1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc giáo dục trẻ 5 6 tuổi tại trường mầm non tuổi hoa quận ba đình thành phố hà nội

105 620 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những yêu cầu cả về mặt lý luận và thực tiễn trên, với tư cách là cán bộ quản lý trong nhà trường, tôi luôn trăn trở với câu hỏi làm thế nào để phát triển được những hoạt độ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

*****

LÊ THỊ TRÂM ANH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG VIỆC CHĂM SÓC – GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON TUỔI HOA –

QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THỊ TRÂM ANH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG VIỆC CHĂM SÓC – GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON TUỔI HOA –

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô cùng các cán bộ Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS

Nguyễn Văn Lê - người Thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo

tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo cùng cán bộ, giáo viên và cha mẹ học sinh Trường Mầm non Tuổi Hoa – quận Ba Đình đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin tri ân sự khích lệ, động viên và giúp đỡ của gia đình, người thân, bạn bè đã dành cho tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu

Do điều kiện thời gian và năng lực, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý kiến từ các thầy cô giáo, đồng nghiệp, phụ huynh và những người quan tâm tới các vấn đề đã trình bày trong luận văn

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Thị Trâm Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mu ̣c chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mu ̣c bảng vii

Danh mu ̣c hình vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG VIỆC CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 6

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.1 Quản lý 9

1.2.2 Chăm sóc giáo dục trẻ 11

1.2.3 Trẻ 5-6 tuổi 12

1.2.4 Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục 16

1.3 Ý nghĩa, vai trò của việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 16

1.3.1 Vai trò của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ 16

1.3.2 Ý nghĩa của việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 19

1.4 Nội dung và hình thức hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 21

1.4.1 Nội dung phối hợp 21

1.4.2 Hình thức phối hợp 23

Trang 6

1.5 Nội dung quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong

việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 25

1.5.1.Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ 5-6 tuổi 25

1.5.2 Lập kế hoạch quản lý, điều hành hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 28

1.5.3 Tổ chức chỉ đạo triển khai các hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 29

1.5.4 Kiểm tra đánh giá công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 29

1.6 Những yếu tố tác động tới quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 30

1.6.1 Yếu tố khách quan 30

1.6.2 Yếu tố chủ quan 34

Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG VIỆC CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON TUỔI HOA- BA ĐÌNH - HÀ NỘI 36

2.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội và giáo dục Quận Ba Đình, Hà Nội 36

2.1.1 Vài nét về kinh tế - xã hội Quận Ba Đình, Hà Nội 36

2.1.2.Tình hình phát triển giáo dục mầm non Quận Ba Đình, Hà Nội 36

2.2 Sơ lược về trường mầm non Tuổi Hoa, Quận Ba Đình, TP Hà Nội 37

2.2.1 Quy mô trường lớp 37

2.2.2 Chất lượng giáo dục 37

2.2.3 Nhu cầu học tập, chăm sóc nuôi dưỡng của trẻ và yêu cầu, mong muốn của phụ huynh 38

Trang 7

2.3 Hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc -

giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Tuổi Hoa 40

2.3.1 Nhận thức về việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Tuổi Hoa 40

2.3.2.Thực trạng hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Tuổi Hoa 42

2.4 Thực trạng quản lý phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 45

2.4.1 Thực trạng tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 45

2.4.2 Thực trạng công tác lập kế hoạch quản lý, điều hành hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 48

2.4.3 Thực trạng tổ chức chỉ đạo triển khai các hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 50

2.4.4 Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 52

2.4.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Tuổi Hoa 53

Tiểu kết chương 2 56

CHƯƠNG 3 : BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG VIỆC CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON TUỔI HOA – BA ĐÌNH – HÀ NỘI 57

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 57

3.1.1 Đảm bảo tính hệ thống cấu trúc 57

3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 58

3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 58

Trang 8

3.2 Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm

non Tuổi Hoa 58

3.2.1 Đổi mới các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 59

3.2.2 Xây dựng kế hoạch chiến lược trong quản lý, điều hành công tác phối hợp phù hợp với đặc điểm nhà trường 65

3.2.3 Tổ chức triển khai các hoạt động phối hợp với vai trò chủ đạo của nhà trường 68

3.2.4 Tăng cường chỉ đạo công tác phối hợp trên cơ sở phát huy sức mạnh tập hợp của cả gia đình và nhà trường 70

3.2.5 Thực hiện việc kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ về công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 72

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 74

3.4 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 74

3.4.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm đã đề xuất 74

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 75

3.4.3 Nhận xét 78

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

1 Kết luận 81

2 Khuyến nghị 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 87

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 : Bảng số liệu về giáo viên của trường mầm non Tuổi Hoa 40 Bảng 2.2: Số liệu khảo sát nhận thức về việc phối hợp giữa gia đình và 41 nhà trường 41 Bảng 2.3: Bảng kết quả khảo sát nhận thức về quản lý phối hợp giữa gia đình

và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 46 Bảng 2.4: Bảng kết quả khảo sát nhận thức về một số vai trò của quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi 47 Bảng 3.1 Bảng thống kê kết quả khảo sát 76 Bảng 3.2 Kết quả đánh giá tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp 77

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Biểu đồ so sánh mức độ nhận thức của cán bộ, giáo viên và cha mẹ

học sinh đối với việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường Error!

Bookmark not defined

Hình 2.2: Biểu đồ đánh giá mức độ nhận thức về việc phối hợp giữa gia đình

và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Tuổi Hoa 42 Hình 2.3: Biều đồ đánh giá nhận thức về quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 46 Hình 2.4: Sơ đồ tổ chức chỉ đạo triển khai các hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường 50 Hình 3.1 Biều đồ đánh giá tương quan giữa tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp dựa trên điểm trung bình 78

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, giáo dục mầm non đã được coi là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân Để thực hiện tốt mục tiêu, sứ mạng của ngành giáo dục mầm non mà Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8, BCHTƯ khóa

XI đã đặt ra là: “Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc - giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non, phấn đấu trẻ em đạt chuẩn phát triển là 95% và giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống dưới 10% năm 2015” [27]

“Giúp trẻ phát triển trí tuệ, thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1”

“ Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm

2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020”

“Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục”

Để đạt được mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của cấp học, cần phải thực hiện triệt để nguyên tắc “giáo dục là sự ngiệp của toàn dân” mà Đảng và Nhà nước đã đề ra đó là: tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các bậc phụ huynh và toàn

xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non, huy động sự chung tay góp sức của cả gia đình, nhà trường và xã hội giúp trẻ được nuôi dưỡng chăm sóc trong điều kiện tốt nhất với một môi trường giáo dục có chất lượng đạt tiêu chuẩn, an toàn và năng động, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong đó có nhu cầu xã hội của trẻ

Lứa tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) là giai đoạn trẻ chuẩn bị bước vào lớp

1, đây là bước ngoặt quan trọng đầu tiên trong cuộc đời học tập của trẻ, bởi vậy trẻ cần được cung cấp đầy đủ các điều kiện về sức khỏe, kiến thức, kỹ

Trang 11

năng để tự tin và đáp ứng tốt những yêu cầu của môi trường mới Để đạt được điều này thì sự phối kết hợp chặt chẽ, thống nhất giữa gia đình và nhà trường

đã trở thành một nguyên tắc giáo dục bắt buộc mà nếu nó được thực hiện tốt thì hiệu quả và chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ sẽ được nâng cao vì cha mẹ

là người vừa chăm lo nuôi nấng, giáo dục nhận thức, vừa đôn đốc dìu dắt con mình ngay từ khi mới sinh ra và gia đình không chỉ là cái nôi sinh thành, nơi chiếm phần lớn thời gian sinh sống, mà còn là môi trường giáo dục đầu tiên của mỗi người Bên cạnh đó, trường mầm non chính là hạt nhân, là trung tâm khoa học còn cô giáo mầm non là chuyên gia chăm sóc giáo dục, có trình độ chuyên môn, có kỹ năng giao tiếp sư phạm giỏi

Trên thực tế, gia đình và nhà trường cũng đã quan tâm sát cánh chăm chút cho sự phát triển của trẻ và có sự hợp tác thống nhất nhất định, trường mầm non Tuổi Hoa của chúng tôi cũng có hội CMHS hoạt động thường xuyên, có kế hoạch theo điều lệ của hội, phụ huynh cũng quan tâm tới chương trình giáo dục mà nhà trường dành cho các con, tuy nhiên hoạt động phối hợp này chưa được quản lý, tổ chức một cách khoa học, hệ thống nên nó còn mang tính hình thức, lỏng lẻo, thiếu thường xuyên, liên tục

Xuất phát từ những yêu cầu cả về mặt lý luận và thực tiễn trên, với tư cách là cán bộ quản lý trong nhà trường, tôi luôn trăn trở với câu hỏi làm thế nào để phát triển được những hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi của trường mình Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ với tiêu đề : “Quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ

5-6 tuổi tại trường mầm non Tuổi Hoa - quận Ba Đình – thành phố Hà

Nội”.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Tuổi Hoa - Ba Đình - Hà Nội

Trang 12

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ tại trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Tuổi Hoa - Ba Đình - Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

- Hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Tuổi Hoa - Ba Đình - Hà Nội đã và đang được thực hiện nhưng còn thiếu sự đồng bộ, chưa có đột phá về định hướng và chỉ đạo của đội ngũ cán bộ quản lý

- Nếu nâng cao được nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ và áp dụng một số biện pháp quản lý phù hợp về các khâu như lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ ở trường mầm non Tuổi Hoa hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

và công tác quản lý phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi này

5.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ mẫu giáo tại trường mầm non Tuổi Hoa – Ba Đình và phân tích nguyên nhân của thực trạng

Trang 13

5.3 Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Tuổi Hoa - quận Ba Đình – thành phố Hà Nội

6 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc giáo dục trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Tuổi Hoa - Ba Đình - Hà Nội trong giai đoạn hiện nay Cụ thể là: Khảo sát và đánh giá hoạt động phối hợp giữa cha mẹ và trường mầm non trong việc nuôi và dạy trẻ, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động này Đặc biệt là nghiên cứu công tác quản lý của nhà trường, nhất

là của hiệu trưởng để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

Khách thể khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên và phụ huynh trường mầm non Tuổi Hoa - Ba Đình

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về quản lí các hoạt động chuyên môn của nhà trường; phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng/mở về vấn đề phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi Đối tượng khảo sát sẽ là giáo viên, nhân viên, cán bộ quản lí và phụ huynh trong nhà trường

- Phỏng vấn: Thu thập những thông tin sâu về một số vấn đề cốt lõi của

đề tài Nhóm đối tượng phỏng vấn sẽ hạn chế hơn và tập trung vào giáo viên

và phụ huynh

Trang 14

- Quan sát: Tiến hành theo dõi các hoạt động của trường mầm non Tuổi Hoa, Quận Ba Đình; thực hiện theo dõi hoạt động phối hợp của nhà trường với các hoạt động của phụ huynh và các đối tượng có liên quan

8.2.Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là những kinh nghiệm tốt cho công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non khác

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình

và nhà trường trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ 5-6 tuổi

Chương 2.Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà

trường trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Tuổi Hoa – quận Ba Đình – thành phố Hà Nội

Chương 3 Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Tuổi Hoa –quận Ba Đình – thành phố Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG VIỆC CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI

1.1 Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình

và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

Trách nhiệm của nhà trường trong việc tổ chức, phối hợp với gia đình

để chăm sóc-giáo dục trẻ là một vấn đề được xã hội và các nhà giáo dục rất coi trọng Trẻ em ở giai đoạn đoạn 5 - 6 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, đặc biệt ngôn ngữ của trẻ đã đạt chất lượng cao về phát âm, vốn từ

và các hình thức ngữ pháp, đây cũng là lúc trẻ bước sang một giai đoạn phát triển mới, trẻ phải học rất nhiều các kỹ năng cũng như kiến thức để chuẩn bị cho cuộc sống mà trước mắt là cho sự thay đổi bước ngoặt về cấp học của trẻ Trẻ ở lứa tuổi này luôn tò mò, hoạt động nhiều, ham học hỏi, thích tự làm việc, ham chơi hơn ăn do vậy đây là lúc trẻ cần được quan tâm hết sức đặc biệt mà nếu chỉ trông cậy vào sự chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non thôi thì chưa đủ để chuẩn bị cho trẻ cuộc sống tương lai mà cần phải có sự hỗ trợ của cộng đồng, đặc biệt là gia đình trẻ Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc giáo dục trẻ đã trở thành đề tài của nhiều công trình ngiên cứu khoa học ở trong và ngoài nước

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Trong nền giáo dục cận đại, J.A.Komenxki (1592-1670) là người đầu tiên nêu ra một hệ thống lý luận chặt chẽ về tầm quan trọng của mối quan hệ thống nhất giữa gia đình và nhà trường đối với kết quả giáo dục trẻ Ông khẳng định lòng ham học của trẻ không thể thiếu vắng sự kích thích từ phía

bố mẹ và thầy cô: “Các bậc cha mẹ, giáo viên nhà trường, bản thân môn học, phương pháp dạy học phải thống nhất làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh” Nhiều nhà giáo dục lỗi lạc của Liên Xô đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự phối hợp, hợp tác giữa nhà trường và gia đình

Trang 16

trong việc thực hiện mục đích giáo dục những người công dân chân chính trong tương lai đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa V.A.Xukhomlinxki (1918-1970) đã khẳng định nếu gia đình và nhà trường không có sự hợp tác để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục thì sẽ dẫn đến tình trạng “gia đình một đường, nhà trường một nẻo” Vào đầu thế kỷ 21 này, một số nước phương Tây đã chú ý đề cao hơn vai trò của cha mẹ trong việc kết hợp với nhà trường

để giáo dục trẻ Ông Alan Johnson, bộ trưởng Bộ Giáo dục Anh, trong bài phát biểu gần đây đã kêu gọi cha mẹ không nên phó thác việc chăm sóc, giáo dục con em mình cho nhà trường Ngược lại, ông khẳng định vai trò của các bậc phụ huynh rất quan trọng, thậm chí sẽ mang lại một “sự khác biệt lớn” so với những kết quả mà trẻ đạt được từ trường học

Một dự án nghiên cứu về gia đình (Harvard Family Research Project) của trường Đại học Harvard khẳng định: Sự tham gia của gia đình trong giáo dục mầm non nâng cao thành công của mỗi trẻ trong mọi độ tuổi Dự án đã nêu được tầm quan trọng của giáo dục gia đình trong giai đoạn lứa tuổi mầm non, đó là quá trình giáo dục bao gồm thái độ, nhận thức và thực hành của cha

mẹ trong việc nuôi dạy trẻ, trong đó đối với giáo dục mầm non, quan hệ giữa gia đình và nhà trường được hiểu là những liên hệ chính thức và phi chính thức giữa gia đình và cơ sở giáo dục mầm non Sự tham gia vào các hoạt động ở cơ sở giáo dục mầm non bao gồm các buổi họp phụ huynh, tham quan lớp học, tham gia giúp đỡ các hoạt động ở lớp học cũng như duy trì mối liên

hệ định kỳ giữa cha mẹ và giáo viên là những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến chất lượng giáo dục trẻ

Tác phẩm “Giáo viên mầm non và công tác với gia đình”, tác giả người Nga Ubanxkaia cũng đề cập đến công việc của hiệu trưởng trường mầm non với công tác phụ huynh bao gồm công tác quản lý hoạt động phối hợp với gia đình, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để làm tốt công tác phụ huynh và công tác

tư vấn, giao tiếp trực tiếp với phụ huynh

Trang 17

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Về những nghiên cứu ở trong nước, trong hầu hết các sách báo chuyên ngành, các đề tài, bài viết trong các hội thảo khoa học của các nhà nghiên cứu, chuyên gia về MN đều nêu bật được tầm quan trọng và sự cần thiết của giáo dục trẻ MN ở nhà trường và gia đình trong cuốn GDMN - Những vấn đề

lý luận trong thực tiễn của Nguyễn Ánh Tuyết: Phần II: Những quan điểm cơ bản của GDMN Việt Nam - Quan điểm I: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo nhân cách con người mới Việt Nam hay vai trò của gia đình đối với sự phát triển của trẻ thơ

Trong cuốn xã hội hóa giáo dục của viện KHGD do Võ Tấn Quang chủ biên đã nêu trong chương 2 – xã hội hóa GDMN: “ Trẻ mầm non với tư cách

là đối tượng chăm sóc, giáo dục được chăm lo của giáo dục nhà trẻ, giáo dục mẫu giáo và giáo dục gia đình một cách tự giác lẫn tự phát”

Trong luận án Tiến Sĩ của tác giả Phạm Bích Thủy về: Biện pháp bồi dưỡng cho cha mẹ năng lực giáo dục hành vi đạo đức với trẻ mẫu giáo lớn và trong Báo cáo tổng kết nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, Viện Khoa học giáo dục 2009 của tác giả Phan Thị Ngọc Anh về Xây dựng nội dung giáo dục trẻ cho các bậc cha mẹ ở gia đình góp phần thực hiện chương trình GDMN mới, đều khẳng định vai trò đan xen, kết hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non là quan trọng và tất yếu

Các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định gia đình có tính quyết định rất lớn trong việc chăm sóc-giáo dục trẻ và sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường là không thể thiếu trong công tác này Bởi lẽ gia đình có vị trí và vai trò hết sức to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Giáo dục gia đình có tính xúc cảm hơn so với bất cứ môi trường giáo dục nào khác, vì nó dựa trên tình yêu thương của cha mẹ đối với con cái và tình cảm quyến luyến, tin cậy của con cái đối với cha mẹ

Như vậy cả lý luận và thực tiễn nghiên cứu vấn đề về sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong chăm sóc-giáo dục trẻ mầm non đều được các

Trang 18

chuyên gia trong Ngành và các bậc phụ huynh rất quan tâm, ngày càng có nhiều các nghiên cứu báo cáo, hội thảo về lĩnh vực này Tuy nhiên chưa có đề tài, công trình nào đi sâu nghiên cứu về biện pháp quản lý sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc-giáo dục trẻ 5-6 tuổi

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại

và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một số tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn, đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó

Có thể nói, hoạt động quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, nó điều khiển một hệ thống xã hội ở cả tầm vĩ mô và vi mô

Hiện nay, mặc dù thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, song chưa có một định nghĩa thống nhất Khái niệm quản lý có nội dung rất chung, tổng quát, nó dùng cho cả quá trình xã hội, quá trình sinh vật cũng như quá trình

kỹ thuật Mỗi một định nghĩa về quản lý thường đúng với một lĩnh vực quản

lý cụ thể và tùy theo các cách tiếp cận khác nhau

Theo cách tiếp cận trên phương diện hoạt động của tổ chức thì: “Quản

lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến” Hoặc “hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”

Với cách tiếp cận tình huống thì: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”.[16]

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra.[23]

Trang 19

Bất kỳ một tổ chức nào, có mục đích, cơ cấu và quy mô ra sao thì cũng đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và nguồn lực, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích cuối cùng của tổ chức

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo; Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất lao động cao hơn Trong công việc đòi hỏi phải

có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra và chỉnh lý.[2]

Có thể nói: Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội…bằng một hệ thống các luật, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối trượng

Xét về bản chất, các định nghĩa trên về quản lý bao gồm những điều chủ yếu sau: Quản lý là một loại hình hoạt động có đối tượng, là một dạng hoạt động có chủ đích, hệ thống, nhằm đạt được những mục đích nhất định Quản lý là thuộc tính tồn tại khách quan trong hoạt động của con người Quản

lý luôn đặt trong mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, trong sự tác động của môi trường Do vậy, “Quản lý luôn phải đặt trong điều kiện có sự thay đổi, bắt nguồn từ những biến động, mà cuộc sống thì không bao giờ đứng yên”

Qua những định nghĩa về quản lý ta nhận thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất : Là một hoạt động có tính tất yếu, phổ biến và mang tính lịch

sử (Một nghệ sĩ chơi đàn chỉ phải điều khiển có chính mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [26,tr480]

Trang 20

Thứ hai: Là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng quyền lực

Thứ ba: Là hoạt động nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung

Thứ tư: Quản lý là quy trình bao gồm các bước cơ bản: Lập kế hoạch,

tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra

Thứ năm: Là dạng lao động đặc biệt, mang tính gián tiếp và tổng hợp Người ta coi quản lý là lao động về lao động, hay lao động siêu lao động

Thứ sáu: Quản lý vừa mang tính khoa học vừa là nghệ thuật

Thứ bảy: Thông tin là nhân tố đặc biệt quan trọng của quản lý

Thứ tám: Quản lý có xu hướng vươn tới tự quản

Quản lý luôn bao gồm 2 thành phần là chủ thể quản lý và khách thể quản lý Chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy sinh các giá trị vật chất, tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý

1.2.2 Chăm sóc giáo dục trẻ

Theo từ điển Tiếng Việt “chăm” có nghĩa là trông nom, săn sóc thường xuyên và được dùng trong những từ ghép như: chăm bẵm, chăm chút, chăm lo “sóc” có nghĩa là săn sóc, tìm cách chăm nom chu đáo, tận tình Như vậy

“chăm sóc” có hàm ý trông nom, săn sóc thường xuyên, chú ý đều đặn, chu đáo

Chăm sóc trẻ có nghĩa là chăm lo tới sức khỏe về thể chất (ăn, ngủ, vệ sinh, phòng bệnh ) và chăm sóc đến sức khỏe tinh thần (đáp ứng nhu cầu tâm

lý, nhu cầu xã hội như nhu cầu được yêu thương, được an toàn ) của trẻ

Giáo dục theo nghĩa rộng là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức,

có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ

Trang 21

Giáo dục theo nghĩa hẹp là quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách, những hành

vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu

Giáo dục trẻ là quá trình người lớn (thầy cô giáo, gia đình) tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động học tập, vui chơi, giao lưu một cách có mục đích,

có định hướng, qua đó cung cấp cho trẻ những kinh nghiệm sống, kỹ năng vận động, giao tiếp ban đầu, những hiểu biết về cuộc sống xung quanh trẻ

Như vậy, chăm sóc, giáo dục trẻ là hoạt động chăm lo đến thể chất, tinh thần đồng thời cung cấp, dạy cho trẻ những kiến thức về cuộc sống xung quanh trẻ và kỹ năng sống cơ bản đảm bảo cho trẻ được an toàn, phát triển toàn diện đúng với tâm sinh lý lứa tuổi, chuẩn bị điều kiện và tâm thế cho trẻ bước vào các môi trường sống và học tập tiếp theo

Vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ em cũng đã được Quốc hội nước ta ban hành thành văn bản Luật, đó là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Trong đó, Điều 4 của Luật này có đề cập: “Trẻ em, không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật”

1.2.3 Trẻ 5-6 tuổi

Trẻ ở độ tuổi lên 5 luôn luôn muốn khám phá sự vận hành của thế giới xung quanh Kinh nghiệm thực tế sẽ giúp trẻ hình thành nên những lý thuyết giúp trẻ giải thích nguyên nhân và cách thức hoạt động của vạn vật Ngoài ra, trẻ có thể sử dụng những dụng cụ đơn giản như nhiệt kế hay thước để thu thập thông tin, qua đó thực hiện những thí nghiệm nhỏ một cách độc lập Trẻ lên 5 cũng sử dụng nhiều ngôn ngữ miêu tả hơn trong việc diễn đạt thông tin, đặt câu hỏi hay khi đưa ra những lời giải thích Giai đoạn này ngôn ngữ của trẻ

Trang 22

phát triển mạnh, đạt chất lượng cao về phát âm, vốn từ và các hình thức ngữ pháp

+ Đặc điểm về thể chất

Mỗi tháng cân nặng của trẻ tăng từ 100g – 150g, đến 6 tuổi cân nặng trung bình từ 18 kg – 20kg Tỷ lệ mỡ trong cơ thể thấp nhất so với các lứa tuổi nên nhìn trẻ có vẻ gầy ốm Chiều cao mỗi tháng tăng từ 1cm – 1,5cm, đến 6 tuổi trẻ cao từ 105cm –115 cm

Tròn 6 tuổi, não của trẻ đạt khoảng 1300g như người lớn, sự biệt hóa

và tăng trưởng não bộ đã hoàn thành

Hệ tiêu hóa trẻ đã hoàn thiện Trẻ đã mọc đủ 8 răng hàm và bắt đầu thay răng

Vận động của trẻ giai đoạn này đã hoàn thiện Trẻ từ 5 tuổi trở đi đã có thể vận động toàn thân, hoặc làm các động tác phức tạp hơn như tung bắt bóng, nhảy dây, leo trèo… Các ngón tay của trẻ 5 tuổi không những có thể hoạt động tự do, mà động tác còn nhanh nhẹn và hoàn chỉnh hơn nên có thể cầm bút để tô hoặc vẽ, ngoài ra còn thực hiện được nhiều động tác mới và tinh tế hơn nữa

+ Đặc điểm về tâm sinh lý

Trẻ sáu tuổi cần ngủ ít nhất 10 tiếng mỗi ngày nhưng sẽ có rất ít trong

số chúng chịu ngủ trưa cho dù chúng sẽ lên giường đúng giờ vì trẻ ở tuổi này

đã bước đầu có sự tự ý thức, biết thực hiện theo các nề nếp, quy định tuy nhiên chúng cũng bắt đầu bộc lộ các quan điểm, sở thích cá nhân Vì thế cha

mẹ, người lớn cần dành nhiều thời gian chăm chút, quan tâm để kịp thời giúp trẻ điều chỉnh, uốn nắn các hành vi theo chuẩn mực Khi 5- 6 tuổi, ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh và đạt chất lượng cao về phát âm, vốn từ và các hình thức ngữ pháp, trẻ bắt đầu có những hoạt động giao tiếp, tích cực tham gia vào các hoạt động tập thể, đây là điều kiện cơ bản để hoàn thiện chức năng tâm lý người

Trang 23

Đặc biệt, giai đoạn này trẻ bắt đầu cắp sách đến trường, khả năng tiếp thu kiến thức mới thông qua việc phát triển ngôn ngữ và tư duy logic phát triển nhanh Khi trẻ đi học trẻ sẽ hoàn thiện ngôn ngữ, phát triển trí tuệ, biết ý thức hoàn thành nghĩa vụ, tạo được các quan hệ xã hội

Giai đoạn này cần bổ sung cho trẻ các thức ăn giàu axít béo thiết yếu giúp trẻ phát triển trí não Cùng với chế độ dinh dưỡng hợp lý là phải tạo điều kiện cho trẻ được tìm hiểu thế giới xung quanh, được chơi đùa vận động, đây

là phương thức tốt nhất giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ

+ Những kiến thức, kỹ năng cần thiết

Tự tìm ra câu trả lời bằng cách lên kế hoạch và thực hiện những thí nghiệm đơn giản dựa trên những bài học trước đó Ví dụ như tìm cách làm cho nước chảy từ xô đặt trên cao xuống sau khi bé đã chứng kiến sự di chuyển của nước trong các ống, vòi nước ở lớp

Đúc kết được đặc điểm của một nhóm các vật thông qua việc tìm hiểu

về một vài vật trong số chúng Học cách sử dụng những dụng cụ đơn giản như nhiệt kế hay thước đo để thu thập thông tin

Tăng khả năng thu thập, nhận biết thông tin từ những hình vẽ hay biểu

Sử dụng thêm từ ngữ để tiếp nhận thông tin, đặt câu hỏi cũng như là tự mình đưa ra những lời giải thích

Lên kế hoạch, thực hiện và bàn luận về những công việc nhỏ làm chung với các bạn khác như làm thí nghiệm vật nào sẽ lăn xuống dốc nhanh hơn và

sử dụng đồng hồ bấm giây để xác định xem bạn nào đúng, bạn nào sai

Trang 24

Nhận biết được rằng vật chất có thể bị thay đổi dưới những sự tác động như đun nóng, làm lạnh, trộn hay uốn cong Tuy nhiên không phải tất cả các loại vật liệu đều thay đổi dưới các tác động theo một cách giống nhau Bắt đầu khám phá những nguồn phát ra âm thanh, ánh sáng cũng như là tính chất của chúng Ví dụ trẻ có thể xác định cái gì đã gây ra tiếng động bên hàng xóm hay lớp học được chiếu sáng như thế nào Trẻ còn có thể thử nghiệm thay đổi vị trí của những nguồn đã tạo ra âm thanh, ánh sáng đó để tìm hiểu

sự thay đổi

Biết nhiều hơn về nước cùng với đặc tính của nước dựa trên chính những kinh nghiệm của trẻ: ví dụ như trẻ sẽ nhận ra sự thay đổi của dòng nước, để ý tới hình dạng, kích thước của những giọt nước, nhận biết một vật

sẽ nổi hay chìm, ngoài ra trẻ còn biết nước có thể đông cứng thành đá hay đá cũng có thể tan chảy thành nước

Hiểu được khái niệm về hình dáng và chức năng của sự vật: ví dụ, hiểu được nhiệm vụ của rễ cây là gì Trẻ cũng cần có những hiểu biết về các bộ phận bên trong cơ thể người: ví dụ, trẻ cần biết rằng khi chạy, tim sẽ đập nhanh hơn, não là dùng để nghĩ hay ném bóng là nhiệm vụ của các cơ Ngoài

ra trẻ còn cần biết cây non hay những con thú nhỏ thì có nhiều đặc điểm giống với “bố mẹ” của chúng

Nắm được những cách khác nhau mà cây cối và động vật sử dụng để đáp ứng nhu cầu của chúng Trẻ cần nắm được những kiến thức cơ bản về những thứ con người cần từ tự nhiên như thức ăn, nước uống hay không khí, nhận biết được sự khác biệt giữa sinh vật và những vật không sống, biết dùng những hiểu biết của mình để tạo ra một môi trường ngay trong nhà cho những vật nuôi mà trẻ mang về

Thấy được sự đa dạng của các loài cây cũng như các con vật Ví dụ, lá trên mỗi loài cây sẽ có hình dạng khác nhau và ngay cả lá trên cùng một cái cây cũng sẽ không có kích thước, màu sắc hay hình dáng hoàn toàn giống nhau, có thể miêu tả vòng đời của một cái cây hay một con vật dựa trên những

Trang 25

quan sát về sự thay đổi của chúng, thậm chí trẻ cũng cần hiểu đôi chút về vòng đời của một con người nhờ vào việc quan sát các thành viên trong gia đình

1.2.4 Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục

Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để

hỗ trợ cho nhau thực hiện một công việc chung

Phối hợp các lực lượng giáo dục là quá trình vận động và tổ chức, mọi thành viên trong cộng đồng tham gia vào việc xây dựng và phát triển nhà trường từ việc xây dựng cơ sở vật chất, chăm lo đời sống cho giáo viên, tạo môi trường giáo dục thống nhất giữa gia đình, nhà trường và xã hội đến việc chăm sóc-giáo dục học sinh

Quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội theo kế hoạch đã bàn và được cam kết nhằm đẩy mạnh công tác chăm sóc-giáo dục trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Sau mỗi hoạt động sẽ có sự đánh giá, rút kinh nghiệm, lấy ý kiến đánh giá phản hồi từ phía cha mẹ trẻ, giáo viên và các lực lượng về hiệu quả những hoạt động đã thực hiện

1.3 Ý nghĩa, vai trò của việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

1.3.1 Vai trò của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ

Từ trước tới nay, gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là yếu tố quyết định đối với việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và trẻ em là thành phần quan trọng cấu thành gia đình Quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng chính là hai trong ba mối quan hệ cơ bản tạo nên gia đình Cha mẹ và các thành viên trong gia đình là những người gần gũi mật thiết thường xuyên ở bên cạnh trẻ em, việc chăm sóc con trẻ không chỉ là trách nhiệm mà còn là

“bản năng” của họ Trong gia đình, việc bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em cần được thực hiện một cách khoa học với những kiến thức, kỹ năng phù hợp

Trang 26

Chăm sóc phải gắn liền với bảo vệ, phải xác định gia đình chính là nơi an toàn nhất cho trẻ em

Bảo vệ trẻ em trước hết là đảm bảo cho trẻ em được thực hiện các quyền của mình đồng thời phòng ngừa không để trẻ em bị thiệt thòi, không bị xâm hại đến các quyền đã được pháp luật thừa nhận (Nhà nước ta đã tham gia

ký kết công ước Quốc tế về quyền trẻ em, đã ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học, Luật Hôn nhân gia đình, các văn bản dưới Luật đảm bảo thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em…) Bảo

vệ chăm sóc trẻ em còn là ngăn ngừa không để các cháu rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như bị mồ côi cha mẹ, khuyết tật, bị xâm hại tình dục hay trở thành tội phạm vị thành niên, nghiện ma tuý, tệ nạn xã hội…

Khi thực hiện chức năng chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em, gia đình không thể tách rời khỏi những thiết chế khác là nhà trường và cộng đồng xã hội Không chỉ quan tâm tới những vấn đề của trẻ em khi sinh hoạt với gia đình mà còn phải biết được những hoạt động của các cháu tại trường học tại những nơi sinh hoạt cộng đồng để kịp thời ngăn chặn những tiêu cực có thể xảy ra

Chăm sóc trẻ em được tiến hành trên cả 2 mặt vật chất và tinh thần Gia đình với khả năng cao nhất của mình cung cấp cho trẻ em những điều kiện tốt nhất để phát triển về thể chất Trong điều kiện hiện nay, kinh tế gia đình về cơ bản đã được nâng lên với mức ổn định khá giả vì vậy các bậc cha mẹ cần dành cho trẻ không chỉ về điều kiện vật chất mà cần chú trọng chăm sóc về mặt trí tuệ Trẻ em không phân biệt trai, hay gái được tạo điều kiện học tập phát triển theo khả năng của mình

Để tạo môi trường chăm sóc thuận lợi, cha mẹ cần tạo một bầu không khí yêu thương, đoàn kết, gắn bó quan tâm giữa các thành viên gia đình, cho

dù cuộc sống còn nhiều vất vả, nhưng khi có trẻ em trong gia đình thì các thành viên phải cố gắng bỏ qua những mâu thuẫn, xích mích để cho trẻ em luôn luôn có cảm tưởng rằng ngôi nhà của mình chính là tổ ấm Với những trẻ

Trang 27

em có thiên hướng xuất hiện một số năng khiếu, cha mẹ phải biết phát hiện, khuyến khích tạo mọi điều kiện để ươm mầm tài năng Việc chăm sóc phát triển trí tuệ cho trẻ em có quan hệ chặt chẽ với việc giáo dục, xã hội hoá trẻ

em Quan điểm giáo dục hiện nay coi gia đình là một trong ba môi trường giáo dục trẻ em, tuy nhiên gia đình vẫn là trường học đầu tiên và suốt đời của mỗi con người Đó là bởi vì gia đình có trách nhiệm, có tình cảm và cũng có quyền uy (ông bà, cha mẹ, anh, chị) Gia đình thực hiện chức năng giáo dục thông qua 3 giai đoạn phát triển của trẻ em: từ 1-3 tuổi, từ 3-6 tuổi và từ 6-18 tuổi Cả ba giai đoạn trên, trẻ em được nhận sự giáo dục, dạy dỗ của gia đình, được lớn lên và chịu ảnh hưởng từ các chuẩn mực trong gia đình đồng thời dần dần tiếp cận các chuẩn mực ngoài xã hội

Để thực hiện tốt chức năng giáo dục, mỗi thành viên trong gia đình tuỳ thuộc vị trí của mình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị) phải trở thành những tấm gương sáng cho con trẻ học tập, làm theo Hiện nay, phong trào ông bà, cha

mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền đang thực sự phát huy hiệu quả, tác động quan trọng trong giáo dục của gia đình Những hành vi mà trẻ tiếp nhận, học tập trong gia đình không chỉ là những kinh nghiệm của người lớn mà bằng cả những tình cảm của những người thân yêu nhất Gia đình thông qua thái độ, tình cảm, tâm lý, mối liên hệ thường xuyên bền vững với trẻ em, khéo léo truyền thụ cho chúng những hành vi ứng xử trong nhà và ngoài xã hội Không thể có sự hình thành và phát triển nhân cách đầy đủ và hoàn thiện nếu không

có một môi trường giáo dục gia đình thuận lợi Gia đình là thể chế đầu tiên, quan trọng nhất hình thành nhân cách ở tuổi thơ Những mối liên hệ của trẻ

em với các thành viên của gia đình, nhất là cha mẹ đã quyết định cách thức ứng xử đặc biệt là tình cảm của chúng sau này với chính những người thân trong gia đình và ngoài xã hội Nếu như trước đây, việc giáo dục trẻ em có cả ông bà và những thành viên khác trong gia đình, thậm chí trong dòng tộc, thì nay chức năng giáo dục trẻ em trong gia đình chủ yếu là cha mẹ vì gia đình hạt nhân hiện nay đang chiếm tỷ lệ cao và có xu thế phát triển Ông bà không

Trang 28

cùng sống chung với trẻ em trong gia đình, do vậy không thể nắm bắt được thường xuyên sự phát triển tính cách, suy nghĩ, sở thích của con cháu để có thể uốn nắn dạy dỗ Hiện tại, sách báo, ti vi, internet nhiều khi cuốn hút con trẻ hơn là tìm đến ông bà, khoảng cách thế hệ với những sự khác biệt của quan điểm sống, cách ứng xử , thói quen sở thích … cùng với những khoảng cách về thời gian, không gian đã khiến những thế hệ này khó tìm được tiếng nói chung Tuy nhiên mẫu hình gia đình chỉ có hai thế hệ (vợ chồng, con cái) không phải lúc nào cũng tạo được thuận lợi cho các thành viên Xã hội hiện đại cùng với nhịp sống hiện đại, năng động đã kéo mọi cá nhân theo dòng chảy công việc, thời gian cha mẹ đi làm, cũng là thời gian con đi học, cha mẹ

về con lại đi học thêm kể cả ngày nghỉ… Bữa cơm tối nhiều khi không đủ các thành viên, thời gian dành cho việc trò chuyện, chia sẻ với con trẻ không phải lúc nào cũng đáp ứng kịp thời Trong khi đó việc giáo dục con em giống như

“mài sắt thành kim” cần thời gian, cần sự kiên trì, đầu tư công việc Sự lơi lỏng, chủ quan tham công tiếc việc của một số cha mẹ có thể dẫn đến những hậu quả vô cùng đáng tiếc như trẻ em hư hỏng, lang thang bị cuốn vào vòng xoáy các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật v v

Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em - đó là thông điệp chung mà nhân loại tiến bộ đã kỳ vọng, trông đợi và mong ước cho thế hệ tương lai Quan tâm, chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em là trách nhiệm không chỉ của mỗi gia đình mà còn là của toàn xã hội Để thế hệ trẻ hôm nay thực sự là những chủ nhân tương lai của đất nước, trách nhiệm đầu tiên là của mọi gia đình, gia đình phải thực sự là tổ ấm, là nơi nuôi dưỡng, hình thành nhân cách con trẻ, là thành trì an toàn, phòng chống các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình và trẻ em

1.3.2 Ý nghĩa của việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

Chúng ta đều biết rằng thực tế, trong môi trường xã hội mà trẻ sống, học tập và phát triển, bên cạnh các mặt tác động, các ảnh hưởng tích cực luôn

Trang 29

hàm chứa các yếu tố ngẫu nhiên và với trình độ thiếu từng trải, ít vốn sống lại hiếu động, trẻ dễ bắt chước theo, vi phạm các chuẩn mực, tác động tiêu cực đến sự phát triển nhân cách của trẻ Nhất là khi thiếu sự phối hợp đúng đắn, thiếu sự thống nhất trong giáo dục, thậm chí có sự đối nghịch giữa nhà trường

và xã hội hoặc gia đình thì hậu quả xấu trong giáo dục sẽ xuất hiện, nếu không kịp thời khắc phục hậu quả sẽ rất tai hại

Trong lý luận cũng như trong thực tiễn giáo dục, sự thống nhất tác động giáo dục từ nhà trường, gia đình và xã hội được xem là vấn đề có tính nguyên tắc đảm bảo cho mọi hoạt động giáo dục có điều kiện đạt hiệu quả tốt

Trong việc tổ chức kết hợp các lực lượng giáo dục, gia đình có vai trò

và tác động vô cùng quan trọng và là trọng tâm của các hoạt động kết hợp Gia đình là nơi trẻ được sinh ra, lớn lên và hình thành nhân cách của mình Ảnh hưởng giáo dục của gia đình đến với trẻ là sớm nhất Giáo dục con cái trong gia đình không phải chỉ là việc riêng tư của bố mẹ, mà còn là trách nhiệm đạo đức và nghĩa vụ công dân của những người làm cha mẹ Nó được xác định trong nhiều văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay như trong Hiến pháp (1992), Luật Hôn nhân và gia đình (1986), Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (1991)…gắn với quan hệ máu mủ ruột thịt và tình yêu sâu sắc của cha mẹ với con cái nên giáo dục gia đình mang tính xúc cảm mạnh mẽ, có khả năng cảm hóa rất lớn Tùy vào điều kiện kinh tế, đời sống của mỗi gia đình mà việc tiến hành giáo dục trong các giai đoạn phát triển của trẻ có các nội dung, hình thức, nhiệm vụ khác nhau

Ngay từ lứa tuổi mầm non, cha mẹ cần phối hợp với nhà trường quan tâm đến các mặt sau đây của trẻ: Chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt, việc rèn luyện các giác quan, phát triển ngôn ngữ, việc dạy trẻ cách ứng xử đúng đắn, giáo dục lòng thương yêu đối với sự vật và con người xung quanh mình

Tóm lại, việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội đối với việc chăm sóc giáo dục trẻ đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục

Trang 30

trên, trước là để đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức cũng như hoạt động giáo dục cùng một hướng, một mục đích, một tác động tổng hợp, đồng tâm tạo sức mạnh kích thích, thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách của trẻ, tránh

sự tách rời mâu thuẫn, vô hiệu hóa lẫn nhau gây cho trẻ tâm trạng nghi ngờ, hoang mang, dao động trong việc lựa chọn, định hướng các giá trị tốt đẹp của nhân cách Sự phối hợp gia đình, nhà trường, xã hội có thể diễn ra dưới nhiều hình thức Vấn đề cơ bản hàng đầu là tất cả các lực lượng giáo dục phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tạo ra những mối quan hệ phối hợp vì mục tiêu giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân hữu ích cho đất nước

1.4 Nội dung và hình thức hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà

trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

1.4.1 Nội dung phối hợp

Để phối hợp chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện đòi hỏi cả phía nhà trường và gia đình đều cần phải chủ động tham gia nhằm tương tác, hỗ trợ nhau trong triển khai các hoạt động

Các nội dung phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong chăm sóc, giáo dục trẻ bao gồm:

- Phối hợp giám sát quản lý thực hiện kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ: Nhà trường chủ động đề ra và quản lý kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ, gia đình sẽ cùng phối hợp giám sát hỗ trợ thực hiện kế hoạch này

- Phối hợp nâng cao vai trò nhận thức cho phụ huynh về kiến thức khoa học giáo dục mầm non

Với chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo, nhà trường là nơi tổ chức các hoạt động nhằm thông tin, tuyên truyền tới phụ huynh về đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ và phương pháp, biện pháp giáo dục, chăm sóc trẻ theo các lứa tuổi một cách khoa học, đồng thời cũng chứng tỏ cho phụ huynh thấy được các hoạt động giáo dục, chăm sóc trẻ hiệu quả của mình từ đó gây sự

Trang 31

chú ý tin tưởng, lôi kéo sự hưởng ứng, ủng hộ của phụ huynh cùng tham gia vào hoạt động này

- Phối hợp và tham gia trực tiếp trong các hoạt động giáo dục, chăm sóc trẻ: Ngoài hoạt động giáo dục, chăm sóc trẻ một cách độc lập của nhà trường

ở trường mầm non, của cha mẹ trẻ ở gia đình thì nhà trường cũng khuyến khích cha mẹ trẻ đến trường tham gia cùng tổ chức các hoạt động như: Tổ chức các ngày lễ hội, tổ chức đi thăm quan cho trẻ, dự giờ giáo viên, trò chuyện, giao lưu với trẻ tại lớp Mặt khác, nhà trường đại diện là các giáo viên có thể đến thăm gia đình trẻ để tạo ra mối quan hệ tin tưởng thân thuộc, thông hiểu với gia đình trẻ hoặc gọi điện, thông báo, trao đổi thông tin hỗ trợ cho công tác chăm sóc – giáo dục trẻ

- Phối hợp công việc huy động sử dụng, kiểm soát các nguồn tài trợ để tham gia cải tạo cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác CS-GD trẻ:

Với chủ trương xã hội hóa giáo dục, Đảng và Nhà nước đã khuyến khích, tạo điều kện cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu

tư, tài trợ cho các cơ sở giáo dục Để quản lý, kiểm soát sử dụng hiệu quả nguồn tài trợ này, nhà trường sẽ chủ động lập kế hoạch triển khai thực hiện, còn gia đình, phụ huynh sẽ có vai trò ngoài việc có thể trực tiếp tài trợ ủng hộ

về vật chất, tinh thần cho nhà trường còn có thể tham gia tư vấn, hỗ trợ kiểm soát hiệu quả nguồn tài trợ trên một cách khách quan, công tâm

- Phối hợp trong việc hỗ trợ, cải thiện đời sống tinh thần cho đội ngũ cán bộ, giáo viên trong trường mầm non:

Đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục của một nhà trường Trong trường mầm non, giáo viên mầm non là những người trực tiếp chăm sóc - giáo dục trẻ hàng ngày, hàng giờ Khác với giáo viên các cấp học khác, giáo viên mầm non có thời gian làm việc kéo dài hơn 10 tiếng/ngày (suốt từ 7h sáng đến 5h30’ chiều) nên thời gian dành cho gia đình và đời sống riêng tư không còn nhiều Chính vì thế việc hỗ trợ cải thiện đời sống tinh thần

Trang 32

cho giáo viên mầm non giúp họ lấy lại sự cân bằng, có tinh thần và sức lực để làm tốt nhiệm vụ của mình là hết sức cần thiết

Nhà trường - ở đây là vai trò của người quản lý và phụ huynh là những người gần gũi, hiểu rõ có thể tạo cơ hội tốt nhất để hỗ trợ, giúp đỡ các giáo viên mầm non bằng cách tạo điều kiện về trời gian, gần gũi tạo sự chia sẻ, tạo môi trường làm việc, giao lưu thuận lợi cho họ

1.4.2 Hình thức phối hợp

Chăm sóc, giáo dục trẻ của trường mầm non và của gia đình có cùng một mục tiêu nhiệm vụ chung đó là giúp trẻ khỏe mạnh, hồn nhiên, phát triển tâm sinh lý đúng với lứa tuổi Chính vì vậy làm thế nào để CS-GD trẻ đạt được mục tiêu đó không chỉ là trách nhiệm, nhiệm vụ của nhà trường mà còn luôn là sự mong muốn của gia đình trẻ Có nhiều cách thức để nhà trường phối hợp với phụ huynh để thực hiện mục tiêu CS-GD trẻ mầm non:

- Họp phụ huynh: Là hình thức phổ biến, thu hút tập trung được nhiều phụ huynh tham gia Thời gian và nô ̣i dung các buổi ho ̣p phu ̣ huynh thường

do nhà trường ấn đi ̣nh Ở trường mầm non có thể tổ chức họp phụ huynh 2 -3 lần trong mô ̣t năm ho ̣c, thường vào đầu năm, kết thúc ho ̣c ký I và cuối năm

- Bảng thông tin , truyên truyền: là hình thức dùng các biểu bảng được trang trí hấp dẫn để ở những nơi phu ̣ h uynh dễ đo ̣c nhằm tuyên truyền , đưa những thông tin về hoa ̣t đô ̣ng của nhà trường, về các phương pháp CS-GD trẻ khoa ho ̣c, những nô ̣i quy, quy đi ̣nh trong trường cần phu ̣ huynh phối hợp thực hiê ̣n

- Sổ liên lạc giữa nhà trường và gia đình : Là hình thức trao đổi thông tin về quá trình hoa ̣t đô ̣ng và sự phát triển , tiến bô ̣ cũng như những điều trẻ còn chưa đạt được cần phụ huynh hỗ trợ CS -GD trẻ trong thời gian tới Sổ liên la ̣c thường được giáo viên viết sau 2 đến 3 tháng 1 lần và yêu cầu phu ̣ huynh đo ̣c rồi có ý kiến trao đổi với giáo viên Sổ liên lạc còn được dùng thường xuyên để chuyển những thông tin hàng ngày trong trường hợp giáo viên không trao đổi trực tiếp với phu ̣ huynh khi đưa đón trẻ hàng ngày

Trang 33

- Mạng điện tử : là một hình thức giới thiệu về trường (thông tin, hoạt

đô ̣ng của n hà trường, của trẻ ở các lớp cũng như những hoạt động phối hợp hỗ trợ của phu ̣ huynh ) qua những bài viết , những video clip trên trang Web của trường Thông qua ma ̣ng điê ̣n tử phu ̣ huynh cũng tham gia trao đổi những

ý kiến phản hồi, đóng góp xây dựng của mình cho nhà trường Đây là hình thức thông tin nhanh, hiê ̣n đa ̣i, ít tốn kém song có thể do điều kiện về kinh tế hay ha ̣n chế về cách sử du ̣ng hoặc đơn giản là chưa có thói quen sử du ̣ng mạng điện tử nên tính đa ̣i trà của nô ̣i dung này chưa cao

- Trao đổi trực tiếp hàng ngày giữa giáo viên với phu ̣ huynh:

Đây là hình thức phổ biến , thường xuyên, diễn ra hàng ngày vào giờ đón, trả trẻ giữa giáo viên với phụ huynh Thông tin được truyền đi nhanh ,

câ ̣p nhâ ̣t kịp thời, tạo được sự gần gũi, tình cảm giữa giáo viên với gia đình trẻ song thời gian bị hạn chế do vào thời điểm đón , trả trẻ giáo viên không thể trao đổi quá lâu với phu ̣ huynh vì ho ̣ c òn phải quán xuyến , để mắt, quan tâm tới các trẻ khác trong lớp

- Gử i thư, thông báo với phu ̣ huynh : Hình thức này được sử dụng khi giáo viên muốn thông báo tới phụ huynh những thông tin có tính đột xuất hay mong muốn phu ̣ h uynh cùng phối hợp để tổ chức , thực hiê ̣n mô ̣t hoa ̣t đô ̣ng theo chủ đề mà trẻ đang ho ̣c ở lớp Hình thức này thường mang tính riêng biệt trong pha ̣m vi mô ̣t lớp hay mô ̣t khối lớp

- Hòm thư góp ý : Là hình thức phụ huynh vì lý do tế nhị không tiê ̣n trao đổi trực tiếp nên viết ý kiến góp ý cho nhà trường , cho giáo viên gửi đến BGH nhà trường bằng cách gửi vào hòm thư của nhà trường Hình thức này thường ít được sử du ̣ng

- Mờ i phu ̣ huynh đến lớp: Đây là hình thức giáo viên sử du ̣ng khi muốn phụ huynh cùng tham gia vào một hoạt động nào đó liên quan và cần có sự hỗ trợ của phu ̣ huynh để đa ̣t hiê ̣u quả tốt hơn Hoă ̣c trong quá trình chăm sóc trẻ

đă ̣c biê ̣t, giáo viên cũng có thể mời phụ huynh đến lớp làm việc vào một thời gian thích hợp do các hình thức phối hợp khác không đủ thời gian để trao đổi

Trang 34

- Tổ chứ c lễ hô ̣i cho trẻ : Là hình thức phụ huynh đóng góp thời gian , công sức, sáng kiến để cùng cô giáo , nhà trường tổ chức cho trẻ tham gia cá c hoạt động, lễ hô ̣i lớn trong trường như : Khai giảng, Trung thu, Tết, Đi thăm quan, Lễ ra trườ ng Qua đó phu ̣ huynh hiểu thêm về c ông viê ̣c của nhà trường từ đó mở rộn g, thay đổi nhận thức về công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non

- Đóng góp, tạo điều kiện về vật chât , tinh thần cho nhà trường : Đây cũng là mô ̣t hoa ̣t đô ̣ng phối hợp giữ a gia đình và nhà trường nhằm nâng cao chất lượng chăm só c, giáo dục trẻ Đóng góp về vâ ̣t chất ở đây từ phía phu ̣ huynh cho trường, lớp có thể là đồ văn phòng phẩm đã qua sử du ̣ng (giấy mô ̣t

mă ̣t, hô ̣p đựng, bìa màu ), tạp chí, sách báo, lịch cũ, vâ ̣t du ̣ng không sử du ̣ng đến Hoă ̣c phu ̣ huynh bằng mối quan hê ̣ cá nhân của mình kêu go ̣i tài trợ của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước cho những hoạt động giáo dục của nhà trường Đóng góp về tinh thần của phu ̣ huynh cho nhà trường, là sự tin tưởng,

đô ̣ng viên, chia sẻ khi trường gă ̣p khó khăn Tất cả những điều đó sẽ tạo nên sự hiểu biết , cảm thông , gắn bó lâu dài , tạo động lực giúp nhà trườ ng hoàn thành nhiệm vụ của mình là chăm sóc giáo dục các cháu khôn lớn

Hoạt động đóng góp ủng hộ về vật chất và tinh thần của phụ huynh tới nhà trường sẽ nảy sinh sự giao tiếp , chia sẻ tình cảm, sự liên kết, gắn bó giữa gia đình với nhà trường từ đó tìm được tiếng nói , cách thức ch ung cho hoa ̣t

đô ̣ng chăm sóc - giáo dục trẻ Quản lý hoạt động này sẽ làm cho gia đình và nhà trường có chung một mối quan tâm , có trách nhiệm và phối hợp với nhau chă ̣t chẽ hơn để cùng thực hiê ̣n mu ̣c đích nâng cao chất lượng CS-GD trẻ

1.5 Nội dung quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

1.5.1.Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về

ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ 5-6 tuổi

Trang 35

Gia đình là một thiết chế cơ bản của XH, là tế bào của XH, là nhóm

XH đầu tiên của mỗi cá nhân Con người được sinh ra, lớn lên, hoạt động tích cực đều bắt đầu từ gia đình, XH loài người cũng được hình thành và phát triển cùng với các hình thức phát triển tương ứng của gia đình

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ có viết : “Gia đình

là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”.[10]

Trong công ước Quốc tế về quyền trẻ em, lời mở đầu ghi rõ: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa về nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởng thành trong môi trường gia đình…”[9]

Trẻ em được sinh ra lớn lên và hoạt động tích cực trong nền văn hóa gia đình Cha mẹ và những người thân trong gia đình đáp ứng kịp thời các nhu cầu vật chất tinh thần cho trẻ bằng các sản phẩm văn hóa XH thiết yếu có trong gia đình để cho trẻ tồn tại và phát triền như nhu cầu dinh dưỡng, nhu cầu cảm xúc, biểu cảm, nhu cầu nhận thức, nhu cầu vận động, nhu cầu gắn bó giao tiếp Mỗi gia đình thỏa mãn các nhu cầu cơ bản cho trẻ theo cách khác nhau Văn hóa gia đình được xây dựng bởi các thành viên trong gia đình Nó bắt nguồn từ kinh tế gia đình, giai tầng XH của vợ chồng, trình độ học vấn, nhận thức của các thành viên trong gia đình và tôn giáo tín ngưỡng của cha

mẹ

Ngoài cái riêng của văn hóa gia đình, thì cái chung của cộng đồng XH cũng phản ánh văn hóa gia đình như ngôn ngữ XH (thường gọi là tiếng mẹ đẻ), phong tục tập quán, đạo đức, pháp luật, các quan điểm nhận thức về thế giới, con người tự nhiên, XH, tôn giáo… Như vậy, văn hóa gia đình chính là những sản phẩm văn hóa XH, nó vừa mang những tính chất chung của cộng đồng XH, vừa mang tính chất riêng, khác biệt cho từng gia đình ví như “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” Do vậy, cơ thể của trẻ tăng trưởng hằng ngày là nhờ các sản phẩm văn hóa vật chất của gia đình, từ gia đình (sữa mẹ, sữa bò, bột cháo, cơm, các dưỡng chất) Đứa trẻ phát triển tâm sinh lý một

Trang 36

cách thuận lợi là nhờ các tác động âm thanh (ngôn ngữ, âm nhạc nhẹ nhàng), ánh sáng (ánh đèn, ánh sáng tự nhiên êm dịu…), được nằm trong vòng tay ấm

áp tràn ngập những cảm xúc yêu thương từ mẹ và những người thân gần gũi trẻ, đây là những sản phẩm văn hóa tinh thần (phi vật thể) Ngoài ra, đứa trẻ còn tăng trưởng và phát triển nhờ có các sản phẩm văn hóa XH do gia đình cung cấp

Để có thể thực hiện hiệu quả công tác chăm sóc-giáo dục trẻ đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi thì tất cả cán bộ, giáo viên trong các trường mầm non cùng với gia đình của trẻ đều phải có nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ Do vậy công tác tuyên tuyền phối hợp và nâng cao nhận thức về hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường là một nội dung rất quan trọng Nhà trường cần xây dựng kế hoạch tuyên truyền, triển khai công tác tuyên tuyền, phổ biến kiến thức chăm sóc-giáo dục trẻ với gia đình trẻ Nhà trường xây dựng nội dung tuyên truyền được thể hiện trong chương trình của năm học, qua từng học kỳ, qua kế hoạch hoạt động tháng, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu và tình hình thực tế của địa phương và điều kiện của nhà trường

Tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, các phong trào của ngành đề ra Tuyên truyền về các phong trào thi đua, các cuộc vận động của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT

Tuyên truyền qua các buổi họp chuyên môn, giúp đội ngũ nhận thức cao về công tác tuyên truyền với phụ huynh, tuyên truyền về chất lượng, kỹ năng giao tiếp, kiến thức chuyên môn Thực hiện việc tuyên truyền có hiệu quả giúp các bậc cha mẹ trẻ có những kiến thức nuôi dạy con theo khoa học, đạt hiệu quả cao nhất

Tuyên truyền về công tác tổ chức bán trú ở trường mầm non đồng thời phổ biến kiến thức nuôi con theo khoa học, về quá trình phát triển của trẻ em, chế độ ăn như thế nào là đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, công tác vệ sinh an toàn

Trang 37

thực phẩm (Nguồn cung cấp thực phẩm) Các loại dịch bệnh theo mùa, cách phòng chống tại nạn thương tích thường gặp ở trẻ

Tuyên truyền, phổ biến về nội dung chương trình chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non Mục tiêu của giáo dục trong trường mầm non là giáo dục trẻ theo 5 lĩnh vực phát triển, đối tượng chúng ta tiếp cận gần gũi nhất để thực hiện công tác tuyên truyền là phụ huynh, chính vì vậy nên công tác tuyên truyền cần được chuẩn bị tốt để những kiến thức đến với phụ huynh phải thật

sự thiết thực, hiệu quả Thông qua đó đội ngũ giáo viên là những người hiểu

rõ kiến thức, chương trình giáo dục mầm non, kiến thức mà giáo viên cung cấp cho trẻ qua từng môn học, từng nội dung cụ thể phải được thể hiện chính xác để truyền đạt tới phụ huynh, cung cấp cho phụ huynh để phụ huynh cùng phối hợp thực hiện Ngoài ra giáo viên còn cung cấp tới phụ huynh những kỹ năng giúp con “Học bằng chơi, chơi mà học” phù hợp với lứa tuổi này mà không nên gò ép trẻ phải học viết, học đọc, làm toán…gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của cơ thể trẻ sau này

1.5.2 Lập kế hoạch quản lý, điều hành hoạt động phối hợp giữa gia đình

và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

Hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi phải được xây dựng thành kế hoạch cụ thể cho từng năm học, với mục tiêu là nhà trường và gia đình phải thống nhất về quan điểm, nội dung và phương pháp giáo dục để tạo ra môi trường giáo dục tốt nhất, tránh tình trạng “gia đình một đường, nhà trường một nẻo”

Nội dung của kế hoạch là những công việc mà nhà trường phải chủ động thực hiện để huy động sự cộng tác từ phía gia đình nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của nhà trường Ngoài ra còn cần có những hoạt động nhằm nâng cao nhận thức giáo dục cho gia đình trẻ, giúp các gia đình làm tốt trách nhiệm chăm sóc-giáo dục trẻ

Trang 38

Kế hoạch cần có những biện pháp cụ thể, cần đề ra những yêu cầu đối với giáo viên, có kiểm tra, đánh giá về sự chủ động phối hợp của giáo viên, sự quan tâm kết hợp của gia đình

1.5.3 Tổ chức chỉ đạo triển khai các hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

Trên cơ sở kế hoạch năm học và các kế hoạch chi tiết về phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi, trường mầm non mà đứng đầu là hiệu trưởng cần thành lập Ban chỉ đạo triển khai công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường

Ban chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung theo kế hoạch phối hợp giữa gia đình và nhà trường và thường xuyên báo cáo với hiệu trưởng về các nội dung triển khai, đề xuất những hình thức, nội dung triển khai phối hợp sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường và địa phương nhằm thực hiện có hiệu quả công tác phối hợp

Kết hợp với các tổ chức chính trị, đoàn thể trong trường và ở địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò của hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ Đảm bảo hầu hết các gia đình đều có nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ đồng thời hiểu được ý nghĩa của công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường

1.5.4 Kiểm tra đánh giá công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường

trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

Giám sát kiểm tra , đánh giá ho ạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong CS-GD trẻ là quá trình xem xét từ mu ̣c tiêu phá t triển để đi ̣nh hướng đường lối , mục đích đến khâu lập kế hoạch và tổ chức quan sát , trao đổi nắm bắt thông tin từ đó có sự phân tích , so sánh đánh giá việc thực hiệ n hoạt động giữa nhà trường và gia đình

Để hoa ̣t đô ̣ ng phối hợp không rơi vào tình tra ̣ng tự phát , đi chệch hướng và kém hiê ̣u quả thì cần phải có hoa ̣t đô ̣ng giám sát , kiểm tra đánh giá

Trang 39

của người quản lý, đồng thời có giám sát, kiểm tra thì người quản lý mới đánh giá được hiê ̣u quả của hoa ̣t đô ̣ng phối hợp từ đó điều chỉnh , bổ sung và xây dựng kế hoa ̣ch phối hợp tiếp theo giữa nhà trường và gia đình nhằm đảm bảo cho hoa ̣t đô ̣ng phối hợp đi đúng mu ̣c đích , phương pháp và thực hiê ̣n đủ những nô ̣i dung phối hợp đã đề ra

1.6 Những yếu tố tác động tới quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình

và nhà trường trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ 5-6 tuổi

Nằm trong các mối quan hê ̣ xã hô ̣i , quan hê ̣ phối hợp giữa gia đình và nhà trường cũng chi ̣u sự tác đô ̣ng và ảnh hưởng của các yếu tố XH , do vâ ̣y quản lý sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc-giáo dục trẻ mẫu giáo cũng bi ̣ chi phối bởi các yếu tố chủ quan cũng như khách quan của XH

1.6.1 Yếu tố khách quan

Các yếu tố khách quan ảnh hưở ng đến quản lý sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong CS-GD trẻ mẫu giáo phải k ể đến đó là: Cơ chế phối hợp trong điều kiê ̣n kinh tế thi ̣ trường , tác động của các tổ chức XH, đă ̣c điểm gia đình trẻ về mô hình gia đình, điều kiê ̣n kinh tế gia đình, trình độ văn hóa, nhâ ̣n thức của phu ̣ huynh trẻ

* Cơ chế phối hơ ̣p trong điều kiê ̣n kinh tế thi ̣ trường

Trong điều kiện kinh tế thị trường, theo mô ̣t kết quả điều tra xã hô ̣i ho ̣c về giáo du ̣c thì có tới 46% ý kiến cho rằng do phải dồn sức lực, tâm trí cho lao động kiếm sống nên cha mẹ không có đủ thời gian cho việc nuôi dạy con cái

vì thế đôi khi họ phó mặc việc giáo dục con cho nhà trường Với tâm lý “trăm sự nhờ cô” gia đình ỷ la ̣i không quan tâm chú tro ̣ng viê ̣c trao đổi thông tin với nhà trường hay kết hợp với nhà trường để cùng chăm sóc, giáo dục ở gia đình Hiê ̣n nay, ngày càng nhiều những că ̣p bố me ̣ trẻ giao phó hẳn cho ông bà hay người giúp viê ̣c trông nom, đưa đón con đi ho ̣c vì ho ̣ bâ ̣n làm ăn , kinh doanh Cũng chính vì sự bận rộn ngày đêm vì công việc của cha mẹ trẻ mà xuất hiện loại hình trường tư thục nhận trông trẻ qua đêm cả tuần hay phổ biến là nhận

Trang 40

trông trẻ từ thứ hai đến thứ bảy trong tuần Trong hoàn cảnh này thì viê ̣c gă ̣p gỡ trao đổi để phối hợp với gia đình trẻ rất khó khăn và kém hiê ̣u quả , như

vâ ̣y nghiễm nhiên nhà trường trở thành cơ sở gần như đơn phương trong việc chăm sóc-giáo dục trẻ Mă ̣t khác do cơ chế kinh tế thi ̣ trường , các cơ sở giáo dục, nhất là cơ sở giáo du ̣c mầm non đang chuyển đổi từ công lâ ̣p sang bán công hay cơ sở cung ứng di ̣ch vu ̣ giáo du ̣c chất lượng cao Với mô hình đó nhà trường có thể thỏa thuâ ̣n với phu ̣ huynh để nâng cao mức ho ̣c phí , đổi la ̣i nhà trường sẽ đảm nhận và mở rộng dịch vụ CS-GD trẻ từ đưa đón trẻ tâ ̣n nhà đến việc tắm rửa trông trẻ ngoài giờ Chính các dịch vụ này khiến các phụ huynh la ̣i càng ỷ la ̣i và dần dần cho rằng CS -GD trẻ là viê ̣c của nhà trường dẫn đến triê ̣t tiêu hoa ̣t đô ̣ng phối hợp mà chỉ còn la ̣i hoa ̣t đô ̣ng đò i hỏi và đáp ứng giữa gia đình và nhà trường hoặc hoạt động phối hợp chỉ còn là hình thức, đơn giản và thu ̣ đông

* Tác động của các tổ chức xã hội ảnh hưởng tới hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc, giáo dục trẻ:

Các tổ chức xã hội ở đây có thể là các tổ chức từ thiện , nhà tài trợ, các câu la ̣c bô ̣ , nhà văn hóa , các tổ chức giáo dục trong và ngoài nước , các tổ chức tôn giáo Tác động của các tổ chứ c XH này vừa có tính chất bổ sung , hỗ trợ cho hoa ̣t đô ̣ng quản lý sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường thông qua viê ̣c tài trợ về vâ ̣t chất, tinh thần, cung cấp thông tin kinh nghiê ̣m, phương thức quản lý liên quan , vừa là điề u kiê ̣n thách thức kích thích sự ca ̣nh tranh phát triển của hoạt động phối hợp trong xã hội hiện đại – xã hội bùng nổ về công nghê ̣ thông tin, hô ̣i nhâ ̣p và giao lưu văn hóa

* Ảnh hưởng mô hình nhà trẻ

Hiê ̣n nay ở Viê ̣t Nam , do ảnh hưởng của chính sách dân số và do nhâ ̣n thức thay đổi của cha me ̣ trẻ mà cơ cấu và quy mô gia đình đang có chiều hướng thu nhỏ la ̣i Có 2 kiểu mô hình gia đình đó là gia đình ha ̣t nhân (gia đình có 2 thế hê ̣ bố me ̣ và con ) và gia đình mở rộng (gia đình có từ 3 thế hê ̣ trở lên) Số gia đình 2 thế hê ̣ nơi cao là trên 80%, nơi thấp nhất là trên 60%

Ngày đăng: 10/06/2016, 10:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đặng Quốc Bảo, Bùi Tiến Phú (2012), Một số góc nhìn về phát triển và quản lí giáo dục. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số góc nhìn về phát triển và quản lí giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Bùi Tiến Phú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
3. Nguyễn Duy Bảo (2007), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học. Nhà xuất bản Bưu điện. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
Tác giả: Nguyễn Duy Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Bưu điện. Hà Nội
Năm: 2007
4. Nguyễn Hải Châu (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông. Nxb Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Hải Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
5. Nguyễn Hải Châu, Hoàng Thị Xuân Hoa, Vũ Thị Lợi, Đỗ Tuấn Minh, Vũ Cao Đàm (2008), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học.Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Hoàng Thị Xuân Hoa, Vũ Thị Lợi, Đỗ Tuấn Minh, Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
6. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012), Đại cương Khoa học quản lý. Nxb ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
Năm: 2012
12. Nguyễn Tiến Đạt (2004) Giáo dục so sánh , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục so sánh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
13. Đặng Xuân Hải – Nguyễn Sỹ Thƣ (2012), Quản lí giáo dục, quản lí nhà trường trong bối cảnh thay đổi, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí giáo dục, quản lí nhà trường trong bối cảnh thay đổi
Tác giả: Đặng Xuân Hải – Nguyễn Sỹ Thƣ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
14. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2001), Xã hội học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
17. Vũ Ngọc Hải- Trần Khánh Đức, (2004), Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ 21- Thế giới và Việt nam- NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ 21- Thế giới và Việt nam
Tác giả: Vũ Ngọc Hải- Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
18. Bùi Minh Hiền (chủ biên), Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2011), Quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền (chủ biên), Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2011
19. Bùi Hiển, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển Giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Tác giả: Bùi Hiển, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2001
20. Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý giáo dục, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
23. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012), Quản lý giáo dục. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2012
24. Nguyễn Lộc (2010), Lý luận về quản lý, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận về quản lý
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2010
25. Luật giáo dục 2005 (2007) , NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục 2005
Nhà XB: NXB Lao động
26. K.Mac và Ănghen toàn tập (1993), Nxb Chính trị Quốc Gia, HN 27. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: K.Mac và Ănghen toàn tập" (1993), Nxb Chính trị Quốc Gia, HN 27
Tác giả: K.Mac và Ănghen toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 1993
28. Hà Thế Ngữ (1989), Dự báo giáo dục-Vấn đề và xu hướng, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo giáo dục-Vấn đề và xu hướng
Tác giả: Hà Thế Ngữ
Năm: 1989
30. Trần Quốc Thành (2003), Khoa học quản lý đại cương, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý đại cương
Tác giả: Trần Quốc Thành
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2003
31. Đỗ Công Tuấn, (2004), Lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: Đỗ Công Tuấn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội
Năm: 2004
32. Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.4: Sơ đồ tổ chức chỉ đạo triển khai các hoạt động phối hợp giữa  gia đình và nhà  trường - Quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc   giáo dục trẻ 5 6 tuổi tại trường mầm non tuổi hoa   quận ba đình   thành phố hà nội
i ̀nh 2.4: Sơ đồ tổ chức chỉ đạo triển khai các hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w