TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN Tên tác giả: LÊ NGỌC LÂM Mã sinh viên: 610405 Tên đề tài: “NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI F1 LANDRACE xYORKSHIRE PHỐI VỚI LỢN ĐỰC DUROC NUÔI TẠI TRANG TRẠI ÔNG ĐẶNG
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
F1 (LANDRACE xYORKSHIRE) PHỐI VỚI LỢN ĐỰC DUROC NUÔI TẠI TRANG TRẠI ÔNG ĐẶNG
MINH LINH-THÔN ĐOÀI -VIỆT HÙNG-
ĐÔNG ANH-HÀ NỘI”
Người thực hiện : LÊ NGỌC LÂM MSV : 610405
Ngành : CHĂN NUÔI THÚ Y Người hướng dẫn : GS.TS.NGUYỄN XUÂN TRẠCH
Bộ môn : CHĂN NUÔI CHUYÊN KHOA
HÀ NỘI 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ trong một khóa luận nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho khóa thực tập tốt nghiệp này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 03 tháng 01 năm 2021
Sinh viên
Lê Ngọc Lâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam cũng như trong quá trình thực tập tốt nghiệp ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của nhiều cá nhân và tập thể Nhân dịp hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp:
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu nhà trường, các phòng ban, các thầy cô giáo trong nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi, đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến GS.TS Nguyễn Xuân Trạch trong suốt thời gian thực tập, đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn ông Đặng Minh Linh đã tạo điều kiện cho
tôi thưc tập và rèn luyện tại trại
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ kỹ thuật Bùi Thế Đàn, cùng các anh
chị em công nhân ở trại đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực tập, tạo điều kiện để tôi thu thập thông tin, số liệu chính xác, phục vụ chuyên đề có hiệu quả nhất
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã hết lòng động viên, giúp đỡ và sát cánh bên tôi trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành khóa luận của mình
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 3 tháng 1 năm 2021
Sinh viên
Lê Ngọc Lâm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vii
TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN viii
Phần I MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC 3
2.1.1 Nguồn gốc, đặc điểm và một số tính năng sản xuất của một số giống lợn 3
2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản ở lợn 6
2.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI 14 2.2.1 Nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái (ngày) 14
2.2.2 Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái 15
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 18
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 21
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23
Phần 3.ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 25
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
Trang 53.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25
3.2.1 Một số chỉ tiêu đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 25
3.2.2 Theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản lợn nái 25
3.2.3 Tính tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 26
3.2.4 Tình hình dịch bệnh trên lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ 27
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.4 XỬ LÝ SỐ LIỆU 28
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI Ở TRẠI 29
4.1.1 Khái quát chung về trang trại 29
4.1.2 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh, vệ sinh cho đàn lợn tại trại 31
4.2 MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÍ SINH SẢN CỦA LỢN NÁI 47
4.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 47
4.2.2 Năng suất sinh sản của lợn nái 50
4.3 NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LAI F1(LY) QUA CÁC LỨA 55 4.4 TIÊU TỐN THỨC ĂN ĐỂ SẢN XUẤT 1 KG LỢN CON CAI SỮA 58
4.5 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON TẠI TRẠI 58
4.5.1 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái sinh sản 58
4.5.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn con theo mẹ 59
4.5 XÁC ĐỊNH TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI VÀ
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1 Kết luận 62
5.2 Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 68
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhu cầu protein cho lợn nái 18
Bảng 2.2 Năng xuất sinh sản của nái F1(L xY) phối với đực Pietrain và Duroc 22
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trang trại trong 3 năm (2018-5/2020) 31
Bảng 4.2 Chế độ ăn của lợn nái mang thai 35
Bảng 4.3 Chế độ ăn của lợn nái nuôi con 35
Bảng 4.4 Giá trị dinh dưỡng các loại thức ăn sử dụng tại trại 36
Bảng 4.5 Lịch tiêm vacxin cho đàn hậu bị 40
Bảng 4.6 Lịch tiêm vacxin cho đàn lợn nái 40
Bảng 4.7 Lịch tiêm vacxin cho đàn lợn đực 41
Bảng 4.8 Lịch tiêm vaccine và điều trị các bệnh thường gặp cho heo con 41
Bảng 4.9 Lịch tiêm vaccine và điều trị các bệnh thường gặp cho lợn nái 42
Bảng 4.10 Chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái F1 (L x Y) 42
Bảng 4.11 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) 46
Bảng 4.12 Một số chỉ tiêu số con/ổ của lợn nái F1(LY) 51
Bảng 4.13 Một số chỉ tiêu khối lượng của lợn nái qua các lứa đẻ 54
Bảng 4.14 Khối lượng cai sữa/con và khối lượng cai sữa/ổ qua các lứa đẻ 55
Bảng 4.15 Tiêu tốn thức ăn để sản xuất 1 kg lợn con cai sữa (kg) 57
Bảng 4.16 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái sinh sản (n=40) 58
Trang 7
Biểu đồ 4.5 Khối lƣợng cai sữa/ổ và khối lƣợng cai sữa/con của lợn nái
F1(LY) qua các lứa đẻ 56
Trang 8DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CS Cai sữa
cs Cộng sự
ĐVT Đơn vị tính KLCS Khối lƣợng cai sữa KLSS Khối lƣợng sơ sinh
LY Landrace x Yorkshine
SS Sơ sinh
Tă Thức ăn TTTĂ/kg Tiêu tốn thức ăn/kg Max Tối đa
min Tối thiểu
Trang 9TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN
Tên tác giả: LÊ NGỌC LÂM Mã sinh viên: 610405
Tên đề tài: “NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
F1 (LANDRACE xYORKSHIRE) PHỐI VỚI LỢN ĐỰC DUROC NUÔI TẠI TRANG TRẠI ÔNG ĐẶNG MINH LINH-THÔN ĐOÀI-VIỆT HÙNG-ĐÔNG ANH-HÀ NỘI”
Ngành: Chăn nuôi thú y
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái F1(Landrace x Yorshire) tại
trang trại của ông Đặng Minh Linh-thôn Đoài-Việt Hùng-Đông Anh-Hà Nội
- Xác định tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa
Phương pháp nghiên cứu:
Các chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản
Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa(kg)
Số con đẻ ra/ổ là 13,48 con; Khối lượng sơ sinh/con là 1,48 kg Số con cai sữa/ổ là 12,34 con; Khối lượng cai sữa/con là 6,12 kg;
+ Tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa của lợn nái tại trại là 5,79
+ Lợn nái mắc một số bệnh như viêm vú, viêm tử cung, sót con sót nhau, dạ dày Lợn con mắc một số bệnh như tiêu chảy (20,47%), viêm phổi (2,53%), viêm khớp (2,71%), Hecni (3,44%)
Trang 10đàn lợn trên cả nước đạt 24 triệu con, đạt 74% so với tổng đàn lợn trước khi có dịch (31 triệu con vào 12/2018) Trong 3 tháng đầu năm nay, tốc độ tái đàn lợn trung bình trên cả nước đạt 6,2% Mục tiêu năm 2020 tổng đàn lợn là 28,7 triệu con trong
đó đàn lợn ngoại và lợn lai chiếm 90%, tổng đàn nái khoảng 3,0 - 3,5 triệu con, tốc
độ tăng bình quân hàng năm là 1,07% Để đạt được mục tiêu đó, ngành chăn nuôi đang từng bước tái cơ cấu ngành, chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi theo quy mô trạng trại, gia trại
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nhập 1 số giống lợn ngoại như Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain… dùng nhân thuần, lai tạo giống, từ đó cung cấp con giống cho năng suất, chất lượng cao, thích nghi tốt với điều kiện Việt Nam Hiện nay các cơ sơ chăn nuôi thường sử dụng tổ hợp lai giữa lợn nái F1 (Landrace × Yorkshire) phối với đực giống Duroc tạo ra con lai thương phẩm lấy thịt phục vụ cho thị trường.Vì vậy, việc đánh giá khả năng sinh sản của tổ hợp lai này là rất cần thiết để đưa ra những khuyến cáo cho ngành chăn nuôi lợn trong những năm tiếp theo
Trang 111.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire)
- Đánh giá khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến cai sữa
- Xác định được tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
- Đánh giá được tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
- Đánh giá hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản
Trang 12- Đặc điểm ngoại hình:
Lợn Landrace có tầm vóc to, mình dài và dầy, nhìn ngang trông giống hình cái nêm, lông màu trắng tuyền, đầu dài, hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mặt Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, bụng thon, mông phát triển, nẩy tròn, chân to
và thẳng
Nái nuôi con tiết sữa tốt, kháng bệnh tốt tuy nhiên kén ăn và đòi hỏi điều kiện nuôi dưỡng tốt là giống lợn tiêu biểu cho hướng nạc tỷ lệ nạc từ 65% Dòng đực Landrace có phần mông đặc biệt phát triển, cho nhiều nạc hơn giống Yorkshire
Lợn nái đẻ 10 - 11 con/lứa, một năm từ 2 - 2,2 lứa, khối lượng sơ sinh đạt 1,3 - 1,4 kg/con
- Đặc điểm sinh trưởng:
Giống lợn Landrace có khả năng thích nghi cao, nhanh lớn Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) giống lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao Tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp từ 2,7 - 3,01kg Tăng khối
Trang 13lượng bình quân/ngày từ 700 - 800g, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 58 - 60% Con đực có khối lượng trưởng thành khoảng 350 - 400 kg, con cái 280 - 300 kg Trọng lượng đực trưởng thành 300 - 320 kg (Vũ Đình Tôn, 2009)
- Khả năng sinh sản:
Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và khả năng nuôi con khéo Nó
thường được chọn làm dòng cái trong các công thức lai giữa lợn ngoại cao sản với nhau Lợn nái đẻ 10 - 11 con/lứa, một năm từ 2 - 2,2 lứa, khối lượng sơ sinh đạt 1,3
- 1,4 kg/con Số con đẻ ra/lứa: 10 - 12 con, khối lượng sơ sinh: 1,2 - 1,4 kg/con (Lê Hồng Mận, 2006; Hội chăn nuôi Việt Nam, 2008)
Theo Vũ Đình Tôn (2009), lợn Landrace có tuổi phối giống lần đầu 310 ngày, trọng lượng cái trưởng thành 220 - 250 kg, số con đẻ ra trên lứa từ 9 - 11 con, khối lượng sơ sinh từ 1,3 - 1,4kg/con, khối lượng lúc 70 ngày tuổi đạt 16 -18kg/con Lợn đực có thể đưa vào sử dụng lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch khai thác đạt 270ml/lần Trọng lượng đực trưởng thành 300 - 320 kg
2.1.1.2 Giống lợn Yorkshire
- Nguồn gốc:
Yorkshire là giống lợn phổ biến nhất trên thế giới, được nuôi ở nhiều nơi
Ở nước ta giống này được nhập vào miền Bắc năm 1964 thông qua Liên Xô cũ được gọi là lợn Đại Bạch Đến năm 1978 lợn được nhập từ CuBa Giống lợn Yorkshire là một trong những giống nước ta sử dụng nhiều cho chương trình nạc hóa đàn lợn
- Đặc điểm ngoại hình:
Lợn Yorkshire có lông trắng tuyền, tai đứng, trán rộng, ngực rộng, mặt hơi thô, mõm hơi cong lên, tai to vừa phải và dựng đứng, kết cấu cơ thể vững chắc, bốn chân khỏe mạnh, lưng và hông rộng, vai đầy đặn
- Đặc điểm sinh trưởng:
Lợn có khối lượng lớn, con đực có khối lượng trưởng thành khoảng 300
-400 kg, con cái khoảng 230 - 300 kg Lợn vỗ béo đạt 100kg khoảng 5 - 6 tháng tuổi, tỉ lệ nạc đạt 52 - 55% Tuy nhiên có thể đạt tỉ lệ nạc lên đến 55 - 60% (
Trang 14Coline T Whittemore, 2000)
- Đặc điểm sinh sản:
Lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có thể phối giống lần đầu khoảng 240 - 260 ngày, số con đẻ ra trên lứa cao từ 11 - 13 con, số lứa/năm là 2,0 - 2.2 Khối lượng sơ sinh/con từ 1,3 - 1,4kg/con, khối lượng 60 ngày tuổi từ 16-18kg/con
Hướng sử dụng: Yorkshire nuôi chủ yếu để lai trong các công thức lai kinh
tế với các giống khác Lợn cái có năng suất sinh sản khá và khả năng chống chịu tốt nên thường được sử dụng làm nái sinh sản
Trang 15nghiêng (không sụ mặt xuống và cũng không dựng đứng); có thân hình dài thon, chân cao vững chắc, mông vai nở vừa dáng làm mẹ tốt, bầu vú phát triển và có
số vú > 13 núm, nuôi con khéo
- Đặc điểm sinh sản: tuổi đẻ lứa đầu sớm hơn từ 4 - 11 ngày, giảm được
số ngày lên giống lại sau cai sữa từ 0,25 - 2,42 ngày
có khả năng sinh sản Sự thành thục về tính bao giờ cũng sớm hơn sự thành thục
về thể vóc
+ Khi thành thục về tính lần đầu trọng lượng của lợn rất nhỏ, lợn cái nội chỉ đạt khoảng 10 - 15 kg, cái lai ngoại nội 50 - 60kg, cái ngoại 80 - 100 kg nên chưa thể cho phối giống được Vì vậy cần bỏ qua 1 - 2 lần động dục đầu hoặc nhiều hơn ở lợn nội rồi mới cho phối, khi lợn đã thành thục về vóc
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính:
+ Giống:
Các giống lợn khác nhau có độ tuổi thành thục về tính khác nhau, các giống lợn nội thường có tuổi thành thục về tính sớm hơn lợn nái lai và lợn ngoại Lợn cái nội 90 -120 ngày tuổi, lợn cái lai 120 - 140 ngày tuổi và lợn cái ngoại 180-200 ngày tuổi
+ Chế độ dinh dưỡng:
Có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Nguyễn Tấn Anh (1998) cho biết, để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu dinh dưỡng
Trang 16đối với lợn cái hậu bị cần lưu ý đến cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80 – 90kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) 2kg/ngày (khẩu phần 14% protien thô) Điều chỉnh mức ăn để khối lượng đạt 120 – 140kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và được phối giống Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn theo chế độ Flushing, tăng lượng thức ăn từ 1-2,5kg, có bổ sung khoáng và sinh tố thì sẽ giúp cho lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng 2 -2,1 trứng/nái/lần động dục
+ Mùa vụ:
Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu-đông Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 (mùa thu).Những gia súc được sinh vào mùa đông và mùa xuân thì thời gian thành thục về tính muộn hơn những gia súc được sinh vào các mùa khác trong năm Theo Smith và cs (1964), lợn con đẻ vào mùa đông thành thục sớm hơn vào mùa hè
+ Thời tiết:
Gia súc nuôi ở nơi có nhiệt độ cao với thời gian chiếu sáng dài thì thành thục về tính sớm hơn những gia súc sống ở Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 112 giờ mỗi ngày (Dwane và cs, 2000)
+ Mật độ nuôi nhốt:
Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu
bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống Theo Hughes và James (1996), lợn cái hậu bị ngoại
Trang 1790 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu
+ Tuổi và lứa đẻ :
Tuổi và lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới số lượng con đẻ ra/ổ
Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục đầu tiên, tăng lên ở chu kỳ động dục thứ hai và tương đối cao ở lần động dục thứ ba Số con đẻ ra tỷ lệ thuận với số lượng trứng rụng Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006), lứa đẻ là yếu tố có ảnh hưởng nhiều và rõ rệt nhất tới các tính trạng sinh sản của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, cải thiện hơn ở lứa thứ hai, đạt cao nhất ở lứa thứ ba, bốn, và năm, sau đó
ổn định hoặc giảm dần dần khi tuổi của lợn nái ngày càng tăng lên
+ Sự có mặt của lợn đực:
Sự có mặt của lợn đực ảnh hưởng đến sự xuất hiện chu kỳ động dục có rụng trứng của con cái, theo Cole (1970) hàng ngày nếu cho lợn đực vào chuồng nái ở 165- 190 ngày tuổi cho tiếp xúc với lợn đực một ngày hai lần, mỗi lần tiếp xúc từ 15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu
+ Số lần phối :
Số lần phối trong thời gian động dục của lợn nái ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ Nếu phối đơn trong một chu kỳ động dục vào lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối kép (phối hơn 2 lần) sẽ làm tăng số con
đẻ ra/ổ (Gordon, 1997) Phối nhiều lần cho nái động dục bằng những con đực khác nhau có thể tăng số con/ổ và khối lượng sơ sinh/con Theo Tilton và Cole (1982) khi phối giống cho lợn nái trực tiếp 3 lần, mỗi lần cách nhau 24h tăng 1,3 con/ổ so với phối 2 lần
2.1.2.2 Sự thành thục về thể vóc
Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, xương đã được cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Khi lợn đã tới kì thành thục về tính nhưng sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn
Trang 18còn tiếp tục trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Do đó việc quy định tuổi phối giống lần đầu đối với lợn cái là có ý nghĩa quan trọng trong chăn nuôi Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối
2.1.2.3 Chu kỳ tính
Chu kỳ tính là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn
bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại
có tính chất chu kỳ Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể nái già yếu Thường chu kỳ động dục kéo dài từ 18-22 ngày và trải qua bốn giai đoạn:
2.1.2.3.a Giai đoạn trước động dục
Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 ngày Đường sinh dục có những biến đổi khác thường, noãn bao phát triển và nổi lên trên bề mặt buồng trứng và tăng tiết Oestrogen Dưới ảnh hưởng của Oestrogen, cơ quan sinh dục có những biến đổi như: Tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh có nhiều nhung mao để đón trứng, đường sinh dục xung huyết, các dịch nhầy ở âm đạo nhiều, niêm dịch tiết ra, cổ
tử cung hé mở, bộ phận sinh dục phù thũng, niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều, con vật bỏ ăn, bồn chồn, kêu rít thích nhảy lên lưng con khác… bên trong buồng trứng có một số noãn bao phát triển nổi lên trên bề mặt buồng trứng
2.1.2.3.b Giai đoạn động dục
Giai đoạn này kéo dài 2 - 3 ngày Thời gian của giai đoạn này được tính
từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này
rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ: Con cái đứng nằm
Trang 19không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống sẵn sàng chịu đực Nếu ở giai đoạn này trứng gặp được tinh trùng, hợp tử được hình thành thì chu kỳ tính ngừng lại, gia súc cái ở vào giai có thai và cho đến khi
đẻ xong một thời gian nhất định thì chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại Trường hợp gia súc không có thai thì chuyển sang giai đoạn tiếp Giai đoạn này gồm ba thời kỳ liên tiếp là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực
2.1.2.3.c Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài 1 ngày Ở giai đoạn này toàn bộ cơ thể nói chung
và cơ quan sinh dục nói riêng dần dần trở lại trạng thái hoạt động sinh lý bình thường Các phản xạ về hưng phấn, về sinh dục dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh, chịu khó ăn uống Trên buồng trứng thể vàng xuất hiện và bắt đầu tiết progesteron Progesteron tác động lên trung khu thần kinh làm thay đổi tính hưng phấn, làm kết thúc giai đoạn động dục, niêm mạc của toàn bộ đường sinh dục ngừng tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch,
cổ tử cung đóng lại
2.1.2.3.d Giai đoạn yên tĩnh
Giai đoạn này kéo dài 10 - 12 ngày Đây là giai đoạn dài nhất của chu kỳ sinh dục Thời kỳ này con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục dần dần trở lại trạng thái yên tĩnh sinh lý bình thường Trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng, toàn bộ cơ quan sinh dục dần dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ
tiếp theo
2.1.2.4 Sự điều hòa hoạt động chu kỳ tính
Sau khi lợn đã thành thục về tính thì trong buồng trứng đã có những bao noãn tương đối lớn, các kích thích bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, mùi vị…, tác động lên vỏ não và kích thích này truyền đến tuyến yên làm cho
Trang 20tuyến yên tiết ra FSH (folliculo stimulating hormone) Hormone này tác động lên buồng trứng làm cho noãn bao phát triển và thành thục, tế bào hạt trong noãn bao tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Lúc này lợn có biểu hiện động dục, biếng ăn, chỉ nhấm nháp chút ít, bồn chồn đi lại nhiều, âm hộ có hiện tượng xung huyết đỏ mọng, kêu la phá chuồng, thích nhảy lên lưng con khác, thích gần đực, lấy tay ấn lên lưng thì thấy lợn đứng yên, đứng ở tư thế giao phối, đuôi cong lên, âm hộ chảy nước nhờn, lúc đầu loãng sau đặc dần Sau khi thải trứng thì trong một thời gian ngắn, noãn bao sẽ sinh ra thể vàng Thể vàng tiết ra progesteron làm cho tử cung chuẩn bị đón hợp tử và ức chế sự phân tiết Gonado Stimulin của tuyến yên, ức chế sự thành thục của noãn bao trong buồng trứng làm cho lợn nái không động dục trở lại Thuỳ trước của tuyến yên tiết ra Prolactin làm cho thể vàng tiết ra Progesteron và kích thích tuyến sữa phát triển Nếu lợn nái có chửa thể vàng sẽ tồn tại trong suốt thời gian mang thai, đến khi lợn đẻ thể vàng mất đi Nếu lợn không có chửa, tử cung sản sinh ra Hormone Prostagladine làm tan rã thể vàng, Progesteron không sản sinh ra nữa Tuyến yên lại được giải phóng và lại sản sinh ra FSH, bắt đầu một chu kỳ mới Chu kỳ động dục của lợn thường là từ 18 - 22 ngày, thời gian động dục kéo dài 5 - 7 ngày, nhưng thời gian chịu đực thường là 2,5 ngày, phối giống trong thời gian này đạt hiệu quả cao nhất
Để phối giống mang lại hiệu quả cao nhất có 3 cách, tính từ khi nái đứng
im chịu đực như sau:
- Sau 12 giờ và 36 giờ
- Sau 12 giờ, 36 giờ sau đó cứ 12 giờ cho phối 1 lần đến khi nái không chịu thì thôi
- Đối với lợn nái hậu bị nên cho phối giống sớm hơn nái dạ từ 6 - 8 giờ
Kết quả đem lại từ 3 cách phối trên đều như nhau Sau khi phối giống 21 ngày không có hiện tượng động dục trở lại là đã có chửa Có thể phân biệt lợn
có chửa hay không qua một số biểu hiện bên ngoài Lợn có chửa biểu hiện mệt nhọc, ngủ nhiều ăn tốt hơn, dáng đi ngày càng nặng nề Lợn tuy đã có chửa
Trang 21nhưng có thể có hiện tượng “động dục giả” Biểu hiện như sau: âm hộ đỏ, không
có nước nhờn, thời gian động dục ngắn, nói chung biểu hiện không rõ ràng Có thể phân biệt động dục giả và động dục thật ở lợn: Lợn động dục giả vẫn ăn uống bình thường, ăn xong vẫn nằm ngủ, khi thấy đực qua chuồng tai rủ xuống
và lảng tránh Điều này trái với lợn động dục, khi thấy đực qua chuồng luôn ve vẩy và đến gần đực
Chẩn đoán phân biệt lợn nái có chửa có một ý nghĩa rất to lớn, chẩn đoán lợn nái có chửa chính xác giúp cho người chăn nuôi nâng cao được tỷ lệ sinh sản của lợn nái, định ra được các thời kỳ chửa của lợn nái, từ đó định ra được các chuẩn độ nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp
Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày, dao động từ 112 -
116 ngày, cá biệt có những lợn nái ngoại mang thai tới 117 - 118 ngày, thời gian mang thai dài quá hoặc ngắn quá đều không tốt Nếu thời gian mang thai ngắn con đẻ ra yếu, sức chống chịu với ngoại cảnh kém, khả năng sống sót thấp Nếu thời gian mang thai dài đẻ ra nhiều con chết, lợn mẹ thường đẻ khó khăn Thời gian mang thai phụ thuộc vào số con sinh ra, số con sinh nhiều, thời gian mang thai ngắn và ngược lại
2.1.2.5 Quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn ở giai đoạn mang thai
2.1.2.5.a Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày)
Đây là thời kỳ phát dục mạnh nhất của bào thai Sau khi thụ thai 1 - 3 ngày, hợp tử sẽ chuyển vào bám và làm tổ ở hai bên sừng tử cung, lúc này hợp
tử lấy chất dinh dưỡng từ trứng và tinh trùng Mầm thai được hình thành sau 3-4 ngày, lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ noãn hoàng và tinh trùng, sau đó hình thành màng mầm thai lấy chất dinh dưỡng qua màng bằng thẩm thấu Sau 5
- 6 ngày hình thành túi phôi, sau 7 - 8 ngày hình thành nên mang ối cung cấp các chất dinh dưỡng cho phôi, protein, đường, mỡ… Màng niệu được hình thành sau
12 ngày, là nơi chứa chất cặn bã do thai thải ra trong quá trình trao đổi chất Ở cuối thời kỳ này, một số cơ quan như: đầu, hố mắt, tim, gan…đã hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh Đáng chú ý trong 3 tuần đầu này là sự liên kết giữa cơ
Trang 22thể mẹ và thai chưa chắc chắn, phôi thai mới hình thành nên chưa đảm bảo được
an toàn Khối lượng phôi thai trong giai đoạn này rất nhỏ, ở cuối giai đoạn mỗi phôi chỉ nặng 1 - 2 gam Vì vậy, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trong 3 tuần đầu là cực kỳ quan trọng Mỗi tác động của ngoại cảnh không tốt đến nái mẹ (như: tiếng ồn, ô nhiễm, quá nóng, hay quá lạnh…) đều ảnh hưởng tới phôi thai,
dễ dẫn đến sảy thai Dinh dưỡng hay chất lượng thức ăn không tốt (như: ôi thiu, lên men, mốc…) cũng gây hậu quả tương tự Cần có sự chăm sóc cẩn thận đối với nái chửa trong 3 tuần đầu sau khi thụ tinh
2.1.2.5.b Giai đoạn tiền thai (23 - 39 ngày)
Thời kỳ này bắt đầu hình thành nhau thai, sự kết hợp giữa bào thai và cơ thể mẹ tốt hơn Đến cuối thời kỳ này hầu hết các cơ quan đã được hình thành Khối lượng tăng nhanh, đến ngày thứ 30 khối lượng đạt 3g, ngày thứ 39 đạt 6 –
7 gam Chất dinh dưỡng chủ yếu lấy từ cơ thể mẹ
2.1.2.5.c Giai đoạn bào thai (40 - 114 ngày)
Đây là giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất của bào thai Các cơ quan bộ phận được hoàn chỉnh dần Quá trình trao đổi chất của thai diễn ra mãnh liệt Đặc điểm của từng giống đã bắt đầu được thể hiện (khoang, đốm, loang…) Khối lượng của bào thai tăng mạnh, đặc biệt từ ngày thứ 80 trở đi thai phát triển rất mạnh Cuối thời kỳ này, khối lượng bào thai tăng gấp 100 lần kỳ trước Dựa vào sự phát triển của bào thai, người ta chia quá trình mang thai của lợn nái làm
2 giai đoạn
- Chửa kỳ I: 1 - 84 ngày
- Chửa kỳ II: 85 - 114 ngày
Nhưng trên thực tế để tiện theo dõi và chăm sóc, giai đoạn chửa kỳ II được phân ra làm hai giai đoạn nhỏ:
- Giai đoạn 1: 85 - 100 ngày
- Giai đoạn 2: 101 - 114 ngày
Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau Đặc biệt chú ý trong 2 tuần cuối (101 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thật hợp lý
Trang 23Đây là thời kỳ nái mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì vậy cần phải cho nái ăn nhiều bữa để đảm bảo chất dinh dưỡng Trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao Giai đoạn này lợn mẹ cần sự yên tĩnh, những tác động kích thích từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng 113
- 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2-6 giờ Nếu sức khoẻ của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi lợn đẻ Nhưng nếu có khó khăn trong quá trình lợn đẻ (sức khoẻ nái mẹ kém, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu…) thì can thiệp ngay để đảm bảo cho
± 4,09 ngày Lợn nái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu muộn hơn lợn nuôi chăn thả Lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được vitamin D và có dịp tiếp xúc với lợn đực, nên có tuổi
động dục lần đầu sớm hơn
2.2.1.2 Tuổi phối giống lần đầu
Sau khi lợn đã thành thục về giới tính và thể vóc phát triển tương đối hoàn chỉnh thì có thể cho phối giống Thành thục về sinh dục tức là lợn cái hậu bị phải có biểu hiện về động dục và rụng trứng Tuổi trưởng thành về sinh dục phụ thuộc vào đặc điểm của giống và điều kiện nuôi dưỡng, chính sách quản lý của
cơ sở chăn nuôi Trong chăn nuôi lợn ngoại như giống lai Landrace X Yorkshire
Trang 24thường phối giống từ 7 - 8 tháng tuổi Thông thường bỏ qua 1-2 lần động dục đầu tiên nên phối giống vào lần thứ 2 hoặc thứ 3 nhằm nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái cũng như khả năng sinh trưởng của lợn con
2.2.1.3 Tuổi đẻ lứa đầu
Đây là tuổi mà lợn cái hậu bị đẻ lứa thứ nhất, chính là tuổi phối giống có kết quả cộng với thời gian mang thai Tuổi đẻ lứa đầu của gia súc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi phối giống lần đầu, kết quả phối giống, thời gian mang thai và từng giống lợn khác nhau Đối với lợn nái nội tuổi đẻ lứa đầu thường sớm hơn so với lợn nái ngoại do tuổi thành thục về tính dục ngắn hơn
2.2.1.4 Thời gian mang thai
Là khoảng thời gian được tính từ thời gian phối đạt cho đến khi đẻ
2.2.1.5 Khoảng cách lứa đẻ
Được tính bằng khoảng thời gian từ lứa đẻ này đến lứa đẻ sau, hay có thể tính bằng tổng thời gian mang thai, thời gian nuôi con và thời gian động dục đạt sau cai sữa Trong đó thời gian mang thai ít thay đổi tùy từng lợn nái, còn thời gian động dục và thời gian nuôi con có ảnh hưởng lớn đến khoảng cách lứa đẻ
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ/nái/năm
2.2.2 Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.2.1 Số con đẻ ra/ổ
Tính cả số con đẻ ra còn sống, số con chết và cả số thai chết được đẻ ra Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai của lợn nái, đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái của người chăn nuôi
2.2.2.2 Số con sơ sinh sống/ổ
Được tính bằng số con còn sống đến sau khi đẻ con cuối cùng Đây là chỉ tiêu đáng giá khả năng đẻ nhiều hay đẻ ít con của lợn nái, trình độ chăn nuôi lợn
nái và kỹ thuật chăm sóc
2.2.2.3 Tỷ lệ sơ sinh sống đến 24h sau khi đẻ
Là số con còn sống từ lúc sinh ra cho đến 24 giờ/ổ
Trang 252.2.2.4 Số con để nuôi/ổ
Số con để nuôi/ổ = số con sống đến 24h – số con loại thải ± số con nuôi ghép Chỉ tiêu này phụ thuộc vào số lượng núm vú của lợn mẹ, nói lên tình trạng lợn mẹ sau sinh Thông thường, người ta để nuôi khoảng từ 10-12con/ổ
2.2.2.5 Khối lượng sơ sinh/ổ
Là khối lượng cân được sau khi lợn con được đẻ ra rồi cắt rốn, lau khô, bấm nanh và chưa cho bú sữa đầu Đây là chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật quan trọng nói lên trình độ chăn nuôi, đặc điểm giống và khả năng nuôi thai của lợn mẹ Khối lượng sơ sinh càng cao càng tốt thì lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau
2.2.2.6 Khối lượng sơ sinh/con
Xác định chỉ tiêu này bằng cách cân khối lượng lợn con trước khi cho con
bú sữa đầu
2.2.2.7 Số con cai sữa/ổ
Là số lợn con nuôi sống đến khi cai sữa mẹ Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc của người chăn nuôi Thường lợn con cai sữa ở độ tuổi 18 -21 ngày tuổi
2.2.2.8 Khối lượng cai sữa/ổ
Là khối lượng toàn ổ lúc cai sữa Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa có ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng xuất chuồng lúc 90 kg vì tốc độ tăng trọng từ lúc cai sữa đến khi xuất chuồng có hệ số di truyền h2
=0,29
2.2.2.9 Khối lượng cai sữa/con
Xác định chỉ tiêu này bằng cách cân lợn lúc cai sữa Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn nái và khả năng nuôi dưỡng và chăm sóc của người chăn nuôi đối với lợn nái và lợn con
2.2.2.10 Thời gian cai sữa
Là thời gian lợn mẹ nuôi con, thời gian cai sữa có liên quan đến khối lượng toàn ổ và khoảng cách lứa đẻ
Trang 262.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu và cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau Mỗi yếu tố lại ảnh hưởng tới một chỉ tiêu theo một mức độ khác nhau Bên cạnh yếu tố di truyền, năng suất sinh sản của lợn nái còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: biện pháp chăm sóc lợn nái khi đẻ, nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sau cai sữa, công tác thú y, kiểu chuồng trại…
2.2.3.1 Ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền ở đây chính là thành tích sinh sản của giống, mà cụ thể là giống con nái Thành tích này thông thường đặc trưng cho giống và cũng mang tính cá thể Theo Legault và cs (1998), căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm 4 nhóm chính như sau:
- Các giống đa dụng như Landrace, Yorkshire và một số dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá
- Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Pietrain, Landrace của Bỉ, Hampshire, Poland…có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ” như Meishan có khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng sản xuất thịt kém
- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém song lại có khả năng thích nghi rất tốt với môi trường
2.2.3.2 Thức ăn và chế độ dinh dưỡng
Điều quan trọng đối với lợn nái hậu bị và lợn nái là cần đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để đảm bảo cho khả năng sinh sản tốt Zimmerman và cs (1996) cho biết, các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ khi lợn nái cai sữa con đến lúc động dục trở lại và phối giống có ảnh hưởng tới tỉ lệ thụ thai Cho ăn mức năng lượng cao trong vòng 7-10 ngày của chu kỳ động dục trước khi phối giống, số trứng rụng đạt được tối đa Tuy nhiên, nếu tiếp tục cho
ăn với mức năng lượng cao vào đầu giai đoạn có chửa sẽ làm tăng tỉ lệ chết phôi
và giảm số lượng lợn con sinh ra trong ổ Cho lợn ăn quá mức không những làm lãng phí mà còn làm tăng khả năng chết thai (Diehl và cs., 1996) Bên cạnh đó,
Trang 27một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng thiếu trầm trọng vitamin, khoáng cũng có thể gây chết toàn bộ phôi
-Nhu cầu năng lượng :
Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu về năng lượng khác nhau tuỳ thuộc từng giai đoạn Cần phải
đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng chính: Gluxit chiếm 70-80%, Lipit 10-13% tổng số năng lượng cung cấp
- Nhu cầu protein:
Các axit amin, đặc biệt là các axit amin không thể thay thế ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái Nếu khẩu phần ăn thiếu Protein thì lợn sẽ chậm động dục và giảm lứa đẻ/năm Trong giai đoạn mang thai mà không bổ sung đủ Protein thì khối lượng sơ sinh của lợn con giảm và nếu thiếu trong giai đoạn nuôi con thì sẽ giảm khả năng sinh trưởng của lợn con Tuy nhiên việc cung cấp protein phải đảm bảo đầy đủ về số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế: Lysine, Methionine, Histidine, Tryptophan… hay nhu cầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Mặt khác phải đảm bảo có giá trị sinh học cao, dễ tiêu hóa, hấp thu Để có được hàm lượng protein đủ tiêu chuẩn ta cần tiến hành nghiên cứu khẩu phần thức ăn cho lợn bằng nhiều loại thức ăn cần thiết
Bảng 2.1 Nhu cầu protein cho lợn nái
Lợn nái Khối lượng (kg) Protein thô (%)
- Nhu cầu vitamin và khoáng chất:
Vitamin cần cho sự chuyển hoá bình thường cho sự phát triển của mô bào, cho sức khoẻ, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể tự tổng hợp để
Trang 28đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 Một số vitamin lợn hay thiếu cần phải bổ sung (A, D, E) Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt
+ Thiếu vitamin A: lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ xảy thai, đẻ non, lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc động dục chậm
+ Thiếu vitamin D: thai phát triển kém, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ Đặc biệt lợn nái mang thai, nếu thiếu Vitamin D sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản
Do vậy dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần ăn hợp lý, đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng, phát dục trước và sau khi đẻ, nuôi con…là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất, hiệu quả trong chăn nuôi Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là Canxi và Photpho, xấp xỉ 25% là Natri và Kali, cũng có một lượng nhỏ Magiê, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác tồn tại ở dạng dấu vết
2.2.3.3 Điều kiện khí hậu
Các biểu hiện sinh sản bị ảnh hưởng theo mùa vụ có thể dễ nhận biết như lợn nái chậm thành thục về tính, thời gian chờ phối sau cai sữa kéo dài, tỷ lệ chết thai cao hơn và tỷ lệ xảy thai tăng lên cũng như số con đẻ ra/ổ giảm Nhiều nghiên cứu đã chia các ảnh hưởng này thành hai nhóm, bao gồm các ảnh hưởng của quang kỳ và các ảnh hưởng của nhiệt độ Nhiệt độ thích hợp với nái sinh sản
là 20-22ºC, độ ẩm 70-75% Nếu nhiệt độ lớn hơn 30ºC sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai
và số con đẻ ra Paterson và cs (1978) đã cho biết nhiệt độ cao trên 32ºC vào những tháng mùa hè ở Úc đã làm tăng tỷ lệ không đậu thai của lợn nái lên
19,7% trong khi các mùa khác là 12,7% Điều này đã được tác giả giải thích
rằng chính các stress nhiệt vào thời điểm phối giống có thể ảnh hưởng đến quá trình rụng trứng và làm mất cân bằng nội tiết của các lợn nái Ngoài ra, stress nhiệt còn ảnh hưởng đến quá trình tiết sữa của lợn nái trong giai đoạn nuôi con (Black và cs., 1993) Koketsu và cs (1997), khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng cho thấy, nái đẻ vào mùa hè và mùa xuân có thời gian từ cai sữa đến phối có chửa lứa tiếp theo là dài nhất, trong đó nái đẻ vào mùa hè có khối lượng cai sữa/lứa thấp hơn nái đẻ vào mùa xuân
Trang 292.2.3.4 Kỹ thuật phối giống
Kỹ thuật phối giống ảnh hưởng đến số lượng con/lứa Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa Chú ý rằng nếu lợn nái kéo dài động dục 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8-12 giờ trước khi kết thúc chịu đực Cho phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ sẽ giảm nhanh chóng
Có hai phương pháp phối giống là trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Thông thường lần phối giống đầu tiên người ta cho lợn nhảy trực tiếp nhưng đến các lần động dục sau thì sử dụng thụ tinh nhân tạo Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng Trong phối giống cho nhảy trực tiếp, ảnh hưởng của cá thể giống là rất rõ rệt Nếu phối trực tiếp sẽ làm giảm khả năng đảm nhiệm của lợn đực nhưng làm tăng khả năng thụ thai do lợn cái được kích thích nhiều hơn Thụ tinh nhân tạo có nhiều ưu điểm hơn nhưng có nhược điểm là giảm tỷ lệ thụ thai
do kích thích hưng phấn sinh dục thấp nên người ta thường tiến hành phối đơn, phối kép, phối lặp lại để tăng tỷ lệ thụ thai Thụ tinh không tốt có thể làm sây sát đường niêm mạc sinh dục của con cái dẫn đến viêm đường sinh dục
2.2.3.6 Thời gian cai sữa
Thời gian cai sữa có ảnh hưởng đến khoảng cách lứa đẻ, số lứa đẻ/nái/năm Để rút ngắn thời gian nuôi con cần tiến hành cai sữa sớm cho lợn con và cho lợn con tập ăn sớm khi lợn con ở 5-7 ngày
2.2.3.7 Ảnh hưởng của yếu tố tuổi và khối lượng phối giống lần đầu:
+ Sự thành thục về tính bao giờ cũng lớn hơn thành thục về vóc, để tiến hành
phối giống lần đầu cho lợn nái hậu bị cần bỏ qua một đến hai lần động dục đảm
Trang 30bảo lợn nái thành thục cả về tính và thể vóc Tuổi đẻ lứa đầu và khối lượng phối giống lần đầu quá sớm hay quá muộn, quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
+ Nếu lợn hậu bị được đưa vào khai thác quá sớm có thể cơ thể phát triển chưa hoàn thiện, số trứng ít, tỷ lệ thụ thai kém Hơn nữa nó còn ảnh hưởng đến phát triển sự phát triển của thể chất, thể vóc sau này
+ Nếu lợn hậu bị đưa vào khai thác muộn sẽ làm giảm thời gian sử dụng con nái làm giảm hiệu quả kinh tế
Ngoài ra, yếu tố chăm sóc và bệnh tật cũng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Lai kinh tế lợn ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 60 Tính đến năm
2006 cả nước đã nghiên cứu khảo sát trên 45 tổ hợp lợn lai Phần lớn trong số đó
là các lợn lai giữa các giống lợn nội và lợn ngoại Nhiều tổ hợp lai 2 giống và một phần 3; 4 giống đã được đưa vào ứng dụng trong sản xuất
Việc sử dụng các giống thuần có năng suất cao trong lai tạo đã tạo ra những tổ hợp lai mang lại hiệu quả kinh tế cao Đi sâu vào nghiên cứu các tính trạng sản xuất của các tổ hợp lai ở nước ta đã có một số kết quả cụ thể:
Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cộng sự (1999) cho thấy nái lai F1(LxY) có nhiều chỉ tiêu sinh sản cao hơn so với nái thuần L Nái lai F1(LxY) có số con sơ sinh sống, số con cai sữa tương ứng là 9,25-9.87; 8,50 - 8,80 con/ổ; khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa/con là 1,32 kg và 8,12 kg Nái L có số con sơ sinh sống, số con cai sữa tương ứng là 9,00-9,83 và 8,27-8,73 con/ổ
Theo báo cáo của Lê Thanh Hải và cộng sự (2001), nái lai F1(LxY) và F1(YxL) đều có chỉ tiêu sinh sản cao hơn so với nái thuần L, Y Nái lai F1(LxY), F1(YxL) và nái thuần L, Y có số con sai sữa/ổ tương ứng là 9,27; 9,25; 8,55 và 8,60 con; với khối lượng toàn ổ khi cai sữa tương ứng là 78,90; 83,10; 75,00 và 67,20 kg
Trang 31Kết quả nghiên cứu của Phan Xuân Hảo (2006) về năng suất sinh sản của nái lai F1 (LY) cho biết: số con sơ sinh còn sống/ổ là 10,97 con, số con đẻ nuôi/ổ là: 9,88 con, khối lƣợng sơ sinh/ổ là: 14,60kg, khối lƣợng sơ sinh/con là: 1,41kg, thời gian cai sữa là 23,05 ngày, số con cai sữa/ổ là 9,32 con, khối lƣợng cai sữa/ổ là 52,28kg, khối lƣợng cai sữa/con là 5,67kg
Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình 2005 đƣa ra một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái F1(L × Y) với đực Pietrain (P) và Duroc (D) đƣợc trình bày ở bảng 2.2
Theo vũ Đình Tôn và cs.(2008) cho biết năng suất sinh sản của nái lai F1(LY) phối với lợn đực Duroc: số con đẻ ra/ổ là 12,31 con, khối lƣợng sơ sinh/con là 1,32 kg, khối lƣợng sơ sinh/ổ là 15,30 kg, khối lƣợng cai sữa/con là 6,22, thời gian cai sữa là 22,88 ngày
Bảng 2.2 Năng xuất sinh sản của nái F1(L xY) phối với đực Pietrain
và Duroc
Chỉ tiêu P × F1(L × Y) D × F1(L × Y)
Số con đẻ ra còn sống/ổ (con) 10.34 10,02
Khối lƣợng sơ sinh/ ổ (kg) 15,46 14,19
Khối lƣợng sơ sinh/ con (kg) 1,50 1,49
Khối lƣợng cai sữa/ con (kg) 7,44 7,39
Khối lƣợng 60 ngày tuổi/ ổ (kg) 179,86 175,69
Khối lƣợng 60 ngày tuổi/ con (kg) 19,72 19,70
Nguồn: Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005)
Trang 322.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong nhiều thập kỷ trở lại đây, lai giống là một trong những biện pháp quan trọng để sản xuất lợn thịt có năng suất chất lượng cao được sử dụng
ở nhiều nước trên thế giới Lúc đầu chỉ áp dụng tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa hai giống lợn, về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp ba, bốn, năm giống lợn và cao hơn nữa là các chương trình lai tạo lợn hybrid
Để nâng cao hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi lợn và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, các nhà chọn giống lợn trên thế giới đã sử dụng các phương pháp lai, tạo ưu thế lai nhằm tạo ra con lai thương phẩm nhiều máu có năng suất
và tỷ lệ nạc cao Nhiều giống lợn cao sản đã được sử dụng làm nguyên liệu cho các công thức lai như Yorkshire (Y), Landrace (L), Duroc (D), Pietrain (Pi) Lai giữa 3 giống lợn L, Y và D, con lai có tốc độ tăng khối lượng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp và số ngày đạt khối lượng giết thịt 94 kg thấp hơn so với
các công thức lai khác (Haminell et al., 1993)
Các nghiên cứu của Gerasimov et al (1997) cho biết lai hai, ba giống đều
có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống
và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Lai hai giống làm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần (10,9 con so với 10,1 con), tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa Ưu thế lai về khối lượng khi cai sữa tới 18,30% (Chokhataridi, 2000) Vì vậy việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng
sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm Gerasimov et al (1997) Nghiên cứu của Pogodaev et al (1997) cũng có kết quả tương tự
Theo Kalash Nicova (2000), đã nghiên cứu về năng xuất sinh sản của công thức lai cho kết quả nghiên cứu như sau: số con đẻ ra/ổ, khối lượng sơ sinh/con của công thức lai F1(LY) với Duroc là 10,20 con; 1,64kg, của F1 (LY) phối L là 9,80 con; 1,36kg, của F1(LY) phối Y là 10,30 con; 1,13kg
Theo Tummaruk và Cs (2000) cho biết năng suất sinh sản của lợn Yorkshire và Landarce Thụy Điển giai đoạn 1993 – 1998 như sau: Số con đẻ ra/ổ lần lượt là 11,54 và 11,61 con, số con sơ sinh sống trên ổ là 10,58; 10,94 con, thời gian chờ
Trang 33phối sau cai sữa là 5,4 ngày và 5,6 ngày, tuổi đẻ lứa đầu là 368,0 ngày và 355,6 ngày
Nhƣ vậy, thành tựu nghiên cứu của các nhà chăn nuôi đã góp phần không nhỏ để đƣa ra biện pháp hữu hiệu nhằm khai thác tối đa tiềm năng giống chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn sinh sản nói riêng
Trang 34Phần 3
ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu được theo dõi trên 45 nái F1 (Landrace × Yorkshire) được phối với đực Duroc qua 4 lứa đẻ
- Đàn lợn con theo mẹ của tổ hợp lai trên
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 03/10/2020 - 03/02/2021
- Địa điểm nghiên cứu: trại anh Đặng Minh Linh – xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
- Tuổi động dục lần đầu (ngày): là thời gian tính từ khi sinh ra đến khi động dục
lần đầu tiên
- Tuổi phối giống lần đầu (ngày): là thời gian từ khi sinh ra đến khi phối giống
lần đầu tiên
- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày): được tính từ khi lợn sinh ra đến khi đẻ lứa đầu tiên
- Thời gian mang thai (ngày)
- Thời gian cai sữa (ngày)
- Thời gian chở phối (ngày): tính từ khi cai sữa lợn con đến khi động dục trở lại
- Khoảng cách lứa đẻ (ngày) là khoảng cách giữa hai lần đẻ liên tiếp
3.2.2 Theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản lợn nái
- Số con đẻ ra/ổ (con)
- Số con sơ sinh sống/ổ (con)
- Số con để nuôi/ổ (con)
Trang 35- Số con cai sữa/ổ (con)
- Khối lƣợng sơ sinh/ổ (kg)
- Khối lƣợng sơ sinh/con (kg)
- Khối lƣợng cai sữa/ổ (kg)
- Khối lƣợng cai sữa/con (kg)
Tỷ lệ
Số con sau khi đẻ sống đến 24h
- Tỷ lệ sơ sinh sống (%) = - *100
Số con đẻ ra
Số con sống đến cai sữa
- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) = - * 100
Số con để nuôi
365 (ngày)
- Số lứa/nái/ năm = -
Khoảng cách lứa đẻ (ngày)
- Số con cai sữa/nái/năm = số con cai sữa/ổ * số lứa/nái/năm
3.2.3 Tính tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
Thức ăn sử dụng cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của lợn theo tiêu chuẩn quy định hiện nay bao gồm:
Trang 363.2.4 Tình hình dịch bệnh trên lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ
3.2.4.1 Các bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản
Viêm vú, viêm tử cung, sót con sót nhau, dạ dày
3.2.4.2 Các bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ
Tiêu chảy, thiếu sắt, viêm khớp, Hecni, viêm rốn
Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn con theo mẹ được đánh giá qua các chỉ tiêu:
+ Số con mắc bệnh(con)
+ Số con khỏi bệnh(con )
+ Loại thuốc điều trị
+ Số ngày điều trị (ngày)
+ Tỉ lệ mắc(%)= Số con mắc bệnh
Số con theo dõi ×100%
+ Tỉ lệ khỏi(%) = Số con khỏi bệnhSố con mắc bệnh ×100%
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thu thập số liệu:
- Thu thập số liệu thứ cấp: Phỏng vấn chủ trại và thông qua sổ sách ghi chép tại trại
- Thu thập số liệu sơ cấp: Theo dõi trực tiếp trên đàn lợn nái và lợn con trong
thời gian nghiên cứu
1 Theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản:
- Với các chỉ tiêu số lượng: tiến hành đếm số lượng lợn con ở các thời điểm: đẻ
ra, còn sống sau 24 giờ, để lại nuôi và số con cai sữa
-Với các chỉ tiêu khối lượng: cân xác định khối lượng lợn con ở các thời điểm cần theo dõi bằng một loại cân thống nhất ở tất cả các lần cân
- Sơ sinh: cân sau khi lợn con đã được lau khô, cắt rốn, chưa bú sữa đầu, cân từng con bằng cân đồng hồ loại 5 kg của Nhơn Hòa, quan sát và ghi chép số liệu
Trang 37- Cai sữa: cân lợn con ở ngày cai sữa trước khi cho ăn, cân từng con bằng cân đồng hồ loại 15 kg của Nhơn Hòa, quan sát và ghi chép số liệu
2 Theo dõi về tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
Hàng ngày kiểm tra sức khỏe lợn nái và lợn con 2 lần vào buổi sáng và chiều Xác định lợn bị bệnh dựa vào biểu hiện lâm sàng và ghi chép vào sổ theo dõi Đánh số tai lợn con để theo dõi tiêu chảy
3 Xác định tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa
Theo dõi, ghi chép lượng thức ăn thu nhận của lợn mẹ qua các thời kỳ:
mang thai, nuôi con, chờ phối
Theo dõi, ghi chép lượng thức ăn thu nhận của lợn con từ tập ăn đến cai sữa Hằng ngày cân thức ăn cho từng lợn nái và cho từng đàn con trước lúc cho lợn ăn và cân thức ăn thừa (nếu có)
*Tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa
- Theo dõi lượng thức ăn lợn nái và lợn con sử dụng:
Thức ăn lợn nái ăn trong các giai đoạn chờ phối, chửa kỳ I, chửa kỳ II, nuôi con và tập ăn
TTTĂ/kg lợn con CS = T Tổng T/Ă cho(lợn nái + lợn con đến CS)(kg)
Kl cai sữa/ổ (kg)
3.4 XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu thu thập được trong quá trình theo dõi được xử lý theo phương pháp thống kê mô tả, phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA), sự sai khác giữa các giá trị trung bình được xác định nhờ phương pháp Tukey, ở mức α = 0,05 Tất cả các số liệu được xử lý trên phần mềm Excel và Minitab16
Các tham số thống kê ước tính bao gồm:
Dung lượng mẫu (n), Giá trị trung bình ( ), hệ số biến động Cv(%), Sai
số tiêu chuẩn SE (Standard Error)
X
Trang 38Phần 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI Ở TRẠI
4.1.1 Khái quát chung về trang trại
- Vị trí địa lý
Trại lợn Đặng Minh Linh – Việt Hùng – Đông Anh – Hà Nội Trại anh Linh nằm trên địa phận của xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Trại được xây dựng năm 2015, có tổng diện tích 30.000 m2 (khoảng 3 hecta) nằm xa khu trung tâm, cách khu dân cư 1 km và được xây tường bao quanh cách
biệt với khu dân cư
- Điều kiện khí hậu
Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa xuân và mùa thu là 2 mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hòa Mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh khô hanh, ít mưa Nhiệt độ trung bình là 22,6ºC,cao nhất là 32,9ºC và thấp nhất
là 11,6ºC Lượng mưa trung bình hàng năm là 1,564mm
- Cơ sở vật chất tại trang trại
Tương đối đầy đủ và hoàn thiện các công trình cần thiết
Về thiết kế xây dựng:
Trang trại có tổng diện tích 3 ha bao gồm: Trước cổng có hệ thống phun sát trùng cho phương tiện ra vào trại Có một phòng tắm sát trùng cho công nhân trước khi xuống chuồng và trước khi vào trại
Trại chia làm hai khu, đó là khu vực điều hành và khu sản xuất
Khu vực điều hành có 1 phòng tiếp khách, 1 phòng làm việc của quản lý trại, và khu nhà ở, sinh hoạt
Khu sản xuất gồm: 1 chuồng thịt, 2 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu Trại có 1 nhà kho
để dự trữ thức ăn chăn nuôi ở đầu khu vực sản xuất
Trang 391 kho dự trữ và bảo quản thuốc và vắc xin để ở đầu khu vực sản xuất cạnh kho thức ăn
Và 1 phòng pha chế, bảo quản tinh cạnh kho thuốc
Ở khu vực cuối trại có hệ thống hầm biogas để xử lí phân và nước tiểu
Phía sau hầm biogas là ao cá xử lý nước từ hầm biogas
Chuồng bầu:
Có 2 chuồng bầu một chuồng chia làm 2 dãy, mỗi dãy chia làm 2 khu trong đó
có 1 khu chờ phối và 3 khu còn lại để nhốt lợn mang thai, có sức chứa tối đa là
360 con Ở đầu chuồng có hệ thống dàn mát và 5 quạt hút gió phía cuối chuồng Nền chuồng là nền bê tông, tiện cho công tác vệ sinh khử trùng Ở đầu khu chờ phối có 3 ô rộng là nơi để nhốt lợn đực Còn lại là các ô lợn nái Các ô trong chuồng đều có vòi uống tự động cao 50 - 55 cm Chuồng có hệ thống ống dẫn nước dọc hai bên dãy chuồng để thuận tiện phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa máng
Chuồng nái nuôi con:
Có 1 chuồng nái nuôi con, chia làm 2 dãy, có sức chứa tối đa là 46 con/chuồng
Ở đầu mỗi chuồng có hệ thống dàn mát và 3 quạt hút gió phía cuối chuồng Sàn cho lợn mẹ là sàn tấm bê tông còn lại toàn bộ sàn cho lợn con là sàn nhựa, sàn cao hơn so với nền chuồng
Mỗi ô đểu có vòi uống tự động cho cả lợn con và lợn mẹ, có hệ thống máng tập
ăn cho lợn con được lắp vào lúc 3 - 5 ngày tuổi Có hệ thống ống dẫn nước dọc hành lang hai bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, xịt gầm