1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện yên lập – tỉnh phú thọ

99 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh
Người hướng dẫn Ths. Kim Thị Hải Yến
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Giáo dục Mầm non
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (11)
  • 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (12)
    • 2.1. Ý nghĩa khoa học (12)
    • 2.2. Ý nghĩa thực tiễn (12)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu (13)
  • 4. Nhiệm vụ nghiên cứu (13)
    • 4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến kỹ năng giao tiếp, giáo dục kỹ năng (13)
    • 4.2. Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại một số trường mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ (13)
    • 4.3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ (13)
    • 4.4. Thực nghiệm sƣ phạm nhằm khẳng định hiệu quả và tính khả thi của những biện pháp đã đề xuất (13)
  • 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (13)
    • 5.1. Đối tượng nghiên cứu (13)
    • 5.2. Phạm vi nghiên cứu (13)
      • 5.2.1. Nội dung nghiên cứu (13)
      • 5.2.2. Khách thể nghiên cứu (13)
  • 6. Phương pháp nghiên cứu (14)
    • 6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận (14)
    • 6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn (14)
      • 6.2.1. Phương pháp chuyên gia (14)
      • 6.2.2. Phương pháp điều tra (14)
      • 6.2.3. Phương pháp quan sát (14)
      • 6.2.4. Phương pháp đàm thoại (14)
      • 6.2.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm (14)
      • 6.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm (15)
      • 6.2.7. Phương pháp xử lí số liệu (15)
  • 7. Cấu trúc của khóa luận (15)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI (16)
    • 1. Cơ sở lí luận của đề tài (16)
      • 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (16)
        • 1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài (16)
        • 1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong nước (23)
      • 1.2. Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường (27)
        • 1.2.1. Khái niệm giáo dục kỹ năng giao tiếp (27)
        • 1.2.3. Vai trò giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với sự phát triển của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường (30)
        • 1.2.4. Nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường (31)
        • 1.2.5. Đặc điểm phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường (32)
      • 1.3. Trò chơi đóng kịch (34)
        • 1.3.1. Khái niệm trò chơi đóng kịch (34)
        • 1.3.2. Đặc điểm của trò chơi đóng kịch ở lứa tuổi mẫu giáo (35)
      • 1.5. Các yếu tố ảnh hưởng của trò chơi đóng kịch với việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ (41)
        • 1.5.1. Yếu tố chủ quan (42)
        • 1.5.2. Yếu tố khách quan (42)
    • 2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (42)
      • 2.1. Mục đích khảo sát (42)
      • 2.2. Đối tƣợng khảo sát (43)
      • 2.3. Nội dung khảo sát (43)
      • 2.4. Phương pháp khảo sát (43)
      • 2.5. Tiêu chí và thang đánh giá mức độ và biểu hiện của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường về kỹ năng giao tiếp (44)
      • 2.6. Kết quả điều tra (45)
        • 2.6.1. Thực trạng nhận thức và thái độ của giáo viên về việc giáo dục kỹ năng (45)
        • 2.6.2. Thực trạng nhận thức và thái độ của phụ huynh về việc giáo dục kỹ năng (46)
        • 2.6.3. Thực trạng mức độ và biểu hiện của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường về kỹ năng giao tiếp (47)
        • 2.6.4. Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường đã được áp dụng tại một số trường mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ (48)
  • CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5-6 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC MƯỜNG THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐểNG KỊCH TẠI HUYỆN YấN LẬP-TỈNH PHệ THỌ (52)
    • 2.1. Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ (52)
      • 2.1.1. Nguyên tắc 1. Nội dung các biện pháp được đề xuất phải dựa trên mục tiêu giáo dục cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường (52)
      • 2.1.2. Nguyên tắc 2. Phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường (52)
    • 2.2. Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ (53)
      • 2.2.1. Biện pháp 1. Truyền tải nội dung từ Tiếng Việt sang tiếng Mường theo nội (54)
      • 2.2.2. Biện pháp 2. Lập kế hoạch giáo dục nhằm tăng cường giáo dục kỹ năng hợp tác và khả năng biểu lộ thái độ tình cảm qua trò chơi đóng kịch cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường (58)
      • 2.2.3. Biện pháp 3. Xây dựng, sưu tầm kịch bản có lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp như: Làm việc hợp tác, biểu lộ thái độ tình cảm trong nội dung của trò chơi đóng kịch cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường (60)
      • 2.2.4. Biện pháp 4. Xây dựng quy trình tổ chức trò chơi đóng kịch nhằm giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường (60)
    • 3.1. Mục đích thực nghiệm (72)
    • 3.2. Đối tƣợng, phạm vi, thời gian thực nghiệm (72)
      • 3.2.1. Đối tượng, phạm vi thực nghiệm (72)
      • 3.2.2. Thời gian thực nghiệm (73)
    • 3.3. Nội dung thực nghiệm (73)
    • 3.4. Tiêu chí và thang đánh giá kết quả thực nghiệm (73)
    • 3.5. Tiến hành thực nghiệm (74)
    • 3.6. Kết quả thực nghiệm (75)
      • 3.6.1. Kết quả trước thực nghiệm (75)
      • 3.6.2. Kết quả sau thực nghiệm (79)
    • 1. Kết luận (87)
    • 2. Kiến nghị (88)
      • 2.1 Đối với giáo viên mầm non (88)
      • 2.2. Đối với trường mầm non (88)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (89)

Nội dung

Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại một số trường mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ.. Đề xuất một số

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Giáo dục Mầm non

Phú Thọ, 2022

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Giáo dục Mầm non

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Ths Kim Thị Hải Yến

Phú Thọ, 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Hùng Vương, bằng

sự biết ơn và kính trọng, em xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, ban lãnh đạo khoa và các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ

em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện khoá luận tốt nghiệp này

Trước hết, em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến ThS Kim Thị Hải Yến - người trực tiếp hướng dẫn khoá luận đã luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp Em xin trân trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, các thầy cô trong khoa

GD Tiểu học và Mầm non cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường

đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong khoá luận tốt nghiệp này, không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong Quý thầy cô giáo giúp đỡ để khoá luận được hoàn thiện hơn

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Phú Thọ, ngày tháng năm 2022

Sinh viên

NGUYỄN THỊ HẠNH

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

2.1 Ý nghĩa khoa học 2

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến kỹ năng giao tiếp, giáo dục kỹ năng giao tiếp và trò chơi đóng kịch làm cơ sở nội dung và các biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 3

4.2 Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại một số trường mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 3

4.3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 3

4.4 Thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định hiệu quả và tính khả thi của những biện pháp đã đề xuất 3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5.1 Đối tượng nghiên cứu 3

5.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5.2.1 Nội dung nghiên cứu 3

5.2.2 Khách thể nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 4

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

6.2.1 Phương pháp chuyên gia 4

Trang 5

6.2.2 Phương pháp điều tra 4

6.2.3 Phương pháp quan sát 4

6.2.4 Phương pháp đàm thoại 4

6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 4

6.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 5

6.2.7 Phương pháp xử lí số liệu 5

7 Cấu trúc của khóa luận 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1 Cơ sở lí luận của đề tài 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài 6

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong nước 13

1.2 Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 17

1.2.1 Khái niệm giáo dục kỹ năng giao tiếp 17

1.2.3 Vai trò giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với sự phát triển của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 20

1.2.4 Nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 21

1.2.5 Đặc điểm phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 22

1.3 Trò chơi đóng kịch 24

1.3.1 Khái niệm trò chơi đóng kịch 24

1.3.2 Đặc điểm của trò chơi đóng kịch ở lứa tuổi mẫu giáo 25

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng của trò chơi đóng kịch với việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 31

1.5.1 Yếu tố chủ quan 32

1.5.2 Yếu tố khách quan 32

2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 32

2.1 Mục đích khảo sát 32

2.2 Đối tượng khảo sát 33

Trang 6

2.3 Nội dung khảo sát 332.4 Phương pháp khảo sát 332.5 Tiêu chí và thang đánh giá mức độ và biểu hiện của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường về kỹ năng giao tiếp 342.6 Kết quả điều tra 35

2.6.1 Thực trạng nhận thức và thái độ của giáo viên về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 35

Bảng 1.1: Nhận thức và thái độ của giáo viên về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 35

2.6.2 Thực trạng nhận thức và thái độ của phụ huynh về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 36

Bảng 1.2 Nhận thức và thái độ của phụ huynh về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi 36

2.6.3 Thực trạng mức độ và biểu hiện của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường về

kỹ năng giao tiếp 37

Bảng 1.3 Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp 37

2.6.4 Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường đã được áp dụng tại một số trường mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 38

Bảng 1.4 Mức độ thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường đã được tiến hành tại cơ sở thực nghiệm 38Tiểu kết chương 1 39CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5-6 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC MƯỜNG THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG KỊCH TẠI HUYỆN YÊN LẬP-TỈNH PHÖ THỌ 422.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 42

2.1.1 Nguyên tắc 1 Nội dung các biện pháp được đề xuất phải dựa trên mục tiêu giáo dục cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 42 2.1.2 Nguyên tắc 2 Phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 42

Trang 7

2.1.3 Nguyên tắc 3 Phải được xây dựng dựa trên sự hiểu biết thực tế về phân hóa kỹ năng giao tiếp, về sự khác biệt kỹ năng giao tiếp của trẻ người dân tộc

Mường 43

2.2 Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 43

2.2.1 Biện pháp 1 Truyền tải nội dung từ Tiếng Việt sang tiếng Mường theo nội dung đã chọn 44

2.2.2 Biện pháp 2 Lập kế hoạch giáo dục nhằm tăng cường giáo dục kỹ năng hợp tác và khả năng biểu lộ thái độ tình cảm qua trò chơi đóng kịch cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 48

2.2.3 Biện pháp 3 Xây dựng, sưu tầm kịch bản có lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp như: Làm việc hợp tác, biểu lộ thái độ tình cảm trong nội dung của trò chơi đóng kịch cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 50

2.2.4 Biện pháp 4 Xây dựng quy trình tổ chức trò chơi đóng kịch nhằm giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 50

Tiểu kết chương 2 61

3.1 Mục đích thực nghiệm 62

3.2 Đối tượng, phạm vi, thời gian thực nghiệm 62

3.2.1 Đối tượng, phạm vi thực nghiệm 62

3.2.2 Thời gian thực nghiệm 63

3.3 Nội dung thực nghiệm 63

3.4 Tiêu chí và thang đánh giá kết quả thực nghiệm 63

3.5 Tiến hành thực nghiệm 64

3.6 Kết quả thực nghiệm 65

3.6.1 Kết quả trước thực nghiệm 65

Bảng 3.1 Mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực nghiệm và đối chứng) trước thực nghiệm 66

Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ của nhóm thực nghiệm và đối chứng trước thực nghiệm 67

Bảng 3.2 Thực trạng về biểu hiện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm 67

Biểu đồ 3.2: Biểu đồ so sánh thực trạng biểu hiện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm 68

Trang 8

3.6.2 Kết quả sau thực nghiệm 69

Bảng 3.3 Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực hiện và đối chứng) sau thực nghiệm 69

Bảng 3.4 Hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm

thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm 72

Biểu đồ 3.4 So sánh hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm 72

Bảng 3.5 Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm trước và sau khi thực nghiệm 74

Biểu đồ 3.5 So sánh mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm

thực nghiệm trước và sau khi tiến hành thực nghiệm 75

Tiểu kết chương 3 76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

1 Kết luận 77

2 Kiến nghị 78

2.1 Đối với giáo viên mầm non 78

2.2 Đối với trường mầm non 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN GIÁO VIÊN 82

PHỤ LỤC 2 84

DANH SÁCH TRẺ Ở NHÓM THỰC NGHIỆM VÀ ĐỐI CHỨNG 84

PHỤ LỤC 3 86

ẢNH THỰC NGHIỆM 86

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Nhận thức và thái độ của giáo viên về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường 35 Bảng 1.2 Nhận thức và thái độ của phụ huynh về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp

cho trẻ 5-6 tuổi 36 Bảng 1.3 Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp 37 Bảng 1.4 Mức độ thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người

dân tộc Mường đã được tiến hành tại cơ sở thực nghiệm 38 Bảng 3.1 Mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực nghiệm và đối

chứng) trước thực nghiệm 66 Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ của

nhóm thực nghiệm và đối chứng trước thực nghiệm 67 Bảng 3.2 Thực trạng về biểu hiện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và thực

nghiệm trước thực nghiệm (theo tiêu chí) 67 Biểu đồ 3.2: Biểu đồ so sánh thực trạng biểu hiện kỹ năng giao tiếp nhóm đối

chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm (theo tiêu chí) 68 Bảng 3.3 Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực hiện và đối

chứng) sau thực nghiệm 69 Bảng 3.4 Hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm 72 Biểu đồ 3.4 So sánh hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm 72 Bảng 3.5 Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm trước

và sau khi thực nghiệm 74 Biểu đồ 3.5 So sánh mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm trước và sau khi tiến hành thực nghiệm 75

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giao tiếp là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người Là điều kiện tiên quyết và tất yếu để duy trì mọi mối quan hệ trong xã hội loài người, con người cần giao tiếp với nhau trong tất cả các hoạt động và điều quan trọng là phải cần có nó

để tồn tại và phát triển Ở trẻ cũng vậy, từ nhỏ trẻ đã phải học cách giao tiếp để có thể trò chuyện và hiểu nhau hơn Giao tiếp và tính tích cực giao tiếp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của con người Đặc biệt, kỹ năng giao tiếp được coi là chìa khóa để mở cửa cho sự thành công của mỗi con người Để mang lại

sự thành công lớn trong cuộc sống và trong các hoạt động học tập, mỗi người phải tự tìm hiểu, học hỏi và rèn luyện để hình thành kỹ năng giao tiếp

Giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày, nhờ

có giao tiếp mà tâm trí người được hình thành và phát triển Đối với trẻ mẫu giáo cũng vậy, giao tiếp có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển tâm, sinh lý trẻ Nó giúp cho các em nói được những điều mà các em muốn nói và làm được những việc các em nên làm, đồng thời giúp cho các em trao đổi tri thức trong học tập, chia sẻ những vấn đề mà các em gặp trong cuộc sống Việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho lứa tuổi mầm non nói chung và trẻ em người dân tộc Mường nói riêng Trẻ em người dân tộc Mường khả năng giao tiếp rất kém Các em thường bị động trước những tác động, những kích thích giao tiếp bên ngoài Vốn ngôn ngữ còn ít, kỹ năng nghe hiểu, sử dụng từ ngữ còn hạn chế, giao tiếp với nhau chủ yếu bằng tiếng dân tộc Trẻ thiếu kỹ năng giao tiếp còn nói ngọng, rụt rè trong giao tiếp Lứa tuổi mầm non, việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho các em là một vấn đề không hề dễ dàng, không hề thuận lợi, càng không thể thực hiện trong thời gian nhất định mà phải rèn luyện trong thời gian lâu dài, hàng ngày

Trên thực tiễn giáo dục mầm non ở nhiều nơi cho thấy, nhiều cơ sở chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ, chưa nhận thức được những ưu thế của việc tổ chức trò chơi đặc biệt là trò chơi đóng kịch đối với sự

Trang 12

hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi Qua tìm hiểu một số trường mầm non huyện Yên Lập - Tỉnh Phú Thọ, chúng tôi nhận thấy các giáo viên

đã có sự quan tâm và tổ chức cho trẻ chơi trò chơi đóng kịch trong giờ hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học Tuy nhiên, việc sử dụng trò chơi đóng kịch

để tiến hành giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi vẫn chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức Trong thực tế việc tổ chức cho trẻ chơi trò chơi đóng kịch những cách tổ chức chơi còn hạn chế, biện pháp để giáo dục kỹ năng giao tiếp tốt chưa thực sự được chú ý và phát huy được hết khả năng sáng tạo cho trẻ trong quá trình chơi, hoặc lĩnh hội được ngôn ngữ giàu hình ảnh

Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn: “Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ” làm đề tài cho khóa luận của mình

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

Làm rõ cơ sở lí luận về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch, vai trò của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ tại một số trường mầm non tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

Các kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề

lí luận giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ và các mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa giáo dục kỹ năng giao tiếp với sự hình thành phát triển nhân cách toàn diện của trẻ mẫu giáo tại một số trường mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

Trang 13

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ nhằm góp phần tăng cường nói Tiếng Việt cho trẻ dân tộc Mường

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến kỹ năng giao tiếp, giáo dục kỹ năng giao tiếp và trò chơi đóng kịch làm cơ sở nội dung và các biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

4.2 Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại một số trường mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

4.3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

4.4 Thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định hiệu quả và tính khả thi của những biện pháp đã đề xuất

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

5.2 Phạm vi nghiên cứu

5.2.1 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu một số kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người

dân tộc Mường trong trò chơi đóng kịch như: Làm việc hợp tác, biểu lộ thái độ tình cảm thuộc chủ đề: Gia đình, Động vật, Nghề nghiệp tại trường mầm non Đồng Thịnh - huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

5.2.2 Khách thể nghiên cứu

Trang 14

Quá trình giáo dục kỹ năng giao tiếp trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Tìm hiểu những vấn đề cơ bản qua các công trình nghiên cứu, sách, báo và các tài liệu có liên quan về kỹ năng giao tiếp, giáo dục kỹ năng giao tiếp, những biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo,…Từ đó chọn lọc để xây dựng cơ

sở lí luận cho đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp chuyên gia

Dùng để hỏi giáo viên biết tiếng dân tộc Mường nhằm thu thập thông tin của trẻ để có những hiểu biết về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại một số trường mầm non tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

6.2.2 Phương pháp điều tra

Sử dụng phiếu điều tra Anket để khảo sát ý kiến các giáo viên, phụ huynh

về tình hình giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường tại một số trường mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ hiện nay Thu thập thông tin cần thiết về thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch

6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trang 15

Thu thập, lấy ý kiến của cán bộ quản lí ngành mầm non có kinh nghiệm về vấn đề giáo dục trẻ để có được các thông tin khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu nhằm kiểm chứng một cách khách quan các giả thuyết khoa học, các biện pháp đề xuất thực nghiệm

6.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tổ chức thực nghiệm một số nội dung, đồng thới áp dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp thông qua trò chơi đóng kịch tại một số trường mầm non huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ Đây là phương pháp quan trọng nhất nhằm kiểm nghiệm hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch

6.2.7 Phương pháp xử lí số liệu

Sử dụng phương pháp này để xử lí số liệu, tính phần trăm, lập bảng biểu Trên cơ sở đó đưa ra kết quả xác thực về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

7 Cấu trúc của khóa luận

Cấu trúc khóa luận gồm:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2: Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên – tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

- Kết luận và kiến nghị

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lí luận của đề tài

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài

Giáo dục kỹ năng giao tiếp nhằm góp phần tăng cường nói Tiếng Việt cho trẻ dân tộc Mường Do vậy, giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch được nhiều nhà tâm lý, giáo dục học ngoài nước nghiên cứu Các nhà nghiên cứu theo các hướng như sau:

Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có P.I.Galperin [24], trong các công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn

Tác giả Kak Hai Nodich [24] người Đức đã nêu rõ ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ngôn ngữ ở từng giai đoạn Trong mỗi giai đoạn, nhiệm vụ của người lớn là giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “gừ, gừ” ở tuổi sơ sinh đến sử dụng, nắm vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển KNGT và trí tuệ của trẻ Trẻ sơ sinh chưa có ngôn ngữ, chưa biết cách giao tiếp, các bậc phụ huynh cần phải bắt đầu công việc can thiệp như: luyện âm, luyện giọng, luyện hơi sau đó đến luyện nói Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, thiết thực tác giả đã giúp các bậc phụ huynh có con ở giai đoạn lứa tuổi này có thêm những kiến thức cơ bản trong việc giáo dục và dạy dỗ giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kỹ năng giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè Muốn giúp trẻ giao tiếp phải tạo môi trường giao tiếp cho trẻ, phải cho trẻ học, chơi với bạn

Trang 17

thì mới làm xuất hiện, nảy sinh nhu cầu giao tiếp Tác giả đã giúp cho phụ huynh có con ở lứa tuổi mẫu giáo biết cách lựa chọn môi trường giáo dục phù hợp để trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp

Tác giả Steven Gutstin [24] cho rằng để giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp cần phải hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội, giúp trẻ hiểu được bản thân trẻ (tên gọi, các bộ phận cơ thể), hiểu được mối quan hệ giữa trẻ và các đồ vật trong gia đình (tên gọi, đặc điểm, cách sử dụng), mối quan hệ giữa trẻ và các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh Trong mỗi hoàn cảnh, tình huống có vấn đề trẻ biết cách giao tiếp phù hợp Tác giả đã giúp cho GV,

PH biết được một phương pháp mới trong việc phát triển KNGT cho trẻ

A.T Kurbawa và Ph.M Rakhmatinlira đi sâu vào nghiên cứu các nhóm

kỹ năng giao tiếp và chia kỹ năng giao tiếp thành ba nhóm kỹ năng [11]:

+ Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ là sự chủ động chào khi gặp mặt và nói lời tạm biệt khi chia tay; trẻ biết dùng ngôn ngữ để yêu cầu về đồ vật, về thông tin,

về sự giúp đỡ với bạn bè trong khi chơi, để trao đổi với bạn một cách chủ động; đồng thời trẻ biết dùng ngôn ngữ để từ chối sự giúp đỡ, từ chối thông tin từ chối đồ vật khi những điều ấy không đáp ứng nhu cầu của trẻ; trẻ biết chia sẻ thông tin, cung cấp thông tin, đề nghị giúp đỡ bạn trong khi chơi thông qua hoạt động hằng ngày giúp trẻ biết thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp với bạn

bè một cách chủ động và tự tin hơn

+ Kỹ năng diễn đạt nghĩa trong câu bao gồm trẻ biết miêu tả sự vật, hiện tượng đang ở trong tình huống hiện tại, trẻ biết diễn tả đúng những điều mình mong muốn cho bạn hiểu; trẻ biết dùng câu để diễn tả sự phủ định, sự từ chối của trẻ, sự biến mất hay sự ngừng lại của một sự vật hiện tượng; trẻ biết nói về

vị trí, thuộc tính của sự vật, hiện tượng; trong câu nói của trẻ thể hiện sự sở hữu

sự vật, hiện tượng, trẻ có thể đặt ra về nơi chốn, cái gì, tại sao, ai và về những câu hỏi có, không

+ Kỹ năng diễn đạt các đặc điểm văn phạm trong câu: ở kỹ năng này xem xét xem trẻ có sử dụng giới từ để nói về vị trí hay trạng thái của các sự vật hiện tượng hay không? trẻ có biết sử dụng ngôn ngữ để miêu tả về đặc điểm đơn

Trang 18

giản của đồ vật, trẻ có biết sử dụng từ “đang” để nói về hoạt động xảy ra ở hiện tại; về các đại từ sở hữu, đại từ nhân xưng mà trẻ sử dụng, về các câu trẻ muốn nói về thời tương lai và thời quá khứ Mặc dù, đây là một trong những mục tiêu đặt ra để xây dựng những biện pháp giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp tốt hơn nhưng đây là mục tiêu thứ trong các mục tiêu ưu tiên ở trên

Nếu cách phân chia nhóm KNGT của A.T Kurbawa và Ph.M Rakhmatinlira [24] chủ yếu dựa vào khả năng sử dụng ngôn ngữ thì cách phân chia của V.P Dakharop toàn diện hơn, V.P Dakharop đã dựa vào các bước tiến hành của một pha giao tiếp cho rằng kỹ năng giao tiếp gồm có kỹ năng sau

+ Kỹ năng thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp

+ Kỹ năng cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp + Kỹ năng lắng nghe và biết cách lắng nghe đối tượng giao tiếp + Kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi

+ Kỹ năng nhạy cảm trong giao tiếp

+ Kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, gọn gàng, mạch lạc

+ Kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp

+ Kỹ năng thuyết phục trong giao tiếp

+ Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp

+ Kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng giao tiếp

Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã cho thấy nhiều nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo: quá trình phát sinh, phát triển giao tiếp, ngôn ngữ, tính cách, tính tích cực, và nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa giao tiếp với các chức năng tâm lý khác của nhân cách ở lứa tuổi từ 0 – 6 tuổi

Những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước đi theo hướng đề tài như tính tích cực nhận thưc, tính tích cực học tập, tính chủ động giao tiếp của các nhà tâm lý học như: G I Sukhina, A N Leonchev[22], V Ôkôn, A.V.Dapqrozet, M.I Lixina Tác giả A.V.Dapqrozet đã khẳng định: “Tính chủ động trong giao tiếp của trẻ mẫu giáo phụ thuộc vào tính chủ động của người lớn tính chủ động của trẻ không đều, trẻ nhỏ tuổi có tính chủ động thấp hơn

Trang 19

trẻ lớn (5 – 6 tuổi) và phụ thuộc nhiều vào tính chủ động của người lớn, chờ người lớn bộc lộ quan hệ với mình” Trẻ em 5-6 tuổi có tính chủ động giao tiếp cao hơn, ít phụ thuộc vào tính tích cực của người lớn, các em tự chủ động thiết lập mối quan hệ khi người lớn xuất hiện, xác định vị trí của mình trong các cuộc tiếp xúc và bày tỏ với người lớn những mong muỗn của chúng theo nội dung của sự tác động qua lại

Khi nghiên cứu về nhu cầu giao tiếp của trẻ Anna Freud đã chia sẻ:

“Nghiên cứu nhu cầu giao tiếp là vấn đề khó trong giao tiếp, nghiên cứu nó cho phép hiểu được nguồn gốc của sự phát triển tính tích cực giao tiếp của con người, cho phép trả lời được các vấn đề quan trọng nhất trong tâm lý học về nguồn gốc của sự phát triển tính tích cực giao tiếp của con người, cho phép trả lời vấn đề quan trọng nhất trong tâm lý học về nguồn gốc và nguyên nhân họat động cá nhân”

Còn rất nhiều các nhà tâm lý học khác cũng nghiên cứu về giao tiếp của trẻ mầm non, vì vấn đề nghiên cứu này là một hướng nghiên cứu ứng dụng giao tiếp vào các lĩnh vực của đời sống được các tác giả quan tâm, chú trọng Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định: ảnh hưởng to lớn và mối quan hệ giữa các yếu tố kỹ năng giao tiếp với sự phát triển các chức năng tâm lý của trẻ

Các nghiên cứu về trò chơi của trẻ cũng rất phong phú, các nhà tâm lý học theo hướng coi trọng sinh học như K Grooss, C Khôll quan niệm, chơi là do bản năng, chơi là sự giải tỏa năng lương dư thừa và trò chơi của trẻ em giống như trò chơi của động vật Từ đó họ phủ nhận ảnh hưởng của môi trường xã hội đến nội dung chơi của trẻ Một số nhà Phân tâm học (Z

Trang 20

Phrot, A Atller lại coi chơi là những giấc mơ, mộng ảo và cho rằng, chơi chính là phương tiện để “trả thù” những người xung quanh luôn cấm đoán trẻ.) Các quan điểm trên quá đề cao cơ sở sinh học của trò chơi Có thể nói, sự phát triển thể chất (cơ sở sinh học) chính là tiền đề, nguồn gốc đầu tiên của hoạt động chơi của trẻ Tuy nhiên, chơi có nguồn gốc từ lao động, cho nên cần cho trẻ tham gia vào các lao động, các hoạt động phản ánh cuộc sống xung quanh thì trẻ mới có thể hình thành và phát triển tâm lý, ý thức cũng như phát triển được các kỹ năng giao tiếp Do đó, phải có cái nhìn khách quan hơn về hoạt động chơi của trẻ Nếu coi nhẹ tính xã hội, hoặc quá đề cao tính xã hội của chơi

mà phủ nhận hoàn toàn cơ sở sinh học thì không thấy được vai trò của các chức năng sinh lý, nhất là sinh lý thần kinh trong việc tham gia vào điều hòa các kỹ năng giao tiếp ở mối cá thể

Các nhà tâm lý học và giáo dục Macxít L.V Vugotxki [21], A.N Leonchiev [22], cho rằng, chơi là sản phẩm sáng tạo của cá nhân dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xung quanh Thông qua chơi trẻ lĩnh hội được kinh nghiệm lịch sử - xã hội và chơi chỉ trở thành phương tiện giáo dục khi có

sự hướng dẫn sư phạm đúng đắn Đứa trẻ cần phải có môi trường xã hội và trẻ sống trong đó Khi hoạt động bản thân trẻ giao tiếp với môi trường xung quanh

sẽ tạo ra hứng thú giao tiếp và điều đó có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của hoạt động chơi của trẻ mẫu giáo trong tương lai

Theo Đ.B Enconin [25], lịch sử phát triển trò chơi gắn liền trong môi quan hệ với sự phát triển của xã hội loài người và sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong hệ thống các mối quan hệ xã hội Đ.B Enconin cho rằng vào thời kỳ này

xã hội loài người mới hình thành, trò chơi của trẻ mẫu giáo chưa xuất hiện Tiếp theo thời kỳ sau đó, công cụ lao động phức tạp dần, có sự phân công lao động theo lứa tuổi và vị trí của đứa trẻ trong xã hội cũng có sự thay đổi theo, (khi đứa trẻ không thể tham gia lao động trực tiếp cùng người lớn cũng không thể tham gia trực tiếp vào các mối quan hệ xã hội của họ như trước) hoạt động chơi và các đò chơi cũng xuất hiện, đồ chơi giống như công cụ lao động, nhưng trẻ không thể tập luyện như công cụ lao động mà chỉ có thể miêu tả được các

Trang 21

hành động của lao động mà thôi Trò chơi đóng vai theo chủ đề xuất hiện, khi trẻ chơi các trò chơi này chúng được thỏa màn nguyện vọng của chính mình là vươn tới cuộc sống xã hội của người lớn, được hành động và đối xử như người lớn thực sự

Theo N.K Crupxkaia [24] thì trẻ có nhu cầu chơi vì trẻ mong muốn được hiểu biết về cuộc sống xung quanh, hơn nữa trẻ mẫu giáo thích bắt trước người lớn và thích hoạt động tích cực với bạn bè cùng tuổi Chơi giúp trẻ thỏa mãn hai nhu cầu trên Còn G V Plekhanop cho rằng, lao động có trước trò chơi và chơi chính là một hiện tượng xã hội, là phương tiện chuẩn bị cho đứa trẻ làm quen với lao động của người lớn

Linda Maget [23] đã viết, trò chơi có một ý nghĩa rất quan trọng với trẻ

Ý nghĩa này chẳng khác gì ý nghĩa của sự hoạt động, sự làm việc và sự phục vụ đối với người lớn Đứa trẻ thể hiện như thế nào qua trò chơi thì sau này trong phần lớn trường hợp nó cũng thể hiện như thế trong công việc Ông còn nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt của trò chơi Ông nhìn nhận trò chơi ở nhiều khía cạnh khác nhau và trước tiên là trong việc chuẩn bị cho đứa trẻ bước vào cuộc sống, vào hoạt động lao động "Trò chơi có ý nghĩa lớn trong cuộc sống của đứa trẻ, tương tự như hoạt động, công việc có ý nghĩa quan trọng đối với người lớn Đứa trẻ qua trò chơi như thế nào nó sẽ như thế trong công việc sau này khi lớn lên Cho nên giáo dục một con người hoạt động tương lai trước hết phải đi từ trò chơi"

Trong giai đoạn hiện nay, các tác giả nghiên cứu về trò chơi của trẻ mẫu giáo đều đi đến thống nhất, trò chơi là một hoạt động đặc thù quan trọng của đứa trẻ, một dạng hoạt động phù hợp hơn cả đối với trẻ, nó đảm nhận chức năng xã hội rộng lớn Qua trò chơi, bộc lộ rõ khả năng tư duy, tưởng tượng, tình cảm, tính tích cực, nhu cầu giao tiếp đang được phát triển ở đứa trẻ Hoạt động chơi chính là sự thực hành các kỹ năng xã hội của đứa trẻ, là cuộc sống thực của đứa trẻ trong xã hội đồng lứa Vì vậy, vấn đề nghiên cứu, sử dụng trò chơi với mục đích giáo dục trẻ phát triển toàn diện là vấn đề cần thiết trong mọi giai đoạn lịch sử phát triển của sự nghiệp giáo dục mầm non

Trang 22

N.K Krupxcaia [25] khẳng định, "Hàng loạt những phẩm chất giá trị có thể giáo dục bằng trò chơi" (N.K.Krupxcaia)

Dưới góc độ triết học duy vật, muốn có hoạt động (hoạt động chơi của trẻ) trước hết phải hình thành nhu cầu chơi ở trẻ nhưng cần phải có sự tổ chức hướng dẫn của người lớn (cô giáo, bố mẹ ) giúp trẻ làm quen với phương thức hành động của loài người với đồ vật và làm quen với phương thức giao tiếp của họ Các tác giả nghiên cứu theo hướng này gồm có: V A Mukhina [12], A.V Daparogiet, G.V Plekhanapcho [12], M.K Bô gôliup và V.V Sepenko, G.Spencer.Ph.Siller Các nhà khoa học khi nghiên cứu về trò chơi đóng kịch, tập trung nghiên cứu khái niệm, ý nghĩa, cấu trúc, cách tiến hành trò chơi đóng kịch cụ thể như sau:

V A Mukhina [12] đã coi trò chơi đóng kịch là một hình thức quá độ sang hoạt động thẩm mĩ, hoạt động nghệ thuật Như vậy, ở trường mầm non, nhiệm

vụ làm cho trẻ yêu kịch, ham thích tham gia đóng kịch là quan trọng

A.V Daparogiet [13] cho rằng Trò chơi đóng kịch là trò chơi trong đó các

em chỉ biểu hiện những chủ đề có sẵn Đặc điểm của trò này là ở chỗ dựa vào chủ đề của một chuyện cổ tích hoặc một truyện ngắn các em đóng những vai nhất định nào đó và tái hiện lại mọi sự kiện theo trình tự của chúng TCĐK là một biến dạng của trò chơi sáng tạo, vì cơ sở của nó là tái hiện lại các hình tượng và các hoạt động một cách sáng tạo

G.V Plekhanopcho[12] rằng: Trò chơi là một hình thức hoạt động , gắn liền với lao động của xã hội loài người , ông đã lý giải mối quan hệ giữa vui chơi của trẻ em và lao động của người lớn như là nguồn gốc xã hội này sinh trò chơi

M K Bô goliup và V V Sepsenko [13] “Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ” Trong tác phẩm này, các tác giả đã nhấn mạnh ý nghĩa của TCĐK như

là phương tiện giáo dục trên nhiều mặt Các tác giả còn đưa ra những biện pháp hướng dẫn trẻ chơi đóng kịch như đọc kể tác phẩm, xem tranh, cô và trẻ cùng luyện tập những động tác phù hợp với vai diễn, cô quan sát giúp đỡ trẻ diễn đúng, cho trẻ ôn luyện những vỡ kịch đã đóng

Trang 23

Tuy các tác giả không đề cập đến một yếu tố rất quan trọng của TCĐK nói riêng và kịch chính thống nói chung đó là kịch bản và sử dụng kịch bản khi đóng kịch nhưng những trình bày của họ về quy trình tổ chức đóng kịch và một vài biện pháp có tính gợi ý cách thực hiện là những tư liệu đáng quý để những người

đi sau tham khảo

G.Spencer.Ph.Siller [24], là một nhà thơ Đức nổi tiếng và cũng là một nhà triết học Ông coi trò chơi là cơ sở của tất cả các nghệ thuật Nghệ thuật cũng như trò chơi được xuất hiện khi nhu cầu sơ đẳng, cần thiết cho việc tồn tại của cuộc sống được đáp ứng Trong những thời gian rảnh rỗi con người dùng sức lực của mình để đáp ứng nhu cầu tinh thần, nhu cầu sáng tạo Việc đáp ứng những nhu cầu đó được thực hiện trong trò chơi và trong nghệ thuật Trong những việc

đó, con người được nâng cao lên trên thực tế bình thường và thực sự có được tự

do sáng tạo

Kết luận: Các nhà khoa học ở thế giới đã nghiên cứu nhiều vấn đề khác nhau về kỹ năng giao tiếp, giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch Tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ mang tính khái quát, các nghiên cứu giáo dục kỹ năng giao tiếp nhằm góp phần tăng cường nói Tiếng Việt cho trẻ dân tộc Mường cho lứa tuổi cụ thể chưa được quan tâm thoả đáng

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong nước

Cũng giống như các nước trên thế giới, ở Việt Nam, giao tiếp nói chung

và giao tiếp cho trẻ mầm non người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch nói riêng đó được rất nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học mầm non quan tâm nghiên cứu Các nhà nghiên cứu theo các hướng sau:

Ở nước ta cũng có nhiều tác giả cũng đi sâu nghiên cứu kỹ năng giao tiếp Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong hoạt động sư phạm có các tác giả như Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Như An , Nguyễn Bảo Ngọc, Hoàng Anh

Tác giả Hoàng Anh đã phân chia kỹ năng giao tiếp thành 3 nhóm kỹ năng

cơ bản sau:

Trang 24

Nhóm kỹ năng định hướng (bao gồm: nhận biết sự thay đổi trạng thái tâm

lý qua nét mặt; phán đoán được trạng thái tâm lý qua lời nói; lường trước được ý định của đối phương; chuyển hóa nhanh từ tri giác bên ngoài đến xác định tính độc đáo của nhân cách; dự đoán nhanh thái độ của đối phương đối với mình) Nhóm khả năng điều khiển bản thân (biết chủ động đề xuất giao tiếp theo mục đích của mình; biết tự kiềm chế; biết thay đổi nét mặt khi cần thiết; biết thay đổi giọng nói khi cần thiết; biết kết thúc cuộc giao tiếp hợp lý)

Nhóm kỹ năng điều khiển đối phương (biết hướng đối phương theo ý mình

để đạt được mục đích giao tiếp; biết kích thích hứng thú, tính sáng tạo của họ và biết làm giảm căng thẳng trong giao tiếp) [3]

Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng thì kỹ năng giao tiếp có 3 nhóm sau: [9]

- Nhóm kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ:

+ Kỹ năng lắng nghe

+ Kỹ năng diễn đạt

+ Kỹ năng phân tích tình huống

+ Kỹ năng tổ chức thông tin

+ Kỹ năng trình bày văn bản

- Nhóm kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ:

+ Kỹ năng mặc

+ Kỹ năng kiểm soát tư thế, cử chỉ

+ Kỹ năng kiểm soát biểu hiện nét mặt và cái nhìn

+ Kỹ năng kiểm soát lĩnh vực phi ngôn ngữ của lời nói

- Nhóm kỹ năng giao tiếp liên nhân cách:

+ Sự nhạy cảm trong giao tiếp

+ Kỹ năng tạo dựng quan hệ

+ Kỹ năng cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng

+ Kỹ năng ứng xử linh hoạt và mềm dẻo

+ Kỹ năng tự chủ cảm xúc, hành vi

+ Kỹ năng chủ động điều khiển quá trình giao tiếp

+ Kỹ năng điều chỉnh, điều khiển đối tượng giao tiếp

Trang 25

+ Kỹ năng kiềm chế, kiểm tra đối tượng giao tiếp [11]

Tác giả Hoàng Anh khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp đối với việc nâng cao hiệu quả giờ lên lớp, kích thích tích cực lĩnh hội tri thức và khêu gợi lòng khao khát hiểu biết ở học sinh Kỹ năng giao tiếp là một trong những điều kiện đảm bảo cho sự thành công của sinh viên trong thực tập sư phạm, đồng thời góp phần hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của người thầy giáo trong tương lai [11]

Các đề tài nghiên cứu trên đều khai thác KNGT ở các cạnh khác nhau Chủ thể của các kỹ năng lại khá đa dạng ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực trong cuộc sống Sự khác biệt đó sẽ quy định sự hình thành và phát triển KNGT mang tính đặc trưng của hoạt động mà chủ thể giao tiếp đã, đang và sẽ tham gia vào

Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về trò chơi, sử dụng chúng vào việc hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục đạo đức, giáo dục lòng nhân ái, giáo dục tính cực nhận thức, giáo dục tính tích cực giao tiếp, giáo dục tính hợp tác, giáo dục thể chất cho trẻ em nói chung và trẻ mẫu giáo nói riêng

Các tác giả nghiên cứu theo hướng này gồm có: Lương Kim Nga, Đinh Văn Vang, Nguyễn Quang Uẩn [3], Trần Thị Trọng, Nguyễn Thị Hòa, Phạm Thị Châu… Các nhà khoa học khi nghiên cứu về trò chơi đóng kịch, tập trung nghiên cứu khái niệm, ý nghĩa, cấu trúc, cách tiến hành trò chơi vận động cụ thể như sau:

Lương Kim Nga, Trò chơi đóng kịch là một nội dung của hoạt động vui chơi trong trường mẫu giáo Tuy vậy, nó không đơn thuần là trò chơi mà còn là hoạt động mang tính chất nghệ thuật Ngược lại nó khơng chỉ là hoạt động nghệ thuật mà còn là trò chơi Hai yếu tố này kết hợp chặt chẽ trong nội dung cũng như trong quá trình tổ chức vui chơi, kích thích trẻ hoạt động tích cực trong suốt cuộc chơi

Tác giả Đinh Văn Vang [3], trong cuốn giáo trình “Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non" đã nghiên cứu kĩ lưỡng về TCĐK từ khái niệm – đặc điểm ý nghĩa, từ đó đưa ra các bước tiến hành tổ chức TCĐK rất cụ thể Tác giả

Trang 26

khẳng định trong suốt quá trình chơi TCĐK trẻ phải huy động các chức năng tâm lí như ngôn ngữ, trí nhớ, óc tưởng tượng, tư duy, xúc cảm để thể hiện tính cách nhân vật Do vậy mà các chức năng tâm lí cũng như ngôn ngữ của trẻ cũng được phát triển Cũng trong cuốn giáo trình, tác giả đưa ra một số kịch bản được chuyển thể từ những câu chuyện rất gần gũi và thân thuộc với trẻ trong chương trình giáo dục mầm non

Nguyễn Quang Uẩn [8] trong cuốn “Tâm lý học trẻ em” đã khẳng định: vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, trong trò chơi phản ánh sinh hoạt xã hội sẽ giúp trẻ nhận thức được các mối quan hệ xã hội

Tác giả Nguyễn Thị Hòa, trong cuốn giáo trình “Giáo dục học mầm non" cũng khẳng định TCĐK góp phần thúc đẩy sự phát triển tư duy và đem lại giá trị thẩm mĩ cao đẹp cho trẻ Tác giả viết: Bằng ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm, khi chơi TCĐK giúp trẻ nắm được ngôn ngữ dân gian có nội dung phong phú và đầy sức diễn cảm Từ đó giúp trẻ cảm thụ được sự giàu có của ngôn ngữ, nắm được phương tiện thể hiện ngôn ngữ, lĩnh hội được sự phong phú của tiếng

mẹ đẻ Thông qua trò chơi còn giúp trẻ hiểu được chân, thiện, mĩ, từ đó bồi dưỡng cho trẻ có tâm hồn thanh cao, có lòng nhân ái, bao dung Từ ý nghĩa to lớn đó tác giả đã đưa ra các điều kiện và cách hướng dẫn trẻ chơi đóng kịch Tác giả đặc biệt chú ý nhắc nhở ở giáo viên khi tổ chức cho trẻ chơi TCĐK cần duy trì ở trẻ cảm xúc tốt đẹp, và thái độ đúng đắn với tác phẩm cũng như bạn chơi

để tạo cho trẻ tâm trạng vui vẻ, mang theo dư âm tốt lành về trò chơi vừa chơi xong

Phạm Thị Châu [4], trong cuốn “Giáo dục học mầm non" của tác giả đã đưa ra yêu cầu khi hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi TCĐK như cô hướng dẫn trẻ chọn chủ đề chơi, phân vai chơi, giúp trẻ nhớ lại nội dung câu chuyện, dựng sân khẩu, cô giáo không cần tham gia vào trò chơi mà cần chú ý quan sát, giúp đỡ trẻ khi cần thiết

Nói chung ở Việt Nam cũng có rất nhiều các tác giả đã nghiên cứu về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp nói chung, nhưng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ người dân tộc Mường ít được nghiên cứu đến và chưa thực sự quan tâm

Trang 27

1.2 Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

1.2.1 Khái niệm giáo dục kỹ năng giao tiếp

1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng

Khi nói đến kỹ năng chúng ta thường nghĩ đến kỹ năng như kỹ năng đọc,

kỹ năng viết, kỹ năng nói hay kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng

tổ chức…Tuy nhiên để có một khái niệm đúng đắn về kỹ năng thì cũng có nhiều

+ Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “Kỹ năng là khả năng thực hiện

có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật mà còn biểu hiện năng lực của con người” + Theo Nguyễn Quang Uẩn: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện thực tiễn cho phép” [3]

+ Theo từ điển tâm lí học: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hoạt động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [8]

+ Theo giáo trình Tâm lí học đại cương: “Kỹ năng là năng lực sử dụng các

dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính cơ bản của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm

vụ lý luận hay thực hành xác định”

+ Ngoài ra, quan niệm của một số tác giả như: Lê Văn Hồng, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết, Hồ Lam Hồng cho rằng: “Kỹ năng là một năng lực của con người, là khả năng con người thực hiện công việc có kết quả dựa trên cơ

sở những tri thức và kinh nghiệm đã có”

Trang 28

Như vậy, có thể coi kỹ năng vừa là năng lực cá nhân, vừa đòi hỏi mặt kỹ thuật và phải dựa trên sự vận dụng kiến thức một cách linh hoạt vào thực tiễn Trên cơ sở đó, chúng tôi xây dựng khái niệm “kỹ năng” như sau:

Kỹ năng là sự vận dụng có hiệu quả những kiến thức đã được tích luỹ để thực hiện một hành động nào đó tương ứng với mục đích, điều kiện của hành động Như vậy, kỹ năng vừa là kỹ thuật hành động vừa là năng lực của cá nhân 1.2.1.2 Khái niệm kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng là năng lực vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hành động có kết quả tương ứng Đây là tiêu chuẩn để đánh giá năng lực hoạt động của con người, được hình thành thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa người với người phát sinh từ nhu cầu trong hoạt động chung như các hoạt động trao đổi thông tin, nhận thức và ảnh hưởng lẫn nhau nhằm thực hiện mục đích nhất định của một hoạt động cụ thể

Như vậy, khái niệm kỹ năng giao tiếp là năng lực vận dụng những hiểu biết trong quá trình giao tiếp, sử dụng có hiệu quả các phương tiện giao tiếp để định hướng và điều khiển quá trình giao tiếp

1.2.1.3 Khái niệm giáo dục kỹ năng giao tiếp

“Giáo dục (theo nghĩa rộng – nghĩa xã hội học) là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người.”[4]

“Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của quá trình sư phạm (quá trình giáo dục), là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong

xã hội, thuộc các lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm

mỹ, vệ sinh ”[4]

Kỹ năng giao tiếp cho phép chúng ta truyền tải thông tin cho người khác và hiểu những gì người khác muốn truyền đạt với mình Hay nói cách khác, giao

Trang 29

tiếp hiệu quả chính là chìa khóa để chúng ta có thể chung sống và hòa nhập, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển như ngày nay

Giáo dục kỹ năng giao tiếp là quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm mục đích giúp cho người học hình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để tiếp nhận, xử lý thông tin, trao đổi bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong các mối quan hệ của người học ở gia đình, nhà trường, xã hội

1.2.2 Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi

1.2.2.1 Kỹ năng thể hiện tình cảm

Tình cảm là thái độ, là sự rung cảm của chủ thể, biểu hiện tình yêu thương giữa con người với con người, giữa con người với các sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ giữa nhu cầu và động cơ của chủ thể

Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo lớn đã có thể nhận thức được nhiều điều xung quanh, có nhu cầu thể hiện tình cảm và muốn được yêu thương nhiều hơn Đặc biệt, trẻ đã có những hiểu biết về so sánh mức độ tình cảm của trẻ với người này, người khác hoặc mọi người đối với trẻ và trẻ khác, bởi thế giáo dục trẻ có kỹ năng thể hiện tình cảm ở tuổi này là rất quan trọng

Nội dung kỹ năng thể hiện tình cảm:

- Trẻ hiểu được cái hay, cái đẹp của thiên nhiên xung quanh, biết các quy tắc, chuẩn mực của xã hội Từ đó biết yêu thương, biết quan tâm, chia sẻ giúp đỡ những người xung quanh, biết yêu quý và biết bảo vệ sản phẩm lao động

- Hình thành ở trẻ sự nhạy cảm, kỹ năng sống (hợp tác, đồng cảm, chia sẻ, giúp đỡ, có trách nhiệm với con người và sinh vật xung quanh)

- Trẻ biết cảm ơn khi nhận được sự giúp đỡ, biết xin lỗi và sửa lỗi khi làm phiền người khác hoặc làm những người khác không hài lòng

1.2.2.2 Kỹ năng kết bạn

Càng lớn nhu cầu mở rộng mối quan hệ, tìm tòi, tò mò về các sự vật xung quanh của trẻ càng nhiều Việc kết bạn làm quen, giới thiệu bản thân sẽ giúp con người mở rộng mối quan hệ, biết được các thông tin của một người nào đó dễ dàng và nhanh chóng hơn

Trang 30

Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng cũng vậy, hàng ngày trẻ luôn muốn biết nhiều hơn về những người xung quanh trẻ và muốn người khác biết đến mình, đặc biệt là những người cùng trang lứa với trẻ Trẻ muốn có thêm nhiều bạn, biết về bạn, bạn biết về mình và muốn được chơi cùng bạn Kỹ năng kết bạn làm quen sẽ giúp trẻ giải quyết được những vấn đề đó, giúp trẻ biết được các thông tin về người khác, có lượng vốn kiến thức và ngôn ngữ phù hợp để giới thiệu về bản thân phần nào giúp trẻ nhận biết được vị trí của bản thân trong một trường hợp giao tiếp nhất định Kỹ năng kết bạn yêu cầu trẻ, biết tự giới thiệu đơn giản về bản thân như: Tên, tuổi, giới tính, quê quán, sở thích của mình, chủ động trong các tình huống giao tiếp, sẵn sàng làm quen với người đáng tin cậy hoặc bạn bè mới, lịch sự và tôn trọng bạn mới, sẵn sàng giúp

là đơn vị độc lập, không phụ thuộc vào môi trường xung quanh vì: “Bản chất con người không phải là trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của tất cả những mối quan

hệ xã hội.” (Mác- Ănghen “Tuyển tập” – Nhà xuất bản sự thật Hà Nội, 1971) Trong quá trình giao tiếp với nhau, người ta trao đổi quan niệm với nhau Trong quan niệm của họ thể hiện thái độ đánh giá về mặt trí tuện của họ đối với những mặt khác nhau của đời sống thực tế, của đời sống vật chất và tinh thần Những quan niệm này có thể giống nhau và như thế thì củng cố lẫn nhau và trở thành cơ sở cho hoạt động chung và cho cách ứng xử của những người ấy

Trang 31

Những quan niệm giống nhau sẽ củng cố thái độ đạo đức nảy sinh một cách tự phát Còn trong trường hợp có những quan niệm dẫn đến việc hình thành quan điểm chung Trong quá trình giao tiếp người ta cũng trao đổi kiến thức cho nhau

và chính như thế là nâng cao trình độ văn hóa chung của tập thể cũng như của mỗi thành viên trong đó Điều quan trọng không phải là bản thân các kiến thức được truyền đạt lại mà là thái độ tích cực đối với các kiến thức đó Điều đó giải thích tại sao lại có sự lựa chọn thiên lệch đối với một số nghề nghiệp, sách báo phổ biến, khoa học, tác phẩm nghệ thuật nào đó

Trong quá trình nghiên cứu về giao tiếp người ta cũng trao đổi cho nhau các kinh nghiệm riêng về cuộc sống và lao động, tác động vào ý chí và tình cảm của nhau nhằm mục đích tạo nên sự thống nhất rộng lớn để giải quyết các vấn đề

xã hội một cách có kết quả

Có thể nói rằng con người hiểu biết mình và nhận thức mình như là một nhân cách qua quá trình giao tiếp Nhận thức được sức mạnh tinh thần và thể lực của mình trong sự thống nhất với người khác Từ đó, có được tình đồng chí, bạn

bè và sự giúp đỡ lẫn nhau, lòng tin tưởng ở chính mình, thủ tiêu sự cô lập Đặc biệt qua quá trình giao tiếp, con người có được ấn tượng mới và thông tin mới truyền thụ cho nhau những kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm sống, tạo nên sự phong phú thực sự về mặt tinh thần của mỗi cá nhân

Chính giao tiếp đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường, nhờ có giao tiếp đã góp phần thúc đẩy sự phát triển ở trẻ, giúp trẻ hình thành được một số phẩm chất rất cần thiết như sự mạnh dạn, tự tin, dễ hòa đồng, sáng tạo, linh hoạt, có hành vi ứng xử giao tiếp tốt, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, độc lập trong suy nghĩ và trong tư duy, thông qua giao tiếp sẽ giúp trẻ hình thành được năng lực tự

ý thức, điều này sẽ giúp ích cho sự phát triển toàn diện về mọi mặt của trẻ sau này

1.2.4 Nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

Trang 32

Trong chương trình “chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo”, nội dung giáo dục

kỹ năng giao tiếp cho trẻ người dân tộc Mường được xác định là nhiệm vụ giáo dục trẻ, phải được thực hiện ở mọi lúc mọi nơi Do vậy, những yêu cầu của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp được đan cài trong tất cả các hoạt động chăm sóc giáo dục Cụ thể như sau:

Biết chủ động chào hỏi mọi người khi gặp gỡ hoặc chia sẻ: Trẻ sử dụng tiếng Việt như một công cụ để nói chuyện, trao đổi, chia sẻ, hợp tác với bạn bè, với người lớn trong quá trình hoạt động Ví dụ: trong HĐVC trẻ dùng tiếng Việt

để xác định chủ đề chơi, nội dung chơi, cách chơi, phân vai chơi…; trong hoạt động học tập trẻ dùng tiếng Việt để phân tích, so sánh, khái quát hóa… nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập, gọi tên sự vật, mô tả đặc điểm của sự vật

Biết thể hiện sự biết lỗi khi có lỗi và cư sử đúng mực khi người khác có lỗi với mình

Biết thực hiện đầy đủ các yêu cầu khi tham gia vào giao tiếp: Trẻ thiết lập được quan hệ với bạn bè, với người lớn thông qua giao tiếp bằng tiếng Việt: cùng chơi, cùng học với bạn, thực hiện được những yêu cầu của cô giáo trong học tập, vui chơi, sinh hoạt tập thể… Trên cơ sở đó tạo được mối quan hệ thân thiện, gắn bó với cô, với bạn bè

1.2.5 Đặc điểm phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường

Đất nước có 54 dân tộc anh em trong đó có 53 dân tộc thiểu số sinh sống ở khắp nơi, mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hóa và một ngôn ngữ riêng Tuy nhiên các dân tộc đa phần là sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn nên có ít điều kiện giao tiếp Do vậy họ đều có một số đặc điểm giống nhau trong giao tiếp như: Thật thà, rụt rè, thiếu tự tin trong giao tiếp, khi nói hay mất dấu, mắc lỗi ngữ pháp do dùng quen tiếng dân tộc

Đặc điểm giao tiếp của trẻ em người dân tộc Mường ở đây thì cũng giống nhu cầu và đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo nói chung là đều có nhu cầu giao tiếp, kết bạn, khám phá môi trường xung quanh để thỏa mãn các nhu cầu nhận thức, tâm sinh lí xã hội Do điều kiện nơi sống nên giao tiếp của trẻ người dân

Trang 33

tộc Mường ở trong phạm vi hẹp ở trong xóm-bản nên trẻ lứa tuổi mầm non ít có điều kiện mở rộng giao tiếp, giao lưu, tiếp xúc với nhiều người Nhiều trẻ vì lí

do gia đình, cá nhân mà chưa được đến trường mầm non từ sớm, đúng tuổi nên

ở gia đình các cháu giao tiếp với các thành viên trong gia đình bằng tiếng dân tộc của mình, cho đến khi 5 đến 6 tuổi mới đến lớp mẫu giáo, một môi trường hoàn hoàn mới, với cô giáo và bạn bè mới gây khó khăn với trẻ em người dân tộc Mường trong giao tiếp với những biểu hiện như: Thiếu tự tin trong giao tiếp, rụt rè, vụng về, e thẹn, hay ngồi một chỗ, ít nói, chỉ chơi và giao tiếp với bạn đã quen biết trước, thụ động trong giao tiếp với cô giáo và bạn bè mới

Với trẻ em người dân tộc Mường thì tiếng dân tộc (tiếng mẹ đẻ) là phương tiện ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày Do đó việc sử dụng thành thạo Tiếng Việt phổ thông là một điều rất khó đối với trẻ, khi nói trẻ hay bị lẫn giữa Tiếng Việt phổ thông và ngôn ngữ của dân tộc mình, trẻ thường nói sai về mặt ngữ pháp, trật tự câu và hay bị nhầm lẫn về dấu (dấu ngã và dấu sắc) và chữ trong một số từ vựng, ví dụ như từ “cũng” thì trẻ nói là từ “cúng”, chữ “ô” trong

từ “không” thì trẻ phát âm thành chữ “â” là “khâng” Nhưng thực tế Tiếng Việt phổ thông là một phương tiện để trẻ giao tiếp xã hội, lĩnh hội những tri thức và kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người ở trường lớp mẫu giáo và các bậc học tiếp về sau, điều này đòi hòi trẻ em người dân tộc Mường mỗi người đều phải biết sử dụng Tiếng Việt một cách thành thục Bởi lẽ đó, việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ em người dân tộc Mường là việc làm quan trọng và rất cần thiết

Khi giáo dục kỹ năng giao tiếp ở trẻ em người dân tộc Mường được rèn luyện thông qua trò chơi đóng kịch thì đây là một điều kiện thuận lợi để trẻ lĩnh hội những tri thức và kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, hình thành các phẩm chất tâm lí, nhân cách cho các em, kỹ năng giao tiếp là một đức tính và phẩm chất quan trọng cần có ở mỗi cá nhân trong bất cứ thời đại nào Từ đó mà việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi người dân tộc Mường là vấn đề mang ý nghĩa thực tiễn đối với sự phát triển toàn tiện của đứa trẻ và đặc biệt là trẻ em người dân tộc Mường

Trang 34

1.3 Trò chơi đóng kịch

1.3.1 Khái niệm trò chơi đóng kịch

Trò chơi đóng kịch có nghĩa là biểu diễn theo kịch bản dưới các vai, vừa giữ nguyên trình tự sự việc xảy ra trong nội dung kịch bản, vừa diễn đạt lại tính chất, đặc điểm của nhân vật

Trò chơi đóng kịch theo tác phẩm văn học là một nội dung của hoạt động vui chơi trong trường mầm non Nó không chỉ đơn thuần là trò chơi mà còn là hoạt động mang tính nghệ thuật và ngược lại nó không chỉ là hoạt động nghệ thuật mà còn là trò chơi Hai yếu tố này được kết hợp chặt chẽ trong nội dung cũng như trong quá trình tổ chức vui chơi

Trong trò chơi đóng kịch theo tác phẩm văn học trẻ không chỉ biến mình thành người lớn mà còn phải “ hóa thân ” thành các nhân vật với nội tâm phong phú, phức tạp với cá tính khác biệt, với những hành động vừa thực tế, vừa kỳ ảo… Để đóng được vai này trẻ phải trải qua một quá trình lao động nghệ thuật gần giống như người nghệ sĩ Kết quả của trò chơi đóng kịch có một ý nghĩa rất quan trọng nó giúp trẻ tích lũy được kinh nghiệm sống qua trải nghiệm các nhân vật trong tác phẩm, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển ngôn ngữ và sự phát triển cảm xúc, tình cảm thẩm mỹ ở trẻ Qua trò chơi đóng kịch trẻ lĩnh hội được ngôn ngữ giàu hình ảnh, học được giọng nói diễn cảm rõ ràng và trẻ hoàn thiện mình hơn về đạo đức, trẻ sẽ học ở đó lòng dũng cảm, tính trung thực, tình yêu quê hương đất nước, yêu những điều thiện, bênh vực những người yếu đuối, lên

án những cái xấu, cái ác Đặc biệt trò chơi đóng kịch đã phát triển ở trẻ tính tích cực cá nhân, tính độc lập sáng tạo

Theo nhà giáo dục người Nga N.A Leonchiev đã coi “trò chơi đóng kịch là một hình thức quá độ sang hoạt động thẩm mỹ, hoạt động nghệ thuật” Như vậy,

ở trường mầm non nhiệm vụ làm trẻ yêu kịch, ham thích tham gia đóng kịch là rất quan trọng Khi tham gia đóng kịch trẻ em vừa nhận thức được cuộc sống với những mối quan hệ con người với tự nhiên xã hội quan trọng hơn cả là trẻ thể hiện, được biểu diễn nghệ thuật Quá trình đó hình thành cho trẻ trở nên nhạy

Trang 35

cảm hơn, linh hoạt hơn, biết vận dụng những vốn hiểu biết, nhận thức, kỹ năng

của mình để thành công

1.3.2 Đặc điểm của trò chơi đóng kịch ở lứa tuổi mẫu giáo

Trò chơi đóng kịch là loại trò chơi có chủ đề có vai chơi, nội dung chơi Có thể nói đây là một biến thể trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trò chơi đóng kịch là một loại trò chơi mạng tính nghệ thuật Tuy nhiên nó không phải là một hoạt động nghệ thuật mà chỉ là thi chơi thôi

Tính nghệ thuật và tính chất chơi là hai yếu tố kết hợp chặt chẽ với nhau trong nội dung chơi cũng như quá trình tổ chức trò chơi:

Yếu tố nghệ thuật trong nội dung chơi cũng như quá trình tổ chức trò chơi được thể hiện ở những điểm sau: Trò chơi đóng kịch bao giờ cũng có kịch bản,

đó là yếu tố trung tâm giữ vai trò nòng cốt của nghệ thuật kịch Có thể nói thành công của vở kịch phải bắt đầu từ kịch bản (kịch bản chuyển thể có hấp dẫn hay không, có làm nổi bật tính cách nhân vật hay không, có phù hợp với khả năng của trẻ hay không ) Vì vậy việc chuẩn bị kịch bản có ý nghĩa quan trọng khi tổ chức trò chơi đóng kịch Kịch bản vừa đề xuất nội dụng, vừa là kế hoạch, chương trình được thực hiện trên “sân khấu " Nhân vật trong trò chơi đóng kịch

có thể là người, có thể là con vật, cảnh vật được nhân cách hoá với những phẩm chất tính cách nổi bật như thiện hoặc ác, nhanh hay chậm, khiêm tốn hoặc kiêu căng, nhút nhát hay dũng cảm, tham lam hay tốt bụng, hảo tâm Để làm nổi bật tính cách nhân vật trẻ phải sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt nhằm

“hoá thân" vào nhân vật để truyền cảm tới “khán giả ", gợi nên ở "khán giả những suy nghĩ, thái độ phù hợp Việc nhập vai trong trò chơi đóng kịch không diễn ra một cách tự nhiên tuỳ thuộc vào tình huống chơi (như trò chơi đóng vai theo chủ đề mà phải tuân thủ một kịch bản văn học nhất định Do vậy để nhập được vai trẻ phải trải qua một quá trình "lao động nghệ thuật ": tập tành trước khi biểu diễn giống như một nghệ sĩ Ngoài những nhân vật theo nội dung tác phẩm văn học, trong trò chơi đóng kịch thường có nhân vật người dẫn chuyện Nhân vật này có thể là một cá nhân (cô hoặc trẻ đảm nhiệm), có thể là một nhóm; có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện trên sân khấu, nhưng luôn có chức

Trang 36

năng xâu chuỗi các sự kiện, lan Ba câu chuyện kịch vốn có thể bị lược bỏ bớt các chi tiết phụ vận - đầu, có cuối diễn biến mạch lạc, trở nên dễ hiểu đối với trẻ Ngôn ngữ người dẫn chuyện vừa dẫn dắt các nhân vật vừa định hướng quá trình tiếp xúc và cảm thụ tác phẩm văn học của trẻ Nghệ thuật trong nội dung trò chơi còn được thể hiện ở tính tổng hợp của nội dung kịch bản Để vở kịch diễn

ra sôi nổi, hào hứng, vui nhộn, kịch bản cần có thêm những hỗ trợ bằng điệu múa, lời ca, tiếng hát phụ hoạ cho tính cách các nhân vật; hoá trang, đạo cụ, sân khấu phù hợp với nhân vật, với chủ đề chơi cũng tăng thêm sức hấp dẫn của

“vở diễn" đối với “khán giả”

Yếu tố chơi trong nội dung cũng như quá trình tổ chức trò chơi đóng kịch được thế hiện ở những điểm sau: Lời nói, điệu bộ, cử chỉ của các nhân vật (kê cả

"chính diện lẫn phản diện"; trang phục, hoá trang, sân khấu; lời hát, điệu múa đều mang tính hồn nhiên, ngộ nghĩnh phù hợp với tâm lí tuổi thơ Trẻ tham gia trò chơi một cách tự nguyện, thoải mái do sức hấp dẫn của chính trò chơi (được đóng vai này, vai kia) chứ không phải do bị áp đặt Trong thực tế, phần lớn trẻ chỉ thích đóng vai nhân vật tốt, trẻ trung, giỏi giang chứ không muốn đóng vai xấu xí, độc ác, kém cỏi Do vậy, cô giáo cần động viên, khích lệ trẻ không chỉ đóng vai người tốt, việc tốt mà cần phải đóng cả vai xấu xí, độc ác, kém cỏi nữa thì mới vui được Dù trong trường hợp nào đi nữa cũng không nên cưỡng ép trẻ phải đóng vai nào đó mà trẻ không thích Trong nhiều trường hợp, cô cần nhận đóng vai mà trẻ không thích để cùng trẻ thể hiện đúng yêu cầu của kịch bản Khi tham gia những vai như vậy, cô thể hiện sao cho thật ấn tượng, thật vui để khích

lệ trẻ tự nguyện nhận vai đó cho những lần chơi tiếp theo Trò chơi đóng kịch của trẻ mẫu giáo chỉ là mô phỏng lại nghệ thuật kịch chứ không phải là đóng kịch thực sự Do vậy, trong trò chơi này cả "diễn viên" và “khán giả" đều thuộc hành động của các nhân vật (thuộc kịch bản) và có thể hoán đổi vị trí cho nhau (ở lần chơi này một số cháu là “diễn viên", các cháu khác là “khán giả"; ở lần chơi khác “diễn viên lại trở thành khán giả" và một số “khán giả trước đó trở thành diễn viên")

Trang 37

1.4 Vai trò của trò chơi đóng kịch đối với việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

Với trẻ mầm non, trò chơi là một dạng hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống của trẻ Bên cạnh rất nhiều các trò chơi như: Đồ chơi, búp bê, trò chơi dân gian thì trong đó trò chơi đóng kịch là một dạng trò chơi đặc biệt không chỉ được trẻ em say mê, hứng thú chơi mà còn có vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động giao tiếp của trẻ Qua trải nghiệm các nhân vật trong tác phẩm, nó ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển ngôn ngữ của trẻ, trẻ lĩnh hội được ngôn ngữ giàu hình ảnh, học được giọng nói diễn cảm, nhẹ nhàng

Trò chơi đóng kịch theo tác phẩm văn học là một nội dung của hoạt động vui chơi trong trường mầm non Nó không chỉ đơn thuần là trò chơi mà là hoạt động mang tính chất nghệ thuật và ngược lại nó không chỉ là hoạt động nghệ thuật mà là trò chơi Hai yếu tố này được kết hợp chặt chẽ trong một nội dung Trong trò chơi đóng kịch trẻ không chỉ biến mình thành người lớn và còn phải hóa thân thành các nhân vật với nội tâm phong phú, phức tạp với những cá tính khác biệt, với những hành động vừa thực tế, vừa kỳ ảo Kết quả của trò chơi đóng kịch có vai trò rất quan trọng nó giúp trẻ tích lũy được kinh nghiệm sống qua trải nghiệm của các nhân vật trong tác phẩm văn học, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ Qua trò chơi đóng kịch trẻ lĩnh hội được ngôn ngữ giàu hình ảnh, cách giao tiếp, bên cạnh đó biết lên án những cái xấu, cái ác Ở trường mầm non nhiệm vụ làm cho trẻ yêu đóng kịch là rất quan trọng khi đóng kịch trẻ vừa được giáo dục những thói quen tốt, trò chơi vừa đem lại cho trẻ thơ niềm hạnh phúc

Muốn cho trẻ nhập vai tốt trong trò chơi đóng kịch, sau khi đã lựa chọn tác phẩm văn học phù hợp với trẻ thì giáo viên phải tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học mà trẻ sẽ đóng kịch bằng cách đọc kể tác phẩm văn học cho trẻ nghe, trẻ được cảm nhận và hiểu tính cách nhân vật Trẻ càng hiểu và trải nghiệm sâu sắc tác phẩm thì càng phản ánh đúng đắn vào trong trò chơi của mình Cảm nhận sâu sắc tác phẩm văn học là một trong những điều kiện để diễn

Trang 38

kịch thành công và thể hiện đúng tính cách nhân vật Không những vậy bằng hình tượng và ngôn ngữ văn học, tác phẩm văn học làm nảy sinh trong tâm hồn trẻ thơ tình cảm sâu sắc những rung động với cuộc sống xung quanh Xuất phát

từ những đặc điểm của trò chơi là mô tả, tái hiện lại những hình ảnh của nhân vật, những sự kiện trong tác phẩm cho nên đây cũng chính là diễn biến của trò chơi sáng tạo

Đóng kịch là trò chơi mang tính chất là chơi vừa là hoạt động nghệ thuật mang tính tập thể khá cao, trong trò chơi trẻ thật sự thoải mái không gò bó trong khi chơi nhưng lại kích thích bản thân trẻ cố gắng để hoàn thiện vai chơi của mình Trong vở kịch bao giờ cũng có những nhân vật mang tính thiện, tính ác, tốt xấu đối lập nhau nhưng bên cạnh đó lại luôn luôn có sự đoàn kết giúp đỡ nhau cùng vượt qua khó khăn bảo vệ cái thiện chống lại cái ác, chia sẻ giúp đỡ phái yếu Vì thế kịch là một thể loại vừa mang tính tập thể vừa mang tính giáo dục cao

Các vở kịch: Chú dê đen, ba cô gái, quả bầu tiên Giúp trẻ biết hướng thiện sống chân thật biết chăm lo lao động, chăm học hành, biết tự bảo vệ bênh vực những cái yếu chống lại những cái ác

Trò chơi đóng kịch còn là phương tiện giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ đồng thời còn là phương tiện phát triển ngôn ngữ nói diễn cảm và ngữ âm: Điệu

bộ, cử chỉ, ánh mắt, giọng nói hơn thế nữa nó là phương tiện làm quen với nghệ thuật đó là kịch nói Qua trò chơi trẻ tái hiện được lịch sử của dân tộc: Sự tích Bánh chưng bánh dày, Sơn tinh thủy tinh, Sự tích Hồ Gươm… Giúp trẻ hiểu rõ hơn truyền thống tốt đẹp đó Hình thành cho trẻ tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc

Qua hoạt động này trẻ đã truyền đạt những nội dung trong câu chuyện làm sống lại tâm trạng, hành động ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật Đồng thời thể hiện sự đánh giá của mình đối với các nhân vật từ đó trẻ biết liên hệ những điều cần thiết trong truyện đối với đời sống thường nhật của mình, giúp trẻ càng ngày hoàn thiện hơn về mọi mặt

a Trò chơi đóng kịch góp phần phát triển trí tuệ cho trẻ

Trang 39

Đầu tiên là việc tổ chức các trò chơi đóng kịch cho trẻ với những nội dung, hình thức phong phú đã phần nào tạo cơ hội để trẻ thỏa mãn nhu cầu học tập, vui chơi, giao tiếp và sở thích của trẻ Đặc biệt là những trò chơi đóng kịch có nhiều lời thoại, mang tính giáo dục cao Giúp trẻ có thể đúc kết những kinh nghiệm, trẻ có nhiều cơ hội để sáng tạo, để nói lên suy nghĩ của mình trong nhân vật trẻ được hóa thân vào từ đó giúp trẻ nói rõ ràng, mạch lạc

Trong quá trình chơi, trẻ nhập vai và phản ánh tính cách nhân vật một cách

rõ ràng thông qua lời nói, cử chỉ, điệu bộ, hành động Thông qua đó tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân dân tộc Mường tốt hơn Bởi vì trong quá trình trẻ tổ chức trò chơi đóng kịch lời thoại của các nhân vật phù hợp với trẻ, lời thoại cũng có tính giáo dục cao, góp phần làm thêm phong phú thêm đời sống tinh thần của trẻ

b Trò chơi đóng kịch góp phần giáo dục đạo đức cho trẻ

Giáo dục trẻ cách hợp tác, thể hiện tình cảm, biết quan tâm và chia sẻ hòa thuận với nhau trong trò chơi, học cách kiềm chế, học được cách tuân thủ những quy định trong trò chơi

Trò chơi đóng kịch là một trong những con đường giúp trẻ tiếp nhận văn học một cách có hiệu quả nhất Bởi vì trẻ không những được nghe cô kể, đọc và phân tích về tính cách của nhân vật mà trẻ còn được hóa thân, trải nghiệm tính cách thật của nhân vật qua mỗi câu chuyện Qua đó giúp trẻ cảm nhận được tính cách của nhân vật một cách sâu sắc nhất Bên cạnh đó thông qua trò chơi đóng kịch trẻ đã được nhập vai hoàn toàn để thể hiện tính cách nhân vật, trẻ sẽ hiểu được nhân vật, hiểu chân, thiện, mỹ Từ đó hướng trẻ tới cái thiện, khinh ghét cái ác ở trẻ

Thông qua quá trình tổ chức trò chơi đóng kịch với nhau giữa trẻ sẽ trở nên gần gũi từ đó tình cảm bạn bè càng thân thiết hơn, trẻ sẽ biết cách cách giúp đỡ nhau, tính tập thể được thể hiện chặt chẽ hơn Sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau, nhường nhịn nhau giúp trẻ có ý thức tập thể tạo nên cho trẻ có điều kiện tốt để hòa nhập với cộng đồng Đặc biệt là khi trẻ tổ chức chơi cùng nhóm với nhau trẻ học được cách lập kế hoạch, phối hợp thực hiện nhiệm vụ Quá trình

Trang 40

tham gia trò chơi cùng nhau giúp cho các mối quan hệ bạn bè được củng cố, phát triển, trẻ biết đoàn kết, hòa nhã, hợp tác và giúp đỡ bạn bè

Như vậy, thông qua trò chơi đóng kịch giúp cho trẻ người dân tộc Mường giúp trẻ có khả năng nói tiếng Việt rõ ràng mạch lạc hơn ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, hiệu quả đạt được sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống sau này của trẻ

c Trò chơi đóng kịch góp phần phát triển thẩm mỹ cho trẻ

Thực chất trò chơi đóng kịch của trẻ còn thể hiện tính nghệ thuật trong nội dung của kịch bản để vở kịch diễn ra hào hứng và sôi nổi hơn thì cần có thêm những điệu múa, lời ca để hỗ trợ cho vở kịch tăng sức hấp dẫn với người xem hơn qua đó giúp trẻ thấy được cái đẹp trong cuộc sống để học tập theo Trong quá trình trẻ tham gia đóng kịch, trẻ được hóa thân vào các nhân vật, có được những lời thoại trong kịch bản giúp trẻ học được lời ăn tiếng nói, những từ ngữ

có văn hóa, những hành động đẹp trong đó Trong trò chơi đóng kịch khác với các loại trò chơi khác là có thêm đạo cụ, trang phục Góp phần gợi thêm cho trẻ hứng thú khi nhìn thấy những bộ quần áo với những sắc màu sặc sỡ Bên cạnh

đó các nhân vật trong câu chuyện cũng được chỉnh chu về lời thoại của nhân vật, những hành động đẹp, những câu nói hay, những cách ứng xử phù hợp với đạo đức đức và lứa tuổi Luôn là những mặt mạnh để trẻ có thể học tập theo, ngày càng hoàn thiện bản thân mình hơn

Qua trò chơi đóng kịch trẻ chủ yếu được tiếp xúc với cái “đẹp”, chính vì vậy trẻ óc thẩm mỹ của trẻ luôn được hình thành và phát triển Việc tham gia trò chơi đóng kịch còn giúp trẻ phát triển sự khéo léo, linh hoạt, nhanh nhẹn, phát triển sự sáng tạo của trẻ

d Trò chơi đóng kịch góp phần phát triển thể chất

Bất kể khi giáo dục kỹ năng nào đó thì đều cần tới sự vận động của cơ thể

và hệ thần kinh Trong đó có giáo dục kỹ năng giao tiếp thông qua trò chơi đóng kịch

Một số kỹ năng vận động được sử dụng bao gồm:

Ngày đăng: 03/07/2023, 22:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Chương trình giáo dục mầm non, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, theo nội dung đổi mới hình thức tố chức hoạt động giáo dục, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, theo nội dung đổi mới hình thức tố chức hoạt động giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2007
3. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang (2007), Tâm lí học đại cương, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2007
4. Trần Thị Tuyết Oanh (2012), Giáo dục học, NXB Giáo dục, Tập 1, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
5. Nguyễn Ánh Tuyết (2012), Tổ chức hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
6. Nguyễn Ánh Tuyết (2000), Trò chơi của trẻ em, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi của trẻ em
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2000
7. Nguyễn Ánh Tuyết, Lê Thi Kim Anh, Đinh Văn Vang (2001), Phương pháp nghiên cứu trẻ em, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trẻ em
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết, Lê Thi Kim Anh, Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
8. Nguyễn Ánh Tuyết chủ biên (2007), Tâm lí học trẻ em trước tuổi học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em trước tuổi học
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
9. Phạm Công Hoan (2003), Tri thức địa phương ở các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức địa phương ở các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Phạm Công Hoan
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 2003
10. Phạm Viết Vƣợng (2009), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Phạm Viết Vƣợng
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
11. ThS. Chu Văn Đức (2005), kỹ năng giao tiếp, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kỹ năng giao tiếp
Tác giả: ThS. Chu Văn Đức
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2005
12. V. A. Mukhina ( 1981), Tâm lý học mẫu giáo, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học mẫu giáo
Tác giả: V. A. Mukhina
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
13. A.V. Daparogiet (1987), Những cơ sở giáo dục học mẫu giáo, Nxb Trường Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở giáo dục học mẫu giáo
Tác giả: A.V. Daparogiet
Nhà XB: Nxb Trường Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 1987
14. Nguyễn Huy Cẩn (1993), Từ hoạt động đến ngôn ngữ trẻ em, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ hoạt động đến ngôn ngữ trẻ em
Tác giả: Nguyễn Huy Cẩn
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1993
15. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ - ngữ dụng học – tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ - ngữ dụng học – tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
16. Mai Ngọc Chừ (1999),Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
17. Ngô Thị Kim Doan (2003), Nghệ thuật giáo dục con trẻ, NXB Văn hóa – thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật giáo dục con trẻ
Tác giả: Ngô Thị Kim Doan
Nhà XB: NXB Văn hóa – thông tin
Năm: 2003
18. Nhiều tác giả (2008), Người dân tộc Mường ở Việt Nam, Nxb Thông Tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người dân tộc Mường ở Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thông Tấn
Năm: 2008
19. Ngô Thị Tâm (1998), Trò chơi là chủ đạo của trẻ mẫu giáo, Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi là chủ đạo của trẻ mẫu giáo
Tác giả: Ngô Thị Tâm
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu giáo dục
Năm: 1998
21. L.X. Vƣgotxki, 1997. Tuyển tập tâm lí học. NXB ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lí học
Tác giả: L.X. Vƣgotxki
Nhà XB: NXB ĐHQG HN
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT - Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện yên lập – tỉnh phú thọ
BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT (Trang 10)
Bảng 1.2. Nhận thức và thái độ của phụ huynh về việc giáo dục kỹ năng giao - Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện yên lập – tỉnh phú thọ
Bảng 1.2. Nhận thức và thái độ của phụ huynh về việc giáo dục kỹ năng giao (Trang 46)
Bảng 1.4. Mức độ thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi  người dân tộc Mường đã được tiến hành tại cơ sở thực nghiệm - Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện yên lập – tỉnh phú thọ
Bảng 1.4. Mức độ thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Mường đã được tiến hành tại cơ sở thực nghiệm (Trang 48)
Bảng 3.1 Mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực nghiệm và - Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện yên lập – tỉnh phú thọ
Bảng 3.1 Mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực nghiệm và (Trang 76)
Bảng 3.2. Thực trạng về biểu hiện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và - Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện yên lập – tỉnh phú thọ
Bảng 3.2. Thực trạng về biểu hiện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và (Trang 77)
Bảng 3.4. Hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm - Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện yên lập – tỉnh phú thọ
Bảng 3.4. Hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm (Trang 82)
Bảng 3.5. Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm - Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện yên lập – tỉnh phú thọ
Bảng 3.5. Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm (Trang 84)
Hình ảnh 2: Trẻ đóng kịch “Cáo thỏ và gà trống” - Khóa luận tốt nghiệp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi người dân tộc mường thông qua trò chơi đóng kịch tại huyện yên lập – tỉnh phú thọ
nh ảnh 2: Trẻ đóng kịch “Cáo thỏ và gà trống” (Trang 96)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w