Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BIN
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Cấn Xuân Hùng
2 PGS TS Phạm Văn Vinh
HÀ NỘI - NĂM 2022
Trang 2nghiên cứu sinh Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất sứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình đã được công bố.
Tác giả luận án
Nguyễn Thành Trung
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 10
1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án 16
1.3 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI
2.1 Môi trường văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa ở các trung
đoàn bộ quân trong Quân đội nhân dân Việt Nam 33
2.2 Những vấn đề cơ bản về chất lượng và nâng cao chất lượng xây
dựng môi trường văn hóa ở các trung đoàn bộ binh trong Quân
Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT
SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH
3.1 Thực trạng chất lượng xây dựng môi trường văn hóa ở các trung
đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam 773.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng xây
dựng môi trường văn hóa ở các trung đoàn bộ binh trong Quân
Trang 4Chương 4 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY
DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 1224.1 Tình hình, nhiệm vụ và yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng
môi trường văn hóa ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội
4.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn
hóa ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 Công tác đảng, công tác chính trị CTĐ, CTCT
2 Huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu HL, SSCĐ
8 Trong sạch vững mạnh TSVM
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Môi trường văn hóa là bộ phận cấu thành môi trường sống, tác động trựctiếp đến quá trình hình thành, phát triển nhân cách con người và đời sống củacộng đồng, xã hội; là “cái nôi” nuôi dưỡng, vun đắp tâm hồn, tình cảm, bản lĩnhchính trị, đạo đức, lối sống, phong cách và năng lực sáng tạo cho mọi thành viêntrong cộng đồng và xã hội Vì vậy, xây dựng MTVH là yêu cầu khách quan,thường xuyên, là vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết đối với nước ta hiện nay.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Xây dựng môitrường văn hóa một cách toàn diện ở gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư,trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, doanh nghiệp để văn hóa thực sự làđộng lực, đột phá phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập quốc tế” [51, tr.262]
Trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam là đơn vị cơ sở thuộc biênchế của các sư đoàn bộ binh ở các quân khu, quân đoàn, Bộ chỉ huy quân sựtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; là lực lượng thường trực sẵn sàng chiếnđấu và chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên mọi địa bàn,trong mọi điều kiện, hoàn cảnh Vì vậy, xây dựng các trung đoàn bộ binh vữngmạnh, không ngừng nâng cao trình độ SSCĐ và sức mạnh chiến đấu, hoànthành tốt mọi nhiệm vụ được giao là yêu cầu khách quan, thường xuyên, đồngthời là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết hiện nay Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ,xây dựng, HL, SSCĐ của các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam, phảigiải quyết đồng bộ nhiều vấn đề về biên chế, tổ chức, về công tác huấn luyện,rèn luyện, quản lý bộ đội, về trang bị, cơ sở vật chất, kỹ thuật, ; trong đó, xâydựng MTVH và NCCL xây dựng MTVH có vai trò rất quan trọng
Trong những năm qua, nhận thức rõ vị trí, vai trò của MTVH và xâydựng MTVH, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng ởcác trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam đã thường xuyên quan tâm lãnhđạo, chỉ đạo, tiến hành xây dựng MTVH, làm cho chất lượng xây dựng MTVH
ở các trung đoàn bộ binh không ngừng được nâng lên, góp phần quan trọng vào
Trang 7xây dựng các trung đoàn bộ binh VMTD, hoàn thành tốt nhiệm vụ đượcgiao Bên cạnh những ưu điểm, thành công đã đạt được, chất lượng xâydựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam còn bộc lộkhông ít những hạn chế, bất cập như: Nhận thức của một bộ phận chủ thể
và lực lượng tham gia xây dựng MTVH còn chưa đầy đủ, sâu sắc; nộidung, hình thức, biện pháp xây dựng MTVH và NCCL xây dựmg MTVHcòn đơn giản, chưa phong phú; đầu tư cơ sở vật chất cho xây dựng MTVHchưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, chưa phát huy được vai trò củaMTVH đối với các hoạt động của đơn vị
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến nhanhchóng, phức tạp, khó dự báo; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 cùng vớiđại dịch covid 19 tác động đến mọi lĩnh vực đối với các quốc gia Trongnước, các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá cách mạngnước ta bằng nhiều thủ đoạn rất quyết liệt và thâm hiểm nhằm phủ nhận mụctiêu độc lập dân tộc và CNXH, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đốivới sự nghiệp cách mạng Việt Nam, phủ nhận thành tựu của của công cuộcđổi mới, tuyên truyền hệ tư tưởng tư sản, văn hóa, đạo đức, lối sống phươngTây vào Việt Nam Trong khi đó, những tiêu cực và tệ nạn xã hội, đặc biệt làtình trạng tham nhũng, tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,lối sống, những biển hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán
bộ, đảng viên, công chức… vẫn diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng.Tình hình trên đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống, hoạt động của quânđội, làm này sinh những nhận thức và hành vi lệch lạc trong một bộ phận cán
bộ, chiến sĩ, dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quânđội Thậm chí, có cả các vụ vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, ảnh hưởng trựctiếp đến kết quả xây dựng các trung đoàn bộ binh VMTD, đến mức độ hoànthành nhiệm vụ của các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam
Trang 8Từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của luận án tiến sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước Đây là vấn đề mang tínhcấp thiết cả về lý luận và thực tiễn hiện nay
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn chất lượng
và NCCL xây dựng MTVH; trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp NCCL xâydựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án;khẳng định giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đềluận án tập trung nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn chất lượng,NCCL xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam
Đánh giá đúng thực trạng chất lượng xây dựng MTVH ở các trung đoàn
bộ binh, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm NCCL xây dựngMTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam
Xác định yêu cầu, đề xuất những giải pháp NCCL xây dựng MTVH ởcác trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐNDViệt Nam
Trang 9Tiến hành khảo sát điểm một số trung đoàn bộ binh ở 7 sư đoàn bộ binh,bao gồm: Trung đoàn bộ binh 141, Trung đoàn bộ binh 165, Trung đoàn bộ binh
209 thuộc Sư đoàn bộ binh 312 (Quân đoàn 1); Trung đoàn bộ binh 24, Trungđoàn bộ binh 28, Trung đoàn bộ binh 66 thuộc Sư đoàn bộ binh 10 (Quân đoàn 3);Trung đoàn bộ binh 98, Trung đoàn bộ binh 148, Trung đoàn bộ binh 174 thuộc
Sư đoàn bộ binh 316 (Quân khu 2); Trung đoàn bộ binh 8, Trung đoàn bộ binh 2,Trung đoàn bộ binh 43 thuộc Sư đoàn bộ binh 395 (Quân khu 3); Trung đoàn bộbinh 1, Trung đoàn bộ binh 3, Trung đoàn bộ binh 335 thuộc Sư đoàn bộ binh 324(Quân khu 4); Trung đoàn bộ binh 4, Trung đoàn bộ binh 5, Trung đoàn bộ binh
271 thuộc Sư đoàn bộ binh 5 (Quân khu 7); Trung đoàn bộ binh 1, Trung đoàn bộbinh 3, Trung đoàn bộ binh 20 thuộc Sư đoàn bộ binh 330 (Quân khu 9)
Đối tượng khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp; hạ sĩ quan, binh sĩ; các tư liệu, số liệu điều tra được giới hạnchủ yếu từ năm 2015 tới nay; các giải pháp có giá trị đến năm 2030
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản ViệtNam về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam và xây dựngMTVH; về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng - văn hóa và Côngtác đảng, công tác chính trị trong QĐND Việt Nam
-Cơ sở thực tiễn
Hiện thực xây dựng MTVH và chất lượng xây dựng MTVH ở các trungđoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam; các tư liệu, tài liệu, báo cáo sơ, tổng kếtcông tác huấn luyện quân sự, CTĐ, CTCT 6 tháng, hàng năm và báo cáo sơ kết,tổng kết xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh; kết quả điều tra, khảo sátthực tế của tác giả về xây dựng MTVH và chất lượng xây dựng MTVH ở cáctrung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam
Trang 10Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụngtổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liênngành Trong đó, chú trọng sử dụng các phương pháp: kết hợp lôgíc với lịch sử;phân tích với tổng hợp; thống kê; so sánh; tổng kết thực tiễn; khảo sát thực tế,điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia
5 Những đóng góp mới của luận án
Xây dựng quan niệm và làm rõ nội hàm quan niệm chất lượng xâydựng MTVH và NCCL xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trongQĐND Việt Nam
Rút ra một số kinh nghiệm NCCL xây dựng MTVH ở các trung đoàn
bộ binh trong QĐND Việt Nam
Đề xuất một số nội dung, biện pháp cụ thể, có tính khả thi trong cácgiải pháp NCCL xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐNDViệt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn
đề lý luận, thực tiễn về MTVH, xây dựng MTVH, chất lượng xây dựng MTVH
và NCCL xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam.Đồng thời, cung cấp thêm luận cứ khoa học cho QUTW, BQP, TCCT, quânkhu, quân đoàn, sư đoàn, cấp uỷ, chỉ huy, cơ quan chính trị ở các trung đoàn bộbinh trong QĐND Việt Nam trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựngMTVH, góp phần xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng TSVM, xây dựng các trungđoàn VMTD, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiêncứu khoa học, giảng dạy môn CTĐ, CTCT ở các nhà trường trong quân đội
7 Kết cấu của luận án
Kết cấu của luận án gồm: Phần mở đầu; phần nội dung với 4 chương (9tiết); kết luận; danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố cóliên quan đến đề tài luận án; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về văn hóa, xây dựng, phát triển văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa
Georges Olivier (1795), Sinh thái nhân văn [105] Với góc nhìn sinh thái
nhân văn, tác giả khái quát: MTVH hay môi trường nhân văn được tạo nên bởi:
“sự tác động của con người tới con người” và “tổ chức xã hội của chúng ta”, còn
“sự tác động của con người với tự nhiên cũng như sản phẩm từ nền công nghiệpđương nhiên đã có và phải có” [105, tr.10] Ông cho đó là chuyện bình thường -con người vốn bản chất là một sinh thể có văn hóa, tiếp cận theo góc độ về mốiquan hệ giữa văn hóa và con người thì văn hóa được coi là sự phát triển nhữnggiá trị của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người vàMTVH được thiết lập từ tổng thể các quan hệ văn hóa với con người Xây dựngMTVH thực chất là xây dựng những yếu tố cấu thành MTVH, trong các yếu tốcấu thành đó, yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất chính là con người có vănhóa Cuốn sách giúp tác giả có góc nhìn sâu sắc và toàn diện về văn hoá, conngười, MTVH và xây dựng MTVH, là cơ sở để nghiên cứu, kế thừa luận giảilàm rõ các vấn đề cần giải quyết trong đề tài của mình
A.I Ácnônđốp (1981), Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin [2] Tác giả
cuốn sách đã tiếp cận và luận giải những vấn đề cơ bản về MTVH theo gócnhìn hệ thống - cấu trúc và khẳng định mối quan hệ giữa văn hóa của xã hộivới văn hóa của từng cá nhân bao giờ cũng thông qua một khâu trung gian, đó
là MTVH Tác giả đã đưa ra quan niệm:
Môi trường văn hóa là một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể vànhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau Chúng ảnh hưởngtới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hóa, tới nhu cầu tinhthần, hứng thú và định hướng giá trị của họ Môi trường văn hóa
Trang 12không chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hoá vật thể mà còn có nhữngcon người hiện diện văn hóa [2, tr.75]
Tác giả đã phân tích sâu sắc cấu trúc của MTVH, làm rõ các mối quan hệtương tác giữa con người với những yếu tố vật thể từ đó đã cung cấp những cơ
sở về lý luận để luận giải làm rõ quan niệm và nội hàm của quan niệm vềMTVH, những yếu tố cấu thành MTVH, trong đó con người văn hóa là yếu tốtrung tâm, cốt lõi quyết định sự hình thành nên MTVH
Khang Thức Chiêu (1996), Cải cách thể chế văn hóa [14] Tác giả cuốn
sách đã khái quát quá trình cải cách thể chế văn hóa của Trung Quốc sau hơnmười năm Từ đó, xác định: “Xây dựng sự nghiệp văn hóa xã hội chủ nghĩamang màu sắc Trung Quốc phải xuất phát từ tình hình thực tiễn đất nước”[14, tr 125] Tác giả chỉ ra những đặc điểm của văn hóa Trung Quốc, mà đặcđiểm nổi bật nhất là sự song song tồn tại của di sản văn hóa dân tộc ưu tú vàvăn hóa hiện đại; tính cộng đồng, tính thống nhất của văn hóa dân tộc TrungHoa Đồng thời khẳng định, Trung Quốc luôn kiên trì phương châm văn hóaXHCN lấy: “sự chỉ đạo của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Mao TrạchĐông đối với công cuộc xây dựng sự nghiệp văn hóa xã hội mang màu sắcTrung Quốc” [14, tr.141]
Viện nghiên cứu Trung Quốc (2006), Đề cương quy hoạch phát triển văn hóa Trung Quốc [159] Đề cương đã trình bày tổng thể mục tiêu phát triển văn
hóa Trung Quốc “5 năm lần thứ XI” Trong đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đãđưa ra những tư tưởng định hướng phát triển văn hóa mang tính đặc sắc củaTrung Quốc trong thời kỳ mới và nhấn mạnh phải thúc đẩy phát triển một cáchtoàn diện, lấy thị trường trong nước, ngoài nước làm động lực thúc đẩy cácngành văn hóa phát triển Khẳng định: Văn hóa phải hướng vào phục vụ xã hội,phục vụ nhân dân trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo màu sắc củaTrung Quốc Trên cơ sở tổng kết thực tiễn về phát triển văn hóa, Đảng Cộng sảnTrung Quốc đã chỉ ra những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm cải cách, pháttriển văn hóa Trung Quốc, trọng tâm là: Tiếp tục đi sâu cải cách doanh nghiệp
Trang 13văn hóa và đơn vị sự nghiệp văn hóa; tăng cường xuất khẩu công nghiệp vănhóa, thực hiện chính sách đẩy mạnh tiêu dùng và đầu tư sáng tạo văn hóa.
Lưu Vân Sơn (2010), Tìm tòi thực tiễn và tư duy lý luận xây dựng văn hóa
xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc [112] Tác giả đã khẳng định:
Trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, văn hóa được thểhiện bằng hai hình thái là sự nghiệp và ngành nghề; mục đích căn bảncủa phát triển văn hóa là vì dân, sức mạnh phải dựa vào dân, đẩymạnh xây dựng văn hóa xã hội chủ nghĩa cần phải kiên trì lấy conngười làm gốc, hướng tới quần chúng, đáp ứng tối đa nhu cầu văn hóatinh thần của quần chúng nhân dân” [112, tr.35]
Tác giả đã khái quát những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn trongnghiên cứu mục đích, ý nghĩa của xây dựng văn hóa, con người nói chung, xâydựng MTVH nói riêng; xác định các nguồn lực để xây dựng con người văn hóa
và MTVH, trong đó con người là gốc rễ, là yếu tố quan trọng nhất quyết địnhđến xây dựng văn hóa xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc
Vương Hồng Tài (2012), Bàn về văn hoá Trung Quốc và mô hình trường đại học của Trung Quốc [116] Tác giả cuốn sách đã khái quát và chỉ ra ở mỗi
trường đại học đều có mô hình xây dựng, phát triển riêng biệt với những nét vănhoá và MTVH riêng, song đều có tiêu chuẩn chung để xây dựng mô hình củamột trường đại học với những điều kiện cơ bản như: Phải có phương châm nòngcốt về giáo dục đại học; phải có mô hình trường đại học cơ sở; phải chứng minhđược mô hình trường đại học này có hiệu quả rộng rãi Thực chất, ba yếu tố này
là những yếu tố đặc trưng văn hóa và là các yếu tố cấu thành MTVH để hợpthành mô hình một trường đại học
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về văn hóa, môi trường văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa trong lực lượng vũ trang
A A Grê - Scô (1978), Các lực lượng vũ trang của nhà nước Xô - viết [60].
Với sự khái quát cao, tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề từ mục tiêu lịch sử,nguồn gốc của các lực lượng vũ trang Xô - viết, những quy luật của những thắng
Trang 14lợi của họ, tính chất tác động của những quy luật ấy trong những điều kiện cụthể Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quan trọng bảo đảmchắc chắn nền an ninh của đất nước, tính chất khoa học của công cuộc xây dựngquân đội Để hoạt động CTĐ, CTCT đạt được hiệu quả cao thì phải có MTVHphù hợp, môi trường ấy “là việc củng cố sự tôi luyện của chiến sĩ về mặt tâm lý -tinh thần, việc giáo dục sự quyết tâm và lòng dũng cảm, sáng kiến và tính tháovát của quân nhân” [60, tr.518] Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cóhiệu quả là vũ khí mạnh mẽ của Đảng mà nền tảng của nó là công tác giáo dụcchính trị - tư tưởng, công tác tuyên truyền và cổ động, công tác thi đua xã hộichủ nghĩa, MTVH của quân đội; là phương tiện quyết định để tác động đến ýthức và trái tim của con người nâng cao gấp bội các phẩm chất tinh thần và chiếnđấu của chiến sĩ, góp phần thúc đẩy việc biến lực lượng tinh thần của họ thànhlực lượng vật chất, sức chiến đấu của quân đội
P.I Các - Pen - Cô (1981), Công tác đảng - công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Xô - viết [12] Cuốn sách đã phân tích về mặt lý luận và thực tiễn
một số vấn đề cơ bản như: nền tảng sức mạnh của các lực lượng vũ trang, tổ chức
và nội dung của các cơ quan chính trị và các tổ chức đảng, vấn đề trọng tâm củaCTĐ, CTCT, rèn luyện tư tưởng và bồi dưỡng chính trị Nội dung cuốn sách đã đềcập một cách hoàn chỉnh và xúc tích về công tác đảng - công tác chính trị ở đơn vị
cơ sở, vừa có tính lý luận chặt chẽ, vừa có tính thực tiễn cụ thể và phong phú Xácđịnh vai trò, trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong tiến hành hoạt độngCTĐ, CTCT, mà trực tiếp là người cán bộ chính trị và phó chỉ huy trưởng vềchính trị: “Thường xuyên quan tâm cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất, giải trí,văn hóa của binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan, nghiên cứu nhu cầu và nguyện vọng củacán bộ, chiến sĩ và kiểm tra để các nhu cầu đó được kịp thời đáp ứng” [12, tr.81].Trong tất cả các nội dung của cuốn sách, tác giả đều đề cập đến đảm bảo các mặthoạt động và đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, coi đây là yếu tốquan trọng nhất để các đơn vị cơ sở hoàn thành nhiệm vụ của mình
Trang 15M N Ti- Mô- Phê- Ê-Trép (1982), Chế độ một trưởng trong các lực lượng
vũ trang Xô - viết [118] Tác giả cuốn sách đã khái quát nguyên tắc lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Liên Xô trong lãnh đạo các lực lượng vũ trang, trong đó chế độmột trưởng là nguyên tắc quan trọng nhất Để thực hiện nguyên tắc này thực sự cóhiệu quả thì trước hết các sĩ quan Xô - viết phải là nhà lãnh đạo Xô - viết; yêu cầuquá trình đạo tạo cán bộ quân sự đều nhằm vào bồi dưỡng cho họ những phẩmchất hoàn toàn đáp ứng yêu cầu chung của Đảng, phải đảm bảo về mặt chính trị -
tư tưởng, đạo đức và trình độ văn hóa… Không những vậy, trình độ văn hóa củachiến sĩ cũng phải nâng lên để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra:
Trình độ kiến thức của cán bộ chỉ huy cũng có ý nghĩa rất lớn Cácbiến đổi sâu sắc đang diễn ra trong lĩnh vực quân sự, trình độ vănhóa chung hiện nay của thanh niên khi ra nhập quân đội và hạm đội,
sự cần thiết phải nhanh chóng nắm vững kỹ thuật phức tạp và vũkhí đòi hỏi mỗi sĩ quan phải có vốn kiến thức rất lớn về khoa họcchung, về quân sự và tư tưởng - lý luận [118, tr.34]
Muốn vậy, người chỉ huy và cán bộ chính trị phải biết được trình độvăn hóa của chiến sĩ, nghiên cứu tỉ mỉ năng khiếu và thói quen của họ trướckhi vào quân đội để phân loại, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng để nâng caotrình độ chính trị và văn hóa, đồng thời tạo môi trường thuận lợi để cho họphát huy tối đa năng khiếu của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
Đ.A Vôn-Cô-Gô-Nốp (1982), Thế nào là quân nhân có đạo đức [161].
Tác giả cuốn sách đã đi vào làm rõ những vấn đề cơ bản của đạo đức như: đạođức là gì; thế nào là người yêu nước Xô - viết; ý thức công dân, trách nhiệm đạođức của người quân nhân; đạo đức và kỷ luật của quân đội; làm rõ những yếu tốtạo nên đạo đức, lòng vinh dự, tự hào của người quân nhân Theo tác giả, để xâydựng cho quân nhân có đạo đức trong sáng thì phải xây dựng cho được bầukhông khí thân ái trong đơn vị đó là “Bầu không khí của chủ nghĩa tập thể chânchính và tình đồng chí, tinh thần đoàn kết, hữu nghị” [161, tr.125] Để quân nhân
có đạo đức cách mạng trong sáng thì phải có “môi trường xã hội cùng với hệ
Trang 16thống học vấn và giáo dục, hệ tư tưởng và đạo đức thống trị tạo nên mẫu conngười cộng sản chủ nghĩa Trong quá trình này rất nhiều điều phụ thuộc khôngnhững chỉ vào tập thể, mà còn vào mỗi người chúng ta” [161, tr.164-165] Đạođức quân nhân là yếu tố cốt lõi trong phẩm chất chính trị và là mục tiêu hướngđến để xây dựng người quân nhân cách mạng, để làm được điều đó theo tác giảphải xây dựng cho được môi trường văn hóa thực sự trong sạch, lành mạnh tạođiều kiện thuận lợi cho họ tu dưỡng rèn luyện hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụcao cả của người quân nhân.
Đ.A Vôn-Cô-Gô-Nốp (1984), Phương pháp luận công tác giáo dục tư tưởng [162] Tác giả cuốn sách đã phân tích những vấn đề quan trọng về lý
luận và thực tiễn của công tác giáo dục - tư tưởng của các lực lượng vũ trang
Xô - viết, trình bày bản chất, những nguyên lý, những phương pháp và hìnhthức của công tác đó Một trong những đặc trưng của chính trị, tư tưởng trong bộmặt của người chiến sĩ Xô - viết đó là bầu không khí tinh thần, khẳng định: “Bầukhông khí tinh thần của tập thể như thế nào thì thái độ của mọi người trong đó nhưthế ấy” [162, tr.107] Khi bàn về quá trình giáo dục tư tưởng và quản lý tư tưởngtác giả cho rằng: “Quản lý việc giáo dục con người có nghĩa là quan tâm tới việc
tổ chức lao động của họ cho khoa học, tới sự phát triển văn hóa, tới việc thỏa mãnnhững nhu cầu và lợi ích lành mạnh của họ” [162, tr.146] Như vậy, để làm tốtgiáo dục tư tưởng và quản lý công tác giáo dục tư tưởng, nâng cao khả nănghoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ Xô - viết, theo tác giả cần phải có môitrường hoạt động phù hợp và phải đáp ứng tiêu chí thỏa mãn những nhu cầu vàlợi ích lành mạnh của họ
Sa vẻng Đen na môn (2016), Phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển đời sống văn hóa ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Lào hiện nay [53] Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống về đời sống văn hóa ở
đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Lào, chỉ ra quan niệm, vai trò và sự tác độngcủa những giá trị văn hóa truyền thống của các bộ tộc Lào đến vấn đề xâydựng và phát triển đời sống văn hóa của cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở
Trang 17Theo đó, đời sống văn hóa được quan niệm là “một bộ phận của đời sống xãhội, thể hiện chất lượng cuộc sống của con người” [53, tr.47] Luận án cũngchỉ ra mối quan hệ giữa đời sống văn hóa và MTVH; đời sống văn hóa đượchình thành trong MTVH; MTVH chi phối đời sống văn hóa của mỗi conngười Đời sống văn hóa của cán bộ, chiến sĩ tạo nên diện mạo cũng nhưchiều sâu của đời sống tinh thần cán bộ, chiến sĩ, góp phần hình thành cácphẩm chất nhân cách người quân nhân trong quân đội.
1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án
1.2.1 Các công trình khoa học nghiên cứu về văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa và chất lượng xây dựng môi trường văn hóa
Văn Đức Thanh (2001), Về xây dựng môi trường văn hóa cơ sở [120].
Cuốn sách đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng MTVH cơsở; những nguyên tắc, phương pháp luận; xác định những giải pháp cơ bảnđẩy mạnh xây dựng MTVH cơ sở hiện nay Khi bàn về khái niệm văn hóa, tácgiả khẳng định:
Có thể tiếp cận văn hóa dưới nhiều góc độ khác nhau, song dưới góc
độ phương pháp luận xây dựng MTVH cơ sở thì cần tiếp cận văn hóanhư tổng thể, chiều sâu, bề rộng, tầm cao các giá trị mang tính nhânvăn do con người sáng tạo theo tiêu chí chân, thiện, mỹ trong tiếntrình lịch sử và trở thành nhân tố nuôi dưỡng, hoàn thiện, phát triểnphẩm chất con người trong đời sống cộng đồng [120, tr.22]
Tác giả đã khái quát các dạng thức văn hóa như: Văn hóa vật thể và vănhóa phi vật thể, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa tổ chức xãhội… và cho rằng: “Môi trường văn hóa là tổng thể các giá trị văn hóa vậtchất và văn hóa tinh thần tác động đến con người và cộng đồng trong mộtkhông gian và thời gian xác định” [120, tr.30] Khi bàn về vai trò của MTVH
cơ sở, tác giả cho rằng: MTVH là “chiếc nôi” nuôi dưỡng, “nhào nặn” conngười cùng đời sống cộng đồng, phát huy bản chất con người một cách toàn
Trang 18diện Trên cơ sở đó, tác giả đã xác định hệ thống những nguyên tắc phươngpháp luận trong xây dựng MTVH cơ sở, đưa ra những định hướng cơ bản đểtiếp tục đẩy mạnh quá trình xây dựng MTVH cơ sở và đề xuất các nhóm giảipháp về xây dựng MTVH ở cơ sở
Đỗ Huy (2002), Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học [71] Tác giả cuốn sách đã khái quát MTVH mới trong
thế kỷ XX và phương hướng trong thế kỷ XXI; trong đó đi sâu vào nghiêncứu phân tích bản chất MTVH từ góc nhìn giá trị học với các đặc điểm, đặctrưng MTVH cũng như sự vận động xây dựng MTVH ở nông thôn, thành thị;
từ gia đình đến dân tộc Khi bàn về quan niệm MTVH tác giả chỉ rõ: “Môitrường văn hóa chính là sự vận động các quan hệ của con người trong các quátrình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật chất
và tinh thần của mình” [71, tr.34-35] Theo tác giả:
Trong mỗi môi trường văn hóa xã hội thông thường được chi phốibởi bốn hệ chuẩn cơ bản: 1 Hệ chuẩn mực trong lao động chi phốicác hoạt động văn hóa lao động; 2 Hệ chuẩn mực trong giao tiếp chiphối các giao tiếp văn hóa; 3 Hệ chuẩn mực gia đình điều chỉnh cácquan hệ văn hóa trong môi trường sống; 4 Các chuẩn mực phát triểnnhân cách điều chỉnh lối sống [71, tr.71]
Bởi vậy, để đánh giá đối với MTVH bao giờ cũng phải dựa vào một hệchuẩn mực nhất định; các chuẩn mực này gắn rất nhiều với các yếu tố khác nhaunhư: thế giới quan, trình độ dân trí, tôn giáo, hệ tư tưởng Đồng thời, tác giảcũng yêu cầu việc đánh giá MTVH phải được dựa vào một hệ chuẩn nhấtđịnh phù hợp với thực trạng và nét văn hóa truyền thống của dân tộc, xuthế thời đại thì mới có cơ sở khoa học để đề ra những giải pháp đúng đắntrong việc bảo tồn, xây dựng MTVH nước nhà một cách bền vững
Phạm Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm (2003), Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [62] Các tác giả
Trang 19của cuốn sách đã đi từ các văn kiện của Đảng về văn hóa, đặc điểm văn hóaViệt Nam, một số vấn đề lý luận đang đặt ra và mục tiêu, nhiệm vụ, các giảipháp lớn của sự nghiệp xây dựng văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa Trong đó, vai trò của văn hóa được các tác giả đi sâu phân tích,luận giải trên tất cả các khía cạnh, các quan điểm của các học giả trong nướccũng như các học giả nước ngoài về vai trò của văn hóa và đi đến kết luận:
“Văn hóa được coi là nhân tố cấu thành yếu tố nội sinh cơ chế của sự pháttriển…Bởi nói đến văn hóa là nói đến con người Con người phải được đặt ởtrung tâm của sự phát triển Nói cách khác văn hóa phải có vai trò to lớntrong sự phát triển [62, tr.114 - 115]
Khi xác định nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa, xác định mười nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ xây dựng môitrường văn hóa lành mạnh “là một nhiệm vụ có mối quan hệ khăng khít với việcxây dựng con người Con người không chỉ có ý nghĩa tự nó mà còn là và chủyếu là sản phẩm của xã hội, của hoàn cảnh, của môi trường” [62, tr.119] Để xâydựng môi trường văn hóa lành mạnh đòi hỏi phải xây dựng được môi trường xãhội lành mạnh; môi trường thiên nhiên; môi trường sinh hoạt và công tác củatập thể cộng đồng, khu dân cư và môi trường gia đình
Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2004), Xây dựng môi trường văn hóa - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [7] Tài liệu đã chọn lọc một số bài
phát biểu, bài viết nghiên cứu về MTVH từ góc độ lý luận ở nhiều lĩnh vựckhác nhau, về kết quả, kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra cần được giảiquyết, chỉ ra tầm quan trọng cần phải xây dựng MTVH đối với con người và xã
hội Cuốn sách gồm ba phần: Phần một, tiếp cận từ góc độ lý luận; phần hai là, những tổng kết và kinh nghiệm bước đầu; phần ba là, những điểm sáng về
MTVH Cuốn sách còn đề cập một số văn bản pháp quy, nhằm phục vụ quầnchúng và những người làm công tác, hoạt động văn hóa trong các cơ quanĐảng, chính quyền, đoàn thể, nhất là ở cơ sở
Trang 20Phạm Duy Đức (2008), Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa [55] Tác giả cuốn sách đã tập trung nghiên cứu, luận giải quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất của văn hóa Về nguồn gốc,bản chất của văn hóa theo quan điểm của các nhà kinh điển, tác giả cho rằng:
Văn hóa là lĩnh vực hoạt động mà nhờ đó con người sản xuất và táisản xuất ra bản thân mình với tư cách là một thực thể xã hội Đó làhoạt động của con người nhằm tạo ra một hệ thống giá trị mang tínhđịnh hướng cho sự phát triển ý thức con người và cho lối ứng xửcủa con người trong cộng đồng xã hội [55, tr.43]
Tác giả cũng đi sâu nghiên cứu tìm hiểu quan điểm của các nhà Mác - xít
về xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, về một số lĩnh vực cơ bản như vănhóa trong lãnh đạo chính trị; vấn đề về xây dựng con người mới, về đạo đức và
về lối sống trong cộng đồng người và từng cá nhân; về vấn đề phát triển giáodục, đào tạo và xây dựng đội ngũ trí thức; về phát triển sự nghiệp văn học nghệthuật và báo chí và những vấn đề về tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Trên cơ sởluận giải những vấn đề đó, tác giả làm sâu sắc những luận điểm khoa học trongxây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Ngô Đức Thịnh (2010), Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam [123].
Cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống, lôgic về các khái niệm văn hóa và chorằng: điểm chung nhất khi đưa ra khái niệm văn hóa của các tác giả nước ngoài làđều xem văn hóa là thế giới tinh thần Điều này phù hợp với quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về văn hóa: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa làmục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Tác giả đã kháiquát đầy đủ về những giá trị văn hóa trên tất cả các lĩnh vực, các mặt đời sống xãhội ở nước ngoài cũng như lịch sử quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộcViệt Nam và đi đến kết luận: “Giá trị văn hóa là sự đánh giá mang tính cộng đồngđối với những hiện tượng, sản phẩm văn hóa do con người sáng tạo ra trong bốicảnh xã hội nhất định Những giá trị đó được coi là tốt, là đẹp, là có ích, đáp ứng
Trang 21nhu cầu của con người mỗi thời đại” [123, tr.715] Khẳng định giá trị văn hóatrong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay đang chuyển đổi từ xã hội truyền thốngsang xã hội hiện đại, trong xu hướng Việt Nam đang trong quá trình mở rộng hộinhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
Nguyễn Chí Bền (2012), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế [10] Tác giả cuốn sách đã phác họa bức tranh toàn cảnh về
nền văn hóa Việt Nam theo dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại, đề cậpđến hiện trạng và những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đốivới các thành tố của nền văn hóa dân tộc Theo tác giả, trong “thế giới phẳng”ngày nay, việc xây dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sựđịnh hướng của Nhà nước, cùng với đó là quá trình hội nhập kinh tế quốc tếngày càng sâu rộng, sự phát triển của công nghệ thông tin, giao lưu văn hóa
có những thay đổi cả về hình thức và tính chất Với hình thái mới của giao lưuvăn hóa hiện đại là sự cộng sinh chứ không chỉ đơn thuần là tiếp nhận haykhông tiếp nhận Trong điều kiện như vậy, sự đối thoại giữa các nền văn hóađóng vai trò rất quan trọng, có khi còn quyết định hơn là sự đối đầu vũ trang
để giải quyết vấn đề xung đột về tôn giáo, sắc tộc, vùng lãnh thổ
Nguyễn Hương Ly (2012), “Xây dựng môi trường văn hóa trong bốicảnh hiện nay” [86] Tác giả bài báo đã đánh giá một cách sâu sắc thực trạng
về văn hóa và chất lượng xây dựng MTVH trong bối cảnh hội nhập kinh tếcủa nước ta hiện nay Tác giả khẳng định: để xây dựng và phát triển MTVH,trên cơ sở thấu hiểu thực trạng, phải hoạch định và đề ra được một chiến lượcchăm lo xây dựng MTVH dài hạn và cụ thể Trong đó, chú trọng quản lý tốthoạt động xây dựng MTVH trên phạm vi cả nước Hơn nữa, việc xây dựng vàphát triển MTVH không phải là một vấn đề riêng, nó liên quan mật thiết với sựnghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Vì vậy, việc xây dựng và quản lý MTVH đòi hỏi một hệ thống giải pháp
Trang 22đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với tình hìnhmới.
Mai Hải Oanh (2012), “Bàn về môi trường văn hóa” [102] Tác giả bàiviết đã khẳng định: Môi trường không những là một khái niệm sinh thái học, nócòn là một phạm trù triết học, bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
và MTVH Trong tình hình hiện nay, càng ngày, người ta càng ý thức rõ hơn vềtầm quan trọng của MTVH đối với sự phát triển Bởi vậy, tác giả đã đi sâu phântích một cách hệ thống kết cấu của MTVH, làm rõ nội hàm căn bản của MTVH
là tổng hòa các điều kiện văn hóa vật chất và tinh thần tồn tại xung quanh chủthể và tác động tới hoạt động chủ thể Yếu tố chủ yếu tạo thành MTVH là giáodục, khoa học, kinh tế, văn nghệ, đạo đức, tôn giáo, triết học, tâm lý dân tộc vàtập tục truyền thống Về cấu trúc của MTVH, tác giả khái quát thành nhiều tầng,bậc khác nhau với những thời gian, không gian khác nhau, bao hàm cả phầncứng và phần mềm Phần cứng là cơ sở hạ tầng: giáo dục, nghiên cứu khoa học,vui chơi giải trí và du lịch văn hóa Phần mềm bao gồm nội dung giáo dục tưtưởng lý luận, tinh thần dân tộc và giá trị văn hóa Muốn hình thành MTVH tốtđẹp, cần coi trọng cả phần cứng lẫn phần mềm Trên cơ sở phân tích, lý giải kếtcấu, vị trí, vai trò của MTVH, tác giả đó đi đến kết luận: Từ tầm nhìn vĩ mô,MTVH là một bộ phận hợp thành của môi trường xã hội, vì thế, nó có vai trò tolớn đối với sự ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội
Nguyễn Thị Hậu (2014), Xây dựng môi trường văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh văn minh hiện đại [65] Cuốn sách là công trình khoa học được nghiên cứu
công phu, đi sâu luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề văn hóa, MTVH vàxây dựng MTVH ở một thành phố lớn của nước ta Tác giả cho rằng, MTVH làmột trong những nội dung quan trọng bởi sự tác động của nó đến hầu hết các lĩnhvực của đời sống xã hội đô thị Xây dựng môi trường văn hóa đô thị văn minhhiện đại là tiền đề quan trọng nhất để hình thành và duy trì nếp sống văn minh đôthị của Thành phố Từ đó, tác giả đã nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề xâydựng MTVH ở Thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá sâu sắc thực trạng môi trường
Trang 23văn hoá ở Thành phố và đề xuất những giải pháp cơ bản về xây dựng một MTVHvăn minh, hiện đại ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới.
Nguyễn Thừa Hỷ (2015), Văn hóa Việt Nam truyền thống: một góc nhìn
[75] Sau khi khái lược một cách đầy đủ về văn hóa Việt Nam, tác giả cuốnsách đã làm rõ những giá trị cốt lõi, bền vững, gốc rễ của sự phát triển vàkhẳng định: Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc về
tư tưởng, lối sống và nhiều hệ giá trị đan xen, lẫn lộn; chúng ta lại đang đứnggiữa những giao lộ của ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng Chúng ta vừanhư đang được động viên, khích lệ, vừa như đang bị đe dọa, dối lừa bởi vănhóa Trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy, để có một sự phát triển bền vững đòihỏi phải quay về, nhận diện và suy ngẫm nghiêm túc về văn hóa Việt Namtruyền thống, nhất là về MTVH xã hội, đây sẽ là chìa khóa duy nhất để chúng ta
có những bước đi đúng hướng và vững chắc
Hoàng Quốc Bảo, Phạm Thị Nhung (2016), Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam [8] Các tác giả đã nghiên cứu, luận
giải sâu sắc về khái niệm, cấu trúc, chức năng của văn hóa; về tính chất vànhững quy luật vận động của văn hóa; đồng thời khái quát và phân tích sâu sắcđường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa từ năm 1930đến nay, nhất là những quan điểm, đường lối của Đảng về vai trò của văn hóađối với sự phát triển bền vững của đất nước; xây dựng nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; về xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống trong
sự nghiệp đổi mới đất nước; về xây dựng con người Việt Nam trong công cuộcđổi mới Cuốn sách cung cấp một cách có hệ thống những vấn đề lý luận vănhóa nói chung, về sự phát triển tư duy nhận thức của Đảng trong lĩnh vực xâydựng, phát triển văn hóa con người Việt Nam từ khi Đảng ra đời cho đến nay
Trần Thị Thu Phương (2016), Sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc tác động đến Việt Nam và một số nước Đông Á [107] Cuốn sách đã mang lại cho
chúng ta một cách nhìn mới về sức mạnh mềm văn hóa từ góc nhìn Việt Nam,
Trang 24trên cơ sở đó, nhận diện mức độ tác động của sức mạnh mềm văn hóa TrungQuốc, đồng thời tăng cường “nội lực” văn hóa nhằm chống đỡ, hóa giải đượcnhững tác động nguy hại xói mòn các giá trị nền tảng, làm suy giảm bản sắcvăn hóa, chủ quyền văn hóa quốc gia Từ đó, xây dựng “chiến lược nâng caosức mạnh mềm văn hóa Việt Nam” Trong đó, lý luận sức mạnh mềm văn hóa
và mục tiêu gia tăng sức mạnh mềm văn hóa của Trung Quốc có 5 điểm đáng
lưu ý: thứ nhất, xét ở góc độ hành vi; thứ hai, xét ở góc độ nguồn lực; thứ ba,
tuy sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc có tính thừa nhận ở các giá trị truyềnthống, nhưng chưa đủ khả năng chia sẻ hay được thừa nhận rộng rãi trên thế
giới; thứ tư, trong bối cảnh sức mạnh mềm Trung Quốc là mối liên kết yếu nhất
trong sức mạnh tổng thể quốc gia, sức mạnh mềm văn hóa được coi như là
nguồn lực quan trọng có nhiều lợi thế của sức mạnh mềm Trung Quốc; thứ năm,
văn hóa Trung Quốc hiện diện ở các cấp độ vô cùng đa dạng Cuốn sách chỉ racác kênh tác động sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc tại một số nước Đông Á
và Việt Nam; phản ứng của một số nước Đông Á và gợi ý chính sách cho ViệtNam trên cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Với Việt Nam, cần chủ độngtiếp nhận một cách có kiểm soát các tác động tiêu cực của sức mạnh mềm vănhóa; phải chủ động thể hiện sức mạnh thuyết phục cộng đồng thế giới bằng sựnhất quán trong phát ngôn và hành động; chủ động tiếp thu có chọn lọc, tăngcường “nội lực” văn hóa nhằm chống đỡ hóa giải những tác động nguy hại
Lê Ngọc Hùng (2020), “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xâydựng văn hóa trong phát triển bền vững ở Việt Nam” [66] Tiếp cận theo vi mô,tác giả bài báo cho rằng: Văn hóa là hệ các giá trị chuẩn mực và kỹ năng, thóiquen được hình thành và thể hiện trong từng hành vi, hành động và mối quan
hệ xã hội của con người Xây dựng văn hóa là phát triển văn hóa, phát triển cácgiá trị chuẩn mực, thói quen tích cực tiến bộ, văn minh có khả năng thúc đẩynhững hành vi, hành động bảo đảm tăng trưởng kinh tế và đóng góp cho pháttriển bền vững Tiếp cận theo vĩ mô, tác giả cho rằng: Văn hóa là một hệ thống
Trang 25và cùng với các hệ thống khác như kinh tế, chính trị, pháp luật tạo nên xã hội.
Từ các cách tiếp cận đó, tác giả đưa ra giải pháp phải tăng cường đầu tư vănhóa ngang tầm yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay
Nguyễn Thị Phương Châm (2021), “Một số mục tiêu, nhiệm vụ pháttriển văn hóa giai đoạn 2021 - 2030, hướng tới phát huy hiệu quả nguồn lựcvăn hóa trong phát triển bền vững đất nước” [13] Tác giả bài báo đã kháiquát quá trình phát triển văn hóa Việt Nam từ khi miền Bắc xây dựng CNXHcho đến nay và định hướng phát triển đến năm 2030 Trong đó, xác định mụctiêu, nhiệm vụ phát triển văn hóa giai đoạn 2021 - 2030 đó là: Nâng cao nhậnthức về văn hóa để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc trong thời kỳ mới; tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triểntoàn diện đáp ứng tốt nhu cầu nguồn lực cho phát triển đất nước; đầu tư vănhóa ngang hàng với đầu tư kinh tế, làm cho văn hóa trở thành hệ điều tiết đểgóp phần ổn định xã hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóalàm cho văn hóa bắt kịp sự phát triển của thời đại
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về văn hóa quân sự; môi trường văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa và nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội
Văn Đức Thanh (1999), Cơ sở phương pháp luận xây dựng môi trường văn hoá trong bộ đội Không quân hiện nay [119] Tác giả luận án đã làm rõ khái niệm
MTVH và MTVH quân sự, trên cơ sở đó luận giải bản chất của MTVH quân sự;cấu trúc của MTVH quân sự; đặc trưng của MTVH quân sự Tác giả đã xây dựngquan niệm, làm rõ nội hàm quan niệm, xác định vai trò, biểu hiện của MTVHtrong bộ đội Không quân Khái quát thực trạng xu hướng vận động, những vấn đề
có tính quy luật phát triển của MTVH trong bộ đội Không quân Định hướng, yêucầu và đề xuất giải pháp cơ bản có tính phương pháp luận trong việc tiếp tục xâydựng MTVH trong bộ đội Không quân hiện nay
Trang 26Đoàn Mô (2004), Nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá ở đơn vị cơ
sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [93] Tác giả đề tài làm rõ một
số vấn đề lý luận về hoạt động văn hóa và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa
ở đơn vị cơ sở; đưa ra bốn nhóm tiêu chí để đánh giá chất lượng hoạt động vănhóa ở đơn vị cơ sở Đề tài cũng đã đề cập đến nội dung, hình thức, phương pháp,phương tiện tổ chức hoạt động văn hóa ở các đơn vị cơ sở; đã tạo lập được mộtMTVH giàu tính giáo dục, tính thẩm mỹ, luôn cảnh giác đề phòng, đấu tranhngăn ngừa có ảnh hưởng với những yếu tố độc hại xâm nhập vào đơn vị, gópphần làm trong sạch lành mạnh đời sống văn hóa tinh thần ở đơn vị và trên địabàn đóng quân Tuy nhiên, theo tác giả, vẫn còn cách nghĩ, cách làm thiếu đồng
bộ, chưa đi vào khai thác nội dung giá trị và sức mạnh đích thực của văn hóa,chưa làm tỏa sáng được giá trị văn hóa quân sự trong MTVH ở các đơn vị cơ sởtrong toàn quân, dẫn đến vai trò của văn hóa có phần mờ nhạt, đâu đó chỉ còn là
sự duy trì quản lý bằng hành chính quân sự mà thiếu sắc màu văn hóa
Lê Văn Tân (2007), Xây dựng môi trường văn hóa bộ đội Hải quân trên quần đảo Trường Sa [117] Tác giả luận án đưa ra quan niệm: “Môi
trường văn hóa là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa con người và môitrường sống trong quá trình con người cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thânmình để trở thành chủ thể của hoàn cảnh” [117, tr 15] Môi trường văn hóa
bao gồm các yếu tố: hệ giá trị văn hóa; cảnh quan văn hóa, quan hệ văn hóa;
hoạt động văn hóa; hệ thống thiết chế văn hóa Những yếu tố này tồn tại trongmột thể thống nhất, là cơ sở, điều kiện, phương thức tồn tại của nhau Vềnhững đặc trưng cơ bản của môi trường văn hóa quân sự, tác giả luận giải trênnhững nội dung nhiệm vụ chính trị, tinh thần trách nhiệm, mục tiêu, lý tưởngcủa quân nhân; tính nhân văn trong suy nghĩ và hành động của quân nhân;tính cộng đồng trong tập thể và hoạt động nghiên cứu, học tập của quân nhân
Dương Quang Hiển (2012), Phát huy hệ giá trị văn hóa quân sự Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay [68] Tác giả
Trang 27luận án đã luận giải về văn hóa, bản chất văn hóa, quan niệm, ý nghĩa hay vaitrò của văn hóa Trên cơ sở quan niệm của các nhà khoa học trước đó, tác giả
đã định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ giá trị văn hóa, tinh thần do con ngườisáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử, theo tiêu chí chân, thiện,
mỹ và hiện thực hóa nó thông qua hoạt động sống của con người, tiêu biểucho trình độ đạt được trong tiến trình lịch sử phát triển xã hội” [68, tr.27].Đồng thời, tác giả đã luận giả đưa ra quan niệm về hệ giá trị văn hóa, hệ giátrị văn hóa quân sự, hệ giá trị văn hóa quân sự Việt Nam và phát huy hệ giá trịvăn hóa quân sự Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩahiện nay Tác giả đã phân tích làm rõ chủ thể, nội dung và phương thức pháthuy hệ giá trị văn hóa quân sự Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xãhội chủ nghĩa và đưa ra ba nhóm vấn đề có tính quy luật về phát huy hệ giá trịvăn hóa quân sự Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Lưu Thị Phương Thảo (2014), Nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay [122] Các tác giả cuốn sách luận
giải và đưa ra quan niệm NCCL xây dựng MTVH ở đơn vị cơ sở trong quân đội:
Nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa ở đơn vị cơ sởquân đội nhân dân Việt Nam là hoạt động tự giác, có mục đích, có
tổ chức, có kế hoạch của các chủ thể nhằm làm chuyển biến đồng
bộ, tích cực các yếu tố cấu thành môi trường văn hóa, bảo đảm choquá trình xây dựng môi trường văn hóa luôn giữ vững định hướng
và đạt được hiệu quả ngày càng tốt hơn, góp phần xây dựng conngười và đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi mọinhiệm vụ được giao [122, tr.36- 37]
Đánh giá thực trạng, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, cũng nhưnguyên nhân của những điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất bốn giải pháp nâng caochất lượng xây dựng MTVH ở đơn vị cơ sở trong quân đội Đây là cuốn sách
Trang 28chuyên khảo có nội dung gần nhất với đề tài luận án; tác giả kế thừa một số nộidung và vận dụng, bổ sung, phát triển trong xây dựng luận án của mình
Tổng cục Chính trị (2016), Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay [130] Cuốn
sách đã luận giải một cách sâu sắc về cấu trúc, vai trò hoạt động thiết chế vănhóa và các yếu tố cơ bản cấu thành chất lượng hoạt động hệ thống thiết chếvăn hóa Quan niệm về nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thiết chếvăn hóa ở đơn vị cơ sở trong quân đội, cuốn sách xác định:
Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa ở đơn
vị cơ sở trong quân đội là tổng thể các chủ trương, biện pháp của chủthể tác động vào các yếu tố cấu thành chất lượng hoạt động của cácthiết chế văn hóa, làm cho các nhân tố đó có sự chuyển biến, pháttriển về chất, tạo nên sức mạnh tổng hợp để phát huy tốt nhất các chứcnăng của các thiết chế văn hóa, đáp ứng yêu cầu ngày càng tốt hơn đờisống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng quânđội vững mạnh về chính trị [130, tr.43]
Trên cơ sở xây dựng quan niệm, xác định các tiêu chí và đánh giá thựctrạng, chỉ rõ những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của những ưuđiểm, khuyết điểm và rút ra một số kinh nghiệm; từ đó đề xuất các giải pháp
cơ bản nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa ở đơn vị
cơ sở trong quân đội hiện nay
Bùi Quang Cường (2018), “25 năm “xây dựng môi trường văn hóa tốt
đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội”- Giá trị lý luận và thực tiễn” [19].
Tác giả bài viết đã tổng kết đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thựchiện cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phongphú trong quân đội” theo Chỉ thị số 143/CT, ngày 12/5/1992 và Chỉ thị số535/CT, ngày 09/11/1996 của TCCT “Về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng môitrường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị quân đội” Bàibáo đã khái quát những kết quả cơ bản, nổi bật về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và
Trang 29tổ chức thực hiện cuộc vận động; giá trị về mặt lý luận và ý nghĩa về mặt thựctiễn của cuộc vận động nhằm xây dựng môi trường đơn vị trong sạch, lànhmạnh, góp phần xây dựng các tổ chức của đơn vị vững mạnh trong suốt 25 nămqua Tác giả khẳng định: “Cuộc vận động đã góp phần quán triệt, hiện thực hóaquan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người;văn hóa hóa toàn bộ đời sống của cán bộ, chiến sĩ và bồi đắp, củng cố, phát huytỏa sáng giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới Góp phần xây dựng khôngkhí nồng ấm, dân chủ, đoàn kết, kỷ luật; lành mạnh hóa các mối quan hệ giữa lãnhđạo, chỉ huy, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ với chiến sĩ” [19 tr.8-9].
Nguyễn Thanh Hải (2019), Phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong xây dựng môi trường văn hóa ở đơn vị cơ sở hiện nay [63] Tác giả
cuốn sách đã đưa ra khái niệm về MTVH và làm rõ những thành tố củaMTVH như: con người văn hóa; hệ thống các quan hệ văn hóa; hệ thống cáchoạt động văn hóa; hệ thống các thiết chế văn hóa và cảnh quan văn hóa ởđơn vị cơ sở Trên cơ sở luận giải những vấn đề đó, tác giả khẳng định:
Xây dựng môi trường văn hóa ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dânViệt Nam là quá trình hoạt động tích cực, chủ động của chủ thểtrong tạo lập, bảo toàn và phát triển của những yếu tố văn hóa vậtchất và văn hóa tinh thần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, phùhợp với điều kiện tự nhiên, tạo cơ sở phát triển và hoàn thiện nhâncách quân nhân cách mạng trong từng điều kiện cụ thể [63, tr.17] Tác giả đã khái quát vai trò, nhiệm vụ của thanh niên, những vấn đề có tínhquy luật phát huy vai trò của thanh niên trong xây dựng MTVH ở đơn vị cơ sởhiện nay Đánh giá đúng thực trạng, dự báo những nhân tố tác động và yêu cầuphát huy vai trò của thanh niên quân đội trong xây dựng MTVH ở đơn vị cơ sởhiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp mang tính khả thi trong phát huyvai trò của thanh niên quân đội trong xây dựng MTVH ở đơn vị cơ sở
Đỗ Văn Ngọc (2020), “Trường quân sự Quân đoàn 3 với việc xây dựng
môi trường văn hóa” [99] Tác giả bài báo đã khái quát vị trí, vai trò của xây
Trang 30dựng MTVH, gắn nhiệm vụ xây dựng MTVH với thực hiện nhiệm vụ chính trịcủa nhà trường, cho đây là yếu tố then chốt để nhà trường hoàn thành nhiệm vụchính trị trung tâm của mình Để xây dựng MTVH có chất lượng, hiệu quả, lànơi nuôi dưỡng, rèn luyện, rèn luyện, phát triển nhân cách người quân nhâncách mạng, theo tác giả cần thực hiện tốt những biện pháp đó là: tăng cườnglãnh đạo nâng cao nhận thức trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong tổchức xây dựng MTVH; chú trọng xây dựng yếu tố chính trị của MTVH; tậptrung xây dựng các mối quan hệ đúng mực; tập trung đầu tư xây dựng cảnhquan MTVH chính quy xanh, sạch, đẹp; tích cực chủ động phối hợp chặt chẽvới địa phương trong xây dựng MTVH lành mạnh, gắn kết chặt chẽ Cuộc vậnđỗngây dựng “Đơn vị có MTVH tốt” với phong trào “Toàn dân xây dựng đờisống văn hóa” trên địa bàn đóng quân Tác giả cho rằng, trong thời gian tớinhiệm vụ của nhà trường có sự phát triển mới, cao hơn đòi hỏi công tác xâydựng MTVH cũng phải được quan tâm và làm tốt hơn để tạo động lực gópphần xây dựng nhà trường “chính quy”, mẫu mực hoàn thành tốt nhiệm vụ.
1.3 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn
đề luận án tập trung nghiên cứu
1.3.1 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan đối với đề tài luận án
Từ tổng quan kết quả các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trongnước có liên quan đến đề tài luận án cho thấy giá trị của các công trình khoahọc thể hiện trên những nội dung chính sau đây:
Giá trị về lý luận: các công trình: sách chuyên khảo, tham khảo, đề
tài, luận án, báo khoa học đã được công bố ở cả trong nước và nước ngoài
đã góp phần làm sâu sắc và phát triển toàn diện hơn lý luận về MTVH,xây dựng MTVH, các công trình khoa học ở cả trong nước và nước ngoài
đã đi sâu nghiên cứu luận giải làm sáng tỏ nhiều vấn đề hết sức cơ bản,như: quan niệm, nguồn gốc, bản chất, những yêu tố cấu thành, vị trí, vaitrò của văn hóa Các công trình nghiên cứu xác định: văn hóa là toàn bộ
Trang 31yếu tố vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong suốt tiến trìnhlịch sử phát triển của loài người Bản chất của văn hóa là sáng tạo và nhânvăn, luôn hướng con người đến các giá trị chân - thiện - mỹ Dù tiếp cậndưới góc độ và phương pháp khác nhau, các công trình khoa học đềuthống nhất khẳng định: Văn hóa là yếu tố cốt lõi, tinh túy nhất của mỗicon người, mỗi quốc gia, dân tộc, bao gồm cả giá trị vật chất và giá trịtinh thần do con người sáng tạo ra trong suốt tiến trình lịch sử; là nền tảngtinh thần, động lực để thúc đẩy xã hội phát triển Nhìn chung, các côngtrình khoa học đều thống nhất cho rằng: MTVH là tổng hòa các giá trị vănhóa vật chất và văn hóa tinh thần tác động đến con người và cộng đồngtrong một không gian và thời gian xác định Bởi vậy, việc bảo tồn và giữgìn các giá trị văn hóa, tạo ra MTVH lành mạnh là động lực thúc đẩy xãhội phát triển
Một số công trình nghiên cứu đã đi sâu phân tích làm rõ làm rõ kháiniệm văn hóa quân sự và MTVH quân sự, luận giải bản chất, cấu trúc, nhữngđặc trưng cơ bản của MTVH quân sự và vai trò MTVH quân sự; xác địnhphương hướng, yêu cầu và giải pháp trong xây dựng MTVH ở các đơn vị, lựclượng khác nhau Một số công trình khoa học đã làm rõ một số vấn đề lý luận
về chất lượng MTVH và nâng cao chất lượng xây dựng MTVH; trình bàyquan niệm, xác định những yếu tố cấu thành, tiêu chí đánh giá chất lượngMTVH Một số công trình khoa học đã đề cập đến nội dung, hình thức,phương pháp, yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng MTVH ởcác đơn vị khác nhau
Giá trị về thực tiễn: Thực tiễn cho thấy, các công trình: sách, đề tài khoa
học, luận án, báo khoa học đã nghiệm thu công bố ở trong nước và nướcngoài có giá trị thực tiễn hết sức to lớn Các kết quả nghiên cứu của các côngtrình cơ bản đã được các nhà khoa học vận dụng vào trong quá trình thực tiễncông tác Quá trình ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đã kiểmnghiệm được tính đúng đắn và giá trị khoa học của các kết quả nghiên cứu
Trang 32Kết quả nghiên cứu của các công trình đã nghiệm thu, công bố ở cả ởnước ngoài và trong nước đều có ý nghĩa thực tiễn rất thiết thực đối với nghiêncứu sinh trong quá trình nghiên cứu, xây dựng luận án Kết quả nghiên cứu đógiúp cho nghiên cứu sinh có cách nhìn tổng quan, toàn diện về thực tiễn cáchoạt động xây dựng MTVH; thực tiễn chất lượng xây dựng MTVH và NCCLxây dựng MTVH Mặt khác, thông qua nghiên cứu, tiếp thu kết quả của cáccông trình giúp cho nghiên cứu sinh có phương pháp xem xét, đánh giá toàndiện thực trạng, phân tích nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm NCCL xây dựngMTVH ở các trung đoàn bộ binh Trên cơ sở đó, xác định yêu cầu và đề xuấtnhững giải pháp NCCL xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trongQĐND Việt Nam hiện nay.
Tóm lại: với nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, các công trình đã công
bố đã giải quyết được nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn và là nguồn tài liệu, tưliệu quý giá, có giá trị sâu sắc về lý luận và thực tiễn mà nghiên cứu sinh có thểtham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện luận án Tuy nhiên, do giới hạnmục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cho tới nay chưa có côngtrình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu, dưới góc độ của chuyên
ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước về vấn đề: “Nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” Vì vậy, đề tài của luận án là vấn đề có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn cấp thiết, có hướng nghiên cứu độc lập, không trùng lặp vớicác công trình đã công bố
1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Một là, xây dựng quan niệm, khái quát về tổ chức, biên chế, chức năng,
nhiệm vụ của các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam; xây dựng quanniệm, luận giải những yếu tố cấu thành, đặc điểm của MTVH; quan niệm, vaitrò xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam
Hai là, xây dựng quan niệm, luận giải những yếu tố quy định và tiêu
chí đánh giá chất lượng xây dựng MTVH; khái quát, luận giải làm rõ nội hàmquan niệm NCCL xây dựng MTVH và những vấn đề có tính nguyên tắc
Trang 33NCCL xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam.
Ba là, tiến hành điều tra, khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng chất
lượng xây dựng MTVH; phân tích làm rõ nguyên nhân của những ưu điểm,nguyên nhân hạn chế khuyết điểm và rút ra một số kinh nghiệm NCCL xâydựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam
Bốn là, dự báo sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ, chỉ ra những thuận
lợi, khó khăn tác động đến xây dựng MTVH và NCCL xây dựng MTVH; xácđịnh những yêu cầu NCCL xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trongQĐND Việt Nam hiện nay
Năm là, đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện, có tính khả thi trong NCCL
xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam hiện nay
Kết luận chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án là cơ sở đểxác định đúng mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tàiluận án Đồng thời, thấy được giá trị, ý nghĩa của các công trình khoa học đãtổng quan để tiếp thu, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các côngtrình khoa học có liên quan Trên cơ sở đó, xác định những vấn đề đặt ra luận
án tập trung nghiên cứu; khẳng định tính độc lập và những đóng góp mới về
lý luận và thực tiễn của đề tài luận án
Thời gian qua, đã có nhiều các công trình khoa học ở trong và ngoàinước nghiên cứu về xây dựng MTVH, chất lượng xây dựng MTVH và NCCLxây dựng MTVH ở các loại hình đơn vị trong và ngoài quân đội Các côngtrình nghiên cứu có nội dung phong phú, hướng tiếp cận đa dạng và được thểhiện dưới nhiều hình thức như: sách chuyên khảo, sách tham khảo, luận ántiến sĩ, đề tài khoa học các cấp, bài báo khoa học Các công trình khoa học đógiúp cho nghiên cứu sinh có cái nhìn tổng quát về xây dựng, phát triển vănhóa, con người và xã hội; về MTVH, xây dựng MTVH nói chung và MTVH,xây dựng MTVH, chất lượng xây dựng MTVH và NCCL xây dựng MTVH ởcác đơn vị quân đội nói riêng
Trang 34Từ kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong nước và ngoàinước có liên quan đến đề tài luận án cho thấy: mặc dù, có sự giao thoa vềkhách thể, phạm vi, nội dung nghiên cứu, nhưng cho đến nay chưa có côngtrình khoa học nào đi sâu nghiên cứu, luận giải một cách trực tiếp, cơ bản,toàn diện, có hệ thống về NCCL xây dựng MTVH ở các trung đoàn bộ binhdưới góc độ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền
Nhà nước Vì vậy, đề tài “Nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa
ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" mà tác giả lựa chọn làm luận án tiến sĩ là vấn đề nghiên cứu mới, không trùng lặp
với bất cứ công trình khoa học nào đã nghiệm thu, công bố
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 2.1 Môi trường văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam
2.1.1 Trung đoàn bộ binh và môi trường văn hóa ở các trung đoàn
bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam
2.1.1.1 Trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Quan niệm trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Trong QĐND Việt Nam, về tổ chức, trung đoàn được quy định lần đầutiên theo Sắc lệnh 33-SL ngày 22/3/1946; về biên chế cụ thể của trung đoàn bộbinh theo Sắc lệnh 71-SL ngày 22/5/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam Dânchủ cộng hòa và các văn bản tiếp sau của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Thammưu Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam: “Trung đoàn là binh độichiến thuật cơ bản, liền trên tiểu đoàn Thường gồm 3 tiểu đoàn và một số đạiđội trực thuộc, nằm trong biên chế sư đoàn, bộ chỉ huy quân sự tỉnh hoặc được
tổ chức độc lập trong quân đoàn, quân khu, quân chủng, binh chủng, bộ độichuyên môn để tác chiến và thực hiện nhiệm vụ khác” [156, tr.1124]
Trang 35Trung đoàn trong QĐND Việt Nam gồm các loại hình: trung đoàn chiếnđấu (trung đoàn bộ binh, trung đoàn bộ binh cơ giới, trung đoàn xe tăng, trungđoàn pháo binh, trung đoàn đặc công, trung đoàn không quân, trung đoàn hảiquân đánh bộ ); trung đoàn bảo đảm hoặc phục vụ (trung đoàn công binh,trung đoàn thông tin, trung đoàn hóa học, trung đoàn vận tải ).
Hiện nay, trong QĐND Việt Nam có: trung đoàn bộ binh đủ quân thuộcbiên chế các sư đoàn bộ binh đủ quân; trung đoàn bộ binh rút gọn thuộc biênchế các sư đoàn bộ binh rút gọn; trung đoàn bộ binh khung thường trực thuộcbiên chế các sư đoàn bộ binh khung thường trực; trung đoàn bộ binh thuộc biênchế bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Từ vấn đề nêu trên, có thể quan niệm: Trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam là loại hình đơn vị chiến thuật cơ bản, thuộc biên chế sư đoàn bộ binh của các quân khu, quân đoàn, Bộ Tư lệnh Thủ đô
Hà Nội, Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh và bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được biên chế quân số, vũ khí trang bị theo quy định của Bộ Quốc phòng, là lực lượng chủ lực, thường trực sẵn sàng chiến đấu, có thể tác chiến độc lập trên một hướng của quân khu, quân đoàn hoặc trong đội hình tác chiến của các sư đoàn bộ binh và đội hình chiến dịch cấp trên; đồng thời, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn trong mọi tình huống.
Chức năng, nhiệm vụ của trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Căn cứ vào Điều 25, Luật Quốc phòng (có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2019), có thể khái quát chức năng, nhiệm vụ của trung đoàn bộ binhtrong QĐND Việt Nam như sau:
Chức năng của trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam
Chức năng chiến đấu Đây là chức năng cơ bản quan trọng nhất, phản ánh
bản chất hoạt động và tính chất đặc thù của QĐND Việt Nam Theo đó, trung
Trang 36đoàn bộ binh được biên chế, tổ chức về quân số, vũ khí trang bị, phương tiện kỹthuật quân sự để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, tác chiến chủ yếu ở các chiếntrường trên bộ - chiến trường cơ bản trong các tình huống chiến tranh
Chức năng công tác Đây cũng là chức năng cơ bản của trung đoàn bộ
binh Thực hiện chức năng này, trung đoàn bộ binh phải thường xuyên thựchiện công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, giải quyết tốt các mối quan hệvới cấp ủy, chính quyền địa phương, tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội,các phong trào cách mạng và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ởđịa phương nơi đóng quân, góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ đoànkết quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí
Chức năng lao động sản xuất Đây là chức năng thể hiện bản chất, truyền
thống của QĐND Việt Nam, vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân lao độngsản xuất Để thực hiện tốt chức năng này, trung đoàn bộ binh vừa phải đảm bảonhiệm vụ HL, SSCĐ theo kế hoạch đã xác định; đồng thời, phải tích cực tăng giasản xuất nhằm cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến
sĩ ở trung đoàn bộ binh và nhân dân địa phương nơi đóng quân
Nhiệm vụ của trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam Huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu Đây là nhiệm vụ chính
trị trung tâm quyết định đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ của trung đoàn bộbinh Thực hiện nhiệm vụ này, trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào, trungđoàn bộ binh cũng phải thường xuyên tổ chức huấn luyện sát với thực tế chiếnđấu, nhằm mục đích không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnhchiến đấu, trình độ SSCĐ theo quy định của cấp trên, đồng thời sẵn sàng cơđộng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi
Phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch Đây là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài của các trung đoàn bộ binh Thực
hiện nhiệm vụ này, các trung đoàn bộ binh phải kịp thời phát hiện âm mưu, thủđoạn chống phá của các thế lực thù địch, chủ động tiến công ngay từ đầu, xử línhanh chóng, hiệu quả khi có bạo loạn xẩy ra và luôn bảo vệ tốt chính trị nội bộ.Khi phát hiện các thế lực thù địch tiến hành “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ
Trang 37ở các địa phương, địa bàn chiến lược, các trung đoàn bộ binh thực hiện nhiệm vụcùng với các lực lượng vũ trang địa phương, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn bạoloạn lật đổ của các thế lực thù địch Việc sử dụng các trung đoàn bộ binh thựchiện nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ở các địaphương phải chấp hành mệnh lệnh của Bộ trưởng BQP Để thực hiện tốt nhiệm vụnày, trung đoàn bộ binh phải làm tốt công tác giáo dục, đề cao cảnh giác để không
bị động bất ngờ trong mọi tình huống, thường xuyên xây dựng các trung đoàn bộbinh vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, tăng cường sự lãnhđạo của Đảng, phát huy nhân tố con người và tổ chức, làm thất bại âm mưu củacác thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang
Phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa, cứu hộ, cứu nạn, phòng chống dịch bệnh Đây cũng là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các ngành, các
cấp, các tổ chức xã hội và toàn dân quan tâm Cùng với sự phát triển củanhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, phòng, chống vàkhắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ, cứu hộ, cứu nạn, phòng chống dịchbệnh trở thành một nhiệm vụ chính trị quan trọng thường xuyên trong thờibình của quân đội nói chung và các trung đoàn bộ binh nói riêng
Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương Đây là nhiệm vụ quan trọng, được tiến hành thường xuyên
của trung đoàn bộ binh Thực hiện nhiệm vụ này, trung đoàn bộ binh phải phốihợp với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội, các lực lượng vũtrang địa phương nơi đóng quân để tổ chức hành quân dã ngoại, tiến hànhcông tác dân vận, nhằm tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đườnglối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân
sự, quốc phòng ở các địa phương
Tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Đây là nhiệm vụ quan trọng
của các trung đoàn bộ binh Thực hiện nhiệm vụ này, trung đoàn bộ binh tham
Trang 38gia xây dựng cấp ủy, chính quyền, đoàn thể quần chúng, các lực lượng vũ trangđịa phương vững mạnh, giữ vững tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội trên địa bàn đóng quân
Cơ cấu tổ chức, biên chế của trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Ban chỉ huy trung đoàn, số lượng 5 đồng chí, gồm: trung đoàn trưởng,
chính uỷ trung đoàn, phó chính uỷ trung đoàn, phó trung đoàn trưởng TMT vàphó trung đoàn trưởng quân sự
Các cơ quan chức năng, gồm: Ban Tham mưu, Ban Chính trị, Ban Hậu
cần, Ban Kỹ thuật
Các đơn vị, gồm: 3 tiểu đoàn bộ binh; 8 đại đội trực thuộc gồm: 02 đại
đội pháo binh (Cối và FPG9), 01 đại đội phòng không (12,7 ly), 01 đại độithông tin, 01 đại đội công binh, 01 đại đội trinh sát, 01 đại đội vận tải, 01 đạiđội quân y và trung đội vệ binh
Hệ thống tổ chức đảng: tổ chức đảng ở trung đoàn bộ binh là tổ chức
cơ sở đảng 3 cấp, gồm: Đảng bộ cơ sở (ở trung đoàn), đảng bộ bộ phận (ở cáctiểu đoàn) và chi bộ (ở các đại đội thuộc tiểu đoàn, tiểu đoàn bộ, các đại độitrực thuộc trung đoàn và các cơ quan chức năng của trung đoàn)
Tổ chức quần chúng: ở trung đoàn bộ binh có tổ chức Đoàn thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức cơ sở đoàn 3 cấp, gồm: Đoàn cơ sở đượcthành lập ở cấp trung đoàn; liên chi đoàn thành lập ở các tiểu đoàn; chi đoànthành lập ở các đại đội và tương đương
Hội đồng quân nhân: ở trung đoàn bộ binh Hội đồng quân nhân được
thành lập ở các đại đội thuộc tiểu đoàn, các đại đội trực thuộc trung đoàn, tiểuđoàn bộ và các cơ quan chức năng của trung đoàn
Vị trí, vai trò của trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam Thứ nhất, trung đoàn bộ binh là đơn vị chiến thuật cơ bản, là bộ phận
quan trọng trực tiếp cấu thành các sư đoàn, là nền tảng hợp thành sức mạnhchiến đấu của các sư đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam
Trang 39Trong QĐND Việt Nam, trung đoàn bộ binh là đơn vị chiến thuật cơbản, có thể chiến đấu độc lập hoặc nằm trong đội hình chiến đấu của cấptrên, được bố trí ở vị trí then chốt, trên các hướng chủ yếu trong khu vựcphòng thủ của địa phương và thế trận chung của cả nước; được biên chế vềquân số, vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật quân sự theo biểu biên chế của
Bộ Tổng Tham mưu, làm nhiệm vụ HL, SSCĐ và thực hiện các nhiệm vụkhác do cấp trên giao Trung đoàn bộ binh là nền tảng, lực lượng nòng cốt,chủ yếu cấu thành các sư đoàn, là sức mạnh chiến đấu của các sư đoàn, quânkhu, quân đoàn; xây dựng các trung đoàn bộ binh VMTD, có ảnh hưởng trựctiếp quyết định đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao của các sư đoàn,quân khu, quân đoàn và toàn quân
Thứ hai, trung đoàn bộ binh là nơi trực tiếp quán triệt, lãnh đạo và tổ chức
thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước,nhiệm vụ Quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh cấp trên
Các trung đoàn bộ binh là nơi trực tiếp quán triệt đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên.Đồng thời, cũng là nơi trực tiếp lãnh đạo và tổ chức thực hiện và kiểm nghiệm,khẳng định trên thực tế sự đúng đắn, phù hợp của đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên Qua đó,kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn để rút kinh nghiệm
và tổ chức thực hiện; tham mưu cho các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì,
cơ quan chức năng các cấp để bổ sung, hoàn chỉnh đường lối, chủ trương,chính sách phù hợp trong tình hình mới
Thứ ba, trung đoàn bộ binh là lực lượng thường trực sẵn sàng chiến đấu của
các quân khu, quân đoàn, của quân đội trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh
Với chức năng, nhiệm vụ của mình, các trung đoàn bộ binh là lực lượngthường trực sẵn sàng chiến đấu, lực lượng cơ động của các quân khu, quânđoàn Các trung đoàn bộ binh thường xuyên duy trì trạng thái sẵn sàng chiếnđấu và chiến đấu, nhằm ngăn chặn và làm thất bại mọi hành động chiến tranhxâm lược của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
Trang 40quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước,nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc;giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, không để
bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh
Thứ tư, trung đoàn bộ binh là nơi trực tiếp tiến hành quản lý, giáo dục
và rèn luyện cán bộ, chiến sĩ phát triển một cách toàn diện
Lực lượng ở các trung đoàn bộ binh bao gồm: sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ; trong đó, lực lượng chủ yếu, đông đảo là hạ sĩ quan,binh sĩ Họ là những thanh niên đủ 18 tuổi trở lên được tuyển chọn nhập ngũ vàbiên chế về các đơn vị cơ sở; được biên chế về các đại đội, tiểu đoàn, nơi trực tiếpquản lý, giáo dục, huấn luyện cho hạ sĩ quan, binh sĩ thực hiện nghĩa vụ quân sự
Hạ sĩ quan, binh sĩ được giáo dục, rèn luyện một cách toàn diện cả về phẩm chấtchính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức, chấp hành kỷ luật quân sự, trình độvăn hóa, kỹ năng nghề nghiệp quân sự, có đủ ý chí, nghị lực và sức khỏe đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Khi hết thời hạn thực hiệnnghĩa vụ quân sự (hiện nay là 24 tháng đối với chiến sĩ và 30 tháng đối với tiểuđội trưởng, khẩu đội trưởng theo Luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi năm 2015, có hiệulực từ ngày 01/01/2016) được tư vấn đăng kí học nghề ở các trung tâm dạy nghềcủa Bộ Quốc phòng hoặc đăng kí vào ngạch dự bị Sau khi hoàn thành nghĩa vụquân sự, về địa phương, họ trở thành những công dân gương mẫu, lực lượng laođộng tích cực trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Xây dựng các trung đoàn bộ binhVMTD, làm tốt việc quản lý, giáo dục, huấn luyện sẽ góp phần đào tạo ra nhữngcán bộ, chiến sĩ ưu tú, con người mới XHCN, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xâydựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới
Thứ năm, trung đoàn bộ binh góp phần quan trọng trong tham gia xây
dựng cơ sở địa phương vững mạnh, củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bómáu thịt giữa quân đội với nhân dân
Các trung đoàn bộ binh trong QĐND Việt Nam thường được đóng quân
ở các địa bàn chiến lược, quan trọng của Tổ quốc Dù đóng quân ở đâu, các