1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1 luan an nguyen huu tuan

217 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng Lực Sư Phạm Của Giảng Viên Trẻ Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Ở Các Trường Sĩ Quan Quân Đội
Tác giả Nguyễn Hữu Tuấn
Thể loại luận án
Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn về năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội, chủ yếutrong hoạt động giản

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực có xuất

xứ rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Hữu Tuấn

Trang 2

1.2 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan đối với đề

tài luận án và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu 26

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC SƯ

PHẠM CỦA GIẢNG VIÊN TRẺ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC TRƯỜNG SĨ QUAN

2.1 Quan niệm năng lực sư phạm của giảng viên khoa học xã

hội và nhân văn và năng lực sư phạm của giảng viên trẻkhoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội 322.2 Những nhân tố cơ bản quy định năng lực sư phạm của giảng

viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan

Chương 3 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC SƯ PHẠM VÀ MỘT

SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NÂNG CAO NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA GIẢNG VIÊN TRẺ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC TRƯỜNG SĨ

3.1 Thực trạng năng lực sư phạm của giảng viên trẻ khoa học xã

hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay 723.2 Một số vấn đề đặt ra đối với nâng cao năng lực sư phạm của

giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ

Chương 4 GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO NĂNG LỰC SƯ PHẠM

CỦA GIẢNG VIÊN TRẺ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI HIỆN NAY 1134.1 Nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên khoa học xã hội và

nhân văn và chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện năng lực sưphạm cho giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các

4.2 Xây dựng môi trường sư phạm ở các trường sĩ quan quân

đội nhằm nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻ

4.3 Phát huy nhân tố chủ quan của giảng viên trẻ khoa học xã

hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội trong tự nâng

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ

ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 157

Trang 3

PHỤ LỤC 173

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Quán triệt quan điểm của Đảng về đổi mới giáo dục, đào tạo, Đại hộiĐảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộquản lý giáo dục có trình độ tương xứng với công việc, với ngành đào tạo;thực hiện tốt bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ nhà giáo” [98, tr.15] Theo đó, xâydựng đội ngũ nhà giáo, trong đó có đội ngũ giảng viên trẻ khoa học xã hội vànhân văn (KHXH&NV) ở các trường sĩ quan quân đội là việc đang được tổchức thực hiện nghiêm túc

Giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội là một bộphận của đội ngũ giảng viên KHXH&NV trong quân đội, là nguồn kế cậnđội ngũ nhà giáo, nhà khoa học của các nhà trường, trực tiếp góp phầnquyết định chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và đấu tranh

tư tưởng, lý luận của các trường sĩ quan quân đội Giảng viên trẻKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội có cả những điều kiện thuận lợi

để phát triển, hoàn thiện nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức vàcòn hạn chế nhất định trong quá trình hoạt động Để đáp ứng yêu cầunhiệm vụ và yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo họ cần được nâng caophẩm chất và năng lực sư phạm

Năng lực sư phạm trực tiếp quyết định đến hiệu quả hoạt động sưphạm, giúp giảng viên trẻ KHXH&NV hoàn thành nhiệm vụ, góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đấu tranh tưtưởng, lý luận, xây dựng các tổ chức và các khoa giáo viên ở các nhàtrường vững mạnh Nhận thức rõ vị trí, vai trò, đặc điểm của giảng viêntrẻ KHXH&NV những năm qua các trường sĩ quan quân đội đã thực hiệnnhiều giải pháp nâng cao năng lực sư phạm cho lực lượng này Theo đó,

Trang 4

năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV đã được nâng lên, đápứng được yêu cầu nhiệm vụ Tuy nhiên, do chất lượng đào tạo giảng viênKHXH&NV, chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện năng lực sư phạm chogiảng viên trẻ KHXH&NV, xây dựng môi trường sư phạm và phát huynhân tố chủ quan của một bộ phận giảng viên trẻ KHXH&NV còn có mặtchưa tốt nên năng lực sư phạm của họ vẫn tồn tại những hạn chế nhất địnhbiểu hiện ở cả trình độ tri thức, tư chất sư phạm, kỹ năng sư phạm, thái độ

sư phạm và kết quả hoạt động sư phạm Do vậy, giảng viên trẻKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội cần được tiếp tục bồi dưỡng,rèn luyện, nâng cao năng lực sư phạm

Hiện nay, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xu thếhội nhập, toàn cầu hóa, sự chống phá của các thế lực thù địch; nhiệm vụ bảo

vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống “phi chính trị hóa quân đội” và nhiệm

vụ bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển mới Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục,đào tạo trong các nhà trường quân đội nhằm phát triển đội ngũ cán bộ đápứng nhu cầu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bướchiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng” [34,

tr 149] đã trở nên cấp thiết Trong đó, nghiên cứu năng lực sư phạm củagiảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội, làm rõ lý luận,đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp đồng bộ, khả thi nâng caonăng lực sư phạm của lực lượng này là một trong những vấn đề quan trọng

Thực tế, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu năng lực sưphạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội vớicác góc độ khác nhau Song, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếpnăng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quanquân đội hiện nay dưới góc độ triết học Do đó, việc lựa chọn vấn đề

“Năng lực sư phạm của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các

Trang 5

trường sĩ quan quân đội hiện nay” làm đề tài luận án có ý nghĩa cấp thiết

cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về năng lực sư phạm

của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội; từ đó, đề xuất giảipháp cơ bản nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở cáctrường sĩ quan quân đội hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, kháiquát giá trị của các công trình đã tổng quan đối với đề tài luận án và xác địnhnhững vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu

Làm rõ thực chất và những nhân tố cơ bản quy định năng lực sư phạmcủa giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội

Đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân thực trạng năng lực sư phạmcủa giảng viên trẻ KHXH&NV; phân tích một số vấn đề đặt ra đối với nângcao năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quanquân đội hiện nay

Đề xuất giải pháp cơ bản nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quanquân đội

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn về năng lực

sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội, chủ yếutrong hoạt động giảng dạy, giáo dục hình thành, phát triển nhân cách học viên

Trang 6

Về không gian: Luận án nghiên cứu, khảo sát tại các trường sĩ quan quân

đội: Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lụcquân 2, Trường Sĩ quan Pháo binh, Trường Sĩ quan Công binh, Trường Sĩ quanPhòng hóa, Trường Sĩ quan Đặc công, Trường Sĩ quan Thông tin, Trường Sĩ quanTăng - Thiết giáp; sử dụng số liệu của một số trường sĩ quan để tham chiếu

Về thời gian: Các tư liệu, số liệu sử dụng trong luận án chủ yếu được giới

Cơ sở thực tiễn

Dựa vào những đánh giá, những số liệu trong các báo cáo tổng kết của Quân

ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu, cáctrường sĩ quan quân đội; số liệu báo cáo sơ kết, tổng kết của các khoa giáo viên, các

cơ quan ở các trường sĩ quan quân đội và kết quả điều tra xã hội học, khảo sát thực

tế của tác giả ở các trường sĩ quan quân đội

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích

và tổng hợp; trừu tượng hóa; khái quát hóa; hệ thống và cấu trúc; lịch sử vàlôgíc; quan sát; thống kê; so sánh; điều tra xã hội học; thu thập, xử lý thông tin

và phương pháp chuyên gia để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

5 Những đóng góp mới của luận án

Đưa ra quan niệm năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ởcác trường sĩ quan quân đội

Trang 7

Xác định một số nhân tố cơ bản quy định năng lực sư phạm của giảngviên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội.

Đề xuất một số giải pháp cơ bản, khả thi nâng cao năng lực sư phạmcủa giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận

về năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội

Ý nghĩa thực tiễn

Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học đáp ứng yêu cầu cấpthiết nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở cáctrường sĩ quan quân đội hiện nay Luận án có thể sử dụng làm tài liệutham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trong đào tạo, bồidưỡng đội ngũ giảng viên

7 Kết cấu của luận án

Kết cấu của luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (09 tiết), kết luận, danhmục các công trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tàiluận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến năng lực và năng lực sư phạm của giảng viên

Một là, những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến năng lực

John Burke (2005), Competency based education and training (Giáo

dục và đào tạo dựa trên năng lực) [154], đã chỉ rõ năng lực được hình thành

và phát triển thông qua giáo dục, đào tạo tại các nhà trường Theo tác giảnăng lực bao gồm các thành tố: Kiến thức, hiểu biết, kỹ năng, kinh nghiệm.Chất lượng, hiệu quả công việc phụ thuộc rất lớn vào năng lực và được thểhiện trên thực tế Để đo được năng lực phải thông qua việc đánh giá dựa trênnhững tiêu chuẩn cụ thể, phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn

Hoàng Hải Bằng (Chủ biên, 2006), Bản lĩnh chính trị với năng lực của

cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay [4], cho

rằng: Năng lực thể hiện ở hiệu quả hoạt động Năng lực của người cán bộ lãnhđạo, quản lý là năng lực tổ chức và năng lực tổ chức không thể có ở ngườichưa hề quản lý, điều hành một công việc cụ thể Khi xem xét, đánh giá nănglực của một người cán bộ, hiệu quả công việc là một tiêu chí quan trọng, đồngthời cũng cần biết được trình độ học vấn và quá trình công tác của họ Mặc dùchưa đưa ra quan niệm đầy đủ về năng lực các tác giả đã chỉ ra một số tiêu chí

cơ bản nhất trong xem xét, đánh giá năng lực của một người cán bộ đó là hiệuquả công việc trong quá trình công tác và trình độ học vấn

United nations development progamme UNDP (2008), Capacity

development pratice note (Lưu ý thực tế phát triển năng lực) [156] - Chương

trình phát triển của Liên Hợp quốc đã đưa ra khái niệm năng lực cho tất cả cá

Trang 9

nhân, tổ chức và xã hội Theo đó, năng lực là khả năng của cá nhân, tổ chức

và xã hội để thực hiện chức năng, giải quyết vấn đề, thiết lập và đạt đượcnhững mục tiêu một cách bền vững và “phát triển năng lực là quá trình màthông qua đó, các năng lực của của con người được hình thành, được tăngcường, thích nghi và duy trì theo thời gian” [156]

Nguyễn Văn Huy (2013), Nâng cao năng lực thực tiễn của người chính

trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [62], đã chỉ ra, năng lực

không phải là một thuộc tính mà là tổng thể những thuộc tính hợp thành khảnăng nhận thức và hoạt động của con người trên những nhiệm vụ xác định,đạt hiệu quả cao Năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng vừa bộc lộ qua nhữnghoạt động cụ thể; năng lực luôn mang tính cụ thể, xác định, của một cộngđồng, một tổ chức hay một con người cụ thể; có hai loại cơ bản: Năng lựcnhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn Theo đó, “năng lực thực tiễn làtổng thể những yếu tố hợp thành khả năng hoạt động vật chất có hiệu quả củachủ thể, trên những nhiệm vụ xác định; đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hộitrong giai đoạn lịch sử nhất định” [62, tr 23]

Trần Hậu Tân (2016), Kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với

năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [107], đã khẳng định: Năng lực của con người do yếu tố tự nhiên và

yếu tố xã hội tạo thành Yếu tố tự nhiên thuộc về bẩm sinh, gen di truyền làtiền đề quan trọng không thể thiếu trong sự hình thành, phát triển năng lực.Yếu tố xã hội là kết quả của quá trình giáo dục, đào tạo, rèn luyện và tự giáodục, tự rèn luyện của mỗi người mang tính quyết định đến sự hình thành vàphát triển năng lực Tác giả đã đưa ra quan niệm: “Năng lực là tổng hòa khảnăng của chủ thể trong những điều kiện nhất định, được biểu hiện ra tronghoạt động, giúp chủ thể nhận thức và giải quyết có hiệu quả công việc trongnhững lĩnh vực cụ thể” [107, tr 29]

Trang 10

Nguyễn Văn Quyền (2016), Phát triển năng lực giáo dục chính trị của chính

trị viên đại đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [101], đã đưa ra quan

niệm: Năng lực giáo dục chính trị của chính trị viên đại đội trong Quân đội nhândân Việt Nam là “tổng hợp những yếu tố tri thức, kỹ xảo, kỹ năng và phương phápgiáo dục chính trị, tạo thành khả năng tổ chức và tiến hành giáo dục chính trị đạthiệu quả cao, được biểu hiện tập trung ở việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục chính trịtheo cương vị, chức trách được giao” [101, tr 34] Tác giả đã chỉ ra những vấn đề

có tính quy luật trong phát triển năng lực giáo dục chính trị của chính trị viên đạiđội trong Quân đội nhân dân Việt Nam: Phát triển năng lực giáo dục chính trị củachính trị viên đại đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam phụ thuộc vào chất lượngđào tạo ở các nhà trường và bồi dưỡng ở các đơn vị cơ sở; phụ thuộc vào môitrường hoạt động ở đơn vị cơ sở và phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của họ

Ngô Thị Nụ (2018), Vấn đề phát triển năng lực cá nhân con người

Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay [89], đã quan niệm năng

lực cá nhân là tổng hợp các thuộc tính riêng có, tương đối ổn định của cánhân tạo thành khả năng đáp ứng yêu cầu của hoạt động nhất định, bảo đảmcho hoạt động đó đạt kết quả tối ưu nhất

Theo tác giả, phát triển năng lực cá nhân con người là quá trình tíchcực, chủ động, sáng tạo của các chủ thể làm chuyển hóa về chất các nănglực, làm cho năng lực của mỗi cá nhân chuyển từ trình độ thấp lên cao, từchưa phù hợp đến phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn nhằm giúp mỗi cánhân đạt kết quả tối ưu nhất trong các hoạt động của mình [89, tr 44] Phạm Thành Nghị (2008), “Tiếp cận năng lực trong phát triển conngười” [87], đã khẳng định năng lực là tổ hợp khả năng thực hiện được cácchức năng, sự phát triển của con người chính là sự phát triển của năng lực

Sự phát triển của năng lực chính là sự mở rộng tự do, mở rộng cơ hội lựachọn của con người Do đó, năng lực là công cụ giúp con người đạt được sựlựa chọn và chính năng lực sẽ mở rộng sự lựa chọn của con người

Trang 11

Hoàng Hòa Bình (2015), “Năng lực và đánh giá theo năng lực” [5], đãđưa ra quan niệm: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triểnnhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiệnthành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong nhữngđiều kiện cụ thể” [5, tr 25] Năng lực có hai đặc trưng cơ bản: (1) bộc lộ, thểhiện qua hoạt động; (2) bảo đảm hoạt động có hiệu quả, kết quả mong muốn Vềcấu trúc năng lực theo bề mặt gồm các yếu tố tri thức, kỹ năng và thái độ tạothành; theo chiều sâu tổng hòa các yếu tố đó tạo thành năng lực hiểu, năng lựchoạt động và năng lực ứng xử Gắn với mỗi loại hoạt động tương ứng có mộtloại năng lực cụ thể Từ đó, có thể phân chia thành các loại năng lực khác nhau.

Hai là, những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến năng lực sư phạm của giảng viên

Mary, Louise Kearney (2006), Higher education staff development for

the 21st century (Phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên ở đại học cho thế kỷ 21)

[154], đã đưa ra quan điểm, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo

viên ở đại học là vấn đề rất quan trọng cho nguồn nhân lực giáo dục đại học.Nội dung phát triển chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ giáoviên gồm phong cách làm việc, kiến thức, kỹ năng chuyên môn về giáo dục, kỹnăng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, kỹ năng giaotiếp Do đó, các nhà trường cần có kế hoạch tổng thể và sự đầu tư thích đángcho việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên

Chris Kyriacou (2007), Essential teaching skills (Những kỹ năng giảng

dạy thiết yếu) [150], đã chỉ ra bản chất của việc giảng dạy hiệu quả là phải

thúc đẩy được người học Để thực hiện được điều đó cần có biện pháp rènluyện nhằm phát triển kỹ năng giảng dạy Tuy nhiên, điều kiện là giảng viêncũng cần phải có kiến thức nền tảng và kỹ năng tốt Phát triển kỹ năng giảngdạy phải thông qua việc quan sát, tham gia vào các hoạt động đó để có kỹnăng và mở rộng kiến thức của mỗi giảng viên

Trang 12

Lương Vị Hùng, Khổng Khang Hoa (2008), Triết học giáo dục hiện đại

[61], đã đi sâu vào các vấn đề triết lý giáo dục hiện đại, khẳng định vị trí, vaitrò quan trọng của nhà giáo dục, “không có người giáo dục, thì không thể cóhoạt động giáo dục” [61, tr 217] Từ đó, đòi hỏi họ phải đáp ứng hai vấn đề:(1) sự cố gắng, nỗ lực chủ quan của bản thân; (2) có cơ cấu nhận thức và cơcấu năng lực phù hợp Theo đó, “cơ cấu nhận thức phải bao gồm hai mặt: (1)tri thức chuyên môn tinh thông sâu sắc; (2) tri thức nền tảng văn hóa rộng rãi

Cơ cấu năng lực phải do năng lực tổ chức, quản lý, năng lực nắm bắt và xử lýtài liệu, năng lực biểu đạt ngôn ngữ và năng lực điều khiển, khống chế bảnthân tạo nên” [61, tr 224]

Trần Bá Hoành (2010), Vấn đề giáo viên những nghiên cứu lý luận và

thực tiễn [56], nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo viên trước thềm thế kỷ

XXI và đưa ra cách tiếp cận, các thành tố chất lượng giáo viên, chỉ ra nhân

tố ảnh hưởng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên Theo đó, năng lực

sư phạm là, “khả năng thực hiện các hoạt động giảng dạy, giáo dục với chấtlượng cao” [56, tr 20] Năng lực sư phạm gồm hai nhóm giảng dạy và giáodục (nghĩa hẹp) Năng lực sư phạm được tạo lên từ nhiều năng lực thànhphần như năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm của đối tượng, năng lựcthiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch, năng lực giám sát,đánh giá kết quả hoạt động, năng lực giải quyết vấn đề nảy sinh trong thựctiễn Tác giả chỉ ra ba nhân tố quy định chất lượng giáo viên là đào tạo, sửdụng, bồi dưỡng giáo viên, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm và ý chí,thói quen, năng lực tự học của họ

Đinh Xuân Khuê (2010), Quan hệ giữa nâng cao năng lực giảng dạy và

năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường đại học quân sự hiện nay [64], đã khái quát quan điểm của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về năng lực Từ đó, đưa ra quan

Trang 13

niệm: “Năng lực sư phạm là một loại năng lực chuyên biệt, là tổng hợp nhữngphẩm chất tâm lý và sinh lý của nhà sư phạm đáp ứng yêu cầu của hoạt động sưphạm và bảo đảm cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao” [64, tr 16] Biểu hiệncủa năng lực sư phạm ở trình độ tri thức sâu rộng, có kỹ năng thiết kế sư phạm,

kỹ năng tổ chức các hoạt động thực tiễn sư phạm, kỹ năng huấn luyện giáo dục,

kỹ năng sử dụng ngôn ngữ và kỹ năng nghiên cứu khoa học

James M Cooper (2011), Classroom teaching skills (Những kỹ năng

giảng dạy lớp học) [153], đã chỉ ra những kỹ năng giảng dạy cần thiết của

giảng viên, miêu tả tính cách của người dạy, sự phản xạ đi đến quyết định vàchứng minh những nhân tố tác động đến quyết định truyền thụ kiến thức hoặcgiải thích là rất quan trọng Mặt khác, các tác giả cũng chỉ ra những kỹ năng vàphẩm chất cụ thể khác của giảng viên là: Kỹ năng hợp tác; kỹ năng ứng xử vàtrách nhiệm trong quản lý lớp học

Ngô Văn Hà (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây

dựng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay [51], đã làm rõ những nội dung cơ

bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy Đặc biệt, tác giả đã đưa ra quanđiểm của Hồ Chí Minh về năng lực sư phạm và phương pháp giảng dạy củangười thầy Đó là, phải giỏi về lĩnh vực chuyên môn mà mình đảm nhận giảngdạy “Muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạo nghềrèn, nghề nguội”; phải được trang bị lý luận giáo dục; nắm chắc quan điểm,đường lối giáo dục của Đảng; có kiến thức liên ngành để bổ trợ; phải có sựthuần thục phương pháp giảng dạy Từ đó, tác giả đã đánh giá thực trạng độingũ giảng viên đại học, chỉ ra những nguyên tắc vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh về người thầy trong việc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học và đưa racác giải pháp thực hiện

Nguyễn Đắc Hưng (2017), Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và

vấn đề đặt ra với giáo dục Việt Nam [63], đã chỉ ra sự phát triển của cuộc

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vấn đề đặt ra và giải pháp cho giáo dục

Trang 14

Việt Nam Theo đó: “Vai trò của giáo viên trong thế kỷ XXI càng trở nênquan trọng hơn trong một thế giới thay đổi mạnh mẽ nơi mà tri thức hầu như

vô tận và biến đổi liên tục [63, tr 314] Giáo viên phải giảm bớt công việcđứng lớp tăng cường định hướng, dẫn dắt sinh viên biết cách học tập “Giáoviên trước hết phải đạt chuẩn trình độ đào tạo, có khả năng sáng tạo, hamhiểu biết và tạo được động cơ học tập của học trò” [63, tr 314, 315], pháttriển tư duy phê phán, óc sáng tạo, nhiệt tình trong công việc, là tấm gương

tự học và tự đổi mới suốt đời

Đoàn Khắc Mạnh (2018), Nâng cao năng lực giảng dạy chính trị của

đội ngũ chính trị viên ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [75], đã đưa ra các yếu tố cơ bản cấu thành năng lực

giảng dạy chính trị của chính trị viên ở các trung đoàn bộ binh: Hệ thốngtri thức lý luận, kinh nghiệm, thực tiễn sư phạm và tiến hành công tác giáodục chính trị (tri thức lý luận chính trị và lý luận sư phạm, kinh nghiệmhoạt động sư phạm và tiến hành giáo dục chính trị, kinh nghiệm thực tiễngiảng dạy chính trị); kỹ năng, kỹ xảo giảng dạy chính trị; tư chất, năngkhiếu Từ những vấn đề trên tác giả đưa ra quan niệm và giải pháp nângcao năng lực giảng dạy chính trị của chính trị viên ở các trung đoàn bộ binhtrong Quân đội nhân dân Việt Nam

Trần Thị Minh Tuyết (2018), “Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh - cơ

sở lý luận của công cuộc cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay”[143], đã khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đội ngũ nhàgiáo và đưa ra tiêu chí về phẩm chất, năng lực - đức, tài của họ: Khôngchỉ có tri thức khoa học, người thầy còn có trách nhiệm truyền đến ngườihọc cảm hứng học tập, ý thức, kỹ năng tự học và phẩm chất làm người.Dạy người mới là điều khó nhất nên người xưa đã đúc kết: “Kinh sư dĩđắc, nhân sư nan tầm” Muốn làm được điều đó thì bản thân người giáo

Trang 15

viên, người huấn luyện viên “phải là kiểu mẫu về mọi mặt Đặc biệt, họphải có ý thức không ngừng vươn lên, “người huấn luyện nào tự cho mình

đã biết đủ cả rồi thì người đó là dốt nhất” [143, tr 14]

Đinh Ngọc Thạch, Nguyễn Thị Luyện (2018), “Tư tưởng cải cách giáodục theo định hướng dân chủ trong triết học John Dewey” [110], đã chỉ ranhững cải cách giáo dục đột phá của John Dewey - nhà triết học thực dụnglớn người Mỹ Với quan niệm “giáo dục là một quá trình của cuộc sống chứkhông phải là sự chuẩn bị cho cuộc sống” đã đưa ra các khái niệm kích thíchnăng lực tự nhiên của người học, giáo dục hướng tới cái mới, hướng tới xã hộihọc tập, học tập suốt đời Theo đó, người thầy phải hiểu tâm lý của người học,giúp người học phát triển tính cách, phẩm chất và giúp họ nhận thức ra cái tôicủa mình; thúc đẩy được đam mê, sự yêu thích cuộc sống, môn học, thúc đẩytính tò mò, dám thử nghiệm khoa học và nghiên cứu, dám mắc sai lầm và dámsống thật; họ không được áp đặt, không được phán xét đẳng cấp cao thấp:

“Giáo viên không được áp đặt đặc điểm đó cho học sinh, mà trái lại, cần tạonên một môi trường xã hội thu nhỏ giúp học sinh nhận được trách nhiệm sốngtheo đạo đức dân chủ” [110, tr 57]

1.1.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn và năng lực sư phạm của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội

Một là, những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội

Nguyễn Văn Giới (2016), Xây dựng đội ngũ nhà giáo trong các nhà

trường quân đội theo tinh thần Đại hội XII của Đảng [50], cho rằng: Quán

triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục,đào tạo”, “nâng cao nguồn nhân lực” đặt ra yêu cầu đối với các nhà trường

Trang 16

quân đội phải tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng độingũ nhà giáo Theo tác giả, đội ngũ nhà giáo quân đội đang bất cập về chấtlượng, số lượng và cơ cấu, do đó, phải: “Nâng cao chất lượng đội ngũ nhàgiáo và cán bộ quản lý giáo dục” [50, tr 15], với các giải pháp: (1) nâng caochất lượng, hiệu quả xây dựng đội ngũ nhà giáo trong các nhà trường quânđội về phẩm chất nhân cách và trình độ chuyên môn, tay nghề sư phạm; (2)chú trọng hoàn thiện hệ thống chuẩn mực trong mô hình nhân cách ngườigiảng viên, giáo viên ở từng học viện, nhà trường.

Vũ Văn Ban (2017), Một số vấn đề về nâng cao năng lực tư duy lý luận

của giảng viên trẻ trong các học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [2], đã đưa ra quan niệm:

Năng lực tư duy lý luận của giảng viên trẻ trong các học viện, trường

sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng hợp những phẩm chấtcủa chủ thể như tư chất trí tuệ, phẩm chất sáng tạo, tri thức khoa học,kinh nghiệm thực tiễn, phương pháp tư duy khoa học tạo cho họ khảnăng nhận thức ở trình độ lý luận và vận dụng tri thức lý luận vàothực tiễn giảng dạy, nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụcủa các học viện, trường sĩ quan quân đội [2, tr 30]

Chỉ ra bốn yếu tố tác động đến năng lực tư duy lý luận của giảng viêntrẻ: (1) chất lượng đào tạo nguồn giảng viên trẻ; (2) môi trường hoạt động sưphạm quân sự; (3) tính chất, nhiệm vụ chuyên môn của giảng viên trẻ; (4)yếu tố bẩm sinh di truyền và sự nỗ lực, tích cực học tập, rèn luyện của bảnthân giảng viên trẻ Từ đó, đưa ra 3 nhóm giải pháp cơ bản nâng cao nănglực tư duy lý luận của giảng viên trẻ trong các học viện, trường sĩ quan Quânđội nhân dân Việt Nam

Đặng Sỹ Lộc (Chủ biên, 2017), Xây dựng đội ngũ giảng viên trẻ khoa

học xã hội và nhân văn trong các nhà trường quân đội hiện nay [69], đã đưa ra

Trang 17

quan niệm, đặc điểm đội ngũ giảng viên trẻ KHXH&NV trong các nhà trườngquân đội Theo đó, giảng viên trẻ KHXH&NV là giảng viên “mới bước vàonghề sư phạm”, đang trong quá trình phấn đấu để khẳng định vị thế, uy tín,phẩm chất, trình độ, năng lực; “đang khởi nghề, khởi nghiệp, quân hàm từ thiếu

úy đến thiếu tá, tuổi quân từ 5 đến 15 năm” Do đó, giảng viên trẻKHXH&NV: “Cần phải có trình độ trí tuệ cao, năng lực chuyên môn, nghiệp

vụ giỏi, phương pháp sư phạm tốt, sắc bén về lý luận, vận dụng tốt các phươngpháp giảng dạy, phát huy được tính tích cực của người học” [69, tr 36]

Lê Quý Trịnh (2017), Phát triển năng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ Quân

đội nhân dân Việt Nam [123], đã làm rõ quan niệm, đặc điểm, một số vấn đề có

tính quy luật trong phát triển năng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ Theo đó, năng lựctrí tuệ là một bộ phận cấu thành của năng lực người, đặc trưng cho sức mạnh lýtính và điều kiện hoạt động sáng tạo về tinh thần cũng như mọi hoạt động củacon người Nó là năng lực nhận thức sáng tạo của con người Trên cơ sở bảnchất, quy luật, thực trạng và yêu cầu, tác giả đưa ra ba nhóm giải pháp phát triểnnăng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ: (1) bồi dưỡng tri thức và tư duy khoa học cho sĩquan trẻ; (2) tổ chức một cách khoa học hoạt động rèn luyện và tự rèn luyệntrong thực tiễn cho sĩ quan trẻ; (3) thực hiện chính sách đào tạo, sử dụng, đãi ngộ

sĩ quan theo hướng khuyến khích phát triển tài năng

Nguyễn Văn Thủy (2020), Tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học

xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay [115], đã tập trung

khảo sát giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội, theo đógiảng viên trẻ KHXH&NV chiếm 23,06 % tổng số giảng viên với hai nhóm:Văn bằng 2, Học viện Chính trị trải qua cán bộ chính trị cấp phân đội được lựachọn đi tạo nguồn giảng viên; Giảng viên được đào tạo giáo viên KHXH&NVcấp phân đội ở Học viện Chính trị và ở Trường Sĩ quan Chính trị Từ đó, đãđưa ra quan niệm: “Giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội

Trang 18

là những giảng viên được đào tạo cơ bản về chuyên ngành sư phạm, mới vàonghề, có tuổi đời dưới 30, được biên chế ở khoa chuyên ngành và đảm nhiệmnghiên cứu, giảng dạy các môn KHXH&NV, là nguồn kế cận, kế tiếp của độingũ cán bộ, giảng viên chuyên ngành trong tương lai” [115, tr 38]

Bùi Ngọc Quân (2021), Tư duy phản biện của giảng viên trẻ khoa

học xã hội nhân văn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [93], đã

đưa ra quan niệm:

Tư duy phản biện của giảng viên trẻ khoa học xã hội nhân văn trongQuân đội nhân dân Việt Nam là tổng hòa trình độ tri thức khoa học;phương pháp, kỹ năng, thái độ phản biện và tư chất cá nhân được huyđộng trong thẩm định, đánh giá, kết luận vấn đề có liên quan theo tiêuchí khoa học, phù hợp với quy luật logic và thực tiễn, đáp ứng yêu cầugiảng dạy, nghiên cứu khoa học, đấu tranh tư tưởng, lý luận [93, tr 45] Dựa trên cơ sở lý luận tác giả đã khảo sát, đánh giá thực tiễn và đề ra bốngiải pháp cơ bản phát triển tư duy phản biện của giảng viên trẻ khoa học xã hộinhân văn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Hai là, những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến năng lực sư phạm của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội

Nguyễn Xuân Trường (Chủ nhiệm, 2007), Bồi dưỡng năng lực giảng dạy

của đội ngũ giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Chính trị quân sự hiện nay [140], đã cho rằng đội ngũ giảng viên trẻ KHXH&NV là

những giảng viên được đào tạo cơ bản ở các trường trong và ngoài quân đội,song là những người mới khởi nghề, khởi nghiệp, bản lĩnh, năng lực sư phạm,kinh nghiệm, sự từng trải còn ít Do đó, cần phải tăng cường bồi dưỡng năng lựcgiảng dạy của đội ngũ giảng viên trẻ KHXH&NV Từ việc phân tích đặc điểm,yêu cầu, nhóm tác giả đã đưa ra kiến nghị về đổi mới nội dung bồi dưỡng năng

Trang 19

lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên trẻ KHXH&NV theo hướng tăng cường trithức, kỹ năng và kinh nghiệm giảng dạy.

Nguyễn Văn Tháp (2009), Xây dựng đội ngũ giảng viên khoa học xã hội

và nhân văn trong các trường đào tạo sĩ quan quân đội [112], đã tập trung

nghiên cứu, luận giải vị trí, vai trò, đặc điểm và những nhân tố tác động đếnxây dựng đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội Từ

đó, đã đưa ra năm giải pháp cơ bản để tiếp tục xây dựng đội ngũ giảng viênKHXH&NV Theo tác giả, vấn đề có ý nghĩa cốt lõi là: “Phát huy vai trò tựđào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ giảng viên KHXH&NV” [112, tr 128]

Lê Minh Vụ (2009), Quy trình đánh giá năng lực sư phạm quân sự của

đối tượng tuyển chọn đào tạo giảng viên ở Học viện Chính trị quân sự hiện nay

[145], đã đưa ra hai cách tiếp cận năng lực sư phạm quân sự Theo cấu trúc,

năng lực sư phạm quân sự là sự hòa quyện giữa tri thức, kỹ năng và thái độ củangười giảng viên trong nhà trường quân sự Theo hoạt động, năng lực sư phạmquân sự là tổng hòa các năng lực hoạt động của người giảng viên ở nhà trườngquân sự Năng lực sư phạm quân sự là “sự tương thích giữa thuộc tính tâm, sinh

lý của cá nhân với những yêu cầu do nghề nghiệp sư phạm đặt ra” [145, tr 11].Năng lực sư phạm quân sự bị quy định bởi: Thuộc tính tâm, sinh lý của cánhân, trình độ đào tạo và quá trình trải nghiệm thực tiễn nghề nghiệp sưphạm Trên cơ sở lý luận, thực tiễn, tác giả đã đưa ra bốn giải pháp nângcao chất lượng thực hiện quy trình đánh giá năng lực sư phạm quân sự của đốitượng tuyển chọn đào tạo giảng viên ở Học viện Chính trị quân sự

Lương Thanh Hân (2011), Phát triển bản lĩnh chính trị và tri thức khoa

học của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [52], đã làm rõ quan niệm, đặc điểm

của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội và phângiảng viên trẻ KHXH&NV thành hai nhóm Nhóm tốt nghiệp ở các trường

Trang 20

sĩ quan quân đội và nhóm tốt nghiệp ở các trường ngoài quân đội vớinhững đặc điểm riêng Từ đó, đã chỉ ra thực chất, mối quan hệ, vai trò quantrọng của bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học Tác giả đã đề xuất ba giảipháp cơ bản để nâng cao bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học của giảngviên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội Trong đó, một yêu cầuquan trọng mà luận án đặt ra là: “Giảng viên trẻ KHXH&NV cần tự tudưỡng, rèn luyện kết hợp giữa nâng cao đạo đức cách mạng, đạo đức nhà giáovới phẩm chất chính trị và trình độ tri thức khoa học” [52, tr 168].

Học viện Chính trị (2012), Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo

giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Chính trị thời kỳ mới

[57], đã đưa ra quan niệm, những nhân tố chi phối, thực trạng, yêu cầu, giảipháp đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Họcviện Chính trị Một trong những giải pháp quan trọng là, tiếp tục xác định rõhơn mục tiêu, mô hình đào tạo giảng viên KHXH&NV trong thời kỳ mới.Trong đó, về năng lực sư phạm, “giảng viên phải có kiến thức nền tảng rộng,kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành được đào tạo; có kỹ năng giảng dạy,

tổ chức hoạt động sư phạm, năng lực nghiên cứu khoa học và đấu tranh tưtưởng, lý luận” [57, tr 94]; có trình độ toàn diện về lý luận cơ bản chủ nghĩaMác - Lênin, nắm vững đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng, cókiến thức về lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, nghệ thuật quân sự, công tác đảng,công tác chính trị trong lực lượng vũ trang, có kiến thức chuyên sâu, làmchủ bộ môn mình chuyên trách, có trình độ hiểu biết cơ bản về tâm lý họcquân sự và giáo dục học quân sự để có thể đi sâu vào bản chất, quy luật củacác quá trình giáo dục, nắm được cơ sở khoa học của hệ phương pháp cũngnhư quy trình của công nghệ giảng dạy

Cao Văn Trọng (2017), Nâng cao năng lực đấu tranh tư tưởng của

giảng viên lý luận chính trị ở các nhà trường quân đội hiện nay [124], đã

Trang 21

đưa ra quan niệm: “Năng lực là tổng hợp những yếu tố chủ quan của chủthể tạo thành khả năng thực hiện một công việc cụ thể xác định” [124, tr.10] Tác giả đã phân tích thực chất và những vấn đề có tính quy luật nângcao năng lực đấu tranh tư tưởng của giảng viên lý luận chính trị ở các nhàtrường quân đội Trong đánh giá thực trạng nâng cao năng lực đấu tranh

tư tưởng của giảng viên lý luận chính trị, tác giả đã chỉ ra những hạn chếtrong nhận thức của một số chủ thể được biểu hiện rõ trong thực tiễn “tìnhtrạng dạy và học có tính xuôi chiều, ít đối thoại, ít có tính huống về tưtưởng chính trị cần xử lý, lý luận chưa gắn thật sát với thực tiễn đấu tranh

tư tưởng Trong các công trình nghiên cứu của cả thầy và trò, tính chiếnđấu chưa được đề cao” [124, tr 83] Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng một

số giảng viên lý luận chính trị còn thiếu nỗ lực trong tự học tập, tự rènluyện, sử dụng ngôn ngữ, luận chứng trong giảng dạy còn thiếu chặt chẽ,lôgíc, thiếu thuyết phục đối với người học Từ đó, tác giả đã đưa ra nhữnggiải pháp cơ bản nâng cao năng lực đấu tranh tư tưởng của lực lượng này

Trần Hậu Tân (Chủ biên, 2017), Nâng cao năng lực sư phạm của đội ngũ

giảng viên trẻ trong các nhà trường quân đội hiện nay [108], đã khẳng định:

“Năng lực sư phạm của đội ngũ giảng viên trẻ ở các nhà trường quân đội là tổnghợp yếu tố tri thức, kỹ xảo, kỹ năng, thiết kế, tổ chức, giao tiếp, hợp thành khảnăng của họ, thể hiện trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và giảiquyết các tình huống sư phạm” [108, tr 15] Tác giả đã chỉ rõ những nhân tố cơbản quy định nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻ ở các nhà trườngquân đội: (1) vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và tinh thần, trách nhiệm của các chủ thểtham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng; (2) môi trường sư phạm, nghiên cứukhoa học ở các nhà trường quân đội; (3) nỗ lực chủ quan của giảng viên trẻ Từthực trạng tác giả đã đề ra năm giải pháp nâng cao năng lực sư phạm của giảngviên trẻ ở các nhà trường quân đội Trong đó, theo tác giả giải pháp: “Phát huy

Trang 22

tính tích cực, chủ động, sáng tạo của đội ngũ giảng viên trẻ trong tự nâng caonăng lực sư phạm” [108, tr 109] mang tính quyết định.

Hoàng Văn Nhân (2021), Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học

của giảng viên trẻ ngành khoa học xã hội và nhân văn ở học viện, trường

sĩ quan quân đội hiện nay [88], đã đưa ra quan niệm, những yếu tố cấu

thành, con đường hình thành, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học củagiảng viên trẻ KHXH&NV ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Trên

cơ sở lý luận tác giả đã đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, một sốkinh nghiệm và đề ra những giải pháp bồi dưỡng năng lực nghiên cứukhoa học của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các học viện, trường sĩ quanquân đội Tác giả cho rằng giải pháp “Phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo của đội ngũ giảng viên trẻ KHXH&NV ở các học viện, trường sĩquan quân đội trong tự học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứukhoa học” [88, tr 144] có vai trò trực tiếp quyết định

Bùi Văn Mạnh (Chủ biên, 2021), Quan hệ khách quan và chủ quan

trong phát triển năng lực sư phạm của giảng viên lý luận chính trị các nhà trường quân đội hiện nay [74], đã khẳng định năng lực sư phạm của giảng

viên lý luận chính trị của các nhà trường quân đội là một loại năng lựcnghề nghiệp chuyên biệt trong thực hiện nhiệm vụ giảng dạy đối với cácđối tượng khác nhau theo mục tiêu, yêu cầu giáo dục, đào tạo của các nhàtrường quân đội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định Tác giả quan niệm:

Năng lực sư phạm của giảng viên lý luận chính trị của các nhàtrường quân đội là tổng hòa các yếu tố về tư chất, vốn tri thức, kỹnăng, kỹ xảo và phẩm chất nhân cách của nhà sư phạm, hợp thànhkhả năng, điều kiện bên trong bảo đảm cho hoạt động sư phạm đạthiệu quả cao, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ giáo dục và đàotạo của nhà trường nơi họ công tác [74, tr 20]

Trang 23

Từ đó, tác giả chỉ ra cấu trúc, biểu hiện năng lực sư phạm của giảng viên

lý luận chính trị của các nhà trường quân đội, chỉ ra quan hệ và giải pháp giảiquyết quan hệ khách quan và chủ quan trong phát triển năng lực sưphạm của giảng viên lý luận chính trị các nhà trường quân đội hiện nay

Nguyễn Văn Sơn (2015), “Biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viêntrẻ các môn khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường quân đội”[104], đã chỉ ra những nét đặc thù trong thực hiện nhiệm vụ giảng dạy củađội ngũ giảng viên trẻ KHXH&NV ở các nhà trường quân đội Theo đó,bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trẻ KHXH&NV đáp ứng mục tiêu, yêu cầuđào tạo trong tình hình mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với cácnhà trường quân đội Nội dung bồi dưỡng cần toàn diện cả phẩm chất,năng lực sư phạm và phương pháp, tác phong công tác Bồi dưỡng cần tậptrung thực hiện đa dạng các hình thức và giải pháp trong đó: “Thườngxuyên giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, thế giới quan khoa học,phẩm chất đạo đức, lối sống cho giảng viên trẻ KHXH&NV” [104, tr 75]

là một trong những giải pháp chủ yếu

Nguyễn Hoàng Sáu (2018), “Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học

xã hội và nhân văn của đội ngũ giảng viên trẻ ở các học viện, trường sĩquan quân đội hiện nay” [103], đã cho rằng nâng cao năng lực nghiên cứuKHXH&NV của giảng viên trẻ có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệuquả nghiên cứu KHXH&NV ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Từthực trạng, tác giả chỉ rõ tính tất yếu phải đổi mới và nâng cao chất lượngnghiên cứu khoa học của giảng viên trẻ và đưa ra các nhóm giải pháp cơbản: (1) phát huy vai trò của các chủ thể đối với nâng cao năng lực nghiêncứu KHXH&NV cho đội ngũ giảng viên trẻ; (2) tăng cường đào tạo, bồidưỡng nâng cao trình độ tri thức của đội ngũ giảng viên trẻ ở các học viện,trường sĩ quan; (3) tạo môi trường và điều kiện thuận lợi góp phần nângcao năng lực nghiên cứu KHXH&NV của đội ngũ giảng viên trẻ; (4) phát

Trang 24

huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của đội ngũ giảng viên trẻ trongnghiên cứu khoa học.

1.2 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan đối với đề tài luận

án và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

1.2.1 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan đối với đề tài luận án

Một là, khi bàn về năng lực các tác giả trong nước và ngoài nước đã

cho rằng năng lực là tổng hòa những yếu tố tự nhiên (sinh học) và xã hội củachủ thể tạo thành khả năng của chủ thể nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan củahoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Sự đa dạngcủa các loại năng lực là do các yếu tố chủ quan không giống nhau gắn vớitừng hoạt động cụ thể và chủ thể xác định Theo các tác giả năng lực cấuthành từ yếu tố tự nhiên và xã hội của chủ thể, yếu tố tự nhiên (tư chất) làđiều kiện, tiền đề, nền tảng không thể thiếu để hình thành, phát triển năng lực;yếu tố xã hội (tri thức, kỹ xảo, kỹ năng, thái độ, phương pháp, kinhnghiệm, ) mang tính quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực.Năng lực tồn tại dưới dạng khả năng và hiện thực, biểu hiện qua thực tiễn,nhất là ở kết quả, hiệu quả hoạt động Năng lực được hình thành, phát triểnthông qua giáo dục đào tạo ở các nhà trường, tư chất, môi trường và sự họctập, rèn luyện của cá nhân Ngoài những nội dung trên, các tác giả đã tậptrung nghiên cứu những loại năng lực cụ thể, đưa ra quan niệm, vai trò, đặcđiểm, xác định những vấn đề có tính quy luật, khảo sát, đánh giá thực trạng,xác định những yêu cầu và giải pháp nâng cao, phát triển từng loại nănglực đó

Hai là, nghiên cứu năng lực sư phạm của giảng viên các tác giả đã

khẳng định, năng lực sư phạm là một loại năng lực nghề nghiệp chuyên biệt, là

sự tổng hòa các yếu tố tự nhiên và xã hội của người giảng viên nhằm đáp ứng

Trang 25

yêu cầu hoạt động sư phạm Tuy có cách tiếp cận khác nhau song các tác giả đãchỉ ra những yếu tố cơ bản cấu thành năng lực sư phạm của người giảng viên làtri thức, tư chất, kỹ năng (chuẩn đoán nhu cầu, đặc điểm đối tượng; thiết kế, tổchức; huấn luyện, giáo dục; sử dụng ngôn ngữ; nghiên cứu khoa học ), thái độ

sư phạm,… và có sự thâm nhập của một số phẩm chất Năng lực sư phạm phụthuộc vào việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng giảng viên; hoàn cảnh, điều kiệnlao động sư phạm; ý chí, thói quen và năng lực tự học của giảng viên Các tácgiả ở trong nước đã chỉ ra những nhân tố chi phối, ảnh hưởng đến năng lực sưphạm, đánh giá thực trạng năng lực sư phạm của đội ngũ giảng viên trước yêucầu phát triển đất nước, hội nhập quốc tế có sự tác động của cuộc Cách mạngcông nghiệp lần thứ tư, chỉ ra những yêu cầu mới về tính sáng tạo, tinh thầnham hiểu biết, khả năng dẫn dắt, định hướng người học đối với giảng viên; chỉ

ra những thách thức, những vấn đề cần thay đổi đối với việc đào tạo, bồidưỡng, phát triển giảng viên và đưa ra những định hướng lớn trong phát triểnnăng lực sư phạm của giảng viên

Ba là, nghiên cứu giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội, các tác giả đã đưa ra quan niệm, khái quát đặc điểm đội ngũ

giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội Tuy có nhữngđiểm khác nhau nhưng các tác giả đều cho rằng, giảng viên trẻ KHXH&NV

ở các trường sĩ quan quân đội được đào tạo cơ bản, trẻ cả về tuổi đời, tuổinghề và thiếu tri thức thực tiễn Từ đó, các tác giả đã chỉ ra vị trí, vai trò,yêu cầu phẩm chất, năng lực của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩquan quân đội trước đòi hỏi đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạotrong điều kiện hội nhập, có sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệplần thứ tư Các tác giả đã tập trung đánh giá toàn diện những ưu điểm, hạnchế, chỉ ra nguyên nhân về phẩm chất, năng lực của đội ngũ giảng viên trẻ

Trang 26

KHXH&NV và đưa ra hệ thống những giải pháp cơ bản nâng cao, phát triểnphẩm chất và năng lực của đội ngũ này

Bốn là, khi bàn về năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội, các tác giả đã đưa ra quan niệm, chỉ ra được một số yếu

tố cấu thành năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩquan quân đội Nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu một loại năng lực thành phầncủa năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV, luận giải tính tất yếu, sựcần thiết phải nâng cao, phát triển loại năng lực thành phần đó Các tác giả đãnghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, thực hiện quy trình tuyển chọnnguồn, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo giảng viên trẻ KHXH&NV Từ

đó, đã khảo sát thực trạng, chỉ ra những nguyên nhân, đề ra giải pháp cơ bảnnâng cao chất lượng thực hiện quy trình tuyển chọn, đổi mới chương trình, nộidung đào tạo và nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ởcác trường sĩ quan quân đội Một trong những giải pháp cơ bản trong nâng caonăng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV mà các tác giả cùng đưa ra là,phát huy vai trò tự đào tạo, tự bồi dưỡng của giảng viên trẻ KHXH&NV kết hợpvới nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống của họ

1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

Một là, về lý luận, đưa ra quan niệm năng lực sư phạm và những nhân

tố cơ bản quy định năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội

Vấn đề năng lực sư phạm có nhiều phương pháp tiếp cận và quan niệmkhác nhau, song chưa có công trình khoa học nào tiếp cận năng lực sư phạm củagiảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội một cách hệ thốngdưới góc độ triết học Tiếp cận dưới góc độ triết học, vận dụng phương phápluận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, sử dụng các phươngpháp nghiên cứu cụ thể để luận giải, chỉ rõ những yếu tố cơ bản và mối quan

Trang 27

hệ giữa các yếu tố cơ bản cấu thành năng lực sư phạm của giảng viên trẻKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội Trên cơ sở kế thừa tri thức củacác khoa học, trực tiếp là tri thức triết học Mác - Lênin, xây dựng các kháiniệm công cụ và đưa ra quan niệm năng lực sư phạm của giảng viên trẻKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về năng lực sư phạm của giảng viên trẻKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội trong mối liên hệ giữa cái chung vớicái riêng, giữa nguyên nhân, điều kiện, tiền đề với kết quả trong sự hình thành,vận động, phát triển năng lực sư phạm Từ đó, đi sâu luận giải làm rõ nhữngnhân tố cơ bản quy định năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở cáctrường sĩ quan quân đội Giải quyết những vấn đề trên là cơ sở lý luận để đánhgiá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, khái quát một số vấn đề đặt ra và đề ra nhữnggiải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay

Hai là, về thực tiễn, khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng năng lực sư phạm, chỉ ra nguyên nhân thực trạng và một

số vấn đề đặt ra đối với nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay

Các công trình khoa học trong tổng quan với mục đích nghiên cứu vàcách tiếp cận khác nhau đã khảo sát, đánh giá thực trạng nâng cao, pháttriển phẩm chất, năng lực đội ngũ giảng viên trẻ nói chung, giảng viên trẻKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội nói riêng Trong đó, chưa cócông trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu, khảo sát thực trạng năng lực sưphạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội trước

sự phát triển của thực tiễn hiện nay dưới góc độ triết học Trên cơ sở cấutrúc năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV và các nhân tố cơbản quy định năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các

Trang 28

trường sĩ quan quân đội luận án khảo sát, đánh giá một cách toàn diện thựctrạng năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quanquân đội, xác định nguyên nhân thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối vớinâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩquan quân đội hiện nay

Ba là, về giải pháp, đề xuất những giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay

Qua tổng quan cho thấy, nhiều công trình đã đề cập đến phươnghướng, yêu cầu và giải pháp phát triển, bồi dưỡng, nâng cao năng lực tư duy,năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực giảng dạy, năng lực đấu tranh tưtưởng, lý luận, năng lực sư phạm của giảng viên, giảng viên KHXH&NV,giảng viên trẻ trong quân đội Song, chưa có công trình nào tiếp cận trựctiếp, dưới góc độ triết học vấn đề năng lực sư phạm của giảng viên trẻKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội Do đó, luận án cần tập trung đềxuất những giải pháp cơ bản, khả thi nhằm nâng cao năng lực sư phạm củagiảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội trong thời gian tới

Trang 29

Kết luận chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

“Năng lực sư phạm của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay” cho thấy, các công trình khoa học liên

quan đã nghiên cứu các vấn đề cơ bản về năng lực, năng lực sư phạm củagiảng viên, giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội vànăng lực sư phạm của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quanquân đội dưới những góc độ và phạm vi khác nhau Các công trình đã đưa

ra quan niệm, khái quát đặc điểm giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường

sĩ quan quân đội, đưa ra hệ thống lý luận, đánh giá thực trạng và đề ra giảipháp xây dựng đội ngũ, bồi dưỡng, nâng cao, phát triển phẩm chất, nănglực của giảng viên trẻ KHXH&NV Đây là những tri thức có giá trị mangtính bao quát, tổng thể liên quan đến đề tài luận án, giúp nghiên cứu sinhtiếp thu tri thức, kế thừa, định hình phương pháp nghiên cứu, khái quátgiá trị khoa học của các công trình đối với đề tài luận án và những vấn đềluận án tập trung nghiên cứu

Tuy nhiên, qua tổng quan cũng cho thấy chưa có công trình khoahọc nào nghiên cứu trực tiếp và có hệ thống dưới góc độ triết học vềnhững vấn đề lý luận, thực tiễn năng lực sư phạm của giảng viên trẻKHXH&NV và giải pháp nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên trẻKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay Từ đó, tổng quan đãchỉ ra những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu cả về lý luận, thựctrạng, một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao năng lực sư phạm củagiảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay

Trang 30

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC SƯ PHẠM

CỦA GIẢNG VIÊN TRẺ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Ở CÁC TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI 2.1 Quan niệm năng lực sư phạm của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn và năng lực sư phạm của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội

2.1.1 Quan niệm năng lực sư phạm của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội

Quan niệm năng lực sư phạm của giảng viên

Theo Từ điển tiếng Việt, năng lực là: “(1) khả năng, điều kiện chủ quanhoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; (2) phẩm chất tâm lý vàsinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó vớichất lượng cao” [91, tr 836] Các nhà tâm lý học mácxít đã nhấn mạnh vai tròcủa phẩm chất tâm lý của năng lực nên cho rằng, năng lực là: “Tập hợp các tínhchất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạothuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [24, tr 160, 161]

Xã hội học nghiên cứu năng lực với tính cách là bộ phận cá nhân trong xã hội,theo đó, năng lực được hiểu là tài năng của con người, tài năng cùng với đạo đứctạo thành nhân cách của con người - tài và đức

Triết học Mác - Lênin tiếp cận năng lực con người về những vấn đềbản chất, quy luật, gắn với hoạt động xã hội - lịch sử, trực tiếp là lao động

Từ đó, khẳng định, năng lực của con người là sản phẩm của lao động và

sự phát triển xã hội, là thuộc tính bản chất riêng có của con người “Tráingược với động vật mà năng lực của chúng là sự tổng hợp kinh nghiệmloài được truyền lại nhờ cơ chế di truyền sinh vật và kinh nghiệm cá thể,

Trang 31

năng lực con người là sản phẩm của sự phát triển xã hội” [144, tr 379].Năng lực là toàn bộ yếu tố tự nhiên (sinh học) và xã hội của chủ thể, đượcchủ thể đó huy động và đem ra vận dụng trong hoạt động thực tiễn Trong

đó, yếu tố tự nhiên là điều kiện, cơ sở của năng lực Yếu tố xã hội có vaitrò quyết định đến sự hình thành, phát triển năng lực “Năng lực của conngười không những do hoạt động bộ não của nó quyết định, mà trước hết

là do trình độ phát triển lịch sử mà loài người đã đạt được” [144, tr 379].Năng lực tồn tại ở dạng khả năng và trở thành dạng hiện thực khi chủ thểhoạt động Do đó, kết quả hoạt động là một trong những tiêu chí quan trọngnhất để đánh giá năng lực C Mác: “Chúng tôi hiểu sức lao động hay năng lựclao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơthể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khisản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [70, tr 251] Trên cơ sở tư chất, nănglực được hình thành, phát triển từ sự nỗ lực chủ quan của chủ thể, thông quagiáo dục đào tạo, lao động và môi trường tập thể C Mác khẳng định: “ kếthợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục đối với tất cả những trẻ em trênmột lứa tuổi nào đấy, coi đó không phải chỉ là một phương pháp để làm tăngthêm nền sản xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuấtnhững con người phát triển toàn diện nữa” [73, tr 446]

Như vậy, với các góc độ nghiên cứu khác nhau, các khoa học đềukhẳng định năng lực là tổng hòa các yếu tố chủ quan của chủ thể, hợp thànhkhả năng đáp ứng yêu cầu một hoạt động nhất định Dưới góc độ chủ nghĩaduy vật biện chứng và duy vật lịch sử năng lực gồm cả yếu tố tự nhiên và yếu

tố xã hội của chủ thể Mỗi yếu tố cấu thành năng lực có vị trí, vai trò riêng,trong quan hệ biện chứng tạo thành khả năng nhận thức và hoạt động thựctiễn của chủ thể, giúp chủ thể có thể đạt được mục đích, kết quả nhất định

Trang 32

Trong các yếu tố đó, tri thức, tư chất (tự nhiên), kỹ năng và thái độ là những yếu

tố cơ bản, luôn giữ vai trò quyết định

Từ những quan niệm trên, dưới góc độ nghiên cứu của luận án, có thể

quan niệm: Năng lực là tổng hòa các yếu tố tri thức, tư chất, kỹ năng và thái

độ của chủ thể hợp thành khả năng để thực hiện một hoạt động nào đó với hiệu quả nhất định theo mục đích, nhiệm vụ, điều kiện cụ thể

Theo nghĩa phổ biến sư phạm là: (1) “khoa học về giáo dục và

giảng dạy trong trường học” [149, tr 1404]; (2) hoạt động giảng dạy vàgiáo dục ở các nhà trường; (3) tên gọi chuyên ngành đào tạo, khoa đàotạo, bồi dưỡng giáo viên các cấp; (4) quy tắc chuẩn mực của nhà giáo.Trong luận án, sư phạm được hiểu là hoạt động giảng dạy và giáo dục ởcác nhà trường

Hoạt động sư phạm của người giảng viên là hoạt động nghề nghiệp

nhằm thực hiện các chức năng giảng dạy và giáo dục (dạy chữ, dạy người).Nổi bật trong hoạt động sư phạm của người giảng viên là hoạt động giảngdạy nhằm truyền thụ tri thức, kinh nghiệm xã hội - lịch sử, kỹ năng, thái độcho người học Cùng với giảng dạy, người giảng viên trực tiếp giáo dục hìnhthành, phát triển phẩm chất nhân cách, năng lực trí tuệ, tư duy nghề nghiệp,khả năng sáng tạo và thích nghi của người học

Năng lực sư phạm của giảng viên là một loại năng lực chuyên biệt - năng

lực nghề nghiệp, phản ánh mối quan hệ tương thích giữa những yếu tố chủ quancủa người giảng viên với yêu cầu khách quan của hoạt động sư phạm Năng lực

sư phạm gồm cả yếu tố tự nhiên và xã hội của người giảng viên: Tri thức; tư chất

sư phạm; kỹ năng sư phạm và thái độ sư phạm Tổng hòa các yếu tố đó tạo thànhnăng lực sư phạm bảo đảm hoạt động sư phạm đạt mục đích và hiệu quả nhấtđịnh Năng lực sư phạm biểu hiện tập trung ở năng khiếu sư phạm, bề rộng củatri thức tổng hợp, sự vững vàng, chuyên sâu về tri thức chuyên môn; có phương

Trang 33

pháp sư phạm tốt; sự linh hoạt, sáng tạo trong xử trí các tình huống sư phạm;phong cách mẫu mực, mô phạm cao.

Từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: Năng lực sư phạm là tổng

hòa các yếu tố tri thức, tư chất, kỹ năng và thái độ sư phạm của người giảng viên hợp thành khả năng hoạt động sư phạm với hiệu quả nhất định theo mục đích, nhiệm vụ của các nhà trường đặt ra.

Tổng hòa các yếu tố tri thức, tư chất sư phạm, kỹ năng sư phạm và thái

độ sư phạm tồn tại trong một thể thống nhất, quan hệ biện chứng, tác động hữu

cơ với nhau bảo đảm hoạt động sư phạm đạt mục đích và hiệu quả nhất định.Ngoài các yếu tố trên, năng lực sư phạm có sự thâm nhập, hòa quyện củaphẩm chất Trong quá trình hoạt động sư phạm phẩm chất chính trị, đạo đức,lối sống, hành vi ứng xử của giảng viên tác động trực tiếp đến nhận thức, tưtưởng, tình cảm, thái độ của người học Từ đó, có thể làm tăng tính thuyếtphục, hiệu quả hoạt động sư phạm Khi nói đến năng lực sư phạm đã bao chứa

cả những phẩm chất nhân cách của người giảng viên Những nhà sư phạm giỏiđều là những người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, lối sống trong sáng,gương mẫu, mang tính chuẩn mực cao

Năng lực sư phạm tồn tại ở dạng khả năng, được thể hiện qua hoạt động

và các quan hệ sư phạm Tổng hòa các yếu tố tri thức, tư chất sư phạm, kỹ năng

sư phạm và thái độ sư phạm tồn tại hiện thực, tạo thành khả năng thực hiện cácnhiệm vụ sư phạm với hiệu quả nhất định Khả năng thực hiện nhiệm vụ sưphạm với hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vào mức độ tư chất sư phạm, sự tíchlũy tri thức, kỹ năng sư phạm, thái độ sư phạm Theo thời gian, thông qua đadạng các hoạt động năng lực sư phạm được bộc lộ trên thực tế Trong đó, việcxác định, thực hiện mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động vànhất là kết quả hoạt động sư phạm phản ánh rõ năng lực sư phạm Quá trìnhhoạt động sư phạm là quá trình tương tác giữa người giảng viên với các lực

Trang 34

lượng sư phạm, với môi trường và đặc biệt là với người học tạo ra các quan hệ

sư phạm Thông qua các quan hệ đó có thể thấy được phẩm chất, năng lực sưphạm của người giảng viên

Năng lực sư phạm là điều kiện bảo đảm hiệu quả của hoạt động sưphạm và năng lực sư phạm cũng được phát triển, hoàn thiện trong chính hoạtđộng đó Điều này quy định sự khác biệt của năng lực sư phạm với các loạinăng lực khác, biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa khách quan với chủquan, chủ thể với đối tượng trong hoạt động sư phạm - hoạt động đặc thùnhằm tái sản xuất nhân cách đáp ứng sự tồn tại và phát triển xã hội Giảngviên là chủ thể trung tâm của hoạt động đó Đối tượng và mục đích của hoạtđộng sư phạm là nhân cách người học Từ đó, đặt ra những yêu cầu về phẩmchất, năng lực đặc thù đối với chủ thể - giảng viên Để đáp ứng được nhữngyêu cầu đó cùng với quá trình đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thông qua hoạtđộng sư phạm giảng viên sẽ được nâng cao trình độ tri thức, phát triển tưchất sư phạm, kỹ năng sư phạm, thái độ sư phạm và hoàn thiện nhân cách.Như các hoạt động khác, hoạt động sư phạm chịu sự quy định của sự vậnđộng, phát triển của thực tiễn Theo đó, mỗi giai đoạn, mỗi nhà trường, mỗichuyên ngành, yêu cầu về năng lực sư phạm cụ thể và một trình độ năng lực

sư phạm khác nhau Năng lực sư phạm luôn mang tính lịch sử - cụ thể.

Năng lực sư phạm của người giảng viên vừa có sự thống nhất và khácbiệt với năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực giảng dạy và năng lực đấutranh tư tưởng, lý luận Năng lực sư phạm và các loại năng lực trên đều dựatrên nền tảng của năng lực chung (nhận thức, tư duy, ghi nhớ, giao tiếp, ) Quátrình hoạt động người giảng viên không chỉ giảng dạy, hình thành phát triểnphẩm chất nhân cách người học mà còn tham gia nghiên cứu khoa học và đấutranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tưtưởng của Đảng Các loại năng lực trên đều tồn tại thống nhất trong nhân cách

Trang 35

người giảng viên, hỗ trợ, bổ sung cho nhau, giao thoa với nhau cùng giúpngười giảng viên hoàn thành chức năng, nhiệm vụ Tuy nhiên, giữa các loạinăng lực đó có sự khác nhau về bản chất

Năng lực giảng dạy là một năng lực thành phần của năng lực sư phạm,

thể hiện ở khả năng truyền thụ tri thức, kỹ năng, thái độ cho người học, bảođảm hoạt động giảng dạy - hoạt động chủ yếu trong hoạt động sư phạm củangười giảng viên đạt hiệu quả nhất định

Năng lực nghiên cứu khoa học là khả năng nhận thức, phát hiện, giải

quyết những vấn đề nảy sinh về lý luận và thực tiễn nhằm tìm ra tri thức mới.Đối tượng của năng lực nghiên cứu khoa học là bản chất, quy luật của sự vật,hiện tượng Năng lực nghiên cứu khoa học dựa trên nền tảng tri thức chuyênngành sâu sắc, tư chất nghiên cứu, kỹ năng thực hiện các phương pháp, phươngtiện nghiên cứu và thái độ nghiên cứu nghiêm túc, say mê

Năng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận là khả năng lập luận, phê phán, bác

bỏ các quan điểm sai trái, khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng nhằm bảo vệ,phát triển hệ tư tưởng của Đảng Để có năng lực này cần có tri thức lý luậnchính trị toàn diện, sâu sắc, tri thức thực tiễn phong phú, tư duy lý luận, tư duyphản biện khoa học, kỹ năng sử dụng các phương pháp đấu tranh cùng với bảnlĩnh chính trị vững vàng và tinh thần đấu tranh mạnh mẽ

-Luật Giáo dục đại học năm 2012 khẳng định: “Giảng viên là người dạy ở

cơ sở giáo dục đại học và sau đại học” [99, tr 43, 44] Luật Giáo dục đại họcnăm 2018, điều 54 cũng ghi: Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người cónhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệmvụ; có trình độ đáp ứng quy định của Luật này, quy chế tổ chức và hoạt động của

cơ sở giáo dục đại học Chức danh giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên,giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư [100] Theo Mục 3, Chương 5, Điều 38,Điều lệ Công tác nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam: “Nhà giáo trong cáchọc viện, trường sĩ quan, trường đại học, trường cao đẳng được gọi là giảng

Trang 36

viên Nhà giáo trong các trường trung cấp, trường quân sự quân khu, quân đoàn,trường quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, trường quân sự tỉnh, thành phố vàcác cơ sở giáo dục khác gọi là giáo viên” [13, tr 20]

Như vậy, giảng viên là danh từ chỉ chức danh của những người đang làmnhiệm vụ giảng dạy đại học và sau đại học tại các trường đại học, các học việntrong hệ thống giáo dục, đào tạo của quốc gia Giảng viên trong quân đội baogồm cả những người đang làm nhiệm vụ giảng dạy ở các học viện, trường sĩquan, trường đại học, trường cao đẳng Giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩquan quân đội là một bộ phận của đội ngũ giảng viên trong quân đội và trong

hệ thống giáo dục, đào tạo của cả nước Họ là một trong những lực lượng quantrọng có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoahọc, đấu tranh tư tưởng, lý luận của các trường sĩ quan quân đội

Năng lực sư phạm của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quanquân đội có sự tương đồng và khác biệt so với năng lực sư phạm của giảngviên KHXH&NV ở các trường ngoài quân đội và giảng viên khoa học tựnhiên, giảng viên khoa học quân sự Điều này do vai trò, nhiệm vụ của giảngviên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội quy định Giảng viênKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội có nhiệm vụ xây dựng, bồi dưỡngthế giới quan, phương pháp luận khoa học, năng lực tư duy lý luận, niềm tincộng sản, tư tưởng chính trị, đạo đức, văn hóa, động cơ, xu hướng nghềnghiệp và các phẩm chất nhân cách học viên đào tạo sĩ quan quân đội phục vụyêu cầu huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và xây dựng quân đội vữngmạnh Giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội là những người

đi đầu trong việc giữ vững trận địa chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng củaĐảng trong quân đội, góp phần quan trọng vào việc xây dựng quân đội vữngmạnh về chính trị Họ được tuyển chọn theo tiêu chuẩn tuyển sinh quân sự vàtiêu chuẩn tuyển chọn giảng viên KHXH&NV thực hiện nhiệm vụ trong môi

Trang 37

trường quân sự đặc thù; được phát huy tư chất sư phạm, được trang bị, pháttriển hệ thống tri thức, kỹ năng sư phạm và thái độ sư phạm KHXH&NV.Năng lực sư phạm của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội

có sự khác biệt so với năng lực sư phạm của giảng viên KHXH&NV ở cáctrường ngoài quân đội, giảng viên khoa học tự nhiên, khoa học quân sự cả vềcác yếu tố cấu thành, mục đích và sự thể hiện trong thực tiễn

Theo đó, năng lực sư phạm của giảng viên KHXH&NV ở các trường

sĩ quan quân đội là tổng hòa các yếu tố tri thức, tư chất, kỹ năng và thái độ

sư phạm của họ hợp thành khả năng hoạt động sư phạm với hiệu quả nhất định theo mục đích, nhiệm vụ của các nhà trường đặt ra.

Trong thành phần tri thức cấu thành năng lực sư phạm của giảng viênKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội, tri thức lý luận chính trị là nền tảng,tri thức chuyên ngành KHXH&NV là nòng cốt, phản ánh đặc thù chuyên mônnghề nghiệp đáp ứng yêu cầu giảng dạy, giáo dục, nghiên cứu KHXH&NV, đấutranh tư tưởng, lý luận trong môi trường quân sự Để đáp ứng được yêu cầunhiệm vụ, giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội được trang bị

hệ thống tri thức tâm lý học quân sự, sư phạm quân sự, công tác đảng, công tácchính trị trong lực lượng vũ trang và khoa học nghệ thuật quân sự

Đặc thù hoạt động quân sự quy định năng lực sư phạm của giảng viênKHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội được hình thành, phát triển trên cơ

sở tư chất sư phạm với tiêu chuẩn cao phù hợp với môi trường quân sự Đó là

giác quan nhanh nhạy, trí tuệ, trí nhớ, sức khỏe, thể lực tốt, khả năng chịu áplực cao theo những tiêu chuẩn tuyển sinh đại học quân sự, tuyển chọnnguồn đầu vào đào tạo giảng viên KHXH&NV và tuyển dụng giảng viênKHXH&NV của các nhà trường quân đội

Kỹ năng sư phạm của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quanquân đội phục vụ việc thực hiện mục đích, nội dung, phương pháp sư phạm

Trang 38

của các môn KHXH&NV trong môi trường quân sự Hệ thống kỹ năng sưphạm các môn KHXH&NV có đặc điểm riêng so với hệ thống kỹ năng sưphạm của các môn khoa học tự nhiên, khoa học quân sự Giảng viênKHXH&NV phải thành thạo kỹ năng tổ chức các nội dung, hình thức,phương pháp giảng dạy các môn KHXH&NV, nhất là nhóm phương pháp sửdụng ngôn ngữ trong môi trường quân sự

Thái độ sư phạm của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quanquân đội không chỉ được hình thành trên cơ sở nhận thức, cảm xúc, tình cảm đốivới hoạt động sư phạm mà còn có sự hòa quyện bởi sự giác ngộ giai cấp, mụcđích, lý tưởng chiến đấu, tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh của người quân nhân,người cán bộ cách mạng và người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Các yếu tố tri thức, tư chất sư phạm, kỹ năng sư phạm và thái độ sư phạmtồn tại trong quan hệ thống nhất biện chứng hợp thành năng lực sư phạm củagiảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội Cùng với các phẩm chất,năng lực sư phạm của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội tạonên nhân cách đặc trưng - nhân cách giảng viên KHXH&NV quân sự Họ là nhàgiáo - người chiến sĩ cách mạng, chuyên gia lý luận chính trị - sĩ quan quân đội,đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp góp phần quan trọng vào việc xâydựng quân đội vững mạnh, trước hết là vững mạnh về chính trị

2.1.2 Quan niệm năng lực sư phạm của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội

Quan niệm giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường

sĩ quan quân đội

Thông tư 11/2017/TT-BGDĐT, ngày 05 tháng 5 năm 2017 của BộGiáo dục và Đào tạo về ban hành Quy chế xét tặng Giải thưởng “Khoa học vàcông nghệ dành cho giảng viên trẻ trong các cơ sở giáo dục đại học” đã xác

Trang 39

định giảng viên trẻ là giảng viên, nghiên cứu viên trong các cơ sở giáo dục đại

học không quá 35 tuổi (tính tròn theo năm dương lịch) [10]

Giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội là một

bộ phận của giảng viên KHXH&NV trong quân đội, làm nhiệm vụ giảngdạy, giáo dục, nghiên cứu khoa học, tham gia đấu tranh tư tưởng, lýluận, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối, quan điểm của Đảng Giảng viên trẻ KHXH&NV đang trong độ tuổithanh niên là lực lượng hăng hái trong mọi hoạt động, tham gia đào tạo đại học

và sau đại học, trực tiếp trang bị tri thức, bồi dưỡng, phát triển thế giới quan,phương pháp luận mácxít, niềm tin cộng sản, bồi dưỡng nhân cách học viênđào tạo sĩ quan cấp phân đội Tham gia các hội thảo khoa học, viết báo, tạp chí,giáo trình, làm đề tài, chuyên đề khoa học, hướng dẫn học viên nghiên cứukhoa học, đấu tranh tư tưởng, lý luận Một số giảng viên trẻ KHXH&NV làđảng ủy viên, chi ủy viên, phó chủ nhiệm, chủ nhiệm bộ môn, có trình độ thạc

sĩ, tiến sĩ trực tiếp tham gia công tác lãnh đạo, chỉ huy, quản lý ở các khoa giáoviên trong các trường sĩ quan quân đội

Tiếp cận quan niệm giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quanquân đội có nhiều cách khác nhau Luận án chủ yếu nghiên cứu đối tượnggiảng viên trẻ KHXH&NV trong Quân đội nhân dân Việt Nam mang tínhtương đối về tuổi đời và tuổi nghề Theo đó, giảng viên trẻ KHXH&NV ở cáctrường sĩ quan quân đội là những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, viênchức quốc phòng đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo chức danh giảng viên do BộQuốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, giảng dạy, nghiên cứuKHXH&NV, đấu tranh tư tưởng, lý luận với những tiêu chí cụ thể còn trẻ cả

về tuổi đời (không quá 35) và tuổi nghề (dưới 5 năm), học vấn (có trình độ đạihọc trở lên) và nguồn đào tạo (trong hoặc ngoài quân đội)

Giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội là nhữngngười mới vào nghề sư phạm đang trong giai đoạn khẳng định bản thân,

Trang 40

ở độ tuổi sung sức, nhanh nhạy, thích tiếp thu cái mới song còn ít kinhnghiệm thực tiễn Hiện nay, giảng viên trẻ KHXH&NV theo quan niệmcủa luận án chiếm khoảng 20% giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩquan quân đội [Phụ lục 12].

Từ đó, có thể quan niệm: Giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ

quan quân đội là một bộ phận giảng viên KHXH&NV trong quân đội, mới vào nghề, tuổi đời không quá 35, tuổi nghề dưới 5 năm, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục, nghiên cứu khoa học, đấu tranh tư tưởng, lý luận ở các nhà trường.

Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và thực tiễn xây dựng độingũ giảng viên trong quân đội cho thấy giảng viên trẻ KHXH&NV ở cáctrường sĩ quan quân đội có một số đặc điểm cơ bản:

Một là, giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội được đào tạo từ những nguồn khác nhau

Giảng viên trẻ KHXH&NV được đào tạo trong quân đội chiếm đa số,gồm ba lực lượng cơ bản Lực lượng được đào tạo giáo viên KHXH&NV ởTrường Sĩ quan Chính trị Ban đầu họ là những học viên trúng tuyển trong kỳtuyển sinh đại học quân sự sau đó được tuyển chọn đào tạo giáo viên theo cácchuyên ngành KHXH&NV Lực lượng đào tạo giảng viên KHXH&NV cấptrung, sư đoàn ở Học viện Chính trị đã là cán bộ chính trị (tốt nghiệp Trường Sĩquan Chính trị hoặc đã chuyển loại chính trị) trong quân đội, đã qua thực tiễnđơn vị (chính trị viên đại đội và tương đương trở lên, riêng chuyên ngành xâydựng Đảng phải qua chức danh chính trị viên phó tiểu đoàn và tương đương)[11] Lực lượng giảng viên trẻ KHXH&NV đã qua đào tạo sau đại học

Giảng viên trẻ KHXH&NV tốt nghiệp ở Trường Sĩ quan Chính trị vàHọc viện Chính trị được đào tạo theo quy trình cơ bản với mục tiêu đào tạo cán

bộ giảng dạy, nghiên cứu KHXH&NV, chương trình, nội dung tập trung chủ

Ngày đăng: 25/06/2023, 13:22

w