng nhiều hơn số lượng bào thai Tử cung phát triển, niêm mạc tăng sinh dầy lên tuần hoàn máu tăng cường lượng máu đến tử cung nhiều, niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ (Trần Tiến Dũng, 2002) Lợn nái chửa kỳ cuối tử cung nặng 2,5 - 6kg (không kể thai) bình thường chỉ nặng 0,2 - 0,5kg
Ngoài ra cơ năng tiêu hóa tiết niệu của cơ thể mẹ cũng bị ảnh hưởng: táo bón, đái dắt…
2.3.2 Sự điều tiết thần kinh thể dịch khi chửa
- Thần kinh: sau khi thụ thai vỏ não hình thành vùng hưng phấn trội tiếp nhận các biến đổi hóa học và cơ học từ các thụ quan của tử cung để đảm bảo cung cấp máu, niêm mạc tử cung tăng sinh, tăng tiết dịch Hưng phấn mạnh nhất vào tháng thứ 2 nên lúc này rất dễ sẩy thai
- Thể dịch: Progesteron là Hormone do thể vàng và nhau thai tiết ra ở lợn
Có tác dụng súc tiến việc làm tổ của hợp tử, kích thích tế bào biểu mô màng
Trang 19nhầy tử cung tiết ra nhiều Glycogen và chất dinh dưỡng cho trứng được thụ tinh
dễ cố định và phát triển, giảm co bóp tử cung, thúc đẩy tuyến vú phát triển, ức chế tuyến uyên tiết FSH và LH do ức chế noãn bao phát triển con vật có chửa sẽ không động dục và thải trứng Prostaglandin do nhau thai tiết ra ở kỳ chửa cuối
có tác dụng phá thể vàng Oestrogen thời kỳ chửa cuối nhau thai tiết ra nhiều Oestrogen có tác dụng tăng sự mẫn cảm của cơ trơn tử cung với Oxytocin Relaxin cũng do nhau thai tiết ra ở kỳ cửa cuối có tác dụng làm giãn dây chằng xương chậu mở cổ tử cung gây đẻ, kết thúc thời kỳ chửa
2.4 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI 2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái
Tuổi động dục lần đầu
Tuổi động dục lần đầu là thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn nái hậu bị động dục lần đầu tiên, tùy theo từng giống và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng khác nhau mà tuổi động dục khác nhau Lợn ngoại có tuổi động dục muộn hơn lợn nội như Yorkshire nhập vào Việt Nam có tuổi động dục lần đầu 203 – 208 ngày, Landrace có tuổi động dục lần đầu là 208 – 209 ngày
Tuổi phối giống lần đầu
Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta bỏ qua không phối vì thời điểm này thể vóc phát triển chưa hoàn chỉnh và số lượng trứng rụng lần đầu ít,
do đó nên phối giống vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 trở đi Tuổi phối giống lần đầu thích hợp với lợn nội là 7,5-8 tháng tuổi, với lợn ngoại là 8- 8,5 tháng tuổi
Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi để lứa đầu là thời gian từ khi lợn được sinh ra cho đến khi lợn đẻ lứa đầu, chính là tuổi phối giống lần đầu có chửa cộng thời gian mang thai Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi phối giống lần đầu, kết quả phối giống, thời 10 gian mang thai và giống lợn Đối với lợn ngoại tuổi đẻ lứa đầu thường muộn hơn lợn nội do tuổi thành thục về tính cũng muộn hơn
Trang 20 Thời gian mang thai
Thời gian mang thai là một chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn Thời gian này dao động từ 110 – 117 ngày, trung bình 114 ngày Thời gian mang thai ít phụ thuộc vào đặc tính của con cái, các yếu tố như mùa vụ hoặc giống
Thời gian chờ phối
Thời gian chờ phối là khoảng thời gian động dục trở lại sau khi cai sữa đến khi phối giống có chửa, số ngày phối giống có chửa sau khi cai sữa thường
là 5 – 7 ngày Thời gian chờ phối phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, chế độ dinh dưỡng trong thời gian nuôi con và thời gian cai sữa cho lợn con Chỉ tiêu này đánh giá tỉ lệ hao hụt của con nái, trình độ kĩ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng của lợn nái nuôi con và lợn nái chờ phối
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ là khoảng thời gian được tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày đẻ lứa sau, và được tính bằng tổng: thời gian mang thai, thời gian nuôi con, thời gian chờ phối đến lúc có chửa
2.4.2 Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái
Số con sơ sinh/ổ
Số con sơ sinh/ổ là tổng số con đẻ ra trên một lứa gồm cả số thai gỗ và số thai chết sau khi đẻ Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai của lợn nái, đồng thời cũng đánh giá được kĩ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái của cơ sở chăn nuôi
Số con sơ sinh sống/ổ
Số con sơ sinh sống/ổ là số con sơ sinh sống đến 24h kể từ khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối với lợn nội và 0,5 kg đối với lợn ngoại Chỉ tiêu này đánh giá khả năng đẻ 11 nhiều hay ít của lợn nái, kỹ thuật chăm sóc lợn nái chửa, kỹ thuật thụ tinh và chất lượng tinh của đực giống
Tỷ lệ sơ sinh sống/ổ
Trang 21Tỷ lệ sơ sinh sống/ổ được tính như sau:
Khối lượng sơ sinh/ổ
Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng toàn ổ cân được sau khi lợn con sinh
ra được lau khô, cắt rốn và chưa bú sữa đầu Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi thai của lợn mẹ, khả năng sinh trưởng của thai cũng như sức sống của thai
ở thời kì trong bụng mẹ Khối lượng sơ sinh/ổ phụ thuộc vào yếu tố giống Các giống lợn ngoại có khối lượng sơ sinh/ổ cao hơn so với giống lợn nội Khối lượng sơ sinh/ổ còn phụ thuộc vào yếu tố dinh dưỡng của lợn nái trong thời kì chửa, nhất là trong giai đoạn chửa cuối
Số con cai sữa/ổ
Số con cai sữa/ổ là số con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn tùy thuộc vào điều kiện của từng cơ sở và thể trạng của lợn mẹ Trong thực tế người ta thường cai sữa khi lợn con được 21 - 28 ngày tuổi, nhưng cũng có thể ngắn hơn
Đây là chỉ tiêu quan trọng phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, đồng thời cho biết chất lượng của giống, trình độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quy trình vệ sinh, phòng bệnh của người chăn nuôi
Qua đó giúp ta tính được tỷ lệ nuôi sống đến khi cai sữa như sau:
Trang 22Số con sống đến cai sữa
Số con để nuôi
Khối lượng cai sữa/ổ
Khối lượng cai sữa/ổ là tổng khối lượng toàn ổ lúc cai sữa Chỉ tiêu này phụ thuộc vào số con cai sữa/ổ và thời gian cai sữa Qua đó đánh giá được khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc lợn nái và lợn con theo mẹ của người chăn nuôi
Khối lượng cai sữa/con
Khối lượng cai sữa/con là khối lượng của từng con lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh trưởng của từng con và khả năng nuôi con của lợn
Trong các yếu tố ảnh hưởng tới sức sản xuất của lợn nái có thể chia làm 2 loại: - Yếu tố di truyền
Những yếu tố liên quan đến số lợn con đẻ con
Trang 23Thông thường số lợn con đẻ ra không bao giờ bằng số trứng rụng, có một
số yếu tố gây ra sự khác biệt này
Tỷ lệ giữa số trứng được thụ tinh so với số trứng rụng: số lượng trứng rụng ở mỗi lần động dục dao động từ 10 – 25 trứng Tỷ lệ giữa số trứng được thụ tinh/số trứng rụng là 90% Tỷ lệ này chịu ảnh hưởng bởi: thời điểm thụ tinh, chất lượng tinh dịch…
Tỷ lệ tiêu phôi: hiện tượng tiêu phôi là số trứng đã được thụ tinh bị biến mất trước khi có thể bám chặt vào sừng tử cung, tức là trước 25 ngày chửa đầu,
tỷ lệ này lên tới 25%
Tỷ lệ phôi chết: từ ngày thứ 39 đến ngày thứ 114, lợn con lấy dinh dưỡng
từ lợn mẹ qua nhau thai Lúc này khối lượng và thể tích bào thai tăng lên rất nhanh, chiều dài và chiều cao thân, vai phát triển mạnh, bộ xương được hình thành, các cơ quan nội tạng và bốn chân phát triển rõ
2.5.2 Yếu tố ngoại cảnh
Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng thứ 2 sau giống, là tiền đề giống phát huy hết khả năng vốn có Nó tác động trực tiếp lên 8 yếu tố cấu thành nên năng suất sinh sản của lợn
Thức ăn có vai trò quan trọng đối với năng suất sinh sản của lợn nái, là nguồn cung cấp dinh dưỡng và năng lượng cho tất cả mọi hoạt động sống của cơ thể Do đó thức ăn phải cung cấp đầy đủ cả về số lượng và chất lượng thì con giống mới biểu hiện hết tiềm lực di truyền của giống Lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau thì nhu cầu dinh dưỡng khác nhau Lợn nái chửa cần nhu cầu dinh dưỡng ít hơn lợn nái nuôi con
Ảnh hưởng của năng lượng
Năng lượng là yếu tố không thể thiếu trong mọi hoạt động sống của cơ thể
và được cung cấp dưới hai dạng: gluxit chiếm 70-80%, lipit chiếm khoảng 13% tổng số năng lượng cung cấp (Võ Trọng Hốt và cs, 2000)
Trang 2410-Việc cung cấp năng lượng theo nhu cầu của từng giai đoạn của lợn nái cho phù hợp có ý nghĩa đặc biệt: vừa để đảm bảo chức năng sinh sản, vừa để đảm bảo chức năng sinh lý bình thường cho lợn nái và nâng cao hiệu quả kinh
tế Nếu cung cấp năng lượng thừa hoặc thiếu đều ảnh hưởng không tốt đến năng suất sinh sản của lợn nái
Nếu cung cấp năng lượng thừa trong giai đoạn mang thai làm cho lợn nái béo quá gây ra hiện tượng chết phôi, khó đẻ, giảm tiết sữa ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đàn con, làm lợn con bị tiêu chảy do sữa chứa nhiều mỡ
Ngược lại nếu cung cấp thiếu năng lượng trong thời gian mang thai làm cho lợn nái quá gầy, con đẻ ra bé, lợn con còi cọc, chậm lớn, lợn mẹ chậm động dục trở lại sau cai sữa
Riêng đối với con nái đẻ lần đầu còn ảnh hưởng tới sự phát triển của thể vóc, nếu cung cấp thiếu năng lượng thể vóc phát triển không đầy đủ, năng suất sinh sản kém, lợn nhanh bị loại thải
Việc cung cấp năng lượng theo nhu cầu từng giai đoạn của lợn nái cho phù hợp có ý nghĩa đặc biệt trong sinh sản, vừa đảm bảo cho nhu cầu duy trì hoạt động vừa đảm bảo cho sinh sản bình thường và nâng cao hiệu quả kinh tế
Nhu cầu năng lượng cho lợn nái ngoại theo từng giai đoạn được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Nhu cầu năng lượng cho nái
(Vũ Đình Tôn, 2009)
Ảnh hưởng của protein
Protein là thành phần rất quan trọng không thể thiếu được trong khẩu phần ăn của bất cứ loài động vật nào Protein là thành phần cấu tạo lên các bộ phận trong cơ thể chủ yếu là mô cơ, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng
Trang 2515 thịt Nếu cung cấp thiếu protein ở giai đoạn mang thai sẽ làm khối lượng lợn
sơ sinh thấp, số con đẻ ra ít, thể trạng yếu Ở giai đoạn nuôi con có ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng sữa, từ đó ảnh hưởng tới khả năng nuôi con của lợn
mẹ Ngược lại nếu thừa protein trong giai đoạn mang thai sẽ làm tăng tỷ lệ chết thai gây lãng phí protein và gây ô nhiễm môi trường, làm giảm hiệu quả kinh tế
Nhu cầu protein cho từng giai đoạn của lợn nái được thể hiện ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Nhu cầu protein cho lợn nái Nái
(CP – GROUP)
Ảnh hưởng của khoáng chất
Khoáng rất quan trọng đối với vật nuôi ngoài chức năng cấu tạo mô cơ thể còn tham gia vào quá trình chuyển hoá của mô trong cơ thể Chiếm 3% trong cơ thể nhưng là yếu tố cần thiết cho sự tạo xương, mô và cân bằng nội mô Trong
đó có 75% là canxi và photpho, natri và kali, còn lại khoảng 25% có một lượng nhỏ magie, sắt, đồng Vì vậy thiếu khoáng con vật bị rối loạn trao đổi chất sinh sản bị ngừng trệ, sức sản xuất sút kém
Canxi - Photpho: Canxi và photpho có vai trò quan trọng trong việc phát triển bộ xương, thực hiện những chức năng sinh lý khác nhau của cơ thể Trong
cơ thể chiếm 90% Ca, 80% P Nếu thiếu canxi và photpho làm cho khung xương phát riển không bình thường, xương dễ gẫy Nái mang thai nhu cầu cao hơn nái hậu bị Nếu trong khẩu phần thiếu Ca, P thì bào thai phát triển kém, con đẻ ra bị còi xương, chậm lớn, lợn mẹ bị bại liệt, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản Theo Vũ Huy Giảng và cộng sự (1999) thiếu Ca, P lợn gầy còm, sưng khớp,
Trang 26sưng xương mặt, xương biến dạng cong, bại liệt chân sau Tỷ lệ Ca/P bằng 2/1 là phù hợp
Khoáng vi lượng: Nhu cầu về khoáng vi lượng trong khẩu phần ăn rất nhỏ, song cũng rất cần thiết Các chất khoáng vi lượng chủ yếu hình thành nên các men, các chất xúc tác cho quá trình tổng hợp các chất trong cơ thể Nếu cung cấp thiếu sẽ dẫn đến một số men trong cơ thể bị thiếu hoặc không hoạt động được gây ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể như thiếu Fe, Cu…gây thiếu máu Nếu cung cấp thừa sẽ gây ngộ độc cho cơ thể và ảnh hưởng tới phẩm chất thịt
Kali, natri, clorua: Nó là các catiron và anion, ngoài tế bào trong cơ thể
Na, K, Cl là các ion chính ảnh hưởng đến sự cân bằng chất điện giải và trạng thái Axitbazơ Nếu thiếu Na, Cl, K giảm tốc độ sinh trưởng của lợn, giảm tính ngon miệng, giảm lượng sữa nếu năng cơ thể gây tử vong nhưng nếu thừa gây ngộ độc, rối loạn trao đổi nước và chất điện giải
Sắt: Trong cơ thể sắt cùng với đồng và axit folic, vitamin B12 tổng hợp nên Hemoglobin Ngoài ra, sắt còn có trong hệ thống enzim tham gia vào quá trình photphorin oxy hoá, truyền điện tử và hoạt hoá men Peroxydaza Nếu thiếu sắt triệu chứng điển hình là thiếu máu, bệnh này xảy ra ở lợn con theo mẹ, thiếu sắt lợn ít bú, kém hoạt động, dễ mắc bệnh lợn con phân trắng làm cho lợn con
xù lông, còi cọc, chậm lớn, có thể dẫn đến chết
Đồng, kẽm, mangan và iod: Đây là những chất thuộc nhóm khoáng vi lượng, cơ thể cần với một lượng rất nhỏ nhưng không thể thiếu được Các chất này đều là thành phần của một số enzim tham gia vào quá trình trao đổi chất và chuyển hoá trong cơ thể
Trong khẩu phần ăn của lợn nếu thiếu Mn thì xương phát triển không bình thường, tăng tích mỡ, chu kỳ động dục không rõ ràng, tiêu thai, lợn con sinh ra yếu, lợn mẹ tiết sữa giảm (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1999)
Trang 27Trong chăn nuôi công nghiệp phải đặc biệt chú ý bổ sung khoáng chất cho khẩu phần ăn của lợn mẹ nhằm đảm bảo sức khoẻ của lợn mẹ đồng thời đảm bảo
sự phát triển mô xương của bào thai
Ảnh hưởng của vitamin:
Vitamin là những yếu tố rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình trao đổi chất của cơ thể Nhu cầu vitamin là khác nhau đối với các loại lợn khác nhau Nhìn chung các loại vitamin cần thiết được bổ sung trong khẩu phần là vitamin A, D, E
Nếu thiếu một trong các loại vitamin trên đều gây ra những ảnh hưởng không tốt với quá trình phát triển của cơ thể gia súc, làm giảm năng suất, hiệu quả chăn nuôi
- Thiếu vitamin A: lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai
dễ xảy thai, đẻ non…
- Thiếu vitamin D: thai kém phát triển, lợn con chậm lớn, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ
- Thiếu vitamin E: có hiện tượng chết thai, lợn không động dục hoặc động dục chậm
Đặc biệt lợn nái mang thai thiếu vitamin sẽ ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái Do vậy trong khẩu phần ăn hàm lượng vitamin phải đầy đủ và hợp lý
Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu thời tiêt, mùa vụ
Nhiệt độ môi trường quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai Nhiệt độ thích hợp cho lợn nái từ 18 – 210C Nếu nhiệt độ chuồng lớn hơn 300C sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai, tăng tỷ lệ chết phôi, do đó mùa hè tỷ lệ thụ thai
và số con đẻ ra/lứa thấp hơn các mùa khác
Phương pháp phối giống
Kỹ thuật phối giống ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng con/lứa, chọn thời điểm và phương pháp thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa
Trang 28Có hai phương pháp phối giống cho lợn là phối giống trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng Nếu phối giống trực tiếp sẽ tốn thời gian và giảm khả năng đảm nhiệm của lợn đực nhưng làm tăng khả năng thụ thai do lợn cái được kích thích nhiều hơn Thụ tinh nhân tạo
có nhiều ưu điểm hơn nhưng nhược điểm là không tạo được hưng 18 phấn tốt nên giảm tỷ lệ thu thai nên người chăn nuôi thường tiến hành phối kép, phối lặp lại nhiều lần đẻ đạt kết quả cao
Ảnh hưởng của lứa đẻ
Khả năng sản xuất của lợn nái ở các lứa đẻ khác nhau là khác nhau Thông thường ở lứa đầu cho số con thấp nhất, từ lứa thứ hai trở đi số lượng con tăng đến lứa thứ tư, lứa 6 – 7 bắt đầu giảm dần Bằng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng có thể kéo dài thành tích sinh sản từ lứa 6 – 10 sẽ có lợi hơn là thay thế lợn nái hậu bị
Thời gian nuôi con
Thời gian nuôi con dài hay ngắn còn ảnh hưởng tới mức độ hao hụt của con nái vì thế cũng ảnh hưởng đến chất lượng lứa đẻ sau Nếu nuôi con trong thời gian dài thì sau cai sữa con nái cần thời gian dài hơn để phục hồi lại trạng thái sức khỏe đảm bảo cho các lứa đẻ tiếp theo
Yếu tố bệnh tật
Ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn nái Một số bệnh thường gặp như viêm tử cung, viêm vú, bại liệt sau đẻ… Lợn nái sẽ mệt mỏi, bỏ
Trang 29ăn hoặc kém ăn, lười vận động nên ít sữa dẫn đến chất lượng đàn con thấp từ đó làm ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế
2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 2.6.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các giống lợn Yorshire, Landracee, Duroc được nuôi phổ biến ở tất cả các nước nuôi lợn hướng nạc phát triển và nhân ra khắp thế giới bởi các ưu điểm
là khối lượng cơ thể lớn, tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao, năng suất sinh sản khá, khả năng thích nghi tốt Ở Liên Xô (cũ) lợn Yorshire chiếm 85%, còn châu Âu chiếm 54% Năm 1960 tỷ lệ Landrace trong cơ cấu của Cộng hòa Dân chủ Đức 56,5% Chính vì vậy mà cho đến nay rất nhiều nghiên cứu và thông báo về khả năng sinh sản của 2 giống Yorshrie và Landrace White và cs (1991) đã nghiên cứu trên lợn Yorshrie cho thấy: tuổi động dục lần đầu là 210 ngày, số con đẻ ra còn sống của 20 ổ ở lứa 1 trung bình là 7,2 con/ổ
Stoikov và cs (1996) đã nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn Yorshrie
và Landrace có nguồn gốc khác nhau nuôi ở Bungari cho biết số con đẻ ra/ổ ở các giống khác nhau là khác nhau Cụ thể là Yorshire ở Anh 9,7 con/ổ, Yorshire Thụy Điển 10,6 con/ổ, Yorshire Ba Lan 10,5 con/ổ, Landrace ở Anh là 9,8 con/ổ, Landrace ở Bungari 10 con/ổ, Landrace ở Bỉ là 8,5 con/ổ Theo Lê Thanh Hải và ctv (1997) thì Pháp có số con đẻ ra sống/ổ của Yorshire năm 1991 là 11,4; năm 1992 là 11,5 Ở Landrace số liệu tương ứng là 11,7 và 12 con ở Anh lượn Landrace có số con đẻ ra/ổ sống là 10,82 con và Yorshire là 10,73 con
Nghiên cứu trên 4 nhóm lợn nái Large White (LW) x Landrace (L) x Pietrain, LW x LW, L x L, Radovie (1998) đã công bố tỷ lệ đẻ trên bốn nhóm lần lượt là 89,4; 76,5; 81,2 và 83,3%, số con đẻ ra là 9,67; 9,15; 10,81 và 10.47 con, khối lượng toàn ổ sơ sinh đạt 12,29; 11.31; 13,44 và 13,40 kg, tỷ lệ hao hụt
sơ sinh đến cai sữa là 7,49; 23,48; 12,64 và 6,58% Ngoài ra, các giống lợn ngoại mà đặc biệt là 2 giống lượn Landrace và Boroy (Anh), Costiwol (Anh), Ahip, Khip (Hungari), Hypor (Hà Lan)
Trang 30Trên thế gới hiện nay, hai giống lợn được nghiên cứu nhiều nhất là Landrace và Yorkshire, các nghiên cứu chủ yếu về các đặc đểm sinh lý, sinh 20 sản của chúng nhằm nâng cao khả năng sinh sản của chúng
Như đã biết Landrace và Yorkshire là hai giống được nuôi phổ biến và rộng rãi trên nhiều nước do đây là giống có khả năng thích nghi cao, năng suất sinh sản cao, tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc khá cao Nhiều nghiên cứu về năng suất sinh sản ở lợn của các tác giả trên thế giới có ý nghĩa quan trọng với ngành chăn nuôi lợn của thế giới nói chung và của nước ta nói riêng
Các nghiên cứu đó không chỉ giúp ta đánh giá được năng suất của các giống lọn ngoại khi đem vào sử dụng tại Việt Nam mà còn giúp ta có biện pháp trong định hướng lai tạo hoặc nuôi thích nghi đàn hạt nhân
Một số công trình nghiên cứu về khả năng sinh sản của các giống lợn này như: Nghiên cứu năng suất sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire có nguồn gốc khác nhau nuôi ở Bungari, Stoikov và cs (1996) cho biết: số con đẻ ra/ ổ ở các giống khác nhau là khác nhau (Yorkshire Anh – 9,7con/ ổ; YorkshireThụy Điển – 10,6con/ ổ; Yorkshire Ba Lan – 10,5con/ ổ; Landrace Anh – 9,8 con/ ổ; Landrace Bungari – 10 con/ ổ; Landrace Bỉ - 8,5 con/ ổ)
Tác giả Schmidlin (1996) đưa ra kết quả nghiên cứu trên lợn nái Yorkshire và Landrace qua các lứa đẻ như sau:
Trang 31Lứa đẻ
Số con đẻ ra còn sống (con)
Khoảng cách lứa
đẻ (ngày)
Số con đẻ ra còn sống (con)
Các chỉ tiêu Landrace Yorkshire
Số con đẻ ra/ ổ (con) 12,0 11,5
Số con chết lúc sơ sinh (con) 1,4 1,1
Tỷ lệ chết đến cai sữa (%) 14,1 11,5
Số con cai sữa/ nái/ năm (con) 22,0 21,8
Keer và cs (1995) đã nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn Landrace được chọn lọc như sau: số con đẻ ra/ ổ là: 12,00 con; số con cai sữa/ ổ là: 9,2 con
Pleiff (1998) cho biết lợn Landrace có tỷ lệ thụ thai là 80,5%, số con đẻ ra còn sống là 10,1 con/ổ
Trang 32Tummarut và cs (2000) cho biết năng suất sinh sản của đàn lợn Landrace Thuỵ Điển được thu từ 19 đàn lợn hạt nhân bao gồm 20,275 lứa đẻ và 6,986 nái thuần từ giai đoạn 1994 - 1997 như sau: Số con sơ sinh/ổ là: 11,61; số con sơ sinh còn sống/ổ: 10,94 con; thời gian cai sữa đến phối giống: 5,6 ngày; tỷ lệ đẻ
là 82,8; và tuổi đẻ lứa đầu là: 355,6 ngày
White và cs (1991) nghiên cứu trên 444 lợn Yorkshire cho thấy tuổi động dục lần đầu là 201 ngày, số con đẻ ra còn sống của 20 ổ ở lứa 1 trung bình là 7,2 con/ ổ
2.6.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về khả năng sinh sản của nái thuần chủng, lợn nái lai Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái Yorshire và Landrace cũng được thể hiện ở thông báo của Đặng Vũ Bình (1999): lợn Yorshire tuổi đẻ lứa đầu là 428 ngày tuổi, số con đẻ ra còn sống là 9,77 con/ổ, số con 21 ngày tuổi là 8,46 con/ổ, khối lượng lợn con 35 ngày tuổi là 8,09 kg, lợn Landrace các chỉ tiêu tương ứng là (9,86; 8,68; 8,22) con/ổ và 8,2 kg.Đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng số con đẻ ra/lứa đạt giá trị thấp ở lứa 1 sau
đó tăng dần lên và có khuynh hướng giám ở lứa thứ 6
Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân (1998) về khả năng sinh sản của giống lợn Landrace cho biết: trên 140 ổ đẻ trung bình đạt 8,66 con sơ sinh còn sống/ổ khối lượng sơ sinh bình quân là 1,42kg/con Số con sơ sinh đạt cao nhất
là dòng Landrace Nhật (9,02 con) và thấp nhất là Landrace Bỉ (8,04 con)
Dòng Landrace Bỉ có khối lượng sơ sinh cao nhất (1,54kg/con) và thấp nhất là dòng Landrace Nhật (1,29kg/con) Khả năng tiết sữa trung bình là 31,5
kg và không cỏ biể hiện sai khác đáng kể giữa 3 dòng Landrace
Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa bình quân đạt 76,5 kg, dòng Landrace Cuba cao hơn 2 dòng Landrace của Bỉ và Nhật nhưng không đáng kể khối lượng cai sữa trung bình của dong Landrace của Bỉ cao nhất 12,72 kg/con
Trang 33Kết quả theo dõi trên ổ đẻ lợn Đại Bạch có số con sơ sinh trung bình sống
là 8,62 con, khối lượng trung bình đạt 1,29 kg Riêng dòng Cuba đạt 8,40 con, dòng Đại Bạch Bỉ là 11,54 con
Cũng nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái Yorshire, Trịnh Xuân Lương (1998) đã đưa ra kết quả: số con đẻ ra sống là 11,50 ± 0,12 con, khối lượng sơ sinh toàn ổ đạt 11,5 kg và khi cai sữa ở 50,80 ngày khối lượng toàn ổ đạt 149,35 ± 2,73 kg, số con cai sữa 10,30 ± 0,20 con
Như vậy khi cai sữa ở 50,80 ngày thì trung bình lợn con đạt 14,5 kg/con Theo báo cáo của Lê Thanh Hải và cs (2001), nái lai F1(LxY) có các chỉ tiêu sinh sản cao hơn so với nái thuần L, Y Nái F1(LxY), nái thuần L, Y có số con cai sữa/ ổ tương ứng là: 9,27; 8,55; 8,60 con, khối lượng toàn ổ khi cai sữa tương ứng: 78,90; 75,00; 67,20 kg
Hiện nay, nước ta có những tiến bộ quan trọng trong ngành chăn nuôi, trong đó kỹ thuật lai kinh tế lợn là một trong số những kỹ thuật quan trọng nhất Vài năm trở lại đây chúng ta đã tiếp thu được kỹ năng lai tạo tiến tiến của Anh quốc dựa trên các giống lợn có tiềm năm năng suất sinh sản và khả năng cho thịt cao: Pietrain, Duroc, Meishan, Landrace Kết quả của việc áp dụng các công thức lai giữa các giống trên đã tạo ra được những giống lợn thương phẩm có năng suất và chất lượng thịt cao