1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.

85 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Hoạt Động Vui Chơi Cho Trẻ 5-6 Tuổi Tại Các Trường Mầm Non Quận Long Biên, Hà Nội Đáp Ứng Bộ Chuẩn Trẻ 5 Tuổi
Tác giả Nguyễn Hồng Thu
Người hướng dẫn PGS.TS: Nguyễn Khắc Bình
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Quản lí giáo dục
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 359,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI.

Trang 1

Hà Nội, Năm - 2021

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Thu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bản luận văn được hoàn thành tại Học viện Khoa học xã hội - Viện hàn lâm Khoa học Việt Nam dưới sự hướng dẫn của PGS.TS: Nguyễn Khắc Bình Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy Bình - Người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Xin bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn sâu sắc tới Phòng Đào tạo sau Đại học, các Thầy giáo, Cô giáo đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.

Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế do vậy luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được

sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn học viên để luận văn này được hoàn chỉnh hơn.

Tác giả luận văn Nguyễn Hồng Thu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI 8

1 Các khái niệm cơ bản 8

1.1.Khái niệm hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 8

1.2.Quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 10

1.3.Hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 16

1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 30 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI 33

2.1.Khái quát về khảo sát thực trạng 33

2.2.Thực trạng hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non Quận Long Biên, Thành Phố Hà Nội 35

2.3.Thực trạng quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi 41

2.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi 49

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5- 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI………53

3.1.Những nguyên tắc chỉ đạo đề xuất biện pháp 53

3.2.Một số biện pháp quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non quận Long Biên, Hà Nội đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi 54

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 80

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1 Đối tượng tham gia khảo sát 33Bảng 2.2 Đánh giá của CBQL, GVMN về vai trò, mục tiêu tầm quan trọng của

HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi 35Bảng2.3 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GVMN về các nội dung HĐVC cho trẻ 5-6

tuổi ở trường MN 36Bảng 2.4 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về các phương pháp tổ chức HĐVC cho

trẻ 5-6 tuổi 38Bảng2.5 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về các hình thức tổ chức HĐVC cho trẻ

5-6 tuổi ở các trường MN 39Bảng2.6 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về quản lí công tác lập kế hoạch HĐVC

cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non 42Bảng 2.7 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về quản lí công tác tổ chức, chỉ đạo

HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN 44Bảng 2.8 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về quản lí kiểm tra, đánh giá kế hoạch tổ

chức HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN 46Bảng 2.9 Đánh giác của đội ngũ CBQL, GV về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí

HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN 49Bảng 3.1 Đánh giá sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 70Bảng 3.2 Đánh giá sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 71

Biểu đồ 1 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về các điều kiện hỗ trợ hoạt động vui

chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 40Biểu đồ 3 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về các điều kiện hỗ trợ hoạt động vui

chơi trẻ 5-6 tuổi ở trường MN 48Biểu đồ 4 Mối quan hệ tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 73

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống giáo dục ( GD) quốc dân, Giáo dục mầm non (GDMN) là cấp học đầutiên đặt nền móng cho sự phát triển tiền đề về sự hình thành nhân cách, năng lực con người chotương lai Các nghiên cứu cho thấy ở lứa tuổi mầm non này cần được chú trọng và quan tâm đặcbiệt

Theo chương trình GDMN ban hành, hoạt động vui chơi (HĐVC) đóng vai trò chủ đạocủa trẻ mầm non (MN) nói chung và trẻ mẫu giáo (MG) nói riêng Thông qua HĐVC giúp chotrẻ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội Đó là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành nhâncách, là phương tiện để phát triển toàn diện nhân cách Việc tổ chức HĐVC cho trẻ là yếu tốquan trọng không chỉ đáp ứng nhu cầu chơi của trẻ mà còn tạo điều kiện cho trẻ phát triển vềnăm mặt phát triển: thể chất, thẩm mĩ, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội Vì vậy, ta thấyđược vai trò của việc tổ chức cho trẻ vui chơi rất quan trọng và có ý nghĩa GD rất to lớn trongviệc hoàn thiện nhân cách và năng lực cho trẻ

Để nhấn mạnh rõ vai trò quan trọng của HĐVC đối với trẻ MN nói chung và trẻ MG nóiriêng, Luật giáo dục 2013 đã viết: “Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức cácHĐVC để giúp trẻ em phát triển toàn diện, chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ” [26].Luật giáo dục số 2019, đã ghi rõ: “Giáo dục MG phải tạo điều kiện cho trẻ em được vui chơi, trảinghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứngthú của trẻ em” [27] Nên công tác quản lí HĐVC cho trẻ MN nói chung và trẻ MG nói riêng làhết sức quan trọng, góp phần giúp cho trẻ phát triển toàn diện

Vui chơi đối với trẻ mẫu giáo rất quan trọng và đặc biệt quan trọng hơn khi trẻ được vuichơi các hoạt động nhằm đáp ứng bộ chuẩn 5 tuổi Đây là hoạt động vui chơi có mục đích cụ thể

rõ ràng, có những định hướng cơ bản phù hợp với từng chỉ tiêu của Bộ chuẩn Vì vậy người giáoviên cần tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ có mục đích, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí nhằmgiúp trẻ phát triển toàn diện và hình thành nhân cách của trẻ sau này Vui chơi có vai trò to lớn

ấn định tính chất của quá trình giáo dục trẻ MN Chương trình Giáo dục MN do Bộ Giáo dục và

Đào tạo ban hành 2009 đã nêu rõ: "Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo

điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đadạng,đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi” [5].

Theo đó, Hoạt động vui chơi là một trong các loại hình hoạt động của trẻ ở trường mầmnon, là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo được giáo viên mầm non tổ chức, hướng dẫn nhằm giúptrẻ thỏa mãn nhu cầu vui chơi, đồng thời giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ lứa tuổi này Đểthực hiện tốt vai trò chủ đạo của hoạt động vui chơi, giáo viên mầm non cần có hệ thống kỹ năng

Trang 9

cần thiết như kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng thiết kế môi trường hoạt động trong các góc và kĩ năng

tổ chức thực hiện kế hoạch

Quận Long Biên, thành phố Hà Nội có 32 trường MN công lập Thực tế ở các trường

MN Quận Long Biên hiện nay, bên cạnh những thành tích đạt được về tổ chức thực hiện cácchuyên đề, về công tác bán trú, các phong trào chuyên môn mà các trường đã đạt được trongnhững năm qua Việc quản lí để tổ chức HĐVC ở trẻ MN nói chung và trẻ MG 5-6 tuổi nói riêngvẫn còn nhiều bất cập, mặt bằng đại trà chưa đáp ứng được chương trình chăm sóc-giáo dục (CS-GD) mới hiện nay Cụ thể là một số trường cách quản lí còn áp đặt, chưa phát huy được tínhnăng động, sáng tạo của giáo viên (GV) Có thời điểm quản lí chỉ đạo hướng dẫn chưa chặt chẽHĐVC của trẻ dẫn đến tình trạng trẻ không mạnh dạn chuyển góc chơi, đôi khi chơi giống như

là những “thợ chơi” Nguyên nhân có thể do năng lực chuyên môn của GV còn hạn chế và Ban

giám hiệu (BGH) còn chủ quan trong công tác quản lí Đồng thời các hoạt động vui chơi gắn vớitừng chỉ số trong Bộ chuẩn trẻ 5 tuổi còn ít nên trẻ chưa phát huy được tính sang tạo của mìnhtrong khi chơi

Từ những lí do trên thì việc nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6

tuổi tại các trường mầm non quận Long Biên, Hà Nội đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi” là hết sức

cần thiết, góp phần đóng góp trong việc nâng cao chất lượng GD cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường Mầmnon quận Long Biên, Hà Nội đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Như chúng ta biết rằng, với trẻ em hoạt động chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển

khả năng suy nghĩ và giao tiếp Nhà tâm lí học Lêônchiev khẳng định: “HĐVC và trung tâm là

trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ) là hoạt động chủ đạo của trẻ MG Thông qua trò chơi giúp trẻ hình thành và phát triển cấu trúc tâm lí mới trong nhân cách của trẻ Hoạt động chơi tạo ra những biến đổi về chất, có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành nhân cách trẻ MG và chơi là tiền đề cho hoạt động họctập ở lứa tuổi tiếp theo Môi trường GD mà trong đó môi trường vui chơi là một phần không thể thiếu, giữ vai trò quan trọng góp phần quyết định sự thành công của công tác GD nói chung và của việc tổ chức HĐVC của trẻ ở trường MN nói riêng” [2].

Vào thời Khổng Tử, ông đã có phương pháp GD, học là phải luyện tập thường xuyên thì

mới giúp con người có những nét tính cách riêng “học mà cứ thường thường tập luyện thì trong

bụng lại không thỏa thích hay sao?” Và học phải đi đôi với luyện tập để trở thành thói quen, hình thành những nét tính cách ngay từ lúc nhỏ “tập được từ lúc nhỏ như thiên tính, thói quen như tự nhiên” Với phương pháp này ông muốn phải thường xuyên tổ chức luyện tập cho trẻ

trong quá trình GD con người [36]

Trang 10

Maria Montessori (1896 - 1952) là bác sĩ, nhà tâm lí GD của nước Ý đã dựa trên nềntảng của tâm lí học phát triển và cho rằng trẻ em là một chủ thể tích cực, chủ động, tự lựa chọnnội dung và tiến hành hình thức học tập của mình một cách độc lập Hình thức học này gọi là

“hoạt động tự do”, “vui chơi tự do” Trong quá trình CS-GD trẻ em bà đưa ra 8 nguyên tắc GD

cơ bản Trong đó nguyên tắc “vui chơi và nhận thức” được nhắc đến đầu tiên Bà nhấn mạnhđến việc trẻ chỉ được phát triển khi trẻ vui chơi, bà cho rằng vui chơi và nhận thức có mốiquan hệ với nhau, suy nghĩ và vui chơi là một quá trình, GD nên tăng cường các hoạt động vuichơi để mở đường cho hoạt động nhận thức của trẻ [15]

Trong “Sổ tay hiệu phó chuyên môn”, tác giả A.I.Vaxiliepva đánh giá rất cao tầm quan

trọng của công tác quản lí HĐVC cho trẻ Tác giả cho rằng muốn quản lí tốt hoạt động này thìngười quản lí phải quan sát và phân tích được HĐVC của trẻ và nắm vững đặc điểm riêng biệt

của các trò chơi thì mới bồi dưỡng tốt cho GV về công tác tổ chức HĐVC “Quan sát và phân

tích HĐVC đó là một việc rất phức tạp Điều này nó gắn liền với ý nghĩa của trò chơi trong sự phát triển nhân cách của trẻ MG, với vị trí của nó trong quá trình GD ở trường MN, với những thể loại trò chơi khác nhau cùng những đặc điểm riêng biệt Nếu người lãnh đạo nắm vững đặc điểm riêng biệt này thì việc phân tích HĐVC sẽ được sâu sắc hơn và có thể giúp đỡ các cô giáo

MG một cách kịp thời” [1].

Theo Taguma và cộng sự (2012), các quốc gia thường gặp những thách thức trong việc

nâng cao chất lượng GD trẻ em, bao gồm: “Xác định mục tiêu và nội dung; liên kết chương trình

giảng dạy với sự phát triển liên tục của trẻ; thực hiện hiệu quả;đánh giá và thẩm định có hệ thống Ở các quốc gia như Cộng hòa Séc, New Zealand, Na Uy và Scotland, chính phủ đã có nhiều nỗ lực để giải quyết những thách thức này, chẳng hạn như làm rõ các nhiệm vụ và mục đích kì vọng của trường MN; khuyến khích sự tham gia của gia đình vào việc GD trẻ để tăng cường sự kết nối giữa việc học ở nhà và học ở trường MN; phát triển nội dung phù hợp với độ tuổi và nhu cầu của trẻ; cải thiện các điều kiện làm việc hoặc cung cấp các công cụ thiết thực để gia tăng hiệu quả thực hiện GD trẻ; đánh giá việc thực hiện khung giáo trình GD” [28].

Có thể nhận thấy, những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra ý nghĩa của HĐVC đối vớitrẻ MG và công tác quản lí HĐVC của trẻ MG trong mối quan hệ với quản lí, tổ chức các hoạtđộng GD cho trẻ ở trường MN

2.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Tiếp cận công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tổ chức và quản lí HĐVCcho trẻ MG Đối với trẻ MN, việc tổ chức HĐVC cho trẻ MG là vấn đề rất quan trọng trong việc

phát triển đức, trí thể, mĩ “GD MG cần tổ chức mọi hoạt động của trẻ theo kiểu hoạt động của

con người, hoàn thiện HĐVC (mà đặc trưng ở lứa tuổi MG là trò chơi ĐVTCĐ), làm nảy sinh các yếu tố của hoạt động học tập và những tiền đề của hoạt động lao động” [4].

Trang 11

Trong cuốn “Giáo trình tổ chức HĐVC cho trẻ MN” tác giả Đinh Văn Vang cũng đã nói rất nhiều về tầm quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ“Tổ chức chơi cho trẻ là tổ chức

cuộc sống của trẻ” (Đinh Văn Vang, 2009).

Tài liệu bồi dưỡng “Chương trình GDMN” Bộ Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cũng đã

đề cập “Vui chơi là hoạt động chủ đạo, có tác dụng GD và phát triển trẻ toàn diện GV cần hiểu

rõ tầm quan trọng và cách thức tiến hành, đánh giá HĐVC theo những yêu cầu mới trong chương trình GDMN” [4].

- Module mầm non 26: “Ứng dụng phương pháp dạy học tích cực trong tổ chức HĐVC”.

Đã giới thiệu tổng quan: “Chơi được xem như là công việc của trẻ và có ảnh hưởng mạnh mẽ

đến sự phát triển tâm lí và hình thành nhân cách ở trẻ giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ” [32].

- Luận văn thạc sỹ Giáo dục học (2011), của Nguyễn Thị Diệu Hà, đề tài “Một số biện pháp GD

kĩ năng sống cho trẻ MG thông qua trò chơi ĐVTCĐ”.

Tác giả đã trình bày cơ sở lí luận, thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ MG thôngqua trò chơi ĐVTCĐ Trên cơ sở đó tác giả Nguyễn Thị Diệu Hà đã đề xuất một số giải phápchủ yếu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ MG thông qua trò chơi ĐVTCĐ [18]

Vì vậy, dựa trên kết quả nghiên cứu của các công trình kể trên Tuy nhiên, nghiên cứu

quản lí HĐVC cho trẻ MG ở các trường MN công lập Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay chưa có công trình nào thực hiện Vì thế tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt động

vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non quận Long Biên, Hà Nội đáp ứng bộ chuẩn trẻ

5 tuổi” với mong muốn kết quả nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm thông tin về lí luận và

thực tiễn cho vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở lí luận quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN và đánh giá thực trạng vềquản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường 5-6 tuổi Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội để đềxuất một số biện pháp quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường 5-6 tuổi Quận Long Biên,Thành phố Hà Nội; góp phần nâng cao chất lượng GD trẻ 5- 6 tuổi ở các trường MN tại địaphương trong những năm tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 12

- Xác lập cơ sở lí luận quản lí HĐVC cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN

- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở cáctrường MN Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

- Đề xuất các biện pháp quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN Quận LongBiên, Thành phố Hà Nội đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi và khảo nghiệm nhận thức về tính cấp thiết,tính khả thi của các biện pháp đề xuất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN Quận Long Biên, Thành phố Hà Nộiđáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi

Bồ Đề, MN Tràng An Phường Giang Biên quận Long Biên, Hà Nội

Về thời gian nghiên cứu: Các hồ sơ và số liệu mà Luận văn nghiên cứu từ: Năm học2018-2019 đến Năm học 2020- 2021

Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lí HĐVC cho trẻ 5-6tuổi ở các trường MN Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

Giới hạn về nội dung: Quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN Quận Long Biên,Thành phố Hà Nội dựa trên Chương trình GDMN ban hành (2016) đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các kếtquả nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến HĐVC cho trẻ ở trường MN để xâydựng cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Được sử dụng để thu thập ý kiến của các loại đốitượng cần thiết, liên quan đến luận văn, đặc biệt là cán bộ quản lí (CBQL), GV, cha mẹ học sinh(CMHS) và trẻ nhằm khảo sát thực trạng HĐVC và quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường

MN, để khảo sát tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu các quy chế/quy định/tàiliệu hướng dẫn về HĐVC cho trẻ ở trường MN; các văn bản liên quan đến HĐVC cho trẻ 5-6tuổi ở các trường MN của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT)

- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn CBQL, GV về quản lí HĐVC cho trẻ 5-6

Trang 13

tuổi ở các trường MN

5.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu, kết quả nghiên cứu thu thậpđược trong quá trình nghiên cứu

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Về lí luận

Hệ thống hóa được các vấn đề lí luận về quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MNtrong bối cảnh hiện nay; hình thành khung lí thuyết về quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở cáctrường MN theo bộ chuẩn trẻ 5 tuổi

6.2 Về thực tiễn

Làm rõ thực trạng quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN Quận Long Biên, Thành phố

Hà Nội Đề xuất được một số biện pháp quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN QuậnLong Biên, Thành phố Hà Nội đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi

Các biện pháp cấp thiết và khả thi, nếu được thực hiện đồng bộ sẽ góp phần đổi mới công tácquản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN Chương 2: Thực trạng quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN Quận

Long Biên, Thành phố Hà Nội

Chương 3: Biện pháp quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở

TRƯỜNG MẦM NON ĐÁP ỨNG BỘ CHUẨN TRẺ 5 TUỔI

1.Các khái niệm cơ bản

1.1 Khái niệm hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

Như vậy từ 3 tuổi đến 6 tuổi được gọi là trẻ em trong độ tuổi MG Trẻ em khi đến tuổi này cầnphải được đến các trường MN để học tập, vui chơi cùng bạn bè dưới sự chỉ dẫn của các thầy côgiáo Tùy vào độ tuổi của các bé mà trường sẽ xếp các bé vào các lớp khác nhau Lớp 3 tuổiđược gọi là lớp mầm; 4 tuổi là lớp chồi và lớp 5 tuổi lớn nhất được gọi là lớp lá Mỗi một lớpđều được các thầy, cô giáo hướng dẫn những kĩ năng, kiến thức phù hợp với nhận thức của cácbé

1.1.2 Hoạt động vui chơi

Vui chơi là hoạt động cần thiết cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, nhưng đối với trẻ thơ thìchơi chính là cuộc sống thực của chúng Không vui chơi đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không phải làsống

Hoạt động vui chơi thường đi kèm với đồ chơi, đồ vật và đạo cụ tùy theo hoàn cảnh họctập và tiêu khiển Một vài HĐVC xác định mục đích rõ ràng, có cả luật chơi thì được gọi là tròchơi

1.1.3 HĐVC cho trẻ MG ở trường MN

Khác với HĐVC nói chung của con người, HĐVC của trẻ MG là hoạt động trẻ môphỏng, tái tạo lại các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên trong xãhội bằng việc nhập vai hay đóng vai một nhân vật nào đó

Đặc biệt ở tuổi MG, vui chơi là hoạt động chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ Nhiều trò chơi xuất hiện ở lứa tuổi này, như trò chơi ĐVTCĐ, trò chơi xây dựng, trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi đóng kịch…trong đó trò chơi ĐVTCĐ đóng vị trí trung

Trang 15

tâm Qua chơi trẻ thoả mãn nhu cầu được chơi với nhau, được chơi cùng nhau, được thoảmãn nhu cầu tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh Thông qua chơi trẻ có điều kiện pháttriển toàn diện về thể chất, nhận thức - trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mĩ Chính

vì thế vui chơi trở thành cuộc sống của trẻ MG và vui chơi trở thành hoạt động chủ đạo củatrẻ MG

“Vui chơi là hoạt động có động cơ nằm trong quá trình chơi của trẻ khi chơi trẻ không chủ tâm vào một lợi ích thiết thực nào Chơi mang lại cho trẻ một trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn khởi, dễ chịu Vui chơi cần cho mọi người ở mọi độ tuổi Đối với trẻ MG, vui chơi là hoạt động tạo nên cuộc sống của chúng” [2].

Chúng ta có thể hiểu: HĐVC là một trong các loại hình hoạt động của trẻ ở trường MN,

là hoạt động chủ đạo của trẻ MG được người lớn tổ chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn cácnhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời nhằm GD và phát triển toàn diện cho trẻ ở lứa tuổi này

1.1.4 Phân loại trò chơi trong HĐVC của trẻ MG

Trò chơi của trẻ MG rất đa dạng và phong phú về nội dung, tính chất cũng như cách thức

tổ chức chơi Do đó, việc phân loại trò chơi một cách chính xác chưa đạt được

Ở nước ta, trong những năm 60, trò chơi của trẻ MG được phân thành hai nhóm.Nhóm 1: Trò chơi phản ánh sinh hoạt

Nhóm 2: Trò chơi vận động

Từ những năm 70, sự phân loại trò chơi của trẻ MG chưa được thống nhất Các nhà GDđược học và tiếp cận với quan điểm phân loại của nước nào thì đứng về quan điểm phân loại củanước đó

Từ những năm 80 trở lại đây, trong các trường MN ở nước ta vận dụng cách phân loại tròchơi theo quan điểm của Liên Xô (cũ) Theo quan điểm này, trò chơi của trẻ MG được phânthành hai nhóm chính

- Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo bao gồm các trò chơi sau: Trò chơi

ĐVTCĐ; trò chơi xây dựng - lắp ghép; trò chơi đóng kịch

- Nhóm 2: Nhóm trò chơi có luật bao gồm các trò chơi sau: Trò chơi học tập; trò chơivận động

Cho đến nay, xung quanh vấn đề phân loại trò chơi của trẻ MG ở nước ta vẫn còn nhiềutranh luận, chưa có sự thống nhất

1.2 Quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

1 2.1 Quản lí

Quản lí không chỉ là một dạng hoạt động cụ thể mà đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật

và là một nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại Chính vì thế, lí luận về quản lí ngày càngphát triển phong phú.Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lí:Quản lí xuất

Trang 16

hiện khi con người hình thành hoạt động nhóm Qua lao động, để duy trì sự sống đòi hỏi phải có

sự phối hợp giữa các cá nhân con người Hoạt động quản lí là một hiện tượng tất yếu phát triểncùng sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống

nhất thực hiện một mục đích chung.Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính xã hội trực

tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lí, nhằm thiết lập sự phối hợp giữ những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [35] Các Mác nói lên bản chất của quản lí là một hoạt động lao động để

điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người Theo F Taylor:

“Quản lí là biết rõ ràng, chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ

đã hoàn thành tốt công việc như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [dẫn theo 19].

Ở Việt Nam, theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “quản lí là sự tác động có tổ chức, có tính

hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [13].

Hai tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Quản lí là quá trình đạt

đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [17].

Theo Nguyễn Thị Liên Diệp cho rằng “Quản trị là một phương pháp làm cho những

hoạt động được hoàn thành với một hiệu suất cao, bằng và thông qua những người khác Phương thức này bao gồm những chức năng hay hoạt động cơ bản mà quản lí có thể sử dụng.

Đó là hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm soát” [21].

Trong từ điển Tiếng Việt lại định nghĩa “Quản lí là trông nom, xếp đặt công việc trong

cơ quan, xí nghiệp” [33].

Như vậy có thể hiểu: Quản lí là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, có kếhoạch và hệ thống của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí dựa trên những thông tin về tìnhtrạng của đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Dù có rất nhiều khái niệm khác nhau nhưng trong đó đều thể hiện rất rõ các thành tốquản lí đó là: chủ thể quản lí; đối tượng quản lí; mục tiêu quản lí; công cụ quản lí; phương phápquản lí

Từ những cách tiếp cận khác nhau của các tác giả ta có thể thấy các tác giả quan điểmthống nhất với nhau: Quản lí là sự tác động liên tục, phải dự đoán, có định hướng, có tổ chức, lập

kế hoạch, biết lựa chọn các tác động, phối hợp kiểm tra để đạt được mục tiêu Vậy khái niệmquản lí có thể là: Quản lí là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lí lên khách thể

Trang 17

quản lí bằng việc vận dụng các chức năng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả tiềm năng và cơ hộicủa tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra Quản lí là sự tác động điều khiển, hướng dẫn các quy trình xãhội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã xác định.

1.2.2 Quản lí giáo dục (QLGD)

Khái niệm QLGD có nhiều cách giải thích khác nhau:

QLGD là một bộ phận trong quản lí nhà nước XHCN Việt Nam Cũng như bất kì một hoạt động

xã hội, hoạt động GD cần được tổ chức và quản lí với các cấp độ khác nhaunhằm thực hiện cóhiệu quả mục tiêu GD phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và nhân loại

- Tác giả Đặng Quốc Bảo khái quát “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành

phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu

xã hội” [11].

- Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý

thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở mọi cấp khác nhau đến tất các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở qui luật của quá trình GD về phát triển thể lực, trí lực, tâm lực của học sinh” [30].

- Xét theo quan điểm của lí thuyết hệ thống thì QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức,

có tính hướng đích của chủ thể quản lí lên hệ thống GD nhằm tạo ra tính “trồi” của hệ thống, sửdụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống tới mục tiêumột cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động

- Tác giả Nguyễn Gia Quý cho rằng: “QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản

lí đến khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức

và vận dụng đúng những qui luật khách quan của hệ thống GD quốc dân” [16].

Theo từ điển Giáo dục học: “QLGD (nghĩa hẹp), chủ yếu là quản lí GD thế hệ trẻ, GD

nhà trường, GD trong hệ thống, GD quốc dân” [34].

QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí ở các cấpkhác nhau đến mọi yếu tố trong hệ thống nhằm đảm bảo chu trình vận hành của các cơ quan trong

hệ thống GD và tiếp tục duy trì, phát triển hệ thống cả về số lượng và chất lượng Hay nói cáchkhác, QLGD là một quá trình diễn ra những tác động quản lí, đó là những hoạt động điều hành cáclực lượng GD nhằm đẩy mạnh công tác GD đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội

Như vậy, QLGD chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lí trong việcvận dụng nguyên lí, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.Những tác động này có tính khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoahọc, có kế hoạch trong việc dạy và học theo mục tiêu đào tạo chung.Có thể nói, QLGD là mộtcông việc hết sức quan trọng trong lĩnh vực GD&ĐT, nội dung của QLGD bao gồm: Tham giaquản lí học sinh, sinh viên, quản lí đào tạo và cơ sở vật chất, phương tiện phục cho công tácGD&ĐT, tổ chức các hoạt động GD ngoài giờ lên lớp và các công tác khác ở các trường MN,phổ thông và dạy nghề, quản lí chuyên môn, hành chính, nhân sự tại các Sở GD&ĐT, Phòng

Trang 18

GD&ĐT; làm công tác giảng dạy khoa học QLGD ở các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng GV, cán bộ,nhân viên quản lí trong và ngoài ngành GD; nghiên cứu khoa học quản lí và quản lí GD ở các cơ

sở nghiên cứu, các cơ quan tham mưu hoạch định chiến lược quản lí xã hội nói chung và pháttriển GD nói riêng

1.2.3 Quản lí GDMN

Quản lí GDMN là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của QLGD Quản lí GDMNgiúp thực hiện mục tiêu của bậc học MN Chiến lược phát triển GD Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020

đã xác định: “đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ em trong độ tuổi

nhà trẻ và 80% trong độ tuổi MG được chăm sóc, GD MN giảm xuống dưới 10%.” phấn

đấu cho mục đích trên, ngay từ bây giờ cần thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng CS-GD trẻtrên cơ sở phát triển đa và ổn định [7] Phải đổi mới phương pháp nuôi dạy bằng những cải tiến

cơ bản toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp tổ

chức GD và nuôi dưỡng trẻ cũng như công tác quản lí Đó là sự đầu tư của nhà nước vàtăng cường tham gia của toàn xã hội chăm lo cho trẻ em

Quản lí MN là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của các cấp quản líđến hoạt động của các cơ sở GDMN, nhằm thực hiện tốt mục tiêu: Chăm sóc, nuôi dưỡng và GDtrẻ em lứa tuổi MN

Quản lí GDMN có nhiều cấp như: Bộ GD&ĐT, Vụ MN, các Sở GD &ĐT, PhòngGD&ĐT Các cấp quản lí này có nhiệm vụ quản lí các hoạt động của các trường MN về công tácCS-GD trẻ, trong đó có quản lí HĐVC cho trẻ MG

Từ những khái niệm trên có thể hiểu: Quản lí GDMN là tác động có mục đích, có kếhoạch của chủ thể quản lí đến tập thể cán bộ GV để thực hiện được mục tiêu CS- GD trẻ Nóicách khác: Quản lí GDMN là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đếnkhách thể quản lí nhằm đẩy mạnh, phát triển công tác CS-GD trẻ và đạt được mục tiêu của bậchọc MN

1.2.4 Quản lí trường MN

Nhà trường là đơn vị cơ sở của hệ thống GD, nơi tổ chức các hoạt động GD và đào tạo để hìnhthành nhân cách cho con người đáp ứng yêu cầu của xã hội Để nhà trường vận hành hiệu quảcần thiết phải thực hiện chức năng quản lí,

nhà trường cần được quản lí bởi vai trò của các nhà quản lí mà đứng đầu là hiệu trưởng nhàtrường

Trường MN là đơn vị cơ sở của bậc GDMN, là khách thể quan trọng của tất cả các cấp

quản lí GDMN “Quản lí trường MN là khâu cơ bản của hệ thống quản lí ngành học Đó là quá

trình có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí (hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ GV để chính

họ tác động trực tiếp đến quá trình CS-GD trẻ nhằm thực hiện mục tiêu GD đối với từng độ tuổi” [24].

Trang 19

Quản lí nhà trường là quá trình tác động của hiệu trưởng nhằm thực hiện đường lối GDcủa Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí GD, đểtiến tới mục tiêu GD, với thế hệ trẻ và tới từng học sinh.

Điều lệ trường MN quy định rõ: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lí các

hoạt động của trường, do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp quận, huyện bổ nhiệm đối với trường công lập, bán công hoặc công nhận đối với trường dân lập, tư thục theo đề nghị của Trưởng phòng GD - ĐT” [8].

Quản lí trường MN: “là tập hợp những tác động tối ưu của hiệu trưởng đến tập thể cán

bộ GV để chính họ lại tác động trực tiếp đến quá trình CS-GD trẻ nhằm thực hiện mục tiêu yêu cầu đào tạo” [23].

Vậy ta có thể hiểu quản lí trường MN là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản

lí (hiệu trưởng), đến tập thể cán bộ GV nhằm tận dụng các nguồn do nhà nước đầu tư, lực lượng

xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt độngcủa nhà trường mà tiêu điểm hội tụ là quá trình CS-GD trẻ Thực hiện mục tiêu kế hoạch đàotạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới Có thể hiểu ngắn gọn: Quản lí trường MN là tập hợpnhững tác động tối ưu, có mục đích của hiệu trưởng đến tập thể cán bộ GV để chính họ lại tácđộng trực tiếp đến quá trình CS-GD trẻ nhằm thực hiện mục tiêu yêu cầu đào tạo hay quản lítrường MN là những hoạt động, là các tác nghiệp của hiệu trưởng tác động đến tập thể, nhữngcon người nhằm tổ chức, điều khiển phối hợp các hoạt động của họ trong quá trình GD để đạtđược mục tiêu CS-GD trẻ

Công tác quản lí của hiệu trưởng trường MN bao gồm: Quản lí công tác CS-GD trẻ,trong đó có quản lí HĐVC cho trẻ; quản lí về nhân lực và quản lí về cơ sở vật chất Hoạt độngcủa trường MN rất phức tạp và đa dạng Người hiệu trưởng làm tốt công tác quản lí trường MN

sẽ góp phần thực hiện các mục tiêu cơ bản của nhà trường

- Thu hút ngày càng đông số trẻ trong độ tuổi đến trường trên địa bàn hành chính nơi trường đóng

- Đảm bảo được chất lượng CS-GD trẻ, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện

- Xây dựng tập thể cán bộ GV trong trường vững mạnh, đủ sức thực hiện các nhiệm vụ đặt ra

- Sử dụng, bảo quản tốt cơ sở vật chất kĩ thuật của trường, phục vụ đắc lực cho yêu cầu CS-GD trẻ

- Thu hút được các lực lượng xã hội tham gia hỗ trợ xây dựng nhà trường: Từ đầu tư cơ sở vậtchất đến việc tạo ra môi trường GD thống nhất và tham gia quản lí nhà trường

- Phát huy được ý thức tự quản, làm chủ của mỗi cá nhân và các bộ phận trong trường Tạo nên

sự đoàn kết nhất trí trên cơ sở nhiệm vụ trung tâm của nhà trường.Trong trường MN phải có bộmáy tổ chức Bộ máy quản lí trường MN là hình thức liên kết các yếu tố thuộc chủ thể quản lí.Nói cách khác: Bộ máy quản lí là tập hợp các cấp và các bộ phận khác nhau thuộc chủ thể quản

Trang 20

lí được chuyên môn hoá, được xác định quyền hạn và nhiệm vụ rõ ràng, có liên hệ và phụ thuộclẫn nhau để thực hiện các chức

năng quản lí nhằm đạt các mục tiêu quản lí đã xác định

Bộ máy quản lí trường MN gồm có: “Ban giám hiệu nhà trường, tổ chức Đảng và các

đoàn thể, hội đồng sư phạm, tổ chuyên môn, các tổ chức khác”[23].

* Mục tiêu đào tạo của trường MN: Là hình thành cho trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Trẻ khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà cân đối

- Giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn những người gần gũi (bố mẹ, bạn bè, cô giáo…)thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên

- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quanh

- Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kĩ năng sơ đẳng (quan sát, sosánh phân tích, tổng hợp, suy luận…) cần thiết để vào trường phổ thông.Để đạt được mục tiêutrên thì cần thực hiện tốt chương trình CS-GD trẻ, trong đó có việc tổ chức HĐVC cho trẻ; nên việcquản lí HĐVC là một công việc rất quan trọng của BGH ở trường MN Việc quản lí HĐVC nằmtrong hoạt

động của hội đồng sư phạm Đó là hoạt động của BGH nhà trường, cụ thể là của phó hiệu

trưởng phụ trách chuyên môn chịu sự phân công, chỉ đạo của hiệu trưởng

1.2.5 Quản lí HĐVC cho trẻ MG ở trường MN

HĐVC đóng vai trò là hoạt động chủ đạo của trẻ MG, là nội dung quan trọng trong hoạtđộng CS-GD trẻ MG HĐVC là khâu quan trọng trong QLGD về mặt chuyên môn cho trẻ MG

Quản lí HĐVC của trẻ MG là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà quản

lí (hiệu trưởng nhà trường/tổ trưởng chuyên môn/giáo viên mầm non) đến các yếu tố của hệthống sư phạm nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ, kế hoạch tổ chức HĐVC để hình thành và pháttriển nhân cách cho trẻ theo mục tiêu của HĐVC nói riêng, mục tiêu GDMN nói chung

HĐVC có vai trò phát triển toàn diện cho trẻ về 5 mặt phát triển: Thể chất, thẩm mĩ, ngônngữ, nhận thức, tình cảm-xã hội

Trong trường MN, BGH đứng đầu là hiệu trưởng, chịu trách nhiệm quản lí điều hànhtoàn bộ hoạt động chuyên môn về công tác CS-GD trẻ, trong đó có HĐVC của trẻ MG

Vậy ta có thể hiểu: Quản lí HĐVC cho trẻ MG là hoạt động có mục đích của chủ thểquản lí (BGH) nhằm tác động đến hoạt động của giáo viên mẫu giáo (GVMG) trong việc tổ chứcHĐVC cho trẻ để đạt được mục tiêu phát triển toàn diện các lĩnh vực trong đời sống tâm lí chotrẻ MG

1.3 Hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

1.3.1 Vai trò của hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Trang 21

HĐVC vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển của trẻ MG Thông qua chơitrẻ thoả mãn nhu cầu được chơi với nhau, được chơi cùng nhau, được thoả mãn nhu cầu tìm tòi,khám phá thế giới xung quanh Trẻ có điều kiện phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức - trítuệ, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội, thẩm mĩ Chính vì thế vui chơi trở thành cuộc sống của trẻ MG

và vui chơi trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ MG

Hoạt động vui chơi là phương tiện GD và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ 3 đến 6tuổi, cụ thể:

HĐVC giúp phát triển trí tuệ cho trẻ MG: Tổ chức trò chơi học tập, trò chơi đóng vaitheo chủ đề, lắp ghép - xây dựng giúp trẻ củng cố, chính xác hóa, đồng thời làm phong phú vốnhiểu biết của trẻ về cuộc sống xung quanh và về bản thân; phát triển nhu cầu, xúc cảm trí tuệ vàhứng thú nhận thức; giúp trẻ hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, phát triển ngônngữ

HĐVC là phương tiện GD và phát triển đạo đức cho trẻ MG: Tạo điều kiện hướng trẻ đến vớicái đẹp trong hành vi giao tiếp, ứng xử, từ đó, trẻ dễ tiếp nhận các quy tắc đạo đức và thực hiện

nó một cách tự giác; Thông qua HĐVC, một số phẩm chất đạo đức cần thiết của con người tronghoạt động tập thể như: thông cảm, chia sẻ, hòa nhập, đoàn kết, nhân ái, dũng cảm cũng đượchình thành

HĐVC là phương tiện GD và phát triển thể chất cho trẻ MG: Việc tổ chức các trò chơi vậnđộng, trò chơi dân gian trong và ngoài lớp học với sự huy động phối hợp của các quá trình sinh học,

hệ vận động giúp trẻ tăng cường sức khỏe, bảo đảm sự tăng trưởng hài hoà, cân đối; rèn luyện các

kĩ năng, kĩ xảo cơ bản và những phẩm chất vận động

HĐVC là phương tiện GD và phát triển thẩm mĩ cho trẻ MG: Tạo điều kiện để trẻ cảmnhận cái đẹp trong tự nhiên, nghệ thuật và cuộc sống Trong HĐVC, trẻ có điều kiện để đến vớicái đẹp, thể hiện năng lực sáng tạo cái đẹp HĐVC là phương tiện GD và phát triển lao động chotrẻ MG: Hình thành cho trẻ nhận thức về lao động của người lớn; hình thành những phẩm chấtcủa người lao động như biết tôn trọng, yêu quý người lao động, giữ gìn sản phẩm lao động; GDtrẻ biết sử dụng, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu lao động; GD một số kĩ năng laođộng giản đơn: lao động tự phục vụ, lao động thủ công, lao động trực nhật, lao động tập thể…

HĐVC là phương tiện GD và phát triển ngôn ngữ cho trẻ: HĐVC góp phần củng cố,chính xác hóa, cụ thể hóa, làm phong phú vốn hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh Từ đó trẻ

có cơ hội trao đổi, tranh luận, phát biểu ý tưởng của mình, từ đó trẻ không những vận dụngnhững hiểu biết đã có mà trong quá trình chơi hấp dẫn, sự hứng thú và tính chủ thể hoạt độngthúc đẩy trẻ tới chiếm lĩnh tri thức mới

HĐVC là phương tiện GD và phát triển nhận thức cho trẻ: HĐVC trở thành hoạt độngchủ đạo của trẻ và chi phối tất cả các hoạt động khác của trẻ, có ảnh hưởng lớn đến các mặt pháttriển của trẻ, góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ MG, chuẩn bịtốt những điều kiện cần thiết cho trẻ vào học lớp 1

Trang 22

1.3.2 Mục tiêu của hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Mục tiêu của chương trình GDMN cho trẻ MG là: “Nhằm giúp trẻ em từ 3 đến 6 tuổi

phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và thẩm

mĩ, chuẩn bị cho trẻ vào học tiểu học” [9].

Bên cạnh đó, HĐVC là hoạt động chủ đạo của trẻ MG, không nằm ngoài mục tiêu chungcủa chương trình GDMN, là phương tiện GD cho trẻ góp phần

giúp trẻ phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và thẩm mĩ

và chuẩn bị cho trẻ vào học tiểu học

1.3.3 Nội dung hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Trong nội dung thực hiện chương trình GD trẻ MG có 5 lĩnh vực giáo dục phát triển: thểchất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm-kĩ năng xã hội, thẩm mĩ Những nội dung này được thựchiện thông qua HĐVC GV các trường lựa chọn nội dung cho HĐVC theo kế hoạch năm, tháng,tuần, ngày Hoạt động học ở MG được tổ chức chủ yếu dưới hình thức chơi Nội dung chơi củatrẻ rất phong phú và đa dạng Trẻ ở lứa tuổi MG có thể chơi các loại trò chơi cơ bản sau [9]

a Trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi sáng tạo tiêu biểu nhất Trẻ đóng vai người khác, qua

đó phản ánh ấn tượng, biểu tượng và hiểu biết của trẻ về các hoạt động và mối quan hệ xã hội Trẻthích chơi đồ chơi gần giống như vật thật Trẻ tự lập kế hoạch và điều khiển trò chơi trong nhóm,biết thể hiện mối quan hệ qua lại, phối hợp giữa các nhóm chơi trong chủ đề chơi chung, giúp đỡnhau khi chơi và nhận xét đánh giá lẫn nhau

b Trò chơi ghép hình, lắp ráp, xây dựng.

Trò chơi ghép hình, lắp ráp, xây dựng là trò chơi trong đó trẻ sử dụng kĩ năng lắp ghépxây dựng, các nguyên vật liệu lắp ghép xây dựng để phản ánh thế giới không gian hìnhkhối trong công trình của mình Thông qua trò chơi này các công trình xây dựng muôn màu,muôn vẻ được trẻ mô phỏng dựa trên những ấn tượng đã tích lũy được trong cuộc sống hàngngày

c Trò chơi đóng kịch

Trò chơi đóng kịch là dạng của trò chơi phân vai theo các tác phẩm văn học - kịch bảnphỏng theo câu chuyện và các vai là những nhân vật trong câu chuyện Trong quá trình đóngkịch trẻ phản ánh tính cách, hành động, quan hệ xã hội của các nhân vật trong tác phẩm văn học

và thể hiện thái độ đối với nhân vật thông qua điệu bộ, giọng nói và hành động Trò chơi đóngkịch hướng đến hoạt động biểu diễn văn nghệ

d Trò chơi học tập

Trò chơi học tập là trò chơi có luật, có định hướng rõ ràng Loại trò chơi này là hình thức học tập

có hiệu quả của trẻ MG vì thông qua trò chơi trẻ giải quyết nhiệm vụ học tập một cách nhẹnhàng thoải mái Trẻ tiếp nhận nhiệm vụ học tập như một nhiệm vụ chơi Trò chơi học tập giải

Trang 23

quyết nhiệm vụ trí tuệ, làm chính xác hóa các biểu tượng khái niệm đơn giản, củng cố các kiếnthức trẻ

đã tiếp thu trong hoạt động học có chủ đích

e Trò chơi vận động

Là loại trò chơi sử dụng cơ bắp và toàn bộ cơ thể để giải quyết nhiệm vụ vận động nhưmột nhiệm vụ thực hành dưới hình thức vui chơi Trò chơi vận động giúp trẻ phát triển cả vậnđộng thô và tinh, cũng như sự kiểm soát các cơ và các kĩ năng phối hợp Trò chơi vận động giúptrẻ hiểu biết về không gian và hình thành tính tự tin, ý thức tổ chức kỉ luật, tinh thần tập thể

Là loại trò chơi có luật, là phương tiện để GD thể lực cho trẻ Tham gia vào trò chơi, trẻđược rèn luyện và hoàn thiện các vận động cơ bản như: đi, chạy, nhảy, bò, ném, tung, bắt Rènluyện và phát triển các cơ bắp và các phẩm chất thể lực như nhanh, mạnh, bền dẻo, khéo léo,chính xác

f Trò chơi dân gian

Là những trò chơi được sáng tạo, lưu truyền tự nhiên, rộng rãi từ thế hệ này sang thế hệkhác, mang đậm bản sắc văn hóa dân gian không chỉ thỏa mãn nhu cầu chơi của trẻ mà còn gópphần hình thành nhân cách của trẻ

Trong quá trình chơi tùy theo trình độ, vốn kinh nghiệm của trẻ, mức độ của từng tròchơi, GV có thể thay đổi luật chơi cho phù hợp, hấp dẫn và hứng thú Vì vậy cùng mộttrò chơi mà mỗi lần chơi có thể chơi theo cách riêng, không nên bắt trẻ rập khuôn theomột kiểu chơi

g Trò chơi sử dụng phương tiện công nghệ thông tin

Là trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại (Xem ti-vi, chơi vi tính…), chương trìnhnghe nhìn giới thiệu cho trẻ các hoạt động gián tiếp, cung cấp những thông tin cần thiết để trẻ

mở rộng ý tưởng khi chơi Được GV sử dụng các phần mềm giáo dục Edmark – Ngôi nhà củaBailey,… phát triển ý tưởng từ ngân hàng trò chơi cho trẻ sử dụng

1.3.4 Các phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

1.3.4.1 Các phương pháp tổ chức HĐVC

a Phương pháp chung trong tổ chức HĐVC cho trẻ

Mỗi một loại trò chơi có một phương pháp riêng nhưng vẫn dựa trên cách thức tổ chức chung theo 3 bước

Bước 1: Chuẩn bị:

Bước 2: Tổ chức quá trình chơi

* Thoả thuận trước khi chơi

* Tổ chức quá trình chơi

Bước 3: Nhận xét đánh giá sau khi chơi

Trang 24

b Phương pháp cụ thể trong tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ

Trong quá trình tổ chức cho trẻ chơi gắn với các bước thực hiện, GV cần sử dụng phối hợp, sángtạo các phương pháp cụ thể như:

Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm

Nhóm phương pháp trực quan- minh họa

Nhóm phương pháp dùng lời nói

Căn cứ vào địa điểm tổ chức HĐVC có hoạt động chơi trong lớp (gắn với hoạt động chơi

ở các góc; trò chơi trong hoạt động có chủ đích gắn với các loại hình tiết học được tổ chức trongkhông gian lớp học như hoạt động làm quen với Toán, hoạt động làm quen tác phẩm văn học )

và chơi ngoài trời (gắn với hoạt động ngoài trời, hoạt động tham quan, hoạt động đi dạo)

Căn cứ vào số lượng trẻ tham gia vào trò chơi có chơi cá nhân, chơi theo nhóm, chơi toànlớp

Căn cứ vào tính chủ đề của trò chơi có tổ chức HĐVC theo chủ đề của chương trìnhGDMN (do BGD&ĐT đã ban hành) và tổ chức HĐVC theo chủ đề phát sinh (gắn với yếu tốvùng, địa phương, phát triển chương trình HDVC trong chương trình nhà trường)

Căn cứ vào dạng thức sử dụng trò chơi trong các hoạt động theo chế độ sinh hoạt hàngngày của trẻ có tổ chức cho trẻ chơi dưới hình thức HĐVC ở các góc theo chủ đề GD (còn gọi làhoạt động góc - hình thức này thường kết hợp nhiều loại trò chơi, có ít nhất 5 trò chơi ở 5 góchoạt động); tổ chức cho trẻ chơi dưới hình thức chơi tự do trong giờ đón và trả trẻ; tổ chức chotrẻ chơi dưới hình thức trò chơi trong hoạt động gợi mở, hoạt động củng cố của tiết học có chủ

Trang 25

đích; tổ chức cho trẻ chơi trò chơi trong hoạt động ngoài trời; tổ chức cho trẻ chơi trò chơi tronghoạt động chiều theo ý thích của trẻ.

1.3.5.Các điều kiện hỗ trợ hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

* Môi trường vật chất:

Xây dựng môi trường để tổ chức HĐVC cho trẻ phải phù hợp, bố trí không gian hợp lícho các trò chơi vận động, trò chơi xây dựng, trò chơi cát nước và các trò chơi tĩnh, trò chơi dângian Từng thời gian hoặc sau mỗi chủ đề cần thay đổi cách bố trí địa điểm chơi và hoạt động ởcác góc để tạo cảm giác mới lạ, hấp dẫn trẻ thu hút trẻ vàocác HĐVC Đồ dùng đồ chơi phải đẹp,kích thước phù hợp với trẻ, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ khi trẻ tham gia chơi Trang trí cácmảng tường, góc chơi phải hấp dẫn thu hút được trẻ tích cực tham gia hoạt động Thường xuyêntrang trí, sắp xếp, làm đồ dùng đồ chơi, để gây hứng thú cho trẻ Đối với trẻ MG để chuẩn bị tốtcho trẻ vào lớp một cần đặc biệt chú ý tạo môi trường chữ viết phong phú đối với trẻ

* Môi trường tâm lí:

GV cần tạo môi trường vui chơi cho trẻ để trẻ cảm thấy an toàn, ấm áp và những mối quan hệ tincậy để khuyến khích trẻ tự tin khám phá và thể hiện vai chơi, phát triển tình bạn và điều chỉnhhành vi chơi của mình

1.3.6 Quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

1.3.6.1 Tầm quan trọng của quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non.

HĐVC là hoạt động chủ đạo của trẻ MG, một trong các loại hình hoạt động chủ đạo của trẻ MGđược người lớn tổ chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức,đồng thời nhằm GD và phát triển toàn diện cho trẻ Bên cạnh đó HĐVC còn là phương tiện GD

và phát triển trí tuệ cho trẻ, góp phần củng cố, làm phong phú vốn hiểu biết của trẻ về thế giớixung quanh Có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà khoa học về vấn đề này: Tác giả

N.K.Crupxkaia cho rằng: “Trẻ có nhu cầu chơi vì trẻ mong muốn được hiểu biết về cuộc sống

xung quanh, hơn nữa trẻ MG thích bắt chước người lớn và thích được hoạt động tích cực với bạn bè cùng tuổi Chơi giúp trẻ thỏa mãn hai nhu cầu trên” [10] Khi đi phân tích về trò chơi

của trẻ MG, các nhà Tâm lí học hoạt động như X.L.RuBinstein, A.N.Lêônchiev, G.X Coxchuc,

B.Ph.Lomov lại cho rằng: “Chơi xuất hiện không phải do ngẫu nhiên, mà chơi là sản phẩm sáng

tạo của cá nhân thuần túy dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xung quanh Thông qua chơi, trẻ lĩnh hội được kinh nghiệm lịch sử - xã hội và chơi chỉ trở thành phương tiện GD khi có

sự hướng dẫn sư phạm đúng đắn của người lớn” [2].

Nhận xét: Các quan điểm trên về HĐVC của trẻ MG mới chỉ dừng lại ở một khía cạnh nhất địnhhoặc là quá đề cao cơ sở sinh học của trò chơi coi nhẹ tính xã hội của nó hoặc ngược lại Nhữngquan điểm trên chưa phản ánh hết được nguồn gốc của trò chơi và HĐVC của trẻ MG

Trang 26

Trong quá trình chơi trẻ học hỏi được cách ứng xử giao tiếp, thấu cảm được tình ngườicủa con người với con người, con người với thiên nhiên và với thế giới đồ vật… góp phần hìnhthành hành vi kĩ năng xã hội cho trẻ.

- HĐVC là hoạt động chủ đạo của trẻ MG: "trẻ học mà chơi, chơi mà học" Thông qua

vui chơi, hành động chơi với những mối quan hệ bạn bè cùng chơi giúp trẻ tiếp thu những kinhnghiệm xã hội, và mở ra một chặng đường phát triển mới về chất Đó là giai đoạn đầu tiên củaquá trình hình thành nhân cách, là phương tiện để phát triển toàn diện nhân cách Vì thế chúng tacần thấy được việc tổ chức các trò chơi cho trẻ là cực kì quan trọng và có ý nghĩa GD to lớn

Tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ, trò chơi là phương tiện để trẻ học làmngười Giáo viên mầm non (GVMN) cần tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dưới nhiều hình thức khácnhau để việc CS-GD trẻ ngày càng đạt kết quả tốt hơn

HĐVC là nội dung quan trọng trong hoạt động CS-GD trẻ MG Nó quyết

định đến sự phát triển toàn diện của trẻ MN Có thể nói quản lí HĐVC là khâu quan trọng trongQLGD về mặt chuyên môn cho trẻ MG Theo lôgic này, có thể dựa vào khái niệm QLGD vàquản lí GDMN để đưa ra định nghĩa về quản lí HĐVC như sau:

Quản lí HĐVC là hoạt động có chủ đích của chủ thể quản lí (BGH) tác động đến hoạtđộng của GV trong công tác tổ chức HĐVC cho trẻ nhằm đạt mục tiêu mà nhà quản lí đã đềra.Trong trường MN, BGH đứng đầu là hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lí, điều hành toàn bộhoạt động chuyên môn về công tác CS-GD trẻ, trong đó HĐVC của trẻ MG.Hơn nữa, HĐVCđược nhìn nhận với phương diện như là phương tiện để GD nhân cách cho trẻ MN Vui chơi củatrẻ là một hoạt động phản ánh sáng tạo độc đáo, thực hiện tác động qua lại giữa trẻ với trẻ, trẻvới môi trường xung quanh; trong vui chơi trẻ nhận thức được thế giới xung quanh, khi chơi cáctrò chơi trẻ lĩnh hội kinh nghiệm xã hội của người lớn một cách tự nhiên, lĩnh hội những kiếnthức, những kĩ năng, kĩ xảo, những phương thức hành động, những chuẩn mực đạo đức, nhữngnguyên tắc sống Trong vui chơi trẻ hoạt động tự lực, tự nguyện và tự tin; xã hội trẻ em đượchình thành trong quá trình vui chơi sẽ phát triển việc tự tổ chức, hình thành và biểu hiện nhữngphẩm chất mang tính xã hội: khả năng hoà nhập vào nhóm chơi, khả năng hoạt động đóng vai,khả năng phục tùng những yêu cầu của xã hội trẻ em và bộc lộ những khả năng riêng của trẻ

Vui chơi là một trong những nhu cầu đầu tiên của trẻ để trẻ muốn chơi và thích chơi.Thông qua vui chơi trẻ được phát triển toàn diện về mọi mặt: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, kĩnăng - tình cảm xã hội, thẩm mĩ

Vậy ta có thể hiểu: Quản lí HĐVC cho trẻ MG là hoạt động có mục đích của chủ thểquản lí (BGH) dùng các biện pháp, giải pháp nhằm tác động đến hoạt động của GV MN trongviệc tổ chức HĐVC cho trẻ để đạt được mục tiêu phát triển thể chất và toàn diện đời sống tâm lícho trẻ ở từng độ tuổi

1.3.6.2 Lập kế hoạch hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Trang 27

HĐVC của trẻ MG là một trong những hoạt động GD được tổ chức có mục ích, có kế hoạch của các nhà GD nhằm thỏa mãn nhu cầu chơi của trẻ đồng thời góp phần phát triển và

GD toàn diện cho trẻ lứa tuổi này Chơi là nhu cầu chủ yếu của trẻ

MG, vì vậy việc tổ chức HĐVC là một trong những nhiệm vụ GD quan trọng trong trường MN

Để tổ chức tốt HĐVC của trẻ trong các góc, GVMN cần có sự nhận thức đúng đắn và sâu sắc vềbản chất HĐVC, có như vậy GV mới có thể tạo điều kiện cho trẻ được thỏa mãn nhu cầu chơicủa trẻ Để đạt được các yêu cầu đó thì người quản lí phải lập kế hoạch HĐVC: Xây dựng kếhoạch HĐVC dựa trên việc thực hiện kế hoạch hoạt động theo chủ đề, theo tình hình thực tế

Xây dựng kế hoạch là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất trong chu trình quản lí, ảnhhưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng quản lí, đưa mọi hoạt động GD vào công tác kếhoạch có mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định các điều kiện, nguồn lực để thực hiện mụctiêu trong thời gian nhất định của hệ thống quản lí

Lập kế hoạch được xem như phương pháp chuẩn bị trước để thực hiện một công việc.Bản kế hoạch này cho thấy công việc phải làm gì và làm như thế nào, thời gian và ai là ngườithực hiện, kết quả dự kiến đạt được là gì Phát triển nhà trường theo đúng mục tiêu là nhiệm vụcủa người trong quá trình lập kế hoạch CBQL có nhiệm vụ phải xác lập được mục tiêu chungphát triển của nhà trường trên cơ sở định hướng đến việc phát triển toàn diện cho trẻ, nhằm hìnhthành cơ sở ban đầu của nhân cách, thích ứng yêu cầu của xã hội trong thời kì mới

Muốn công tác quản lí được hiệu quả, nhà quản lí phải xây dựng được kế hoạch quản lícủa mình Các loại kế hoạch cần xây dựng để quản lí HĐVC gồm:

- Lựa chọn nội dung HĐVC phù hợp với chương trình GDMN

- Lựa chọn thời gian, không gian, thiết bị và nguyên vật liệu để tổ chức HĐVC

- Mỗi loại trò chơi GV có thể xây dựng nhiều nội dung và sắp xếp theo thời gian thực đểđưa vào cho phù hợp: GV lựa chọn và đưa những nội dung vào trong kế hoạch hoạt động (ngày),(tuần) sao cho phù hợp nhằm giúp trẻ củng cố và rèn luyện các kiến thức và kĩ năng khác

- Xây dựng kế hoạch vui chơi cho cả năm học phải thoả mãn tính liên kết của chủ đề,phù hợp với đặc điểm tình hình của trẻ, của lớp Việc xây dựng kế hoạch GV có thể thay đổi linhhoạt sao cho phù hợp với nội dung chủ đề đang thực hiện và mang lại hiệu quả cao trên trẻ

1.3.6.3 Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bố công việc một cách khoa học, hợp lí cho các bộphận, các thành viên, để mọi người có thể hoạt động 1 cách tích cực, nhằm thực hiện hiệu quảmục tiêu đã lập

Trong chu trình quản lí thì tổ chức là giai đoạn đưa vào thực hiện những ý tưởng đã được

kế hoạch hóa để từng bước đưa nhà trường đến mục tiêu BGH sẽ tiến hành phân công, giao

Trang 28

nhiệm vụ cho GV Tổ chức hoạt động được thực hiện đồng bộ, đúng kế hoạch, phù hợp với mụctiêu đào tạo của nhà trường.

Khâu tổ chức là 1 trong 4 chức năng của công tác quản lí, sau công tác xây dựng kế hoạchHĐVC là công tác tổ chức thực hiện kế hoạch Việc tổ chức HĐVC có đạt được hiệu quả haykhông thì BGH phải tiến hành triển khai kế hoạch tổ chức HĐVC cho trẻ MG; phân công, giaonhiệm vụ cho GV, hướng dẫn, bồi dưỡng, giúp đỡ, theo dõi tiến trình thực hiện của GV nhằm đạtđược mục tiêu đề ra

Tổ chức việc lựa chọn hình thức tổ chức, phương pháp, hình thức, tổ chức, loại trò chơiphù hợp nội dung và khả năng trẻ tại lớp mình BGH theo dõi góp ý giúp GV phát huy nhữngphương pháp, hình thức hiệu quả và gợi ý các phương pháp, hình thức tổ chức HĐVC mới, hiệnđại nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động của GV

Tổ chức các điều kiện tối ưu cho việc thực hiện mục tiêu GD, đòi hỏi người quản lí phảitừng bước sắp xếp và hoàn thiện việc trang bị cơ sở vật chất đúng chuẩn, hướng đến bảo quản,

sử dụng hiệu quả các trang thiết bị, đồ dùng dạy học phục vụ cho các HĐVC trong nhà trường

1.3.6.4 Chỉ đạo hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Chỉ đạo là quá trình tác động đến các thành viên tổ chức, là những hành động xác lậpquyền chỉ huy, sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lí, huy động điềuchỉnh mọi lực lượng thực hiện kế hoạch trong trật tự, làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấnđấu để nhanh chóng đưa nhà trường đạt các mục tiêu đã định Theo Trần Kiểm chức năng chỉ

đạo: “thể hiện năng lực của người quản lí”.Người quản lí phải điều khiển cho hệ thống hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Đâychính là quá trình sử dụng quyền lực quản lí để tác động đến các đối tượng quản lí (con người,các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mụctiêu chung của hệ thống”[29]

Chỉ đạo tổ chức HĐVC cho trẻ MG là lãnh đạo của các trường MN, nhằm mục đích cáchoạt động được thực hiện đồng bộ, đúng kế hoạch, phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường

Chỉ đạo, điều phối nhằm xây dựng những nội dung của tổ chức HĐVC cho trẻ MG:Hiệu trưởng ra quyết định triển khai các hoạt động xây dựng những nội dung mới tổ chứcHĐVC cho trẻ MG phù hợp với từng độ tuổi cho trẻ

Hiệu trưởng hướng dẫn GV, cán bộ, các lực lượng liên quan lựa chọn nội dung, phươngpháp và hình thức xây dựng những nội dung tổ chức HĐVC cho trẻ MG

Hiệu trưởng chỉ đạo đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức xây dựngnhững nội dung mới tổ chức HĐVC cho trẻ MG

Hướng dẫn GV, cán bộ, các lực lượng liên quan lựa chọn tài liệu về xây dựng những nộidung tổ chức HĐVC cho trẻ MG

Trang 29

Hiệu trưởng chỉ đạo các bộ phận bố trí thời gian hợp lí cho việc xây dựng những nộidung mới tổ chức HĐVC cho trẻ MG.

Hiệu trưởng chỉ đạo chuẩn bị và sử dụng các thiết bị, phương tiện vật chất phục vụ xâydựng những nội dung tổ chức HĐVC cho trẻ MG

Trong quá trình chỉ đạo, người quản lí phải biết tiên liệu mọi hoạt động phát triển trongtương lai theo mục tiêu của nhà trường, phải có những hiểu biết tổng hợp về chuyên môn, cócác mối quan hệ trong và ngoài nhà trường với các cấp lãnh đạo cũng như chính quyền địaphương phải tham mưu cho lãnh đạo, tăng cường kết hợp với các lực lượng XH để làm tốt côngtác xã hội hoá GDMN Nhà quản lí phải biết dựbáo quy hoạch, kế hoạch phát triển của nhàtrường, biết cụ thể hoá các chỉ thị, nghị quyết, chính sách của cấp trên vào tình hình thực tế củatrường, đưa ra những quyết sách hợp lí cho sự phát triển của nhà trường và tổ chức thực hiệnhiệu quả

Người quản lí phải có tinh thần cầu tiến, cập nhật thông tin để cải tổ nhà trường theohướng mới, luôn thúc đẩy mọi thành viên trong nhà trường hiểu được tình hình chung của nhàtrường Quan tâm sâu sắc đến những người phụ trách chuyên môn và hoạt động họ đang thựchiện Người có trách nhiệm thực thi quyền lãnh đạo vì nếu không hành xử quyền lãnh đạo cũnggiống như con tàu không có bánh lái chẳng biết đi về đâu Người cần sử dụng quyền lãnh đạolinh động trong những hoạt động chuyên môn, trong cộng đồng, các tổ chức, ban ngành ở địaphương, việc đó sẽ hỗ trợ rất nhiều cho công tác phát triển của nhà trường

Vì vậy, việc quản lí HĐVC cho trẻ MG đạt hiệu quả tốt hay chưa tốt phụ thuộc rất nhiềuvào việc GV nắm vững các biện pháp tổ chức HĐVC cho trẻ Chính vì vậy, BGH các trường

MN cần phải quan tâm quản lí tốt ở nội dung này Việc quản lí tổ chức HĐVC cho trẻ MG đòihỏi BGH phải dựa theo chương trình GDMN mới mà đơn vị đang thực để hướng dẫn, chỉ đạo

GV thực hiện tốt các biện pháp về tổ chức HĐVC cho trẻ, sau đó kiểm tra đánh giá việc thựchiện các biện pháp tổ chức HĐVC đó của GV, trên cơ sở đó có định hướng bồi dưỡng chuyênmôn cho GV những biện pháp mà GV thực hiện chưa tốt nhằm giúp GV có những kĩ năng tổchức HĐVC cho trẻ MG

1.3.6.5 Kiểm tra, đánh giá hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Kiểm tra là việc đo lường quá trình thực hiện kế hoạch trên thực tế, qua đó phát hiệnnhững sai lệch nhằm đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời để đảm bảo rằng tổ chức sẽ thực hiệnđược các mục tiêu kế hoạch đề ra Trong quá trình thực hiện kế hoạch thường xảy ra những vấn

đề phát sinh ngoài dự kiến khiến tổ chức đi chệch hướng khỏi kế hoạch hoặc hoàn thành kếhoạch không đúng tiến độ Kiểm tra giúp các nhà quản lí đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch,tìm kiếm nguyên nhân và biện pháp khắc phục Kiểm tra giúp các nhà quản lí kịp thời ra cácquyết định cần thiết để đảm bảo thực thi quyền lực quản lí và hoàn thành các mục tiêu đã đề ra

Trang 30

Ngoài ra chức năng kiểm tra còn giúp tổ chức theo sát và ứng phó với sự thay đổi của môitrường Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việctrên cơ sở những thông tin, kết quả thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đãđề ranhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chấtlượng và hiệu quả công việc Kiểm tra không những giúp cho việc đánh giá thực chất trạng tháiđạt được của nhà trường khi kết thúc một kì kế hoạch mà còn có tác dụng tích cực cho việcchuẩn bị cho năm học sau Việc kiểm tra cá nhân, một nhóm hay một tổ chức nhằm quan sátđánh giá và xử lí kết quả đạt được của tổ chức so với mục tiêu quản lí đã định nếu cần thiết sẽđiều chỉnh, uốn nắn hoạt động Kiểm tra, đánh giá nhằm xây dựng, điều chỉnh những nội dungtrong việc tổ chức HĐVC cho trẻ MG, phù hợp với đặc điểm của trẻ và tình hình, điều kiện của nhàtrường.

Quá trình kiểm tra có trình tự như sau:

-Xây dựng các chỉ tiêu, chuẩn mực hoạt động

-So sánh, đối chiếu, đo lường việc thực hiện nhiệm vụ với chỉ tiêu, chuẩn mực

-Đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu so với kế hoạch, nếu sai lệch sẽ điều chỉnh hoạt động, thậmchí điều chỉnh chuẩn mực hoặc mục tiêu

Bởi vậy, nhà quản lí cần thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá để dự đoán và phát hiện nhữngtrục trặc có thể nảy sinh và đưa ra biện pháp khắc phục đưa tổ chức hoàn thành mục tiêu của kếhoạch đã đề ra Kiểm tra là chức năng cơ bản của mọi nhà quản lí, từ nhà quản lí cấp cao đến cácnhà quản lí cấp cơ sở

Chính vì thế để HĐVC được tổ chức có hiệu quả thì đòi hỏi người quản lí phải kiểm tra đánh giáđược hoạt động của GV trong việc tổ chức HĐVC cho trẻ có một ý nghĩa lớn, giúp nhà quản lí(BGH) kịp thời nắm được mặt mạnh, mặt yếu của GV trong công tác tổ chức HĐVC cho trẻ

MG, trên cơ sở đó kịp thời bồi dưỡng chuyên môn cho GV để nâng cao kĩ năng của GV trongviệc tổ chức HĐVC cho trẻ MG

Cùng với việc kiểm tra, đánh giá việc phát huy những nội dung phù hợp trong việc tổ chứcHĐVC cho trẻ MG, hiệu trưởng thực hiện việc kiểm tra, đánh giá nhằm xây dựng những nộidung mới của trong việc tổ chức HĐVC cho trẻ MG Hoạt động này thể hiện ở các khía cạnhsau:

BGH thường xuyên kiểm tra, đánh giá theo kế hoạch cá nhân của GV về việc tổ chức HĐVCcho trẻ

BGH thường xuyên kiểm tra, đánh giá theo kế hoạch của tổ chuyên môn việc tổ chức HĐVCcho trẻ MG

BGH thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc tổ chức HĐVC cho trẻ của GV theo chương trình từng độ tuổi

Trang 31

BGH thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc chuẩn bị tổ chức HĐVC cho trẻ của GV qua giáo án.

BGH thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc tổ chức HĐVC chơi cho trẻ của GV qua sinh hoạt

tổ chuyên môn

BGH thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc tổ chức HĐVC cho trẻ của GV qua dự giờ thường xuyênBGH thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc tổ chức HĐVC cho trẻ của GV qua dự giờ đột xuấtBGH thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc tổ chức HĐVC cho trẻ của GV qua thanh tra toàn diện từng học kì

Trong quá trình kiểm tra đánh giá, người quản lí phải kiểm tra mức độ đạt chuẩn vànhững công việc duy trì chất lượng cao ở từng bộ phận tại đơn vị Đến với từng bộ phận hàngngày sẽ đem lại những thông tin về mức độ đạt chuẩn đánh giá theo quy định chung trong Điều

lệ trường MN hoặc qui chế, nội qui và những chuẩn đánh giá quy định trong nội bộ nhà trường

để duy trì chất lượng cao trong việc tổ chức các hoạt động GD cho trẻ

Trong kiểm tra đánh giá, người quản lí phải lắng nghe và thấu hiểu đối tượng Để hướngdẫn tập thể nhà trường giữ vững các hoạt động chất lượng cần phải có kĩ năng truyền đạt Căngthẳng sẽ giảm đi khi từng thành viên trong nhà trường cảm nhận được sự tôn trọng, chia sẻ củangười quản lí Người quản lí phải thật “Chí công vô tư” khi đánh giá các công việc hay vấn đề.Tính cách ôn hoà, điềm tĩnh của người quản lí khi giải quyết các vấn đề, một thái độ bình tĩnh tìmkiếm thông tin trước khi hành động là một phần của công tác quản lí của một cẩn trọng Ngườiquản lí cũng nên được đánh giá như các thành viên khác trong nhà trường về công tác và tráchnhiệm đã được giao phó Ngược lại, bản thân người cũng rất tự nghiêm khắc trong đánh giá bảnthân mình, dám nhìn nhận ra những thiếu sót của mình để sửa lỗi và là tấm gương sáng trước tậpthể

Có như vậy, mới có được sự tin yêu từ đồng nghiệp và nhân viên bên dưới.Quản lí vềkiểm tra đánh giá hoạt động của GV trong công tác tổ chức HĐVC cho trẻ đòi hỏi BGH phảilựa chọn hình thức và nội dung kiểm tra sao cho phù hợpvới yêu cầu đổi mới về chương trìnhGDMN mà đơn vị đang thực hiện, trong đó có yêu cầu đổi mới về

kiểm tra, đánh giá về HĐVC cho trẻ MG

1.3.6.6 Quản lí các điều kiện hỗ trợ hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Để cho hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non được đảm bảo đúng như

kế hoạch, đúng tiến độ, đúng nội dung, bám sát được chương trình và đạt được hiệu quả và mụctiêu đề ra, thì Hiệu trưởng nhà trường cần phải có kế hoạch quản lý các nguồn lực hợp lý, cácnguồn lực đó bao gồm:

- Quản lý tài chính: Hiệu trưởng nhà trường cần có kế hoạch chi tiêu tài chính một cáchhợp lý, cần có kế hoạch phân bổ nguồn ngân sách cho các nội dung trong các hoạt động nhà

Trang 32

trường đúng nguyên tắc về tài chính và phải xác định được những mục tiêu trọng tâm cần đầu tưngân sách nhiều hơn.

- Quản lý về cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động vui chơi: Hai yếu

tố này là một trong những nội dung không thể thiếu trong công tác tổ chức HĐVC cho trẻ, nóđóng vai trò hết sức quan trọng trong kết quả của việc tổ chức HĐVC Quản lý về các nguồnnhân lực (nhân lực, tài lực và vật lực), ba yếu tố này không thể thiếu được trong quá trình tổchức HĐVC cho trẻ ở trường mầm non

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.

1.4.1 Các yếu tố trong nhà trường

1.4.1.1 Đặc điểm tâm lí, ý thức tự giác của trẻ

Độ tuổi này cấu tạo tâm lí, phẩm chất, nhân cách, kĩ năng của trẻ đang được hình thành và pháttriển mạnh mẽ Gia đình và nhà trường kết hợp chặt chẽ, thường xuyên quan tâm tạo cơ hội chotrẻ được tham gia HĐVC một cách tích cực sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách

1.4.1.2 Năng lực của đội ngũ cán bộ, giáo viên

Năng lực quản lí của hiệu trưởng các trường MN, hiệu trưởng là người trực tiếp điều hành mọihoạt động của nhà trường Có thể nói, hiệu trưởng có năng lực quản lí tốt thì mọi mục tiêu mànhà trường đặt ra mới trở thành hiện thực Lí luận cũng như thực tế cho thấy, người hiệu trưởngkhông những cần có phẩm chất, kiến thức khoa học, nhậnthức đúng đắn về việc tổ chức HĐVCcho trẻ, ý nghĩa của việc tổ chức HĐVC cho trẻ, mà còn cần có năng lực quản lí, hiểu được cácbiện pháp, hình thức tổ chức HĐVC để từ đó quản lí chỉ đạo cán bộ GV thực hiện tốt mục tiêu,nhiệm vụ đã đề ra

Yếu tố năng lực và phẩm chất sư phạm của GV trong tổ chức HĐVC cho trẻ

Nhiệm vụ quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ là qua các trò chơi GV giúp trẻ củng cố

mở rộng những tri thức đã biết của trẻ, hoàn thiện những kĩ năng, kĩ xảo và năng lực nhận thứccho trẻ Chính vì vậy, vai trò của đội ngũ GV những người trực tiếp tổ chức HĐVC cho trẻ là vôcùng quan trọng

Để tổ chức HĐVC cho trẻ được tốt trước hết đội ngũ GV phải tự bồi dưỡng, nâng cao năng lựcchuyên môn Đội ngũ GV cần có nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức HĐVCcho trẻ

1.4.1.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ

Môi trường vật chất: Trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho việc học và chơi là phươngtiện giúp trẻ nhận biết thế giới thông qua HĐVC, học tập, lao động Muốn tổ chức tốt HĐVC củatrẻ thì nhà trường cần phối kết hợp với gia đình trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi

để trẻ cơ hội cho trẻ tham gia vào các HĐVC nhiều hơn và tốt hơn

Trang 33

1.4.2 Các yếu tố ngoài nhà trường

1.4.2.1 Các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các cấp QLGD về tổ chức HĐVC cho trẻ MG Trongnhững năm gần đây, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm đến vấn đề xây dựng một thế hệ ngườiViệt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc

lần thứ XI đã khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn

hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lí

GD, phát triển đội ngũ CBQL, GV là khâu then chốt” [3].

Để tăng cường công tác tổ chức HĐVC cho trẻ, từ Bộ GD&ĐT đến Sở GD&ĐT đến PGD&ĐT

đã có văn bản chỉ đạo cũng như hướng dẫn các nhà trường tổ chức HĐVC cho trẻ Đây chính lànhững cơ sở pháp lí để hiệu trưởng các trường MN đề ra những biện pháp quản lí nhằm nâng caohiệu việc tổ chức HĐVC cho trẻ Yếu tố nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chứcHĐVC Nội dung, chương trình mangtính thiết thực, phù hợp sẽ kích thích, động viên trẻ thamgia.Phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp sẽ góp phần phát huy vai trò tích cực chủ động, sángtạo của trẻ, huy động trẻ tham gia vào quá trình vui chơi Hình thức tổ chức quản lí trẻ sẽ phát huykhả năng sáng tạo, khai thác tiềm năng và trí tuệ của trẻ, giúp trẻ phát triển nhân cách theo yêu cầu

xã hội

1.4.2.2 Môi trường giáo dục của gia đình

Môi trường CS-GD trong trường MN cần phải đảm bảo an toàn về mặt tâm lí Cha mẹ luôn quantâm, gần gũi và chơi cùng con, tạo môi trường tốt giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với người xung quanh.Tạo môi trường vui chơi cho trẻ để trẻ cảm thấy an toàn, ấm áp và những mối quan hệ tin cậy đểkhuyến khích trẻ tự tin khám phá và thể hiện vai chơi, phát triển tình bạn và điều chỉnh hành vichơi của mình

Tiểu kết chương 1

Tổ chức HĐVC cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện nhâncách chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp một Tổ chức HĐVC cho trẻ là thực hiện mục tiêu trang bịcho trẻ những kiến thức, kĩ năng chơi, giúp trẻ nhận thức đúng đắn, đầy đủ về các trò chơi Trên

cơ sở đó, có thái độ, động cơ, hành động tích cực trong khi chơi Tổ chức HĐVC cho trẻ cónhững đặc trưng về nội dung, phương pháp, hình thức, điều kiện, năng lực của GV…

Công tác tổ chức HĐVC cho trẻ chỉ đạt được hiệu quả khi có vai trò của yếu tố quản línhà trường Ở trường MN, hiệu trưởng nhà trường giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả,chịu trách nhiệm chính trong tổ chức, quản lí hoạt động GD nói chung, HĐVC cho trẻ nói riêng

Quản lí HĐVC cho trẻ là quản lí việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giáHĐVC, quản lí các nội dung, phương pháp, hình thức và điều kiện tổ chức hoạt động Công tácquản lí của hiệu trưởng đối với chất lượng HĐVC chịu tác động của nhiều yếu tố, bao gồm các

Trang 34

yếu tố bên trong và bên ngoài quá trình vui chơi Nắm được những đặc trưng công tác quản líHĐVC cho trẻ để vận dụng triệt để trong quản lí hoạt động này ở trường MN sẽ mang lại chấtlượng và hiệu quả HĐVC.

Những nghiên cứu ở chương 1 là cơ sở khoa học để chúng tôi giải quyết nhiệm vụ nghiên cứucủa chương 2 và chương 3 của đề tài

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐÁP ỨNG BỘ

2.1.2 Đối tượng khảo sát

Bảng 2.1 Đối tượng tham gia khảo sát

Quận Long Biên

2 GVMN 93 Đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy trẻMG ở các trường MN Quận Long Biên,

2.1.5 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung khảo sát một số vấn đề như sau:

- Thực trạng hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non Quận Long Biên,

Thành Phố Hà Nội;

- Thực trạng quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non Quận

Long Biên, Thành Phố Hà Nội đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi;

- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở các

trường mầm non Quận Long Biên, Thành Phố Hà Nội đáp ứng bộ chuẩn trẻ 5 tuổi

2.1.6 Phương pháp khảo sát

2.1.6.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp chính được sử dụng trong luận văn, phương pháp này tiến hành với

22 CBQL, 93 GVMG của 10 trường MN Quận Long Biên, Thành Phố Hà Nội Để thu thậpthông tin, tác giả xây dựng bộ công cụ điều tra khảo sát là các bộ phiếu điều tra gồm hệ thống

Trang 36

2.1.6.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động được sử dụng để nghiên cứu các văn bản,

hồ sơ, tài liệu hướng dẫn liên quan đến HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường MN Bao gồm: kếhoạch, chương trình, sản phẩm của trẻ Tác giả tổng hợp, phân tích để đánh giá thực trạng nghiêncứu

2.1.7 Xử lý kết quả khảo sát

Nhận, kiểm tra phiếu khảo sát có hợp lệ hay không, phiếu hợp lệ là những phiếu trả lờiđầy đủ các câu hỏi, loại bỏ các phiếu chỉ trả lời một phương án khảo sát Sau đó, phân loại cácloại phiếu theo đối tượng khảo sát, nhập vào bảng tính excel, thống kê số lượng trả lời từngphương án theo từng câu theo từng đối tượng khảo sát, cuối cùng sử dụng công thức tính điểmtrung bình (ĐTB) và tỉ lệ phần trăm như sau:

Khảo sát về các mức độ quan trọng/ thường xuyên/ ảnh hưởng trong luận văn quy địnhđiểm như sau:

- Điểm 5: Rất thường xuyên/Rất tốt

- Điểm 4: Thường xuyên/ Tốt

- Điểm 3: Thỉnh thoảng / Khá

- Điểm 2: Hiếm khi/ TB

- Điểm 1: Không bao giờ/Yếu

Tính điểm theo mỗi mức độ:

Số người tham gia đánh giáCác nhận định mức độ được xác định như sau:

- Loại Rất tốt: 4,21  X  5,0

i

Trang 37

Bảng 2.2 Đánh giá của CBQL, GVMN về vai trò, mục tiêu tầm quan trọng của HĐVC

triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi 13 84 18 0 0 3.96 4

7 Chuẩn bị tốt những điều kiện cần

Trang 38

Bảng 2.2 tổng hợp ý kiến khảo sát đánh giá của đội ngũ CBQL, và GVMN về thực trạngnhận thức vai trò, mục tiêu tầm quan trọng của HĐVC cho trẻ MG, qua 7 nội dung khảo sát với

5 mức độ đánh giá thu được điểm trung bình như sau:

- Nội dung được đánh giá cao nhất là “HĐVC là phương tiện GD và phát triển lao động cho

trẻ 5-6 tuổi”, đạt điểm trung bình 4.05, đạt mức độ rất quan trọng;

- Nội dung được đánh giá thấp nhất là “HĐVC là phương tiện GD và pháttriển đạo đức cho trẻ 5-6 tuổi”, đạt điểm trung bình 3.92, đạt mức độ rất quan trọng; Hơn nữa, qua biên bản

phỏng vấn cô hiệu phó N.D.B.Y trường Mầm non A, trả lời về vấn đề nhận thức như sau: “Việc

tổ chức và quản lí HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN là việc làm cần thiết, vì mục tiêu phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần trẻ, giúp trẻ làm quen với môi trường xung quanh, hình thành nhân cách trẻ và chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1.”

Như vậy, thông qua kết quả khảo sát và phỏng vấn sâu thì phần lớn đội ngũ CBQL, GVMN

đã đánh giá quan trọng, đồng nghĩa với việc, đội ngũ có cái nhìn nhận thức đúng đắn về HĐVC chotrẻ 5-6 tuổi Đây là một luận cứ quan trọng để chủ thể tiến hành các hoạt động tiếp theo trong chutrình quản lí của mình

2.2.2 Thực trạng về các nội dung hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non Quận Long Biên, Thành Phố Hà Nội

Để tìm hiểu thực trạng về các nội dung HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN, tác giảtiến hành khảo sát lấy ý kiến đánh giá của đội ngũ CBQL, GVMN thuộc hệ thống các trường

MN trên địa bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, kết quả được tổng hợp bảng bên dưới:

Bảng2.3 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GVMN về các nội dung HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở

trường MN

bậc

1 Trò chơi đóng vai, là loại trò chơi

Trang 39

5 Trò chơi vận động, là loại trò chơi

sử dụng cơ bắp và toàn bộ cơ thể,

trò chơi vận động phát triển cả vận

động thô và tinh, cũng như kiểm

soát các cơ và các kĩ năng phối hợp

Trò chơi vận động giúp trẻ hiểu biết

6 Trò chơi dân gian là trò chơi được

sáng tạo, lưu truyền tự nhiên, rộng

rãi từ thế hệ này sang

thế hệ khác

7 Trò chơi với phương tiện công nghệ

hiện đại (xem ti-vi, chơi vi tính ),

chương trình nghe nhìn giới thiệu

cho trẻ các hoạt động gián tiếp, cung

cấp những thông tin cần thiết để trẻ

- Nội dung được đánh giá cao nhất là “Trò chơi đóng kịch, là dạng của trò chơi phân vai

theo các tác phẩm văn học- kịch bản phỏng theo câu chuyện và các vai là những nhân vật trong câu chuyện”, đạt điểm trung bình 4.10, đạt mức độ rất quan trọng;

- Nội dung được đánh giá thấp nhất là “Trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại

(xem ti-vi, chơi vi tính ), chương trình nghe nhìn giới thiệu cho trẻ các hoạt động gián tiếp, cung cấp những thông tin cần thiết để trẻ mở rộng ý tưởng khi chơi.”, đạt điểm trung bình 3.95,

đạt mức độ rất quan trọng;

Hơn nữa, qua biên bản phỏng vấn giáo viên N.T.T.H trường MN B, trả lời vềcác nội dung của HĐVCnhư sau:

“Các nội dung trong việc tổ chức HĐVC rất khoa học, đảm bảo theo chương trình

GDMN hiện hành, hơn nữa qua các nội dung này giúp rèn luyện tính tự lực, sáng tạo của trẻ.”

Như vậy, thông qua kết quả khảo sát và phỏng vấn phần lớn đội ngũ CBQL, GVMNđánh giá các trò chơi ở trường MN chiếm vai trò quan trọng, nhằm mục tiêu phát triển và hoànthiện nhân cách trẻ Do vậy, chủ thể quản lí cần đa dạng hóa các trò chơi nhằm bắt kịp xu thếhiện đại

2.2.3 Thực trạng về các phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

Trang 40

Để tìm hiểu thực trạng về các phương pháp tổ chức HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN,tác giả tiến hành khảo sát lấy ý kiến đánh giá của đội ngũ CBQL, GVMN các trường MN trênđịa bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, kết quả được tổng hợp bảng bên dưới:

Bảng 2.4 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về các phương pháp tổ chức HĐVC cho trẻ 5-6

5 nội dung khảo sát với 5 mức độ đánh giá thu được điểm trung bình như sau:

- Nội dung được đánh giá cao nhất là “Phương pháp tình cảm khích lệ, động

viên”, đạt điểm trung bình 4.03, đạt mức độ rất thường xuyên;

- Nội dung được đánh giá thấp nhất là “Phương pháp thực hành trải nghiệm”,

đạt điểm trung bình 3.92, đạt mức độ rất thường xuyên;

Hơn nữa, qua biên bản phỏng vấn cô hiệu trưởng N.T.P.L trường MN X, trả lời về các phương pháp tổ chức HĐVC như sau:

“Các phương pháp tổ chức HĐVC đảm bảo tính khoa học, phương pháp tổ chức HĐVC

cho trẻ 5-6 tuổi điều dựa trên chương trình GDMN hiện hành, các phương pháp này giúp trẻ hình thành tình cảm, cá tính sau này”.

Như vậy, thông qua kết quả khảo sát và phỏng vấn về thực trạng các phương pháp tổchức HĐVC, thì các phương pháp này thực hiện thường xuyên, đây là dấu hiệu tích cực, tuynhiên, để đạt được mục tiêu GD chủ thể cần đa dạng hóa, thực hiện đan xen nhiều phương phápnhằm phát huy hiệu quả tối đa trong công tác tổ chức

2.2.4 Thực trạng về các hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

Để tìm hiểu thực trạng về các hình thức tổ chức HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN, tácgiả tiến hành khảo sát lấy ý kiến đánh giá của đội ngũ CBQL, GVMN các trường MN trên địabàn Quận Long Biên, thành phố Hà Nội, kết quả được tổng hợp bảng bên dưới:

Ngày đăng: 15/08/2022, 08:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban chấp hành TW. (2016). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Ban chấp hành TW
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2016
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2006). Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên mầm non, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên mầmnon
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2006
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chương trình giáo dục mầm non. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Quy định về bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2010
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2012). Văn bản chiến lược giáo dục từ 2011-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản chiến lược giáo dục từ 2011-2020
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
10. Coxchuc, B.Ph.Lomov (2012). Tâm lý học những cơ sở lý luận và phương pháp luận, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học những cơ sở lý luận và phương pháp luận
Tác giả: Coxchuc, B.Ph.Lomov
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2012
18. Nguyễn Thị Diệu Hà. (2011). Luận văn Thạc sĩ: “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp giáo dục kỹ năngsống cho trẻ mẫu giáo thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Hà
Năm: 2011
19. Nguyễn Thị Doan. (1996 “a”). Các học thuyết quản lí, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: a
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
20. Nguyễn Thị Doan. (1996 “b”). Các học thuyết quản lí. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: b
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
1. A.I.Vaxiliepva. (1991). Sổ tay hiệu phó chuyên môn, NXB TPHCM Khác
2. A.N. Lêônchiev. (1980). Sự phát triển tâm lí trẻ em, Trường Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3, 1980 Khác
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2015). Điều lệ trường Mầm non, (Công văn số 04/VBHN- BGDĐT ngày 24/12/2015 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) Khác
11. Đặng Quốc Bảo và nhiều tác giả. (1999). Khoa học tổ chức và quản lí - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
12. Đinh Văn Vang. (2009). Giáo trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
13. Đỗ Hoàng Toàn. (1998). Lý thuyết quản lí. Hà Nội: NXB Giáo dục Khác
14. Lê Thu Hương, Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thị Ánh Tuyết. (2018). Hướng dẫn tổ chức thực hiện Chương trình giáo dục mầm non, NXB Giáo dục, Việt Nam Khác
15. Marie Montessori. (2015). Phương pháp giáo dục Montessori Phát hiện mới về trẻ thơ, NXB Sư phạm Khác
16. Nguyễn Gia Qúy. (2000). Lí luận quản lí giáo dục và quản lí nhà trường, Huế Khác
17. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc. (2010). Đại cương khoa học quản. Hà Nội:NXB Đại học quốc gia Khác
21. Nguyễn Thị Liên Diệp. (1993). Quản trị học, NXB Lao Động Xã Hội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w