CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC XÉT HỎI VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 1.1. Khái niệm thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
1.5. Mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với nhau và với cả người tham gia tố tụng trong hoạt động xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Nếu nhƣ mối quan hệ giữa thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST là quan hệ về nội dung hoạt động tố tụng, thì mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với nhau và với cả người tham gia tố tụng là quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ do luật định tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Cụ thể:
- Mối quan hệ giữa HĐXX và Kiểm sát viên:
Mối quan hệ giữa HĐXX và KSV thể hiện trên hai bình diện là mối quan hệ phối hợp và mối quan hệ chế ƣớc:
+ Mối quan hệ phối hợp:
Mối quan hệ giữa HĐXX và KSV hiện thân nó biểu hiện mối quan hệ giữa cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành55. Hội đồng xét xử doTòa án lập ra để xét xử VAHS, KSV là người đại diện cho VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử tại phiên tòa, còn người bào chữa thực hiện việc bào chữa cho bị can, bị cáo. Trong phiên tranh tụng công khai trước tòa là lúc biểu hiện rõ rệt các chức năng cơ bản của TTHS; thể hiện vai trò, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tranh tụng. Ở khía cạnh khác, xuất phát từ thực tiễn tranh tụng phải có sự phối hợp để đạt được mục đích, hiệu quả trong công tác xét xử và nhằm hướng đến bản án đƣợc tuyên phải bảo đảm khách quan, công bằng. Trong hoạt động tranh tụng tại PTHSST đã hình thành và tồn tại hai mối quan hệ cơ bản, đó là quan hệ giữa HĐXX với KSV và giữa Hội đồng xét xử, KSV với người bào chữa. Việc nghiên cứu làm rõ hai mối quan hệ này trong hoạt động TTHS có ý nghĩa tích cực cả về mặt lý luận khoa học pháp lý và thực tiễn cải cách tƣ pháp hiện nay- đòi hỏi phải phân định rõ ràng các chức năng cơ bản của TTHS, phân định hợp lý thẩm quyền của người tiến hành tố tụng và yêu cầu phải bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật trong khi xét xử.
Viện kiểm sát nhân dân và TAND phải có trách nhiệm phối hợp với nhau để giải quyết VAHS đúng đắn, khách quan theo luật định56. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh: “Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tƣ pháp trong hoạt động tố tụng trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, không hữu khuynh hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử cần thực hiện đúng thời hạn tố tụng nhƣ luật định”57. Các cơ quan THTT không những có trách nhiệm phối hợp với nhau mà còn phải
55 Ví dụ cụ thể như TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, ngoài ra còn có nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân; VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, ngoài ra còn có nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân (đây là bổ sung mới tại Điều 102, Điều 107 Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân).
56 Điều 2 Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định Tòa án có quyền yêu cầu Điều tra viên, KSV trình bày các vấn đề
có liên quan đến vụ án tại phiên tòa. Như vậy trong trường hợp này KSV xuất hiện trước phiên tòa với tư cách như là người làm chứng cung cấp thông tin giúp cho HĐXX làm rõ tình tiết của vụ án. Đây có thể coi là nghĩa vụ của KSV, nhƣng ở đó còn thể hiện trách nhiệm phối hợp giữa Tòa án và VKS trong hoạt động tranh tụng.
57 Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời gian tới”.
phối hợp với các cơ quan nhà nước khác bằng những nội dung cụ thể, thiết thực theo quy định của Buật tố tụng hình sự năm 200358. Hình thành quan hệ phối hợp chỉ khi xảy ra việc giải quyết VAHS và dựa trên các nguyên tắc cơ bản của TTHS, trong đó là nguyên tắc xác định sự thật vụ án và nguyên tắc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan, tổ chức nhà nước có thẩm quyền. Bên cạnh đó quan hệ phối hợp còn xuất phát từ yêu cầu phải thực hiện đúng đắn thẩm quyền của cơ quan và người tiến hành tố tụng; nhu cầu hoàn thiện pháp luật, hoặc tạo ra cơ sở pháp lý đồng bộ trong việc hướng dẫn luật, hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong thực tiễn.
Có thể liệt kê những vấn đề Tòa án và VKS đã ấn định trong văn bản pháp lý để phối hợp giải quyết trong vụ án, như: các trường hợp cần họp trù bị giữa Tòa án và VKS quy định tại Thông tƣ liên tịch số 01 ngày 8/12/1988 của TANDTC, VKSNDTC; để giải quyết án trọng điểm, phức tạp theo Thông tƣ liên ngành số 01/TTLN ngày 15/10/1994 của Bộ nội vụ (nay là Bộ Công an)- VKSNDTC- TANDTC; việc cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội tại Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT- BCA- VKSNDTC- TANDTC; về phối hợp trong một số hoạt động tố tụng cụ thể tại Thông tƣ số 01/2008/TTLT- VKSNDTC- TANDTC-BQP- BCA.v.v. Ở cấp địa phương để giải quyết những vấn đề thực tiễn vướng mắc trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng coi trọng xây dựng kế hoạch liên ngành59, và họp liên ngành tƣ pháp cũng là một hình thức phối hợp linh động nhằm thống nhất giải quyết những vấn đề phức tạp trong tố tụng liên quan đến VAHS còn có nhận thức khác nhau, hoặc cần rút kinh nghiệm thủ tục tố tụng cụ thể nào đó60. Quan hệ trong hoạt động tố tụng giữa Toà án và VKS còn nhằm tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, kiến nghị hoặc yêu cầu các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm và vi phạm
58 Xem các nội dung phối hợp cụ thể tại Điều 26, Điều 27 BLTTHS.
59 Ví dụ: Kế hoạch số 01/KHLN ngày 12/7/2010 của Công an- VKSND- TAND tỉnh Bình Dương về việc phối hợp tổ chức đợt tổng kiểm kê người có án phạt tù còn ở ngoài xã hội và người đang chấp hành hình phạt ở cấp xã.
60 Ví dụ: Thông báo số 149/2009/TBLN-CAT-VKS-TA ngày 5/6/2009 về kết quả cuộc họp liên ngành Công an, Kiểm sát và Toà án tỉnh Bình Dương về việc thống nhất hướng dẫn giải quyết những vấn đề vướng mắc trong hoạt động tố tụng hình sự.
pháp luật61, cũng nhƣ phát huy tác dụng giáo dục của phiên tòa và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án62.
Ngoài ra, quan hệ phối hợp giữa HĐXX và KSV còn xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ tranh tụng tại phiên tòa: Xuất phát từ mục đích tranh tụng để tìm ra sự thật vụ án. Ví dụ cụ thể nhƣ phối hợp trong việc áp dụng các thủ tục xét xử tại phiên tòa, nhƣ KSV buộc tội bằng cách xét hỏi, đƣa ra chứng cứ, hoặc là KSV cùng HĐXX phải xem xét các yêu cầu, kiến nghị của bị cáo và người tham gia tố tụng khác đưa ra, hoặc thực hiện tranh luận với người bào chữa phải có sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa; HĐXX công bố tài liệu, vật chứng theo yêu cầu của KSV; xem xét vật chứng và nơi xảy ra tội phạm do HĐXX cùng KSV tiến hành .v.v. Hoạt động buộc tội hỗ trợ đắc lực cho chức năng xét xử là một minh chứng, và ngƣợc lại hoạt động xét xử tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động buộc tội. Biểu hiện ở hoạt động đánh giá chứng cứ, kết luận của KSV nhằm đặt nền móng cho HĐXX thực hiện hiệu quả hoạt động xét xử.
+ Mối quan hệ chế ước:
Từ điển Bách khoa Việt Nam nêu rõ: “Chế ƣớc là hạn chế, quy định trong những điều kiện nhất định”63. Có quan điểm khác khá tương đồng là, “Khái niệm chế ước có thể được hiểu như là sự tác động qua lại giữa các bên theo hướng khống chế lẫn nhau, kiềm chế sự vận động của nhau”64. Qua đây thấy rằng động từ “chế ƣớc” cho biết đó là sự tác động qua lại và kiềm chế lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tƣợng trong những điều kiện nhất định. Ở góc độ hoạt động TTHS, có thể hiểu là sự tác động qua lại giữa các hành vi tố tụng có chủ ý tạo ra mục đích rõ rệt của các chủ thể nhằm kiểm soát lẫn nhau, cơ bản là
61 Điều 8 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định VKSND có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an, Tòa án, Thi hành án, Thanh tra, Kiểm toán, các cơ quan nhà nước khác, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận để phòng, chống tội phạm có hiệu quả; xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động tƣ pháp; phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dƣỡng;
nghiên cứu tội phạm và vi phạm pháp luật.
62Điều 17 Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định TAND phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan phát huy tác dụng giáo dục của phiên tòa và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành bản án, quyết định của TAND; nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội .v.v.
63 Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội , tr. 150.
64 Đỗ Ngọc Quang (1997), Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với các cơ quan tham gia tố tụng hình sự, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 99.
nhằm tuân thủ pháp luật, tránh lạm quyền. Quan hệ phối hợp và quan hệ chế ƣớc trong hoàn cảnh cụ thể có quan hệ tương hỗ với nhau, giúp cho việc thực thi công vụ đạt mục đích vừa đúng đắn, vừa tránh lạm quyền nhƣ đã đề cập trên. Nói rộng và cụ thể hơn nó đảm bảo cho hoạt động TTHS tránh sai sót, oan sai và hữu ích trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tăng cường pháp chế. Ví dụ cụ thể như khi VKSND phát hiện hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tƣ pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân … thì VKSND phải kháng nghị, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải giải quyết kháng nghị của VKSND theo quy định của pháp luật65.
Cụ thể hơn về mối quan hệ chế ƣớc tại PTHSST đƣợc biểu hiện: KSV thực hiện việc buộc tội, nhƣng phán quyết lại thuộc về HĐXX về tội trạng và mức hình phạt .v.v. Ngƣợc lại HĐXX phán quyết phải đảm bảo đúng yêu cầu, giới hạn của xét xử, dựa trên chứng cứ khách quan được thu thập, được xuất trình đưa ra tranh tụng công khai trước tòa. Cũng có thể thấy KSV ngoài nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại tòa, còn có chức năng giám sát việc tuân thủ của HĐXX tại phiên toà.v.v.
Thiết nghĩ phải nhận thức đúng đắn rằng, quan hệ chế ƣớc giữa HĐXX và KSV phải trên cơ sở chức năng tố tụng của mỗi ngành, phải phù hợp và hỗ trợ đắc lực cho nguyên tắc tranh tụng, nhƣ nhận định: “Ở giai đoạn xét xử, tuy toà án (hoặc HĐXX) là cơ quan giữ vai trò chỉ đạo việc xét xử, là cơ quan quyết định quá trình xét xử, nhƣng VKS và Toà án lại hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi cơ quan tự chịu trách nhiệm về công việc của mình. Toà án không làm thay hay can thiệp vào công việc của VKS (Kiểm sát viên) và ngƣợc lại, VKS cũng không can thiệp vào công việc xét xử của toà án, mặc dù VKS có quyền và trách nhiệm kiểm sát hoạt động xét xử của Toà án”66.
Phân tích và dẫn chứng ở trên cho thấy: Trong quan hệ phối hợp cơ bản là để giải quyết những vướng mắc, bất cập trong hoạt động tố tụng. Trong quan hệ chế ước cơ bản là nhằm tránh lạm quyền trong việc thực hiện quyền năng tố tụng do luật định. Trong xu
65 Đây là nội dung mới quy định tại Điều 5 Luật tổ chức VKSND năm 2014- quyền kháng nghị của VKSND đƣợc gắn với mục đích bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Quyền kháng nghị là một vũ khí sắc bén để VKSND thực hiện chức năng công tố nhà nước, thực hiện sự chế ước mạnh mẽ trong hoạt động tố tụng hình sự.
66 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2006), Sổ tay Kiểm sát viên hình sự (tập I), NXB Văn hoá dân tộc, Hà nội , tr. 46.
thế cải cách tƣ pháp hiện nay, thiết nghĩ cần tiếp tục coi trọng quan hệ giữa HĐXX và KSV nói riêng, Tòa án và VKS nói chung để nhằm tháo gỡ vướng mắc, đạt được mục đích tố tụng và tránh lạm quyền. Tuy nhiên cần xây dựng mối quan hệ đó theo hướng phải bảo đảm tính độc lập, thực hiện đúng đắn chức năng cơ bản của TTHS và tăng cường hoạt động tranh tụng tại phiên xét xử sơ thẩm. Đặc biệt là ở quan hệ phối hợp cần tránh việc bao biện, thiện vị lẫn nhau giữa HĐXX và KSV, cần nhận thức và hành động đúng đắn là phối hợp nhƣng không đƣợc tùy tiện làm trái thủ tục tố tụng, thẩm quyền tố tụng của ai thì người đó làm, luật quy định đến đâu thì làm đến đó và phải chịu trách nhiệm cá nhân nếu để xảy ra vi phạm.
- Mối quan hệ giữa KSV và HĐXX đối với người bào chữa:
Mối quan hệ giữa KSV và HĐXX với người bào chữa biểu hiện ở các mặt như sau:
+ Mối quan hệ giữa KSV với người bào chữa vừa là quan hệ phối hợp vừa là quan hệ đối tụng:
Tính chất của hoạt động TTHS có tính đa chủ thể, đòi hỏi phải có sự tham gia từ phía cơ quan quyền lực công và cơ quan chuyên môn ở từng công đoạn giải quyết vụ án hình sự. Đề cập ở góc độ hẹp, KSV là người đại diện cho nhà nước hiện chức năng buộc tội, còn HĐXX thực hiện chức năng xét xử, là các chủ thể đại diện cho quyền lực công;
còn người bào chữa hoạt động mang tính chất nghề nghiệp, không nhân danh quyền lực công. Vai trò của người bào chữa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích cho người tham gia tố tụng.
Mối quan hệ giữa HĐXX và KSV đối với người bào chữa trong hoạt động TTHS nói chung, hoạt động tranh tụng tại PTHSST nói riêng đƣợc hình thành dựa trên các cơ sở pháp lý cụ thể, đó là: nhằm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng và thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo và quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm theo quy định của Hiến pháp67; ở góc độ luật TTHS cơ sở pháp lý quan trọng để hình thành quan hệ giữa HĐXX và KSV với người bào chữa là nhằm thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án, nguyên tắc bảo đảm quyền
67 Quy địnhtại Điều 30, Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
bào chữa của bị can, bị cáo quy định tại Điều 11, Điều 19 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Các cơ sở pháp lý quan trọng này đƣợc thi hành hữu hiệu trên thực tế có ý nghĩa rất tích cực trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Mặt khác nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có sự hợp tác, phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng với người bào chữa nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành, thực hiện nội dung hoạt động tố tụng, hợp tác quốc tế và trao đổi thông tin nghiệp vụ .v.v.
Biểu hiện cụ thể, đó là VKSNDTC và Liên đoàn Luật sƣ Việt Nam đã ban hành Quy chế phối hợp số 01/2011/QCPH/VKSNDTC ngày 14/4/2011; ở địa phương, ngày 27/1/2015 Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Thuận đã ban hành Quy chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với Đoàn Luật sƣ tỉnh và ngày 26/5/2015 Sở Tƣ pháp tỉnh Đồng Nai chủ trì Hội nghị ký kết Quy chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với Đoàn Luật sƣ tỉnh trong các giai đoạn tố tụng hình sự. Theo đó, nội dung phối hợp chủ yếu là cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức TAND năm 2014, Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Luật Luật sƣ năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2012). Các quy chế phối hợp nêu trên còn đặt ra những nguyên tắc, phương pháp thực hiện các hoạt động nghiệp vụ cụ thể của mỗi chủ thể để tháo gỡ vướng mắc, đạt đƣợc sự thuận lợi nhất định.
Riêng về mối quan hệ giữa HĐXX và KSV đối với người bào chữa tại PTHSST biểu hiện cụ thể: Tại phiên tòa, pháp luật quy định cho người bào chữa các quyền năng tố tụng có tính độc lập so với KSV, đó là họ có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, bao gồm cả KSV, vì người bào chữa cho rằng nếu để KSV tham gia phiên tòa vụ án sẽ không khách quan, gây bất lợi cho họ; người bào chữa đề nghị triệu tập thêm người làm chứng và đƣa ra các yêu cầu, kiến nghị khác, ví dụ nhƣ đƣa ra chứng cứ để HĐXX xem xét mà không phụ thuộc vào KSV có chấp nhận hay không.
Trong phần thủ tục xét hỏi, KSV và người bào chữa đều được tham gia xét hỏi liên quan đến việc buộc tội, bào chữa và liên quan đến việc giải quyết vụ án; đƣợc đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm những tình tiết cần làm sáng tỏ trong vụ án, trình bày nhận xét của mình về chứng cứ của vụ án đƣợc đƣa ra xem xét tại phiên tòa .v.v. Ở phần tranh luận, nếu như KSV luận tội và bảo vệ quan điểm truy tố, thì người bào chữa được đưa ra