KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON --- BÙI HOÀNG LAN XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC NHẰM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5-6 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN TÂN SƠN – TỈNH PHÚ THỌ
Trang 1KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-
BÙI HOÀNG LAN
XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
NHẰM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5-6 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN TÂN SƠN – TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Mầm non
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-
BÙI HOÀNG LAN
XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
NHẰM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5-6 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN TÂN SƠN – TỈNH PHÚ THỌ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Mầm non
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS Kim Thị Hải Yến
Trang 3LỜI CẢM ƠN !
Lời đầu tiên cho phép em gửi đến cô giáo – Ths Kim Thị Hải Yến người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài này sự kính trọng, lòng biết ơn và lời cảm ơn chân thành nhất
Em cũng xin bày tỏ sự kính trọng và lời cảm ơn sâu sắc tới ban giám hiệu trường Đại Học Hùng Vương, các thầy, cô giáo trong Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non, thư viện trường Đại học Hùng Vương đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ đề tài của mình Em xin kính chúc các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc để tiếp tục dìu dắt chúng em trên con đường học tập và nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các cô giáo và các cháu trường Mầm non Kim Thượng – Xã Kim Thượng – Huyện Tân Sơn - Tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình điều tra và làm thử nghiệm tại trường
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả người thân trong gia đình và tập thể lớp K16 – ĐHGD Mầm non đã khích lệ, động viên em trong suốt quá trình hoàn thành đề tài
Em xin chân thành cảm ơn!
Việt Trì, ngày tháng năm 2022
Sinh viên thực hiện
Bùi Hoàng Lan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ! i
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU vii
MỤC LỤC iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc của khóa luận 5
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới 7
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước 9
1.2 Môi trường giáo dục của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 10
1.2.1 Khái niệm môi trường giáo dục 10
1.2.2 Đặc điểm của môi trường giáo dục 16
1.2.3 Vai trò của môi trường giáo dục đối với sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi 17
1.2.4 Vai trò của môi trường vật chất đối với sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ 18
1.2.5 Vai trò của môi trường tâm lí đối với sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ 19
1.2.6 Biện pháp xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi 20
1.2.5 Vai trò của môi trường giáo dục đối với việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 21
1.3 Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 22
1.3.1 Khái niệm kỹ năng giao tiếp 22
1.3.2 Mục tiêu rèn luyện kỹ năng giao tiếp 24
1.3.3 Nội dung của rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 24
1.3.4 Đặc điểm phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 25
1.3.5 Vai trò rèn luyện kỹ năng giao tiếp đối với sự phát triển của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 31
Trang 61.4 Thực trạng xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi
người dân tộc thiểu số huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ 31
1.4.1 Mục đích điều tra 31
1.4.2 Đối tượng điều tra 31
1.4.3 Nội dung điều tra 32
1.4.4 Phương pháp điều tra 32
1.4.5 Tiêu chí và thang đánh giá mức độ rèn luyện kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số trong môi trường giáo dục 33
1.4.6 Kết quả điều tra 37
Tiểu kết chương 1 47
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC NHẰM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5-6 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN TÂN SƠN – TỈNH PHÚ THỌ 48
2.1 Nguyên tắc xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 48
2.1.1 Nguyên tắc 1: Môi trường giáo dục đảm bảo thực hiện có hiệu quả mục tiêu phát triển rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 48
2.1.2 Nguyên tắc 2: Môi trường giáo dục đảm bảo sử dụng tối đa các hình thức hoạt động, thể hiện nét văn hoá của địa phương, dân tộc của trẻ trong quá trình giao tiếp 48
2.1.3 Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính khả thi khi tổ chức môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi 49
2.1.4 Nguyên tắc 4: Xây dựng môi trường giáo dục giàu ngôn ngữ đảm bảo trẻ có cơ hội tham gia nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 50
2.2 Biện pháp xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 50
2.2.1 Nhóm biện pháp xây dựng môi trường cơ sở vật chất 50
2.2.2 Nhóm biện pháp xây dựng môi trường tâm lý xã hội 58
Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.2 Đối tượng, phạm vi, thời gian thực nghiệm 63
3.2.1 Đối tượng, phạm vi thực nghiệm 63
3.2.2 Thời gian thực nghiệm 63
3.3 Nội dung thực nghiệm 63
3.4 Tiêu chí đánh giá và cách đánh giá 64
3.5 Tiến hành thực nghiệm 64
3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 65
Trang 73.6.1 Kết quả trước thực nghiệm 65
3.6.2 Kết quả sau thực nghiệm 69
_Toc103272990Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
1.1 Về lý luận 77
1.2 Về thực trạng 78
2 Kiến nghị 78
2.1 Đối với cán bộ quản lí 78
2.2 Đối với giáo viên 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 1
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Nhận thức và thái độ của giáo viên về việc xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 37 Bảng 1.2: Thực trạng thực hiện yêu cầu trong xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 38 Bảng 1.3 Thực trạng thực hiện nội dung xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số 40 Bảng 1.4: Những khó khăn thường gặp khi xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ ở trường mầm non 44
Bảng 3.1 Mức độ giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi trong HĐVC trước thực nghiệm 66 Biểu đồ 1 Mức độ giao tiếp của trẻ trong HĐVC trước thực nghiệm 67
Bảng 3.2 Thực trạng về biểu hiện rèn luyện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm (theo tiêu chí) 67
Biểu đồ 2 Biểu đồ so sánh thực trạng biểu hiện rèn luyện kỹ năng giao tiếp nhóm đối chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm (theo tiêu chí) 68
Bảng 3.3 Mức độ biểu hiện rèn luyện kỹ năng giao tiếp của trẻ (nhóm thực hiện và đối chứng) sau thực nghiệm 70
Biểu đồ 3 So sánh mức độ biểu hiện rèn luyện kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số ở nhóm thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm 71
Bảng 3.4 Hiệu quả của rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ nhóm thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm 72 Biểu đồ 4 So sánh hiệu quả của việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm và đối chứng sau khi thực nghiệm 72 Bảng 3.5 Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm trước và sau khi thực nghiệm 74
Biểu đồ 5 So sánh mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ nhóm thực nghiệm trước và sau khi tiến hành thực nghiệm 75
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non là một nhiệm vụ hết sức cần thiết và đặc biệt quan trọng Môi trường tạo cơ hội cho trẻ tìm tòi, khám phá, phát hiện nhiều điều mới lạ, hấp dẫn trong cuộc sống, trẻ được tự lựa chọn hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm một cách tích cực, qua đó kiến thức và kỹ năng ở trẻ dần được hình thành Môi trường đó phải đảm bảo an toàn về thể chất, tâm lý cho trẻ vừa có tác dụng giáo dục, có tính thẩm mỹ và phải được xây dựng trong suốt quá trình thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ
Xây dựng môi trường giáo dục phù hợp góp phần thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ Qua đó, nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển toàn diện Môi trường giáo dục phù hợp, đa dạng, phong phú sẽ gây hứng thú cho trẻ và cả giáo viên, góp phần hình thành và nâng cao mối quan
hệ thân thiện, tự tin giữa giáo viên với trẻ và giữa trẻ với nhau
Trong xã hội hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề phát triển con người Trước bối cảnh toàn cầu hóa, UNESCO đã
đề xuất bốn trụ cột của nền giáo dục là "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” trong đó mục tiêu “học để cùng chung sống” được coi là một trong các trụ cột quan trọng Và vấn đề được đặt ra: “Kỹ năng nào là cần thiết cho mỗi con người để thành công trong công việc và cuộc sống?”, một trong những kỹ năng đòi hỏi ở một con người để thành công cả trong công việc và cuộc sống phải có “kỹ năng giao tiếp" Giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày, nhờ có kỹ năng giao tiếp mà con người có thể chung sống và hòa nhập trong một xã hội không ngừng biến đổi Đặc biệt kỹ năng giao tiếp được coi là chìa khóa để mở cửa cho sự thành công của mỗi con người Để mang lại sự thành công lớn trong cuộc sống và trongcác hoạt động học tập, mỗi người phải tự tìm hiểu, học hỏi và rèn luyện để hình thành kỹ năng giao tiếp
Trang 10Giao tiếp rất quan trọng và cần thiết đối với trẻ em và lại càng cần thiết
và quan trọng hơn đối với trẻ em là người dân tộc thiểu số Trẻ em người dân tộc thiểu số khả năng giao tiếp rất kém Các em thường bị động trước những tác động, những kích thích giao tiếp bên ngoài Vốn ngôn ngữ còn ít, kỹ năng nghe hiểu, sử dụng từ ngữ còn hạn chế, giao tiếp với nhau chủ yếu bằng tiếng dân tộc Trẻ thiếu kỹ năng giao tiếp còn nói ngọng, rụt rè trong giao tiếp Lứa tuổi mầm non, việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho các em là một vấn đề không hề dễ dàng, không hề thuận lợi, càng không thể thực hiện trong thời gian nhất định mà phải rèn luyện trong thời gian lâu dài, hàng ngày
Trong thực tế khả năng giao tiếp của trẻ vùng dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế, đặc biệt là môi trường giáo dục để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ chưa được quan tâm chú trọng, nếu được đầu tư nhưng vẫn còn rất nhiều thiếu sót chỉ thu gọn trong trường lớp mầm non vì vậy để chuẩn bị tốt khả năng giao tiếp cho trẻ giúp trẻ giao tiếp tốt thì cần chuẩn bị tốt kỹ năng cho trẻ bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo ở trẻ bằng các phương pháo giáo dục khác nhau
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng
môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ” làm đề tài nghiên
cứu khoá luận
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Làm rõ cơ sở lý luận về việc xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số, vai trò của việc xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ
ở trên địa bàn huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
Các kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn
đề lý luận rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ và các mối quan hệ ảnh hưởng
Trang 11qua lại giữa xây dựng môi trường giáo dục với rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo ở trên địa bàn huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đưa ra được biện pháp xây dựng môi trường giáo dục nhẳm rèn luyện
kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
Đề tài là tài liệu tham khảo cần thiết cho sinh viên ngành giáo dục mầm non và giáo viên mầm non quan tâm đến vấn đề xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề xuất các biện pháp xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non đối với đối tượng là trẻ em dân tộc thiểu số
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận của việc đề xuất các biện pháp xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
4.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng các biện pháp xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số tại trường mầm non Kim Thượng - huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
4.3 Đề xuất và thử nghiệm sư phạm các biện pháp xâu dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số tại trường mầm non Kim Thượng - huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
Trang 125.2 Phạm vi nghiên cứu
5.2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề xuất tập trung nghiên cứu xây dựng môi trường cơ sở vật chất và môi trường tâm lý xã hội nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số tại trường Kim Thượng huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
5.2.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình xây dựng môi trường giáo dục trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số tại trường mầm non Kim Thượng - huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu những vấn đề cơ bản qua các công trình nghiên cứu, sách, báo
và các tài liệu có liên quan về kỹ năng giao tiếp, giáo dục kỹ năng giao tiếp, những biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo,… Từ đó chọn lọc để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp chuyên gia
Sử dụng để hỏi giáo viên/người trưởng bản biết tiếng dân tộc thiểu số nhằm thu thập thông tin của trẻ để có những hiểu biết về việc xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số ở huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
6.2.2 Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra Anket để khảo sát ý kiến các giáo viên, phụ huynh về tình hình rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi người dân tộc thiếu số trên địa bàn huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ hiện nay Thu thập thông tin cần thiết về thực trạng xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
6.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát xây dựng môi trường giáo dục, hoạt động của giáo viên rèn
Trang 13luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ
6.2.4 Phương pháp đàm thoại
Trò chuyện trực tiếp với trẻ và ghi lại những nhận thức, mức độ hiểu biết thực tại về kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số làm cơ sở điểm xuất phát và đề xuất việc xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo ở trên địa bàn huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ cho có hiệu quả mong muốn
6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Thu thập, lấy ý kiến của cán bộ quản lí ngành mầm non có kinh nghiệm
về vấn đề giáo dục trẻ mẫu giáo để có được các thông tin khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu nhằm kiểm chứng một cách khách quan các giả thuyết khoa học, các biện pháp đề xuất thực nghiệm
6.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm một số nội dung, đồng thời áp dụng việc xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp ở trên địa bàn huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ Đây là phương pháp quan trọng nhất nhằm kiểm nghiệm hiệu quả của việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số thông qua việc xây dựng môi trường giáo dục
6.2.7 Phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng phương pháp này để xử lí số liệu, tính phần trăm, lập bảng biểu,… trên cơ sở đó đưa ra kết quả xác thực về việc xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
7 Cấu trúc của khóa luận
Cấu trúc khóa luận gồm:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 14Chương 2: Đề xuất biện pháp xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
- Kết luận và kiến nghị
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới
Khi nghiên cứu về môi trường dạy học, trước hết phải kể đến những nghiên cứu của I.V Pavlov và B.F.Skinner Pavlov nghiên cứu sự hình thành phản xạ có điều kiện trong môi trường được kiểm soát chặt chẽ, con vật (con chó) hoàn toàn thụ động Skinner nghiên cứu hình thành phản xạ tạo tác môi trường gần với thực tế hơn, con vật (chuột, bồ câu ) chủ động trong hành vi đáp ứng trên cơ sở nhu cầu của nó Nội dung học tập thể hiện ngay trong môi trường mà con vật phải tìm cách thích nghi Đây là cơ sở lý thuyết để xây dựng kiểu dạy học chương trình hóa, dạy học bằng máy Từ kết quả nghiên cứu của hai ông, các nhà giáo dục đã nhận thức được một vấn đề rất quan trọng rằng: Yếu tố môi trường giáo dục không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn là yếu tố môi trường thực tế đã kích thích chủ thể (con người) hoạt động năng động và sáng tạo hơn Việc tạo lập, xây dựng và phát triển môi trường giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học hiện đại So sánh qua hai mô hình thực nghiệm đã cho thấy: Môi trường bị động và môi trường chủ động sẽ quyết định đến năng lực của con người Điều đó luôn đúng với bất cứ hoạt động sống nào của con người từ khi còn nhỏ cho tới khi trưởng thành Ở phạm vi rộng hay hẹp, hoạt động của con người sẽ không có hiệu quả nếu thiếu vắng môi trường [8, tr.4.]
Từ các kết quả nghiên cứu về môi trường không gian lớp học theo lối dạy học tích cực, chúng ta thừa nhận khái niệm “lớp học” như mô hình hiện nay đang ở trình độ tiêu chuẩn là chỗ ngồi nghe giáo viên nói Khái niệm lớp học mới cần thỏa mãn các điều kiện bên ngoài, các tiêu chuẩn về bàn ghế, bảng cơ sở vật chất tối ưu theo hướng cơ động, linh hoạt, còn có mạng Internet, các phương tiện nghe nhìn mặc dù không gian hữu hạn nhưng
Trang 16thông tin vô hạn và phạm vi toàn cầu là hệ thống mở Từ các yếu tố như ánh sáng, âm thanh, đều được xem xét cẩn thận Trong các yếu tố vật chất đa dạng thì điều quan trọng được các nhà giáo dục quan tâm là một không gian tâm lí, là nơi có nhiều vốn sống của con người dạy và người học, người học
có thể chọn chỗ ngồi mà họ cảm thấy thích nghi so với người dạy và các bạn trong lớp học [8, tr.5]
Nghiên cứu môi trường tâm lí-xã hội của nhóm (lớp học, khối, trường ) như vấn đề tương đồng tâm lí, xung đột tâm lí đã đạt được những kết quả nhất định Nghiên cứu về môi trường dạy học phải kể đến công trình của Jean-Marc Denomme & Madeleine Roy về phương pháp sư phạm tương tác Trong đó mô hình quen thuộc: Người dạy - người học - tri thức được chuyển thành: Người dạy người học - môi trường Tác giả coi môi trường là yếu tố tham gia trực tiếp đến quá trình dạy học chứ không đơn thuần chỉ là nơi diễn ra hoạt động học Đặc biệt tác giả đi sâu vào các yếu tố môi trường của việc dạy [25]Trên cơ sở đó, các tác giả nhấn mạnh đến một qui luật quan trọng; môi trường ảnh hưởng đến người dạy, người học người học và người dạy phải thích nghi với môi trường Ảnh hưởng thích nghi đó chính là hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác liên quan đến môi trường Từ đầu thế kỷ
20, Dimitri Glinos đã viết: “Giáo dục phải thích ứng với những hoàn cảnh luôn thay đổi, đối phó với những vấn đề mới, những nhu cầu mới và thường xuyên đòi hỏi những kỹ năng mới Trong một thời gian dài, nền giáo dục đã không thể thích ứng được với các hoàn cảnh mới và gắn với các nhu cầu thực
tế Khoảng cách giữa giáo dục và cuộc sống ngày càng lớn và bây giờ, điều chúng ta cần không chỉ là một cuộc cải cách mà phải là một cuộc cách mạng
để tái lập mối tương quan giữa giáo dục và cuộc sống” [8, tr.5-6]
Emile Durkheim quan niệm môi trường học đường bao hàm cả lớp học
và việc tổ chức lớp học như một phạm vi rộng hơn gia đình và không trừu tượng như xã hội Một lớp học không đơn thuần chỉ là một khối kết dính các
cá nhân độc lập với nhau mà còn là một xã hội thu nhỏ Trong lớp học, học
Trang 17sinh suy nghĩ, cảm nhận và hành động khác với khi chúng tách rời nhau Những quan điểm trên đây đã có trước hàng thế kỷ nhưng đến nay vẫn là vấn
đề thời sự khoa học giáo dục [8, tr.6]
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước
Theo tài liệu nghiên cứu về môi trường giáo dục của tác giả Phạm Hồng Quang: Môi trường giáo dục, môi trường văn hoá và các yếu tố ảnh hưởng tác động đến con người đã được xem xét ở nhiều bình diện từ vi mô đến vĩ mô Điều kì diệu của con người phát triển qua các thời kì văn minh là ở chỗ, không những con người có sự tiếp ứng, thích nghi một cách thông minh với các tác động môi trường mà quan trọng hơn là đã dần dần thấu hiểu và điều chỉnh được các tác động đó theo hướng có lợi cho con người Môi trường văn hóa giáo dục là đối tượng nghiên cứu của khoa học giáo dục Tiếp cận vấn đề trên đòi hỏi phải có tri thức và phương pháp luận của nhiều chuyên ngành khoa học Dù tiếp cận từ vấn đề chung hay nghiên cứu các hoạt động giáo dục và dạy học cụ thể đều không thể tách khỏi vấn đề hoạt động của con người trong môi trường giáo dục nhân cách, trong môi trường giáo dục Vấn
đề đặt ra hiên nay là trong sự biển đổi nhanh chóng của môi trường tự nhiên
và xã hội, con người đang phát triển như thế nào Cụ thể hơn là hiện trạng của môi trường văn hoá giáo dục trong phạm vi trường học cần được đánh giá cùng với sự tác động của các yếu tố môi trường hoàn cảnh đến người học đang diễn ra theo quy luật nào và sự kiểm soát của giáo dục đến đâu Trong
sự tác động đó, vai trò chủ đạo của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cần được hiểu như thế nào và kết quả thực sự của nó đã đáp ứng được yêu cầu của xã hội hay không [14]
Hiện nay trong giáo dục Việt Nam môi trường luôn được chú trọng và quan tâm Với trẻ em trong môi trường: nhà trường-gia đình-xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình học tập, trưởng thành và thiện nhân cách
Tiếp cận với môi trường giáo dục theo quan điểm của chủ nghĩa Lenin, đặc biệt từ các kết quả nghiên cứu của giáo dục học Xô Viết, các nhà
Trang 18Marx-giáo dục học ở Việt Nam chú ý đến môi trường sinh thái, môi trường Marx-giáo dục của các nhà phổ thông Chẳng hạn như vấn đề xây dựng môi trường giáo dục xanh, sạch, đẹp; môi trường giao tiếp có văn hóa trong nhà trường phổ thông; kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội để tạo môi trường giáo dục tốt đẹp trong giáo dục học sinh [14]
Trong nhiều năm qua các nhà trường triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Tổ chức phong trào thi đua nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong
và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả phù hợp với điều kiện của địa phương, tăng hứng thú của học sinh trong học tập để học tập có hiệu quả hơn, gắn bó với trường, lớp, hạn chế tình trạng trẻ rút về giữa chừng; phát huy hiệu quả hơn chủ trương đổi mới phương pháp dạy và học; thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh
- Gắn phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” với chủ đề xây dựng nhà trường “Xanh - Sạch - Đẹp - An toàn” và các phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt”
- Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, của học sinh trong học tập
và các hoạt động xã hội phù hợp và hiệu quả
Ở Việt Nam, xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm mới được quan tâm trong những năm gần đây Vào đầu năm 2017, Bộ GD-ĐT đã ban hành 2 văn bản chỉ đạo việc triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016-2020 Theo văn bản này, xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm cần đạt được 5 tiêu chí, trong các tiêu chí đó có hai nội dung cơ bản là xây dựng cơ sở vật chất và tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
1.2 Môi trường giáo dục của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
1.2.1 Khái niệm môi trường giáo dục
1.2.1.1 Khái niệm về môi trường giáo dục
Trang 19Theo L.X.Vưgôtxki, môi trường mà con người sống trong đó không được hiểu là tổng thể các kích thích vật lí và các kích thích xã hội mà phải được hiểu môi trường có chứa đựng đối tượng và sản phẩm lao động Cần nhấn mạnh rằng trong môi trường có chứa đựng các thao tác lao động nhất định với tư cách là sản phẩm của kinh nghiệm xã hội lịch sử Đây là quan niệm về môi trường phát triển của con người với tư cách là sản phẩm xã hội lịch sử Ông nhấn mạnh yếu tố công cụ lao động trong môi trường bởi nó chứa đựng kinh nghiệm của thế hệ trước để truyền cho thế hệ sau Do đó có thể hiểu đây là quan niệm rất rộng về môi trường giáo dục [8, tr.14]
Theo Trần Minh Huế (2017), đã nói tới tác giả Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Sinh Huy (Giáo dục học Đại cương, 1998), môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người Có tác giả quan niệm hẹp hơn, môi trường thể hiện trong khu vực hoạt động của mình một tập hợp tương đối rộng và thay đổi các yếu tố ảnh hưởng đến việc diễn ra hoạt động
sư phạm Quan niệm này chỉ nhấn mạnh đến các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sư phạm, vì vậy nó có ý nghĩa thực tiễn hơn trong việc xây dựng môi trường giáo dục Theo xu hướng này, Từ điển bách khoa Việt Nam có các định nghĩa môi trường giáo dục: Môi trường giáo dục là tổng hòa các quan hệ trong đó nhà giáo dục và người được giáo dục tiến hành hoạt động dạy và học Môi trường giáo dục rất đa dạng, có thể phân chia một cách tương đối thành các môi trường nhà trường, gia đình, xã hội và tự nhiên [8, tr.14-15]
Môi trường giáo dục nói chung được hiểu là tổng thể các yếu tố tự nhiên và xã hội tác động tương hỗ với nhau tạo lên một khung cảnh sống với những điều kiện để con người tồn tại và phát triển Môi trường giáo dục trong nhà trường không thể biệt lập với môi trường xã hội rộng lớn Nó ảnh hưởng
và chịu ảnh hưởng từ môi trường xã hội Sự chuyển động của nền kinh tế, sự thay đổi của các định hướng giá trị, các sự kiện chính trị xã hội của đất nước nói chung đang hàng ngày tác động tới môi trường văn hóa giáo dục Các mối
Trang 20quan hệ trong môi trường văn hóa giáo dục cũng chịu tác động của nền kinh
tế thị trường, ảnh hưởng này có cả khía cạnh tích cực và tiêu cực Tính nhạy cảm, tích tích cực, chủ động của các nhà sư phạm có thể can thiệp có hiệu quả vào xu hướng của môi trường xã hội Theo đó, các nhà sư phạm có thể làm cho môi trường giáo dục nhà trường không thụ động trước những ảnh hưởng của môi trường xã hội Mặt khác, còn tác động trước những ảnh hưởng của môi trường xã hội Mặt khác, còn tác động tích cực tới môi trường xã hội bằng truyền thống, thành tích, uy tín của mình Đây chính là vai trò chủ đạo của giáo dục đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người [5,tr.8]
Những điều kiện vật chất của môi trường giáo dục đào tạo bao gồm điều kiện tự nhiên nơi trường đóng, cơ sở vật chất cho mọi hoạt động của nhà trường, trong đó nổi bật là cơ sở vật chất của hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục
Những yếu tố tinh thần hay phi vật chất trong môi trường giáo dục bao gồm bầu không khí tâm lí trong trường, những nét truyền thống, các giá trị truyền thống, các giá trị cùng với quan niệm và thái độ của nhà giáo dục và người học trong hoạt động dạy học, quan hệ, chỉ đạo này có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi yếu tố phi vật chất và chi phối mối quan hệ của nó với những yếu tố vật chất trong môi trường văn hóa giáo dục
Như vậy môi trường giáo dục là hệ thống các điều kiện vật chất và tinh thần chứa đựng hệ thống các giá trị của hoạt động giáo dục, tạo nên niềm tin, giá trị về thái độ của các thành viên trong nhà trường/cơ sở giáo dục và ảnh hưởng đến quá trình và kết quả giáo dục đào tạo người học
1.2.1.2 Môi trường giáo dục trong trường mầm non
Có quan điểm cho rằng, môi trường giáo dục trong trường mầm non bao gồm môi trường như: các điều kiện không khí, ánh sáng, nguồn nước, cây xanh, địa điểm trường Môi trường xã hội bao gồm: bầu không khí giao tiếp trong trường mầm non, phong cách làm việc, mối quan hệ giữa con người với
Trang 21con người, giữa trường mầm non với các tổ chức kinh tế, xã hội, văn hóa khác Một quan điểm khác lại phân chia MTGD thành môi trường vật chất
và môi trường xã hội [4, tr.65] Môi trường vật chất trong trường mầm non bao gồm các trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi, không gian phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ Môi trường vật chất tạo cho trẻ những cơ hội tốt để thỏa mãn nhu cầu hoạt động và phát triển toàn diện về mặt thể chất, trí tuệ, thẩm mĩ, đạo đức, xã hội [4, tr.65]
Môi trường tâm lý xã hội được hiểu là toàn bộ những điều kiện xã hội chính trị, văn hóa, các mối quan hệ giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách của mình Môi trường xã hội đặc biệt được nhấn mạnh ở đây là môi trường giao tiếp trong trường mầm non bao gồm sự giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với những người xung quanh Môi trường này vừa mang tính chất sư phạm vừa mang tính chất gia đình MTGD thân thiện, tích cực sẽ
có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy và hỗ trợ mạnh mẽ quá trình phát triển của trẻ tạo cho trẻ cảm giác thoải mái vui tươi, được tôn trọng được quan tâm chia sẻ giúp đỡ và dìu dắt Do đó việc xây dựng MTGD trong trường mầm non trên cơ sở đặc điểm giao tiếp của trẻ đó là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của giáo dục mầm non (GVMN)
Như vậy môi trường giáo dục trong trường mầm non là tổng hợp những điều kiện cơ sở vật chất và tâm lý xã hội cần thiết và trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non và hiệu quả của hoạt động này nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ
1.2.1.3 Môi trường vật chất
Bố trí sắp xếp các góc trong và ngoài lớp phù hợp, tiện lợi, đa dạng, phong phú Trong giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, môi trường hoạt động của trẻ có ý nghĩa vô cùng quan trọng Trẻ vốn hiếu kỳ, chúng tò mò mong muốn được khám phá tất cả mọi vật xung quanh chúng Những hình ảnh ấn tượng
mà trẻ thu nhận được trong những năm tháng tuổi thơ sẽ khác sâu trong trí nhớ của trẻ
Trang 22Tạo môi trường đẹp từ cách bố trí, sắp xếp khoa học, ngăn lắp, hợp lý, trương bày đồ dùng đồ chơi hấp dẫn tạo sự hứng tú tò mò khám phá ở trẻ - Xây dựng các góc chơi khác nhau trong lớp nhằm tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng hơn Giúp trẻ tìm hiểu và khám phá cái mới, hoạt động với đồ vật và rèn luyện các kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày
Trang trí lớp theo hướng mở linh hoạt: Trang trí là phối hợp giữa các mảng hình, màu sắc, đường nét, sao cho cân đối hoài hòa, hợp lý trong một không gian nhất định Đối với trẻ mầm non việc trang trí lớp thì hình ảnh không chỉ đẹp, ngộ nghĩnh, màu sắc bắt mắt, mang tính giáo dục mà còn phải phù hợp với chủ đề, từng góc chơi, với nội dung của trẻ, đáp ứng nhu cầu khám phá, sáng tạo, tính tò mò thích cái mới lạ của trẻ
Trang trí các góc chơi một cách sáng tạo theo hướng mở, linh hoạt Khi trẻ tham gia hoạt động ở các góc chơi, từ một góc chơi trẻ có thể tùy đổi nội dung chơi, hình ảnh, biểu tượng chơi một cách sáng tạo
Các thiết bị, đồ dùng đồ chơi, không gian lớp học từ bên trong, ngoài lớp, xung quanh lớp học được bố trí sắp xếp theo hướng mở, lấy trẻ làm trung tâm nhằm mục đích thảo mãn nhu cầu, mong muốn của trẻ, kích thích trẻ chủ động sáng tạo, linh hoạt
Những đồ dùng học liệu đó không để cố định ở một chỗ, cũng không áp
Trang 23đặt trẻ cách sử dụng mà có thể thay đổi vị trí, mục đích và cách sử dụng tùy vào sự sáng tạo, ý tưởng của trẻ theo chủ đề
Tạo cơ hội khuyến khích trẻ có thể sử dụng các nguyên vật liệu ở các góc chơi sáng tạo theo nhiều cách khác nhau
Đối với trẻ MN, đồ dùng đồ chơi là thứ không thể thiếu trong cuộc sống hoạt động hàng ngày của trẻ Thông qua đồ dùng đồ chơi trẻ có thể tìm tòi khám phá, trẻ được thao tác với đồ vật
Tạo cơ hội khuyến khích trẻ sử dụng nguyên vật liệu sãn có trong các góc chơi theo nhiều cách sáng tạo khác nhau, kỹ năng chơi của trẻ được rèn luyện và phát triển, sáng tạo
1.2.1.4 Môi trường tâm lý xã hội
Trong trường mầm non môi trường xã hội là những điều kiện xã hội như chính trị, văn hóa, các mối quan hệ giúp trẻ hình thành nhân cách của mình Môi trường tâm lý xã hội đặc biệt được nhấn mạnh ở đây là môi trường mầm non bao gồm sự giao tiếp giữ giáo viên và trẻ, giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với những người xung quanh Môi trường này vừa mang tính chất sư phạm vừa mang tính chất gia đình Việc tạo dựng môi trường tâm lí thoải mái cho trẻ trong quá trình giáo dục là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên Điều đó phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm và tâm huyết của giáo viên
Môi trường tâm lý trong trường mầm non là môi trường được tạo dựng trên cơ sở bầu không khí sư phạm trong nhà trường, mối quan hệ tác động qua lại giữa người lớn với trẻ nhỏ (giáo viên, cán bộ công nhân viên trong nhà trường, phụ huynh, khách ) người lớn với người lớn và trẻ với nhau
Như vậy, xây dựng môi trường giáo dục tại các trường mầm non hiện nay tại tất cả các địa phương đã thực hiện và triển khai dựa trên các yếu tố như: môi trường vật chất, môi trường tâm lý xã hội Tuy nhiên các yếu tố trên đều đạt ở mức độ tương đối nên việc thực hiện cũng chưa có hiệu quả tốt Vì vậy đề tài đã nghiên cứu và tìm ra biện pháp hiệu quả hơn nữa trong việc thực hiện
Trang 241.2.2 Đặc điểm của môi trường giáo dục
Môi trường giáo dục được hiểu bao gồm tất cả yếu tố về cơ sở vật chất, tâm lý xã hội của con người với hệ giá trị được xác lập trong cộng đồng, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống học tập và rèn luyện của học sinh Khi đề cập đến môi trường giáo dục, nhà giáo dục phải quan tâm đến cả
3 lĩnh vực của nó là gia đình, nhà trường và xã hội
Nhiều nhà sư phạm cho rằng, giáo dục trẻ không chỉ bằng lời nói mà quan trọng hơn là phải giúp trẻ hình thành nhân cách qua nề nếp, thói quen do môi trường sư phạm và tấm gương của nhà giáo đem lại Một số nhà giáo dục
đã nêu phương châm rèn luyện cho những học sinh quá hiếu động là: “Hành
vi sinh thói quen, thói quen sinh nhân cách” là vậy Môi trường sư phạm không chỉ có tác dụng giáo dục rèn luyện một cách mãnh liệt cho cả học sinh khó dạy nhất mà còn có giá trị duy trì, củng cố những phẩm chất tốt đẹp của con người mới một cách vững chắc, lâu bền Xây dựng môi trường giáo dục
là nhằm tạo ra sự an tâm, tin tưởng và phát huy mọi năng lực của học sinh trong quan hệ, dân chủ, công bằng, cởi mở và thân tình Hay nói một cách khác, một môi trường giáo dục bất công, thiếu dân chủ, không công bằng, bạo lực học đường phát triển, không an toàn là môi trường giáo dục không mong đợi, luôn bị xã hội lên án và đồng nghiệp chê cười
Môi trường giáo dục tốt đặc biệt là môi trường giáo dục cho trẻ người dân tộc thiểu số có các đặc điểm như sau:
Thứ nhất, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tiện ích, an toàn và phù hợp với địa phương Tính sư phạm nổi trội của không gian sư phạm mà cơ sở vật chất, kỹ thuật nhà trường mang lại là sự ngăn nắp, trật tự, thẩm mỹ, vệ sinh và khoa học Thông qua đó học sinh sẽ tiếp nhận và rèn luyện được sự ngăn nắp, trật
tự vệ sinh và khoa học thành những phẩm chất tốt đẹp cho bản thân và cộng đồng Cụ thể, nhà trường phải có kho bãi sắp xếp đồ đạc và những vật dụng,
có bảng biểu chỉ dẫn rõ ràng
Trang 25Thứ hai, đội ngũ giáo viên có nhận thức đầy đủ về môi trường giáo dục, thấy rõ tác dụng giáo dục của tập thể sư phạm Từ đó mà nâng cao trách nhiệm bản thân, đóng góp tích cực vào công cuộc giáo dục chung của nhà trường, không tùy tiện đơn lẻ, thể hiện những hành vi không tốt theo thói quen hoặc lập dị, phản bác đồng nghiệp do đố kỵ làm phá vỡ hệ thống giáo dục mà nhà trường xây dựng để giáo dục các học sinh
Thứ ba, cơ chế hoạt động là một sản phẩm vô hình của tập thể sư phạm nhà trường nhưng lại là những tác nhân vô cùng quan trọng mang tính quyết định chi phối mọi hoạt động của nhà trường đển môi trường giáo dục được hình thành và phát triển tốt đẹp Cơ chế hoạt động bao gồm tiêu chí, chuẩn mực, hệ thống giá trị của nhà trường, chế độ khen chê làm hành lang pháp lý khen thưởng hoặc chế tài, động viên thúc đẩy mọi thành viên nhà trường ra sức xây dựng, vì môi trường giáo dục chính là sức mạnh tiềm ẩn cho hoạt động giáo dục của mỗi giáo viên, chế độ sinh hoạt hội họp được xác lập để giúp đỡ, duy trì và không ngừng hoàn thiện môi trường giáo dục của nhà trường
Để xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ dân tộc thiểu số tốt, nhà trường phải hoàn thiện hệ thống chuẩn mực của môi trường giáo dục nhà trường, rà soát xây dựng kế hoạch củng cố và hoàn thiện môi trường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ; nhạy bén tiếp nhận và phát huy những điều kiện thuận lợi để phát triển môi trường giáo dục, mạnh dạn và kịp thời đấu tranh loại bỏ mọi biểu hiện làm trở ngại sự phát triển môi trường giáo dục
1.2.3 Vai trò của môi trường giáo dục đối với sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi
Môi trường giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển
kỹ năng giao tiếp của trẻ mầm non Nếu một môi trường giáo dục an toàn, đẹp, hấp dẫn sẽ lôi cuốn sự chú ý của trẻ đến các hoạt động, giúp trẻ có thái
độ tích cực với các hoạt động,hứng thú trong quá trình chơi Việc tạo ra môi
Trang 26trường giáo dục hấp dẫn phù hợp với nhu cầu và hứng thú của trẻ có ý nghĩa
vô cùng lớn lao đối với việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5 -
6 tuổi, vì môi trường giáo dục chính là cái nền cho mọi hoạt động chơi của trẻ
sẽ được diễn ra Môi trường giáo dục hấp dẫn sẽ tạo ra động cơ giúp trẻ nảy sinh những ý tưởng sáng tạo, khiến cho trẻ hào hứng khi tham gia vào trò chơi
và đạt được những kết quả chơi như mong đợi
1.2.4 Vai trò của môi trường vật chất đối với sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ
Môi trường vật chất có vai trò quan trọng trong các hoạt động học tập
và vui chơi của trẻ Các đồ dùng, đồ chơi, vật liệu chơi có ảnh hưởng mạnh và chi phối quá trình chơi của trẻ Trẻ dễ dàng bị lôi cuốn vào những hình ảnh đẹp, lạ mắt với các màu sắc, kích thước khác nhau, đặc biệt cách bài trí các đồ dùng, đồ chơi, vật liệu chơi giúp trẻ có thể thực hiện những thao tác, hành động chơi và triển khai những ý tưởng trong quá trình chơi
Vai trò của không gian chơi: Không gian chơi có vai trò quan trọng trong các hoạt động học tập và vui chơi của trẻ Nếu trong quá trình trẻ chơi
mà không gian chơi quá chật hẹp, gò bó thì sẽ hạn chế về khả năng giao tiếp,
do đó sẽ dẫn đến nội dung chơi bị bó hẹp, nhàm chán Vì vậy nhằm giúp trẻ
có hứng thú, tích cực hơn khi tham gia chơi, không gian chơi phải phù hợp, rộng rãi, thoải mái Có như vậy mới lôi cuốn, thúc đẩy trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp trong khi chơi (Chẳng hạn khi trẻ xây “công viên” nếu không gian chơi quá chặt hẹp thì trẻ sẽ không thể nẩy sinh những ý tưởng mới và sắp xếp,
bố trí các vật liệu để công viên phong phú hơn) Do vậy muốn phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ thì không gian chơi phải phù hợp với trẻ
Vai trò của thời gian chơi: Thời gian chơi phụ thuộc vào hứng thú chơi, nội dung trò chơi của trẻ Nếu trẻ còn hứng thú khi tham gia chơi và thể hiện
sự nhiệt tình, tích cực thì nên kéo dài thời gian chơi và ngược lại, nếu trẻ không còn hứng thú thì thời gian chơi sẽ được kết thúc sớm Do vậy, ngoài việc duy trì sự hứng thú của trẻ trong suốt quá trình chơi, thì giáo viên cầ
Trang 27quan tâm đến thời gian chơi của trẻ Trẻ sẽ hứng thú hơn khi có đủ thời gian
để thực hiện ý tưởng chơi của mình Có thể nói, thời gian chơi có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ trong quá trình chơi
Vai trò của đồ dùng, đồ chơi, vật liệu chơi: Đồ dùng, đồ chơi, vật liệu chơi phong phú, đa dạng được sắp xếp theo hướng gợi mở sẽ giúp trẻ giao tiếp tốt Đồ dùng, đồ chơi, vật liệu chơi là điều kiện quan trọng để phát triển
kỹ năng giao tiếp của trẻ trong quá trình chơi Song điều quan trọng hơn là phải biết bố trí, sắp đặt chúng sao cho hấp dẫn, gợi cho trẻ nẩy sinh ý tưởng chơi mới
1.2.5 Vai trò của môi trường tâm lí đối với sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ
Môi trường tâm lí trong khi chơi có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ Khi trẻ được chơi trong một bầu không khí tâm lí vui vẻ, thoải mái, theo sở thích của mình, từ việc trẻ tự đề xuất ý tưởng chơi mới lạ, độc đáo đến việc tự tìm cách thực hiện ý tưởng chơi đó và thực hiện nó một cách tự tin, linh hoạt, thì trẻ sẽ tích cực, chủ động và sáng tạo hơn trong suốt quá trình chơi Và trẻ sẽ rất vui khi ý tưởng chơi của mình được thực hiện Do vậy, để trẻ tích cực, độc lập, sáng tạo khi tham gia chơi, giáo viên mầm non cần tạo ra bầu không khí tâm lí vui vẻ, thoải mái cho trẻ; tránh
gò bó, áp đặt trẻ chơi theo ý mình
Ngoài ra, môi trường giáo dục vui vẻ, thoải mái sẽ giúp cho quan hệ của trẻ với bạn được gắn kết Trẻ sẽ cùng nhau bàn bạc đi đến thống nhất ý tưởng chơi, cùng nhau tìm kiếm phương tiện để thực hiện ý tưởng chơi và cùng nhau tham gia tích cực vào các hoạt động chung của nhóm
Như vậy có thể thấy việc tạo ra bầu không khí tâm lí vui vẻ, thoải mái, khi tham gia chơi sẽ tạo cho trẻ động lực tham gia chơi một cách tích cực và sáng tạo Đồng thời trong bầu không khí tâm lí ấy sự hợp tác, gắn kết giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với cô được tăng cường Do vậy môi trường chơi vui vẻ, thoải mái là cơ hội để rèn luyện kỹ năng giao tiếp của trẻ trong quá trình chơi
Trang 281.2.6 Biện pháp xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi
1.2.6.1 Khái niệm biện pháp
* Biện pháp: Theo định nghĩa của “Từ điển Tiếng Việt” thì “Biện pháp
là cách thức xử lí công việc hoặc giải quyết vấn đề”[1;109] Trong biện pháp
hàm chứa các yếu tố nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức Những yếu tố này có tác động qua lại với nhau Như vậy, biện pháp là một phạm trù mang tính biện chứng nhưng không phải là bất biến mà nó có sự thay đổi phù hợp với tình huống, hoàn cảnh và nhu cầu thực tiễn Việc xác định đúng biện pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết công việc, đạt được mục đích đề ra
* Biện pháp giáo dục: Theo “Từ điển Giáo dục học”, biện pháp giáo dục là: “Cách tác động có định hướng có chủ đích, phù hợp với tâm lí đến đối
tượng giáo dục nhằm bồi dưỡng hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng”[2;26]
* Biện pháp tổ chức HĐ giáo dục mầm non: Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, “Biện pháp tổ chức HĐ giáo dục ở trường mầm non là cách thức tổ
chức cụ thể trong hoạt động cùng nhau giữa cô và trẻ nhằm giải quyết một nhiệm vụ giáo dục nào đó trong hoạt động nhằm phát huy tính tích cực của trẻ” [3;33]
Dựa vào các định nghĩa trên, chúng tôi hiểu biện pháp xây dựng môi
trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc thiểu số là cách làm cụ thể của giáo viên trong việc xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động vui chơi
1.2.6.2 Vai trò của biện pháp xây dựng môi trường giáo dục đối với việc rèn
kỹ năng giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi
Môi trường giáo dục hấp dẫn, cuốn hút trẻ tham gia chơi một cách tích cực, độc lập, sáng tạo không phải là cái có sẵn mà là kết quả lao động sư
Trang 29phạm sáng tạo của người giáo viên mầm non Sự hấp dẫn của môi trường giáo dục và hiệu quả rèn luyện kỹ năng từ môi trường chơi phụ thuộc vào các biện pháp giáo viên sử dụng trong quá trình xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ Chẳng hạn khi xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ, cô chọn không gian chơi rộng rãi, thoáng mát; đồ dùng, đồ chơi, vật liệu chơi phong phú, hấp dẫn được sắp đặt có tính gợi mở; trẻ được thoải mái chơi theo ý thích, không bị gò
bó, áp đặt theo ý của cô; thì trẻ sẽ hào hứng, tích cực, chủ động, sáng tạo trong suốt quá trình chơi Do vậy để phát huy vai trò của môi trường giáo dục đối với việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ MG đòi hỏi giáo viên phải tìm
ra các biện pháp xây dựng môi trường giáo dục sao cho hấp dẫn trẻ
1.2.5 Vai trò của môi trường giáo dục đối với việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
Đối với trẻ mẫu giáo người dân tộc thiếu số, môi trường sạch sẽ an toàn, có sự bố trí khu vực chơi và học trong lớp, ngoài trời phù hợp, thuận tiện, có vai trò to lớn không chỉ đối với sự phát triển thể chất của trẻ mà còn thỏa mãn nhu cầu nhận thức, mở rộng hiểu biết của trẻ, kích thích trẻ hoạt động tích cực sáng tạo và từ đó rèn luyện kỹ năng giao tiếp cởi mở, thân thiện giữa giáo viên với trẻ, giữa trẻ với trẻ giữa trẻ với môi trường xung quanh sẽ tạo cơ hội cho trẻ được chia sẻ, giải bày tâm sự, nguyện vọng, mong ước của trẻ với giáo viên, với bạn bè Nhờ vậy mà giáo viên sẽ hiểu trẻ hơn, trẻ hiểu nhau hơn, trẻ yêu trường, yêu lớp, yêu cô giáo và bạn bè
Đối với nhà giáo dục, việc xây dựng môi trường giáo dục phù hợp sẽ là phương tiện là điều kiện để họ phát triển các ý tưởng tổ chức những hoạt động giáo dục phù hợp với từng trẻ mẫu giáo người DTTS
Đối với nhà quản lí: Xây dựng môi trường giáo dục là yếu tố tạo lên sự thành công của quá trình quản lý, giúp nhà quản lý đạt được mục tiêu quản lý giáo dục Thiết lập được mục tiêu văn hóa trong nhà trường, có ý nghĩa thúc đẩy các hoạt động khác thành công
Trang 30Đối với phụ huynh và xã hội, quá trình xây dựng môi trường giáo dục
sẽ thu hút được sự tham gia của các bậc phu huynh và sự đóng góp của cộng đồng xã hội để thảo mãn mong đợi của họ đối với sự phát triển của trẻ trong từng giai đoạn, từng thời kỳ
1.3 Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
1.3.1 Khái niệm kỹ năng giao tiếp
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta gặp gỡ, trao đổi với nhiều người
về thông tin, tình cảm và các vấn đề khác nhau Đó là quá trình giao tiếp Giao tiếp là một kỹ năng sống quan trọng giúp con người xây dựng được những mối quan hệ và giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả Vì vậy chúng
ta cần rèn luyện kỹ năng giao tiếp để sống với mội người, để bản thân thành công và mang lại niềm vui, hạnh phúc cho người khác
- Kỹ năng giao tiếp của một cá nhân là cách tạo quan hệ và tương tác cũng như cảm giác thoải mái mà người đó có khi đồng hành cùng một người hoặc một nhóm người khác Phát triển kỹ năng này là một nhiệm vụ phức tạp đối với trẻ Trẻ ứng xử theo cách trẻ chấp nhận được trong những tình huống khác nhau Trẻ biết điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với hoàn cảnh
Các nhà khoa học đã có những quan niệm khác nhau với cách nhìn và khai thác khác nhau về kỹ năng giao tiếp Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp, tác giả Hoàng Anh quan niệm kỹ năng giao tiếp là năng lực của con người biểu hiện trong quá trình giao tiếp Đó là các khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ là hệ thống các thao tác cử chỉ, điệu
bộ hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa Dưới góc độ nhìn nhận khả năng tri giác những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến bên trong của hiện tượng tác giả Ngô Công Hoàn, đã coi kỹ năng giao tiếp "là khả năng tri giác hiểu được những biểu hiện bên ngoài cũng như những diễn biến bên trong của các hiện tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lý của đối tượng giao tiếp" Trong thực tế, kỹ năng giao tiếp của con người không chỉ phụ thuộc vào phương tiện giao tiếp mà nó phụ thuộc khá nhiều vào vốn sống, vốn kinh
Trang 31nghiệm của cá nhân, phụ thuộc vào những nét văn hóa đặc trưng vùng miền
mà người đó sinh sống, có khi còn chịu ảnh hưởng của sự giáo dục, quản lý của gia đình
Như vậy, ta thấy rằng: Kỹ năng giao tiếp của mỗi người bao hàm cả khả năng chủ thể vận dụng vốn tri thức, vốn kinh nghiệm của bản thân, cả khả
năng điều khiển đối tượng giao tiếp Tác giả Nguyễn Bá Minh coi "kỹ năng
giao tiếp là nhóm kỹ năng các hành động liên quan đến việc hình thành mối quan hệ hợp tác giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp, giữa đối tượng giao tiếp với nhau" Ở đây, kỹ năng giao tiếp được hiểu là nhóm kỹ năng hỗ trợ cho
người giao tiếp nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt động giao tiếp trong xã hội Trong xã hội và trong hoạt động giao tiếp của con người, kỹ năng giao tiếp chính là khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng biểu cảm của con người, với
sự phối hợp hài hòa giữa lời nói và cử chỉ của chủ thể và đối tượng giao tiếp
Từ những quan niệm khác nhau về giao tiếp, kỹ năng giao tiếp, chúng tôi hiểu giao tiếp là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp về nhiều mặt và nhiều cấp độ khác nhau, là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Để giao tiếp có hiệu quả đòi hỏi mỗi người phải có
kỹ năng giao tiếp Đó là toàn bộ thao tác, cử chỉ trong hoạt động giao tiếp
Nói một cách khác, kỹ năng giao tiếp là toàn bộ những thao tác, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ được phối hợp hài hoà, hợp lý của cá nhân với cá nhân hay
cá nhân với một nhóm xã hội nhằm điều khiển, điều chỉnh đối tượng giao tiếp
để thực hiện mục đích giao tiếp
Bản chất của kỹ năng giao tiếp là sự phối hợp phức tạp giữa chuẩn mực
hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ thể (cơ mặt: ánh mắt, nụ cười, môi , động tác tay, chân, đầu vai, cổ, tư thế vận động) và ngôn ngữ Sự phối hợp có tính hài hòa, hợp lí có nghĩa là nó mang một nội dung thông tin nhất định, phù hợp với mục đích giao tiếp và mang lại hiệu quả trong quá trình giao tiếp
Trang 32Như vậy kỹ năng giao tiếp là sự vận dụng các tri thức, kinh nghiệm cũng như việc sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, nhằm giúp chủ thể giao tiếp thực hiện có hiệu quả việc trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với đối tượng giao tiếp
1.3.2 Mục tiêu rèn luyện kỹ năng giao tiếp
Mục tiêu rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi cũng là một bộ phận của mục tiêu giáo dục mầm non, hướng vào việc phát triển cho trẻ những kỹ năng giao tiếp cơ bản, tạo ra cơ sở nền tảng cho sự phát triển lâu dài
và bền vững của trẻ
Mục tiêu phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ hướng vào việc hình thành
và phát triển ở trẻ chuẩn kỹ năng giao tiếp cơ bản, gồm 3 nhóm kỹ năng:
- Kỹ năng nghe hiểu lời nói trong giao tiếp
- Kỹ năng sử dụng lời nói trong giao tiếp
- Kỹ năng thực hiện một số qui tắc thông thường trong giao tiếp
1.3.3 Nội dung của rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
Nội dung của rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi người dân tộc thiểu số là những kỹ năng giao tiếp cơ bản tương ứng với các mỗi quan
hệ, phù hợp với đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ
Qua mỗi lần chơi sẽ hướng tới việc rèn luyện ở trẻ những kỹ năng giao tiếp, tương ứng với các mỗi quan hệ Việc rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non là việc rất cần thiết và quan trọng Thầy cô và các bậc phụ huynh cần chú trọng giúp con rèn luyện kỹ năng này
Căn cứ vào Bộ chuẩn kỹ năng đối với trẻ ở mỗi độ tuổi nhất định, căn
cứ vào những điều kiện cụ thể ở mỗi trẻ, trường, địa phương mà xác định những kỹ năng cụ thể được rèn luyện Ở góc độ tổng thể có thể khái quát những kỹ năng giao tiếp cần rèn luyện cho trẻ mẫu giáo bao gồm:
Kỹ năng nghe hiểu lời nói trong giao tiếp
Kỹ năng sử dụng lời nói trong giao tiếp
Trang 331.3.4 Đặc điểm phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
người dân tộc thiểu số
1.3.4.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ 5-6 tuổi
Tính không chủ định trong hoạt động tâm lí
Một trong những nét tâm lí đặc trưng của trẻ mẫu giáo là tính không chủ định trong hoạt động tâm lý, tức là các hiện tượng tâm lí xảy ra không có
sự tham gia của ý thức, trẻ không đặt ra nhiệm vụ hay kế hoạch từ trước để tiến hành hoạt động nói chung Các quá trình tâm lý của trẻ mẫu giáo đều mang tính không chủ định Trẻ thích thì chú ý, thích thì nhớ, không thích thì thôi Toàn bộ hoạt động và phương pháp dạy trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo này đều phải chứ ý đến yếu tố không chủ định này Hoạt động vui chơi cũng mang tính không bắt buộc, tức là trẻ thích thì tham gia, không thích thì không chơi Mọi sự ép buộc qua trò chơi đều dẫn đến sự phản tác dụng của trờ chơi Nếu trong hoạt động vui chơi trẻ không hòa hợp với bạn mà trẻ từ bỏ cuộc chơi, thì cô giáo cũng không thể ép trẻ chơi
Tính hình tượng trong hoạt động tâm lí
Cùng với sự phát triển và sự hoàn thiện dần của hoạt động vui chơi cũng như các hoạt động (hoạt động tạo hình, kể chuyện, đọc thơ…) vốn biểu tượng của trẻ ngày càng phong phú hơn rất nhiều và chức năng kí hiệu tượng trưng được phát triển Tư duy trực quan hình tượng, trí nhớ hình tượng phát triển mạnh ở giai đoạn này Sự phát triển mạnh của tính hình tượng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ cảm thụ những hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm văn học và các hiện tượng ngôn ngữ
Tính hình tượng trong hoạt động tâm lí đã giúp trẻ có thể chơi được tốt
và sáng tạo qua trò chơi, khi sắm vai mà mình đảm nhận và hoạt động của vai Nếu hành động của vai qua trò chơi ĐVTCĐ Điều đó khiến hoạt động của trẻ trong vai đã đảm nhận không quá lệ thuộc vào đồ vật và do đó trẻ sẽ gặp khó khăn hơn trong quá trình tham gia chơi cùng các bạn Có thể nói, tính hình
Trang 34tượng phát triển tốt sẽ giúp trẻ tham gia chơi cùng các bạn, giúp trẻ thực hiện những kỹ năng chơi dễ dàng hơn
Tính đồng cảm và dễ xúc cảm
Ở lứa tuổi mầm non thì tính xúc cảm tình cảm nổi trội trong tất cả các mặt hoạt động tâm lí So với trẻ em ở lứa tuổi nhà trẻ thì trẻ mẫu giáo rất muốn được yêu thương, khen ngợi và lo sợ trước những thái độ thờ ơ lạnh nhạt của những người xung quanh Nó thực sự vui khi được người lớn và bạn
bè yêu mến khen ngợi, và cũng thực sự buồn bã khi bị tẩy chay Trẻ không những chỉ có nhu cầu được yêu thương mà còn có nhu cầu yêu thương người khác nữa Trẻ luôn cố gắng động viên an ủi, chia sẻ những tình cảm của mình với những người xung quanh Đây chính là giai đoạn rất tốt để phát triển khả năng đồng cảm ở trẻ
Tình cảm của trẻ đặc biệt là tính đồng cảm và dễ xúc cảm phát triển là thời điểm thuận lợi để giáo dục long nhân ái cho trẻ Các loại tình cảm bậc cao như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mĩ cũng phát triển mạnh ở giai đoạn này Hoạt động vui chơi, đặc biệt là trờ chơi đóng vai theo chủ đề sẽ tạo điều kiện cho trẻ những trạng thái tình cảm khác nhau, bởi
vì tình cảm với con người chỉ nảy sinh trong quan hệ người người
1.3.4.2 Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Nhờ sự phát triển nhanh về mặt ngôn ngữ mà trẻ 5 – 6 tuổi đã có thể giao tiếp khá tự tin trong cuộc sống Điều đó biểu hiện ở những đặc điểm sau:
- Với vốn từ giao động từ 3500 đến 4500 từ, trẻ đã có thể dùng từ phù hợp với nội dung, hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp, đặc biệt là trẻ đã có khả năng nhận biết được những sắc thái biểu cảm của lời nói (vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên, sợ hãi,…)
Trẻ đã có thể diễn đạt được những xúc cảm, nhu cầu, ý nghĩ và hiểu biết của mình qua lời nói, biết sử dụng lời nói để chỉ dẫn những vấn đề đơn giản cho người khác hiểu và ngược lại có thể hiểu những chỉ dẫn về những vấn đề đơn giản qua lời nói, hoặc cử chỉ hành động
Trang 35Ở những trẻ được chú ý rèn luyện về mặt giao tiếp đã có thể sử dụng khá hiệu quả phương tiện giao tiếp phi ngôn từ (cử chỉ, ánh mắt, nét mặt, giọng nói,…) Hơn nữa, nếu được chú ý giáo dục, trẻ đã có thể thực hiện được những quy tắc giao tiếp thông thường như gặp người lớn, gặp thầy cô thì chào hỏi lễ phép, người lớn đưa cho thứ gì thì phải xin bằng hai tay,…
Mặc dù có thể trẻ chưa hiểu được sâu sắc ý nghĩa của những hành vi giao tiếp, song trẻ hoàn toàn có thể thực hiện được chuẩn về mặt hành vi trong quá trình giao tiếp nếu môi trường giao tiếp quanh trẻ chỉ chứa đựng những nét đẹp của văn hoá giao tiếp và trẻ nhận được sự quan tâm giáo dục thoả đáng của gia đình, nhà trường và toàn xã hội
Nếu được giáo dục đúng hướng, giao tiếp của trẻ 5 – 6 tuổi còn có một
số đặc điểm sau:
Trẻ 5 – 6 tuổi dễ dàng thiết lập những mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh không phân biệt tuổi tác, địa vị xã hội, kinh tế Có thể nói trẻ thiết lập quan hệ giao tiếp rất hồn nhiên, vô tư không để ý đến xuất thân của đối tượng giao tiếp Tuy nhiên, trẻ đã bước đầu biết để ý đến sở thích, thói quen, tính cách của đối tượng giao tiếp nên trong những trường hợp đối tượng giao tiếp có biểu hiện ảnh hưởng tới sự an toàn của trẻ (như doạ nạt, trêu trọc,…) thì trẻ sẽ không thích giao tiếp với đối tượng đó
Trong những tình huống nhất định (tình huống mà trẻ thích giao tiếp) trẻ dễ dàng thay đổi ý kiến, thái độ của mình để nhận được sự đồng tình của đối tượng giao tiếp - biểu hiện của tính thiện chí trong giao tiếp
Trong quá trình giao tiếp, trẻ 5 – 6 tuổi đã biết cảm thông với người, sẵn sàng giúp đỡ người khác, biết nhường nhịn bạn chơi - đối tượng giao tiếp
Đặc biệt là xúc cảm, tình cảm của trẻ thường được biểu hiện một cách chân thật trong quá trình giao tiếp
Tính tích cực giao tiếp của trẻ cũng được phát triển
Trong lứa tuổi mẫu giáo có sự thay đổi mạnh trong nội dung và hình thức của tính tích cực giao tiếp với người khác và trong thái độ đối với chính
Trang 36bản thân
Các quan hệ mới với người lớn nẩy sinh trên cơ sở của khả năng ngày càng tăng của trẻ quy định sự thay đổi của tính tích cực giao tiếp Vai trò của người lớn trong đời sống của trẻ được thay đổi và do đó quan hệ của cô với trẻ được xây dựng lại
Nhu cầu quan hệ với người lớn, đặc biệt với những người có quan hệ gần gũi với các em được hình thành và phát triển rất sớm ở trẻ ngay từ lúc trẻ tuổi còn rất nhỏ trẻ đã luôn muốn được giao tiếp với mẹ Mẹ, cô giáo trước hết là người thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu nhất Mặc dù ở trẻ mẫu giáo vẫn có mối quan hệ ấy (ở những nhóm nhỏ), nhưng quan hệ này ngày càng nhỏ dần so với hứng thú nhất định của trẻ với người lớn Giờ đây trẻ có thể tự làm được nhiều cái và không cần thường xuyên có người lớn bảo trợ, nhưng trẻ luôn muốn được người lớn quan tâm, chú ý
Động cơ chủ yếu kích thích trẻ giao tiếp với người lớn là nội dung của
sự giao tiếp ấy Trẻ sớm phát hiện ra người lớn biết nhiều, làm được nhiều thứ
và có thể chỉ bảo dạy dỗ mọi thứ Các em cũng biết phân biệt ai đúng ai sai Người lớn cấm đoán và cho phép, cáu kỉnh và dịu dàng, yêu cầu và khen ngợi Sự bắt chước các hành vi này diễn ra ở mức độ cao hơn trẻ ở tuổi nhà trẻ, và đã mang tính chất có chủ định Sự bắt chước người lớn, hành động của
họ và sau đó bắt chước mối quan hệ qua lại giữa người lớn và những người khác, biểu hiện rõ rệt trong các trò chơi đóng vai của trẻ mẫu giáo (F.I.Fratkina, D.B.Encônin, R.I.Jukôpxkaxi, D.V.Metgeritxkaia, R.M.Rimuarơ, I.G.Xa môrukôva, A.V.Tserơkốp)
Các công trình nghiên cứu chỉ ra rằng trò chơi của trẻ phản ánh hoạt động lao động, cách sống và mối quan hệ qua lại của người lớn
Nhu cầu quan hệ với bạn càng phát triển, không chỉ quan hệ với người lớn thay đổi mà cả mối quan hệ qua lại giữa trẻ mẫu giáo và bạn cùng tuổi cùng tuổi cũng thay đổi Trẻ muốn chơi với các bạn khác, trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo nói chung không thể chơi một mình: nó muốn kể một điều gì đó cho bạn
Trang 37nghe, cùng các em thực hiện một số việc gì đó đã được giao Niềm vui được cùng làm cùng chơi với bạn làm nảy sinh mối quan hệ giữa các em, tình bạn
và mầm mống của tình bạn (A.V.Bulatôva, V.A.Xukhômlinxki, A.I.Arjanôva, E.I.Kuntsiuxkaia M.I.Timôsenkô v v ) Các em quan tâm lẫn nhau, không có nhau thì buồn, gắng giúp bạn, chú ý tới các em bé hơn Kinh nghiệm sống do mỗi em thu thập được tạo điều kiện hình thành các nhóm nhỏ )
Nếu cô giáo sử dụng một cách hệ thống những khả năng ấy thì có thể đạt được những kết quả đáng kể trong việc hình thành các mối quan hệ giữa các em với nhau
Tổ chức cho các em cùng hoạt động, chia thành từng nhóm 2-3 em phù hợp với trình độ và đặc điểm riêng của các em, xác định nhiệm vụ của các nhóm nhỏ ấy, và sau đó đánh giá kết quả công việc, cô giáo sẽ tạo ra được ở trẻ nhu cầu xem xét hành động của từng em như là của một người bạn, như một thành viên của toàn nhóm Ví dụ khi nhận báo cáo về đợt trực ba ngày, cô giáo đánh giá tốt tinh thần trách nhiệm của các bạn trực đối với nhau và lưu ý trẻ về vấn đề đó: “Nga thấy Lan Anh chưa dọn bàn ăn xong, mặc dù đã làm hết ở các bàn của mình rồi, em không đi chơi mà đến giúp đỡ Lan Anh: chính
vì việc chung của hai người chưa xong, mà cả hai cùng có trách nhiệm Những người bạn thực sự lúc nào cũng làm như vậy trong mọi việc”
Tính tích cực giao tiếp của trẻ cũng như hoạt động nhận thức của trẻ mẫu giáo đã bước đầu có tính chất chủ định, có định hướng Nhờ vào các qui tắc cô giáo điều chỉnh hành vi của trẻ V.A.Gorbatsêva đã chỉ ra một cách đáng tin rằng việc đưa vào cuộc sống của trẻ một chương trình những yêu cầu
có tính toán cẩn thận, những yêu cầu qui định hành vi của trẻ (lúc ngồi ở bàn
ăn vào chỗ ngủ hay trong phòng học), trong một mức đáng kể quyết định hành động của trẻ trong những điều kiện cụ thể trong đời sống của chúng Nhưng điều quan trọng là các quy tắc ấy trở thành cơ sở để trẻ đánh giá hành động và phẩm chất của trẻ, hành động và phẩm chất của các trẻ khác, cũng như các mối quan hệ qua lại của bản thân trong lớp.)
Trang 38Nếu trẻ 2-3 tuổi tuân theo những yêu cầu duy nhất “cần” và “không được” hành động trong hoàn cảnh cụ thể, thì một đặc điểm nổi bật trong hành
vi trẻ 5-6 tuổi là chuyển sang tiếp thu một cách khái quát các qui tắc: mang tính chất chuẩn mực khái quát của hành vi
Trẻ 5 – 6 tuổi gặp nhiều yêu cầu mới đối với các em, các em không tiếp thu được ngay Một số em tích cực hơn thì thử xem xét các yêu cầu đó của cô giáo kiểm tra và phân định xem qui tắc nào là bắt buộc Khi thấy một em nào
đó phá qui tắc, các em tích cực này mách cô giáo Mách như vậy thì người mach không bị hành vi phá qui tắc ấy ảnh hưởng tới Đó là một đặc điểm của những người mách Như khi mách “Hải lấy tay ăn mì” hay “Huy không xếp dọn đồ chơi” còn “ Hưng nói tục” trẻ muốn xem cô giáo phản ứng thế nào đối với những hiện tượng phá qui tắc đó Khi người lớn qua sự đánh giá của mình khen em nào mách vì em đó đã biết kỹ các qui tắc ấy, qua đó qui tắc được ủng hộ: “Đồ chơi nhất định phải xếp vào ngăn kéo Thanh cừ lắm, và đã nhìn thấy
và nhắc bạn Khuê cất các mẫu gỗ hình khối đó”
Nếu trong nhóm trẻ mẫu giáo lớn cô giáo làm cho trẻ tiếp thu được qui tắc lịch thiệp, thì lời mách của trẻ nói lên em nào đó phá qui tắc đối xử với bạn: “Hoa lấy của Mi cái bút chì xanh, mà Mi cũng cần để vẽ máy bay”; “thế tại sao Bình lại không đưa cho Đạt chiếc máy bay, mà bạn Đạt nói một cách lịch sự, bạn Đạt nói “làm ơn cho mượn”, thế mà bạn Bình không đưa”
Minh Anh là người trực nhật tốt nhất Bạn dọn cơm nhanh nhẹn, xếp bát đũa đâu ra đấy, đũa đặt bên phải, và nếu bạn nào không có ghế, thì bạn ấy nhường ghế của mình cho bạn và còn mình đi lấy ghế khác
Như vậy là qui tắc hành vi do người lớn đề ra và việc kiểm tra đều dặn,
kỹ lưỡng xem tất cả các em hàng ngày thực hiện như thế nào khiến cho qui tắc hành vi ấy thành cái điều khiển hành vi của trẻ
Công trình nghiên cứu của V.A.Gorbatsêva cũng cho hay là việc thường xuyên củng cố bằng lời khen khi trẻ có thực hiện hay chê lúc trẻ không thực hiện một qui tắc nào đó (mà các em đã biết) khiến cho trẻ mẫu
Trang 39giáo biết đánh giá tương ứng Thoạt đầu thái độ đó biểu hiện trong thái độ đối với các bạn, sau đó đối với bản thân
1.3.5 Vai trò rèn luyện kỹ năng giao tiếp đối với sự phát triển của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
Trẻ em nói chung và đặc biệt là đối tượng trẻ em dân tộc thiểu số nói riêng, kĩ năng giao tiếp có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ Nhờ có giao tiếp mà trẻ hoà nhập và tham gia vào các mối quan
hệ xã hội, tiếp thu những kinh nghiệm xã hội – lịch sử chuyển thành những kinh ngiệm của bản thân.Thông qua giao tiếp trẻ đối chiếu, so sánh hành vi, thái độ của mình, từ đó có phương pháp điều chỉnh phù hợp
Trẻ dân tộc thiểu số sử dụng tiếng Việt như là loại ngôn ngữ thứ 2 để giao tiếp, khiến người nghe hiểu được rõ ý của trẻ muốn truyền đạt, không gây ra sự hiểu lầm Giao tiếp tốt còn giúp cho trẻ có thêm nhiều mối quan hệ cần thiết cho cuộc sống, học tập và vui chơi Từ đó góp phần phát triển hiệu quả giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng giao tiếp nói riêng cho trẻ
em vùng dân tộc thiểu số
1.4 Thực trạng xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
1.4.1 Mục đích điều tra
Khảo sát thực trạng xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ để làm căn cứ thực tiễn đề xuất các biện pháp quản lý mang tính cấp thiết và khả thi
1.4.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên/người trưởng bản trường mầm non tại các trường mầm non ở huyện Tân Sơn, do điều kiện về thời gian, địa bàn rộng nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, khảo sát tại trường mầm non Kim Thượng huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
Trang 40Quy mô khảo sát: Quy mô trường lớp, CB, GV và học sinh của trường mầm non Kim Thượng - huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
1.4.3 Nội dung điều tra
Chúng tôi tập trung làm rõ các nội dung sau:
- Thực trạng nhận thức của CBQL, giáo viên về công tác xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số tại trường mầm non Kim Thượng huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Thực trạng xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số tại các trường mầm non huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Thực trạng công tác xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số tại các trường mầm non huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới công tác xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5–6 tuổi người dân tộc thiểu số tại các trường mầm non huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
1.4.4 Phương pháp điều tra
- Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến giáo viên tại một trường mầm non ở
huyện Tân Sơn
- Quan sát hoạt động của cô và trẻ
- Trao đổi, trò chuyện với giáo viên về việc xây dựng môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
ở trường mầm non
- Sau khi thu thập được số liệu, sử dụng phương pháp thống kê toán học
để xử lý số liệu và phân tích kết quả thu được