2.3.1. Những kết quả đạt được
- Về mặt lập pháp: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đƣợc ban hành đến nay đã hơn 12 năm- đây là một bộ luật tốt; là công cụ đấu tranh, phòng ngừa tội phạm hữu hiệu của nhà nước ta. Góp phần bảo vệ pháp chế nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân. Cụ thể hơn:
Một là, quy định của BLTTHS về thủ tục xét xử nói chung, xét hỏi và tranh luận tại PTHSST nói riêng giúp cho cán bộ làm công tác thực tiễn chuyển biến tích cực về mặt nhận thức về đổi mới phiên tòa và tăng cường tính tranh tụng; hoạt động truy tố của VKS và hoạt động xét xử sơ thẩm của TAND ngày càng đƣợc nâng lên cả về số lƣợng và chất lượng. Hoạt động tranh tụng tại PTHSST diễn ra theo hướng ngày càng dân chủ, cởi mở hơn. Bản án đƣợc tuyên ngày càng coi trọng kết quả tranh tụng tại phiên tòa, chứ không
104 Đồng thời rất coi trọng việc công khai chứng cứ tại phiên tòa.
phải chỉ là chứng cứ đã tập hợp trong hồ sơ. Tòa án và VKS ngày càng quan tâm hơn đến việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động xét xử.
Hai là, quy định của BLTTHS về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST và các quy định liên quan bắt nguồn từ cơ sở đảm bảo và cụ thể hóa các nguyên tắc tố tụng hình sự. Ví dụ các quy phạm cụ thể về sự tham gia của người bào chữa trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa phải bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo .v.v.
Thủ tục tranh luận được BLTTHS thiết kế thành một chương riêng, điều đó cho thấy nhà làm luật rất coi trọng hoạt động tranh luận, đối chất của các bên tranh tụng, coi đó là cơ sở thuận lợi giúp HĐXX tuyên án. Vì vậy mà hoạt động thực hành quyền công tố của VKS có chất lƣợng hơn và bản án của Tòa án có tính thuyết phục hơn.
- Về mặt thực tiễn:
+ Đối với chủ thể là Viện kiểm sát nhân dân: số lƣợng án sơ thẩm thụ lý và giải quyết của VKSND ngày càng tăng cả về số lƣợng và chất lƣợng. Tỷ lệ bình quân vụ án đƣợc giải quyết trên số vụ thụ lý trong 10 năm (2005- 2014) đạt 97,7%; trong đó số vụ án truy tố trên số vụ đƣợc giải quyết trong 10 năm cũng chiếm tỷ lệ rất cao trên 99%105; riêng năm 2015 VKSND các cấp thụ lý giải quyết 9778 vụ/18036 bị can, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm 12054 vụ/22829 bị cáo106. Điều đó chứng minh sự cố gắng, nỗ lực của ngành Kiểm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố. Án truy tố chiếm tỷ lệ cao hàng năm đã chứng tỏ VKS đã hạn chế tối đa án truy tố quá hạn và vi phạm thủ tục tố tụng. Bên cạnh đó, chất lƣợng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa ngày càng nâng lên rõ rệt: Nếu như trước đây đa số các KSV đều có chung nhận thức là việc xét hỏi là trách nhiệm của HĐXX, nên đã xét hỏi sơ sài hoặc không xét hỏi, kể từ khi ra đời BLTTHS tình trạng này đƣợc chấn chỉnh; họ đã tích cực nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị đề cương xét hỏi, chủ động đặt câu hỏi để bảo vệ quan điểm truy tố. Chất lƣợng xét hỏi ngày càng đƣợc nâng lên còn đƣợc minh chứng qua việc tại phiên tòa KSV ghi chép diễn biến nội dung xét hỏi của HĐXX và trả lời của bị cáo, từ đó
105 Báo cáo số 11/BC- VKSTC ngày 19/01/2015 “Báo cáo tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” của VKSNDTC
106 Ngô Sỹ Giang (2015), “VKSNDTC: Nâng cao chất lƣợng giải quyết các vụ án, vụ việc”, /http://noichinh.vn/tin- tuc-su-kien/201511/vien-kiem-sat-nhan-dan-toi-cao-nang-cao-chat-luong-giai-quyet-cac-vu-an-vu-viec-299283/.
lựa chọn nội dung cần xét hỏi phù hợp để làm rõ các tình tiết vụ án. Bên cạnh đó chất lƣợng luận tội của KSV cũng đƣợc chuyển biến tích cực. Việc đối đáp tranh luận đã đƣợc KSV quan tâm, chủ động, tích cực hơn.
- Đối với chủ thể là người bào chữa: Chất lƣợng tham gia tranh tụng tại phiên tòa của người bào chữa ngày càng được nâng lên cả về số lượng và chất lượng. Theo báo cáo của Liên đoàn Luật sƣ Việt Nam từ tháng 5/2009 đến ngày 18/4/2015 luật sƣ tham gia bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, cung cấp dịch vụ pháp lý cho các tổ chức, cá nhân là 77129 vụ án hình sự107. Bên cạnh đó VKSNDTC cũng đã đánh giá là, về phía các cơ quan tiến hành tố tụng đã bảo đảm 100% có luật sƣ chỉ định tham gia tố tụng đối với các vụ án bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003108. Sự tham gia của luật sƣ trong các VAHS đƣợc đánh giá là chú trọng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, bảo đảm quyền có người bào chữa của đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý.
Những năm gần đây, người bào chữa trong nhiều PTHSST đã đưa ra nhiều câu hỏi và lập luận sắc bén; quan điểm của người bào chữa đã làm sáng tỏ mâu thuẫn trong các tình tiết, chứng cứ vụ án, đƣợc KSV đồng tình và giúp HĐXX tuyên án đƣợc khách quan hơn. Hơn nữa, phiên tòa với sự tham gia của người bào chữa trở nên sinh động hơn, tăng cường nhận thức về việc áp dụng pháp luật đúng đắn của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động bào chữa giúp cho người tham dự phiên tòa có điều kiện am hiểu các quy định pháp luật và chính sách của Nhà nước.
- Đối với chủ thể là Tòa án nhân dân: chất lƣợng, hiệu quả xét xử sơ thẩm VAHS của Tòa án ngày càng tăng. Tỷ lệ án sơ thẩm hình sự thụ lý và xét xử tăng liên tục hàng năm, trong đó tỷ lệ xét xử bình quân từ năm 2005 đến năm 2014 là 86,6%109; riêng năm 2015 toàn ngành Tòa án đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 49363 vụ/89710 bị cáo, đã giải
107 http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Chu-tich-nuoc-du-Dai-hoi-Lien-doan-Luat-su-Viet-Nam/225286.vgp.
108 Báo cáo số 11/BC- VKSTC ngày 19/01/2015 “Báo cáo tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” của VKSNDTC .
109 Báo cáo số 11/BC- VKSTC ngày 19/01/2015 “Báo cáo tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” của VKSNDTC
quyết, xét xử 40328 vụ/70546 bị cáo110. Qua đó cho thấy sự cố gắng của ngành Tòa án trong công tác xét xử, với một số lƣợng lớn vụ án đƣợc đƣa ra xét xử kịp thời.
Bên cạnh đó, HĐXX trong những năm gần đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa tranh tụng, đặc biệt là ở phần tranh luận. Hội đồng xét xử tập trung lắng nghe, ghi nhận kết quả tranh luận. Trong đó đáng ghi nhận kết quả của HĐXX trong hoạt động áp dụng khoản 3 Điều 222 của BLTTHS về nghị án. Đó là khi nghị án HĐXX phải căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, đi đôi với việc xem xét toàn diện ý kiến của KSV, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Có thể nói quy định này không những đã mang tính nguyên tắc về hoạt động nghị án phải dựa vào ý kiến tranh luận và kết quả đánh giá chứng cứ, mà còn nhắc nhở HĐXX phải tôn trọng hoạt động tranh luận của các bên trong thực tiễn.
- Đối với chủ thể là người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã chủ động trong việc lập luận và đƣa ra chứng cứ để chứng minh, chứ không dựa hoàn toàn vào trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng. Họ có quyền bình đẳng hơn trong việc tranh luận, đề nghị xét hỏi và thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của mình. Họ tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
2.3.2. Những hạn chế, vướng mắc trong xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 2.3.2.1. Hạn chế từ phía các chủ thể tham gia xét hỏi, tranh luận
- Hạn chế từ phía Kiểm sát viên:
Một là, hoạt động xét hỏi, luận tội và đối đáp của KSV tại PTHSST trong thời gian qua có bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại hạn chế, đó là KSV chưa tích cực, chủ động xét hỏi, đối đáp lại ý kiến của người bào chữa và của người tham gia tố tụng. Vẫn xảy ra thực trạng KSV ỷ lại việc xét hỏi cho HĐXX, chỉ hỏi sơ sài hoặc nội dung câu hỏi lặp lại, lan man. Vẫn xảy ra trường KSV luận tội thiếu chặt chẽ, phụ thuộc, dập khuôn bản cáo trạng, hoặc là không căn cứ vào diễn biến phiên xét hỏi để luận tội cho phù hợp. Không ít KSV ngại đối đáp. Một phần do trình độ chuyên môn nghiệp vụ của KSV còn hạn chế, kinh nghiệm chƣa vững vàng. Khi HĐXX yêu cầu KSV đối đáp trở lại
110 Huy Quang (2015), “Ngành Tòa án thụ lý hơn 61 ngàn vụ án hình sự”, http://noichinh.vn/tin-tuc-su- kien/201511/nganh-toa-an-thu-ly-hon-61000-vu-an-hinh-su-299203/
lời bào chữa của luật sƣ, thì KSV từ chối bằng cách nói là “giữ nguyên quan điểm nhƣ cáo trạng truy tố”. Việc đối đáp của KSV đã không đến nơi đến chốn, không đối đáp lại từng ý kiến của người bào chữa, hoặc nội dung đối đáp thiếu tính thuyết phục.
Hai là, tình trạng truy tố oan sai vẫn còn xảy ra. Từ năm 2005 đến 2015 có 350 bị cáo Tòa án đã xét xử tuyên không phạm tội111, trong đó có trách nhiệm của VKS trong việc truy tố không đúng căn cứ, không đúng người, đúng tội. Lý do Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội nhƣ cáo trạng đã truy tố, nhƣ chƣa có đầy đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm. Hậu quả, tác hại của việc truy tố oan sai là rất lớn.
- Hạn chế từ phía Hội đồng xét xử:
Một là, trong thực tiễn xét hỏi tại PTHSST, HĐXX thường hỏi quá nhiều, tường tận từng tình tiết vụ án. Trong trường hợp đó KSV thường chú ý tìm tình tiết vụ án nào HĐXX chƣa hỏi để hỏi và vì thế mà nội dung câu hỏi của KSV chỉ xoay quanh các tình tiết phụ để tránh sự lặp lại, ví dụ nhƣ hoàn cảnh kinh tế, tình cảm gia đình bị cáo v.v.
Nhiều trường hợp việc xét hỏi của HĐXX vô hình trung bắt bí bị cáo, nội dung các câu hỏi thường xoay quanh chứng cứ buộc tội, thông qua việc thắt nút, nhận định hoặc kết luận vấn đề quá sớm. Cách đặt câu hỏi của chủ tọa phiên tòa vẫn xảy ra tính áp đặt, đó là câu hỏi dạng: “Bị cáo thấy hành vi của bị cáo có vi phạm pháp luật không ?”. Một số phiên tòa HĐXX và KSV đã phủ đầu bị cáo bằng cách đặt câu hỏi: “Nếu bị cáo khai thành khẩn thì được hưởng tình tiết giảm nhẹ”. Trước đây cách đặt câu hỏi của chủ tọa phiên tòa sau khi KSV đọc cáo trạng, đó là “Bị cáo có nghe rõ cáo trạng không ?”, “Bị cáo hãy khai hành vi phạm tội của mình”. Trong những năm gầy đây thực hiện đường lối cải cách tƣ pháp, thông qua tổ chức nhiều phiên tòa mẫu để rút kinh nghiệm, cách đặt câu hỏi của chủ tọa phiên tòa có thay đổi phù hợp hơn, đó là: “Bị cáo nghe rõ nội dung cáo trạng, bị cáo nghe có giống bản cáo trạng VKS đã truy tố, bị cáo đã nhận không ?”, “Bị cáo khai rõ hành vi của bị cáo nhƣ thế nào dẫn đến hôm nay bị Viện kiểm sát truy tố ra trước tòa?”. Một thực tế khác là HĐXX vẫn chưa làm hết trách nhiệm trong hoạt động điều khiển phiên tranh luận, đó là KSV không thừa nhận ý kiến lập luận của luật sƣ bào
111 Nguồn: Cục thống kê tội phạm VKSNDTC; Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2015 của TANDTC.
chữa cho bị cáo, nhưng KSV vẫn không làm rõ. Trường hợp này đáng lẽ HĐXX phải yêu cầu KSV phải giải thích, đối đáp một cách thấu đáo, tường tận.
Hai là, về chất lƣợng xét xử của Tòa án ngày càng đƣợc nâng lên rõ rệt, nhƣng vẫn còn để xảy ra tình trạng vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng buộc VKS phải ban hành kiến nghị, kháng nghị yêu cầu sữa chữa khắc phục vi phạm112; bản án có oan sai, hoặc phải hủy, sửa nhiều năm chƣa khắc phục đƣợc113. Biều hiện nhƣ sau:
- Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thường gặp ở các dạng như:
+ Vi phạm thời hạn xét xử;
+ Nghị án kéo dài;
+ Tùy tiện trong việc hoãn phiên tòa;
+ Hội đồng xét xử hỏi sơ sài, phiến diện;
+ Hội đồng xét xử cắt ý kiến xét hỏi, tranh luận của người bào chữa và người tham gia tố tụng khác không đúng;
+ Vi phạm trong việc ghi chép biên bản phiên tòa;
+ Vi phạm trong việc đọc bản án (đọc tóm tắt);
+ Không phổ biến đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng;
+ Xác định sai tư cách người tham gia tố tụng;
+ Triệu tập không đầy đủ những người liên quan tham gia phiên tòa, dẫn đến sai lầm trong việc áp dụng pháp luật nội dung;
+ Một trong số người tham gia tố tụng vắng mặt có lý do chính đáng nhưng vẫn tiến hành xét xử .v.v.
- Hạn chế từ phía người bào chữa: Nhƣ đánh giá ở phần trên, trong những năm gần đây, người bào chữa tham gia phiên tòa sơ thẩm đã đạt được những kết quả tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế. Đó là, vẫn xảy ra tình trạng sự tham gia bào chữa
112 Đơn cử nhƣ từ năm 2007 đến 2013 VKSND các cấp ban hành 6588 quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
(Nguồn: Báo cáo số 11/BC-VKSTC ngày 19/1/2015 của VKSNDTC v/v tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành BLTTHS);
từ năm 2011 đến 2016 ban hành 2000 bản kiến nghị với cơ quan điều tra và cơ quan nhà nước trong việc khắc phục vi phạm pháp luật, phòng ngừa tội phạm (Nguồn: http://baochinhphu.vn/Báo cáo của Viện trưởng VKSNDTC trình bày trước Quốc hội ngày 22/3/2016).
113 Tỷ lệ bản án bị hủy bình quân hàng năm (từ năm 2007 đến 2014) là 0,6%, bị sửa là 5,17% (Nguồn: Báo cáo số 03/BC-TA ngày 15/1/2015 của TANDTC “tổng kết công tác năm 2014 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2015 của các tòa án”, Tài liệu Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2015, Hà Nội tháng 1/2015); riêng năm 2015 tỷ lệ hủy là 0,84%, sửa là 5,07% (Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2015).
của luật sƣ chỉ định còn mang tính hình thức; tình trạng bào chữa tại phiên tòa chƣa bảo đảm chất lƣợng, nhƣ việc xét hỏi vòng vo, lặp lại, và tranh luận dài dòng bị HĐXX ngắt lời. Mặt khác, không ít trường hợp người bào chữa đã không nắm được tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, và phản biện thiếu cơ sở hoặc không đúng cơ sở pháp lý, không thuyết phục được HĐXX và người tham dự phiên tòa. Có nhiều cuộc tranh luận, lúc đầu luật sư cho rằng bị cáo không phạm tội, sau lại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy mà trong việc đƣa ra tình tiết, lập luận đã thiếu nhất quán, mâu thuẫn, hoặc là bảo thủ quan điểm.
- Hạn chế từ phía bị cáo và những người tham gia tố tụng khác: Trong quá trình tranh tụng, ít thấy bị cáo và người tham gia tố tụng khác đề nghị HĐXX hỏi và họ ít khi tham gia tranh luận, ít đưa ra yêu cầu, đề nghị. Nếu có người bào chữa thì chủ yếu người này tham gia vào hoạt động xét hỏi và tranh luận. Không ít trường hợp bị hại cố tình không tham gia phiên tòa, do họ ở xa trụ sở xét xử, hoặc trước khi xét xử họ đã được bên bị cáo khắc phục hậu quả, bồi thường thỏa đáng, sau đó không muốn tham gia phiên tòa theo nghĩa vụ, gây khó khăn cho quá trình xét xử. Đối với người làm chứng không muốn đến phiên tòa do lo sợ bị trả thù vì họ không đƣợc pháp luật bảo vệ đầy đủ. Kết quả khảo sát việc áp dụng thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST minh chứng cụ thể hơn những hạn chế, vướng mắc của nó:
Bảng số 01: Kết quả khảo sát việc áp dụng thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm (Tổng thể khảo sát: 300 biên bản phiên tòa hình sự sơ thẩm và 300 bản án tương ứng).
Số vụ án hình sự có người bào chữa tham gia phiên tòa
HĐXX xét hỏi bị cáo trước
KSV xét hỏi
Người bào chữa xét hỏi
KSV, Người
bào chữa, bị
cáo hoặc người
tham gia tố tụng khác đề nghị xét
hỏi thêm
HĐXX đƣa vật chứng ra kết hợp với xét hỏi
HĐXX công bố lời khai của bị cáo hoặc
của người tham gia
tố tụng khác
HĐXX đến địa điểm phạm tội, nơi cất giữ
vật chứng để xem
xét
KSV rút quyết
định truy tố
hoặc thay đổi
quyết định truy tố
tại phiên
tòa
HĐXX quyết định cho trở lại xét hỏi
Số vụ
Tỷ lệ
Số vụ
Tỷ lệ
Số vụ
Tỷ lệ
Số vụ
Tỷ lệ
Số vụ
Tỷ lệ
Số vụ
Tỷ lệ
Số vụ
Tỷ lệ
Số vụ
Tỷ lệ
Số vụ
Tỷ lệ
Số vụ
Tỷ lệ 60 20 300 100 233 78 36 60 00 00 01 0,3 177 59 00 00 01 0,3 00 00