Mục đích nghiên cứu của luận án Xác định được lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền phù hợp phối giống với lợn nái lai F1Landrace × Yorkshire nhằm nâng cao năng suất sinh sản, sinh t
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ ĐÀO
ẢNH HƯỞNG CỦA LỢN ĐỰC LAI (PIÉTRAIN ReHal × DUROC)
CÓ THÀNH PHẦN DI TRUYỀN KHÁC NHAU ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA NÁI LAI F1(LANDRACE × YORKSHIRE)
VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA
CÁC CON LAI THƯƠNG PHẨM
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Phạm Thị Đào
Trang 4
Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, lãnh đạo Sở Nông nghiệp & PTNT Hải Dương, lãnh đạo, cán bộ Phòng Chăn nuôi, các bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là người thân trong gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận
án này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Phạm Thị Đào
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ vii
Trích yếu luận án viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.4 Những đóng góp mới của luận án 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Cơ sở lý luận về lai giống 5
2.1.1 Tính trạng số lượng và các yếu tố ảnh hưởng 5
2.1.2 Lai giống và ưu thế lai 7
2.2 Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ở lợn nái 11
2.2.1 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái 11
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 12
2.3 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng, khả năng cho thịt, chất lượng thịt và các yếu tố ảnh hưởng 17
2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng, khả năng cho thịt và chất lượng thịt 17
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, khả năng cho thịt và chất lượng thịt 18
2.4 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước 24
2.4.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 24
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 30
Trang 6Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Địa điểm nghiên cứu 36
3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 36
3.3.1 Theo dõi và đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái 36
3.3.2 Theo dõi và đánh giá khả năng sinh trưởng của con lai 40
3.3.3 Đánh giá năng suất thân thịt và chất lượng thịt của con lai 43
Phần 4 Kết quả và thảo luận 49
4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (Landrace × Yorkshire) 49
4.1.1 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến năng suất sinh sản 49
4.1.2 Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (Landrace × Yorkshire) 50
4.1.3 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 60
4.2 Khả năng sinh trưởng của ba tổ hợp lai 63
4.2.1 Sinh trưởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi 63
4.2.2 Khả năng sinh trưởng của ba tổ hợp lai giai đoạn nuôi thịt 66
4.3 Năng suất thân thịt và chất lượng thịt của ba tổ hợp lai 73
4.3.1 Năng suất thân thịt 73
4.3.2 Chất lượng thịt 85
4.3.3 Thành phần hoá học của thịt 94
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 97
5.1 Kết luận 97
5.2 Đề nghị 98
Danh mục công trình đã công bố 99
Tài liệu tham khảo 100
Phụ lục 114
Trang 7PiDu Lợn đực lai Piétrain × Duroc
PiDu25 Lợn đực lai 25% Piétrain ReHal × 75% Duroc
PiDu50 Lợn đực lai 50% Piétrain ReHal × 50% Duroc
PiDu75 Lợn đực lai 75% Piétrain ReHal × 25% Duroc
PSE Pale, Soft, Exudative (thịt nhợt màu, mềm nhão, rỉ dịch)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Số lượng lợn nái nghiên cứu trong mỗi tổ hợp lai 37
3.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn nuôi lợn nái và lợn con 37
3.3 Số lượng lợn theo dõi sinh trưởng trong mỗi tổ hợp lai 40
3.4 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn nuôi lợn thịt 41
3.5 Số lượng lợn đo độ dày mỡ lưng và tỷ lệ thịt nạc trong mỗi tổ hợp lai 43
3.6 Số lượng lợn mổ khảo sát để đánh giá năng suất thân thịt và chất lượng thịt trong mỗi tổ hợp lai 44
4.1 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính trạng sinh sản 49
4.2 Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(L × Y) phối với đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau 51
4.3 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 61
4.4 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính trạng sinh trưởng từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi 63
4.5 Khả năng sinh trưởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi 65
4.6 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính trạng sinh trưởng giai đoạn nuôi thịt 67
4.7 Khả năng sinh trưởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn của ba tổ hợp lai 69
4.8 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính trạng năng suất thân thịt 74
4.9 Độ dày mỡ lưng, độ dày cơ thăn và tỷ lệ thịt nạc xác định trên cơ thể lợn sống 75
4.10 Các chỉ tiêu năng suất thân thịt 79
4.11 Các yếu tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu chất lượng thịt của ba tổ hợp lai 86
4.12 Giá trị pH thịt ở các thời điểm khác nhau sau khi giết thịt 87
4.13 Các chỉ tiêu về tỷ lệ mất nước và độ dai của thịt 89
4.14 Màu sắc thịt của các con lai 92
4.15 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần hóa học của thịt 94
4.16 Hàm lượng vật chất khô, protein, mỡ thô và khoáng tổng số trong cơ thăn của ba tổ hợp lai 95
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
4.1 Khối lượng trung bình của lợn con sơ sinh 55
4.2 Khối lượng lợn con cai sữa của các tổ hợp lai 58
4.3 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 62
4.4 Tăng khối lượng của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày 64
4.5 Hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi 66
4.6 Tăng khối lượng của các tổ hợp lai giai đoạn nuôi thịt 71
4.7 Hiệu quả chuyển hoá thức ăn của ba tổ hợp lai giai đoạn nuôi thịt 72
4.8 Độ dày mỡ lưng xác định trên cơ thể lợn sống 75
4.9 Tỷ lệ thịt nạc xác định trên cơ thể lợn sống 78
4.10 Tỷ lệ thịt nạc xác định trên thân thịt xẻ 81
4.11 Độ dày mỡ lưng của ba tổ hợp lai khi mổ khảo sát 84
4.12 Hàm lượng protein thô của cơ thăn 96
Trang 10
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 62.62.01.05
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
II Nội dung bản trích yếu
1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Xác định được lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền phù hợp phối giống với lợn nái lai F1(Landrace × Yorkshire) nhằm nâng cao năng suất sinh sản, sinh trưởng, tỷ lệ thịt nạc và đảm bảo được chất lượng thịt
2 Đối tượng nghiên cứu
Lợn đực lai PiDu với tỷ lệ giống Piétrain ReHal là 25%, 50% và 75%
3 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Trong Luận án đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp điều tra: Từ số liệu thống kê về các trang trại của địa phương, khảo sát lựa chọn 2 trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Cẩm Giàng, thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương và 1 trang trại huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên để triển khai đồng thời 3 tổ hợp lai
và có đủ cơ sở vật chất để tiến hành nghiên cứu
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô
so sánh Quy trình kỹ thuật và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái lai và con lai nuôi thịt của ba tổ hợp lai áp dụng cho các trại đảm bảo như nhau
- Sử dụng các phương pháp thường quy đang được áp dụng cho việc nghiên cứu
theo dõi nhằm đánh giá được năng suất sinh sản đàn lợn nái F 1 (Landrace×Yorkshire) phối giống với đực PiDu25, PiDu50, PiDu75 và đánh giá được khả năng sinh trưởng của lợn lai nuôi thịt từ các tổ hợp lai trên
- Các chỉ tiêu về chất lượng thịt lợn được phân tích tại Bộ môn Di truyền - giống vật nuôi và Phòng thí nghiệm trung tâm, khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm SAS 9.1 (2002)
Trang 114 Các kết quả chính đạt được và kết luận
- Luận án có ý nghĩa khoa học trong việc đóng góp thêm các tư liệu về khả năng sản xuất của lợn đực lai PiDu trong điều kiện sản xuất chăn nuôi nước ta
- Đã nghiên cứu tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài luận án như: Cơ sở lý luận về lai giống; Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ở lợn nái; Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng, khả năng cho thịt, chất lượng thịt và các yếu tố ảnh hưởng; Tình hình nghiên cứu về lai giống, sử dụng lợn đực có giống Piétrain ReHal
và Duroc ở ngoài nước và trong nước
- Đã đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái lai F 1(Landrace×Yorkshire) khi phối giống với lợn đực lai PiDu có thành phần di
truyền khác nhau và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh trưởng, chất lượng thịt lợn lai thương phẩm được tạo ra từ các tổ hợp lai này
- Đánh giá được năng suất sinh sản của lợn nái lai F 1(Landrace × Yorkshire) phối
với lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn của lợn lai nuôi thịt và năng suất, chất lượng thịt của các con lai được tạo ra từ lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau phối với lợn nái lai F 1 (Landrace × Yorkshire) Lợn thịt của ba tổ hợp lai đều có khả năng sinh trưởng tốt, đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng thịt như độ
pH, tỷ lệ mất nước, màu sắc thịt, độ dai của thịt và các thành phần hoá học của thịt
- Đề nghị phát triển và sử dụng lợn đực PiDu rộng rãi trong chăn nuôi trang trại Khuyến khích sử dụng lợn đực lai PiDu25 để nâng cao năng suất sinh trưởng Khuyến khích sử dụng lợn đực lai PiDu50 và PiDu75 để nâng cao năng suất sinh sản, năng suất thân thịt và chất lượng thịt trong chăn nuôi lợn ở miền Bắc Việt Nam
Luận án đã hoàn thành và đạt được kết quả phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu đặt ra Về mặt khoa học, luận án đã có những đóng góp nhất định xây dựng phương pháp nghiên cứu, luận cứ khoa học và có ý nghĩa thực tiễn giúp các cơ sở chăn nuôi xác định tổ hợp lai thích hợp nhằm nâng cao năng suất sinh sản, năng suất và chất lượng thịt góp phần phát triển việc sử dụng lợn đực giống PiDu trong sản xuất chăn nuôi lợn ở miền Bắc Việt Nam nhằm cung cấp cho thị trường những sản phẩm có chất lượng cao
Trang 12
THESIS ABSTRACT
I General information
PhD student: Pham Thi Dao
Thesis title: Effects of crossbred boars (Piétrain ReHal x Duroc) with different genotype components on reproductive performance of crossbred sows F 1 (Landrace × Yorkshire) and productive performance and meat quality of fattening pigs
Specialized: Animal Science Code number: 62.62.01.05
Education organization: Vietnam National University of Agriculture
II Summary
1 Objective of the research
The study aimed at identifying which genotype types of crossbred PiDu boars were appropriate for crossbreeding with crossbred sows F 1 (Landrace × Yorkshire) to increase the sows’ reproductive performance, fattening pigs’ growth rate, lean percentage and meat quality
2 Research materials
Crossbred PiDu boars that have 25%, 50% and 75% of genotype of Piétrain ReHal
3 Research methods
The following methods have been applied in this research:
- Survey method: Based on the provincial statistical data about the number of pig farms, two representative pig farms (one in Cam Giang district, another in Haiduong city) and one pig farm in Van Giang district, Hung Yen province were selected for the research
on crossbreeding (3 crossbreds) These farms had all necessary facilities for implementing the research
- Experimental design: The experiment was conducted by a completely randomized design The feeding program and management of sows and growing pigs were all the same among the farms
- The standard methods were applied to measure the sow’s reproductive performance and growth productivity of the growing pigs born in three crossbred between sows F 1 (Landrace×Yorkshire) and crossbred boars (PiDu25, PiDu50 và PiDu75)
-The carcass quality was measured at the laboratory of Department of Animal Genetics and Breeding and Central Laboratory of Faculty of Animal Science, Vietnam National University of Agriculture
- Data was analysed by statistical biostatistics using SAS 9.1 sofware
Trang 134 Results and conclusions
- The study had a significantly scientific contribution in term of productive performance of crossbred boars PiDu raising in the farming condition in Vietnam
- The study has reviewed a wide range of literature about related aspects of pig production such as: Principle genetics and breeding; reproductive indicators and factors affecting reproductive performance of sows; indicators for determining pig’s growth, carcass productivity and quality; current research results and application of Piétrain ReHal and Duroc boar breeds in Vietnam and other countries
- The research has identified several factors affecting the reproductive performance
of sows F 1 (Landrace×Yorkshire) crossed with PiDu boars with different genotype components Several factors affecting growth perfomance and meat quality of growing
pigs born in three crossbreds has also been examined
- The reproductive performance of sows F 1 (Landrace×Yorkshire) crossed with boars PiDu having different genotype components has been evaluated in this study
- This study was also identified the growth perfomance, feed conversion efficiency, meat productivity and quality of fattening pigs born in different crossbreed combinations between sows F 1 (Landrace × Yorkshire) and PiDu boars with different genotype components In three crossbreed combinations, the fattening pigs had a high growth rate,
a good meat quality that meets the pork standard requirements about several parameters such as pH, drip loss, color, tenderness and meat chemical composition
- Based on the research results, the study has suggested to applying and developing the crossbred PiDu boars in the pig production of farms The crossbred PiDu25 boar is recommended for promoting the growth perfomance The crossbred PiDu50 and PiDu75 boar should be used to cross with sows to improve sow reproductive performance, carcass productivity and quality of pigs in pig production in North of Vietnam
The study has completed and achieved good results that are appropriate with the research objectives and contents In the scientific point of view, the study has a significant contribution in term of research methodology and scientific references Moreover, the study plays an important role to make several recommendations about selecting appropriate genotype combinations in order to improve sow reproductive performance, growth productivity and meat quality According to results of the study, the PiDu boars will be applied and developed widely in pig farms, contributing to the development of pig production in North of Vietnam and help to produce high quality pork for consumers in the market
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thực phẩm cho xã hội Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi lợn đang có những thay đổi đáng kể, theo Trung tâm tin học và thống kê, Bộ Nông nghiệp & PTNT (2014), tính đến ngày 1 tháng 10 năm 2014, tổng đàn lợn trong cả nước đạt 26,80 triệu con, tăng 1,9% so với năm 2013 Chất lượng con giống từng bước được cải tạo theo hướng nạc hoá đàn lợn, thể hiện thông qua tỷ lệ lợn ngoại và lợn lai nhiều giống ngoại ngày càng tăng trong tổng đàn lợn
Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường về số lượng và chất lượng, rất cần đến các giải pháp công nghệ phù hợp và qui mô sản xuất đủ lớn để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu
Để có được đàn lợn thịt có tốc độ tăng trưởng nhanh và đạt tỷ lệ thịt nạc ở mức tối đa của phẩm giống, bên cạnh nâng cao tiến bộ di truyền, chọn lọc tốt, cải tiến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và điều kiện chuồng trại thì việc tạo ra những
tổ hợp lai trên cơ sở kết hợp được một số đặc điểm tốt của mỗi giống, dòng cao sản và đặc biệt sử dụng triệt để ưu thế lai của chúng là rất cần thiết Nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước, cũng như thực tiễn của sản xuất đã khẳng định những tổ hợp lai nhiều giống khác nhau đều có xu hướng tăng số con
sơ sinh sống mỗi ổ, nâng cao khả năng sinh trưởng, giảm chi phí thức ăn cho mỗi
kg tăng khối lượng, nâng cao tỷ lệ và chất lượng thịt nạc Hầu hết các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển trên thế giới đều sử dụng các tổ hợp lai để sản xuất hàng thương phẩm, mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao, giảm chi phí thức
ăn, tiết kiệm thời gian nuôi
Khi nghiên cứu trên con lai giữa nái Yorkshire với đực Piétrain và Landrace, Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006a) kết luận rằng tổ hợp lai Piétrain × Landrace có khối lượng sơ sinh/con và khối lượng cai sữa/con cao hơn so với tổ hợp lai Landrace × Yorkshire; tăng khối lượng trung bình trong thời gian nuôi thịt, tỷ lệ móc hàm và tỷ lệ thịt nạc ở tổ hợp lai Piétrain × Yorkshire cũng có xu hướng cao hơn nhưng tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lại thấp hơn
Trang 16Năng suất sinh sản của các tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và
F1(L×Y) phối với đực PiDu là tương đối cao, ổn định và không có sự sai khác rõ rệt giữa 3 tổ hợp lai (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thuý, 2009) Tác giả cũng khẳng định rằng con lai có sự tham gia của đực PiDu có sức sinh trưởng tương đối cao, đặc biệt con lai 4 giống (PiDu × LY) có xu hướng thể hiện được ưu thế lai về tăng khối lượng so với con lai 3 giống (PiDu × Y và PiDu × L)
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) cũng cho rằng năng suất sinh sản, sinh trưởng và năng suất thịt của tổ hợp lai 4 giống cao hơn và tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với tổ hợp lai 2 giống Nên sử dụng lợn đực PiDu phối với nái F1(L×Y) để đạt được năng suất cao hơn trong thực tế (Nguyễn Văn Thắng
và Vũ Đình Tôn, 2010) Việc sử dụng đực PiDu phối với nái ngoại (Landrace, Yorkshire và L×Y) đạt được năng suất cao nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng thịt tốt (Phan Xuân Hảo và Nguyễn Văn Chi, 2010; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010)
Lợn đực Piétrain có ưu điểm tỷ lệ thịt nạc cao, nhưng tốc độ sinh trưởng chậm hơn Trong khi đó, đực Duroc có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn, lượng mỡ giắt trong thịt nạc lớn hơn Để tận dụng ưu điểm và hạn chế tối đa những nhược điểm của 2 dòng đực này, sử dụng đực lai giữa Piétrain và Duroc là giải pháp tốt nhất, vừa tận dụng được ưu thế lai của con đực nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi vừa cải thiện được chất lượng sản phẩm
Dòng đực Piétrain cổ điển do sự tồn tại của allene lặn n nằm ở locus
halothan (Ollivier et al., 1975), cho nên lợn dễ bị stress và tỷ lệ thịt PSE (Pale,
Soft, Excudative) cao đã làm cho chất lượng thịt kém Khoa Thú y, Trường Đại học Liège (Vương quốc Bỉ) đã tạo ra dòng lợn Piétrain ReHal, một allen C từ locus halothan của giống lợn Large White được chuyển vào bộ gen của Piétrain
cổ điển (Hanset et al., 1995; Leroy et al., 1999, 2000) và dòng lợn kháng stress
này có thương hiệu là Piétrain ReHal
Các nghiên cứu trong nước đã khẳng định các con lai với sự tham gia của lợn đực lai PiDu có sức sinh trưởng cao, tiêu tốn thức ăn thấp, chất lượng thịt đảm bảo (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thuý, 2009; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010; Phan Xuân Hảo và cs., 2009)
Tuy nhiên trong các nghiên cứu về sử dụng lợn đực lai PiDu, các tác giả chưa đề cập đến thành phần di truyền tham gia của giống Piétrain và Duroc
Trang 17là bao nhiêu Việc xác định rõ thành phần di truyền tham gia của Piétrain và Duroc là rất quan trọng Với các thành phần di truyền khác nhau có thể phù hợp với từng điều kiện chăn nuôi khác nhau là vấn đề cần được nghiên cứu
1.2 MỤC TIÊU
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định được lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền phù hợp phối giống với lợn nái lai F1(Landrace × Yorkshire) nhằm nâng cao năng suất sinh sản, sinh trưởng, tỷ lệ thịt nạc và đảm bảo được chất lượng thịt
- Đánh giá được năng suất thân thịt và chất lượng thịt của các con lai thương phẩm được tạo ra từ lợn đực lai PiDu25, PiDu50 và PiDu75 phối với lợn nái lai F1(Landrace × Yorkshire)
- Xác định được tổ hợp lai thích hợp và góp phần phát triển việc sử dụng lợn đực lai PiDu trong sản xuất chăn nuôi lợn
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Cung cấp các thông tin khoa học liên quan đến năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace × Yorkshire) được phối giống với lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau và năng suất sinh trưởng, chất lượng thịt của các con lai từ các tổ hợp lai này
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Giúp các cơ sở chăn nuôi xác định tổ hợp lai thích hợp nhằm nâng cao năng suất sinh sản, năng suất và chất lượng thịt góp phần phát triển việc sử dụng lợn đực lai PiDu trong sản xuất chăn nuôi lợn ở miền Bắc Việt Nam
- Đóng góp thêm dữ liệu về năng suất và chất lượng sản phẩm của các tổ hợp lai trong chăn nuôi lợn để sử dụng trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao
kỹ thuật và giảng dạy học tập
Trang 181.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Đánh giá được sự khác biệt về năng suất sinh sản của lợn nái lai
F1(Landrace × Yorkshire) khi phối giống với lợn đực lai PiDu 25, 50 và 75%
thành phần di truyền của đực Piétrain ReHal
- Đánh giá được sự khác biệt về năng suất, chất lượng thịt của 3 tổ hợp lai giữa đực lai PiDu 25, 50 và 75% thành phần di truyền của đực Piétrain ReHal với lợn nái lai F1(Landrace × Yorkshire)
Trang 19PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LAI GIỐNG
2.1.1 Tính trạng số lượng và các yếu tố ảnh hưởng
2.1.1.1 Tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác giữa các cá thể
là sự sai khác về mức độ mà theo Darwin thì sự khác nhau này là nguồn vật liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo (dẫn theo Nguyễn Văn Thiện, 1995)
Tính trạng số lượng có các đặc trưng sau:
- Các tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều gen, mỗi gen chỉ có một tác động nhỏ
- Các tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện môi trường
- Có thể xác định các giá trị của tính trạng số lượng bằng các phép đo
- Các giá trị quan sát được của các tính trạng số lượng là các biến biến thiên liên tục
Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là các tính trạng
số lượng (Nguyễn Văn Thiện, 1995) Cho đến nay, di truyền học số lượng đã được nhiều nhà di truyền học và thống kê bổ sung, nâng cao và trở thành môn khoa học có cơ sở khoa học vững chắc, được ứng dụng rộng rãi vào việc cải tiến
di truyền các giống vật nuôi (Petrop, 1984; Nguyễn Văn Thiện, 1995)
2.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), biểu hiện bề ngoài hoặc các đặc tính khác của một cá thể được gọi là kiểu hình của cá thể đó đối với tính trạng số lượng cũng như tính trạng chất lượng Kiểu hình này do kiểu gen và môi trường gây ra:
P = G + E Trong đó, P: giá trị kiểu hình; G: giá trị kiểu gen; E: sai lệch môi trường Kiểu hình do các gen chi phối thuộc ít nhất 2 locus trở lên được biểu thị:
P = A + D + I + Eg + Es Trong đó, A: giá trị cộng gộp (giá trị giống); D: sai lệch trội; I: sai lệch tương tác (sai lệch át gen); Eg: sai lệch môi trường chung; Es: sai lệch môi trường riêng
Trang 20Như vậy, muốn cải tiến năng suất của vật nuôi có thể tác động bằng những biện pháp khác nhau:
+ Tác động về mặt di truyền (G)
- Tác dụng vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc
- Tác động vào hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách lai giống
+ Tác động về mặt môi trường (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi: dinh dưỡng, chuồng trại, vệ sinh, chăm sóc
2.1.1.3 Hệ số di truyền
Hệ số di truyền của tính trạng số lượng có vai trò quan trọng trong công tác giống Giá trị của hệ số di truyền cho ta một khái niệm về mức tiến triển có thể đạt được khi tiến hành chọn lọc đối với một tính trạng nhất định
Theo Phan Cự Nhân và cs (1985), Nguyễn Văn Thiện (1995), các tính trạng
có hệ số di truyền thấp hiệu quả chọn lọc sẽ thấp, hiệu quả lai giống lại cao Ngược lại, các tính trạng có hệ số di truyền cao, hiệu quả chọn lọc sẽ cao, hiệu quả lai giống lại thấp
Hệ số di truyền của một tính trạng số lượng là tỷ lệ giữa phần do gen quy định với toàn bộ phần tạo nên giá trị kiểu hình Hệ số di truyền có hai khái niệm:
hệ số di truyền theo nghĩa rộng và hệ số di truyền theo nghĩa hẹp
* Hệ số di truyền theo nghĩa rộng
Hệ số di truyền theo nghĩa rộng (h2G) được biểu thị bằng tỷ số giữa phương sai di truyền ( 2
số di truyền theo nghĩa rộng được biểu diễn bằng công thức:
Hệ số di truyền theo nghĩa rộng ít được sử dụng trong công tác giống vật nuôi vì việc ước tính phương sai di truyền chỉ có thể thực hiện được thông qua việc phân tích các cặp anh chị em sinh đôi cùng trứng Hệ số di truyền theo nghĩa rộng được xác định qua việc phân tích các cặp anh chị em sinh đôi cùng trứng thường ở mức cao nên không phản ánh đúng khả năng di truyền của tính trạng được xác định qua đời sau
Trang 21* Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp (h2A) được biểu thị bằng tỷ số giữa phương sai di truyền cộng gộp ( 2
di truyền cộng gộp và giá trị kiểu hình Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp được biểu diễn bằng công thức:
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp biểu thị phần giá trị kiểu hình được quy định bởi các gen truyền đạt từ thế hệ bố mẹ cho thế hệ con Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp thường được dùng nhiều trong công tác giống vật nuôi hơn là hệ số di truyền theo nghĩa rộng
2.1.2 Lai giống và ưu thế lai
2.1.2.1 Lai giống
Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai khác dòng, song hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự nhau (Lasley, 1974; Nguyễn Hải Quân và cs., 1995)
Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn tần
số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên
Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định
2.1.2.2 Ưu thế lai
Ưu thế lai là khái niệm biểu thị sức sống của con lai vượt trội hơn cha mẹ, khi cha mẹ là những cá thể không có quan hệ huyết thống Ưu thế lai không chỉ thể hiện ở sức chịu đựng mà còn bao gồm cả ưu thế về sức sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho sữa, khả năng sinh sản và tỷ lệ chết (Lasley, 1974)
Ưu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngược với suy thoái cận huyết Nói chung sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống (Falconer, 1993)
Trang 22Thuật ngữ ưu thế lai được nhà di truyền học người Mỹ Shull (1914) đưa ra
và được Snell (1961) thảo luận trong nhân giống (Nguyễn Văn Thiện, 1995; Nguyễn Hải Quân và cs., 1995) như sau: Ưu thế lai là sự hơn hẳn của đời con đối với trung bình của đời bố mẹ Có thể hiểu ưu thế lai là sức sống, sức miễn kháng đối với bệnh tật và các tính trạng sản xuất của con lai được nâng cao, khả năng lợi dụng thức ăn tốt
Có thể giải thích ưu thế lai bằng các giả thiết:
- Thuyết trội: Giả thiết này cho rằng mỗi bên cha mẹ có những cặp gen trội đồng hợp tử khác nhau Khi tạp giao ở thế hệ F1 sẽ có các gen trội ở tất cả các locus Nếu bố có kiểu gen AABBCCddeeff và mẹ có kiểu gen aabbccDDEEFF thì thế hệ F1 sẽ có kiểu gen: AaBbCcDdEeFf
Do tính trạng số lượng được quyết định bởi nhiều gen, nên xác suất xuất hiện một kiểu gen đồng hợp tử hoàn toàn là thấp Ngoài ra, vì sự liên kết giữa các gen trội và lặn trên cùng một nhiễm sắc thể, nên xác suất tổ hợp được kiểu gen tốt nhất cũng thấp
- Thuyết siêu trội: Mỗi một alen trong một locus sẽ thực hiện chức năng riêng của mình Ở trạng thái dị hợp tử thì cả hai chức năng này đồng thời được biểu lộ Mỗi gen có một khả năng tổng hợp riêng, quá trình này được thực hiện trong những điều kiện môi trường khác nhau Do vậy, kiểu gen dị hợp tử sẽ có khả năng thích nghi tốt hơn với những thay đổi của môi trường
- Tương tác gen: Tương tác giữa các gen trong cùng một locus dẫn tới hiện tượng trội không hoàn toàn Tương tác giữa các gen trong các locus khác nhau, bao gồm vô số các kiểu tương tác phức tạp, đa dạng, phù hợp với tính chất phức tạp, đa dạng của sinh vật
Cơ sở thống kê của ưu thế lai:
Cơ sở thống kê của ưu thế lai do Falconer đưa ra từ năm 1964 Ưu thế lai ở
F1: HF1 = dy2, trong đó, d là giá trị của kiểu gen dị hợp tử, y là sai khác về tần số gen giữa 2 quần thể bố mẹ Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh hưởng đồng thời của tất cả các locus là tổng của tất cả các giá trị riêng rẽ của từng locus: HF1 = ∑dy2 Như vậy, ưu thế lai ở F1 phụ thuộc vào giá trị của các kiểu gen dị hợp tử và sự khác biệt về tần số gen giữa hai quần thể
Ưu thế lai ở F2: HF2 = 1/2dy2, do đó HF2 = 1/2 HF1
Trang 23Thay đổi trung bình từ F1 đến F2 cũng được coi như là hiện tượng suy hoá cận huyết Theo Falconer (1993), ưu thế lai ở F1, F2 có thể phức tạp do ảnh hưởng của mẹ Chẳng hạn, tính trạng số con trong ổ của lợn Ưu thế lai quan sát được ở F1 không có đóng góp của mẹ Ở F2, mặc dù ưu thế lai mất đi một nửa nhưng lại có ảnh hưởng ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1.
Ảnh hưởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hưởng tốt hoặc xấu do kiểu hình mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con Ảnh hưởng của
mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do những sự khác nhau về di truyền, về ngoại cảnh hoặc sự phối hợp khác nhau giữa di truyền và ngoại cảnh của những
cá thể mẹ khác nhau gây ra Ảnh hưởng của mẹ có thể được thực hiện trong quá trình thụ tinh, có chửa và tiết sữa nuôi con Các ảnh hưởng này có thể chỉ xuất hiện tức thời, song cũng có thể kéo dài suốt đời của con vật và được thực hiện bởi nhiều cơ chế sinh học khác nhau Theo Đặng Vũ Bình (2002), có 5 loại ảnh hưởng của mẹ:
- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất nhưng không phải là ADN ngoài nhân
- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất do ADN ngoài nhân
- Ảnh hưởng của mẹ trong giai đoạn trước khi đẻ
- Ảnh hưởng của mẹ thông qua sự truyền kháng thể từ mẹ sang con
- Ảnh hưởng của mẹ sau khi sinh
Theo Dickerson (1974), khi lai giữa hai giống con lai chỉ có ưu thế lai cá thể Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai
có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1 Nếu dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ 3, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố,
do bố là con lai F1 Trong lai 4 giống, con lai có cả ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố
Sử dụng các phương pháp của Dickerson (1972) đưa ra phương trình dự tính năng suất ở con lai với các tổ hợp lai
Trang 24Trong đó:
M: Trung bình của các giống tham gia
MA, MB: Trung bình quần thể của giống A và B trong nhân giống thuần
MAB, MBA: Trung bình của con lai từ tạp giao: cái A, đực B và ngược lại
gA, gB: Hiệu quả di truyền cộng gộp của các gen đối với giống A và B
mA, mB: Hiệu quả của mẹ giống A và B
pA, pB: Hiệu quả của bố giống A và B
hAB: Hiệu quả ưu thế lai giữa giống A và B
- Lai 3 giống:
MAB.C = M + 1/4(2 gC + gA + gB) + 1/2(hAC + hBC) + 1/2(mA + mB) + hmAB +
pC + 1/4rAB
Trong đó:
hAC: Hiệu quả ưu thế lai giữa A và C; B và C
hmAB: Hiệu quả ưu thế lai của mẹ giữa giống A và B
rAB: Hiệu quả của sự tái tổ hợp giữa giống A và B
pC: Hiệu quả của bố giống C
gC: Hiệu quả di truyền cộng tính của gen đối với giống C
Để tính toán ưu thế lai đối với một tính trạng nhất định từ các giá trị trung bình của đời con và giá trị trung bình của bố mẹ, Minkema (1974) đã đưa ra công thức:
1/2(BA + AB) – 1/2(AA + BB)
Trang 25cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa Ưu thế lai của bố thể hiện ở tính hăng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai Khi lai hai giống số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5-10%, khi lai ba giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa/nái/năm tăng tới 10-15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0-1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1kg ở
28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin, 1998)
b) Tính trạng
Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng có khả năng di truyền cao nhưng cũng có những tính trạng có khả năng di truyền thấp Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy
để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn
Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau: số con đẻ ra/ổ có ưu thế lai
cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%; số con cai sữa/ổ có ưu thế lai cá thể 9%,
ưu thế lai của mẹ 11%; khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể 12%,
ưu thế lai của mẹ 18% (Richard, 2000)
c) Sự khác biệt giữa bố và mẹ
Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu (Phan Cự Nhân và cs., 1985) Lasley (1974) cho biết, nếu các giống hay các dòng đồng hợp tử đối với một tính trạng nào đó thì mức dị hợp tử cao nhất là ở F1, với sự phân ly của các gen trong các thế hệ sau mức độ dị hợp tử sẽ giảm dần
Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý, ưu thế lai càng cao Ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh Có nhiều yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến gia súc, cũng như ảnh hưởng đến biểu hiện của ưu thế lai
2.2 CÁC CHỈ TIÊU SINH SẢN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN Ở LỢN NÁI
2.2.1 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái
Một yêu cầu quan trọng trong chăn nuôi lợn nái là phải tăng khả năng sinh sản nhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng lợn cho khâu sản xuất lợn thịt
Trang 26Người ta thường quan tâm tới một số tính trạng năng suất sinh sản nhất định, đây cũng là các chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản
Gordon (2004) và Legault (1980) cho rằng, trong các trại chăn nuôi hiện đại, số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái Tác giả cũng cho biết tầm quan trọng của các thành phần cấu thành ảnh hưởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm lần lượt là: số con đẻ ra trong ổ, tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau Theo Ducos (1994), các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống khi cai sữa gồm: số trứng rụng, tỷ lệ sống khi sơ sinh và tỷ lệ lợn con sống tới lúc cai sữa
Mabry et al (1997) cho rằng, các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của
lợn nái bao gồm: số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm Các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu này có tầm quan trọng về mặt kinh tế và ảnh hưởng đến lợi nhuận của người sản xuất lợn giống cũng như người nuôi lợn thương phẩm
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc vào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh
2.2.2.1 Yếu tố di truyền
Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản ở lợn nái
(Venanzi et al., 1997; Đặng Vũ Bình, 1999; Hamann et al., 2004)
Năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm các tính trạng vốn có hệ số di truyền nhỏ, lại thường không tạo được áp lực chọn lọc cần thiết nên hiệu quả của chọn lọc rất thấp Các tính trạng năng suất sinh sản có hệ số biến động khá cao Tương quan giữa số con/ổ và khối lượng toàn ổ cũng như giữa khối lượng toàn ổ và khối lượng trung bình một con lợn con là dương và chặt chẽ, nhưng giữa số con và khối lượng trung bình một một lợn con là âm và chặt chẽ (Đặng Vũ Bình, 1995)
Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau
thì có năng suất khác nhau Theo Rydhmer et al (1995) hệ số di truyền ( h2 ) tính trạng tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra sống/ổ và khoảng cách lứa đẻ lần lượt là: 0,27;
0,13; 0,08 Theo Tolle et al (1999) cũng cho hệ số di truyền của chỉ tiêu số con
đẻ ra sống và số con cai sữa/ổ là 0,09-0,12 và 0,05-0,07
Trang 27Theo nghiên cứu của Legault (1985) (dẫn theo Rothschild and Bidanel, 1998), căn cứ vào khả năng sinh sản, sức sản xuất thịt, các giống lợn chia làm 4 nhóm chính:
- Các giống đa dụng như Y, L và một số dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá
- Các giống chuyên dụng "dòng bố" như Pi, L của Bỉ, Hampshire, Poland, China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
- Các giống chuyên dụng "dòng mẹ", đặc biệt một số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém
- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường
Các giống “dòng bố” thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống
đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ lệ lợn con
chết trước khi cai sữa của giống này cao hơn so với L và Y (Blasco et al., 1995)
Lengerken and Pfeiffer (1987) cho biết, lợn nhạy cảm với stress có khả năng cho nạc cao song khả năng sinh sản bị hạn chế, giảm thời gian sử dụng đối với gia súc giống, kết quả thụ thai thấp và tỷ lệ hao hụt cao trong quá trình chăn nuôi
và vận chuyển Nhưng Biedermann et al (1998) không thấy ảnh hưởng của gen
halothan đối với khả năng sinh sản ở lợn nái
Tỷ lệ lợn con bị chết sau khi đẻ trung bình là 11% (6-13%), trong đó 7% là
do bị mẹ đè (Grandinson et al., 2003) Colin (1998) cho biết: Tỷ lệ lợn con bị
chết ngay sau khi sinh chiếm 2-10%, có thể 11% chết trong tuần tuổi đầu tiên Trung bình tỷ lệ lợn con chết từ khi đẻ ra cho tới khi cai sữa là 12% (5-25%) Tỷ
lệ lợn con chết trước khi cai sữa chiếm tới 60,1% ở ngày đầu tiên; 23,6% từ ngày 2-7 sau đẻ và 16,2% sau 7 ngày (Gordon, 2004)
Như vậy, năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng của giống và các thể, mỗi một giống có một đặc tính sản xuất gắn liền với năng suất và hiệu quả kinh tế của nó, giống khác nhau thì có năng suất khác nhau
2.2.2.2 Các yếu tố ngoại cảnh
Nhiều kết quả nghiên cứu đã khẳng định có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn nái như: chế độ nuôi dưỡng, tuổi, khối lượng phối, phương thức phối, lứa đẻ, mùa vụ, nhiệt độ môi trường, thời gian chiếu sáng, bệnh tật
(Riha et al., 2000; Sohst, 1997)
Trang 28- Chế độ nuôi dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần được cung cấp đủ về số và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt
Rothschild and Bidanel (1998) cho biết, các mức ăn khác nhau trong giai đoạn
từ cai sữa đến phối giống trở lại có ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai Yamada et al
(1998) nhận thấy, nuôi dưỡng hạn chế lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi
sống (Ashworth et al., 2000)
Các nghiên cứu của Flowers et al (1989), Rhoder et al (1991) và Cassar et al
(1994), cho biết áp dụng chế độ dinh dưỡng “Flushing” trong pha sinh trưởng của buồng trứng của lợn nái nên đã làm tăng số lượng trứng rụng (85% so với 64%) và tăng lượng progesteron trong máu (10,5 ng/ml so với 4,5 ng/ml) (dẫn theo Gordon, 1997) Lodge and Hardy (1968) cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận trong thời kỳ động dục có ảnh hưởng đến số trứng rụng (dẫn theo Gordon, 1997) Brooks and Cole (1972) cho biết, lợn nái ăn gấp đôi lượng thức ăn ở giai đoạn trước khi phối giống và ở ngày phối giống so với bình thường có tác dụng làm tăng số lượng trứng rụng và số con đẻ ra/ổ (dẫn theo Gordon, 1997)
Nuôi dưỡng lợn nái với mức cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm tăng tỷ lệ chết
phôi ở lợn nái mới đẻ (Prunier et al., 2000), làm giảm 20-30% số phôi khi nuôi với mức dinh dưỡng bình thường (Whaley et al., 1997) Theo nghiên cứu của Cozler et al (2000) và Pettigrew and Tokach (1991) cho biết, nuôi dưỡng lợn nái
với mức năng lượng cao trong thời kỳ có chửa sẽ làm giảm mức thu nhận thức ăn trong thời kỳ tiết sữa nuôi con và ngăn cản sự phát triển của tuyến vú (dẫn theo Gordon, 1997)
Nên cho lợn nái nuôi con ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Giảm lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là thời gian động dục trở lại dài, giảm tỷ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (Brand
et al., 2000; Graham et al., 2000) Theo Chung et al (1998), tăng lượng thức ăn
thu nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng khả năng tăng khối lượng của lợn con Gordon (2004) cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian
Trang 29động dục trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu
Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất ít nhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối lượng cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con
Robinson (1991), cho biết nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại (dẫn
theo Gordon, 1997) Theo Close et al (1985) và Cole (1990), mức dinh dưỡng
protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dưỡng
của cơ thể để nuôi thai (dẫn theo Clowes et al., 2003) Theo Pike and Boaz (1969),
mức dinh dưỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ, do đó dẫn đến lợn nái sinh sản kém (dẫn theo Gordon, 1997) Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin thấp và protein thấp sẽ làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng thành của tế
bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con sơ sinh sống/ổ (Yang et al., 2000), tăng tỷ
lệ hao hụt của lợn mẹ và giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con (Cheng et al., 2000)
Podtereba (1997) xác nhận có 9 axit amin cần thiết đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh sản và trong quá trình phát triển của phôi
- Mùa vụ
Mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Gaustad-Aas et al (2004) cho biết mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Mùa
có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm kết quả sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp,
tỷ lệ chết ở lợn con cao (Akos et al., 2004) Theo Quiniou et al (2000), nhiệt độ
cao làm lợn nái thu nhận thức ăn thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng và tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm
Tỷ lệ thụ thai bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và mùa vụ Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả năng sinh sản từ 5-20% Nhiệt độ cao làm tăng tỷ lệ lợn nái không động dục, giảm tỷ
lệ thụ thai, giảm khả năng sống của thai (Pistoni, 1997) Nhiều nghiên cứu đã chỉ
rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái Theo Pastison (1980), nhiệt độ cao làm cho tỷ lệ loại thải nái cao (30-50%) và làm thiệt hại về
kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản (dẫn theo Gordon, 1997) Nghiên cứu của
Trang 30Mauget (1982) nhận thấy từ tháng 7 đến tháng 11, lợn nái dễ dàng không động dục (dẫn theo Gordon, 1997) Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể ít
hơn một con so với khi phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi et al., 2000; Koketsu et al., 1998)
Các tác giả nhận thấy về mùa hè, nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm bình thường của chu kỳ động dục Claus and Weiler (1985) cho biết từ tháng 5 đến tháng 8 khoảng cách từ khi cai sữa đến động dục trở lại ở lợn nái tăng so với các tháng khác (dẫn theo Gordon, 1997)
Prunier et al (1994) cho thấy nhiệt độ cao làm giảm thu nhận thức ăn của
lợn nái đẻ (dẫn theo Gordon, 1997) Stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phôi sống 20% và do đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái
(Peltoniemi et al., 2000)
- Tuổi và lứa đẻ
Clark and Leman (1996) cho biết, tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ (dẫn theo Gordon, 1997) Lợn nái kiểm định có tỷ lệ đẻ
thấp hơn so với lợn nái sinh sản (Koketsu et al., 1998) Số lượng trứng rụng thấp
nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai
và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckert et al., 1998) Theo Warrick
et al (1989) cho biết, số con đẻ ra tương quan thuận với số lượng trứng rụng (dẫn theo Gordon, 1997)
Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì
có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ 3, 4, 5 và sau đó gần
như là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên Venanzi et al (1997) cho biết,
số con đẻ ra/ổ tăng từ lứa đẻ một đến lứa đẻ thứ tư, ở lứa đẻ thứ tám trở đi số lợn con mới đẻ bị chết tăng lên Số con đẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau 4-5 tuổi Lợn mới đẻ lứa đầu thường hay sợ hãi, do đó tỷ
lệ thụ thai thấp và tỷ lệ chết thai cao (Grandinson et al., 2003) Lợn đẻ lứa đầu
tiên thường có số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa đẻ sau (Colin, 1998)
- Số lần phối và phương thức phối giống
Nghiên cứu của Clark and Leman (1986) nhận thấy, số lần phối giống trong
một lần động dục ở lợn nái ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ (dẫn theo Gordon, 1997)
Trang 31Clark and Leman (1986) cho biết, phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu
kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ (dẫn theo Gordon, 1997) Tilton and Cole
(1982) thấy rằng, khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi lần cách nhau 24
giờ tăng hơn 1,3 con/ổ so với phối hai lần (dẫn theo Gordon, 1997)
Theo Anon (1993), phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ (dẫn theo Gordon, 1997) Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn (0-10%) so với phối giống trực tiếp (Colin, 1998), nhưng kết quả nghiên cứu của
Alexopoulos et al (1997) lại ngược lại
- Thời gian cai sữa
Xue et al (1993) phân tích 14.925 lứa đẻ của 39 đàn lợn nái ở Mỹ nhận
thấy, thời gian bú sữa của lợn con dài, lợn nái có số con sơ sinh và số con sơ sinh sống/ổ cao, thời gian động dục trở lại ngắn, khoảng cách từ khi đẻ đến phối giống trở lại dài, khoảng cách lứa đẻ dài (dẫn theo Gordon, 1997)
Gaustad-Aas et al (2004) và Mabry et al (1997) cho biết, phối giống sớm sau
khi đẻ, tỷ lệ đẻ và số con đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giống muộn Theo Gordon (2004), giảm thời gian cai sữa từ 20 xuống 15 ngày sẽ làm giảm 0,2 con trong ổ, giảm thời gian cai sữa từ 15 xuống 10 ngày sẽ làm giảm trên 0,2 con trong ổ
Lợn nái cai sữa ở 28-35 ngày, thời gian động dục trở lại 4-5 ngày, có thể phối giống và có thành tích sinh sản tốt (Colin, 1998) Theo các tác giả Newport
(1977) và Cole et al (1975) cho biết, không nên phối giống cho lợn nái sớm hơn
ba tuần sau khi đẻ, phối giống sớm sẽ làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái (dẫn theo Gordon, 1997)
Theo Tonn et al (1995), lợn nái phối giống khi cai sữa lợn con sớm có số
lượng trứng rụng thấp (15,9 so với 24,6) và số phôi ít ở ngày chửa thứ 11, lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài
(dẫn theo Gordon, 1997)
2.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, KHẢ NĂNG CHO THỊT, CHẤT LƯỢNG THỊT VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng, khả năng cho thịt và chất lượng thịt
Để đánh giá năng suất và chất lượng thịt của lợn, người ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu nuôi vỗ béo, năng suất thân thịt và chất lượng thịt
Trang 32Theo Clutter and Brascamp (1998), các chỉ tiêu quan trọng đánh giá sinh trưởng của lợn thịt bao gồm: tăng khối lượng hàng ngày, thu nhận thức ăn, tiêu tốn thức ăn, tốc độ tăng trưởng thịt nạc, tiêu tốn thức ăn cho tăng trưởng thịt nạc
và tuổi đạt khối lượng giết thịt Giữa tăng khối lượng hàng ngày và tiêu tốn thức
ăn có mối tương quan di truyền âm và chặt chẽ, r = -0,69 - 0,99, giữa tăng khối lượng hàng ngày và thu nhận thức ăn có mối tương quan di truyền dương,
r = 0,28 - 0,37 (Sellier, 1998)
Colin (1998) cho biết, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thân thịt quan trọng
là tỷ lệ thịt móc hàm, dài thân thịt, tỷ lệ thịt nạc hoặc tỷ lệ thịt nạc/mỡ, độ dày mỡ lưng và diện tích cơ thăn Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt bao gồm: độ dai, khả năng giữ nước (tỷ lệ mất nước), hao hụt khi nấu, năng suất chế biến, hàm lượng glycogen, protein trong cơ, pH của cơ sau giết mổ 45 phút (pH45) và 24 giờ (pH24), màu sắc thịt, tính chất sợi cơ Trong đó, các chỉ tiêu tỷ lệ mất nước, màu sắc thịt, pH thịt là quan trọng nhất
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, khả năng cho thịt và chất lượng thịt
2.3.2.1 Yếu tố di truyền
Các giống lợn khác nhau có khả năng sinh trưởng và cho thịt khác nhau
(Evan, 2003; Labroue et al., 2000)
Giống ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, khả năng tích lũy mỡ Theo Colin (1998) và Sellier (1998), các giống Pi, L Bỉ và L Đức có thịt đùi, tỷ lệ thịt nạc và diện tích cơ thăn cao hơn các giống lợn khác Các giống lợn địa phương thường
có tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ thịt nạc thấp, nhưng tỷ lệ
mỡ trong cơ lại cao (Labroue et al., 2000)
Khả năng sinh trưởng và cho thịt của các giống lợn không giống nhau Khả năng này phụ thuộc vào quá trình lớn lên của con vật tức là quá trình sinh trưởng,
đó là quá trình tích lũy các chất chủ yếu là protein (Wood et al.,1987)
Puigvert et al (2000) cho biết, giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
chất lượng thịt, còn khối lượng giết thịt, khẩu phần thức ăn, tính biệt và điều kiện môi trường ít ảnh hưởng đến chất lượng thịt
Các chỉ tiêu nuôi vỗ béo như tăng khối lượng/ngày đêm, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, thu nhận thức ăn/ngày có hệ số di truyền ở mức độ trung bình (h2 = 0,31) (Clutter and Brascamp, 1998), các chỉ tiêu thân thịt như tỉ lệ móc hàm, chiều dài thân thịt, tỉ lệ nạc hoặc tỉ lệ nạc/xương, độ dày mỡ lưng, diện tích
Trang 33cơ thăn có hệ số di truyền cao (h2 = 0,3 - 0,6) (Sellier, 1998) Theo Stewart and Schinkel (1989) và Ducos (1994), các chỉ tiêu về thân thịt có hệ số di truyền tương đối cao trong số đó của tỉ lệ móc hàm là thấp nhất (h2 = 0,3 - 0,5) và chiều dài thân thịt là cao nhất (h2 = 0,56 - 0,57) Các tính trạng thuộc chất lượng thịt như khả năng giữ nước (tỉ lệ mất nước), màu sắc thịt, cấu trúc cơ, thành phần hóa học của cơ, pH1 và pH2 sau khi giết thịt có hệ số di truyền ở mức 0,1 đến 0,3 (Sellier, 1998)
Tương quan di truyền giữa một cặp tính trạng là thuận và chặt chẽ như giữa tăng khối lượng và thu nhận thức ăn (r = 0,65), bên cạnh đó là các tương quan nghịch và chặt như giữa tỉ lệ nạc với độ dày mỡ lưng (r = -0,87) (Stewart and Schincket, 1989), tỉ lệ mất nước và pH2 (r = -0,71) với khả năng giữ nước (r = -0,94) (Sellier, 1998) Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã xác nhận các chỉ tiêu thân thịt như tỉ lệ móc hàm, tỉ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn là khác nhau ở các giống khác nhau Lợn L có chiều dài thân thịt dài hơn so với lợn Y khoảng 1,5cm; ngược lại, tỉ lệ
móc hàm ở Y lại cao hơn so với L (Haminell et al., 1993); lợn Hampshire có thân
thịt nhiều nạc hơn nhưng thường ngắn hơn và có khối lượng lớn hơn so với lợn Y
(Smith et al., 1990)
Con lai cho ưu thế lai hơn bố mẹ về tăng khối lượng (10%) và lượng thức
ăn thu nhận hàng ngày (Sellier, 1998) Nghiên cứu của Liu et al (2000) cho biết,
con lai 3 giống có ưu thế lai về tăng khối lượng tới 16,44%, ưu thế lai về tiêu tốn thức ăn là -8,18% trong khi đó con lai trở ngược có ưu thế lai về tăng khối lượng chỉ đạt 7,03%, tiêu tốn thức ăn là -2,7%
Kết quả nghiên cứu của Lachowiez et al (1997) cho biết, thịt của con lai
mềm và nhiều nước, năng suất chế biến cao, màu thịt sáng hơn so với của lợn thuần Popovic (1997) cho biết, thịt của các con lai L × Y, Y × L, Du × (L × Y), Hampshire × (L × Y), Du × (Y × L), Hampshire × (Y × L) có màu sắc và khả năng giữ nước tốt
Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng thịt PSE có chất lượng thấp và nó thường là kết quả cuối cùng của hội chứng stress Khi lợn bị stress có thể chết trên đường vận chuyển đưa đi bán, hoặc nếu sống sót cho đến lúc giết mổ thì cũng có nhiều ảnh hưởng đến việc xuất hiện thịt PSE
Thịt có chất lượng cao khi chưa xử lý sẽ có màu hồng tươi, thớ cơ chắc, mặt thịt không rỉ nước và có một ít vân Những đặc điểm này làm cho thịt có độ bóng, chắc, thơm, có chất dinh dưỡng cao khi được nấu đúng cách Ngoài ra, thịt
Trang 34lợn có chất lượng cao vẫn giữ được phần lớn dịch thể của nó khi cắt, bao gói, ướp lạnh hoặc khi nấu cũng như khi xử lý, xông khói, xay nghiền trong quá trình
chế biến thành sản phẩm của nhà máy Theo Judge et al (1996), thịt lợn PSE có
chất lượng thịt kém vì các lý do sau:
- Mềm, nhão, mất thớ, nhợt nhạt và nhìn không hấp dẫn;
- Cơ thịt trở thành toan tính, nhất là lúc mới giết mổ và protein bị mất đi khả năng lưu giữ dịch thể của thịt Mặt thịt có ít hoặc không có vân;
- Thịt thăn và cơ đùi thường lộ ra 2 sắc thái khác nhau ở các lát cắt;
- Khi còn là thịt tươi chưa chế biến, thịt tiết ra dịch khi cắt hoặc treo (đôi khi độ mất nước cao hơn 7%) thịt chuyển thành màu xám, không hấp dẫn người mua và chóng ôi hơn thịt bình thường;
- Khi dùng để chế biến các thực phẩm dạng công nghiệp (hun khói, xúc xích) thịt có độ mất nước cao (vượt quá 3 - 10% so với mức bình thường), màu sắc không đồng nhất, các thớ cơ rời rạc, khó thái miếng;
- Các mảnh thịt ướp lạnh bị mất quá nhiều dịch thể khi giải đông
Trong một số trường hợp, lợn có hội chứng stress không gây nên trạng thái thịt PSE mà là DFD Thịt DFD là một biểu hiện không mong đợi, dễ bị thối hỏng hơn vì độ pH cao, nó có một số nhược điểm khác với thịt PSE
Thịt DFD có màu thẫm, rắn chắc và khô, trái ngược với PSE, nhưng cũng không hấp dẫn vì màu đỏ thẫm là dấu hiệu của lợn già loại thải, thịt không tươi hoặc bị mất nước trong khi bảo quản (Sebranek and Judge, 1996) Ngăn ngừa xuất hiện thịt PSE và DFD là một khâu quan trọng trong việc nâng cao chất lượng thịt lợn Giải pháp về mặt di truyền là kiểm tra và loại bỏ những lợn nhạy cảm stress ra khỏi đàn, tức là kiểm tra gen nhạy cảm stress (gen halothan) của từng gia súc giống Đây là một giải pháp cơ bản và quan trọng nhất vì nó giải quyết được tận gốc cơ sở di truyền quyết định chất lượng thịt Các giải pháp khác nhằm hạn chế sự xuất hiện thịt kém phẩm chất (yếu tố ngoại cảnh) chứ không thể loại bỏ hết được các nguy cơ làm xuất hiện thịt kém phẩm chất ngay từ bản thân con vật (di truyền)
2.3.2.2 Yếu tố ngoại cảnh
a) Dinh dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi
phối sinh trưởng và khả năng cho thịt của gia súc Theo Wood et al (2004), nuôi
Trang 35lợn thịt bằng khẩu phần protein thấp, lợn sẽ sinh trưởng chậm, khối lượng giết thịt thấp Mức năng lượng và protein thấp trong khẩu phần làm tăng khả năng
tích luỹ mỡ, tăng tỷ lệ mỡ trong cơ (Chang et al., 2003) Theo Colin (1998) cho
biết, lượng protein của khẩu phần hàng ngày có quan hệ chặt chẽ với mức tăng trưởng nạc hàng ngày
Lenartowiez et al (1998) cho biết, mức năng lượng cao trong khẩu phần sẽ
làm tăng tốc độ tăng khối lượng, giảm tiêu tốn thức ăn so với mức năng lượng thấp Mức năng lượng và protein trong khẩu phần thấp sẽ làm tăng quá trình tích
luỹ mỡ trong cơ (Chang et al., 2003)
Chất khoáng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với lợn thịt Tốc độ sinh trưởng và cả phẩm chất thịt cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa các
vitamin với các chất khoáng Jondreville et al (2003) cho biết, bổ sung Cu, Zn
một cách hợp lý vào khẩu phần có tác dụng tăng khả năng sinh trưởng và giảm ô
nhiễm môi trường Theo Swigert et al (2004), bổ sung Mg có thể làm tăng pH
cơ, do đó làm giảm tỷ lệ thịt PSE, nâng cao chất lượng thịt Geesink et al (2004)
cho biết, bổ sung Mg, tryptophan, vitamin E và vitamin C trong thời gian nhất định có tác dụng nâng cao chất lượng thịt lợn
Mức thu nhận thức ăn phụ thuộc vào sự cân bằng các chất dinh dưỡng Mức
thu nhận thức ăn cao sẽ có mức sinh trưởng cao Theo Lorenzo et al (2003) cho
biết, tăng thu nhận thức ăn ở giai đoạn sinh trưởng sớm khi hiệu quả sử dụng thức ăn cao và sinh trưởng nạc mạnh sẽ giảm quá trình tích luỹ mỡ, giảm tiêu tốn thức ăn Giữa mức tăng khối lượng và thu nhận thức ăn có mối tương quan chặt (r = 0,94) Ở giai đoạn sinh trưởng sớm, hiệu quả sử dụng thức ăn và sinh trưởng nạc phụ thuộc chặt chẽ vào mức thu nhận thức ăn
Hiệu quả sử dụng protein bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Lợn hướng nạc có hiệu quả sử dụng protein cao hơn so với lợn hướng mỡ, lợn còn non cao hơn lợn trưởng thành, lợn đực cao hơn lợn cái và lợn đực thiến Khẩu phần có đủ axit amin tốt hơn khẩu phần không đủ Tăng mức lysine, protein trong khẩu phần sẽ làm tăng thu nhận thức ăn và tăng tốc độ sinh trưởng
Lợn nuôi bằng khẩu phần dinh dưỡng cao (protein, năng lượng) sẽ có sự phát triển mạnh mẽ về thịt nạc, mỡ và tỷ lệ mỡ trong cơ thấp hơn, tỷ lệ xương
cao hơn so với lợn nuôi bằng khẩu phần dinh dưỡng thấp (Wood et al., 2004)
Theo Colin (1998), hình thức nuôi dưỡng hạn chế thức ăn và số lượng năng
Trang 36lượng trong khẩu phần có ảnh hưởng đến thành phần thân thịt Ở lợn được nuôi dưỡng tự do, năng lượng thu nhận cao hơn so với nhu cầu nên tích luỹ mỡ nhiều hơn, lợn biểu hiện tăng khối lượng của phần thịt nạc cao hơn và qua đó nâng cao được số lượng thịt nạc, tuy nhiên, tỷ lệ thịt nạc sẽ thấp hơn Mức thức ăn thấp sẽ làm tốc độ sinh trưởng nạc kém, mức thức ăn cao sẽ làm tăng quá trình tích luỹ
mỡ Kim et al (2000) cho biết sự ảnh hưởng của nuôi dưỡng theo giai đoạn có
ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng và một số chỉ tiêu năng suất thân thịt Kết quả cho thấy nuôi dưỡng lợn thịt theo hai giai đoạn có hiệu quả kinh tế và môi trường tốt hơn so với nuôi một giai đoạn
Mối quan hệ về sinh trưởng giữa cơ, mỡ và xương sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của gia súc Lợn sinh trưởng chậm khi giết mổ ở tuổi cao sẽ có tỷ lệ cao về xương và mỡ Lợn sinh trưởng cao sẽ có nhiều mỡ cao hơn lợn sinh
trưởng bình thường, đặc biệt ở con đực (Evan et al., 2003)
b) Thời gian nuôi
Thành phần hoá học của cơ thể thay đổi phụ thuộc vào tuổi của gia súc, khối lượng, tính biệt, chế độ nuôi dưỡng Khi sơ sinh, nước chiếm 77%, protein 18%, lipit 2% và khoáng tổng số là 3% Ở giai đoạn trưởng thành, nước chiếm 64%, protein 16%, lipit 16% và khoáng tổng số 3%
Khối lượng cơ thể càng tăng, tỷ lệ mỡ càng cao Mức nuôi dưỡng cao, lợn
sẽ béo hơn, lợn nuôi hạn chế sẽ ít mỡ và nhiều nạc Theo Larzul et al (1998),
khối lượng giết thịt ảnh hưởng đến màu sắc thịt và cấu trúc sợi cơ Thời gian nuôi càng dài, tỷ lệ mỡ trong thân thịt càng tăng và tỷ lệ thịt nạc càng giảm
c) Mùa vụ
Huang et al (2004) cho biết, mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt tới độ dày mỡ
lưng và hiệu quả sử dụng thức ăn Lợn nuôi trong mùa hè và mùa đông có độ dày
mỡ lưng thấp hơn so với mùa thu và mùa xuân (Choi et al., 1997) Stress nhiệt có liên quan tới mức sinh trưởng chậm vì khả năng thu nhận thức ăn thấp Lisiak et
al (2000) nhận thấy lợn mổ vào mùa hè có tỷ lệ thịt nạc cao hơn so với lợn mổ vào mùa đông Kuchenmeister et al (2000) cho biết, chất lượng thịt giảm xuống
đối với lợn mổ vào mùa hè và mùa đông Nhiệt độ cao về mùa hè làm tăng tỷ lệ
thịt PSE (Guardia et al., 2004) Neill et al (2003) cho biết, các tháng trong năm
có ảnh hưởng tới một số chỉ tiêu chất lượng thịt
Trang 37d) Chăm sóc và nuôi dưỡng
Nhiệt độ chuồng nuôi cao hoặc thấp hơn nhiệt độ giới hạn cho phép đều bất lợi cho sinh trưởng của lợn thịt Che tối chuồng nuôi trong giai đoạn vỗ béo hoặc
sử dụng các thuốc an thần nhằm hạn chế hoạt động sẽ có lợi cho quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng
Goft et al (2003) nhận thấy giun sán là nguyên nhân quan trọng làm giảm
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt Do đó việc vệ sinh, tẩy giun sán là hết sức cần thiết
Số lượng lợn nuôi thịt trong một ô chuồng có ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng, thu nhận thức ăn, tiêu tốn thức ăn nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ
thịt nạc (Turner, 2003) Theo Ekachat et al (1997), tiếng động quá lớn và nhanh
làm giảm sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn thịt Lợn ở những ổ đẻ có
số con để nuôi/ổ cao sẽ có khối lượng giết thịt thấp, nhưng tỷ lệ thịt nạc cao hơn so
với lợn ở những ổ đẻ có số con để nuôi/ổ thấp (Buczynski et al., 2000)
Các điều kiện trước khi giết mổ, bắt lợn, thời gian vận chuyển, nơi nhốt, điều kiện khi giết mổ là nguyên nhân gây nên stress và tăng tỷ lệ thịt PSE
(Guardia et al., 2004) Thời gian vận chuyển không nên kéo dài quá 3 giờ, nếu
thời gian vận chuyển quá 3 giờ đồng thời với mật độ cao sẽ làm tăng tỷ lệ thịt PSE Gregory (1998) cho biết cho lợn ăn vào buổi sáng trong ngày giết mổ có thể làm tăng tỷ lệ thịt PSE, nhất là giết mổ ngay khi tới lò mổ Cho lợn nghỉ ngơi 2-3 giờ trước khi giết mổ có tác dụng làm giảm tỷ lệ thịt PSE Mùa vụ trong năm cũng có ảnh hưởng tới tỷ lệ thịt PSE và DFD Tỷ lệ thịt DFD cao là do điều kiện
kém trước khi giết mổ (Neill et al., 2003) Guardia et al (2004) cho biết tỷ lệ thịt
PSE tăng cao ở mùa hè Thời gian vận chuyển, mật độ lợn, thời gian nhốt lợn trước khi giết thịt ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ thịt PSE, DFD
e) Tính biệt
Evan et al (2003) cho biết lợn đực lớn nhanh hơn lợn cái Lợn đực không
thiến có tốc độ lớn nhanh nhưng không được người tiêu dùng ưa thích vì mùi của
nó (Kortz et al., 2000) Kortz et al (2000) cũng xác nhận lợn đực có khả năng
tăng khối lượng và tỷ lệ thịt nạc cao hơn lợn cái tới 3% Lợn đực thiến có nhiều
mỡ trong cơ, ít mỡ dưới da so với lợn cái (Kolstad et al., 1997) Kortz et al
(2000) cho biết lợn đực không thiến và lợn cái có diện tích cơ thăn lớn hơn lợn đực thiến, thịt của lợn đực không thiến có hàm lượng vật chất khô và tỷ lệ mỡ
Trang 38trong thịt thấp hơn so với đực thiến, nhưng cao hơn về trị số pH thịt so với lợn
đực thiến và lợn cái Kortz et al (2000) cho thấy thịt của lợn cái không tốt hơn thịt của lợn đực thiến Theo Guardia et al (2004) lợn đực không thiến có tỷ lệ thịt
PSE cao hơn lợn cái và lợn đực thiến 0,5%
2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC VÀ TRONG NƯỚC 2.4.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Lai giống là biện pháp quan trọng để sản xuất lợn thịt có năng suất cao, chất lượng thịt tốt ở nhiều nước trên thế giới Nửa đầu thế kỷ XX, nội dung chủ yếu của công tác giống lợn là chọn lọc và nhân thuần bằng các phương pháp kiểm tra lợn đực giống qua đời sau Thời kì đầu chỉ mới áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa 2 giống lợn, về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ
ba, bốn, năm giống lợn và cao hơn nữa là các chương trình lai tạo lợn hybrid Theo Gordon (1997), lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ hơn 50 năm trước Việc sử dụng lai hai, ba, bốn giống để sản xuất lợn thịt thương phẩm đã trở
thành phổ biến (Xue et al., 1997; Whaley et al., 1997) Kết quả nghiên cứu của Hansen et al (1997) cho biết, lai hai giống (Du × White composite) và
(Meishan × White composite) thì con lai có tốc độ sinh trưởng tốt hơn lợn Meishan thuần, lợn lai (Du × White composite) tăng khối lượng cao hơn (Meishan × White composite) Lai hai, ba, bốn giống đã trở thành phổ biến trong chăn nuôi lợn tại Ba Lan (Ostrowski and Blicharski, 1997; Grzeskowiak et al., 2000; Migdal et al., 2000)
Grzeskowiak et al (2000) cho thấy, lai hai giống giữa Hampshire × Du đạt
giá trị pH1 của thịt cao hơn so với Pi × Du và Pi thuần So sánh giữa các tổ hợp lai hai, ba, bốn giống, Ostrowski and Blicharski (1997), Buczyncki et al (1998), Eckert et al (1998), Kapelanski et al (1998), Lenartowiez et al (1998) và Grzeskowiak et al (2000) cho thấy, con lai có 25 và 50% máu Pi có tỷ lệ thịt nạc
cao và chất lượng thịt tốt Sử dụng đực lai F1(Pi×Du) có tác dụng nâng cao diện
tích và khối lượng cơ thăn (Gajewczyk et al., 1998) Blicharski and Ostrowski
(2000) cho thấy, lợn lai có khả năng tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc cao hơn lợn thuần và tỷ lệ thịt nạc đùi có tương quan cao với tỷ lệ thịt nạc (r=0,93)
Lachowiez et al (1997) cho biết thịt của lợn lai mềm, nhiều nước và có năng suất chế biến cao hơn thịt của lợn thuần Các nghiên cứu của Gerasimov et al (1997)
cho biết lai hai, ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Lai hai giống
Trang 39làm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần (10,9 so với 10,1 con), tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa Ưu thế lai về khối lượng khi cai sữa tới 18,30% (Chokhatarid, 2000) Vì vậy, việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến
để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm (Dzhuneibaev
and Kurenkova, 1998) Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy lợn lai
có mức tăng khối lượng tốt và tỷ lệ thịt nạc cao so với lợn thuần Gerasimov et
al (1997) cho biết trong nhiều tổ hợp lai hai, ba giống, tổ hợp lai hai giống (Du ×
Large Black), tổ hợp lai ba giống Du × (Poltava Meat × Russian Large White) có khả năng tăng khối lượng cao nhưng tiêu tốn thức ăn lại thấp so với các công thức khác Kết quả nghiên cứu của Pogodaev and Filenko (1997) cũng có kết quả tương tự Các con lai có chất lượng thịt tốt do thịt có tỷ lệ mỡ cao (Samkov,
2000) Theo Leroy et al (1996) cho biết, lai hai giống (Pi × LW) có số con khi
sơ sinh, khi cai sữa và khối lượng cả ổ ở 5 tuần tuổi đều cao hơn so với nái thuần
Lai hai giống giữa Pi với L Bỉ được Smet et al (1997) cho biết có kết quả tốt Nghiên cứu của White et al (1997) nhận thấy nái lai F1(Y × Meishan) có số
trứng rụng, số thai và số con đẻ ra/ổ nhiều hơn giống thuần Xue et al (1997) cho
biết lai ba giống Du × (LW × L) có tốc độ sinh trưởng, chất lượng thân thịt tốt
Kim et al (1992) nhận thấy lai hai, ba giống Du × (Y × L) có tốc độ sinh trưởng,
chất lượng thân thịt tốt Do đó, việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm
Lai giữa 3 giống lợn L, Y, Du, con lai có tốc độ tăng khối lượng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp và số ngày đạt khối lượng giết thịt 94kg thấp hơn so với các
tổ hợp lai khác (Haminell et al., 1993)
Tại Trung Quốc lợn thịt thương phẩm được sản xuất từ ba giống Du, L,
LW, đạt 90kg ở 165 ngày tuổi (Tan et al., 2000), sử dụng nái lai (L × Y) hoặc (Y ×
L) phối với lợn đực Hampshire và lai luân chuyển giữa ba giống Hampshire, Y, L có kết quả tốt trong 64 tổ hợp lai khác nhau (Wang and Zhang, 1997) Việc sử dụng nái lai (L × Y) phối với đực Du được ứng dụng khá rộng rãi để nâng cao tăng khối
lượng và khả năng cho thịt (Liu et al., 2000) Trong 2,2 triệu con nái tại Đức được
phối giống phần lớn sử dụng tinh dịch lợn đực Pi (Gordon, 1997) Theo Sohst (1997), nái lai F1(L × Leicoma) có số con đẻ ra/lứa cao hơn nái thuần 0,5 con Sử dụng nái lai đã trở thành phổ biến để tiến hành lai ba, bốn và năm giống trong sản
xuất lợn thịt thương phẩm (Wuensch et al., 2000) Wuensch et al (2000) cho biết
nái lai (Pi × L) và (LW × L) có thời gian sử dụng cao hơn so với nái thuần
Trang 40Lai giống là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng sinh sản và cho
thịt trong chăn nuôi lợn ở Ba Lan Tuz et al (2000) nhận thấy lai ba giống đạt
được số con/lứa ở 1, 21, 42 ngày tuổi cũng như khối lượng sơ sinh/con cao hơn hẳn so với giống thuần Sử dụng nái lai để phối với lợn đực thứ ba có hiệu quả nâng cao khối lượng khi cai sữa và khả năng tăng khối lượng khi nuôi thịt (Kamyk, 1998) Lai ba, bốn giống đã trở thành phổ biến trong chăn nuôi lợn (Ostrowski and Blicharski, 1997; Grzeskowiak et al., 2000) Nhiều tổ hợp lai ba, bốn giống được Grzeskowiak et al (1998) nghiên cứu và đạt kết quả tốt
Nghiên cứu của Gerasimov et al (1997) cho biết, lai ba giống đều có tác
dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như số con đẻ ra/ổ, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Theo Gerasimov and Pron (2000), nái lai có chất lượng tốt về sản xuất sữa, khối lượng sơ sinh, con lai sinh trưởng tốt và có năng suất thịt xẻ cao Việc sử dụng lai ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh
sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm (Dzhuneibaev et al., 1998) Theo các tác giả lợn lai có mức tăng khối lượng tốt và tỷ lệ thịt nạc cao Gerasimov et al
(1997) cho biết trong nhiều tổ hợp lai ba giống, tổ hợp lai ba giống Du × (Poltava Meat × Russian LW) có khả năng tăng khối lượng cao và tiêu tốn thức ăn lại thấp
so với các tổ hợp lai khác Kết quả nghiên cứu của Pogodaev et al (1997) cũng
có kết quả tương tự Các con lai có chất lượng thịt tốt do thịt có tỷ lệ mỡ cao (Samkov, 2000)
Ở châu Âu hiện nay, ba giống phổ biến được dùng là Pi, Hampshire và Du Giống Pi có tỉ lệ nạc cao nhưng tần số gen halothan cao, giống Hampshire có khả năng kháng stress song có hạn chế tồn tại gen RN và ảnh hưởng đến chất lượng thịt, giảm năng suất thịt khi chế biến, giống Du có khả năng kháng stress nhưng cũng có hạn chế là tỷ lệ mỡ trong thân thịt và trong thịt nạc cao
Tại Áo, với 4,8 triệu lợn thịt giết mổ hàng năm thì gần như tất cả được sản xuất từ lai hai, ba giống Nái lai được sử dụng phổ biến là F1(Edelschwein × LW)
và F1(Edelschwein × L) được phối với lợn đực giống Pi hoặc Du để sản xuất con
lai ba giống nuôi thịt (Knapp and Willam, 1998; Mayr et al., 1997)
Như vậy, hầu hết các nước có nền chăn nuôi phát triển trên thế giới đều sử dụng các tổ hợp lai kinh tế để sản xuất lợn thương phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao từ việc giảm chi phí thức ăn, tiết kiệm thời gian nuôi thịt và nâng cao tỷ lệ thịt nạc nhờ ưu thế lai Các nhà tạo giống căn cứ vào nhu cầu thị trường đòi hỏi chất