Các nghiên cứu về kỹ năng tự nhận thức Theo tâm lý học phát triển, nhóm tác giả Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ, Đỗ Thị Hạnh Phúc [21] cho rằng: dấu
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Sự thách thức bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi cần thiết phải đổi mới giáo dục trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học nhằm tạo ra những lớp người đáp ứng với đòi hỏi của xã hội Đó là những con người năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề, có khả năng thích ứng với mọi biến động trong đời sống kinh tế -
xã hội, có đạo đức trong sáng, có lối sống lành mạnh, có đầy đủ sức khỏe và đặc biệt phải tích cực nhận thức để cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân mình Nghĩa là người được giáo dục phải có hiểu biết nhất định về bản thân, biết khả năng và hạn chế của mình trong hoạt động để có niềm tin vào bản thân, có thể điều khiển hành vi, hành động của mình trong mối quan hệ với mọi người xung quanh nhằm tạo ra được hiệu quả cao trong hoạt động Do đó, việc giáo dục sự tự nhận thức bản thân cho mỗi người
là vô cùng quan trọng
Thời đại ngày nay, với sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội thì con người cần phải có những hiểu biết về thế giới xung quanh và hiểu rõ bản thân Bởi, nếu mỗi người tự nhận thức được về bản thân, nắm được khả năng của mình thì sẽ tạo ra nhiều
cơ hội cho sự thành công Ngược lại, nếu không tự nhận thức được về mình thì kết quả mang lại sẽ không như mong muốn Do vậy, việc nhận thức đúng đắn về bản thân là vô cùng quan trọng và chỉ khi nào hiểu đúng về bản thân, đánh giá đúng mình thì mới có thể thành công trong mọi hoạt động
Giáo dục mầm non là hệ thống giáo dục đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là giai đoạn quan trọng nhất trong việc đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ và cho trẻ bước vào trường tiểu học Trong thực tế hiện nay, rèn kỹ năng sống cho các bé ở trường mầm non còn bộc lộ nhiều hạn chế Việc rèn kỹ năng sống cho trẻ chưa thực sự tạo ra chuyển biến, nguyên do chính là trong tư tưởng giáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc dạy kiến thức, việc rèn kỹ năng sống cho học sinh còn chiếu lệ, chưa được quan tâm rõ rệt, đặc biệt là kỹ năng tự nhận thức bản thân Mặc dù, ngay từ lứa tuổi mầm non, trẻ đã có nhu cầu nhận thức sự vật hiện tượng xung quanh, đặc biệt là trẻ sớm có hứng thú nhận thức đối với bản thân và ý thức được sự phụ thuộc của bản thân vào môi trường xung quanh Nhờ đó trẻ có niềm tin vào bản thân khi tham gia hoạt động và giao tiếp với mọi người
Trang 2Phú Thọ là một tỉnh có nhiều khu vực khác nhau từ thành phố, thị xã đến nông thôn, miền núi Chính sự khác nhau này đã dẫn đến sự khác nhau về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán giữa các vùng và môi trường sống… Do vậy, có ảnh hưởng không nhỏ tới việc hình thành và phát triển kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo giữa các khu vực đó
Xuất phát từ lý do trên mà tôi chọn đề tài:“Thực trạng kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi tại tỉnh Phú Thọ”
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận về kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi, xác định nội dung tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi
- Quá trình hình thành kỹ năng tự nhận thức bản thân và vai trò của việc giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi Đồng thời, từ đó xác định các yếu tố của việc xây dựng các biện pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Tìm hiểu về thực trạng kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi tại tỉnh Phú Thọ Xác định các biểu hiện và mức độ kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi và so sánh mức độ biểu hiện về kỹ năng này ở trẻ nam và trẻ nữ; giữa trẻ ở các trường mầm non tại các khu vực khác nhau trong địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Xác định nguyên nhân của sự khác biệt về kỹ năng nhận thức bản thân của trẻ
5 - 6 tuổi tại một số địa bàn trong tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan tới kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi và xác định thực trạng kỹ năng này của trẻ 5 - 6 tuổi tại địa bàn tỉnh Phú Thọ Từ đó, đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi nhằm góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi
Trang 34.2 Điều tra thực trạng kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
4.3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ giáo 5 - 6 tuổi
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về mức độ và biểu hiện kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ giáo
5 - 6 tuổi
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non:
+ Trường mầm non Hoa Phượng - Thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
+ Trường mầm non Hùng Vương - Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ
+ Trường mầm non Thạch Sơn - Huyện Lâm Thao - Tỉnh Phú Thọ
+ Trường mầm non Thu Ngạc - Huyện Tân Sơn - Tỉnh Phú Thọ
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tầm, đọc, tìm hiểu và phân tích những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để xác định các khái niệm công cụ cho đề tài và xây dựng hệ thống hóa, khái quát hóa lý luận về thực trạng kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát và ghi chép quá trình giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi của giáo viên mầm non, nhằm thu thập thêm thông tin cho việc điều tra Anket
6.2.2 Phương pháp đàm thoại
- Trao đổi với giáo viên để có thêm thông tin về vấn đề nghiên cứu
- Trò chuyện với trẻ 5 - 6 tuổi để biết được mức độ và biểu hiện kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ
6.2.3 Phương pháp điều tra Anket
Sử dụng phiếu Anket bằng một hệ thống câu hỏi đóng và mở để điều tra cán bộ quản lý và giáo viên mầm non Từ đó, xác định rõ nhận thức của giáo viên mầm non về
Trang 4cách thức tổ chức việc giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non
6.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Nhằm tìm hiểu mức độ biểu hiện tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi thông qua một trường hợp điển hình Kết quả này sẽ minh họa và làm rõ hơn những số liệu thu được từ bảng hỏi và các bài tập khảo sát
Nội dung nghiên cứu trường hợp xoay quanh những vấn đề về các biểu hiện của trẻ trong từng khía cạnh tự nhận thức bản thân và một số đặc điểm yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tự nhận thức của trẻ
Nghiên cứu trường hợp được tiến hành chủ yếu thông quá trình trò chuyện, qua các câu chuyển kể, quan sát các hoạt động của trẻ tại trường mầm non
6.2.5 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng công thức toán học để xử lý số liệu kết quả thu được qua điều tra thực trạng kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 – 6 tuổi
Trang 5NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN
CỦA TRẺ 5 - 6 TUỔI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1 Các nghiên cứu về kỹ năng
Trên thế giới, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về kỹ năng nói chung và kỹ năng của trẻ nói riêng Qua tìm hiểu, phân tích các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài chúng tôi thấy, các nghiên cứu tập trung theo hai khuynh hướng:
- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu kỹ năng như một thành phần trong phẩm chất của mỗi con người
Nhà tâm lý học E.A.Milerian (người Áo), coi kỹ năng như một thành phần, một mức độ nguồn lực của con người, điều kiện hình thành kỹ năng là tri thức và kinh nghiệm trước đó Như vậy, theo ông kỹ năng không phải tự nhiên mà có, kỹ năng được hình thành và phát triển dựa trên sự tích lũy tri thức và kinh nghiệm cá nhân
- Hướng thứ hai: Nghiên cứu kỹ năng như một biểu hiện năng lực con người
Theo một số nhà tâm lý học sư phạm, họ coi kỹ năng là một biểu hiện của năng lực, làm rõ khái niệm kỹ năng, kỹ xảo, mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo.Theo các tác giả này cơ sở của kỹ năng là tri thức và kinh nghiệm cá nhân.Theo A.V.Petropxki, V.A.Kruchetxki, N.Đ.Levitov [34], [10] thì kỹ năng có hai loại là kỹ năng bậc thấp và
kỹ năng bậc cao
Xavier Roegiers xem kỹ năng như một biểu hiện của năng lực Theo tác giả này, không có một kỹ năng nào tồn tại dưới dạng thuần khiết và mọi kỹ năng đều được biểu hiện qua nội dung cụ thể
Trong những năm gần đây khi đề cập tới kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng nghề nghiệp người ta không chỉ dừng ở tiêu chí kết quả chính xác, khả năng linh hoạt, mà còn xem xét các yếu tố thái độ, động cơ của cá nhân trong thực hiện hành động có kỹ năng đó Cách tiếp cận này xem xét kỹ năng ở góc độ rộng hơn khi nó kết nối các yếu
tố kiến thức, kỹ thuật và giá trị (thái độ, niềm tin) trong hành vi của một hoạt động nhất định Cho rằng, mọi hành vi của con người đều xuất phát từ cách mà người ta suy nghĩ, tác giả J.N.Richard coi kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra hành động bên ngoài
Trang 6và chịu sự chi phối cách thức con người cảm nhận và suy nghĩ L.Louise (1995) cũng khẳng định, kỹ năng là yếu tố mang tính thực tiễn và là kết quả của sự nối kết giữa lý thuyết và giá trị (thái độ, niềm tin) Mặc dù ghi nhận hành vi có kỹ năng là khả năng lựa chọn những kiến thức, kỹ thuật thích hợp và sử dụng chúng có hiệu quả, song S.A Morales & W.Sheator (1987) và M.Bartte Hariet (1970) nhấn mạnh sự lựa chọn đó chịu ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của cá nhân đối với hoạt động cụ thể Đây là một
xu hướng khá mới về quan niệm kỹ năng.Quan điểm này tương đối phù hợp cho nghiên cứu những kỹ năng chuyên sâu trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn
Như vậy, vấn đề hình thành kỹ năng được nhiều nhà tâm lý học trong và ngoài nước quan tâm.Mỗi tác giả, mỗi trường phái có những ý kiến khác nhau song đều thống nhất với nhau rằng kỹ năng được hình thành trong hoạt động Kỹ năng được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn với các mức độ từ thấp tới cao Mức độ thấp là những kỹ năng nguyên phát - dạng kỹ năng đơn giản, tương ứng với những thao tác của hành động nhất định Mức độ cao là các kỹ năng thứ phát - là tập hợp của nhiều yếu tố để tạo nên kỹ năng phức hợp, nâng cao
1.1.1.2 Các nghiên cứu về kỹ năng tự nhận thức
- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về kỹ năng tự nhận thức là kỹ năng sống cần thiết
Trong công trình “Vấn đề tự ý thức trong tâm lý học (1977)”I.I.Trexnôcôva cho rằng tự nhận thức là một thành phần trong cấu trúc của tự ý thức, trong cấu trúc đó gồm 3 mặt thống nhất: nhận thức (tự nhận thức), cảm xúc - giá trị (thái độ đối với bản thân) và hành động - ý chí, điều khiển (tự điều chỉnh) Việc hình thành và rèn luyện kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ được I.I.Trexnôcôva cho là kỹ năng sống rất cần
thiết đối với trẻ [50]
Nhà tâm lý học người Mỹ D.Mead cho rằng, trong mối tương tác với những người khác trong quá trình hoạt động của mỗi con người trở thành khách thể nhận thức của chính mình Nhận thức bản thân không được thực hiện trực tiếp mà gián tiếp qua thái độ của cá nhân đó với những người khác trong nhóm người hoặc toàn bộ nhóm nói chung Ông cho rằng, nguồn gốc hình thành tự ý thức là trò chơi của trẻ.Đầu tiên đó là những trò chơi lặp lại hành động của người lớn.Thông qua hoạt động vui chơi, trẻ đã
dần hình thành kỹ năng sống đầu tiên, cơ bản cần thiết cho trẻ
- Hướng thứ hai: Nghiên cứu về kỹ năng tự nhận thức ở trẻ mầm non
Trang 7Freud [45, tr47] cho rằng: Nhân cách con người gồm ba cấp: cái “Nó”, cái
“Tôi”, và cái “Siêu tôi” Cái “Nó” gồm tất cả những xung lực bản năng thôi thúc đứa trẻ đòi hỏi được thỏa mãn để tìm khoái cảm.Về nguồn gốc, cái “Nó” là một hệ thống các nhu cầu có sức mạnh và động lực nhất định.Mâu thuẫn giữa đứa trẻ và thực tế dần dần tạp ra cái “Tôi”, trẻ cảm nhận về bản thân mình đối lập với các đồ vật và những đồ vật và những người khác, tức là cảm nhận được thực tế Đó là nguồn gốc của cái “Tôi”, sau này chính là phần ý thức của con người biết suy nghĩ và đòi hỏi thực tế chứ không phải theo dục vọng của bản thân Những cấm đoán mệnh lệnh, khuyên bản của người lớn dần dần được nhập tâm và biến thành vô thức chi phối hành vi của trẻ, đó là cái “Siêu tôi” Freud cho rằng: việc xuất hiện cái “Siêu tôi” vừa là một sự kiện mang tính chất cá nhân vừa có tính chất lịch sử Cái “Siêu tôi” được tạo ra và hoạt động như đại diện cho các lực lượng kiềm chế của cha mẹ và đảm nhiệm chức năng kiểm soát cái “Tôi”
Vấn đề hình thành kỹ năng nhận thức không chỉ có Freud nghiên cứu mà còn được nhiều nhà tâm lý học trong và ngoài nước quan tâm.Mỗi tác giả, mỗi trường phái
có những ý kiến khác nhau song đều thống nhất với nhau rằng kỹ năng được hình thành trong hoạt động Kỹ năng tự nhận thức được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn với các mức độ từ thấp tới cao
Ngoài ra, vấn đề kỹ năng nhận thức đã được các nhà khoa học trên thế giới khác quan tâm và nghiên cứu như: Có tác giả Xavier Rogier và tác giả Jean Marie Deketel nghiên cứu xác định các kỹ năng cơ bản và có tác giả Bloom Dhainer đã xác định các mức độ nhận thứ của con người qua đó giúp tìm ra các kỹ năng nhận thức cần thiết và rất nhiều các tác giả khác
Một số tác giả như: Jean Marie Deketel nghiên cứu các kỹ năng nhận thức cơ bản của con người, Bloom, Phainer đã xác định các mức độ nhận thức của con người qua đó giúp ta tìm ra những kỹ năng nhận thức cần thiết
Tóm lại, vấn đề kỹ năng tự nhận thức đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, đưa ra các hướng nghiên cứu và đã đóng góp rất nhiều trong lĩnh vực này nhưng vẫn chưa đi sâu vào từng nội dung cụ thể của vấn đề tự nhận thức bản thân
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.2.1 Các nghiên cứu về kỹ năng
Ở trong nước cũng có những nghiên cứu về kỹ năng, đại diện là các tác giả Phạm Minh Hạc, Trần Quốc Thành, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Quang Uẩn… [18],
Trang 8[51]cho rằng quá trình hình thành kỹ năng gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và cách điều kiện hành động; Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu; Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đặt ra
Theo các tác giả này, việc nhận thức mục đích, cách thức và điều kiện hành động cực kỳ quan trọng Vì mục đích là kết quả hành động mà người ta dự kiến trước khi bắt tay vào hành động Trên cơ sở xác định mục đích hành động, người ta sẽ lập kế hoạch và tìm các điều kiện, biện pháp phù hợp để đạt được mục đích.Như vậy, đây chỉ
là bước định hướng hành động Nếu dừng lại ở bước này thì chưa có kỹ năng, vì nó chỉ thể hiện mặt lý thuyết, tri thức về hành động, chứ chưa có mặt kỹ thuật, thao tác thực tiễn của hành động để đạt mục đích đề ra
Giai đoạn làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng Ở giai đoạn này con người một mặt thực hiện thao tác theo mẫu để hình thành kỹ năng, một mặt con người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao tác, hành động nhằm đạt được kết quả giảm bớt những sai sót trong quá trình hành động Tùy theo khả năng của từng người mà độ sai sót nhiều hay ít, giai đoạn làm thử dài hay ngắn
Sau khi làm thử để nắm vững cách thức hành động, người ta phải tiến hành luyện tập để hoàn thiện kỹ năng.Ở giai đoạn này các tri thức về hành động được củng
cố nhiều lần, cách thức hành động cũng được ôn luyện có hệ thống làm cho người ta nắm chắc hành động hơn.Đến đây có thể nói, kỹ năng đã được hình thành.Tuy nhiên,
kỹ năng vẫn chưa ổn định.Nhiều khi, người ta có thể đạt được kết quả cần thiết song vẫn còn những sai sót, vấp váp trong hành động.Kỹ năng thực sự ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau
Việc luyện tập đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện luyện tập, tính hệ thống của nhiều quá trình luyện tập, đặc biệt là sự nỗ lực của cá nhân Quan điểm trên đây đã chỉ ra những yêu cầu cần thiết của việc hình thành kỹ năng hành động: nhận thức và triển khai nó trong thực tiễn
1.1.2.2 Các nghiên cứu về kỹ năng tự nhận thức
Theo tâm lý học phát triển, nhóm tác giả Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ, Đỗ Thị Hạnh Phúc [21] cho rằng: dấu hiệu đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách là sự xuất hiện của tự ý thức, còn được gọi
là “cái tôi” hay ý thức bản ngã, tức là tự nhận thức, tự ý thức về bản thân mình
Trang 9Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục kỹ năng nhận thức cho trẻ cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và cũng đi theo những xu hướng khác nhau:
Xu hướng 1: Nghiên cứu vấn đề tự nhận thức của người trưởng thành
Đại diện là tác giả Lê Ngọc Lan, theo tác giả tự ý thức, tự nhận thức trong mối liên hệ với các yếu tố bên trong của nhân cách, sự khác nhau về giới tính, tính chất các hoạt động ảnh hưởng tới việc hình thành kỹ năng tự nhận thức của mỗi cá nhân Ngoài
ra, các tác giả Nguyễn Quang Uẩn [50], Ngô Thiên Thạch, Đinh Thị Tứ, Ngô Thị Huệ trong các công trình nghiên cứu đã xác định nguồn gốc, cơ sở hình thành kỹ năng tự nhận thức là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố vật chất, tinh thần của mỗi con người với môi trường xã hội, trong đó môi trường hoạt động và giao tiếp đóng vai trò quan trọng
Xu hướng 2: Nghiên cứu vấn đề tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo
Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo mà trước hết là sự tự ý thức, tự đánh giá bản thân của trẻ.Các tác giả Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết trong các công trình nghiên cứu về sự phát triển tâm lý của trẻ em đã đề cập đến.Theo các tác giả, tự ý thức
là hạt nhân quan trọng của sự hình thành nhân cách trẻ Tự ý thức được hình thành từ cuối tuổi nhà trẻ và phát triển mạnh ở trẻ mẫu giáo, có vai trò to lớn đối với các hoạt động vui chơi, học tập của trẻ mầm non Đó là mầm mống, là tiền đề để biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục ở trẻ sau này, là điều kiện không thể thiếu cho sự hoàn thiện nhân cách của trẻ [17], [23], [42].Ngoài ra, một số tác giả khác như: Nguyễn Thị Thư, Trần Thị Bích Ngọc, Bùi Thị Hoài… cũng đã có các đề tài nghiên cứu về vấn đề tự nhận thức, sự hình thành kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo [17], [27], [41]
Tác giả Hoàng Thị Phương trong cuốn “Giáo trình lý luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh” đã đưa ra nội dung giáo dục tự nhận thức bản thân cho trẻ bao gồm: Hướng dẫn trẻ làm quen với cơ thể chúng; Giáo dục trẻ tự nhận thức về tình cảm, ý nghĩ, hành vi; Giáo dục ý thức vị trí xã hội cho trẻ Tác giả đã khẳng định rằng: “Giáo dục tự nhận thức về bản thân là một phần quan trọng của quá trình hình thành nhân cách trẻ Trẻ ý thức về bản thân ngày càng đầy đủ thì càng tích cực tham gia vào quá trình hoàn thiện bản thân để trở thành người”.Để làm được điều đó, tác giả đã chỉ ra nội dung yêu cầu cụ thể của việc giáo dục tự nhận thức bản thân với trẻ ở các lứa tuổi [35]
Trang 10Ngoài ra, một số tác giả khác như Trần Thị Thanh, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Lê Thị Ninh, Trần Việt Hồng… trong các tài liệu về việc cho trẻ khám phá môi trường xung quanh cũng đã đề cập đến nội dung giáo dục tự nhận thức bản thân Những nghiên cứu trên là cơ sở lý luận trực tiếp của đề tài
Nhóm tác giả Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai có nghiên cứu
về kỹ năng sư phạm mầm non, phát triển những kỹ năng cơ bản cho trẻ mầm non [27] Tác giả Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân [47] nghiên cứu để phát triển và rèn luyện các kỹ năng nhận thức và kỹ năng khám phá khoa học về môi trường xung quanh cho trẻ mầm non (kỹ năng quan sát, so sánh, phân nhóm, sử dụng, suy luận…) Tác giả Nguyễn Thị Hòa lại nghiên cứu về kỹ năng nhận thức đối với việc phát huy tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông quan trò chơi học tập
Nhìn chung, ở Việt Nam cũng đã có tương đối nhiều các tác giả quan tâm, nghiên cứu đến kỹ năng nói chung và kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mói chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chung về vấn đề tự nhận thức chứ chưa tập chung chỉ rõ những biểu hiện về kỹ năng tự nhận thức bản thân Song, hầu hết các công trình nghiên cứu mới đề cập đến những vấn
đề chung liên quan tới kỹ năng tự nhận thức bản thân mà chưa đi sâu làm rõ đặc điểm, quá trình, cơ chế tâm lý hình thành và phát triển kỹ năng tự nhận thức bản thân cũng như các mức độ và biểu hiện kỹ năng tự nhận thức bản thân ở trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn hướng nghiên cứu của đề tài nhằm làm rõ những vấn đề này ở trẻ 5 – 6 tuổi
Tóm lại, đã có rất nhiều nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về vấn đề liên quan đến kỹ năng nhận thức bản thân của trẻ Các nghiên cứu đi theo những xu hướng khác nhau nhưng đều đã chỉ ra vai trò của việc rèn luyện kỹ năng tự nhận thức đối với
sự phát triển tâm lý, nhân cách trẻ, khẳng định ý nghĩa to lớn của việc rèn luyện kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ lứa tuổi mầm non
1.2 Các vấn đề lý luận về kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục trong và ngoài nước quan tâm Ở các góc độ khác nhau, các tác giả có những quan niệm khác nhau về kỹ năng, nhưng tổng kết lại có 2 quan niệm về kỹ năng như sau:
Trang 11- Quan niệm thứ nhất, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động Đại diện cho loại quan niệm này là các tác giả V A Cruchetxki, V.V Tsebưseva, A.V Petrovxki…[29], [55]
- Quan niệm thứ hai, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của con người Đó là quan niệm của các tác giả: N.Đ.Levitov, X.I Kixegof, K K Platonov, Xavier Roegiers, Kevin Barry, Ken King, Trần Quốc Thành, Nguyễn Quang Uẩn… [10], [34], [50]
Theo quan niệm thứ hai, coi kỹ năng không chỉ đơn thuần là kỹ thuật hành động
mà nó còn là biểu hiện của năng lực, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo Nhờ có sự mềm dẻo mà con người có tính sáng tạo hoạt động thực tiễn Ở đây, các tác giả có chú ý đến kết quả của hành động
Từ những quan niệm trên, chúng tôi đi đến kết luận:
Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động hay hành động thực tiễn trong điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động đó có kết quả theo mục đích đã đề ra
- Người có kỹ năng hành động trong một lĩnh vực hoạt động được biểu hiện ở những dấu hiệu sau đây:
+ Có tri thức về hành động: nắm được mục đích hành động; Nắm được cách thức thực hiện hành động và các điều kiện thực hiện hành động
+ Thực hiện hành động đúng với các yêu cầu của nó
+ Hành động đạt kết quả theo mục đích đề ra
+ Có thể thực hiện hành động có kết quả trong những điều kiện thay đổi
Nghĩa là, kỹ năng đòi hỏi, trước hết con người phải có tri thức, kinh nghiệm cần thiết về hành động.Tuy nhiên tri thức và kinh nghiệm chưa phải là kỹ năng Kỹ năng chỉ có được khi con người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đó vào hoạt động thực tiễn một cách có kết quả Có thể nói, tri thức và kinh nghiệm là những điều kiện cần để hình thành kỹ năng, việc vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục đích đề ra là điều kiện đủ để hình thành kỹ năng
1.2.1.2 Khái niệm nhận thức
Nhận thức là một trong những mặt hoạt động của đời sống tâm lý con người Nó
là tiền đề của tình cảm và hành động ý chí nhưng lại có quan hệ mật thiết với chúng
Có nhiều quan điểm khác nhau mô tả và xây dựng khái niệm “nhận thức” như sau:
Trang 12Theo từ điển Giáo dục học thì “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan vào trong tư duy của con người”.Điểm xuất phát đầu tiên của nhận thức là cảm giác, các cảm giác được lặp lại tạo thành tri giác.Các sự vật, hiện tượng đã được tri giác trước đó nay dù không hiện diện trước mặt nhưng vẫn có thể hình dung thấy, vẫn được tái hiện dưới dạng biểu tượng [39]
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Nhận thức là qua trình biện chứng của sự phản ánh thế giớ khách quan trong ý thức con người, nhờ đó mà con người tư duy và không ngừng tiến đến khách thể”
Theo quan điểm triết học: Các nhà triết học duy vật biện chứng đã xác định rõ mục đích của quá trình nhận thức là cải tạo thế giới xung quanh Nhận thức là quá trình biện chứng diễn tra rất phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn và hình thức khác nhau
Theo tâm lý học, nhận thức được xem xét như sau:
Theo quan điểm của piaget (1896 – 1980), quá trình nhận thức được coi là sự tổng hợp của hai quá trình trái ngược và bổ xung lẫn nhau: Quá trình đồng hóa và quá trình điều ứng Đứng trước một sự vật, hiện tượng, để tìm hiểu hay tác động lên nó, con người bước đầu vận dụng một “sơ cấu” hành động hoặc tư duy đã có từ bẩm sinh hoặc trải nghiệm trước đó là quá trình đồng hóa.Tuy nhiên, con người thường gặp những sự vật hiện tượng mang những đặc tính mới khác với “sơ cấu” vốn có khi ấy phải điều chỉnh tức là tạo ra mô hình sơ cấu mới để song nạp được sự vật, hiện tượng mới đó, quá trình này được gọi là điều ứng Cả đồng hóa và điều ứng đều nhằm giúp cá thể thích nghi với môi trường và đạt đến sự cân bằng Quan điểm này có tác dụng rất lớn trong việc giải thích sự phát triển quá trình nhận thức và tự thích nghi của con người với môi trường.[36]
- Quan điểm theo lý thuyết thông tin: Quá trình nhận thức của con người được xem như quá trình thu nạp và xử lý thông tin trong một hệ thống máy tính, trong đó các thông tin được các cơ quan cảm giác của con người ghi lại và xử lý, quá trình này theo
họ thực chất là quá trình chuyển hóa thông tin qua lại giữa bộ nhớ động và bộ nhớ tĩnh
Bộ nhớ sử dụng như một màn hình máy tính, trong cùng một lúc nó có thể hiểu và biểu diễn ra thành phần ứng bên ngoài và tối đa không tồn tại đối tượng khác nhau còn bộ nhớ tĩnh như cái thư viện khổng lồ có sức chứa gần như vô hạn Các thông tin từ bộ nhớ hoạt động có thể được ghi lại trực tiếp vào bộ nhớ tĩnh hoặc ghi vào nhờ quá trình lặp lại, ngược lại, thông tin từ bộ nhớ tĩnh có thể được lấy trở lại bộ nhớ hoạt động nhờ
Trang 13quá trình hồi tưởng, đôi khi thông tin có thể bị mất đi do không có ý nghĩa hoặc không được sử dụng lại (Hiện tượng quên) Lý thuyết thông tin về quá trình nhận thức cho phép hình dung một cách khá tường minh về quá trình nhận thức khách quan nhưng không kể đến tác động qua lại với các quá trình tâm lý khác, những đặc điểm mang tính chủ quan của chủ thể, cách tiếp cận này tỏ ra tương đối thuận lợi cho việc mô tả lại các đặc điểm nhận thức của trẻ [22]
Phân tích các quan điểm trên về khái niệm “nhận thức” chúng tôi xác định khái niệm “nhận thức” như sau:
“ Nhận thức được hiểu là quá trình chủ thể tiếp nhận những thông tin và xử lý những thông tin thu được làm cơ sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành
vi của mình nhằm đảm bảo sự thích ứng và phát triển của cá nhân”
1.2.1.3 Khái niệm tự nhận thức
Để có cách hiểu về tự nhận thức làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã phân tích các quan điểm khác nhau về tự nhận thức để tìm hạt nhân hợp lý
Theo nhà tâm lý học người Nga N.N Yechocoba “tự nhận thức như là mắt xích đầu tiên và là cơ sở tồn tại thể hiện của tự ý thức.Qua nhận thức, con người đi từ những hiểu biết xác định về bản thân Những hiểu biết đó đi vào nội dung của tự ý thức như là tâm điểm của nó”
Nhà tâm lý học S.Franz cho rằng, tự nhận thức là một thành phần của tự ý thức.Tự nhận thức là quá trình nhận thức hướng vào chính bản thân mình cùng với kết quả của quá trình đó [57]
Theo quan điểm của S.Franz: “Quá trình tự nhận thức là quá trình phong phú và phức tạp, nó được thực hiện trong các quá trình thành phần khác nhau, chỉ cá thể tách
ra một cách tương đối về mặt lý thuyết? Vậy các quá trình tự nhận thức bao gồm các quá trình cung cấp tài liệu ban đầu như tự quan sát, tự phân tích thông qua hoạt động
và giao tiếp của bản thân Kết quả của sự tự quan sát, tự phân tích phụ thuộc vào tính chất phức tạp của hoạt động Hoạt động càng phức tạp thì con người càng hiểu biết mình
rõ hơn, hiểu biết về cơ thể bản thân, về những khái quát khả năng của bản thân” [57]
Theo I.I.Trexnocova, tự nhận thức là một thành phần trong cấu trúc của tự ý thức, trong cấu trúc đó gồm có 3 mặt thống nhất:
+ Nhận thức (có tự nhận thức)
Trang 14+ Cảm xúc gía trị (có thái độ đối với bản thân)
+ Hành động ý chí (tự điều chỉnh, điều khiển hành vi)
Tự nhận thức là quá trình phát triển cao của con người Đây là một trong những vấn đê phức tạp và quan trọng nhất của chủ thể.Tự nhận thức được hiểu là quá trình cá nhân phân biệt cái thuộc về mình, đặc biệt là phân tách cái tôi nội tâm của mình để hiểu được mình với đặc điểm tâm lý, nhân cách và phẩm chất đạo đức riêng của cá nhân [36]
Tự nhận thức là khả năng bạn nhận biết một cách chính xác về cảm xúc của mình ngay khi nó xảy ra và hiểu mình có khuynh hướng làm gì trong tình huống đó…
Kỹ năng biết tự nhận thức giá trị bản thân giúp trẻ hiểu rõ bản thân mình: Đặc điểm, tính cách, thói quen, thái độ, ý kiến, cách suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầu của chính mình, các mối quan hệ xã hội cũng như những điểm tích cực và hạn chế của bản thân
Tự nhận thức không phải là khám phá những bí mật thầm kín, đen tối hoặc những động cơ vô thức mà mà là phát triển một sự hiểu biết chính xác và trung thực về những điểm mạnh của bản thân Một điều ngạc nhiên về sự nhận thức là chỉ cần nghĩ
về nó thôi đã đủ giúp cho con người cải thiện kỹ năng, cho dù thoạt đầu bạn có khuynh hướng tập trung vào những gì bạn làm sai Đạt được khả năng tự nhận thức có nghĩa
là bạn không còn sợ mình sai lầm trong cảm xúc nữa
Dựa vào cách hiểu trên, chúng tôi xác định khái niệm “tự nhận thức” như sau:
“Tự nhận thức là quá trình chủ thể tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin về
bản thân làm cơ sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ với môi trường xung quanh nhằm đảm bảo sự thích ứng và tự phát triển của cá nhân”
* Tự nhận thức có quan hệ mật thiết với tự ý thức:
- Tự nhận thức là một thành phần của tự ý thức, là mắt xích đầu tiên, là cơ sở để tồn tại và phát triển của tự ý thức
- Trong cấu trúc tự ý thức chứa đựng tự nhận thức ở tất cả các mặt cấu thành của nó
- Tự nhận thức là quá trình (đồng thời là kết quả) nhận thức hướng vào bản thân
- Tự nhận thức được bắt đầu bằng sự hiểu biết bản thân làm cơ sở cho sự tự ý thức về mình
1.2.1.4 Khái niệm kỹ năng tự nhận thức bản thân
Có thể nói, kỹ năng tự nhận thức bản thân là kỹ năng căn bản; một khi bạn đã có
nó, bạn sẽ vận dụng những kỹ năng trí tuệ, cảm xúc khác dễ hơn nhiều Khi mức độ tự
Trang 15nhận thức tăng lên, sự thỏa mãn của con người trong cuộc sống - được định nghĩa là khả năng họ có thể đạt được những mục tiêu trong công việc
Kỹ năng tự nhân thức bản thân còn được hiểu là năng lực cá nhân vận dụng có hiệu quả những tri thức, những kinh nghiệm thành hành động để nhận biết đúng đắn mình là ai, mình có thể làm được gì, mình đang sống trong hoàn cảnh nào
Tác giả Trần Thanh Bình [6, tr9] quan niệm: “Kỹ năng tự nhận thức bản thân là khả năng một người nhận biết đúng đắn rằng: mình là ai, sống trong hoàn cảnh nào, yêu thích điều gì, ghét điều gì, điểm mạnh và điểm yếu của mình ra sao, mình có thể thành công ở những lĩnh vực nào, những độn g cơ thúc đẩy bản thân hành động và phải vui vẻ, muốn thay đổi bản thân và những thành quả mong đợi, các niềm tin, giá trị bản thân…” Từ đó, có thể cảm nhận được cảm xúc của nhiều người khác nữa, hiểu được những gì người khác nói với mình và cách mà cảm xúc của mình ảnh hưởng đến những người xung quanh Nó bao gồm: cảm giác, ý nghĩ của bản thân cũng như khi bản thân mình hiểu được cảm xúc của người khác như thế nào, nó cho phép bản thân mình kiểm
soát được mối quan hệ của mình hiệu quả hơn, hòa hợp hơn
Dựa vào các cách hiểu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về kĩ năng tự nhận thức
bản thân như sau: “Kỹ năng tự nhận thức bản thân là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm
của bản thân chủ thể vào hoạt động tìm hiểu và khám phá chính mình”
1.2.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi
1.2.2.1 Một số đặc điểm cơ bản của hoạt động nhận thức
Các tiến trình nhận thức liên quan đến việc quyết định biến cố nào trong nhiều biến cố bên ngoài sẽ được quan sát và cá nhân tiếp nhận, phản ứng với các biến cố này như thế nào Nhận thức ảnh hưởng đến hành vi của trẻ về một số phương diện Trước tiên một động cơ thúc đẩy nào đó được căn cứ theo nhận thức trong đó, trong một số trường hợp, các hành động có thể phát sinh không phải sự kích thích từ yếu tố bên ngoài mà từ các hoạt động nhận thức nội tại Do đó, những ý nghĩ về hậu quả của tương lai và một hành vi có thể đang thúc đẩy, và về mặt nhận thức các mục tiêu được
ấn định có thể thúc đẩy hành vi Qua nhận thức, moi người hoạt động như những tác nhân tích cực trong sự năng động của chính mình.Nhận thức cũng giữ vai trò khác trong việc quyết định hành vi.[40; tr435 - 436]
Nhận thức gồm 4 đặc trưng cơ bản sau:
Trang 16+ Thứ nhất: Hoạt động nhận thức có mục đích khám phá, tái tạo lại và sáng tạo
thế giới, nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người, qua đó hình thành và phát triển hiểu biết của con người về thế giới và phương pháp vận động của nó Thực chất hoạt động nhận thức là quá trình cá nhân tích cực hoạt động trong thế giới sự vật, hiện tượng, thâm nhập vào chúng, khám phá, phân tích tái tạo lại, cấu trúc lại chúng bằng các vận động vật chất, tinh thần, trí óc
+ Thứ hai: Trong hoạt động nhận thức con người không trực tiếp tác động vào
đối tượng, mà phải gián tiếp thông qua công cụ (phương tiện) Vì vậy, trong hoạt động nhận thức bao giờ cũng diễn ra một quá trình kép: Quá trình tìm hiểu và nắm cũng cách
sử dụng công cụ (học cách sử dụng công cụ) và quá trình tìm hiểu, tái tạo đối tượng nhận thức Hai quá trình này không tách rời nhau, thường chuyển hóa lẫn nhau tạo thành bản chất của quá trình nhận thức về đối tượng và cách tiếp cận đối tượng
+ Thứ ba: Hoạt động nhận thức diễn ra trong mối tương tác trực tiếp hoặc gián
tiếp giữa các cá nhân
+ Thứ tư: Hoạt động nhận thức có nhiều cấp độ, tùy thuộc vào sự tham gia của
các chức năng nhận thức: cảm tính và lý tính Trong nhận thức cảm tính vai trò chủ đạo thuộc về cảm giác, tri giác, dựa trên nền tảng của quá trình trí nhớ, kết hợp với sự tham gia của tư duy tái tạo.trong nhận thức lý tính, vai trò chủ đạo thuộc về tư duy logic, tư duy và tưởng tượng sáng tạo
Các cơ chế này không tồn tại riêng rẽ hoặc xếp chồng lên nhau.Chúng đan xen,
kế thừa, giao thoa và hỗ trợ nhau trong suốt quá trình phát triển cá nhân và xã hội [40]
1.2.2.2 Đặc điểm tâm lý nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi
* Đặc điểm về cảm giác và tri giác
Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, cùng với sự hoàn thiện của các giác quan thì hoạt động nhận cảm của trẻ tiếp tục được hoàn thiện, độ nhạy cảm của các giác quan được nâng cao, việc phân tích các thuộc tính sự vật, hiện tượng xung quanh hiệu quả hơn trước Cùng với cảm giác, tri giác cũng phát triển mạnh.Trẻ mẫu giáo lớn rất ham học học, tìm tòi, thích quan sát, tìm hiểu thế giới xung quanh và đặc biệt là khám phá những điều mới lạ Khi phạm vi tiếp xúc với thế giới xung quanh ngày càng được mở rộng thì vốn hiểu biết của trẻ càng phong phú và sâu sắc hơn dẫn tới nhu cầu nhận thức ngày càng cao hơn [45]
Trang 17Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi không thỏa mãn với những hiểu biết về bên ngoài của các sự vật, hiện tượng xung quanh mà chúng bắt đầu muốn khám phá, muốn tìm kiếm những dấu hiệu, bản chất bên trong và mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng Nhờ đó,
kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ được kích thích và phát triển hơn
* Đặc điểm về chú ý
Theo A.V.Daparojet: “Khả năng chú ý ở trẻ 5 – 6 tuổi có thể kéo dài từ 30 –
35 phút nếu đối tượng đó hấp dẫn, có nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ”.[12]
Chú ý có chủ đích được phát triển trong quá trình giáo dục.Nó được hình thành
và phát triển mạnh với những loại kích thích mới
Trẻ 5 – 6 tuổi đặc biệt nhảy cảm với ngôn ngữ nói Trẻ hướng sự chú ý của mình tới những đặc điểm của lời nói như giọng điệu, ngữ diệu….Trẻ nhận ra được thái
độ, tình cảm của người lớn, bạn bè xung quanh
Chú ý là một đặc điểm quan trọng đối với nhận thức của trẻ mẫu giáo: “Không chú ý vào một việc gì có chủ định hoặc không điều khiển được chú ý thì kết quả nhận thức sẽ hết sức hạn chế Vì vậy, khi tổ chức các hoạt động trí tuệ cho trẻ trước hết cần giáo dục năng lực điều khiển chú ý, năng lực chú ý có chủ định bền vững”
* Đặc điểm về trí nhớ
Trí nhớ của trẻ 5 – 6 tuổi phát triển mạnh song chủ yếu vẫn là trí nhớ không chủ định.Tuy nhiên,trí nhớ của trẻ vẫn đặc trưng bởi trí nhớ trực quan hành động.Cuối tuổi mẫu giáo bắt đầu hình thành trí nhớ logic ở trẻ.Trẻ ghi nhớ cái gì đó có ý nghĩa tốt hơn những cái không có ý nghĩa vì thế, trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi không phải chỉ có ghi nhớ máy móc mà còn có khả năng ghi nhớ ý nghĩa.Đến giai đoạn này thì trí nhớ có chủ định được phát triển trên nền tảng vững chắc hơn Từ chỗ trẻ chưa biết đặt một nhiệm
vụ ghi nhớ nào cả, dần chuyển sang ghi nhớ có chủ đích, có mục đích [45]
* Đặc điểm về tư duy
Cùng với sự mở rộng hiểu biết của mình, trong hoạt động trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi có sự thay đổi, tư duy trực quan hình tượng của trẻ phát triển mạnh và chiếm ưu thế Trong thực tế, những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng mà trẻ cần tìm hiểu lại bị che giấu, không thể hình dung được bằng hình ảnh.Loại tư duy này không đáp ứng được nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh mẽ ở trẻ.Cho nên, cuối tuổi mẫu giáo lớn xuất hiện kiểu tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ cao hơn.Tư duy trực
Trang 18quan sơ đồ giúp trẻ lĩnh hội những tri thức mang tính khái quát và đây chính là bước phát triển đáng kể trong tư duy của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi [45]
* Đặc điểm về ngôn ngữ
Lứa tuổi mẫu giáo lớn là thời kỳ mà ngôn ngữ phát triển rất nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng Khi giao tiếp, trẻ đã bắt đầu hiểu nghĩa của các từ , biết sử dụng tiếng mẹ đẻ để diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ý nghĩa và từng bước thể hiện các sắc thái tình cảm cho phù hợp trong lời nói
Bước sang tuổi mẫu giáo lớn, tự ý thức của trẻ được xác định rõ ràng cho phép trẻ thực hiện các hành động một cách chủ đích hơn, nhờ đó trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trở thành những chủ thể có những năng lực, có những sáng kiến, có khả năng tư duy và giao tiếp với mọi người theo một cách riêng [45]
1.2.3 Một số vấn đề lý luận về kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi
1.2.3.1 Khái niệm kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi
Từ các khái niệm “kỹ năng”, “kỹ năng tự nhận thức bản thân” chúng tôi xây dựng định nghĩa về “kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” như sau:
“Kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là sự vận dụng tri
thức, kinh nghiệm của bản thân trẻ vào các hoạt động tìm hiểu, khám phá các đặc điểm liên quan đếnhình dáng cơ thể; các khả năng; phẩm chất của bản thân trẻ và vị thế xã hội của trẻ với mọi người xung quanh.”
Tự nhận thức bản thân là khả năng giúp con người nhận biết một cách chính xác
về cảm xúc của mình ngay khi đó xảy ra và hiểu mình có khuynh hướng làm gì trong tình huống đó.Tự nhận thức bao gồm việc kiểm soát được những phản ứng thông thường của bản thân đối với những sự việc, thách thức và đối tượng cụ thể.Hiểu biết thấu đáo về khuynh hướng của bản thân đóng vai trò rất quan trọng, nó giúp con người nhanh chóng nắm bắt được cảm xúc của mình Khả năng tự nhận thức tốt đòi hỏi con người sẵn sàng chịu đựng khó chịu khi phải chú ý đến những cảm xúc đôi khi tiêu cực
Tự nhận thức bản thân là kỹ năng căn bản, một khi đã có nó một khi đã có nó thì bạn sẽ vận dụng những kỹ năng trí tuệ, cảm xúc khác dễ dàng hơn.Khi mức độ tự nhận thức tăng lên, sự thỏa mãn của con người trong cuộc sống được định nghĩa là khả năng
họ có thể đạt được những mục tiêu trong công việc và cuộc sống gia đình sẽ gia tăng đột biến
1.2.3.2 Đặc điểm kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi
Trang 19Vấn đề tự nhận thức của trẻ cũng đã được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu
và cho rằng trẻ em sớm có những hứng thú tìm hiểu bản thân và quá trình này diễn ra một cách tích cực Từ chỗ phát triển nhận thức đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ trở nên có khả năng (tất nhiên là trong dạng đặc biệt) ý thức được cả chính bản thân mình: Ý thức
“cái tôi xã hội” của chính mình và xuất hiện trên cơ sở đó vị thế bên trong tức là thái
độ trọn vẹn nào đó đối với xung quanh và đối với chính bản thân mình
- Trẻ biết được vị trí của mình trong nhóm bạn cùng tuổi, trong gia đình và trong lớp học Trẻ ở lứa tuổi này biết rõ mình là con ai, cháu của ai… Trong ngôn từ đã biết dùng những đại từ phù hợp khi giao tiếp (trẻ xưng con với bố mẹ, cháu với ông bà,
em với anh, chị, anh – chị với em nhỏ hơn và bạn với bạn bè…)
- Trẻ mẫu giáo lớn nhận biết giới tính của mình Không những trẻ biết mình là trai hay gái, mà còn biết rõ phải có hành vi, ăn mặc, đầu tóc (hình thức bên ngoài) như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình
Ở trẻ mẫu giáo lớn xuất hiện mong muốn có vị trí mới “người lớn” hơn, muốn thực hiện hoạt động mới quan trọng đối với bản thân và đối với những người xung quanh Ở giai đoạn này, lần đầu tiên xuất hiện ý thức của chính đứa trẻ về sự không phù hợp giữa vị trí xã hội khách quan của trẻ về “vị thế bên trong” Ở trẻ xuất hiện nhu cầu vượt ra ngoài hình ảnh ban đầu của cuộc sống bản thân, chiếm lĩnh vị trí mới vừa sức và thực hiện hoạt động có tính chất xã hội thực sự nghiêm chỉnh - vị trí của người học sinh và hoạt động học tập
Bên cạnh sự phát triển tự nhận thức xảy ra sự phát triển thái độ, cảm xúc, giá trị đối với bản thân.Mọi sự tự đánh giá đều là sự thống nhất giữa nhận thức và cảm xúc.Trẻ càng ngày càng trải nghiệm nhiều hơn sự vui sướng từ nhận thức những khả năng của mình, những cải tạo vừa sức trong thế giới xung quanh J.Piagiet đã khẳng định một cách đúng đắn rằng: “Điều khiển hành động bằng nhận thức và bằng xúc cảm trải qua con đường phát triển tiến bộ trong suốt thời kỳ thơ ấu, chúng phối hợp và bố sung lẫn nhau” [22]
Trẻ nhận biết trạng thái xúc cảm và tình cảm của mình.Đôi khi trẻ tự nhận ra cái
gì chính đáng gây cho trẻ sự đồng tình, sự buồn rầu hay khoái trá Sự lĩnh hội các chuẩn mực, các quy tắc hành vi, sự phát triển tự nhận thức ở trẻ dẫn tới chỗ bản thân việc thực hiện hay không thực hiện các chuẩn mực này gây cho trẻ niềm vui sướng, tự
Trang 20hào hay ngược lại là sự đâu khổ, sự xấu hổ ngay cả khi không ai biết cử chỉ của nó, khi trẻ chỉ có một mình
Như vậy, có thể thấy khả năng tự nhận thức của trẻ mẫu giáo bao gồm các yếu tố sau:
- Có hứng thú và nhu cầu tự nhận thức (Lòng mong muốn tìm hiểu, khám phá bản thân mình)
- Có kỹ năng, năng lực tự nhận thức biết vận dụng những điều đã biết vào trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới để khám phá bản thân Biết sử dụng một số thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa…) để giải quyết nhiệm vụ nhận thức
về bản thân
- Có thái độ tích cực đối với việc nhận thức bản thân
Giao tiếp bằng ngôn ngữ khiến phạm vi quan hệ của trẻ được mở rộng và phát triển, tạo điều kiện cho trẻ tự nhận thức và đánh giá bản thân mình Trẻ dần nhận ra được tên gọi của mình và mọi người thân, bạn bè xung quanh trẻ Cuối tuổi lên ba, trẻ
có sự phát triển nhảy vọt.Từ chỗ xưng hô bản thân mình ở ngôi thứ ba, trẻ bắt đầu xưng hô ở ngôi thứ nhất Điều đặc biệt đối với trẻ là trong tiếng Việt, việc xưng hô ở ngôi thứ nhất rất phức tạp nhưng trẻ vẫn tự nhận thức được và biết cách xưng hô “con” với “bố, mẹ, cô giáo”, “em” với “anh, chị”, xưng hô “cháu” với “ông bà, cô, dì, chú, bác…” một cách tương ứng Và cũng rất nhanh chóng sau đó, trẻ muốn được độc lập, muốn “tự mặc lấy quần áo”, “tự đi giầy”, “tự xúc cơm ăn” Do kiên trì thực hiện ý muốn của mình, qua quá trình rèn luyện và luyện tập đúng cách, trẻ có thể nhận thức được khả năng của bản thân mình Dần dần, trẻ biết phân biệt hành động, hành vi và việc làm của mình là “ngoan” hay “hư”, nếu người lớn luôn tỏ thái độ nhất quán đối với hành động, việc làm của trẻ Từ đó, trẻ muốn trở thành “bé ngoan” để được người lớn khen, được thưởng.Để muốn được người lớn khen ngợi, ngay cả trẻ mẫu giáo cũng
tự nhận thức mình có những phẩm chất tốt (dù không hiểu gì về những phẩm chất đó) Khi đánh giá các bạn và đánh giá mình, trẻ chỉ nhắc lại một cách đơn giản ý kiến của người lớn chứ chưa có căn cứ “thế là hư đấy! Cô bảo thế”, hay “Bạn A ngoan lắm, học giỏi lắm! Cô bảo thế”… Đến cuối tuổi mẫu giáo, sự phát triển của các chức năng tâm
lý (nhận thức, cảm xúc, ý chí…) đã khiến tự nhận thức của trẻ phát triển lên một mức cao hơn Trẻ mẫu giáo đã có khả năng đánh giá đúng mình trong những hành động, hành vi và việc làm cụ thể
Trang 21Tóm lại, sự tự nhận thức có vai trò quan trọng đối với mỗi đời sống cá nhân Nó giúp con người lĩnh hội nhận thức một cách tích cực, tự giác để vận dụng linh hoạt vào cuộc sống Việc hình thành khả năng tự nhận thức cho trẻ là một việc làm rất cần thiết
và có ý nghĩa đối với sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của trẻ sau này
1.2.3.3 Các kỹ năng thành phần của kỹ năng tự nhận thức bản thân ở trẻ 5 - 6 tuổi
* Kỹ năng tự nhận thức về vị thế của bản thân
Đây là kỹ năng nhận thức đầu tiên và hình thành sớm hơn cả của con người về bản thân mình “Cái tôi xã hội” của trẻ được hình thành ngay từ cuối tuổi nhà trẻ, đầu tuổi mẫu giáo.Kỹ năng này hình thành cho trẻ tình cảm bền vững đối với mọi người xung quanh, củng cố sự tin tưởng vào bản thân và giáo dục lòng tự trọng cho trẻ.Trẻ biết được tên gọi, họ tên của mình, cha mẹ, những người thân trong gia đình, địa chỉ gia đình và nói đến tên của mình với tư cách là người thứ nhất.Tự nhận thức về vị thế của bản thân còn được trẻ thể hiện trong sự phân biệt giới tính Trẻ biết mình là trai hay gái và có hành động phù hợp với giới tính Trẻ biết được vị trí của mình trong gia đình (có anh, có em hoặc chị) Trẻ biết được thái độ của mọi người trong gia đình đối với trẻ (có yêu quý hay quan tâm tới trẻ không? ) Trẻ biết tên lớp học, trường học của mình
và xác định được vị trí của mình trong không gian thế giới đồ vật…
Như vậy, kỹ năng tự nhận thức bản thân là một kỹ năng quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách của trẻ.Trẻ ý thức về bản thân càng đầy đủ thì càng tích cực tham gia vào qua trình hoàn thiện bản thân để trở thành người [35]
* Kỹ năng tự nhận thức về hình dáng bên ngoài của bản thân
Đây là kỹ năng tự nhận thức đặc trưng và rõ ràng nhất của trẻ mẫu giáo về bản thân mình Trẻ đã có kỹ năng tự nhận thức về cơ thể của mình, về các bộ phận trên cơ thể và hình thức của bản thân;Trẻ hiểu ý nghĩa của các giác quan và các bộ phận trên
cơ thể (các giác quan và các bộ phận trên cơ thể dùng để làm gì?); Chúng ta biết rằng, ngay từ khi còn nhỏ, trẻ đã có những hoạt động tự khám phá bản thân, dần dần trẻ tách khỏi mình ra ngoài cuộc sống xung quanh, đến 5 tuổi, trẻ đã có được những nhận thức tương đối phù hợp về hình thức bên ngoài của mình [35]
* Kỹ năng tự nhận thức về khả năng của bản thân
Đây là kỹ năng nhận thức được hình thành thông qua quá trình hoạt động của con người trong lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi….Từ những hoạt động đó mà ở mỗi con người tự nhận thức được khả năng của mình Kỹ năng tự nhận thức về khả năng
Trang 22của bản thân cũng được hình thành từ lứa tuổi mầm non với những biểu tượng đơn giản như khả năng vận động, khả năng hát, khả năng múa, khả năng vẽ tranh, khả năng đọc thơ, kể chuyện… Cùng với sự lớn lên của đứa trẻ, kỹ năng tự nhận thức này càng phát triển Từ đó, con người có thể hiểu biết được về những khả năng đặc biệt của bản thân như chuyên môn
về một ngành nghề nào đó hoặc khả năng âm nhạc, hội họa… [35]
* Kỹ năng tự nhận thức về một số phẩm chất của bản thân
Theo nhận định của các nhà tâm lý học trẻ em, thì trẻ mới bước vào tuổi mẫu giáo chưa hiểu biết gì mấy về bản thân và những phẩm chất của mình, nhưng đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ bắt đầu hiểu được một cách chung chung mình là người như thế nào,
có những phẩm chất gì? Trẻ thường đánh giá những hành vi, cử chỉ của mình thành
“ngoan”, “không ngoan” (hay là hư); Mình có “dũng cảm” hay không? Mình có “tự tin” hay “nhút nhát” Trẻ đối chiếu hành vi của mình với yêu cầu của người lớn và các chuẩn mực, các quy tắc xã hội nói chung Trẻ được thường xuyên đánh giá đúng và cụ thề hành vi của mình theo các tiêu chuẩn, quy tắc đạo đức xã hội thì ở trẻ sẽ hình thành đúng đắn các biểu hượng về hành vi ấy [35]
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 – 6 tuổi
1.2.4.1 Các yếu tố khách quan
* Ảnh hưởng của gia đình tới kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ giáo 5 – 6 tuổi Gia đình là một tập hợp người cùng chung sống gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống Có thể coi gia đình là một nhóm nhỏ trong xã hội, ở đó mọi người có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, điều chỉnh hành vi của nhau dựa trên
cơ sở là tình yêu thương, nó đảm bảo cho mối quan hệ bền vững của gia đình Mỗi thành viên trong gia đình luôn có sự quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ, động viên nhau dựa trên sự ảnh hưởng của các thành viên với nhau theo quan hệ hôn nhân và huyết thống Trong bất cứ gia đình nào con cái cũng chịu sự tác động rất lớn từ phía cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình Trẻ cũng tham gia vào tất cả các mối quan hệ với các thành viên trong gia đình Từ đây, trẻ xác định được mối quan hệ của mình với từng người, vị trí của mình đối với mỗi người và từ đó biết được cách ứng xử phù hợp với mỗi người trong gia đình mình theo các giá trị chuẩn mực đạo đức Cụ thể như trẻ biết
họ tên các thành viên trong gia đình, trẻ quan tâm đến gia đình, quan tâm tới các thành viên trong gia đình, trẻ tự hào về gia đình mình, dòng họ của mình… [21]
Trang 23Trong gia đình, quan hệ và sự tác động của cha mẹ và trẻ cũng có vai trò rất quan trọng Việc cha mẹ trò chuyện cùng trẻ, chơi cùng trẻ cũng kích thích hứng thú nhận thức của trẻ, khơi gợi trí tò mò, nhu cầu khám phá và hình thành các kỹ năng tự nhận thức bản thân, thúc đẩy quá trình tư duy, khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ Tuy vậy, cũng cần lưu ý, không phải lúc nào cha mẹ cũng giải thích cặn kẽ mà hãy đặt cho trẻ những câu hỏi, khuyến khích trẻ suy nghĩ nhiều hơn về những điều chúng thấy mới là một cách hữu ích để giúp trẻ hình thành những kỹ năng nhận thức cơ bản
Đối với sự phát triển tự nhận thức của trẻ thì người mẹ đóng vai trò quan trọng.Mẹ là thế giới bên ngoài đầu tiên của trẻ.Trong quá trình phát triển của trẻ em những năm đầu đời, nhân cách và sự chăm sóc, giáo dục của cha mẹ có vai trò trung tâm.Người mẹ luôn được tôn trọng.Nhờ có tình yêu thương của cha mẹ mà trẻ được phát triển tốt cả về sức khỏe và tâm hồn [21; tr69]
Ảnh hưởng của phong cách chăm sóc và giáo dục con
+ Phong cách độc đoán: Là mô hình nuôi dạy con rất nghiêm khắc, trong đó, người lớn chủ yếu ép buộc trẻ thực hiện theo những yêu cầu, mệnh lệnh, quy tắc do họ đặt ra và mong đợi ở con mình sự tuân theo những mệnh lệnh đó Họ ít khi giải thích cho đứa trẻ hiểu rõ tại sao phải tuân theo những quy tắc, mệnh lệnh do mình đưa ra Trong cách ứng xử với con, những người có phong cách độc đoán thường ưa sử dụng hình phạt và ép buộc để đạt được sự vâng lời của con Trẻ xuất thân trong gia đình có phong cách giáo dục con cái theo phong cách độc đoán thì trẻ thương bị áp đặt những ý kiến, quan điểm của mình theo sự chỉ đạo của người lớn trong gia đình
+ Phong cách dân chủ: Là mô hình nuôi dạy con mềm dẻo, trong đó, người lớn cho phép trẻ em tự do thực hiện ý định của mình; cho phép con được tham gia bàn bạc các công việc của gia đình, bố mẹ Những yêu cầu, mệnh lệnh được đưa ra cùng với sự giải thích cẩn thận, để đảm bảo cho đứa trẻ hiểu những yêu cầu và sự ngăn cấm là cần thiết.Trong cách ứng xử, bố mẹ thường tôn trọng suy nghĩ và thái độ của đứa trẻ.Các hình thức khuyến khích, động viên được sử dụng nhiều hơn trách phạt Đối với kiểu giáo dục con cái theo phong cách dân chủ thì trẻ sẽ được đối xử bình đẳng, trẻ được tự
do đưa ra các ý kiến, quan điểm của mình và bố mẹ sẽ lắng nghe theo nguyện vọng, tôn trọng ý kiến cá nhân của trẻ
+ Phong cách tự do: Là mô hình nuôi dạy con lỏng lẻo, trong đó, người lớn chỉ đưa ra một vài đòi hỏi tối thiểu Họ để cho đứa trẻ được tự do nhận thức, thể hiện thái
Trang 24độ và hành động trong cuộc sống mà ít khi giám sát và can thiệp trực tiếp Trong các gia đình này thì nguyên tắc “tự con, của con và vì con” là phương châm ứng xử của cha
mẹ đối với con Đối với gia đình giáo dục con theo phong cách tự do, bố mẹ, người lớn trong gia đình không can thiệp vào ý kiến cá nhân của trẻ dễ dẫn đến trẻ sẽ được nuông chiều, thả mặc làm những gì mình thích mà không cần chú ý đến suy nghĩ hay ý kiến của người lớn
Ảnh hưởng của nghề nghiệp, trình độ của bố mẹ đối với sự phát triển nhận thức của trẻ cũng là một trong những yếu tố quan trọng.Nghề nghiệp có ảnh hưởng mạnh tới
sự giáo dục trẻ và phát triển của trẻ nhất là gia đình có truyền thống nghề lâu năm.Chẳng hạn, gia đình có nhiều đời làm nghề nhà giáo sẽ có cách ứng xử và giáo dục con khác với gia đình làm nghề buôn bán, nghệ sĩ hay chính khách Những đứa trẻ xuất thân hay được sinh ra từ gia đình mà cha mẹ có nghề nghiệp, trình độ văn hóa cao, phát triển, có thu nhập cao thì sẽ có cách giáo dục tốt hơn là những đứa trẻ xuất thân từ gia đình nghèo khổ, trình độ của bố mẹ thấp, lạc hậu [21]
- Ảnh hưởng về thành phần của gia đình
Trong xã hội, tồn tại rất nhiều loại gia đình với nhiều thể hệ khác nhau Có gia đình có hai thế hệ (bố, mẹ, con), ba thế hệ (ông, bà, bố, mẹ và con), gia đình bốn thế hệ trở lên (là gia đình có nhiều hơn ba thế hệ hay gọi là tứ đại đồng đường)… Mỗi gia đình dù là mấy thế hệ nhưng đều có những truyền thống riêng.Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc tự nhận thức của trẻ.Người lớn trong gia đình giúp trẻ trong quá trình tự nhận thức để trẻ có thể dần dần biết xác định vị trí của mình trong gia đình và có những cách xưng
hô với người lớn cũng như mọi người xung qunah một cách đúng đắn và phù hợp
- Ảnh hưởng về điều kiện kinh tế, nơi sống của gia đình
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế của đất nước đang dần dần được phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện.Các gia đình đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.Kinh tế của gia đình có ảnh hưởng rất lớn tới sự tự nhận thức, tự ý thức bản thân của trẻ Trẻ em được xuất thân trong một gia đình có điều kiện kinh tế khá giả sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được phat triển toàn diện, trẻ có điều kiện được tham gia vào nhiều hoạt động xã hội, trẻ được tự mình khám phá trong một điều kiện thuận lợi, tạo điều kiện phát triển mạnh kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ Và ngược lại, một số đông trẻ em được sinh ra trong một gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nghèo khổ.Ngoài việc vui chơi là hoạt động chủ đạo ra thì trẻ cồn
Trang 25phải làm phụ gia đình kiếm sống.Vì vậy, thời gian trẻ được khám phá môi trường xung quanh sẽ hạn chế hơn, điều này đồng nghĩa với nhận thức của trẻ sẽ hạn chế hơn.Như vậy, điều kiện kinh tế có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và phát triển kỹ năng tự nhận thức của trẻ cũng như sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ
Đồng thời, nơi sống của gia đình cũng là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo Một số trẻ em được sinh ra và lớn lên trong gia đình dân tộc, sinh sống ở vùng quê, vùng núi cao, điều kiện khó khăn dẫn đến việc nhận thức và khám phá về môi trường xug quanh của trẻ cũng gặp khó khăn Trẻ ít được đến lớp, ít được giao lưu, giao tiếp với môi trường xã họi cũng như con người.Vì vậy, việc tự nhận thức, ý thức về bản thân của trẻ sẽ bị hạn chế hơn là những trẻ em được sinh ra và lớn lên ở các thành phố, vùng đồng bằng.Trẻ ít được tham gia vào các hoạt động xã hội nhận biết về thế giới xung quanh mình.Điều này có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển và nhận thức của trẻ ở giai đoạn sau này
* Ảnh hưởng của nhà trường tới kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 – 6 tuổi
Ở trường mầm non, tác động của giáo viên với trẻ mang một ý nghĩa rất lớn đối với việc hình thành kỹ năng tự nhận thức bản thân của đứa trẻ So với các tác động từ gia đình và nhóm trẻ cùng tuổi thì tác động từ phía nhà trường tới trẻ là sâu sắc, mạnh
mẽ và triệt để nhất
+ Nhà trường có khả năng tổ chức các hoạt động của cá nhân trẻ để thực hiện có kết quả mục tiêu phát triển của đứa trẻ thông qua nội dung, phương pháp giáo dục, sự tác động của nhà trường tới bản thân trẻ Sự tác động toàn diện của giáo dục nhà trường giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách, hình thành và phát triển ở trẻ những kỹ năng tự nhận thức cơ bản
Trong trường mầm non, nếu giáo viên muốn khơi gợi nhu cầu nhận thức, thúc đẩy trẻ tự tìm lời giải đáp, kích thích trẻ trong hoạt động nhận thức thì họ cần phải tạo môi trường hoạt động phong phú cho trẻ, sắp xếp phù hợp để kích thích trẻ có hứng thú tham gia vào các hoạt động Mặt khác, giáo viên cũng cần phải lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức không chỉ nhằm “nhồi nhét” hay “trao tặng” trẻ về mặt kiến thức mà còn hướng đến dạy cho trẻ cách nghĩ, cách làm, cách hành động và khả năng xử lý các kiến thức đó, sau đó, vận dụng chúng để giải quyết các tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày mà chúng phải đối mặt
Trang 26Giữa giáo viên và trẻ luôn tồn tại các mối quan hệ ngoài mối quan hệ của hoạt động dạy và học.Thông qua các hoạt động của nhà trường mà cô và trẻ có mối thiện cảm nhất định Bản thân trẻ mẫu giáo rất quý trọng và tin tưởng vào bất cứ hành động nào, lời nói nào của cô giáo mầm non Chính thái độ của các cô giáo, sự đối sử công bằng, sự tận tâm trong chăm sóc trẻ như những người mẹ thứ hai đã làm cho trẻ cảm nhận được tình yêu mà các cô giáo đã dành cho chúng Điều đó sẽ tạo động lực để mỗi đứa trẻ biết cách điều chỉnh hành vi của mình để được cô quan tâm, chú ý và yêu thương dạy dỗ trẻ [21]
Ở trong môi trường của nhà trường mầm non, khi đến lớp trẻ được tham gia vào rất nhiều các hoạt động hữu ích giúp trẻ được phát triển một cách thuận lợi Ở trường mầm non, giáo viên tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động như: hoạt động góc, hoạt động học, hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời, hoạt động tham quan, du lịch… Khi tham gia các hoạt động này, trẻ em được tự mình khám phá thế giới xung quanh, trẻ được hiểu biết nhiều thứ hơn điều này góp phần giúp trẻ phát triển nhân cách toàn diện.Dần dần, những hiểu biết đó đi vào biểu tượng về bản thân của trẻ mẫu giáo.Trẻ biết so sánh, đánh giá kết quả của hoạt động cuả mình với bạn bè và với yêu cầu của cô giáo
Đặc biệt, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên phụ trách trẻ với phụ huynh của trẻ để có thể dễ dàng chia sẻ, trao đổi với nhau, thống nhất với nhau về các kiến thức, phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ nói chung và góp phần hình thành và rèn luyện cho trẻ kỹ năng tự nhận thức bản thân nói riêng
Tóm lại, nhà trường mầm non là môi trường giáo dục an toàn và thuận lợi cho trẻ Ở trường trẻ được vui chơi, được học hỏi, được tự mình khám phá môi trường xung quanh giúp trẻ tích cực nhận thức.Nó có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và phát triển của trẻ sau này
* Ảnh hưởng của bạn cùng lứa tới kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 – 6 tuổi Bạn cùng lứa được hiểu là tại một thời điểm nhất định có sự tương đồng cơ bản
về cấu trúc nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử Trẻ khác tuổi vẫn được coi là bạn ngang hàng của trẻ khi có sự điều chỉnh nhận thức về hành vi cho phù hợp với bạn cùng chơi
Trong cuộc sống của trẻ diễn ra tại lớp mẫu giáo, tại gia đình, cộng đồng nơi trẻ sinh sống luôn luôn tồn tại mối quan hệ giữa các trẻ với nhau Chúng có mối quan hệ
Trang 27lâu dài và bền vững với nhau dựa trên cơ sở tình cảm, có thể trẻ mến phục nhau, cùng
độ tuổi với nhau, hợp nhau về tính cách, sự gần gũi hay là khoảng cách về địa lý như trong cùng một khu phố, cùng một xóm… mà bọn trẻ hình thành những nhóm bạn cùng chơi Trong nhóm của mình trẻ giống nhau về cách nói, cách chơi, cách cư xử… Đây có thể được coi là môi trường thuận lợi để cho trẻ mẫu giáo thể hiện vị trí của mình và khẳng định được bản thân trong mối quan hệ với các bạn cùng nhóm chơi Từ
đó, mới xuất hiện các vị trí “thủ lĩnh”, “trưởng nhóm” của nhóm trẻ và đồng thời cũng
có những bạn yếu thế hơn trong nhóm bạn cùng chơi
Bạn ngang hàng có ảnh hưởng rất lớn đối sự phát triển mọi mặt của trẻ em Trong hoàn cảnh bình thường thì bố mẹ tạo cho trẻ cảm giác an toàn và các điều kiện
cơ bản để trẻ em tìm hiểu và khám phá môi trường xung quanh và người khác, còn sự tương tác với các bạn ngang hàng phát triển ở trẻ em các mô hình kỹ năng xã hội, trong
đó có kỹ năng tự nhận thức bản thân, sẽ giúp phát triển các ứng xử của trẻ em với bạn
bè và mọi người xung quanh
Bạn bè ngang hàng là những mô hình xã hội để trẻ em thực hiện hành vi của mình Các nghiên cứu của nhà tâm lý học người Mỹ A Bandara đã cho thấy ảnh hưởng của cơ chế học tập phổ biến ở trẻ em là học tập và bắt chước các khuôn mẫu hành vi của người khác, mà trước hết và gần gũi là hành vi của bạn Trên thực tế, trẻ em có thể học hỏi, bắt chước bạn cả những hành vi mà người lớn cho là tốt và những hành vi cho
là không tốt Vì vậy, sự tham gia của người lớn trong việc tạo dựng các mô hình hành
vi mẫu của bạn cho trẻ em là một việc làm rất cần thiết và quan trọng [21]
Bạn bè là những tác nhân củng cố hành vi xã hội được lặp lại ở trẻ Hành vi của trẻ có thể bị duy trì, củng cố hay loại bỏ bởi những phản ứng tán thành, ủng hộ hay không ủng hộ của bạn bè Điều này sẽ giúp cho trẻ nhận thức được hành vi của mình Bạn ngang hàng là chuẩn để cho trẻ so sánh hành vi xã hội của mình Hàng ngày trẻ em thường dựa vào hai nguồn làm chuẩn để xác định hành vi của mình Đó là sự đánh giá của người lớn và bạn ngang hàng.Trẻ em thường so sánh mình với bạn bè để lượng giá mình [20]
Những trẻ em quan hệ ít với bạn ngang hàng trong thời kỹ thơ ấu, sau này thường dễ bị rối loạn về xúc cảm và hành vi Những trẻ bị các bạn xa lánh hay từ bỏ (đặc biệt là các em bị từ bỏ, tẩy chay), khi lớn lên trẻ đó thường gặp khó khan về tâm
lý, có nguy cơ cao về lệch chuẩn nhận thức xã hội, hành vi trong ứng xử Người thân
Trang 28của trẻ chủ yếu là những nguời mà trẻ ít quan tâm tới các giá trị và việc “dạy” của nhóm bạn, các em không có các hình mẫu hành vi xã hội phù hợp [21; tr76]
Mô hình tương tác qua lại giữa các bạn ngang hàng có sự khác biệt giữa các nhóm văn hóa cộng đồng.Trong những vùng chưa phát triển công nghiệp, sản xuất nông nghiệp là tự cung tự cấp là chủ yếu thì trẻ em trong các gia đình phải đảm nhiệm nhiều công việc như người lớn.Các em có ít cơ hội chơi với nhau hơn ở vùng công nghiệp hiện đại.Điều này sẽ chênh lệch sự nhận thức và phát triển của trẻ em qua các vùng cũng là khác nhau
* Ảnh hưởng của địa bàn dân cư tới kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi Hoàn cảnh sống và môi trường sống của trẻ có ảnh hưởng rất lớn đến sự tự nhận thức của trẻ cũng như sự phát triển toàn diện nhân cách đứa trẻ
Trước hết, hoàn cảnh sống của chủ thể thì bao gồm hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội.Hoàn cảnh tự nhiên không giữ vai trò quan trọng và quyết định trong sự phát triển tâm lý nhân cách.Hoàn cảnh tự nhiên chính là những điều kiện tự nhiên nơi chủ thể sinh sống.Xét cho cùng, nhiều phong tục tập quán và các nét tâm lý bản địa đều
có nguồn gốc từ điều kiện và hoàn cảnh sống tự nhiên.Có thể nói vậy là bởi nhân cách như là một thành viên xã hội, chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên thông qua những giá trị vật chất và tinh thần, qua phong tục tập quán của dân tộc, của địa phương, của nghề nghiệp
Ngược lại, môi trường xã hội lại có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.Có thể nói vậy là bởi nếu không có sự tiếp xúc với con người thì cá thể lớn lên và phát triển trong trạng thái động vật, nó không thể trở thành một con người, một nhân cách.Nhân cách đó là một sản phẩm của xã hội Như thế có nghĩa là đứa trẻ muốn trở thành nhân cách phải có sự tiếp xúc với người lớn để nắm vững tri thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội, để được chuẩn bị trước vào cuộc sống và lao động trong văn hóa của thời đại
Yếu tố xã hội thì bao gồm những tác động từ phía môi trường xã hội (môi trường vĩ mô) và những hoạt động của chủ thể trong môi trường đó ở cấp độ vĩ mô Môi trường vĩ mô được hiểu là toàn bộ những sự kiện và hiện tượng của đời sống xã hội diễn ra trong phạm vi rộng về không gian và kéo dài về thời gian Môi trường vĩ
mô vượt quá giới hạn của địa phương nơi trẻ sinh sống (phường, xã, thành phố, tỉnh,
Trang 29quốc gia ) Về thời gian, môi trường vĩ mô bao gồm cả quá khứ (di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể …), hiện tại ( nền văn hóa vật chất và tinh thần) và tương lai (viễn cảnh
về mô hình phát triển của đất nước) Môi trường vĩ mô là những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, nhiều hay ít tùy thuộc mối quan hệ của chủ thể với môi trường đó (quan tâm, thích thú, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng …)
Ví dụ: Một đứa trẻ sống ở Mỹ - đất nước phát triển, đa sắc tộc, đa văn hóa sẽ khác một đứa trẻ sống ở Việt Nam – đất nước đang phát triển với nền văn hóa phương Đông đậm nét Đứa trẻ sống ở Mỹ sẽ có lối sống phóng khoáng hơn, tự do hơn và cũng có thể năng động hơn, đứa trẻ sống ở Việt Nam sẽ có lối sống khuôn phép, kín đáo hơn
Môi trường vĩ mô được giới hạn trong phạm vi hẹp, gần gũi với cuộc sống thường nhật của trẻ ở gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư Ở gia đình, trẻ không chỉ học những điều cha mẹ chỉ bảo, uốn nắn mà bầu không khí tâm lý – đạo đức cùng với tình cảm gắn bó ruột thịt là những tác động có sức cảm hóa mạnh mẽ Tại trường mầm non, với chức năng và nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ, đã có vai trò chủ đạo, định hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ thông qua các hình thức và nội dung của các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ
Chất lượng của hoạt động dạy học cao hay thấp phụ thuộc vào uy tín, năng lực
và khả năng thấu hiểu con người từng đứa trẻ của giáo viên.Một trong những đặc điểm tâm lý cá nhân ở trẻ em mà giáo viên cần nắm rõ và ứng xử hợp lý, linh hoạt đó là các đặc điểm khí chất
Trong giáo dục, nếu giáo viên không nắm vững những đặc điểm tâm lý này thì hoạt động dạy sẽ kém hiệu quả, thậm chí dẫn đến phản ứng ngược, nảy sinh tâm lý tiêu cực trong cá nhân trẻ, nhóm trẻ và tập thể lớp học
Khí chất bao giờ cũng tương ứng với kiểu hoạt động thần kinh cấp cao và phản ánh các đặc điểm hoạt động sinh lý thần kinh của từng người Biểu hiện cường độ, tốc
Trang 30độ, nhịp độ của hoạt động tâm lý in dấu ấn lên toàn bộ thái độ, hành vi, hoạt động của mỗi người I.P.Paplop - nhà sinh lý học thần kinh người Nga - đã chỉ ra sự phụ thuộc chủ yếu của khí chất con người vào đặc điểm hoạt động và mối quan hệ của hai quá trình thần kinh cơ bản là hưng phấn và ức chế với 3 thuộc tính cơ bản: Cường độ, tính cân bằng, tính linh hoạt Sự kết hợp theo các cách khác nhau giữa 3 thuộc tính này tạo
ra 4 kiểu khí chất: Nóng, hoạt, trầm và ưu tư
Khí chất nóng: Ứng với kiểu thần kinh mạnh, không cân bằng và linh hoạt Những đứa trẻ thuộc kiểu khí chất này thường dễ xúc động, hành động nhanh nhưng không bền vững.Xúc cảm mạnh, dễ thay đổi, tính tình nóng nảy Nếu giáo dục nhẹ nhàng, tế nhị, sẽ nhiệt tình, hăng say, có sáng kiến Ngược lại, có thể nảy sinh tính thô
lỗ, cục cằn, dễ bị kích động Đối với những trẻ có kiểu khí chất nóng, giáo viên cần gần gũi với trẻ, chỉ ra nhược điểm của tính nóng nảy, dần giúp các em khắc phục tính nóng nảy và phát huy tính thẳng thắn, quyết đoán, tích cực mạnh mẽ hơn để trẻ có thể nhận thức và tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp [45]
Khí chất hoạt: Ứng với kiểu thần kinh mạnh, cân bằng và linh hoạt Những trẻ thuộc kiểu khí chất này thường năng động, linh hoạt, ham thích tìm tòi cái mới; nhạy cảm, vui vẻ, nhưng xúc cảm không bền vững, sâu sắc, dễ tiếp xúc, dễ hòa nhập, dễ tiếp thu cái mới nhưng cũng dễ di chuyển chú ý, chóng quên, không thích ngồi yên một chỗ Nếu có phương pháp giáo dục thích hợp thì sẽ hăng say học tập rèn luyện, có lòng
vị tha, quan tâm đến mọi người xung quanh… Ngược lại, nếu phương pháp giáo dục không tốt sẽ hình thành những đặc điểm tâm lý nhẹ dạ, nông nổi, vô tâm, không thực hiện công việc đến nơi đến chốn… Giáo viên cần chỉ ra và giúp trẻ dần dần khắc phục nhược điểm là thiếu tỉ mỉ, cẩn thận…, và đồng thời, phát huy tính năng động, hoạt bát của khí chất [45]
Khí chất trầm (bình thản): Ứng với kiểu thần kinh mạnh, cân bằng, không linh hoạt Những trẻ em thuộc kiểu khí chất này thường điềm tĩnh, chậm chạp, khó quen với hoàn cảnh mới Trong sinh hoạt thường kiên trì, cố gắng hoàn thành công việc.Nếu biết động viên, khích lệ tham gia vào hoạt động của tập thể thì sẽ dễ hình thành những nét tính cách tốt như chuyên cần, kiên trì, chắc chắn Ngược lại sẽ dễ phát triển tính ỳ, thụ động, thờ
ơ, bàng quan với hoạt động chung của lớp học Giáo viên cần động viên, tạo điều kiện cho các em tích cực tham gia các hoạt động tập thể, để trẻ có cơ hội khẳng định bản thân mình
và giúp trẻ phát triển nhận thức và phát triển toàn diện nhân cách [45]
Trang 31Khí chất yếu (ưu tư): Ứng với kiểu thần kinh yếu, không cân bằng và ít linh hoạt Trẻ thuộc kiểu khí chất này các quá trình tâm lý diễn ra chậm chạp, khó đáp ứng với những kích thích mạnh, kéo dài, khó thích nghi với môi trường mới, dễ lo sợ, xúc cảm xuất hiện muộn nhưng sâu sắc, bền vững.Nếu được động viên, khuyến khích sẽ tạo tính kiên trì, tế nhị, nhạy cảm.Ngược lại nảy sinh tính nhút nhát, xa lánh tập thể Giáo viên cần quan tâm, động viên khích lệ, gần gũi với trẻ hơn để giúp trẻ thêm mạnh dạn, cởi mở hơn trong hoạt động tập thể; Đồng thời thận trọng trong phê bình, nhắc nhở, tìm biện pháp phù hợp để trẻ tự nhận ra lỗi lầm từ đó trẻ có thể tự điều chỉnh hành
vi của mình cho phù hợp, tránh để các em rơi vào trạng thái bi quan, chán nản.[45]
Giáo viên có thể nhận ra kiểu khí chất khác nhau ở trẻ qua việc quan sát các hành vi, cử chỉ, hoạt động hàng ngày của trẻ ở trường mầm non: Có trẻ nhanh nhẹn, hoạt bát; Có trẻ lại khác chậm chạp, điềm tĩnh; Có cháu thì cởi mở, lạc quan dễ tiếp xúc với các bạn, cô giáo và mọi người xung quanh; Những cháu khác thì kín đáo, ít cởi
mở, rụt rè Những biểu hiện đó phản ánh sắc thái tâm lý của cá nhân về cường độ, vận tốc của động tác, cử chỉ.Những biểu hiện bên ngoài của mọi hoạt động tâm lý đều mang tính độc đáo của khí chất Theo quan điểm của tâm lý học: Khí chất là thuộc tính tâm lý nhân cách gắn liền với đặc điểm của từng kiểu loại hoạt động thần kinh cấp cao, quy định tính năng động của tâm lý và hành vi của cá nhân
Trên cơ sở hiểu biết đặc điểm tâm lý trong công tác giáo dục trẻ em ở trường mầm non, người giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm cần nắm rõ khí chất để tác động cho phù hợp mang lại hiệu quả cao Trong đánh giá, nhận xét cá nhân trẻ, cô phải tính đến đặc điểm khí chất, tránh lẫn lộn khí chất với các phẩm chất tâm lý khác.Đồng thời, khi phê bình, nhắc nhở những nhược điểm của khí chất, tránh gán ghép thành những phẩm chất đạo đức của cá nhân
Trong giáo dục, bồi dưỡng nhân cách phải tác động phù hợp với đặc điểm khí chất từng trẻ mới tạo điều kiện thuận lợi để trẻ phát huy mặt mạnh, kiềm chế khắc phục mặt yếu một cách có hiệu quả trong các hoạt động ở trường, lớp mầm non Trong công tác chủ nhiệm hoặc giảng dạy nội dung có phân nhóm, khi phân công nhiệm vụ cho trẻ hợp tác nhóm, nên kết hợp xem xét cả đặc điểm khí chất, khuyến khích, động viên từng trẻ thực hiện tốt nhiệm vụ, tận dụng được ưu điểm của trẻ này để bổ sung, hạn chế, khắc phục mặt yếu của trẻ khác trong nhóm nhằm phát huy được sức mạnh của tập thể
Trang 32lớp học Trên cơ sở bồi dưỡng các phẩm chất tâm lý khác của nhân cách, kiên trì động viên các em phát huy ưu điểm, kiềm chế đi đến khắc phục nhược điểm của khí chất
- Tính cách trẻ
Trong môi trường giáo dục ở nhà trường có rất nhiều trẻ với các tính cách khác nhau.Có trẻ có tính cách sôi nổi, hoạt bát, có trẻ lại rụt rè, chậm chạp.Những đặc điểm tính cách khác nhau ở từng đứa trẻ sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với sự nhận thức của từng cá nhân trẻ Đối với mỗi trẻ thì giáo viên cần quan tâm, chú ý, cần có những phương pháp giáo dục, tác động phù hợp để tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ phát triển nhận thức nói riêng và phát triển toàn diện nhân cách của trẻ nói chung
* Ảnh hưởng của hoạt động giao tiếp của trẻ tới kỹ năng tự nhận thức bản thân
ở trẻ 5 - 6 tuổi
Giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa người cới người, thông qua đó mà con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói cách khác giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người- người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác
Từ tuổi ấu thơ, con người đã nằm trong hệ thống các mối quan hệ giữa con người với con người Cùng với sự phát triển của cá nhân, các mối quan hệ của nó cũng được tăng lên, phức tạp lên.Trong hệ thống các mối quan hệ đó, hình thành các mối quan hệ xã hội đặc trưng của cá nhân.Tham gia vào các hệ thống giao tiếp, con người hiện thực hóa khả năng tâm lý của mình Do vậy, giao tiếp trở thành điều kiện quan trọng trong sự tồn tại của con người, là nhu cầu quan trọng của con người Trong quá trình hoạt động giao tiếp và các hình thức tác động qua lại khác, con người hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về chính mình
Ngay từ nhỏ đứa trẻ đã nằm trong hệ thống các mối quan hệ khác nhau, trước hết là quan hệ với những con người tham gia vào giao tiếp với trẻ.Giao tiếp không chỉ
là nhu cầu của nó mà còn trở thành điều kiện quan trọng cho sự tồn tại của con người Trong khi giao tiếp trẻ hiểu được người khác và hiểu mình bắt đàu bằng sự quan sát những hành vi bên ngoài của họ Trong giao tiếp, trẻ tiếp nhận những đánh giá của ngững người xung quanh về bản thân mình.Trên cơ sở đó, trẻ so sánh, đối chiếu, đánh giá chính bản thân mình.Giao tiếp trở thành điều kiện và nguồn gốc hình thành sự tự nhận thức, tự đánh giá ở trẻ tuổi mẫu giáo
Trang 33Trong hoạt động và giao tiếp, trẻ tham gia vào những mối quan hệ khác nhau.Thông qua các mối quan hệ đó mà trẻ nhận thức thế giới và nhận thức chính mình.Yếu tố hàng đầu của sự phát triển tự ý thức ở tuổi mẫu giáo vẫn là quan hệ của trẻ với người lớn bởi lúc này trẻ chưa có được hiểu biết và kinh nghiệm cần thiết để đánh giá hành vi, thái độ của người khác và chính bản thân mình
Trong các cuộc trò chuyện của trẻ, các chủ đề về cuộc sống, về công việc của người lớn và các mối quan hệ của họ chiếm ưu thế Nhờ có sự hướng dẫn của người lớn trẻ nắm được những chuẩn mực đạo đức, đánh giá những hành vi của mình và hành vi của mọi người xung quanh Xuất hiện ở trẻ nhu cầu hiểu biết và thông cảm lẫn nhau [45]
Từ 4 – 6 tuổi, trẻ mẫu giáo có nhu cầu giao tiếp công việc tình huống với bạn cùng tuổi.Nhu cầu giao tiếp của trẻ mẫu giáo là cải tạo sự hợp tác trong công việc và phối hợp các hành động của mình với bạn để đạt mục đích Đến năm thứ 5 của cuộc đời, trẻ thường hỏi về các thành tích của bạn, đòi hỏi mọi người công nhận các thành tích của bản thân, vạch ra sự thất bại của trẻ khác và thử dấu đi những thất bại của bản thân
Ở trẻ mẫu giáo lớn, hình thức giao tiếp công việc ngoài tình huống được phát triển.Hoạt động chơi của trẻ đòi hỏi phải thống nhất với bạn và vạch ra từ trước kế hoạch của bản thân.Ở trẻ xuất hiện hứng thú với nhân cách của bạn, không liên hệ gì với hành động của người bận đó.Mặc dù các động cơ giao tiếp về công việc vẫn giữ vai trò chủ đạo, tuy nhiên, trẻ đã biết nói chuyện với nhau về chủ đề nhận thức và nhân cách
Yếu tố hoạt động giao tiếp có vai trò quan trọng trong sự hình thành biểu tượng bản thân cho trẻ và rèn luyện sự tự nhận thức bản thân của trẻ.Sự tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo luôn dễ dàng bị ảng hưởng bởi những lời nhận xét của người lớn và mọi người xung quanh
Trong hoạt động và giao tiếp, trẻ tham gia vào các mối quan hệ khác nhau.Thông qua các mối quan hệ đó mà trẻ nhận thức thế giới và nhận thức chính mình Yếu tố hàng đầu của sự phát triển sự tự ý thức ở trẻ ở tuổi mẫu giáo vẫn là quan
hệ của trẻ và người lớn, bởi vì trẻ chưa có hiểu biết và kinh nghiệm cần thiết để đánh giá hành vi, thái độ của người khác và của chính bản thân Trẻ tiếp nhận một cách tự phát quan hệ của người lớn đối với mình và bằng cách đó công nhận, hoàn toàn tin tưởng quan hệ của người lớn Đánh giá của người lớn trở thành nguồn gốc của sự tự đánh giá đầu tiên của trẻ.Theo Watton thì sự hình thành của cái tôi chỉ có thể thực hiện qua sự trung gian của cái “người khác”.Cái “người khác” là cái cặp đôi của cái tôi và là
Trang 34vế thứ hai của một cặp đi thường trực với cái tôi (Watton 1956) [42] Cái tôi và cái bổ sung luôn gắn liền với nó, cái người khác sẽ đưa con người đi từ cấp độ cảm giác sơ đẳng tới những chân trời đa dạng nhất và đôi khi là rộng lớn nhất của ý thức cá nhân
Có thể khẳng định được rằng hoạt động giao tiếp có vai trò rất quan trọng trong
sự phát triển kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo và quyết tới sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ
* Hoạt động vui chơi của trẻ
Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ lứa tuổi mẫu giáo không phải
do nó chiếm nhiều thời gian nhất mà là nó tạo ra những biến đổi về chất trong sự phát triển tâm lý người Hoạt động vui chơi đã giúp cho đứa trẻ lần đầu tiên được hoạt động như những thành viên của xã hội loài người Nhờ có hoạt động vui chơi mà những nét nhân cách đầu tiên của đứa trẻ được hình thành như ý thức và tự ý thức hay sự xuất hiện động cơ hành vi của đứa trẻ mang tính xã hội và tính nhân cách [49]
Đặc biệt, trong trò chơi, trẻ đóng vai chơi, hành động chơi đòi hỏi trẻ phải có vốn kiến thức phong phú, nhận thức phù hợp, có thao tác kỹ năng chơi… Vì thế, trò chơi làm nảy sinh những hành động phù hợp với khả năng của trẻ.Trẻ biết được khả năng của mình khi tham gia trò chơi, các trò chơi đó chình là trẻ đã ý thức được nhu cầu, năng lực của chính bản thân mình Theo Wallon, đầu tiên trong các trò chơi luân đuổi (trò chơi trong đó chia làm hai thời kỹ chủ động và bị động Trẻ lần lượt đóng vai người tác động và người chịu tác động: vị trí đứa chạy, đứa bắt) trẻ học được cách tự tách mình ra khỏi tình huống mà nó luôn bị chi phối, học cách nhận biết các mối quan
hệ với những người cùng chơi, tính cách tương hỗ trong các hành động của chúng, cách đánh giá những kết quả đối lập và qua đó trong một chững mực nhất định, đứa trẻ tập quen với trách nhiệm về những hành động cụ thể của bản thân trẻ Thời kỳ luân đổi cuối cùng đã làm cho trẻ tự làm phân biệt trẻ với người khác, có địa vị nhất định đối với họ vì giờ đây nó đã ý thức được về bản thân nó [15 tr 79-80] Có nghĩa là đứa trẻ nhận biết mình như một cá thể độc lập, không bị chi phối, phụ thuộc vào tình huống cũng như mối quan hệ với bạn chơi.Trẻ phân biệt được vị trí của mình khi tham gia vào mỗi vai chơi khác nhau mà không bị nhầm lẫn
Theo Mead, nguồn gốc hình thành tự ý thức nói chung và tự nhận thức là trò chơi của trẻ Đầu tiên là những trò chơi lặp lại hành động của người lớn.Ở đây, trẻ phải
tự đóng một vai xác định Sau đó, trong sự phức tạp hóa các quan hệ của trẻ với những trẻ khác, với người lớn và mở rộng hệ thống các kỹ năng khác nhau, hành động chơi
Trang 35của trẻ chuyển sang giai đoạn mới – trò chơi có luật Trò chơi có luật với một hay nhiều bạn chơi là tái tạo những quan hệ giữa những người xung quanh, phù hợp với nhận thức của trẻ “Trong trò chơi như thế, trẻ em nắm được hành động của chính bản thân mình, ở trẻ hình thành biểu tượng sơ đẳng về bản thân, về những khả năng, về những phẩm chất tâm lý riêng lẻ của mình” [ 25 tr27 ]
Trong các trò chơi, trẻ nắm được luật chơi, có nghĩa là nắm được tiêu chuẩn hành vi của bản thân, học được cách điều chỉnh hành vi, học được cách bắt hành vi phải tuân theo một nhiệm vụ nhất định Theo Leonchiep: “Các trò chơi này có ý nghĩa tâm lý ở chỗ trong các trò chơi ấy, lần đầu tiên xuất hiện thêm một yếu tố quan trọng đối với sự hình thành nhân cách của trẻ - đó là yếu tố tự đánh giá Yếu tố này xuất hiện dưới một dạng rất đơn giản, dưới dạng đánh giá đúng mức độ khéo tay, kỹ xảo, kết quả hành động của bản thân, so sánh với các bạn Qua so sánh đó, trẻ tự đánh giá một cách
có ý thức về những khả năng, kỹ năng của bản thân.Cái đó hoàn toàn khác với sự đánh giá của mọi người xung quanh, ở đây, lần đầu tiên trẻ tự đánh giá những hành động của bản thân” [9]
Các trò chơi, hoạt động học tập và các hoạt động sáng tạo khác là nguồn gốc chính của sự hình thành hiểu biết về bản thân của trẻ mẫu giáo Đặc biệt trong trò chơi,
cụ thể là trò chơi đóng vai theo chủ đề trẻ thể hiện sự tự nhận thức bản thân một cách
rõ nét nhất
Trong quá trình hoạt động và vui chơi, trẻ không chỉ khám phá thế giới khách quan mà còn tự nhận thức chính mình Ý nghĩa của hoạt động vui chơi đối với trẻ ở chỗ nó mở rộng lĩnh vực tự nhận thức, thể hiện những tiềm năng bên trong của trẻ còn chưa được sử dụng (trí tuệ, cảm xúc, tính cách…) Hoạtd động vui chơi còn là thước
đo, là tiêu chuẩn đánh giá đúng đắn của việc tự nhận thức về bản thân mình Độ phù hợp của sự tự nhận thức của trẻ phụ thuộc vào mức độ phức tạp của các hoạt động trong quá trình vui chơi của trẻ.Vì vậy, việc sử dụng các yếu tố chơi và trò chơi có tác dụng rất lớn đối với việc phát triển toàn diện nhân cách trẻ đặc biệt là góp phần lớn trong việc hình thành và phát triển kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ
Trang 36Kết luận chương 1
Kỹ năng tự nhận thức bản thân được nghiên cứu như một thành tố trong cấu trúc của tự nhận thức bản thân.Đây là quá trình tâm lý phản ánh những đặc điểm hình dáng bên ngoài của bản thân trẻ; những khả năng; phẩm chất và vị thế xã hội của trẻ.Trên cơ
sở tự nhận thức được đặc điểm bản thân mình và đặc điểm của người khác, cá nhân so sánh bản thân mình với người khác và tỏ thái độ hài lòng hay không hài lòng với bản thân mình.Từ đó, có thể định hướng, điều chỉnh bản thân mình để hoàn thiện hơn
Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có thể tự nhận thức một cách độc lập về hình thức bên ngoài, khả năng và phẩm chất tâm lý của mình Tuy nhiên, trẻ cần đến sự hỗ trợ, giúp
đỡ của người lớn để từ đó giáo dục cho trẻ một số kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng sống cơ bản và cần thiết Sự tự nhận thức bản thân của trẻ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh lý, các yếu tố xã hội như: gia đình, hoạt động học tập và cuộc sống nhà trường, bạn bè, thầy cô Kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi chưa bền vững, dễ bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người lớn, ông bà, cha mẹ, cô giáo… hay những người gần gũi với trẻ Sự thay đổi đó dựa vào tính chất đánh giá của người lớn Vì vậy, Giáo viên và phụ huynh của trẻ cần phải có những tác động tích cực, phù hợp nhằm giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ nói riêng và hoàn thiện dần nhân cách con người cho trẻ nói chung là một việc làm rất cần thiết
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN
CỦA TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu
2.1.1 Vài nét về trường mầm non Hoa Phượng
Trường mầm non Hoa Phượng là một trường mầm non nằm trên địa bàn thành phố Việt Trì - khu vực có điều kiện kinh tế phát triển Trường không chỉ là nơi có bề dày về các thành tích chăm sóc, giáo dục trẻ mà còn là nơi cho giáo viên, sinh viên học tập, nghiên cứu, nâng cao tay nghề
Trường mầm non có cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ phục vị cho việc giáo dục trẻ tương đối đầy đủ và khang trang Trường có đội ngũ giáo viên, nhân viên nhà trường luôn tâm huyết với nghề, yêu nghề, mến trẻ, có trình độ chuyên môn cao và vững vàng
Trường mầm non Hoa Phượng - Việt Trì - Phú Thọ là địa bàn có trình độ dân trí cao, là yếu tố thuận lợi cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ
2.1.2 Vài nét về trường mầm non Hùng Vương
Trường mầm non Hùng Vương là một trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của thị xã Phú Thọ Trường mầm non Hùng Vương nhiều năm đã được phòng giáo dục và đào tạo đánh giá là một trong những trường điểm của thị xã Phú Thọ
Trường có đội ngũ giáo viên có trình độ đạt chuẩn 100%, các cô giáo đều có trình độ chuyên môn cao Hàng năm nhà trường có rất nhiều giáo viên tham gia thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp thị và cấp tỉnh đã được rất nhiều thành tích cao, xuất sắc
Trường mầm non Hùng Vương có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, có phòng hoạt động âm nhạc riêng cho trẻ, có phòng kidmart.Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động của trẻ tương đối đầy đủ
2.1.3 Vài nét về trường mầm non Thạch Sơn
Trường mầm non Thạch sơn là một trường nằm trên một vùng quê ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Trường đạt chuẩn quốc gia năm 2012 với đội ngũ giáo viên, nhân viên nhà trường đạt chuẩn 100%, có trình độ chuyên môn cao Trường mầm non Thạch Sơn tuy ở một vùng quê nhưng trường có hệ thống cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho việc giảng dạy rất phong phú, đa dạng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ
Trang 38Tuy nhiên, trường còn gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế, giáo viên mới ra trường, kinh nghiệm chưa nhiều, một số bậc phụ huynh còn chưa chú tâm đến việc con cái
2.1.4 Vài nét về trường mầm non Thu Ngạc
Trường mầm non Thu Ngạc nằm trên một xã miền núi thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, trường có cơ sở chính và một điểm lẻ Phụ huynh của trẻ ở đây phần lớn
là người dân tộc miền núi, công việc chủ yếu của họ là làm ruộng, làm rừng Ngoài ra, một số phụ huynh làm giáo viên, công chức xã, buôn bán, làm nghề tự do…
Trường đã được sự chỉ đạo của ban giám hiệu nhà trường và sự quan tâm của phòng giáo dục về các mặt phát triển giáo dục trong đó có lĩnh vực phát triển nhận thức Nhà trường đã đầu tư những cơ sở vật chất tốt nhất cho lớp, lớp có những đồ dùng, phương tiện phục vụ cho việc giáo dục cho trẻ để trẻ tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn
Đội ngũ giáo viên nhà trường với trình độ chuẩn và trên chuẩn, có tâm huyết với nghề, yêu mến trẻ
Bên cạnh đó thì trường vẫn còn gặp phải những khó khăn trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ do trình độ nhận thức của trẻ không đồng đều và một số những ảnh hưởng từ địa bàn dân cư tại khu vực này
Giáo viên mới ra trường kinh nghiệm giảng dạy vẫn còn bị hạn chế, công tác ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy chưa được chú trọng và phát huy hết khả năng
Vẫn còn một phần nhỏ các bậc phụ huynh chưa thật sự quan tâm tới việc giáo dục con cái, còn ỷ lại cho giáo viên nhà trường
2.2 Mục đích, nội dung, phương pháp điều tra thực trạng
2.2.1 Mục đích điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ thông qua việc tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tham gia các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở trường mầm non Từ đó, xác định thực trạng kỹ năng tự nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi và đề xuất một số biện pháp, các hình thức tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, giúp trẻ nhận biết được vị thế, khả năng và các phẩm chất của bản thân mình được tốt hơn
2.2.2 Nội dung điều tra
Điều tra nhận thức của giáo viên tại các lớp 5 – 6 tuổi về việc giáo dục kỹ năng
tự nhận thức bản thân cho trẻ
Trang 39Điều tra các biện pháp giáo viên đã sử dụng để giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Thực trạng về mức độ tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
2.2.3 Phương pháp điều tra
2.2.3.1 Xây dựng phiếu điều tra đối với giáo viên bằng phiếu (an – két)
* Mục đích: Qua ý kiến của giáo viên để nắm bắt được nhận thức của giáo viên
về việc giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi với các biện pháp mà giáo viên thường sử dụng để giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ ở lớp mình
- Bước 3: Thu thập phiếu điều tra và xử lý số liệu
+ Xử lý số liệu trên cơ sở các câu hỏi đã đặt ra trên phiếu
+ Tổng hợp số liệu trên bảng
+ Phân tích kết quả điều tra kết hợp với thông tin thu được từ phương pháp khác
để làm sáng tỏ thực trạng
2.2.3.2 Trao đổi trực tiếp với giáo viên
* Mục đích: Nhằm bổ sung số liệu và làm sáng tỏ những thông tin thu được từ phương pháp trên
* Cách tiến hành: Trao đổi trực tiếp với giáo viên dạy các lớp 5 – 6 tuổi để tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi khi giáo viên tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng
tự nhận thức bản thân của trẻ 5 – 6 tuổi
2.2.3.3 Khảo sát chất lượng học sinh
* Mục đích: Nhằm tìm hiểu về kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Trang 40* Cách tiến hành:
- Bước 1: Xây dựng câu hỏi, bài tập khảo sát (Phụ lục)
+ Bài tập khảo sát được xây dựng dưới dạng câu hỏi, trò chơi và bài tập tình huống dựa trên các tiêu chí đánh giá đã được xây dựng
- Bước 2: Tiến hành khảo sát trên 115 trẻ, cụ thể:
+ 28 trẻ lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng
+ 29 trẻ lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Hùng Vương
+ 29 trẻ lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Thạch Sơn
+ 29 trẻ lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Thu Ngạc
- Bước 3: Thu thập bài khảo sát và xử lý số liệu theo hệ thống câu hỏi ghi trên phiếu
+ Tổng hợp số liệu và phân loại học sinh theo mức độ cao, trung bình và mức độ thấp
2.2.4 Tiêu chí và thang đánh giá
2.2.4.1 Tiêu chí đánh giá
Tiêu chí 1: Trẻ có khả năng tự nhận thức về vị thế của bản thân (3 điểm)
+ Trẻ biết được tên gọi của mình, ông bà, bố mẹ, các anh, chị, em có trong gia đình…
+ Trẻ nhận biết được giới tính của bản thân và của mọi người xung quanh trẻ
+ Trẻ biết được tên trường, lớp, địa chỉ gia đình của mình
Tiêu chí 2: Tự nhận thức về hình thức bên ngoài của bản thân (3 điểm)
+ Trẻ biết được hình dáng, diện mạo bên ngoài của bản thân
+ Trẻ biết được bộ phận trên cơ thể cũng như vị trí và chức năng của các bộ phận trên cơ thể
Tiêu chí 3: Tự nhận thức về khả năng của bản thân (3 điểm)
+ Trẻ nhận biết được các khả năng của mình về vận động, điều chỉnh vận động, cảm giác của cơ thể
+ Trẻ nhận biết được khả năng ca hát, nhận biết được con số, hình dạng chữ cái, biết kể chuyện, đọc thơ và có những nhận biết về xã hội
Tiêu chí 4: Tự nhận thức về phẩm chất của bản thân (3 điểm)