Việc lựa chọn lĩnh vực nghiên cứu với đề tài Luận án tiến sỹ luật học: “Thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” dựa trên: Một là, sự cần thiết
Trang 11 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của Luận án 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
6 Kết cấu của Luận án 4
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6
2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 11
3 Đánh giá tình hình nghiên cứu 17
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 20
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC XÉT HỎI VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 1.1 Khái niệm thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 24
1.2 Mục đích và ý nghĩa của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 33
1.3 Cơ sở xác định thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 37
1.4 Mối quan hệ giữa thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 45
1.5 Mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với nhau và với cả người tham gia tố tụng trong hoạt động xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 48
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÉT HỎI, TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 2.1 Thực trạng quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà hình sự sơ thẩm 58
2.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và kinh nghiệm đối với Việt Nam 91
2.3 Thực tiễn thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà hình sự sơ thẩm 104
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN THỦ TỤC XÉT HỎI VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 3.1 Nhu cầu của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 124
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 127
3.3 Tăng cường các biện pháp bảo đảm thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 137
KẾT LUẬN 145 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Ở nước ta, trước yêu cầu khách quan của nhu cầu đổi mới kinh tế xã hội- giai đoạn đầu Nhà nước tập trung hoàn thiện pháp luật về kinh tế (đổi mới pháp luật nội dung), về sau chú trọng đến đổi mới thủ tục tố tụng (pháp luật hình thức) để nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phù hợp với các chuẩn mực chung của quốc tế Trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay, nhà nước mong muốn đạt được mục tiêu là hoạt động xét xử được diễn ra theo hướng tranh tụng, công bằng, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự Vì lẽ đó, nhu cầu hoàn thiện pháp luật tố tụng và đổi mới phiên tòa hình sự, hoàn thiện thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trở nên cấp thiết cao
Việc lựa chọn lĩnh vực nghiên cứu với đề tài Luận án tiến sỹ luật học: “Thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” dựa trên:
Một là, sự cần thiết phải làm rõ lý luận khoa học luật tố tụng hình sự về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm: Trong giai đoạn cải cách tư pháp đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta, đặt ra cho các nhà khoa học pháp lý trách nhiệm giải quyết thấu đáo về mặt lý luận việc đổi mới phiên tòa hình sự gắn liền với đổi mới thủ tục xét hỏi
và tranh luận Vì thủ tục xét hỏi, tranh luận có vị trí trung tâm trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; ở đó còn là cơ sở để làm rõ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân và xã hội
Hai là, sự cần thiết phải hoàn thiện thủ tục xét hỏi, tranh luận và nâng cao chất lượng xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm: Pháp luật tố tụng hình sự nước
ta qua hai lần pháp điển hoá (ra đời Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003), ở đó nhà lập pháp đã thiết lập thành công một hệ thống thủ tục tố tụng hình sự, là công cụ sắc bén để phòng, chống tội phạm và tăng cường pháp chế Tuy nhiên mô hình tố tụng hình
sự nước ta chưa tiếp thu nhiều các hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng, nhiều quy
Trang 3định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã trở nên bất cập, trong đó quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn tranh tụng
Trên thực tế, trong những năm gần đây có sự chuyển biến tích cực về mọi mặt trong hoạt động tư pháp hình sự, tuy nhiên chất lượng, hiệu quả xét xử vẫn chưa cao; việc tổ chức phiên tòa hình sự và hoạt động tranh tụng tại phiên tòa còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới trong xã hội Về tổ chức phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp và vấn đề văn hoá pháp lý cũng có tính thời sự được dư luận quan tâm; thực trạng án
bị huỷ, sửa do vi phạm thủ tục tố tụng đáng kể hoặc có trường hợp gây oan, sai xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của công dân v.v
Ba là, yêu cầu cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 và một số văn bản mới được ban hành: Trước yêu cầu của pháp luật tố tụng hình sự phải khẩn trương cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội và các nguyên tắc khác được Hiến pháp năm 2013 quy định mới và sửa đổi, bổ sung Đồng thời với việc triển khai, thi hành các luật như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
và các luật quan trọng khác Theo đó phải thiết lập cơ chế bảo đảm nó cả về mặt quy phạm, cả về mặt thực tiễn Bên cạnh đó tinh thần Hiến pháp năm 2013 coi trọng bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, trong
đó nhiệm vụ bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự phải được xác định rõ
và thực thi có hiệu quả
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu, xây dựng hệ thống lý luận, nghiên cứu và làm rõ thực trạng thủ tục xét hỏi và tranh luận trong TTHS Việt Nam, Luận án đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, Luận án có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau:
+ Làm rõ lý luận về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; + Nghiên cứu, phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST, chỉ ra những bất cập của những quy định này;
Trang 4đồng thời phân tích, đánh giá quy định của pháp luật ở một số nước trên thế giới về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
+ Làm rõ thực tiễn thực hiện những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST trong TTHS Việt Nam
Luận án nghiên cứu thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật TTHS về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST ở Việt Nam từ năm 2005 đến 2015
Về không gian: Để bảo đảm tính khái quát cao, Luận án không nghiên cứu bao hàm các khái niệm pháp lý xung quanh thủ tục TTHS và không giàn trải ở các yếu tố liên quan đến tranh tụng khác, mà chỉ biện luận các cơ sở và lý luận cho việc xây dựng khái niệm khoa học về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST và phân tích đặc điểm, ý nghĩa của xét hỏi và tranh luận Luận án nghiên cứu có giới hạn các yếu tố và cơ sở xác định thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Luận án không nghiên cứu hết các quy định về thủ tục tố tụng tại PTHS mà chỉ chuyên sâu ở các quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Tuy nhiên, để bảo đảm tính hệ thống và hiệu quả của mục tiêu nghiên cứu, thì phân tích,
lý giải một số quy định chứa đựng các yếu tố tranh tụng là không thể thiếu được Bên
Trang 5cạnh đó là sự lựa chọn nghiên cứu đối với pháp luật của các nước Hoa Kỳ, Pháp và Nhật Bản về quy định thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Luận án chỉ đánh giá thực tiễn thực hiện thủ tục xét hỏi, tranh luận ở cấp xét xử sơ thẩm, cùng với một số vụ án hình sự đã được xét xử
4 Những đóng góp mới của Luận án
Cho đến nay ở Việt Nam chưa có một luận án tiến sĩ nào nghiên cứu về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm trong TTHS Việt Nam Kết quả nghiên cứu cụ thể của Luận án với những đóng góp mới như sau:
Thứ nhất, Luận án làm rõ, bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST trong TTHS Việt Nam Những vấn đề lý luận này được tác giả nghiên cứu làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Thứ hai, Luận án làm rõ thực trạng luật thực định Việt Nam về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST; trong đó có so sánh, đánh giá những điểm mới cùng vấn đề theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Bên cạnh đó, Luận án nghiên cứu so sánh quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận ở một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Thứ ba, Luận án phân tích thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST; đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó
Thứ tư, Luận án đã đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 6tiễn thực hiện thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST, giải thích được nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc của nó v.v
Ý nghĩa thực tiễn:
- Các kiến giải trong Luận án được tiếp thu, vận dụng vào thực tiễn không những góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS và đổi mới phiên tòa hình sự, mà còn góp phần bảo
vệ quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự
- Kết quả đạt được của Luận án góp phần tăng cường nhận thức áp dụng pháp luật
tố tụng, đặc biệt là sự đổi mới tư duy theo hướng tích cực hơn trong đội ngũ cán bộ làm công tác thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
- Luận án là nguồn tài liệu có thể dùng cho việc tham khảo nghiên cứu lập pháp, trong việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo của chuyên ngành tư pháp hình sự
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, phần tổng quan tình hình nghiên cứu, phần kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án được chia thành ba chương:
Chương 1: Lý luận về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Chương 2: Thực trạng xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Chương 3: Giải pháp bảo đảm thực hiện thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm
Trang 7TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên bình diện quốc tế có nhiều công trình nghiên cứu chuyên khảo về thủ tục TTHS, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở pháp luật nước ngoài mà chưa nghiên cứu trực tiếp, có hệ thống về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST theo pháp luật TTHS Việt Nam Ở đây tác giả Luận án chỉ có thể liệt kê các công trình tiêu biểu, có giá trị tham khảo liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu
Cụ thể gồm:
- Cuốn chuyên khảo “Criminal Procedure A Worldwide Study”1 (Tố tụng hình sự-
Một nghiên cứu trên toàn thế giới) của tác giả Craig M Bradley Cuốn sách chủ yếu phân tích đặc điểm của mô hình TTHS thẩm vấn và mô hình TTHS tranh tụng trên thế giới, phân tích và chứng minh chiều hướng chuyển đổi giữa các mô hình tố tụng theo xu thế giao thoa giữa các nền pháp luật khác nhau Craig M Bradley nhận diện sự thay đổi của các nền tư pháp hình sự ở nhiều nước trên thế giới trong việc hình thành thủ tục xét xử Bên cạnh đó Craig M Bradley phân tích, đánh giá kỹ dưới góc độ mở rộng các quyền cho
bị cáo tại PTHSST ở nhiều nước trên thế giới v.v
- Cuốn chuyên khảo “Criminal evidence and procedure: The Essential
Framework”2 (Khung thiết yếu về chứng cứ và thủ tục TTHS) của tác giả Stephen Seabrooke và John Sprack Cuốn sách cung cấp những lời bình luận rõ ràng và súc tích về chứng cứ tội phạm và thủ tục thu thập chứng cứ trên cơ sở khái quát nhiều đạo luật về tư pháp hình sự ở nước Anh và một số nước ở Châu Âu Theo đó tác giả cuốn sách chủ yếu dành thời lượng đánh giá cách thức thu thập và sử dụng chứng cứ của cảnh sát và mức độ, giá trị chứng minh của chứng cứ của cảnh sát tại phiên tòa Cuốn sách dành nhiều thời lượng bình luận và cho ví dụ về: quyền nhận tội hay không của bị cáo trước khi bắt đầu phiên chất vấn chính thức; quyền được lựa chọn xét xử tóm tắt nếu bị cáo nhận tội và thủ
1 Craig M Bradley (2007), Criminal Procedure A Worldwide Study, Carolina Academic Press, Durham- North
Carolina
2 Stephen Seabrooke & John Sprack (2004), Criminal Evidence and Procedure: The Essential Framework,
BlackStone Press limited
Trang 8tục thực hiện quyền được cung cấp thông tin buộc tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Nó có mối liên hệ với việc bảo đảm quyền bào chữa- theo đó công tố viên phải thực hiện quyền này theo yêu cầu của bị cáo và người bào chữa một cách nghiêm ngặt nếu không việc xét
xử vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng v.v
- Cuốn “General Reports to the 10 th
international congress of comparative law” 3
(Báo cáo tổng quan của Đại hội quốc tế lần thứ 10 về pháp luật so sánh) của các tác giả: Lamm, Vanda, Péteri, Zoltán Cuốn sách nghiên cứu rộng rãi, chuyên sâu về quyền được vắng mặt, quyền có mặt của bị cáo và phương pháp cách ly bị cáo tại PTHSST ở 15 quốc gia khác nhau như Bỉ, Canada, Đức, Anh, Mỹ … Các tác giả bình luận chuyên sâu và nghiên cứu so sánh về thủ tục bị cáo vắng mặt và có mặt tại PTHSST ở nhiều nước trên thế giới Cuốn sách làm rõ sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực trong việc bảo đảm các quyền vắng mặt, có mặt của bị cáo tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Trong đó phân tích hậu quả pháp lý đối với bị cáo và trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm các quyền đó của bị cáo và về sự vắng mặt của bị cáo ảnh hưởng đến hiệu quả xét hỏi và tranh luận tại PTHSST nói riêng v.v
- Cuốn “Judges, legislator and professors: Chapters in European Legal History” 4
(Thẩm phán, các nhà lập pháp và các giáo đồ: Những chương trong lịch sử pháp lý Châu Âu) của tác giả R.C Van Caenegem Cuốn sách phần lớn trình bày kết quả nghiên cứu chuyên sâu về quá trình hình thành và phát triển cơ chế Bồi thẩm đoàn (jury) tham gia xét
xử VAHS ở Châu Âu, đặc biệt là Anh, Pháp và Đức… R.C Van Caenegem tập trung phân tích các bối cảnh lập pháp khác nhau ảnh hưởng đến cơ chế tham gia xét xử của Bồi thẩm đoàn, đặt trong mối tương quan với Thẩm phán xét xử và luật sư bào chữa Tác giả của cuốn sách đã nhìn nhận đúng đắn về vai trò của Bồi thẩm đoàn chi phối nhiều đến hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, ví dụ như họ được đặt câu hỏi trong phần xét hỏi, được biểu quyết và đưa ra ý kiến tại phiên tòa; cũng như đã phát hiện được vấn đề mang tính tất yếu là các Thẩm phán chuyên nghiệp có xu thế lạm quyền trong quá trình xét xử
3Lamm, Vanda, Péteri, Zoltán (1981), Public hearing in the absence of the accused person, “General Reports to the
10 th international congress of comparative law” (Edited by Publie’ par), Akademiai Kiado’, Budapest
4 R.C Van Caenegem (2000), Judges, Legislators and Professors: Chapters in European Legal History, Cambridge
University Press
Trang 9- Cuốn chuyên khảo“Criminal Procedure: Prosecuting crime”5 (Thủ tục tố tụng:
Truy tố hình sự) của tác giả Joshua Dressler và George C Thomas III Cuốn sách chủ yếu trình bày vị trí, vai trò, quyền hạn và các hoạt động áp dụng thủ tục TTHS của công tố viên đặt trong nhiều giai đoạn TTHS khác nhau- trước và trong giai đoạn xét xử Đáng chú ý là Joshua Dressler và George C Thomas III cho rằng công tố viên có nhiều nguồn lực hơn so với luật sư bào chữa trong việc tìm kiếm chứng cứ, vì họ có điều kiện tiếp cận tốt hơn các nạn nhân và người làm chứng và có thể thúc đẩy các sự kiện dễ dàng hơn Ở cuốn sách còn đưa ra đánh giá về vai trò thu thập chứng cứ của các bên buộc tội và bào chữa là bình đẳng và rất quan trọng cho việc chuẩn bị lập luận tại phiên tòa của họ
- Cuốn “Japanese Law”6 (Pháp luật Nhật Bản) của tác giả Hiroshi Oda Đây là
cuốn sách nổi tiếng trên thế giới về luật TTHS Nhật Bản Những vấn đề liên quan đến thủ tục của phiên thẩm vấn và vấn đề đưa ra chứng cứ chứng minh của các bên tham gia tranh tụng tại PTHSST ở Nhật Bản được Hiroshi Oda- là Luật sư và là Thành viên của Tòa án Trọng tài Quốc tế ICC (Paris) bình luận sâu sắc trong cuốn này Vấn đề đáng chú ý nhất trong những lời bình luận của Hiroshi Oda là, ông đã chứng tỏ rằng phiên tranh tụng ở Nhật Bản đã mở rộng quyền phát biểu, trình bày và đánh giá chứng cứ cho các bên, nhưng việc tranh tụng coi trọng vào chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra hơn là lời khai mới từ người làm chứng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Vì ở đây rõ ràng nó đã chứng tỏ việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa theo mô hình tố tụng thẩm vấn
có đan xen các yếu tố tranh tụng Hơn nữa cuốn sách đã toát lên được ưu điểm, giá trị tiến
bộ của thủ tục TTHS Nhật Bản, đó là, các quy phạm TTHS được thiết lập đã toát lên rằng thủ tục xét xử nói chung, đặc biệt là thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST phải bảo đảm quyền cho bị cáo trên thực tế, không được xâm hại hoặc ảnh hưởng đến các quyền của bị cáo
Trang 10- Cuốn “An Introduction to the Legal System of the United States” 7 (Giới thiệu nền pháp lý Hoa Kỳ) của tác giả E Allan Farnswarth Các tác giả đề cập chung đến các lĩnh vực pháp luật của Hoa Kỳ, trong đó có thủ tục TTHS được khái quát mang tính chất giới thiệu, kể cả thủ tục của một phiên điều trần công khai tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Về thủ tục thương lượng nhận tội tại PTHSST ở Hoa Kỳ được các tác giả quan tâm nhấn mạnh
- Cuốn chuyên khảo “Procédure pénale”8 (Tiến trình tố tụng hình sự) của tác giả Corinne Renault-Brahinsky Cuốn sách này được hoàn thiện dần qua 14 lần tái bản, là một trong nhiều cuốn được Corinne Renault-Brahinsky viết dành cho sinh viên ngành luật Các vấn đề về thủ tục TTHS ở trong từng giai đoạn tố tụng khác nhau như điều tra, truy tố, xét xử được cuốn sách phân tích, dẫn chứng khá chi tiết, dễ hiểu Hay nói ngắn gọn đó là những tổng hợp rõ ràng về các quy tắc của tiến trình TTHS ở Pháp Corinne Renault – Brahinsky phân tích các đặc điểm chung cơ bản của phiên tòa, đó là tính công khai, xét xử bằng lời nói và sự đối lập quyền lợi (trang 181) v.v Về thủ tục thẩm vấn ở PTHSST của Pháp: đáng lứu ý là công tố viên, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác muốn đặt câu hỏi phải thông qua đề nghị chủ tọa phiên tòa; quyền hạn của chủ tọa phiên tòa ở Pháp là rất lớn Điểm hạn chế đó là, Corinne Renault-Brahinsky chỉ phân tích các thủ tục, nhưng chưa làm rõ bất lợi của việc không quy định quyền trực tiếp xét hỏi của các bên tranh tụng đối với bị cáo và người tham gia tố tụng khác như thế nào
- Cuốn “допрос в советском уголовном судопроизводстве”9 (Thủ tục thẩm vấn trong TTHS Liên Xô), của tác giả Н.и Порубов Đây là một trong những cuốn sách được nhiều học viên và giảng viên ưa thích, tham khảo, học tập ở Nga Cuốn sách dành thời lượng nhiều về chiến thuật thẩm vấn trong quá điều tra (giai đoạn trước khi xét xử) Thế nhưng về thủ tục thấm vấn tại PTHSST chỉ dừng lại ở việc khái quát chung, mang tính chất trình bày mà chưa có lời bình luận chuyên sâu về nó
7 E Allan Farnswarth (1963), An Introduction to the Legal System of the United States, Columbia University law,
Oceana Publications, New York, (Ấn phẩm của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ).
8 Corinne Renault-Brahinsky (2014), Procédure pénale, Gualino éditeur, (14e édition)
9 Н.и Порубов (1973), допрос в советском уголовном судопроизводстве, Издательство << вышэйшая
школа>>Минск;
Trang 11- Cuốn chuyên khảo “Problems in Criminal Procedure”10 (Những vấn đề trong TTHS) của các tác giả: Joseph D Grano và Leslie W.Abramson Ở cuốn sách này đa phần phân tích thực tiễn, thông qua phần lớn lấy nhiều ví dụ từ các loại án hình sự trên thực tế, từ đó dẫn chứng thực tiễn đặt câu hỏi và đưa ra chứng cứ của công tố viên, luật
sư, bị cáo và kể cả Thẩm phán tại PTHSST; bao gồm cả thủ tục mặc cả thú tội Đáng chú
ý là thủ tục Điều tra viên được gọi đến phiên tòa để đưa ra lời khai làm chứng, phục vụ cho nội dung buộc tội của công tố viên, thông qua cơ chế kiểm tra chéo trong phần thẩm vấn hoặc phần bào chữa
- Cuốn chuyên khảo “Principles of Criminal Procedure”11 (Những vấn đề chủ yếu của thủ tục TTHS) của các tác giả: Russell L Weaver, Leslie W.Abramson, John M Burkoff và Catherine Hancock Các tác giả phân tích các thủ tục TTHS nói chung, gồm thủ tục thỏa thuận nhận tội, quy trình tham gia xét xử của Bồi thẩm đoàn, Công tố viên, Thẩm phán và của bị cáo tại phiên tòa v.v Nội dung các vấn đề được bình luận chủ yếu dựa trên quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ (cụ thể là các Tu chính án), đặc biệt là đề cập đến các quyền của bị cáo được hưởng, như quyền được tư vấn tại phiên tòa, quyền được cung cấp thông tin buộc tội, quyền được xét xử bởi Bồi thẩm đoàn v.v Các tác giả đều bình luận về vai trò quan trọng của người làm chứng trong việc công tố viên và luật sư sử dụng họ để đối chất, chất vấn chéo cho mục đích chứng minh của mỗi bên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
- Cuốn “International Criminal Procedure- A Clash of Legal Cultures”12 (Thủ tục
TTHS quốc tế- Sự xung đột văn hóa pháp lý)13 của tác giả Christine Schuon Cuốn sách chủ yếu đề cập về các thủ tục TTHS để giải quyết một VAHS theo Quy chế Rome về Tòa
án hình sự quốc tế (International Criminal Court - ICC) Liên quan đến thủ tục tố tụng tại phiên tòa, cuốn sách trình bày khá cụ thể về nghĩa vụ công bố thông tin truy tố và nghĩa
10 Joseph D Grano, Leslie W Abramson (1988), Problems in Criminal Procedure, ST Paul, minn, West Publishing
Co., (second edition)
11 Russell L Weaver, Leslie W Abramson, John M Burkoff & Catherine Hancock (2007), Principles of Criminal Procedure, (second edition), Thomson/West, Printed in the USA
12 Christine Schuon (2010), International Criminal Procedure- A Clash of Legal Cultures, T-M-C- Asser Press, Printed in the Netherlands
13 Về Tòa án hình sự quốc tế, tham khảo thêm tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa (2014), Luật hình sự quốc tế với việc đảm bảo quyền con người, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Trang 12vụ trình bày lời bào chữa trước Tòa án hình sự quốc tế; quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của các bên tại phiên xét xử công khai v.v Christine Schuon nêu bật về quyền hạn của Thẩm phán Tòa án hình sự quốc tế trong xét xử là rất lớn, so với các Thẩm phán của tòa hình sự thông thường ở Hoa Kỳ và Châu Âu Trong phiên xét xử sơ thẩm, Thẩm phán Tòa án hình sự quốc tế có quyền đặt câu hỏi thẩm vấn người làm chứng để bổ sung cho phần lớn các câu hỏi do các bên buộc tội và bào chữa đã thực hiện; cũng như quyền đặt câu hỏi đối với các bên tranh tụng, chứ không phải đơn thuần chỉ là thẩm vấn bị cáo
2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Các công trình khoa học trong nước liên quan đến đề tài Luận án đa số đề cập ở diện rộng tất cả các thủ tục tố tụng, gồm cả trong giai đoạn xét xử tại PTHSST và phúc thẩm, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST theo pháp luật tố TTHS Việt Nam Cụ thể:
- Về sách:
Ở Việt Nam tài liệu về sách có quan hệ mật thiết đến đề tài nghiên cứu không nhiều
Trong cuốn “Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm” của tác giả Dương Thanh Biểu, do Nhà
xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2007 đề cập một cách hạn chế về thủ tục tranh luận Bên cạnh sự thành công trong việc phân tích khá sâu sắc về các kiểu TTHS được áp dụng ở một số nước trên thế giới, cuốn sách chủ yếu bàn luận về nghiệp vụ kiểm sát như các kỹ năng về nghiên cứu hồ sơ, đọc cáo trạng, thực hành quyền công tố tại PTHSST và cho ví
dụ minh họa từ rất nhiều vụ án, tình huống có thật Đáng lưu ý là quan điểm của tác giả Dương Thanh Biểu cho rằng, HĐXX vẫn phải giữ trách nhiệm xét hỏi để kiểm tra, xác định tính khách quan, chân thực của các tài liệu, chứng cứ, để làm rõ các tình tiết của vụ án; còn KSV hỏi để làm rõ thêm các tình tiết buộc tội, gỡ tội14 Vấn đề này khác với chiều hướng quan điểm khác là không giao trách nhiệm xét hỏi chính thuộc về Hội đồng xét xử
Ngoài ra còn có các cuốn: “Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác
giả Võ Thị Kim Oanh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh năm 2011; cuốn
“Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự” của tác giả Mai Thanh Hiếu- Nguyễn Chí
14 Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 23-27
Trang 13Công, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội năm 2008 Ở đó phần lớn đề cập đến các vấn đề liên quan đến công tác xét xử, như nêu lý luận chung về các PTHS, các vấn đề về mô hình
tố tụng và chức năng cơ bản của TTHS, về thẩm quyền xét xử, các giai đoạn xét xử, các bước tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử v.v, trong đó đề cập mang tính chất giới thiệu, sơ lược về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
- Về đề tài nghiên cứu khoa học các cấp:
Các đề tài khoa học thực hiện ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến khoa học luật TTHS, tiêu biểu gồm có:
+ Đề tài khoa học cấp bộ: “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức
thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, của VKSNDTC hoàn thành
vào năm 1999 Công trình nghiên cứu về quyền công tố và thực hiện quyền công tố ở Việt Nam Trong đó nổi bật là giải thích cặn kẽ về nội hàm của khái niệm công tố và quyền công tố, và nhiều vấn đề lý luận khác xung quanh bảo đảm quyền công tố được bình luận; đồng thời phân tích thực trạng thực hiện quyền công tố ở Việt Nam và đưa ra giải pháp hoàn thiện về vấn đề chức năng buộc tội và thực hành quyền công tố tại PTHSST của Viện kiểm sát nhân dân v.v
+ Đề tài khoa học cấp bộ: “Các giai đoạn của tố tụng hình sự Việt Nam - Những
vấn đề lý luận và thực tiễn”, của VKSNDTC hoàn thành vào năm 2010 Đề tài đã khá
thành công khi giải thích về khái niệm, bản chất pháp lý và vị trí vai trò của các giai đoạn
tố tụng, gồm giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố Qua đó khẳng định những vấn đề cần tăng cường nhận thức, hoàn thiện và áp dụng pháp luật tố TTHS theo hướng cải cách tư pháp Về các thủ tục TTHS được các tác giả của công trình đánh giá mang tính khái quát, không đi sâu làm rõ thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
+ Ngoài ra còn có các đề tài: Đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Những vấn đề lý luận
và thực tiễn của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”,
của tác giả Lê Hữu Thể hoàn thành vào năm 2010; Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Cải
cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”
của tác giả Uông Chu Lưu hoàn thành năm 2005; Đề tài “Cải cách hệ thống tư pháp hình
Trang 14sự nhằm bảo vệ các quyền con người”, Đề tài nghiên cứu nhóm B của Đại học Quốc gia
Hà Nội trong Dự án của Đan Mạch, do tác giả Lê Văn Cảm (chủ nhiệm) hoàn thành năm
2011; và Đề tài thuộc Dự án nêu trên: "Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ
quyền con người" do tác giả Nguyễn Ngọc Chí làm chủ nhiệm
Các công trình nêu trên chủ yếu làm rõ các cơ sở: lý luận, thực tiễn, khoa học, pháp
lý của việc đổi mới hoạt động cơ quan tư pháp, định hướng chung về hoàn thiện pháp luật TTHS theo hướng dân chủ, bình đẳng và gần dân hơn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
- Về tạp chí khoa học chuyên ngành luật:
Hoạt động xét hỏi và tranh luận tại PTHSST có tính thời sự được nhiều nhà khoa học và cán bộ làm công tác chuyên môn quan tâm nghiên cứu, trao đổi trên diễn đàn tạp chí chuyên ngành luật
+ Bài báo khoa học quan trọng đầu tiên phải kể đến là, “Hoàn thiện một số quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục phiên tòa sơ thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả Hoàng Thị Minh Sơn, đăng trên Tạp chí Luật học số 10 năm 2009
Bài báo đã nêu một số vấn đề cần chú ý: Một là, Điều 206 BLTTHS quy định về thời điểm đọc cáo trạng của KSV trong phần xét hỏi là không hợp lý nên quy định trong phần bắt đầu thủ tục phiên tòa Hai là, quy định KSV trình bày ý kiến bổ sung cáo trạng:
đó là làm rõ thêm nội dung cáo trạng (nếu có), chứ không phải thay đổi hay bổ sung cáo trạng Tuy nhiên thực tế xét xử cho thấy KSV không những là làm rõ cáo trạng, mà còn thực hiện việc bổ sung cáo trạng Những vấn đề nêu trên sẽ được mở rộng nghiên cứu, luận giải theo hướng cần phải được xác lập rõ hơn
+ Bài báo khoa học quan trọng thứ hai: “Một số vấn đề hoàn thiện quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự về thủ tục xét xử sơ thẩm” của tác giả Trần Văn Độ, đăng trên Tạp chí
Trang 15xét hỏi và tranh luận làm cơ sở cho đề xuất mở rộng quyền trực tiếp xét hỏi của người tham gia tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Bên cạnh đó cần thiết phải chú ý đến quan điểm của tác giả bài báo về vấn đề buộc tội của bị hại (trang 23) như sau: “Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người
bị hại thì người bị hại phát biểu lời buộc tội, đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo về tội gì, khung hình phạt ra sao, đề nghị khung hình phạt như thế nào…mà không nhất thiết phải phân tích, đánh giá chứng cứ” Vấn đề buộc tội của bị hại tại PTHSST là vấn đề khó, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng Như vậy hướng nghiên cứu được mở ra là bị hại có nên tự mình buộc tội hay không, hay việc này vẫn do KSV tiến hành? Nếu bị hại tự mình buộc tội tại PTHSST thì trình tự như thế nào và cần phải có KSV tham gia phiên tòa trong trường hợp này không?
Ngoài ra tác giả Trần Văn Độ còn đưa ra quan điểm là nên gộp phần thủ tục xét hỏi
và phần thủ tục tranh luận làm một Đây là một vấn đề mới cần được nghiên cứu và làm
rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của nó trước khi đưa kết luận về có nên gộp thủ tục xét hỏi
và tranh luận làm một hay không
+ Liệt kê đến bài “Về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của tác giả Lê
Thị Thúy Nga, đăng trên Tạp chí Luật học số 07 năm 2008
Ở bài này tác giả chỉ tiếp cận một số vấn đề cụ thể liên quan đến phương pháp xét hỏi tại PTHSST có giá trị tham khảo cho Luận án, như vấn đề về thứ tự xét hỏi và cách ly
bị cáo tại phiên tòa (nhất là định hướng mở rộng quyền xét hỏi của người giám định theo Điều 215 BLTTHS)- điều đáng tiếc là giải pháp hoàn thiện về mặt quy phạm ở một số vấn đề vừa nêu chỉ ở dạng định hướng chung
Ngoài ra còn có nhiều bài báo khoa học thể hiện nhiều vấn đề khác nhau trong khoa học tố tụng hình sự Trong đó bao gồm các nhóm vấn đề: (1) về vấn đề tranh tụng và
nguyên tắc tranh tụng Tiêu biểu là các bài: “Vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên và
thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm”, của tác giả Nguyễn Thái Phúc- Tạp chí Kiểm
sát số 09/2003; bài "Bản chất tranh tụng tại phiên tòa" của tác giả Trần Văn Độ- Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2004; bài "Nguyên tắc tranh tụng - giải pháp nâng cao chất lượng
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự", của tác giả Võ Thị Kim Oanh- Tạp chí Kiểm sát số
Trang 1617/2006; bài “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành nhằm
nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm” của tác giả Nguyễn Đức Mai- Tạp
chí Luật học số 07/2008; bài “Một số vấn đề về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm” của tác giả Võ Thị Hồng Luyến- Tạp chí Kiểm sát
số 18/2011 (2) về các nguyên tắc tố tụng, mô hình tố tụng và chức năng tố tụng hình sự
Tiêu biểu là các bài: "Các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam" của tác giả Đào Trí Úc- Tạp chí Khoa học (Luật học), Tập 27, số 1/2011; bài "Các nguyên tắc cơ bản trong
Luật tố tụng hình sự- những đề xuất sửa đổi, bổ sung" của tác giả Nguyễn Ngọc Chí-Tạp
chí Khoa học (Kinh tế- Luật), Đại học Quốc gia Hà Nội số 24/2008; bài "Các nguyên tắc
cơ bản của cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam"
của tác giả Lê Cảm- Tạp chí Tòa án nhân dân số 1/2006; bài "Những chức năng cơ bản
trong tố tụng hình sự" của tác giả Nguyễn Thái Phúc- Tạp chí Nhà nước và pháp luật số
12/2005; bài "Tố tụng hình sự Việt Nam cần được đổi mới và hoàn thiện theo hướng
nào?" của tác giả Đào Trí Úc- Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 15/2011
Các bài báo nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về các yếu tố chi phối thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST và vấn đề bảo đảm chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự Đây không phải là các nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về thủ tục xét hỏi, tranh luận
tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
- Về luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ:
Về luận án tiến sĩ:
Ở phạm vi trong nước, chưa có luận án tiến sĩ nào nghiên cứu chuyên biệt về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Chỉ có thể liệt kê đến Luận án của tác giả
Lê Tiến Châu “Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam” hoàn thành năm 2008
tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam Luận án này tập trung nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn về chức năng xét xử Điểm nổi bật là công trình làm rõ được mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản trong tố tụng; về các yếu tố về mặt lý luận
và thực tiễn bảo đảm cho Tòa án thực hiện đúng chức năng xét xử, bảo đảm hoạt động tranh tụng; đồng thời phát hiện nhiều bất cập của các thủ tục TTHS liên quan đến việc vận dụng chức năng xét xử
Trang 17Bên cạnh đó là Luận án của tác giả Võ Thị Kim Oanh, “Xét xử sơ thẩm trong tố
tụng hình sự Việt Nam” hoàn thành năm 2008 tại Viện Nhà nước và Pháp luật- Viện Hàn
Lâm khoa học xã hội Việt Nam Ở đó trình bày kết quả nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến công tác xét xử, nêu các khái niệm về xét xử sơ thẩm, về PTHS, về thẩm quyền xét xử, các giai đoạn xét xử, các bước tiến hành truy tố, xét xử v.v Nghiên cứu về hoạt động xét xử sơ thẩm, trong đó làm rõ ở diện rộng các thủ tục tố tụng và khái quát đến thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Về luận văn thạc sĩ:
+ Luận văn của tác giả Đỗ Văn Thinh, “Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm” hoàn thành năm 2006 tại Trường đại học luật TP Hồ Chí Minh Đây là công trình
đầu tiên ở bậc cao học nghiên cứu về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Luận văn đã nhìn nhận khách quan về vấn đề HĐXX tích cực trong việc xét hỏi là không hợp lý; làm rõ được tính chất, nội dung về thủ tục xét hỏi Hạn chế chủ yếu là, ở Chương 1 của Luận văn về phần lý luận giàn trải, thiếu tính tập trung khi đã làm rõ ở hàng loạt các vấn
đề về giai đoạn xét xử và PTHS, các khái niệm và ý nghĩa xung quanh PTHSST, nêu các điều kiện chung của phiên tòa như thẩm quyền xét xử v.v; dành thời lượng phân tích tất
cả các thủ tục của phiên tòa hình sự sơ thẩm Ở Chương 2 phần đánh giá luật thực định sa vào bình luận và trích dẫn ý kiến xung quanh vấn đề chứng minh tội phạm tại Điều 10 BLTTHS và vai trò của HĐXX và bị hại trong thủ tục xét hỏi v.v Về phần giải pháp đáng chú ý là đề xuất sau năm 2020 bỏ đi quyền xét hỏi của HĐXX nhưng chưa lý giải và đưa ra cơ sở khoa học v.v
+ Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Toản, “Tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm” hoàn thành năm 2011 tại Học viện Khoa học xã hội Điểm hợp lý là Luận văn tiếp
cận khái niệm về tranh luận tại PTHSST bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm các kiểu TTHS, nhìn thấy được ưu điểm và hạn chế trong đó Song các vấn đề lý luận khác xung quanh thủ tục tranh luận chưa được Luận văn làm rõ Ở phần đánh giá thực trạng quy định
về tranh luận rất sơ sài, chưa làm nổi bật được một bức tranh thực tiễn sinh động để tìm hiểu thành tựu và nguyên nhân của nó, để đưa ra các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi Đơn cử như Luận văn không có một giải pháp nào hoàn thiện quy định của
Trang 18BLTTHS về thủ tục tranh luận mà chỉ là hoàn thiện các quy định chung của Bộ luật có liên quan, chi phối đến hoạt động tranh luận v.v
Ngoài ra còn có các Luận văn thạc sĩ, gồm: Luận văn của tác giả Lê Đức Thọ “Xét
hỏi, tranh luận và nâng cao tính tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm”, hoàn thành
năm 2008 tại Trường đại học luật TP Hồ Chí Minh; Luận văn của tác giả Phạm Đình
Thanh, “Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự” hoàn thành năm 2011 tại Trường đại học luật Hà Nội; Luận văn của tác giả Đặng Thị Giao, “Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình
sự”, hoàn thành năm 2011 tại Trường đại học luật Hà Nội; Luận văn của tác giả Hoàng
Thị Thu Minh, “Tranh luận tại phiên tòa hình sự- Lý luận và thực tiễn” hoàn thành năm
2011 tại Trường đại học luật TP Hồ Chí Minh
Các công trình khoa học này chủ yếu nghiên cứu ở góc độ PTHS nói chung, gồm cả phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm Hạn chế gặp phải là ở phần lý luận cũng như đánh giá thực trạng xét hỏi, tranh luận giàn trải, thiếu tập trung hoặc là hời hợt Rõ nhất là chưa làm rõ nội hàm hoặc không đảm bảo cơ sở khoa học về khái niệm thủ tục xét hỏi và khái niệm thủ tục tranh luận; cũng như phần lý luận cơ bản chưa bảo đảm tính khái quát cao; chưa làm rõ mối quan hệ giữa thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận và mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia xét hỏi, tranh luận tại PTHSST v.v Về đánh giá thực trạng xét hỏi, tranh luận còn hời hợt, thiếu chiều sâu, nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để Về phần giải pháp còn lặp lại, ít có tính mới hoặc chưa lý giải thấu đáo cơ sở của việc đưa ra giải pháp v.v
3 Đánh giá tình hình nghiên cứu
Qua việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài liên quan mật thiết đến đề tài Luận án, tác giả rút ra những vấn đề cần tiếp tục phát triển và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như sau:
- Đối với các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
Một là, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài phân tích diện rộng các thủ tục xét
xử nói chung, chứng minh sự bình đẳng của các bên tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ
Trang 19thẩm15 Ở đó hoạt động xét hỏi, tranh luận không được phân chia thành hai phần riêng biệt, nhưng lại thể hiện đậm nét quan hệ đối tụng và phiên tòa diễn ra dân chủ, sinh động Đơn cử như trong thủ tục xét hỏi, tranh luận với thủ tục “chất vấn chéo” trở thành điển hình trong các phiên tòa theo mô hình TTHS tranh tụng Bên cạnh đó các công trình ở nước ngoài phân tích sâu về vai trò hướng dẫn luật và điều khiển phiên tòa của Thẩm phán chủ tọa, về cơ chế Bồi thẩm đoàn tham gia xét xử và hoạt động buộc tội của công tố viên Đồng thời thủ tục xét xử rất coi trọng vai trò của người làm chứng- được hầu hết các tác giả ghi nhận
Hai là, nổi bật là các quyền của bị cáo tại PTHSST được các học giả nước ngoài
quan tâm bàn luận nhiều Trong đó bình luận có tính thuyết phục về thực tiễn áp dụng quyền thúc đẩy thông tin của người bị buộc tội Họ phải được thông báo lý do bị buộc tội
và tội danh bị cáo buộc Họ còn được thông báo về quyền được im lặng, quyền được tư vấn pháp luật trước khi bước vào phiên tranh tụng, nếu không thì phiên xét xử sơ thẩm sẽ
bị coi là vi phạm nghiêm trọng, dẫn đến có thể bị cấp phúc thẩm hủy án Điều này có ý nghĩa tham khảo vì chính trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) mà Việt Nam gia nhập năm 1982 đã quy định rằng để thực hiện quyền bào chữa, người bị buộc tội phải được thông báo về lý do buộc tội (Điều 14/3/a) Ngoài ra, cần lưu ý đến thủ tục nhận tội của bị cáo quyết định đến phương thức xét xử của Tòa án Nghĩa là thủ tục xét xử coi trọng sự tự nguyện của bị cáo, có thể là do họ chấp nhận cáo buộc thì Tòa sẽ tuyên án hoặc họ thương lượng nhận tội để đổi lấy lợi ích từ phía cơ quan công tố hoặc của bị hại Ví dụ như công tố viên sẽ rút lại cáo buộc một phần hoặc toàn bộ, hoặc bị hại giảm yêu cầu bồi thường dân sự Trong quá trình xét xử, bị cáo còn được hưởng quyền không phải tự buộc tội mình, theo đó cho phép bị cáo không cần phải chứng minh
là mình vô tội, mà trách nhiệm đó thuộc về công tố viên Nếu công tố viên không chứng minh được thì bị cáo sẽ đỗ lỗi và có thể được tuyên vô tội.v.v Ở đó chứng tỏ tại PTHSST nguyên tắc tranh tụng được đề cao và thực thi triệt để; từ phía nhà nước rất chú trọng thiết
15 Quá trình xét hỏi, tranh luận phụ thuộc vào chứng cứ và cách thức đưa ra chứng cứ nhằm tạo ra hiệu quả của nó trong việc tranh tụng bình đẳng, tránh sự can thiệp của Tòa án Chứng cứ do các bên đưa ra tại phiên tòa quyết định đến bản chất của vụ án và can thiệp đến tiến trình tố tụng tiếp theo
Trang 20lập các quyền cho người bị buộc tội để họ tự bảo vệ mình, chứ không chỉ là cân bằng quyền lực cho cán bộ tư pháp
Ba là, giá trị tham khảo trong việc gợi mở một số luận cứ nghiên cứu và tiếp cận
đánh giá, so sánh với luật thực định TTHS Việt Nam là rất cần thiết: Đó là, thủ tục nhận tội của bị cáo tại PTHSST; vấn đề công bố và giải thích cáo trạng tại PTHSST; vấn đề triệu tập người làm chứng và vai trò của người làm chứng tại PTHSST; thủ tục cung cấp chứng cứ phục vụ cho hoạt động xét hỏi, tranh luận tại PTHSST; thủ tục xét hỏi và chất vấn chéo tại phiên tranh tụng bảo đảm sự bình đẳng, dân chủ cho người tham gia tố tụng; vai trò của chủ tọa phiên tọa tại phiên tranh tụng
- Đối với các công trình nghiên cứu ở trong nước:
Một là, các công trình ở trong nước chưa làm rõ nội hàm của khái niệm thủ tục xét
hỏi và tranh luận tại PTHSST; nêu khái niệm thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận tại PTHSST chưa bảo đảm tính khoa học; chưa xác định toàn diện, hợp lý về mục đích, ý nghĩa của thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST; chưa làm rõ mối quan hệ giữa thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST, cũng như quan hệ giữa các chủ thể tham gia tranh tụng; đánh giá thực trạng về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST ở nước ta còn thiếu toàn diện; hoạt động tranh tụng tại PTHSST còn nhiều vướng mắc, hạn chế nhưng chưa làm rõ toàn diện các nguyên nhân của nó v.v
Hai là, nhiều luận điểm được nêu ra nhưng chưa được làm rõ hoặc chưa triệt để Cụ
thể như luận điểm về sự cần thiết phải mở rộng quyền trực tiếp xét hỏi tại phiên tòa, nhưng chưa đưa ra các cơ sở và giải pháp hoàn thiện; nêu quan điểm cần phải gộp giai đoạn xét hỏi, tranh luận làm một nhưng chưa lý giải và đưa ra kết luận; chưa giải thích thuyết phục vấn đề KSV tham gia PTHSST (chỉ buộc tội hay bao gồm cả kiểm sát việc tuân theo pháp luật); việc trình bày lời buộc tội của bị hại như thế nào và có nên quy định quyền được im lặng của bị cáo tại PTHSST hay không chưa được luận giải
Ba là, các công trình ở trong nước chưa làm rõ về hoạt động tranh tụng ở nước ta
phụ thuộc vào chứng cứ đã được tập hợp trong hồ sơ VAHS và việc triệu tập người làm chứng do Tòa án quyết định chứ không phải là KSV và người bào chữa, có bảo đảm bình
Trang 21đẳng không? Mở rộng quyền thu thập chứng cứ cho người bào chữa theo hướng nào cho phù hợp?
Bốn là, các công trình ở trong nước chưa thiết kế phương pháp xét hỏi và tranh luận
tại PTHSST trong giai đoạn hiện nay khi mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng và nguyên tắc suy đoán vô tội theo tinh thần Hiến pháp 2013; cũng như chưa đề xuất các giải pháp khác để bảo đảm thực hiện thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết
- Câu hỏi nghiên cứu:
+ Xây dựng khái niệm thủ tục xét hỏi và khái niệm thủ tục tranh luận tại PTHSST
trong TTHS Việt Nam như thế nào cho phù hợp?
+ Đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST là gì,
nó có vị trí, vai trò như thế nào trong hoạt động tranh tụng và giải quyết vụ án hình sự?
+ Chứng tỏ như thế nào về mối quan hệ giữa thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST là quan hệ về nội dung hoạt động tố tụng, còn quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với nhau và với cả người tham gia tố tụng là quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ
do luật định (làm rõ các dạng quan hệ ở khía cạnh này)?
+ Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST bị chi phối bởi mô hình TTHS Việt Nam
và các nguyên tắc cơ bản trong TTHS như thế nào?
+ Nội dung quy định về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST trong TTHS Việt Nam? Thực tiễn thực hiện có những hạn chế, vướng mắc gì, nguyên nhân của nó?
+ Biện pháp nâng cao chất lượng xét hỏi và tranh luận tại PTHSST ở Việt Nam hiện nay là gì?
- Lý thuyết nghiên cứu của Luận án:
+ Quan điểm khoa học về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
+ Nội dung, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình
sự sơ thẩm
Trang 22Việc xác định và làm rõ lý thuyết nghiên cứu về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST làm tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của Luận án
- Giả thuyết nghiên cứu:
Với nhận thức, giả thuyết nghiên cứu là những “luận điểm cần phải chứng minh trong luận án”; là những “nhận định sơ bộ, là kết luận giả định của nghiên cứu; là câu trả lời sơ bộ cần phải chứng minh "16, chúng tôi đưa ra giả thuyết nghiên cứu của Luận án dựa trên sự tìm hiểu quy định của pháp luật TTHS về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST và thực tiễn áp dụng, như sau:
Một là, lý luận về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST trong khoa học pháp lý
Việt Nam còn chưa được chứng minh một cách có tính thuyết phục; thực trạng quy định của pháp luật TTHS về xét hỏi, tranh luận thể hiện bất cập và thực tiễn thực hiện xảy ra vướng mắc, được đặt trong bối cảnh Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, nếu có giải pháp đồng bộ sẽ bảo đảm hiệu quả, chất lượng tranh tụng
Hai là, đổi mới thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận tại PTHSST trong nền pháp luật TTHS Việt Nam không phù hợp với thực tiễn có thể dẫn đến hoạt động TTHS kém hiệu quả, ảnh hưởng đến chất lượng bản án sơ thẩm Thực tiễn ở đây bao gồm cả thực tiễn tranh tụng và tình hình xã hội Về thực tiễn tranh tụng có thể hiểu đó là hoạt động tranh tụng tại PTHSST, gắn kết hữu cơ với việc đổi mới phiên tòa, gắn với nền tảng của mô hình tố tụng đang áp dụng, các nhân tố của truyền thống pháp lý và phải xuất phát từ thực trạng pháp luật tố tụng; cũng như thực tiễn thực thi pháp luật có những ưu điểm và tồn tại như thế nào, cần phải tiếp thu những nhân tố hợp lý của mô hình tranh tụng ra sao Về thực tiễn xã hội, đòi hỏi phải xuất phát từ điều kiện kinh tế, xã hội hiện tại và những tinh hoa văn hóa pháp lý ở các nước văn minh trên thế giới
Ba là, hoạt động xét hỏi và tranh luận tại PTHSST đều hướng đến sự thật khách quan của vụ án, thế nhưng vì xung đột lợi ích khác nhau giữa các chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật TTHS, nên việc áp dụng thủ tục xét hỏi, tranh luận không tránh khỏi sự lạm quyền, hoặc có thể là khía cạnh xác lập và làm trái chức năng tố tụng Hệ quả là một
16 Vũ Cao Đàm (2008), “Giả thuyết và giả thiết trong nghiên cứu khoa học”, Tạp chí Hoạt động Khoa học, (02)
Trang 23phiên tòa bình đẳng, dân chủ, tranh tụng khách quan sẽ không đạt được như mong muốn Quyền của bị cáo và người tham gia tố tụng sẽ không được pháp luật bảo vệ tốt nhất, có
sự hoài nghi của xã hội về tính minh bạch, hiệu quả từ phía cơ quan tư pháp
Bốn là, đề xuất giải pháp bảo đảm thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST có thể loại bỏ dần định kiến có tội của HĐXX; bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người tham gia TTHS; nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa tại phiên tòa; mở rộng quyền thu thập và cung cấp chứng cứ của người bào chữa v.v
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và bằng các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đây được coi là phương pháp chủ đạo xuyên suốt nội dung của Luận án trong việc tiếp cận và nghiên cứu các khái niệm và luận điểm khoa học, làm sáng tỏ bất cập ở các quy định liên quan đến thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST, để làm cơ sở cho việc đưa
ra các giải pháp Chúng ta có thể nhìn nhận vai trò đặc biệt quan trọng của phương pháp này tại Chương 2 của Luận án
- Phương pháp lịch sử
Phương pháp này biểu hiện tập trung nhất tại Chương 2 để khắc họa một bức tranh
sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của thủ tục xét hỏi, tranh luận trong pháp luật TTHS Việt Nam và được sử dụng khá hạn chế tại Chương 1 và ở phần Tổng quan tình hình nghiên cứu để có cái nhìn tổng thể, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tiến bộ của nền văn hóa pháp lý truyền thống Việt Nam và ở một số nước trên thế giới về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp so sánh
Trong chừng mực nào đó ở từng vấn đề, khía cạnh nghiên cứu, phương pháp này được vận dụng một cách linh hoạt trong từng chương của Luận án để tìm hiểu điểm tương đồng và khác biệt; nó được vận dụng nhiều nhất tại Chương 2 khi làm rõ thủ tục xét hỏi, tranh luận ở các quốc gia là Mỹ, Pháp và Nhật Bản Vận dụng phương pháp so sánh hợp
Trang 24lý, đúng chỗ trong Luận án làm cơ sở chắc chắn cho việc đưa ra nhận định, kết luận và đề xuất giải quyết vấn đề nghiên cứu được khách quan, khoa học
- Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng tại Chương 2 của Luận án, chủ yếu để thống kê số VAHS và bị cáo bị truy tố, xét xử nhưng bị huỷ sửa, bị kháng nghị, kiến nghị và số vụ án tuyên không phạm tội (ở cấp sơ thẩm) trên quy mô toàn quốc Phương pháp này còn được
áp dụng trong việc khảo sát 300 biên bản phiên tòa sơ thẩm và 300 bản án tương ứng, nhằm mục đích phát hiện và giải thích về việc thực hiện các phương pháp xét hỏi, tranh luận và quan điểm của bên buộc tội và bào chữa được HĐXX chấp nhận ở mức độ nào; mức độ tham gia tranh luận của bị cáo, người tham gia tố tụng và người bào chữa ra sao
- Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được áp dụng ở Chương 2 của Luận án, tiến hành lập 300 phiếu khảo sát hỏi các chủ thể là KSV, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư ở một số địa phương trên toàn quốc Phương pháp này được chú ý để bổ sung thông tin thực tế, vì không ai hết các chuyên gia làm công tác thực tiễn sẽ đưa ra ý kiến, quan điểm của mình
về kết quả áp dụng thủ tục xét hỏi, tranh luận; ý thức trách nhiệm của họ trong việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự
Trang 25CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC XÉT HỎI
VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
1.1 Khái niệm thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
1.1.1 Khái niệm thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
“Thủ tục” là “Những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức”; còn “tố tụng” là “Tiến hành các hoạt động khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự”17 Theo nghĩa Từ điển Luật học thì “thủ tục
tố tụng” là “Cách thức trình tự và nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án đã được thụ lý hoặc khởi tố theo các quy định của pháp luật”18 Như vậy theo nghĩa của từ điển thì thủ tục chứa đựng nội hàm là những việc cụ thể bắt buộc phải làm theo trật tự nhằm tiến hành một công việc có tính chất chính thức Như vậy cũng có thể hiểu là những việc chung chung, thiếu cụ thể, không nhằm thực hiện mục đích của việc khác lớn hơn thì không được coi là thủ tục
Giải quyết VAHS là một quá trình rất khó khăn, phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn
tố tụng khác nhau với sự tham gia của nhiều chủ thể vào quan hệ pháp luật tố tụng hình
sự Để bảo đảm giải quyết VAHS được kịp thời, đúng đắn và toàn diện, nhà lập pháp đã thiết lập những cách thức, trình tự thực hiện hoạt động TTHS rất chặt chẽ, khoa học và có tính bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự Hoạt động TTHS được thể hiện dưới dạng hành vi và quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền Cách thức và trình tự thực hiện các hành vi, hoạt động tố tụng đó được gọi là thủ tục tố tụng hình sự Thủ tục TTHS được hiểu là trình tự và cách thức thực hiện các hành vi và hoạt động TTHS trong quá trình giải quyết VAHS (được pháp luật TTHS xác định), đòi hỏi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS phải tuân thủ Trong khái niệm thủ tục TTHS còn có nội hàm là nghi thức xem xét một vụ việc Được hiểu là các biểu hiện của hành vi ra bên ngoài, ví dụ như khi HĐXX vào phòng xử án hoặc khi tuyên
17 Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr 960, tr.1008
18 Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, NXB Từ điển Bách khoa- NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 729
Trang 26án thì mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, hoặc là cách xưng hô tại phiên tòa v.v Như vậy, nếu như khái niệm thủ tục thể hiện nội hàm phổ thông, bao quát, thì khái niệm thủ tục TTHS với ngữ nghĩa cụ thể và phong phú hơn khi đề cập đến trình tự, cách thức giải quyết một VAHS cụ thể không chỉ bởi phải tuân thủ quy tắc do luật định sẵn mà còn biểu hiện bên ngoài bằng nghi thức phiên tòa, văn hóa pháp lý
Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là gì?
Trong Tiếng Anh động từ xét hỏi là (interrogate) có nghĩa là hỏi một cách hùng hổ hoặc cặn kẽ trong một thời gian dài; trong tiếng Pháp động từ xét hỏi là (interroger) nghĩa
là hỏi, kiểm tra, tự đặt các câu hỏi19 Theo Từ điển Tiếng Việt thì xét hỏi là một động từ chỉ “ [nhà chức trách] hỏi kĩ để phát hiện hành vi phạm pháp hoặc tìm hiểu sự thật về một vụ án v.v 20” Ở đây xét hỏi được hiểu dưới góc độ chung, có tính khái quát Với nghĩa của Từ điển cho thấy bao giờ hoạt động xét hỏi cũng phải do chủ thể có quyền hạn thực hiện Theo cách giải thích này, “xét hỏi” gắn với “hỏi kĩ”, nghĩa là xét hỏi phải công phu, tường tận để phát hiện vấn đề, phát hiện sự thật Tuy có một số đặc điểm pháp lý trong cách giải thích của Từ điển, nhưng nó không chứa đựng đầy đủ tính chất, nội dung của một khái niệm khoa học về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Trong khoa học pháp lý khái niệm thủ tục xét hỏi tại PTHSST ít được quan tâm luận giải Có thể tìm thấy quan điểm của tác giả Võ Thị Kim Oanh về khái niệm thủ tục xét hỏi tại PTHSST như sau: “Xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự là một việc điều tra công khai dựa trên cơ sở kết luận điều tra và bản cáo trạng nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ
án, đồng thời có ý nghĩa giáo dục ý thức pháp luật cho quần chúng, giúp mọi người nâng cao tinh thần cảnh giác phòng ngừa tội phạm”21 Ở đây nội hàm “cuộc điều tra công khai” được hiểu là việc tiếp tục làm rõ chứng cứ tại phiên tòa một cách công khai, trước sự chứng kiến của nhiều người Hiểu rộng ra, việc áp dụng thủ tục xét hỏi tại PTHSST được thực hiện khi phiên tòa được mở công khai, chứ không phải là xử kín Có thể thấy việc sử
19 Nguyễn Văn Dương (chủ biên) (1995), Từ điển Pháp- Việt, NXB Thanh Hóa, tr 458
20 Trung tâm Từ điển học (2009), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr 1462
21 Võ Thị Kim Oanh (2011), Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí
Minh, tr.144
Trang 27dụng thuật ngữ “là một việc điều tra công khai” có thể dẫn đến hiểu không chính xác về nội hàm của khái niệm thủ tục xét hỏi tại PTHSST, rằng xét hỏi là hoạt động tiếp tục điều tra thu thập chứng cứ tại phiên tòa Vì các thủ tục tố tụng tại PTHSST cơ bản đó hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ trên cơ sở tài liệu đã được tập hợp trong hồ sơ vụ án Xét đến khía cạnh khác ở khái niệm nêu trên, nếu hoạt động xét hỏi chỉ dựa trên cơ sở của bản kết luận điều tra và bản cáo trạng thì chưa đủ Bởi vì vốn dĩ xét hỏi phải dựa vào chứng cứ, đi đôi với đánh giá, kiểm tra, kết luận về chứng cứ, không những có trong hồ
sơ mà còn do các bên xuất trình tại phiên tòa Bên cạnh đó nội hàm của khái niệm này chưa khẳng định được là một thủ tục TTHS, mục đích của xét hỏi là nhằm làm rõ, kiểm tra chứng cứ, được tiến hành bởi các chủ thể nhất định
Khái niệm thủ tục xét hỏi tại PTHS được tác giả Phạm Đình Thanh tiếp cận như sau: “Xét hỏi tại phiên tòa hình sự là một thủ tục xét hỏi do hội đồng xét xử, kiểm sát viên
và những người khác theo quy định của pháp luật thực hiện tại phiên tòa hình sự bằng cách hỏi trực tiếp bị cáo và những người tham gia tố tụng khác và bằng một số hoạt động cần thiết khác nhằm thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ một cách công khai nhằm góp phần vào việc xác định sự thật của vụ án”22
Việc tiếp cận khái niệm xét hỏi dưới góc độ là một thủ tục TTHS vừa nêu là hợp
lý Đồng thời ở khái niệm này với điểm mới là coi hoạt động xét là việc đặt câu hỏi trực tiếp của chủ thể có thẩm quyền; xét hỏi bao gồm hỏi trực tiếp và có các hoạt động khác như thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ Cách tiếp cận ở khía cạnh này là hợp lý, bởi
vì hoạt động xét hỏi là việc các chủ thể muốn nắm bắt thông tin của người được hỏi, do
đó phải trên cơ sở đặt câu hỏi và sự trả lời thì chủ thể có quyền hỏi mới đạt được mục đích Việc đặt câu hỏi này với tính chất trực tiếp Thủ tục xét hỏi theo quy định của BLTTHS bao cả việc xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, việc công bố tài liệu trong quá trình điều tra Do vậy khái niệm nêu trên cho rằng hoạt động xét hỏi bao gồm “bằng một
số hoạt động cần thiết khác nhằm thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ một cách công khai” là có cơ sở lý luận Tuy nhiên ở đây có sự nhầm lẫn khi cho rằng hoạt động thu thập
22 Phạm Đình Thanh (2011), Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật
Hà Nội, tr 9-10
Trang 28chứng cứ tại phần xét hỏi Vì xét hỏi ở PTHS ở nước ta với mục đích chính là để thẩm tra, đánh giá chứng cứ Các hoạt động khác như xem xét địa điểm phạm tội, vật chứng, vật thể của vụ án, công bố tài liệu, cũng là hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ đã thu thập được trong giai đoạn điều tra, truy tố mà thôi
Khái niệm thủ tục xét hỏi tại PTHSST được tác giả Đỗ Văn Thinh xây dựng với nội hàm của nó như sau: “Thủ tục xét hỏi là một thủ tục chính và quan trọng của phiên tòa
sơ thẩm, trong đó Tòa án cùng các bên tranh tụng xem xét, kiểm tra các chứng cứ của bên buộc tội thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như các chứng cứ do bên bào chữa đề xuất được Tòa án chấp nhận nhằm làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện khách quan của vụ án”23
Khái niệm này đã hợp lý khi coi xét hỏi là một thủ tục TTHS có vị trí trọng tâm trong giai đoạn xét xử, được thực hiện bởi Tòa án, các bên buộc tội và bào chữa Khái niệm này đã phản ánh được các chức năng cơ bản của tố tụng và việc xét hỏi gắn liền với việc xuất trình chứng cứ Ở các khía cạnh này là hợp lý, bởi vì thủ tục xét hỏi và tranh luận có vị trí trọng tâm, quan trọng của PTHSST, và xét hỏi là lúc bên buộc tội, bào chữa
và cơ quan xét xử thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình tại phiên tòa Do đó các chức năng cơ bản của tố tụng được bộc lộ Xét hỏi với mục đích làm rõ chứng cứ, kiểm tra chứng và thường gắn liền với việc xuất trình chứng cứ để chứng minh Tuy nhiên hạn chế gặp phải ở khái niệm này là chưa nêu được thuộc tính công khai của hoạt động xét hỏi; đối tượng bị xét hỏi là ai v.v Bên cạnh đó còn thấy hạn chế chung của các khái niệm nêu trên là không mở rộng quyền xét hỏi trực tiếp của bị cáo và người tham gia tố tụng khác, các hoạt động khác trong thủ tục xét hỏi chưa được phản ánh đầy đủ trong nội hàm khái niệm
Chúng ta biết rằng, thủ tục TTHS được xác lập là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng giải quyết vụ án hình sự Do mỗi vụ việc thường khác nhau nên pháp luật quy định các thủ tục khác nhau tương ứng Tuy thế trong rất nhiều thủ tục tố tụng lại được đặt trong từng giai đoạn khác nhau, và theo quy luật trong cái riêng
23 Đỗ Văn Thinh (2006), Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Luận văn Thạc sĩ Luật học- Trường Đại học
luật TP Hồ Chí Minh, tr 23
Trang 29đều có cái chung Theo cơ sở pháp lý và từ hoạt động thực tiễn cho thấy hoạt động xét hỏi tại PTHSST có các đặc thù, đó là:
Thứ nhất, xét hỏi là một thủ tục TTHS ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, được tiến hành bởi các chủ thể tiến hành xét hỏi và đối tượng bị xét hỏi Về chủ thể xét hỏi tại PTHSST
có thể phân loại, gồm: (1) chủ thể tiến hành xét hỏi trực tiếp là HĐXX, KSV và người bào chữa; (2) chủ thể có quyền đề nghị xét hỏi (có thể gọi là xét hỏi gián tiếp) bao gồm người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng; (3) đối với bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vừa là chủ thể có quyền đề nghị xét hỏi vừa
là đối tượng bị xét hỏi
Thứ hai, trình tự, phạm vi và nội dung xét hỏi của của các chủ thể tiến hành xét hỏi
là khác nhau Điều này phụ thuộc vào chức năng buộc tội, do đó KSV thông thường hỏi tình tiết vụ án có tính chất buộc tội (một số trường hợp hỏi để gỡ tội); người bào chữa thực hiện chức năng bào chữa do đó hỏi những tình tiết vụ án có tính chất gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; người bảo vệ quyền lợi của đương sự hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong vụ án; Tòa án thực hiện chức năng xét xử, do đó HĐXX hỏi để kiểm tra, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện Theo quy định của BLTTHS, Tòa án được thực hiện nhiều hoạt động TTHS ngoài chức năng xét xử, do đó về trình tự, phạm vi, nội dung xét hỏi của HĐXX và các chủ thể khác cũng
bị ảnh hưởng bởi quyền hạn tố tụng ấy
Thứ ba, thủ tục xét hỏi được tiến hành sau khi kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa và được kết thúc khi chủ thể tiến hành xét hỏi nhận thấy các tình tiết vụ án đã được xem xét đầy đủ và người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng không còn yêu cầu chủ tọa phiên tòa hỏi thêm vấn đề gì khác; cũng như nếu qua tranh luận và khi nghị án HĐXX xét thấy không cần phải trở lại xét hỏi vì chứng cứ đã được xem xét đầy đủ
Thứ tư, việc xét hỏi có tính chất công khai, bởi vì phiên tòa được mở công khai trước sự chứng kiến của nhiều người (trừ một số ít xử kín), và để thực hiện nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai
Trang 30Qua phân tích trên, tác giả đề xuất xây dựng khái niệm khoa học về thủ tục xét hỏi tại PTHSST như sau: Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là một thủ tục tố tụng được thực hiện bởi Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác theo trình tự quy định của pháp luật, thông qua đặt câu hỏi và thực hiện các hoạt động khác nhằm kiểm tra, đánh giá chứng cứ một cách công khai, bình đẳng để làm
rõ các tình tiết, sự thật khách quan của vụ án hình sự
1.1.2 Khái niệm thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Trong Tiếng Anh động từ tranh luận là (argument), nghĩa là lí lẽ, luận cứ, cãi nhau; trong tiếng Pháp động từ tranh luận là (débattre), có nghĩa là thảo luận, bàn cãi24 Theo Từ Điển Tiếng Việt “tranh luận” đồng nghĩa với “tranh cãi” có nghĩa là “bàn cãi để tìm ra lẽ phải”25 Hiểu theo Từ Điển Luật học thì “tranh luận là một hoạt động tố tụng của những người tham tố tụng tại phiên tòa”26 Ở đây là cách hiểu phổ thông nhất về tranh luận, bao giờ cũng tồn tại nội hàm cơ bản của tranh luận là sự đối kháng nhau trong lập luận để tìm
ra lẽ phải Tuy có dấu hiệu pháp lý chung của tranh luận- là một hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng, song nó không chứa đựng đầy đủ tính chất, nội dung của hoạt động tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Trong khoa học pháp lý khái niệm thủ tục tranh luận tại PTHSST ít được quan tâm nghiên cứu, có thể tiếp cận khái niệm thủ tục tranh luận tại PTHSST của tác giả Nguyễn Thái Phúc như sau: “Tranh luận là một thủ tục, một phần độc lập của phiên tòa hình sự sơ thẩm, trong đó các bên buộc tội và bào chữa thông qua trình bày bằng lời nói của mình tổng hợp và đánh giá kết quả phần xét hỏi, phân tích và đánh giá các chứng cứ của vụ án, đưa ra những đánh giá chính trị- xã hội và đánh giá pháp lý đối với các hành vi của bị cáo
bị truy tố, đề nghị hình phạt, mức hình phạt cùng những vấn đề liên quan mà Tòa án phải giải quyết khi nghị án”27
24 Viện ngôn ngữ học (2001), Từ Điển Pháp Việt, NXB TP Hồ Chí Minh, tr.427
25 Trung tâm Từ Điển học (2009), Từ Điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.1314
26 Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, NXB Từ điển Bách khoa- NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 807
27 Nguyễn Thái Phúc (2003), “Vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên và thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm”,
Tạp chí Kiểm sát (09), tr 18
Trang 31Có thể thấy khái niệm thủ tục tranh luận tại PTHSST nêu trên đã hợp lý khi cho rằng tranh luận là một thủ tục TTHS độc lập, do các bên buộc tội và bào chữa thực hiện Tranh luận chủ yếu xảy ra giữa các bên buộc tội và bào chữa, nhưng trên phương diện thực tiễn tại PTHSST ở nước ta tranh luận có trường hợp chỉ là bên buộc tội với bị cáo hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án, mà không có sự tham gia của bên bào chữa Đó là trong trường hợp VAHS không có người bào chữa, vụ án tiến hành xét xử vắng mặt người bào chữa Trường hợp này bị cáo tự mình thực hiện quyền bào chữa, thực hiện việc tranh luận thông qua trình bày ý kiến bào chữa, đối đáp với Kiểm sát viên Bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không phải là một bên bào chữa mà đó là người tham gia tố tụng thực hiện quyền bào chữa của mình do pháp luật quy định Như vậy hạn chế của khái niệm nêu trên là bó hẹp chủ thể tham gia tranh luận Điểm hạn chế khác là ở khái niệm nêu trên còn mang tính liệt kê, thiếu cô đọng của một khái niệm khoa học Bên cạnh đó, nếu như cho rằng tranh luận chỉ thông qua trình bày bằng lời nói và đánh giá kết quả phần xét hỏi là chưa đủ, mà bản chất của tranh luận đó là việc đưa ra lý
lẽ, lập luận để bảo vệ quan điểm của mình
Nghiên cứu về thủ tục tranh luận tại PTHSST, tác giả Nguyễn Văn Toản cho rằng:
“Tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là một thủ tục, một phần độc lập của phiên tòa hình sự sơ thẩm trong đó kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia
tố tụng khác đưa ra những quan điểm, lý lẽ của mình về các chứng cứ, tình tiết của vụ án, đối đáp lại phía có quan điểm đối lập nhằm thuyết phục hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của mình”28;
Tác giả Đặng Thị Giao cũng đã xây dựng khái niệm thủ tục tranh luận khá tương đồng với khái niệm nêu trên, đó là: “Tranh luận tại phiên tòa hình sự là một thủ tục (một phần) bắt buộc của phiên tòa hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm), trong đó các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các chứng cứ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ tại phần xét hỏi và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan
28 Nguyễn Văn Toản (2011), Tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm”, Luận văn Thạc sĩ luật học- Học viện Khoa
học xã hội, tr.23
Trang 32điểm của mình và bác bỏ quan điểm của bên đối lập về hướng giải quyết các vấn đề trong
vụ án giúp cho Hội đồng xét xử ra phán quyết về vụ án đúng pháp luật”29
Ở khái niệm của tác giả Nguyễn Văn Toản đã khẳng định được thuộc tính bắt buộc của thủ tục tranh luận tại PTHSST, với các chủ thể tham gia tranh luận không chỉ là bên buộc tội, bào chữa mà còn có bị cáo và người tham gia tố tụng khác Nội hàm của các khái niệm đều chứa đựng tính chất của cuộc tranh luận là việc các bên đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các chứng cứ, tình tiết vụ án đã được làm rõ tại phần xét hỏi; mục đích tranh luận là các bên, bị cáo và người tham gia tố tụng thuyết phục HĐXX chấp nhận
ý kiến của mình Trong đó cần làm rõ hơn về mặt lý luận và thực tiễn của việc các bên đưa ra quan điểm, lập luận của mình về chứng cứ đã được làm rõ trong thủ tục xét hỏi trước đó Nghĩa là quan điểm, lập luận phải trên cơ sở chứng cứ đã được Tòa án chấp nhận và đưa ra xem xét tại phiên xét hỏi, không được tranh luận đối với những chứng cứ không liên quan đến vụ án, chưa được làm rõ trong phần xét hỏi Nếu chứng cứ, tình tiết
vụ án chưa được làm rõ thì HĐXX có thể quyết định trở lại việc xét hỏi, xét hỏi xong quyết định tranh luận trở lại Như vậy việc tranh luận của các bên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác phải dựa trên chứng cứ đã được làm rõ trước đó ở phần xét hỏi; thủ tục tranh luận dù độc lập với thủ tục xét hỏi, nhưng nội dung tranh luận phải phụ thuộc vào việc chứng cứ đã được đưa ra xem xét trong phần xét hỏi Cần thấy rằng, mục đích cuối cùng của cuộc tranh luận không chỉ là thuyết phục HĐXX chấp nhận ý kiến của mình mà
là lẽ phải được sáng tỏ; các bên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không những đưa
ra quan điểm, lý lẽ đối đáp lẫn nhau mà còn đi đôi với hoạt động yêu cầu, đề nghị30 Ví dụ như bên bào chữa đề nghị mức hình phạt ở mức thấp nhất, yêu cầu KSV rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố v.v
Chúng ta biết rằng PTHSST là nơi VAHS lần đầu được đưa ra xét xử Thủ tục tranh luận được tiến hành công khai, dưới sự chứng kiến của nhiều người, nó có tính bắt buộc và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình xét xử một vụ án Các quan điểm
Trang 33khác nhau của các bên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác sẽ giúp HĐXX có thể xác định được đầy đủ và toàn diện hơn các tình tiết của vụ án Thông qua thủ tục tranh luận người tham gia tố tụng có điều kiện đưa ra các yêu cầu, đề xuất, kiến nghị để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tính chất, đặc thù của hoạt động tranh luận đó là việc đưa ra lý lẽ, quan điểm của các bên Lý lẽ, quan điểm của các bên buộc tội và bào chữa thường là phản bác lẫn nhau (vẫn có trường hợp các bên thống nhất quan điểm với nhau khi đánh giá, kết luận về chứng cứ, tình tiết vụ án và đề xuất với HĐXX), nhưng ở
đó thể hiện sự bình đẳng và khả năng thuyết phục HĐXX đồng tình với quan điểm của mình Thực tế cho thấy, bên bào chữa không những chỉ thuyết phục HĐXX đồng ý với quan điểm bào chữa của mình mà không ít trường hợp còn thuyết phục KSV trong việc kết luận làm giảm nhẹ tội Ví dụ như người bào chữa đề nghị KSV rút quyết định truy tố
Về mặt hạn chế khác, đó là các khái niệm nêu trên về thủ tục tranh luận tại PTHSST còn chưa nhìn nhận được vai trò của chủ tọa phiên tòa trong việc điều khiển phiên tranh luận Bởi vì hoạt động tranh luận không thể tách rời sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa, điều này xuất phát từ thủ tục tố tụng và thực tiễn ở PTHSST ở nước ta, cũng như nhiều nước trên thế giới cho thấy vai trò của chủ tọa phiên tòa trong việc dẫn dắt phiên tranh luận là rất quan trọng Hoạt động của chủ tọa phiên tòa có thể ảnh hưởng, chi
phối đến phiên tranh luận và đến cả người tham gia tố tụng tại phiên tòa
Theo cơ sở pháp lý và từ hoạt động thực tiễn cho thấy hoạt động tranh luận tại PTHSST có các đặc thù, đó là:
Thứ nhất, tranh luận là một thủ tục TTHS được tiến hành bởi các chủ thể tiến hành tranh luận, bao gồm chủ thể của bên buộc tội, bên bào chữa và người tham gia tố tụng Tuy nhiên hoạt động tranh luận không phải lúc nào cũng đầy đủ các chủ thể tiến hành tranh luận
Thứ hai, chủ tọa phiên tòa làm nhiệm vụ điều khiển phiên tranh luận và chỉ được can thiệp vào quá trình tranh luận trong trường hợp nhất định do pháp luật giới hạn
Thứ ba, tranh luận có tính chất công khai, bình đẳng và không bị hạn chế về thời gian
Trang 34Thứ tư, ý kiến được đưa ra tranh luận phải liên quan đến vụ án và phải dựa vào chứng cứ đã được làm rõ trong phần xét hỏi
Thứ năm, tranh luận dù có lúc thể hiện sự đồng tình của các bên tham gia tranh tụng, nhưng nó biểu hiện tính đối tụng và khẳng định địa vị pháp lý của chủ thể tham gia
tố tụng; nó còn hàm chứa sự mâu thuẫn, đối lập về quyền lợi, và thường đi kèm với những lời đề nghị, yêu cầu của bên bào chữa, của bị cáo và người tham gia tố tụng khác
Qua việc đánh giá, phân tích như trên, tác giả đề xuất xây dựng khái niệm khoa học về thủ tục tranh luận tại PTHSST như sau: Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là một thủ tục tố tụng bắt buộc, dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa, các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đưa ra quan điểm, lập luận có căn cứ của mình về các chứng cứ, tình tiết của vụ án đã được làm rõ tại phần xét hỏi và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
1.2 Mục đích và ý nghĩa của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
1.2.1 Mục đích của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Mục đích chung của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST là nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho tất cả các chủ thể khi tham gia TTHS; nó còn góp phần bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự Bởi vì thủ tục xét hỏi và tranh luận có vị trí trọng tâm trong các thủ tục xét xử Qua xét hỏi để kiểm tra, làm rõ chứng cứ, giúp cho việc giải quyết VAHS khách quan, toàn diện Nếu xảy ra vi phạm trong xét hỏi, tranh luận ở mức vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì HĐXX phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để cấp xét xử sơ thẩm xét xử lại
Hiến pháp nước ta quy định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh31 Hoạt động TTHS có tính nhạy cảm, dễ ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng thủ tục TTHS một cách chặt chẽ, tránh lạm quyền và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can bị
31 Điều 14, Điều 16 Hiến pháp năm 2013
Trang 35cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội32 Vì thế mục đích của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST ở khía cạnh này không những là tạo điều kiện cho người bị buộc tội chứng minh là mình vô tội hoặc để làm giảm nhẹ tội, mà quan trọng hơn
là lúc các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trách nhiệm chứng minh sự vô tội cho người bị buộc tội Thế nhưng, việc áp dụng các thủ tục TTHS vừa khó, vừa có tính nhạy cảm, do đó cơ quan tiến hành tố tụng hay bị mắc sai lầm, vi phạm, thậm chí là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Do đó quá trình tiến hành tố tụng đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải triệt để tôn trọng quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, phải luôn nhận thức rằng người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật33
Về mục đích cụ thể của thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST biểu hiện:
Một là, mục đích của thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm:
Về hình thức, quy định thủ tục xét hỏi tại PTHSST phản ánh đặc điểm mô hình TTHS của nước ta đang áp dụng
Về kết quả: Mục đích của xét hỏi cơ bản là để làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh trong VAHS, làm rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án; là lúc Tòa án thẩm tra, đánh giá chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, với một tập hợp tài liệu có hệ thống trong hồ sơ vụ án Cùng
là lúc kiểm tra thông tin, sự kiện pháp lý đã xảy ra
Có nhiều ý kiến cho rằng thủ tục xét hỏi là quá trình tiếp tục điều tra của Tòa án, nhưng thiết nghĩ nên gọi đó chỉ là quá trình thẩm tra tính hợp pháp của chứng cứ, tài liệu, kiểm tra lại sự kiện pháp lý đã xảy ra thì thuyết phục hơn Bởi vì kết quả điều tra được phản ánh khá đầy đủ trong hồ sơ, Tòa án chỉ nghiên cứu và kiểm tra tính hợp pháp của nó, thông qua hoạt động tranh tụng để đưa ra kết luận Xét khía cạnh khác, nếu thủ tục xét hỏi thực hiện không tốt thì có thể xảy ra hậu quả là không giải quyết được uẩn khúc oan sai,
32 Điều 10 BLTTHS, Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
33 Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và Điều 31 Hiến pháp năm 2013 chứa đựng nguyên tắc suy đoán vô tội Đây là các cơ sở để bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong pháp luật tố tụng hình sự
Trang 36do quá trình điều tra thiếu sót hoặc có vi phạm pháp luật; hoặc phiên xét xử đã qua thủ tục tranh luận nhưng phải quay trở lại thủ tục xét hỏi một cách đáng lẽ không nên có Mục đích khác của hoạt động xét hỏi rất quan trọng đó là nó biểu hiện tính công khai trong việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án
Hai là, mục đích của thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm:
Về hình thức, trong tranh luận tại PTHSST các chức năng cơ bản của TTHS được thể hiện rõ nét nhất; phản ánh sự bình đẳng của các bên tham gia tranh tụng; và để thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm- một trong những nguyên tắc đột phá, lần đầu được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Về kết quả: hoạt động tranh luận để làm sáng tỏ các tình tiết vụ án; các bên tham gia tranh luận được tạo cơ hội, điều kiện đưa ra quan điểm, đối đáp lẫn nhau để làm sáng
tỏ chân lý vụ án Là lúc người tham gia tố tụng công khai bày tỏ quan điểm liên quan đến việc giải quyết vụ án Nó còn giúp cho việc đánh giá chứng cứ xác thực hơn và HĐXX xác định bị cáo phạm tội gì, áp dụng khung hình phạt nào là phù hợp, thiệt hại do tội phạm gây ra cho bị hại và xã hội như thế nào; cũng như nhiều trường hợp thông qua tranh luận đã phát hiện tội phạm, hành vi phạm tội đã bị bỏ lọt trong quá trình điều tra, truy tố
Về giáo dục xã hội: hoạt động tranh luận là lúc thể hiện quan điểm chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với công dân; là lúc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, giáo dục ý thức đạo đức xã hội
1.2.2 Ý nghĩa của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Việc xét xử VAHS như thế nào để bảo đảm nghiêm minh và sự công bằng xã hội
là mục tiêu cơ bản mà các nền tư pháp hình sự của các nhà nước văn minh trên thế giới mong muốn
C Mác và Ăng- Ghen đã khái quát thành chân lý về việc xét xử công bằng, đúng người đúng tội, rằng “Các vị không thể nào buộc được chúng tôi tin có sự phạm tội ở nơi không có sự phạm tội, - các vị chỉ có thể biến bản thân sự phạm tội thành một hành vi pháp lý mà thôi Các vị đã xóa nhòa ranh giới, nhưng các vị sẽ nhầm nếu như các vị nghĩ rằng điều đó chỉ đem lại lợi ích cho các vị Nhân dân nhìn thấy sự trừng phạt, nhưng không nhìn thấy sự phạm tội, và chính vì nhân dân nhìn thấy sự trừng phạt ở nơi không có
Trang 37sự phạm tội, cho nên nhân dân cũng không còn nhìn thấy sự phạm tội ở nơi có sự trừng phạt nữa”34 Về vấn đề này, tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rất coi trọng về công tác xét xử phải đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh theo pháp luật Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1948, Người viết: “Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”, cho nhân dân noi theo”35 Người rất không hài lòng trước việc pháp luật của ta không được thực hiện nghiêm minh, xét xử thiếu công bằng, “thưởng có khi quá rộng mà phạt thì không nghiêm”, lẫn lộn giữa công và tội Theo Người thì có công thì được thưởng, có lỗi thì phải phạt36
Như vậy không còn nghi ngờ gì nữa, việc xét xử công bằng là vô cùng quan trọng, một trong những yếu tố mang bản chất nhà nước Ở đây nói riêng về ý nghĩa của việc xét hỏi và tranh luận tại PTHSST cho thấy yếu tố công bằng, bình đẳng, công khai của một phiên tòa có tác động tích cực đến xã hội, đến thể chế nhà nước Nếu xét hỏi, tranh luận phiến diện sẽ dẫn đến tuyên án dễ bị lệch lạc, gây ra oan sai
Trong hoạt động xét xử tại PTHSST, hoạt động xét hỏi và tranh luận có vị trí trung tâm, cũng là quan trọng nhất để xác định sự thật khách quan của vụ án Ở đó việc hỏi và trả lời được diễn ra công khai, việc đưa ra lý lẽ, lập luận, đối đáp dân chủ, bình đẳng tại phiên tòa tạo điều kiện cho người tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Nếu xét hỏi tại PTHSST tạo cơ sở cho hoạt động tranh luận tiếp theo thuận lợi, thì hoạt động tranh luận lại tạo điều kiện cho việc nghị án và tuyên án có cơ sở pháp lý và cơ
sở thực tiễn Ở xét hỏi có tác dụng thẩm tra chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra một cách toàn diện và làm sáng tỏ mọi tình tiết của vụ án Ở tranh luận, các chức năng cơ bản của TTHS được phát huy tích cực nhất Sự tranh tụng bình đẳng sẽ tạo lợi thế cho bị cáo và người tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích của mình Về phía chủ thể cơ quan và người có thẩm quyền thực thi công vụ có điều kiện nhân danh nhà nước thực thi công lý, bảo vệ nền pháp chế
34 Nhà Xuất bản Sự Thật (1978), C.Mác- PH Ăng Ghen toàn tập (Tập 1), Hà Nội, tr 167
35 Nhà Xuất bản Chính trị Quốc Gia (1995), Hồ Chí Minh Toàn tập, Hà Nội, tr 381-382
36 Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh (2003), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, tr 277
Trang 38Qua thực tiễn xét hỏi, đặc biệt là tranh luận là lúc cơ quan tiến hành tố tụng có thể phát hiện căn cứ pháp luật TTHS và pháp luật hình sự còn bất cập, hạn chế, để có phương hướng, đề xuất cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện về mặt quy phạm Qua hoạt động xét hỏi, tranh luận đã không ít trường hợp Tòa án phát hiện được sơ hở, thiếu sót trong việc quản lý kinh tế, xã hội của cơ quan nhà nước khác dẫn đến tội phạm và vi phạm pháp luật,
mà Tòa án xét thấy cần phải kiến nghị yêu cầu khắc phục, sửa chữa
Phiên tòa hình sự sơ thẩm là nơi vụ án được đưa ra xét xử lần đầu, hoạt động xét hỏi, tranh luận còn có ý nghĩa giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho những người tham gia phiên tòa và trong quần chúng nhân dân (đặc biệt là các phiên tòa lưu động); có tác dụng phòng ngừa tội phạm37 Rõ rệt nhất là trong bản luận tội do KSV trình bày bắt buộc phải
có nội dung tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho bị cáo
Và cuối cùng, thủ tục hỏi- đáp trong phần xét hỏi, đối đáp trong phần tranh luận giúp cho phiên tòa sinh động; để người tham dự phiên tòa tận mắt tai nghe sự thật của vụ việc, hành vi phạm tội như thế nào, tội phạm bị trừng trị ra sao
1.3 Cơ sở xác định thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên toà hình sự sơ thẩm
1.3.1 Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam với yêu cầu cải cách tư pháp
Ở Việt Nam thời kỳ 1945- 1975 mô hình TTHS của chúng ta được áp dụng khác nhau ở hai miền38 Miền Bắc áp dụng theo mô hình TTHS của Liên Xô, miền Nam áp dụng theo mô hình TTHS của Pháp chứ không theo mô hình TTHS của Mỹ Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003 ra đời định hình chính thức mô hình TTHS của nước
38
Tham khảo thêm cuốn Bộ Hình sự- Tố tụng Việt Nam cộng hòa, Tối cao Pháp viện xuất bản năm 1973, in tại Sài gòn Ấn Quán, 35- Nguyễn Đình Chiểu- Sài gòn
39 Về mô hình TTHS thẩm vấn tham khảo thêm tác giả: Lương Thị Mỹ Quỳnh (2010), “Tìm hiểu mô hình tố tụng
thẩm vấn và những kiến nghị hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam” trong cuốn Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, sách chuyên khảo do Võ Thị Kim Oanh (chủ biên), NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 203; và tác giả Lê Tiến Châu (2009), Chức năng xét xử trong TTHS Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội.
Trang 39quan điểm cho rằng mô hình TTHS nước ta là mô hình TTHS pha trộn (hoặc còn gọi là
mô hình TTHS kết hợp) và đề xuất hướng tới phải xây dựng mô hình TTHS pha trộn40
Có tác giả còn gọi mô hình TTHS Việt Nam là mô hình “bán tranh tụng”41… Theo chiều dài lịch sử pháp lý để tìm hiểu có hay không mô hình TTHS “pha trộn”? Trước hết, trong cuốn “Chuyên đề về: Tư pháp hình sự so sánh” do Bộ Tư pháp ấn hành năm 1999 đã dẫn chứng so sánh, phân tích rất tỉ mỉ các loại hình tố tụng được các quốc gia trên thế giới áp dụng, theo đó chỉ có hai loại hình tố tụng đặc trưng là mô hình tố tụng thẩm vấn (còn gọi
là mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm) và mô hình tố tụng tranh tụng (còn gọi là mô hình
tố tụng công bằng) và chỉ cho rằng hai loại hình tố tụng đó ảnh hưởng, tiếp thu lẫn nhau,
mà không tồn tại mô hình tố tụng “pha trộn” có các đặc trưng riêng có Các chuyên khảo nước ngoài cũng không cho rằng có đặc trưng riêng biệt của loại hình tố tụng “pha trộn”42, mà chỉ tồn tại hai loại hình tố tụng như đã đề cập, nó có sự ảnh hưởng, tiếp thu, học hỏi lẫn nhau để tận dụng lợi thế của nhau mà thôi Mặt khác, trong quá trình phát triển của pháp luật TTHS nước ta ở từng thời điểm khác nhau có sự tiếp thu một số quy định chứa đựng yếu tố tranh tụng, nhưng mô hình TTHS nước ta vẫn đậm nét là mô hình TTHS thẩm vấn, chứ không phải là mô hình TTHS “pha trộn” như nhiều quan điểm khoa học pháp lý trong nước đã thể hiện sự nhầm lẫn Điều này cho phép chúng tôi đi đến kết luận rằng chỉ tồn tại hai loại hình tố tụng trên thế giới mà thôi Để chính xác thì chúng ta không thể gọi là “mô hình tố tụng pha trộn” Và cũng không thể cho rằng do có sự giao thoa giữa các nền pháp luật trên thế giới trong những năm gần đây đã làm xuất hiện mô hình tố tụng “hỗn hợp” Điều này được minh chứng qua kết quả nghiên cứu của tác giả K.Ph Gusencơ43 (với cách nhìn khác về lịch sử pháp lý) khi cho rằng mô hình TTHS có
sự ảnh hưởng, tiếp thu lẫn nhau xuất hiện từ năm 1808, với cơ sở pháp lý đầu tiên là
40 Nguyễn Thái Phúc (2007), “Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí khoa
học pháp lý, (05)
41 Nguyễn Đức Mai (2009), “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng
hình sự Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (22)
42Tham khảo thêm tác giả Craig M Bradley, Criminal Procedure A Worldwide Study, Carolina Academic Press, Durham- North Carolina, year 2007; tác giả Hiroshi Oda, Japanese Law, Oxpord University Press, New York 2009; các tác giả Joseph D Grano và Leslie W.Abramson, Problems in Criminal Procedure, (second edition), ST Paul,
minn, West Publishing Co 1981 (2 nd Reprint-1988).v.v.
43 K Ph Gusencơ (2000), Giáo trình luật tố tụng hình sự, NXB Zer-ca-lơ, Matxcơva, tr.19- 20, (bản tiếng Nga).
Trang 40BLTTHS Pháp năm 1808 Sau đó phát triển rộng ra ở châu Âu lục địa là Đức, Áo, Bỉ, Đan Mạch, Nga, Hà Lan Trong đó ở Đức được áp dụng từ năm 1848 bằng việc đưa vào chế độ Hội thẩm (những người xét xử không chuyên nghiệp, không ăn lương nhưng họ có kiến thức pháp luật và mong muốn cống hiến cho pháp luật Trong số những người này chuyển sang làm Thẩm phán chuyên nghiệp) Ở Nga- vào năm 1864 Nga Hoàng làm một cuộc cải cách tư pháp rộng lớn, trong mô hình TTHS bắt đầu có sự tiếp thu những đặc trưng của mô hình TTHS của Pháp Đến năm 1917 chính quyền Xô Viết thiết lập, dù tiếp tục phát triển mô hình tố tụng của mình nhưng theo đặc tính chủ nghĩa xã hội của chính quyền vô sản (có nhiều đặc điểm không còn giống mô hình TTHS Pháp và Đức)
Italia là một minh chứng điển hình cho việc chuyển đổi mô hình tố tụng Trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1989, Italia áp dụng mô hình TTHS thẩm vấn Ở
đó, thẩm phán dẫn dắt sự phát triển của vụ việc, sự can dự của công tố viên và luật sư khi tham gia tranh tụng như đưa ra câu hỏi và thẩm vấn tại phiên tòa rất hạn chế Các bên tham gia tranh tụng cố gắng tìm ra sự thật ngay tại phiên tòa và trong mô hình tố tụng thẩm vấn của Italia đã dựa trên “niềm tin nội tâm” của thẩm phán khi đưa ra các phán quyết hơn là chú trọng vào lập luận của các bên tại phiên tòa Nhận thấy những hạn chế lớn trong hoạt động TTHS như tình trạng oan, sai và lạm quyền v.v, Italia đã chuyển đổi
từ mô hình tố tụng thẩm vấn sang mô hình tố tụng tranh tụng, với hy vọng là nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân tốt hơn Thế nhưng không lâu sau quốc gia này nhận thấy sự yếu kém và vô cùng phức tạp trong hoạt động kiểm soát tội phạm và vận dụng thủ tục tư pháp hình sự, đặc biệt là thủ tục xét xử Vì vậy Italia đã quyết định quay trở lại áp dụng mô hình tố tụng thẩm vấn, với việc cải sửa nhiều thủ tục xét xử theo hướng tiếp thu các yếu tố hợp lý, tiến bộ của mô hình tố tụng tranh tụng Bộ luật tố tụng hình sự mới của Italia năm 1989 (Nuovo codice di procedura penale) (tên tiếng Anh: the New Criminal Procedure Code) là sự kết hợp chặt chẽ phương pháp đối tụng (adversarial) và phương thức thẩm vấn (inquiry) Như đánh giá của tác giả Julia Grace Mirabella44 rằng điều đó đã giúp cho nền pháp chế Italia là nền pháp chế dân luật, tiệm cận với mô hình tranh tụng
44 Julia Grace Mirabella (2012), Scales of justice: Assessing Italian criminal procedure through the Amanda Knox trial, International Law Journal, Boston University, USA, no 30, p 229- 260.