Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu 28 Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CHẤT LƯỢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘN
Trang 1liệu sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận án
Nguyễn Hữu Trung
Trang 2Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
1.1 Các công trình khoa học ở nước ngoài liên quan đến
1.2 Các công trình khoa học ở trong nước liên quan đến
1.3 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những
vấn đề luận án tập trung nghiên cứu 28
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CHẤT
LƯỢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ
BỊ ĐỘNG VIÊN CỦA CÁC HUYỆN ỦY TRÊN ĐỊA
2.1 Các huyện trên địa bàn Tây Nguyên và xây dựng lực lượng
dự bị động viên của các huyện trên địa bàn Tây Nguyên 33
2 2 Các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên và lãnh đạo xây
dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa
2 3 Quan niệm, những yếu tố quy định, biểu hiện và tiêu chí
đánh giá chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bịđộng viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên 70
Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG, NGUYÊN NHÂN
VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN CỦA CÁC HUYỆN ỦY TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN 82
3.1 Thực trạng chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị
động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên 823.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng lực
lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên 108
Trang 3Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN CỦA CÁC HUYỆN
ỦY TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN HIỆN NAY 1254.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượnglãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của cáchuyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay 1254.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựnglực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
Trang 411 Quốc phòng toàn dân QPTD
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Lực lượng DBĐV là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam,sẵn sàng bổ sung cho lực lượng thường trực của Quân đội khi có chiến tranhxảy ra, góp phần tăng cường tiềm lực quân sự, nâng cao sức mạnh chiến đấucủa Quân đội trong chiến tranh BVTQ Xây dựng LLDBĐV hùng hậu có đủ
số lượng, cơ cấu hợp lý và có chất lượng cao là một trong những vấn đề có ýnghĩa chiến lược trong sự nghiệp BVTQ xã hội chủ nghĩa
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược về QSQP trong thế trận phòng thủchung của đất nước Vì vậy, xây dựng LLDBĐV ở các huyện trên ĐBTN làyêu cầu khách quan, trực tiếp bổ sung lực lượng cho các đơn vị quân đội đứngchân trên ĐBTN, các đơn vị chủ lực của Quân khu 5, Quân khu 7 khi có tìnhhuống chiến tranh xảy ra, góp phần củng cố thế trận QPAN, giữ vững ổn địnhchính trị, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống có hiệu quả chiến lược “diễnbiến hòa bình” của các thế lực thù địch, tham gia phòng, chống khắc phục hậuquả thảm họa, thiên tai, dịch bệnh ở các huyện trên ĐBTN
Xây dựng LLDBĐV là một bộ phận của xây dựng LLVT nhân dân, Quânđội nhân dân Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản ViệtNam, của cấp ủy địa phương trên phạm vi cả nước, trong đó có các huyện ủytrên ĐBTN Huyện ủy có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thựchiện các quan điểm, đường lối QSQP, đường lối chiến tranh nhân dân, xâydựng thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân; thực hiện đường lốichính trị, quân sự của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về QPAN,thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên về công tác động viênquân đội Đồng thời, tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng và xây dựng LLVTđịa phương vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ, giữ vững an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
Trang 6Nhận thức đúng vai trò chiến lược của các huyện trên ĐBTN, vai trò, tầmquan trọng của LLDBĐV Trong những năm qua, các huyện ủy trên ĐBTN đãđặc biệt quan tâm lãnh đạo xây dựng LLDBĐV có số lượng, cơ cấu, chất lượngđáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ QSQP, giữ vững ổn định an ninh, chính trị để pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn Tuy nhiên, do những nguyên nhân kháchquan và chủ quan, chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện ủytrên ĐBTN còn có những hạn chế, bất cập như: vai trò, trách nhiệm của một sốcấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trong nhiệm vụ xây dựng LLDBĐVtheo quy định của pháp luật chưa được quan tâm đúng mức; chưa phát huyđược sức mạnh của HTCT trong xây dựng LLDBĐV, chất lượng một số đơn vịDBĐV còn hạn chế; việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địaphương đối với cơ quan quân sự cùng cấp trong phối hợp với đơn vị nhậnnguồn để thực hiện quy trình bổ nhiệm, sắp xếp quân nhân dự bị theo thẩmquyền một số nơi chưa đúng quy định; quản lý LLDBĐV của các địa phươngxây dựng nguồn, giao nguồn và các đơn vị nhân nguồn DBĐV chưa thườngxuyên, liên tục; nắm tình hình di biến động và các điều kiện, hoàn cảnh củaquân nhân dự bị chưa kịp thời… đã ảnh hưởng trực tiếp kết quả xây dựngLLDBĐV về số lượng, cơ cấu, chất lượng so với mục tiêu, yêu cầu đề ra Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, có nhiềuthay đổi rất nhanh chóng, khó lường Trong nước, thế và lực của đất nước, sứcmạnh tổng hợp của quốc gia, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nângcao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và BVTQ Các huyện trênĐBTN tuy đã tạo được thế và lực mới để ổn định và phát triển, song vẫn phảiđối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức; các thế lực thù địch tiếp tục thựchiện âm mưu “diễn biến hòa bình”; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ,nhân quyền để chống phá, gây nên sự bất ổn về chính trị xã hội trên địa bàn,chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm xói mòn niềm tin của đồng bào cácdân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước, chế độ và Quân đội ta; yêu cầu,
Trang 7nhiệm vụ xây dựng và BVTQ xã hội chủ nghĩa đã có sự phát triển; yêu cầunhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng; yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chiến đấucủa Quân đội, xây dựng LLVT của Quân khu 5, Quân khu 7 và LLVT địaphương trên ĐBTN đòi hỏi ngày càng cao Tình hình trên, đòi hỏi phải nângcao hơn nữa chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện trênĐBTN đáp ứng sự phát triển của tình hình nhiệm vụ trong điều kiện mới
Vì vậy, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay” làm đề tài luận án Tiến sỹ chuyên ngành xây dựng Đảng và chính
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, khái quátgiá trị các công trình đã tổng quan; xác định những vấn đề đặt ra luận án cầntiếp tục giải quyết
Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về chất lượng lãnh đạoxây dựng lực lượng DBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN
Đánh giá đúng thực trạng chất lượng lãnh đạo, chỉ rõ nguyên nhân và rút
ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐV củacác huyện ủy trên ĐBTN
Làm rõ những yếu tố tác động, xác định yêu cầu và đề xuất những giảipháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện ủy trênĐBTN hiện nay
Trang 83 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN
Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn vềLLDBĐV, xây dựng LLDBĐV và chất lượng lãnh đạo, nâng cao chất lượnglãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN (không bao gồm cácthị ủy, thành ủy trực thuộc các tỉnh ủy trên ĐBTN)
Tiến hành nghiên cứu, khảo sát tại 10 huyện ở các tỉnh trên ĐBTN Đốitượng tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến gồm đại diện các cơ quanchức năng của huyện ủy và CQQS huyện
Các tư liệu, số liệu phục vụ cho luận án được giới hạn chủ yếu từ năm
2015 đến năm 2021 Các giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựngLLDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN có giá trị vận dụng đến năm 2030
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềQSQP; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiếnđấu của cấp ủy, tổ chức đảng; về nguyên tắc, cơ chế, quan điểm Đảng lãnh đạocông tác QSQP địa phương; về đường lối quân sự của Đảng Cộng sản ViệtNam; về xây dựng LLVT nhân dân, xây dựng KVPT, về xây dựng LLDBĐVtrong tình hình mới
Cơ sở thực tiễn
Hiện thực lãnh đạo, chỉ đạo trong xây dựng LLDBĐV của các huyện ủytrên ĐBTN; thực tiễn hoạt động của LLDBĐV, hoạt động của chính quyền,các tổ chức, các lực lượng tham gia xây dựng LLDBĐV; báo cáo tổng kếtcông tác QSQP địa phương, xây dựng LLVT địa phương của Bộ Quốc phòng,
Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, của các huyện trên ĐBTN; các tài liệu, số liệu điềutra, khảo sát thực tế của tác giả
Trang 9Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sửdụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành vàliên ngành, trong đó chú trọng các phương pháp: kết hợp giữa lịch sử với lôgíc,phân tích với tổng hợp, quy nạp với diễn dịch; hệ thống cấu trúc; thống kê với
so sánh; tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia
5 Những đóng góp mới của luận án
Xây dựng quan niệm, luận giải làm rõ những vấn đề lý luận về chấtlượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN
Rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựngLLDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN
Đề xuất một số nội dung, biện pháp cụ thể, có tính khả thi trong các giảipháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện ủy trênĐBTN hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lýluận, thực tiễn về chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện ủytrên ĐBTN
Cung cấp thêm luận cứ khoa học giúp các cấp ủy địa phương, các tổ chức,các lực lượng có liên quan lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng LLDBĐV, trực tiếp làhuyện ủy trên ĐBTN trong nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐVđáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy vàhọc tập ở các học viện, nhà trường quân đội, trường chính trị của tỉnh vàtrung tâm chính trị các huyện trên ĐBTN
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), kết luận, danh mục cáccông trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án vàdanh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình khoa học ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Các công trình khoa học về xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang, lực lượng dự bị động viên
Trong quá trình xây dựng, chuẩn bị lực lượng cho đấu tranh giải phóngdân tộc và BVTQ ở các nước xã hội chủ nghĩa và cả một số nước có thể chếchính trị khác, đã có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng và hoạt động củaLLVT và LLDBĐV Trong đó, các công trình đã khẳng định: tổ chức xâydựng LLDBĐV là một nhiệm vụ quan trọng của công tác động viên quân đội,
là vấn đề cốt lõi của công cuộc xây dựng nền QPTD, xây dựng thế trận chiếntranh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, vấn đề này xuất phát
từ luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính chất chính nghĩa, vai trò củaquần chúng nhân dân trong chiến tranh BVTQ xã hội chủ nghĩa; xuất phát từkinh nghiệm lịch sử và truyền thống của dân tộc các quốc gia Một số côngtrình tiêu biểu đó là:
A.A.Grê - Scô (1978), Các lực lượng vũ trang của nhà nước Xô Viết [102].
Tác giả đã chỉ ra trong nghệ thuật lãnh đạo chính trị - quân sự Xô Viết, đó là việc
sử dụng một cách khéo léo tính chất bất ngờ trong hoạt động quân sự, trong việcchuẩn bị kịp thời các lực lượng dự bị và điều động chúng một cách mạnh dạn,trong tính chất rõ ràng của sự hiệp đồng và bảo đảm toàn diện những hoạt độngquân sự Đồng thời, tác giả khẳng định: “Sự nhìn xa trông rộng và sự thận trọngcủa ban lãnh đạo chính trị - quân sự Xô Viết đã thể hiện ra đầy đủ trong việc kịpthời chuẩn bị và sử dụng một cách khéo léo các lực lượng dự bị chiến lược vàchiến dịch Điều đó, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chiến thắng mộtquân thù có những khả năng chiến lược lớn” [102, tr.338]
Trang 11I.K.Ba.Gờ-Ra-Mi-An (1986), Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự lực lượng vũ trang Xô Viết [02] Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm và truyền
thống chiến đấu anh hùng của LLVT Xô Viết cuốn sách khẳng định, lựclượng hậu bị chiến lược có ảnh hưởng to lớn đến thắng lợi các cuộc chiến đấucủa quân đội Xô Viết trong thời kỳ này Mặt khác, cuốn sách chỉ rõ, trongthời chiến có từ 10 đến 20% nhân dân trong nước bị động viên vào hàng ngũLLVT và để xây dựng lực lượng hậu bị đảm bảo chất lượng, Đồng thời nhấnmạnh: “việc phục vụ trong quân đội của nhân dân lao động bao gồm việchuấn luyện trước khi nhập ngũ, việc huấn luyện quân sự ở các đơn vị thườngtrực, các lớp tập huấn ngắn hạn ở các đơn vị địa phương, việc huấn luyệnngoài quân đội và thời gian ở hậu bị” [02, tr.167]
Chương Tư Nghị (2006), Công tác đảng, công tác chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc [134] Tác giả cho rằng, quân dự bị là một
LLVT không thể thoát ly sản xuất trong thời bình do Đảng cộng sản lãnh đạo.Xây dựng quân dự bị là quyết sách quan trọng của phương châm chiến lượcphòng ngự tích cực của Đảng và Bộ Tổng, là sự tổng kết và kế thừa truyềnthống kinh nghiệm động viên bộ đội trong lịch sử nước ta và học hỏi kinhnghiệm nước ngoài Bằng kinh nghiệm tiến hành công tác đảng, công tácchính trị của quân giải phóng Trung Quốc, tác giả cho rằng:
Xây dựng quân dự bị là phù hợp với tình hình nước ta, thời bìnhquân chính là dân, đây là một biện pháp tốt để tiết kiệm chi phíquân sự, giảm nhẹ gánh nặng của đất nước, có lợi cho việc xâydựng bốn hiện đại hóa; là hình thức hữu hiệu để tăng cường xây lựclượng hậu bị quốc phòng mang đậm màu sắc Trung Quốc, phải hạquyết tâm nắm chắc việc xây dựng quân dự bị [134, tr.738]
Lam Giang (1998), “Trung Quốc xây dựng lực lượng dự bị động viênthích ứng với chiến tranh nhân dân trong điều kiện kĩ thuật cao” [103] Theoquan điểm của tác giả, thì trong thời kỳ hòa bình số lượng LLDBĐV không
Trang 12cần quá nhiều, để tập trung nhân tài vật lực cho xây dựng kinh tế Vì vậy, cầnphải xây dựng kiện toàn chế độ phục vụ ở ngạch DBĐV, kiện toàn cơ chếđộng viên, nhanh chóng tổ chức một LLDBĐV đủ về số lượng, tương đối cao
về chất lượng, động viên nhanh chóng, cơ chế hoàn bị Gần đây, Trung Quốcđẩy mạnh việc thực hiện phương châm chiến lược quân sự mang tên “hai
chuyển biến căn bản” nội dung gồm: Một là, về chuẩn bị chiến tranh quân sự
chuyển từ việc chuẩn bị ứng phó với chiến tranh cục bộ trong điều kiện thôngthường sang đánh thắng chiến tranh cục bộ trong điều kiện hiện đại, đặc biệt
là điều kiện kỹ thuật cao; Hai là, về xây dựng LLVT chuyển từ loại hình quy
mô số lượng sang loại hình chất lượng, hiệu quả, từ tập trung nhân lực sangtập trung khoa học kỹ thuật
John Donovan (2007), “Quân đội Ôxtrâylia tăng cường lực lượng dựbị” [65] Theo tác giả, lực lượng dự bị có vai trò trong việc duy trì khảnăng mở rộng hoạt động của quân đội trong các cuộc xung đột thôngthường, lực lượng dự bị là nơi duy trì các khả năng mà lực lượng chính quychỉ cần đến trong một thời điểm nào đó trong các cuộc xung đột cường độthấp, chứ không cần thường xuyên Đồng thời, tác giả chỉ ra một số nhiệm
vụ của lực lượng dự bị trong thời gian tới như: Duy trì tình trạng sẵn sàngchiến đấu cao của các đơn vị, sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ cộngđồng; sẵn sàng luân chuyển, thay thế, bổ sung các đơn vị chiến đấu, bổ trợcho lực lượng chính quy; xây dựng, duy trì các kế hoạch động viên, kịp thờiđáp ứng các tình huống phòng thủ đất nước
Kim Kiến Trung (2014), “Xác định đúng mục tiêu xây dựng quân đội vữngmạnh, nâng cao chất lượng lực lượng dự bị động viên” [177] Bài viết nêu quanđiểm của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong xây dựng quân đội vữngmạnh, nâng cao chất lượng DBĐV trong tình hình mới thì điều mấu chốt là phảichuẩn bị năng lực sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết không buông lỏng, huấn luyệnlực lượng này thật tốt Đồng thời, chỉ rõ trong huấn luyện LLDBĐV thì cần thực
Trang 13hiện huấn luyện theo đúng nguyên tắc rèn binh sỹ như thế nào thì huấn luyệnLLDBĐV như vậy, huấn luyện cả những tình huống khó, huấn luyện một cáchnghiêm khắc, không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, nâng cao ý chí, đưacác bài huấn luyện gắn sát với thực tế, phấn đấu nâng cao năng lực sẵn sàngchiến đấu và quyết tâm giành chiến thắng của LLDBĐV
1.1.2 Các công trình khoa học về hoạt động lãnh đạo lực lượng vũ trang, lực lượng dự bị động viên
I.S.Mét - Nhi - Cốp (1972), Đảng Cộng sản người lãnh đạo và giáo dục các lực lượng vũ trang Xô Viết [125] Cuốn sách khẳng định sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Liên Xô là nguồn sức mạnh chính của LLVT Liên Xô Vai tròlãnh đạo và hướng dẫn của Đảng là đề ra đường lối quân sự chung Nhà nước taqua từng giai đoạn lịch sử, Đảng đặt ra những nền móng khoa học phòng thủđất nước, vạch ra những phương hướng chính phát triển LLVT Tác giả chỉ rõ:
Trong những nghị quyết của Đại hội Đảng và của Hội nghị BanChấp hành Trung ương Đảng đã xác định rõ chính sách của Nhànước Xô Viết trong giai đoạn đấu tranh với những lực lượng phảncách mạng bên trong và chủ nghĩa đế quốc thế giới trong những nămnội chiến Đảng còn vạch ra con đường nhằm bảo đảm sức mạnhquân sự trong giai đoạn xây dựng trong hòa bình chủ nghĩa quân sự,thi hành những biện pháp quan trọng nhất để củng cố quốc phòngsẵn sàng đánh trả quân thù và đập tan bọn phát xít Đức và chư hầucủa chúng trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại [125, tr.11,12]
A.A Ê-Pi-Sép (1976), Công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô 1918-1973 [100] Cuốn sách khái quát, bằng mọi cách
bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối ở tất cả các khâu khác nhau của công cuộc xâydựng quân đội Liên Xô nói chung, các LLVT cách mạng nói riêng Trước sựphát triển của LLVT trong tình hình mới và những nhiệm vụ mới đòi hỏiĐảng phải có những thay đổi và cải tiến trong tất cả các khâu của bộ máy
Trang 14đảng - chính trị ở các đơn vị bộ đội và binh đoàn, trong các trường quân sự,các cục chính trị của các quân khu và các tập đoàn quân và hạm đội Tác giảcho rằng, dưới sự chỉ đạo của đảng ủy cấp trên, các chi bộ trung đoàn cóchính ủy là người lãnh đạo toàn quyền về công tác đảng ở mặt trận Đồng thờichỉ rõ, để lãnh đạo đơn vị tốt phải nâng cao tính tư tưởng, tinh thần đấu tranhkhông khoan dung với những khuyết điểm, giáo dục phẩm chất đạo đức, ýthức trách nhiệm với nhiệm vụ, mở rộng quan hệ với quần chúng chiến sĩ,phát huy họ trong giải quyết nhiệm vụ huấn luyện và chiến đấu để tác độngtích cực vào đời sống Hồng quân và Hạm đội.
E.Ph.Xu-Li-Mốp, V.V.Se-Li-Ắc (1980), Sự lãnh đạo khoa học trong các lực lượng vũ trang xô viết [183] Cuốn sách khẳng định vai trò thống trị
của Đảng trong sự lãnh đạo các LLVT được coi như một quy luật, đã đượcV.I.Lênin luận chứng một cách toàn diện Phân tích kinh nghiệm lãnh đạo đấtnước và Hồng quân trong những năm nội chiến, cuốn sách cũng đã phân tíchtoàn diện và cho rằng Đảng lúc đó đã có chuẩn bị sẵn sàng, vì đảng có kỷ luậtrất nghiêm và uy tín của Đảng đã đoàn kết được tất cả các cơ quan và tất cảcác ngành, vì có hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn và có đến cả hàng triệungười đều nhất trí tuân theo khẩu hiệu của Ban Chấp hành Trung ương Đồngthời, chỉ rõ: “sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với lực lượng vũ trang lànguyên tắc cơ bản nhất của công tác xây dựng quân sự” [183, tr.34, 35]
P.I.Các-Pen-Cô (1981), Công tác đảng - chính trị trong các lực lượng
vũ trang Xô Viết [37] Nội dung cuốn sách nghiên cứu và tổng kết sự hình
thành và phát triển của công tác đảng - chính trị trong sự nghiệp xây dựngquân sự Xô Viết, rút ra những kết luận khoa học trong xây dựng LLVT XôViết Tác giả chỉ ra được vai trò lãnh đạo của Đảng là nguồn gốc quan trọngcủa thắng lợi mà nhân dân và LLVT Xô Viết đã giành được trong chiến tranhgiữ nước vĩ đại Đảng là lực lượng lãnh đạo và chỉ đạo xã hội Liên Xô, là hạtnhân của toàn bộ HTCT, của toàn bộ các tổ chức Nhà nước và xã hội Xô Viết
Trang 15V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng: “…không có một vấn đề chính trị hay tổ chứcquan trọng nào do một cơ quan Nhà nước giải quyết mà lại không có chỉ thịcủa Ban chấp hành trung ương Đảng” [37, tr.28] Đồng thời, khẳng địnhtrong chiến tranh giữ nước vĩ đại: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, họ lập nhiềuchiến công chưa từng có trong lịch sử Suốt chiến tranh nền công nghiệp Liên
Xô đã sản xuất một số lượng trang bị kỹ thuật nhiều gấp đôi số lượng do nềncông nghiệp nước Đức Hít-Le sản xuất Vì vậy, quân đội và hàm đội đã cóđầy đủ trang bị kỹ thuật loại tốt nhất bây giờ” [37, tr.31]
A.A.Ê-Pi-Sép (1983), Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô là nguồn gốc quyết định sức mạnh của Quân đội và Hải quân Liên Xô [101] Trong
cuốn sách, tác giả khẳng định: Vai trò lãnh đạo của Đảng trong các LLVT màđại diện là Ban Chấp hành Trung ương, coi đây là nguyên tắc căn bản trongxây dựng và hoạt động của quân đội Trên cơ sở phân tích toàn diện sự pháttriển của tình hình quốc tế, khả năng phòng thủ Tổ quốc của Quân đội và Hảiquân Xô Viết, đề ra những chính sách xây dựng tiềm lực kinh tế và khoa họccủa đất nước để nâng cao sức mạnh chiến đấu của các LLVT Cuốn sách chỉrõ: “Việc nâng cao vai trò lãnh đạo Đảng trong các LLVT còn được quy địnhbởi ảnh hưởng ngày càng lớn của các nhân tố chính trị - xã hội đối với việccủng cố sức mạnh phòng thủ của đất nước; là do nhiệm vụ quốc tế ngày càngrộng lớn sâu sắc của Nhà nước Xô Viết và các lực lượng vũ trang của Nhànước trong bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội” [101, tr.18]
A.I.Xê-Rê-Kin (1983), Sự phát triển ngày càng lớn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô trong củng cố lực lượng vũ trang và một số vấn đề xây dựng Đảng trong Quân đội và Hải quân Liên Xô [182] Cuốn sách đã khái
quát vai trò to lớn của Đảng Cộng sản trong lãnh đạo xây dựng quân đội cáchmạng Đồng thời, khẳng định: Sự lãnh đạo của Đảng đối với các LLVT lànguyên tắc trong xây dựng quân đội cách mạng nhằm bảo đảm xây dựng niềmtin, sự giác ngộ chính trị, hướng dẫn hành động cho bộ đội Theo tác giả, khi
Trang 16Đảng Cộng sản đã xác định được đường lối đúng đắn, chính sách phù hợp, thìkết quả công việc phụ thuộc quyết định trước hết vào khâu tổ chức thực hiệnđường lối Đối tượng quan tâm đặc biệt của tổ chức đảng trong tổ chức thựchiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng là lãnh đạo, xây dựng đơn vị,xây dựng tổ chức chỉ huy, xây dựng đời sống mọi mặt của đơn vị và duy trì sẵnsàng chiến đấu, nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội
Quân ủy Trung ương Trung Quốc (2004), Điều lệ công tác đảng ủy quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc [145] Điều lệ gồm 7 chương, 33 điều,
đây là văn bản pháp quy đầu tiên quy chế hóa công tác đảng ủy trong quânđội, là căn cứ cơ bản để cấp ủy đảng trong quân đội Trung Quốc triển khaicông tác Điều lệ coi bảo đảm lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội làmục đích căn bản, thể hiện cụ thể tư tưởng, nguyên tắc, chức trách, trình tự vàchế độ công tác đảng ủy, lấy quán triệt chế độ tập trung dân chủ và “nguyêntắc 16 chữ” làm trọng điểm, kiên trì, kế thừa và sáng tạo trên cơ sở tổng kếttruyền thống tốt đẹp và kinh nghiệm lịch sử về công tác đảng ủy trong quânđội Điều lệ xác định: các cấp ủy trong quân đội phải được chỉ đạo bằng chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình và tưtưởng quan trọng Ba đại diện, quán triệt tư tưởng xây dựng quốc phòng vàquân đội của Giang Trạch Dân
Bun-Phêng Sỉ-Pa-Xợt (2008), “Nâng cao chất lượng lãnh đạo sức chiếnđấu của tổ chức cơ sở Đảng trong Đảng bộ quân đội nhân dân Lào” [151].Tác giả khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởngthành, lớn mạnh và chiến thắng của quân đội nhân dân Lào Đồng thời, chỉĐảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo quân đội nhân dân Lào tuyệt đối, trựctiếp, toàn diện, thông qua hệ thống các tổ chức trong quân đội Trên cơ sở,đánh giá khách quan thực trạng chất lượng lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng trong Đảng bộ quân đội nhân dân Lào, tác giả đề xuất thực hiệnmột số giải pháp như sau: tập trung xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch
Trang 17vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêucầu lãnh đạo đơn vị hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống; xây dựng cấp
ủy trong sạch vững mạnh, gắn xây dựng cấp ủy với xây dựng cán bộ chủ trìmẫu mực; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, gắn việc xây dựngđội ngũ cán bộ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ; phát huy đầy đủ tráchnhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên và sự nổ lực của cơ sở trong việc nângcao chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
1.2 Các công trình khoa học ở trong nước liên quan đến đề tài luận án
1.2.1 Các công trình khoa học về xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang, lực lượng dự bị động viên
Phạm Ngọc Phán (2001), Công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên giai đoạn cách mạng mới [139].
Nội dung cuốn sách đã chỉ ra để xây dựng LLDBĐV đạt hiệu quả thì cần phải
có sự kế thừa, phát triển kế sách “Ngụ binh ư nông”, “Thực túc binh cường”của tổ tiên ta Đồng thời, là quá trình nghiên cứu vận dụng phát triển sáng tạochủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, tác giả cũng đã
đề suất 6 biện pháp chủ yếu xây dựng LLDBĐV: Tuyên truyền, giáo dục nângcao nhận thức trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ xây dựng LLDBĐV; Phối hợphoạt động giữa các tổ chức trong HTCT ở địa phương và đơn vị quân đội, xâydựng nâng cao chất lượng chính trị LLDBĐV; Phát huy hiệu lực công tác đảng,công tác chính trị trong các khâu, các bước xây dựng, huấn luyện, diễn tậpđộng viên; chăm lo xây dựng các đơn vị thường trực được phân bổ nguồn độngviên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; Xây dựng đội ngũ sĩ quan dự
bị đáp ứng yêu cầu kế hoạch xây dựng, huy động LLDBĐV; Thực hiện tốtchính sách hậu phương quân đội, chế độ đãi ngộ đối với LLDBĐV
Trần Phước Nha (2002), Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị Quân khu 5 trong tình hình hiện nay [135] Tác giả
Trang 18đã chỉ ra được vị trí, vai trò của sĩ quan dự bị ở Quân khu 5 Đánh giá đúngthực trạng, xác định rõ nguyên nhân mạnh yếu và rút ra được những bài họckinh nghiệm trong công tác xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị ở Quân khu 5 Trên
cơ sở đó, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp cơ bản, có tính khả thi về nângcao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng đội ngũ sĩ quan sự bị Quân khu 5:Nâng cao nhận thức cho mọi người, trước hết là cho cấp ủy, cán bộ các cấp vàđội ngũ sĩ quan dự bị đối với công tác xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị; Tăngcường sự lãnh đạo, quản lý công tác xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị; Khôngngừng đổi mới nội dung, phương pháp tiến hành công tác xây dựng đội ngũ sĩquan dự bị đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới; Phát huy truyền thống tự lực,
tự cường và thế mạnh của từng địa phương, đơn vị trong công tác xây dựng độingũ sĩ quan dự bị ở Quân khu 5; Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, huấnluyện nâng cao chất lượng toàn diện cho đội ngũ sĩ quan dự bị ở Quân khu 5
Lê Văn Dũng (2002), Công tác động viên quân đội [68] Cuốn sách đã
khẳng định, công tác động viên quân đội có vị trí đặc biệt quan trọng trongcông cuộc chuẩn bị LLVT, chuẩn bị đất nước sẵn sàng chống chiến tranh xâmlược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tác giả chỉ rõ: vịtrí, tác dụng của công tác động viên quân đội; tính tất yếu khách quan xâydựng lực lượng dự bị ở nước ta; nguyên tắc, yêu cầu, quyền và nghĩa vụ củacác chủ thể trong xây dựng và huy động LLDBĐV; quyền và nghĩa vụ củacác chủ thể trong xây dựng, huy động LLDBĐV Trên cơ sở đó, tác giả cũngchỉ ra các yêu cầu xây dựng và huy động LLDBĐV: bảo đảm số lượng theo
kế hoạch, chất lượng cao, đúng thời gian, bí mật an toàn; bảo đảm cho yêucầu duy trì và phát triển chiến tranh nhân dân địa phương; bảo đảm cho yêucầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế của địa phương trong thời chiến
Tổng cục Chính trị (2004), Những nội dung cơ bản về nghiệp vụ công tác sĩ quan dự bị [174] Nội dung cuốn sách bao gồm những quan điểm,
nguyên tắc, nội dung và cách tiến hành công tác sĩ quan dự bị trong giai đoạn
Trang 19mới Công trình đã chỉ rõ, công tác sĩ quan dự bị là một khâu quan trọng trongcông tác xây dựng và huy động LLDBĐV, một nhiệm vụ cơ bản, thườngxuyên, có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và chiến đấucủa Quân đội ta Đồng thời, cuốn sách cũng khẳng định để làm tốt công tác sĩquan dự bị thì cần làm tốt các khâu, các bước như: xây dựng văn kiện kếhoạch công tác sĩ quan dự bị; công tác tích lũy nguồn và huấn luyện sĩ quan
dự bị; công tác đăng ký, quản lý sĩ quan dự bị; sắp xếp, bổ nhiệm, thăng quânhàm và gọi sĩ quan dự bị vào phục vụ tại ngũ trong thời bình
Phạm Ngọc Giới (2007), Bệnh viện dã chiến dự bị động viên [105].
Cuốn sách chỉ rõ: Vị trí, chức năng của bệnh viện dã chiến là cơ sở điều trịcấp chiến dịch hoặc chiến lược, nằm trong hệ thống bậc thang điều trị kịp thờichiến của ngành quân y; có chức năng thu dung, điều trị thương binh, bệnhbinh theo phân cấp cứu chữa Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những nguyêntắc cơ bản trong phương thức tạo nguồn xây dựng bệnh viện dã chiến dự bịđộng viên là: thực hành động viên gọn ở mức thành lập được một khoa hoặcphòng chuyên môn cho bệnh viện dã chiến từ một cơ sở của dân y và bảo đảm
tỷ lệ động viên không vượt quá 15% tổng số cán bộ - nhân viên chuyên môncủa cơ sở dân y, có nhiệm vụ cung cấp nhân lực và tỷ lệ nữ không vượt quá30% biên chế của bệnh viện dã chiến; cán bộ - nhân viên y tế được tạo nguồnphải nằm trong độ tuổi quy định và có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp
vụ đúng với yêu cầu bố trí, sử dụng trong cơ cấu tổ chức bệnh viện dã chiến;động viên nhân lực đi kèm với trang thiết bị y tế của cơ sở có nhiệm vụ tạonguồn để đảm bảo tính đồng bộ trong trang bị của ban và chặt chẽ trong côngtác quản lý, khai thác, sử dụng
Nguyễn Huy Hiệu (2010), Một số vấn đề nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc [111] Bằng việc tổng kết những kinh nghiệm
của nghệ thuật quân sự Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
Trang 20chống Mỹ, tác giả khẳng định lực lượng thường trực đóng vai trò quantrọng trong việc xây dựng lực lượng dự bị để bảo đảm nguồn bổ xung choQuân đội khi có chiến tranh Cuốn sách cũng chỉ rõ:
Trong thời bình, lực lượng dự bị được đăng ký, quản lý, tổ chức thànhcác đơn vị dự bị, được huấn luyện theo chương trình quy định và thựchiện các nhiệm vụ khác của địa phương Lực lượng dự bị có đủ cácthành phần tương ứng với các thành phần của lực lượng thường trực,gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ các quân chủng, binh chủng của bộđội chủ lực, bộ đội địa phương đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ và một
số công dân được quy định trong ngạch dự bị [111, tr.176]
Lê Văn Đính, Vũ Anh Tuấn (2014), Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân,
an ninh nhân dân ở địa bàn các tỉnh Tây Nguyên [97] Cuốn sách đã chỉ rõ vị trí, vai
trò của thế trận QPTD, an ninh nhân dân ở các tỉnh trên ĐBTN, chỉ ra tính tất yếukhách quan; những đặc điểm thuận lợi, khó khăn trong quá trình tổ chức xây dựngthế trận QPTD, an ninh nhân dân Mặt khác, cuốn sách cho rằng LLDBĐV của bộđội địa phương ở các tỉnh Tây Nguyên thời gian qua còn phân tán, trong khi đó tìnhhình hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch ở Tây Nguyên phức tạp nên phảithường xuyên sẵn sàng động viên khẩn cấp Trên cơ sở đó, tác giả nhấn mạnh:
Phải thường xuyên rà soát nắm chắc lực lượng này, lựa chọn đưa vàocác đơn vị động viên khẩn cấp những lực lượng có khả năng để độngviên tập trung nhanh nhất, cố gắng sắp xếp ở những khu vực đôngdân cư để tập trung nhanh Đồng thời, phải thường xuyên luyện tậpđộng viên, tăng cường lãnh đạo giáo dục để chống địch câu móc, lôikéo Phải sắp xếp ưu tiên thời gian huấn luyện kỹ, chiến thuật phùhợp với đánh địch bạo loạn lật đỗ, ly khai có vũ trang và có khả nănghuy động hỗ trợ chống địch bạo loạn chính trị như ngăn chặn biểu
Trang 21tình, bảo vệ mục tiêu, chốt chặn trục đường, xóa dấu vết, vận độngquần chúng ổn định tình hình sau bạo loạn [97, tr.178].
Trần Trọng Trung (2015), Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong những năm đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh (1965 - 1969) [180] Bằng
việc tổng kết những kinh nghiệm của nghệ thuật quân sự Việt Nam quacuộc kháng chiến chống Mỹ trong giai đoạn này, tác giả chỉ rõ vị trí, tầmquan trọng của lực lượng dự bị trong chiến tranh và nhấn mạnh bố trí binhlực có trọng điểm, nắm lực lượng dự bị mạnh Với việc ban hành một sốquyết định như: Ngày 21/4/1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết địnhđộng viên một bộ phận sĩ quan, hạ sĩ quan và công dân thuộc ngạch dự bị.Ngày 05/5/1965, Chủ tịch Hồ chí Minh ký lệnh động viên số 47/LCT,động viên một bộ phận sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị và một bộ phậncông dân thuộc ngạnh dự bị của quân đội, nhưng chưa phục vụ tại ngũ.Ngày 11/5/1965, Thủ tướng ra chỉ thị động viên một bộ phận thanh niên,học sinh, cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật và quân nhân đãxuất ngũ Cuốn sách khẳng định:
Trong nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của cuộc chiến tranh cầnnắm vững tư tưởng chỉ đạo của Đảng về xây dựng lực lượng vũtrang Đồng thời, hết sức chú trọng việc nhanh chóng nâng caochất lượng các lực lượng dự bị chiến lược, bảo đảm cho các lựclượng này xuất trận là đánh thắng và có thể đánh thắng nhữngtrận tiêu diệt lớn [84, tr.362]
Trần Hoài Trung (2017), Tài liệu học tập chính trị của lực lượng dự bị động viên [181] Cuốn sách tập trung luận giải làm rõ vai trò, nguyên tắc, nội
dung xây dựng LLDBĐV Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản vềxây dựng LLDBĐV trong tình hình mới Tác giả chỉ rõ:
Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, vững mạnh về chínhtrị, tư tưởng, tổ chức, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng cao là
Trang 22nhiệm vụ chính trị thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toànquân, là Cuộc vận động chính trị sâu sắc trong quần chúng để thựchiện nghĩa vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân
và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo
vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn địnhchính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội [85, tr.208,209]
Trịnh Vương Hồng (2019), Lịch sử quân sự Việt Nam thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2000) [114] Cuốn sách phản ánh hoạt động quân sự
của LLVT nhân dân Việt Nam từ năm 1975 đến năm 2000 Tác giả đã tậptrung làm rõ cuộc chiến đấu chống xâm lược, BVTQ ở biên giới Tây Nam vàbiên giới Tây Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế với hai nước bạn Lào và Campuchia;xây dựng LLVT nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân theo hướng cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng khu vực phòng thủtỉnh, huyện, thành phố vững chắc, tăng cường thế trận QPAN, bảo vệ độc lập,chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Cuốn sách cũng chỉ ra rằng, đi đôivới việc xây dựng lực lượng thường trực đủ sức mạnh để BVTQ thì lực lượng
dự bị, dân quân tự vệ trong cả nước cần được khẩn trương xây dựng, đáp ứngyêu cầu sẵn sàng chiến đấu, mở rộng quân đội khi cần thiết Đối với quân dự bịcần được xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ và huấn luyện chu đáo Thờibình, LLDBĐV được đăng ký, quản lý thành đơn vị huấn luyện theo chươngtrình quy định Khi có lệnh động viên, lực lượng này được huy động để khôiphục và mở rộng lực lượng quân đội theo tổ chức biên chế thời chiến
Trần Đình Minh (2001), Tổ chức xây dựng và huy động nguồn lực lượng
dự bị động viên cấp huyện (đồng bằng) các tỉnh phía bắc trong tình hình hiện nay [128] Đề tài gồm hai chương, 08 tiết, với tổng dung lượng 86 trang Tác
giả đã chỉ ra nhiệm vụ xây dựng nguồn LLDBĐV hùng hậu để bổ sung, tăng
Trang 23cường cho lực lượng thường trực của Quân đội khi có nhu cầu chiến đấu Phảităng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhànước, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhândân và mọi công dân nhằm xây dựng và huy động nguồn LLDBĐV được xâydựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có trình độ chiến đấu cao vàđược quản lý chặt chẽ; một số giải pháp xây dựng và huy động nguồnLLDBĐV: Giải pháp về khó khăn các mặt ảnh hưởng đến tổ chức xây dựng
và huy động nguồn LLDBĐV; nâng cao năng lực vận hành lãnh đạo, chỉ huytrong tổ chức xây dựng và huy động; kết hợp chặt chẽ giáo dục với thực hiệnchính sách đãi ngộ; bồi dưỡng hoàn thiện cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyêntrách trong và ngoài quân đội
Trịnh Xuân Thu (2009), Nâng cao chất lượng xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên hậu cần khu vực phòng thủ tỉnh thuộc địa bàn Tây Nguyên [173] Luận án đã luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn
về chất lượng xây dựng và huy động LLDBĐV hậu cần khu vực phòng thủ tỉnhthuộc ĐBTN Khái quát được sự hình thành và phát triển của LLDBĐV nóichung và LLDBĐV hậu cần của các nước trên thế giới và ở Việt Nam; chỉ racác yếu tố tác động đến chất lượng xây dựng và huy động LLDBĐV hậu cầnkhu vực phòng thủ tỉnh thuộc ĐBTN Đồng thời, rút ra những kinh nghiệm vềxây dựng và huy động LLDBĐV hậu cần khu vực phòng thủ tỉnh thuộc ĐBTNtrong kháng chiến, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân Trên cơ sở
đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng và huy độngLLDBĐV hậu cần khu vực phòng thủ tỉnh thuộc ĐBTN hiện nay
Nguyễn Thế Hải (2017), Công tác đảng, Công tác chính trị trong xây dựng quân nhân dự bị ở các tỉnh, thành phố trên địa bàn quân khu 7 hiện nay
[108] Luận án đã luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn vềcông tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng quân nhân dự bị ở các tỉnh,thành phố trên địa bàn Quân khu 7 hiện nay, chỉ ra quan niệm, vai trò, tiêu
Trang 24chí, nguyên tắc xây dựng quân nhân dự bị ở các tỉnh, thành phố trên địa bànQuân khu 7 Trên cơ sở, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất 5 giải pháp tăngcường công tác đảng, công tác chính trị xây dựng quân nhân dự bị ở các tỉnh,thành phố trên địa bàn Quân khu 7 hiện nay: tạo sự chuyển biến mạnh mẽ vềnhận thức, trách nhiệm của các tổ chức và các lực lượng…; tăng cường sựlãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng trong xây dựngquân nhân dự bị tăng cường ở các tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu 7hiện nay; phát huy vai trò của đội ngũ chủ chốt và cơ quan chức năng của địaphương; xác định đúng nội dung, vận dụng linh hoạt sáng tạo các hình thứcbiện pháp; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác chính sách trong xây dựngquân nhân dự bị ở các tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu 7 hiện nay.
Nguyễn Tân Cương (2019), “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùnghậu, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc”[63] Bài viết khẳngđịnh, LLDBĐV là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam Xâydựng LLDBĐV hùng hậu, có chất lượng cao là chủ trương chiến lược củaĐảng, trách nhiệm của cả HTCT và toàn dân, nhằm củng cố, tăng cường
tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong tình hình mới
Trên cơ sở, đánh giá đúng thực trạng, tác giả đã đề xuất một số giải phápxây dựng LLDBĐV: tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chínhquyền các địa phương và cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đối với nhiệm vụ xâydựng LLDBĐV; đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật về xây dựng
LLDBĐV phù hợp với sự phát triển của thực tiễn; thực hiện đồng bộ các
biện pháp nâng cao chất lượng xây dựng LLDBĐV tích cực huy động cácnguồn lực bảo đảm cho xây dựng LLDBĐV
1.2.2 Các công trình khoa học về hoạt động lãnh đạo xây dựng lực vũ trang, lực lượng dự bị động viên
Hồ Khang (2014), Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 [121] Nội dung cuốn sách là những vấn đề cơ bản, cốt yếu của tư
Trang 25tưởng quân sự Việt Nam hiện đại trên mọi chiều cạnh, chỉ ra tính độc đáo, đặcsắc và vận dụng những giá trị của nó vào BVTQ và xây dựng nền QPTD Tácgiả khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nguồn gốc, là nhân tố quyết định sự
ra đời, trưởng thành và phát triển của LLVT nhân dân Việt Nam Dưới sựlãnh đạo của Đảng, trong quá trình xây dựng, LLVT ta luôn có được mục tiêuchiến đấu và đường lối xây dựng rõ ràng, để phát huy sức mạnh của mình và
đã chiến thắng mọi kẻ thù, đồng thời chỉ rõ:
Sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang phải là sự lãnh đạotuyết đối, trực tiếp và toàn diện Trong lực lượng vũ trang, chỉ cóĐảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất nắm quyền lãnhđạo Ban Chấp hành Trung ương trực tiếp lãnh đạo lực lượng vũtrang Trong Quân đội, hệ thống tổ chức của Đảng được phân cấp từtrên xuống dưới để trực tiếp lãnh đạo đơn vị Đảng không qua mộthình thức tổ chức trung gian nào khác để thực hành việc lãnh đạo lựclượng vũ trang Sự lãnh đạo của Đảng trong lực lượng vũ trang đượcbao quát toàn diện từ quân chủng, binh chủng, mọi ngành, mọi mặthoạt động cả trong xây dựng và chiến đấu; không có khâu nào tronglực lượng vũ trang thiếu sự lãnh đạo của Đảng [121, tr.504]
Trần Tất Thắng (2018), Nâng cao năng lực lãnh đạo công tác quốc phòng, quân sự địa phương của Đảng ủy quân sự tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu 3 giai đoạn hiện nay [159] Theo tác giả, để nâng cao năng
lực lãnh đạo công tác QSQP địa phương trên địa bàn Quân khu 3 cần tậptrung làm tốt một số giải pháp sau: Tăng cường giáo dục, nâng cao nhậnthức, trách nhiệm của các chủ thể, các lực lượng; Tăng cường sự lãnh đạocủa cấp ủy, sự chỉ đạo của cán bộ chủ trì và cơ quan cấp trên; Xác định đúng
và thực hiện tốt các nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thứcbiện pháp nâng cao; Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của đảng ủyquân sự trong tự học tập, rèn luyện nâng cao năng lực lãnh đạo công tác
Trang 26QSQP địa phương; Phát huy sức mạnh tổng hợp trong nâng cao năng lựclãnh đạo công tác QSQP địa phương của đảng ủy tỉnh, thành phố.
Trần Ngọc Hồi (2020), Tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy, thành
ủy đối với công tác quân sự, quốc phòng địa phương hiện nay [113] Tác giả
đã nghiên cứu và cho rằng công tác QSQP địa phương có vị trí đặc biệt quantrọng trong xây dựng nền QPTD, chiến tranh nhân dân BVTQ xã hội chủnghĩa Đồng thời, khẳng định vấn đề quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyếtđịnh là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối công tác QSQP địaphương ngay từ cơ sở, từ các địa phương, tỉnh, thành phố Ngoài ra, nộidung của cuốn sách cũng chỉ rõ vai trò lãnh đạo của các tỉnh ủy, thành ủyđối với công tác QSQP địa phương ở các tỉnh, thành phố: Bảo đảm quanđiểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết,chỉ thị của cấp trên về công tác QSQP được quán triệt và thực hiện; Trựctiếp định hướng nhận thức chính trị của HTCT, LLVT và các tầng lớp Nhândân về công tác QSQP địa phương; Trực tiếp xây dựng đảng ủy quân sự,CQQS, LLVT địa phương vững mạnh đủ sức làm tham mưu cho các tỉnh,thành phố trong công tác QSQP địa phương; Trực tiếp góp phần xây dựngkhu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc
Vũ Quang Sơn (2009), Nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng ủy trung đoàn bộ binh làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay [152] Luận án đã phân tích, luận
giải khoa học quan niệm về chất lượng lãnh đạo bao gồm tính đúng đắn củacác chủ trương, biện pháp lãnh đạo; của việc tổ chức thực hiện nghị quyết;kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết của các chủ thể lãnh đạo; đượcphản ánh ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ và mức độ chuyển biến của các đốitượng lãnh đạo Từ đó rút ra những vấn đề có tính nguyên tắc trong chỉ đạohoạt động và nâng cao chất lượng lãnh đạo Tuy nhiên, luận án cũng mới chỉ
Trang 27tiếp cận đến việc nâng cao chất lượng lãnh đạo như là một yếu tố nhằm làmcho hoạt động lãnh đạo của đảng ủy trung đoàn có chất lượng cao hơn Mặc
dù tác giả đã luận giải chất lượng lãnh đạo của đảng ủy trung đoàn phụ thuộcvào năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của đảng ủy, xem xét chất lượng lãnhđạo của đảng ủy trung đoàn phải đặt nó trong tổng thể của hoạt động lãnhđạo, các khâu, các bước của quy trình lãnh đạo Song luận án chưa nghiên cứusâu và đưa ra giải pháp cụ thể để thực hiện các khâu, các bước trong quy trìnhlãnh đạo nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, bảo đảm chất lượng lãnh đạo củađảng ủy được nâng lên
Bùi Anh Thi (2020), Nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân của các đảng ủy xã, phường, thị trấn trên địa bàn quân khu 3 hiện nay [172] Luận án đã luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn
về nâng cao chất lượng lãnh đạo của các xã, phường, thị trấn trên địa bànQuân khu 3 đối với xây dựng lực lượng dân quân, chỉ ra được quan niệm,tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng lãnh đạo của các xã, phường, thị trấntrên địa bàn Quân khu 3 đối với xây dựng lực lượng dân quân Trên cơ sởtổng hợp, phân tích tác giả đánh giá khách quan, khoa học về thực trạng, chỉ
rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng lãnh đạo.Đồng thời, đề xuất những giải pháp cụ thể và có tính khả thi nhằm nâng caochất lượng lãnh đạo của các xã, phường, thị trấn trên địa bàn Quân khu 3 đốivới xây dựng lực lượng dân quân
Các tác giả đều khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của cấp ủy, chínhquyền địa phương đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động xây dựngLLDBĐV; chỉ rõ, quá trình thực hiện phải làm tốt công tác chuẩn bị, có kếhoạch hướng dẫn cụ thể cho từng cấp, nhất là phải phù hợp với đặc điểm,nhiệm vụ từng đơn vị cơ sở và phải có tính khả thi và triển khai thực hiệntoàn diện các nội dung xây dựng LLDBĐV vững mạnh; nắm chắc những mặt,
Trang 28những nội dung trọng tâm, trọng điểm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tậptrung lực lượng dứt điểm đúng kế hoạch; quan tâm dự báo tình hình, thườngxuyên sâu sát, bám nắm cơ sở, kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh
về nhận thức tư tưởng, những mặt yếu, khâu yếu trong xây dựng LLDBĐV,
đề xuất các biện pháp khắc phục sữa chữa kịp thời Đồng thời các đơn vị xácđịnh quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, cácngành với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, trên cơ sở phát huy vai tròlàm tham mưu của CQQS địa phương trong xây dựng LLDBĐV vững mạnh;coi trọng bồi dưỡng nâng cao phẩm chất chính trị cho LLDBĐV Quan tâmchăm lo xây dựng LLDBĐV nòng cốt, đầu tư thích đáng cơ sở vật chất, kinhphí, tài liệu, tư liệu, thời gian, lực lượng, phương tiện tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động của LLDBĐV Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinhthần của LLDBĐV, nhất là bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị chohoạt động thực hiện nhiệm vụ của DBĐV thời kỳ mới
1.3 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
1.3.1 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan
Một là, giá trị về lý luận
Các công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài đã góp phần làmsâu sắc và phát triển toàn diện hơn lý luận về xây dựng LLVT, nhất là cáchtiếp cận về xây dựng LLDBĐV, về vai trò của Đảng Cộng sản trong lãnh đạoxây dựng LLDBĐV ở một số nước trên thế giới và khẳng định đó là nội dunghết sức quan trọng trong xây dựng LLVT của mỗi quốc gia, dân tộc Vớinhiều cách tiếp cận khác nhau, các công trình khoa học ở cả trong nước vànước ngoài đã đi sâu nghiên cứu luận giải làm sáng tỏ nhiều vấn đề hết sức cơbản, như: vị trí, vai trò, tầm quan trọng của LLDBĐV và sự cần thiết xâydựng LLDBĐV ở mỗi quốc gia, dân tộc
Trang 29Một số công trình nghiên cứu đã đi sâu phân tích và khẳng định vấn đề
có tính nguyên tắc trong xây dựng LLDBĐV phải đặt dưới sự lãnh đạo trựctiếp, tuyệt đối của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủnghĩa mà trực tiếp là sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền địaphương; khẳng định sự cần thiết tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, quản lýcủa chính quyền địa phương đối với xây dựng LLVT nói chung, xây dựngLLDBĐV nói riêng trong tình hình mới Để tăng cường sự lãnh đạo, quản lýcủa cấp ủy, chính quyền địa phương đối với xây dựng LLDBĐV trước hết cầnphải nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng và cầnphải có những qui định cụ thể để cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, ban,ngành, tổ chức CTXH ở địa phương thống nhất lãnh đạo, quản lý, điều hànhxây dựng LLDBĐV ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình… Đây là nhữngđóng góp hết sức quan trọng, góp phần phát triển lý luận khoa học xây dựngĐảng và chính quyền Nhà nước nói chung và xây dựng LLDBĐV nói riêng Giá trị của các công trình trên đây là nguồn tài liệu phong phú, quí giágiúp cho nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ kiến thứctoàn diện của bản thân Mặt khác, đây cũng là cơ sở, điều kiện thuận lợi giúpnghiên cứu sinh có thể tham khảo, chọn lọc kế thừa, phát triển những hạt nhânhợp lý trong quá trình xây dựng luận án; nhất là những vấn đề cơ bản, như:vai trò, đặc điểm LLDBĐV, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lýcủa Nhà nước trong xây dựng LLDBĐV
Hai là, giá trị về thực tiễn
Thực tiễn cho thấy, các công trình: sách, đề tài khoa học, luận án, báokhoa học đã nghiệm thu công bố ở trong nước và nước ngoài có giá trị thựctiễn hết sức to lớn Hầu hết kết quả nghiên cứu của các công trình đều đãđược các đảng cầm quyền, các nhà nước, các nhà khoa học ở nhiều quốc giatham khảo, vận dụng vào thực tiễn công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhànước pháp quyền, xây dựng quân đội và xây dựng LLVT ở mỗi quốc gia, dân
Trang 30tộc Quá trình ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn cũng đã kiểmnghiệm được tính đúng đắn và giá trị khoa học của các kết quả nghiên cứu.Kết quả nghiên cứu của các công trình đã nghiệm thu công bố ở cả trongnước và nước ngoài cũng có ý nghĩa thực tiễn hết sức thiết thực đối vớinghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu, xây dựng luận án Nó giúp chonghiên cứu sinh có cách nhìn tổng quan, toàn diện về thực tiễn các hoạt độngxây dựng LLDBĐV; vai trò của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương tronglãnh đạo xây dựng LLDBĐV Mặt khác, thông qua học tập, nghiên cứu, tiếpthu kết quả của các công trình giúp cho nghiên cứu sinh có phương pháp xemxét, đánh giá toàn diện thực trạng, phân tích nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm,xác định những vấn đề đặt ra, những yếu tố tác động Trên cơ sở đó, xác địnhyêu cầu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐVcủa các huyện ủy trên ĐBTN hiện nay
Tóm lại, Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước có liên
quan đến đề tài luận án đã có những giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, đây lànguồn tài liệu quý để nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình thực hiệnluận án Tuy nhiên, do giới hạn bởi mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vinghiên cứu, nên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơbản, toàn diện, chuyên sâu về nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựngLLDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN hiện nay dưới góc độ khoa họcchuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước Vì vậy, đề tài luận
án là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết, là công trình nghiên cứuđộc lập, không trùng lặp với các công trình đã nghiệm thu, công bố
1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Từ kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án,
để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận án cần tập trungnghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:
Trang 31Một là, khái quát, luận giải những vấn đề lý luận về xây dựng LLDBĐV
của các huyện trên ĐBTN Trong đó, tập trung làm rõ về các huyện và vai trò,đặc điểm xây dựng LLDBĐV của các huyện trên ĐBTN; luận giải, làm rõquan niệm, mục đích, chủ thể, đối tượng, lực lượng tham gia, nội dung, hìnhthức, biện pháp xây dựng LLDBĐV của các huyện trên ĐBTN
Hai là, trên cơ sở nghiên cứu làm rõ đặc điểm, cơ cấu, số lượng, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ của các huyện ủy trên ĐBTN, luận
án tập trung luận giải, làm rõ nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựngLLDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN; xây dựng quan niệm chất lượng lãnhđạo, chỉ ra những yếu tố qui định, biểu hiện và tiêu chí đánh giá chất lượnglãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN
Ba là, trên cơ sở nghiên cứu các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy
Trung ương, Bộ Quốc phòng; các nghị quyết, báo cáo sơ kết, tổng kết công táclãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện xây dựng LLDBĐV của một số huyện ủy,tỉnh ủy, CQQS huyện, tỉnh trên ĐBTN; đánh giá đúng thực trạng chất lượnglãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN; chỉ rõ nguyên nhân
và rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐVcủa các huyện ủy trên ĐBTN
Bốn là, phân tích, làm rõ những yếu tố tác động đến nâng cao chất lượng
lãnh đạo xây dựng LLDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN Xác định yêu cầu
và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng LLDBĐVcủa các huyện ủy trên ĐBTN hiện nay
Trang 32Kết luận chương 1
Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước
có liên quan đến đề tài luận án cho thấy vấn đề lãnh đạo xây dựngLLDBĐV được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, lãnh đạo,quản lý, chỉ huy, khá đa dạng, phong phú dưới nhiều góc độ tiếp cận khácnhau của các chuyên ngành khoa học theo đối tượng, nhiệm vụ, phạm vinghiên cứu đã xác định
Các công trình khoa học đã luận giải khá sâu sắc về vị trí, vai trò, đặcđiểm của lực lượng DBĐV, về xây dựng và huy động lực lượng DBĐV, vềtầm quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo xây dựng lực lượngDBĐV; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ của các cấp ủy, tổchức đảng, về lãnh đạo, quản lý, điều hành, hoạt động của lực lượng DBĐVtrong sự nghiệp xây dựng và BVTQ xã hội chủ nghĩa
Các công trình khoa học được nghiên cứu sinh tổng hợp, hệ thống đãluận giải khá sâu sắc nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tàiluận án Đây là nguồn tư liệu, tài liệu phong phú, thiết thực, rất có giá trị vềmặt khoa học, giúp cho nghiên cứu sinh có cái nhìn tổng thể hơn về kết quảnghiên cứu trước đó nhằm tham khảo, đối chiếu, kế thừa trong quá trình thựchiện đề tài luận án
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệthống, chuyên sâu về nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượngDBĐV của các huyện ủy trên ĐBTN dưới góc độ khoa học chuyên ngành xâydựng Đảng và chính quyền Nhà nước Vì vậy, đề tài luận án của nghiên cứusinh là công trình khoa học độc lập, không trùng lập với các công trình nghiêncứu ở nước ngoài và trong nước đã công bố
Trang 33Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CHẤT LƯỢNG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN CỦA CÁC
HUYỆN ỦY TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN 2.1 Các huyện và xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện trên địa bàn Tây Nguyên
2.1.1 Các huyện và lực lượng dự bị động viên của các huyện trên địa bàn Tây Nguyên
2.1.1.1 Khái quát các huyện trên địa bàn Tây Nguyên
Tây nguyên gồm có 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, LâmĐồng; là địa bàn có vị trí chiến lược trọng yếu, then chốt về QPAN; là nơi giaolưu văn hóa, kinh tế giữa các vùng và giữa các nước trong tiểu vùng sông MêKông; có diện tích tự nhiên là 54.474 km2, chiếm 16,8% diện tích cả nước, dân
số đến năm 2019 có hơn 5.842.000 người, chiếm 6,1% dân số cả nước, khu vựcthành thị chiếm 29,12%, khu vực nông thôn chiếm 70,88% dân số; có 580,4
km đường biên giới trên bộ giáp với nước bạn Lào và Campuchia; toàn tuyếnbiên giới có 5 cửa khẩu chính: Cửa khẩu Bờ Y (huyện Ngọc Hồi, tỉnh KomTum) đi sang tỉnh Áttapư (Lào), cửa khẩu Lệ Thanh (huyện Đức Cơ, tỉnh GiaLai) đi sang tỉnh Ratanakiri (Campuchia), cửa khẩu Bu Prăng, Đắk Peur (tỉnhĐắk Nông) và Đắk Ruê (tỉnh Đắk Lắk) đi sang tỉnh Mondulkiri (Campuchia).Nằm ở đông Trường Sơn và tây Trường Sơn Như vậy, theo cơ cấu, tổ chứchành chính của các tỉnh trên ĐBTN hiện có 62 đơn vị hành chính cấp huyện(trong đó, có 06 thành phố, 03 thị xã, 53 huyện) được tổ chức theo đúng Hiếnpháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Về địa lý - tự nhiên: Các huyện thuộc các tỉnh trên ĐBTN chủ yếu là địa
hình rừng núi, trung du với hệ thống sông suối chằng chịt; chịu ảnh hưởngcủa khí hậu cận xích đạo; nhiệt độ trung bình năm khoảng 20 độ C, điều hòa
Trang 34quanh năm biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệnh cao trên 5,5 độ C, hìnhthành 2 mùa rõ rệt: mùa khô nóng hạn, thiếu nước trầm trọng, mùa mưa nóng
ẩm, tập trung 85-90% lượng mưa của cả năm Có tiềm năng rất to lớn vềnguồn tài nguyên thiên nhiên với những thế mạnh mà ít địa phương nào ởnước ta có thể so sánh Đây là địa bàn hoạt động của nhiều loại hình tôn giáo,trong đó chủ yếu là Công giáo, Phật giáo, Tin Lành và Cao đài Hiện nay, có
49 dân tộc cùng chung sống, gồm 12 dân tộc bản địa và 37 dân tộc từ nơi khácđến sinh sống đan xen và phân bố không đồng đều
Về kinh tế: Với những ưu đãi đặc biệt của thiên nhiên về đất đai, khí hậu,
thổ nhưỡng các huyện trên ĐBTN đã tập trung phát triển kinh tế theo hướngkhai thác tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, quan tâm phát triển ngànhnông nghiệp bền vững theo hướng công nghệ cao gắn với xây dựng nông thônmới, phát triển du lịch, dịch vụ và thu hút các nguồn lực xây dựng cơ sở hạtầng thiết yếu phục vụ phát triển; tỷ lệ tăng trưởng khá, đời sống vật chất vàtinh thần của Nhân dân được nâng lên rõ rệt, nhất là vùng đồng bào dân tộcthiểu số, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực phù hợp với tiềmnăng, lợi thế và trình độ canh tác của người dân địa phương, các nguồn lực xãhội được phát huy, góp phần cùng cả nước kiểm soát lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô Quy hoạch, quản lý, xây dựng phát triển đô thị, nông thôn, mô hìnhnông thôn mới có chuyển biến và đạt kết quả thiết thực, thúc đẩy phát triểnkinh tế, cải thiện dân sinh
Về chính trị: Hệ thống chính trị huyện gồm: huyện ủy, chính quyền
huyện (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân), Mặt trận Tổ quốc, các tổ chứcCTXH (gồm Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội liên hiệp phụ nữViệt Nam; Hội Cựu chiến binh; Hội Nông dân ) cấp huyện, đảng ủy xã, thịtrấn; chính quyền xã, thị trấn, các tổ chức CTXH của xã, thị trấn được tổ chứcđúng theo quy định và hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, là nhân tố quyếtđịnh trong lãnh đạo, quản lý điều hành phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,QPAN, xây dựng địa phương ngày càng giàu đẹp
Trang 35Nhân dân các huyện trên ĐBTN có truyền thống yêu nước, kiên cường,bất khuất trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào cáchuyện trên ĐBTN luôn tin theo Đảng và Bác Hồ, đoàn kết, đùm bọc, nuôi giấucán bộ, cùng bộ đội chiến đấu chống kẻ thù Ngày nay, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, truyền thống đó tiếp tục được kế thừa và phát huy trong sự nghiệp xâydựng và BVTQ Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đấtnước của Đảng, lòng tin của nhân dân các huyện trên ĐBTN với Đảng, Nhànước, cấp ủy, chính quyền địa phương đã có sự khởi sắc, chính trị cơ bản ổnđịnh Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, đền ơn đáp nghĩa được các đảng
bộ, chính quyền và các tổ chức CTXH quan tâm sâu sắc, chăm lo thườngxuyên, nâng cao mức sống cho gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số
ở vùng sâu, vùng xa, biên giới
Về văn hóa - xã hội: Nền văn hóa các huyện trên ĐBTN rất phong phú, đa
dạng, được kết tinh từ truyền thống lâu đời trong sản xuất, chinh phục thiênnhiên, chiến đấu chống ngoại xâm với những truyền thuyết, trường ca mang tinhthần thượng võ, tính cộng đồng, tinh thần dũng cảm Hiện nay, các huyện trênĐBTN tập trung phát triển văn hóa, con người Việt Nam; tiếp tục nâng cao chấtlượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tạo sự gắn kếttrong cộng đồng và bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp,từng bước xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu, tạo sự đồng thuận, tính cộngđồng cao trong giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Giáo dục và đào tạo luôn được quan tâm đầu tư phát triển, góp phầnnâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng tốt yêu cầu pháttriển Quy mô, mạng lưới giáo dục ngày càng được mở rộng; cơ sở vật chất,trang thiết bị phục vụ dạy học được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, các trườngtiểu học, mầm non có đủ điều kiện tổ chức dạy 2 buổi/ngày và học bán trú.Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý được củng cố và tăng cường, đến nay có100% giáo viên đạt chuẩn theo quy định; chất lượng giáo dục được nâng lên,
Trang 36tỷ lệ học sinh lên lớp, học sinh tốt nghiệp các cấp học năm sau đều cao hơnnăm trước, chất lượng giáo dục mũi nhọn đạt kết quả tích cực
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được coi trọng, đạt nhiềukết quả Đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường, nâng cao chất lượng Mạng lưới
y tế từ huyện đến cơ sở được củng cố, phát triển; cơ sở vật chất và trang thiết bị
về y tế tiếp tục được đầu tư, nâng cấp Các chương trình mục tiêu y tế - dân sốđược thực hiện có hiệu quả; xã hội hóa y tế được đẩy mạnh Công tác y tế dựphòng được chú trọng, chủ động khống chế được các loại dịch bệnh Đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm và quản lý tốt hoạt động y dược tư nhân
Về quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Các huyện trên ĐBTN không
ngừng được củng cố, tăng cường và giữ vững Hoàn thành tốt công tác QSQPđịa phương; xây dựng LLVT bảo đảm về số lượng, có chất lượng và độ tincậy về chính trị ngày càng cao; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc bảođảm sự ổn định về QPAN, tạo điều kiện cho địa phương phát triển KTXH.Chủ động triển khai các biện pháp giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội; đấu tranh, ngăn chặn các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lựcthù địch; giải quyết ngay từ cơ sở các vấn đề nảy sinh, không để xảy ra các vụviệc phức tạp kéo dài hoặc hình thành “điểm nóng“ trên địa bàn
Công tác đối ngoại phát triển đúng hướng, phù hợp với điều kiện thực tếtại các địa phương; bên cạnh việc tổ chức đón tiếp chu đáo các đoàn công tácnước ngoài đến với các huyện và tập trung kêu gọi các tổ chức, cá nhân nướcngoài đầu tư, hỗ trợ trên một số lĩnh vực lợi thế của địa phương như: nôngnghiệp, du lịch, khai khoáng, giáo dục…, góp phần đáng kể vào công cuộcphát triển KTXH của địa phương
2.1.1.2 Lực lượng dự bị động viên của các huyện trên địa bàn Tây Nguyên
Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: “Lực lượng dự bị động viên
là toàn thể quân nhân dự bị và phương tiện (vận tải, làm đường, xếp dỡ, thông
Trang 37tin liên lạc, y tế và một số phương tiện khác do chính phủ quy định) đã đượclựa chọn, sắp xếp để đáp ứng nhu cầu động viên về người theo kế hoạch độngviên Trong thời bình, lực lượng dự bị động viên được đăng ký, quản lí, tổ chứcthành đơn vị dự bị động viên, huấn luyện theo chương trình quy định và thựchiện các nhiệm vụ khác tại địa phương Khi có lệnh động viên, lực lượng dự bịđộng viên được huy động để khôi phục và mở rộng lực lượng Quân đội theo tổchức biên chế thời chiến” [36, tr.624].
Điều 2 Luật lực lượng DBĐV số 53/2019/QH14 xác định:
Lực lượng DBĐV bao gồm quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật dự
bị được đăng ký, quản lý và sắp xếp vào đơn vị DBĐV để sẵn sàng bổ sungcho lực lượng thường trực của Quân đội nhân dân[148, tr.2]
Với cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: Lực lượng dự bị động viên của các huyện trên địa bàn Tây Nguyên là toàn thể quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật dự bị được đăng ký, quản lí và sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên; được huấn luyện, diễn tập theo chương trình, kế hoạch quy định và thực hiện các nhiệm vụ khác tại địa phương; khi có lệnh, sẵn sàng bổ sung cho lực lượng thường trực của Quân đội đứng chân trên địa bàn theo tổ chức biên chế thời chiến.
Theo đó, LLDBĐV ở các huyện trên ĐBTN bao gồm quân nhân dự bị vàphương tiện kỹ thuật dự bị được đăng ký, quản lý và sắp xếp vào đơn vị DBĐVnhằm sẵn sàng bổ sung cho lực lượng thường trực của Quân đội đứng chân trênđịa bàn theo tổ chức biên chế thời chiến
Quân nhân dự bị ở các huyện trên ĐBTN bao gồm sĩ quan dự bị, quânnhân chuyên nghiệp dự bị và hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị là công dân sinh sống, làmviệc trên ĐBTN được đăng ký, quản lý chặt chẽ theo quy định của Luật Sĩ quanQuân đội nhân dân Việt Nam, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân vàviên chức quốc phòng, Luật Nghĩa vụ quân sự
Trang 38Quân nhân dự bị gồm có: quân nhân dự bị hạng 1 và quân nhân dự bịhạng 2 Điều 13, Luật nghĩa vụ quân sự quy định: quân nhân dự bị hạng 1 làcông dân đã đăng ký nghĩa vụ quân sự được xếp vào diện quân nhân dự bị hạng
1 bao gồm: hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ từ đủ sáu tháng trở lên đã xuấtngũ; hạ sĩ quan, binh sĩ đã trải qua chiến đấu; quân nhân chuyên nghiệp xuấtngũ; nam công nhân, viên chức quốc phòng thôi phục vụ trong Quân đội nhândân Việt Nam và quân nhân dự bị hạng 2 đã qua huấn luyện tập trung đủ 6tháng theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự
Quân nhân dự bị hạng 2 là công dân đã đăng ký nghĩa vụ quân sự được xếpvào diện quân nhân dự bị hạng 2 bao gồm: hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ trước thờihạn, đã phục vụ tại ngũ dưới 6 tháng; nam công nhân, viên chức quốc phòng thôiphục vụ trong Quân đội; công dân nam thôi phục vụ trong Công an nhân dân;công dân nam hết 25 tuổi chưa qua phục vụ tại ngũ và công dân nữ đã đăng kýnghĩa vụ quân sự theo quy định tại Khoản 2, Điều 8 của Luật này
Các phương tiện kỹ thuật dự bị của các huyện trên ĐBTN là tài sản của cơquan, tổ chức, công dân trên ĐBTN, bao gồm phương tiện giao thông cơ giớiđường bộ, phương tiện đường thủy, phương tiện đường không dân dụng,phương tiện xây dựng cầu đường, phương tiện xây dựng công trình, phươngtiện xếp dỡ hàng hóa, phương tiện thông tin liên lạc, thiết bị vật tư y tế và một
số loại phương tiện, thiết bị khác được đăng ký theo yêu cầu biên chế của cácđơn vị quân đội đang đứng chân trên ĐBTN
Yêu cầu đăng ký, quản lý lực lượng DBĐV theo đúng quy định của LuậtNghĩa vụ quân sự, Luật lực lượng DBĐV, các nghị định của Chính phủ đúnghạng dự bị, đúng chuyên nghiệp quân sự cả sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ Phải đăng ký, quản lý cả quân nhân dự bị vàphương tiện kỹ thuật dự bị của nền kinh tế quốc dân
2.1.1.3 Đặc điểm lực lượng dự bị động viên của các huyện trên địa bàn Tây Nguyên
Trang 39Một là, lực lượng DBĐV được đăng ký, quản lý và đặt dưới sự lãnh đạo
tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy đảng, sự quản lý tập trung, thốngnhất của chính quyền và sự chỉ huy, chỉ đạo của CQQS địa phương
Việc đăng ký, quản lý LLDBĐV được thực hiện theo đúng quy định,việc sắp xếp LLDBĐV vào các đơn vị DBĐV không chỉ là của LLVT địaphương tỉnh, mà còn thuộc các đơn vị quân, binh chủng thuộc Bộ Quốc phòngđứng chân trên địa bàn, các vùng lân cận và các đơn vị của Quân khu Do đó,LLDBĐV của các huyện trên ĐBTN không những đăng ký, quản lý và đặtdưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của cấp ủy đảng, sự quản lý điều hànhcủa chính quyền địa phương, mà còn chịu sự quản lý của các đơn vị DBĐVkhi được sắp xếp vào đơn vị DBĐV đó
Hai là, lực lượng quân nhân dự bị của các huyện trên ĐBTN đa dạng
thành phần xuất thân, cơ cấu dân tộc, tôn giáo và trình độ không đồng đềuHiện nay, xét về thành phần dân tộc thì các huyện trên ĐBTN có 49 dân tộccùng sinh sống, gồm 12 dân tộc bản địa và 37 dân tộc từ nơi khác đến (trong đódân tộc Kinh chiếm 92,3%) Các huyện trên ĐBTN là nơi có nhiều tôn giáo hoạtđộng, trong đó chủ yếu là Công giáo, Phật giáo, đạo Tin Lành và đạo Cao Đàivới tổng số khoảng 2.301.884 tín đồ, chiếm 34,7% dân số các huyện trên ĐBTN,
đó chưa kể những người theo các tín ngưỡng truyền thống khác Mặt khác, cáchuyện trên ĐBTN rất đa dạng về vùng miền có cả đô thị, miền núi, biên giới, do
đó LLDBĐV cũng bao gồm nhiều thành phần, giai cấp, tầng lớp khác nhau như:công nhân, nông dân, trí thức, viên chức Nhà nước, tiểu thương, tiểu chủ, nhữngngười lao động tự do,… Trình độ nhận thức không đồng đều, trình độ văn hóa ở
đô thị thì thường cao hơn so với miền núi, biên giới, theo số liệu điều tra, thống
kê tháng 12/2020 thì quân nhân dự bị có trình độ trung học cơ sở 11,52%; trunghọc phổ thông 56,34%; đại học 15,46%, cao đẳng 16,68% Nắm vững đặc điểm
sự đa dạng về thành phần xuất thân, cơ cấu, dân tộc, tôn giáo là cơ sở để các
Trang 40huyện ủy, chính quyền địa phương xác định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo,chỉ đạo sát thực trong công tác xây dựng LLDBĐV.
Ba là, lực lượng DBĐV phân bố không đồng đều giữa các huyện, các
tỉnh trên ĐBTN,
Địa bàn Tây Nguyên có diện tích rộng, số huyện miền núi, biên giớichiếm tỉ lệ cao, địa hình cao nguyên hiểm trở, tuy mật độ dân số bình quânchung của cả địa bàn là 137 người/km2, song phân bố giữa các huyện trênĐBTN không đồng đều, các huyện miền núi 90 người/km2, một số huyện biêngiới chỉ từ 30 - 40 người/km2; do đó, tạo ra một đặc điểm khác biệt so với đa
số các huyện trên địa bàn cả nước, tỉ lệ phân bổ LLDBĐV giữa các huyệncũng không đồng đều; chính đặc điểm này đã gây khó khăn trong xây dựngLLDBĐV có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, cũng như việc bảo đảm số lượngtheo phương thức động viên mới “gần, gọn địa bàn” trong xây dựngLLDBĐV đã tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các khâu, các bước trong xâydựng LLDBĐV của các huyện trên ĐBTN
Bốn là, phần lớn quân nhân dự bị sống ở nông thôn, làm nông nghiệp, lao
động tự do, đăng ký tạm trú đi làm ăn xa địa phương chiếm tỉ lệ lớn
Các huyện trên ĐBTN có tỉ lệ dân cư trú tại nông thôn cao hơn so với tỉ
lệ chung của cả nước Do đó, phần lớn quân nhân dự bị của các huyện trênĐBTN đều làm nông nghiệp, môi trường làm việc khó khăn, không có điềukiện tiếp xúc với phương tiện kỹ thuật và khoa học công nghệ hiện đại; chínhđặc điểm này đã tác động không nhỏ đến chất lượng bồi dưỡng, huấn luyệnnâng cao trình độ chuyên nghiệp quân sự để đáp ứng yêu cầu sẵn sàng đốiphó với chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao
Phần lớn quân nhân dự bị làm nông nghiệp và lao động tự do, nên ngoàisản xuất thời vụ có mặt tại địa phương, thời gian còn lại một số quân nhân dự
bị đăng ký tạm vắng đi làm ăn xa địa bàn Điều đó, đặt ra cho công tác đăng ký,quản lý quân nhân dự bị phải chặt chẽ, xây dựng kế hoạch huấn luyện phải