1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

19-Lê Thành Đồng.pdf

262 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo Nghiệm Thu Đề Tài Nghiên Cứu Tình Trạng Nhiễm Một Số Loài Giun, Sán Phổ Biến Ở Khu Vực Nam Bộ - Lâm Đồng Và Đánh Giá Kết Quả Một Số Biện Pháp Phòng Chống Dừa Vào Cộng Đồng
Tác giả Lê Thành Đồng
Trường học Viện Sốt Rét - Ký Sinh Trùng - Côn Trùng TP. HCM
Chuyên ngành Y học và Ký sinh trùng
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. HCM
Định dạng
Số trang 262
Dung lượng 12,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I. TỔNG QUAN (12)
    • 1.1. Tình hình nhiễm giun, sán ở người (12)
      • 1.1.1. Giun truyền qua đất (12)
      • 1.1.2. Ấu trùng giun đũa chó/mèo (0)
      • 1.1.3. Sán dây và ấu trùng sán dây lợn (Taenia sp) (0)
      • 1.1.4. Sán lá gan (15)
    • 1.2. Tình hình nhiễm giun, sán ở môi trường (18)
      • 1.2.1. Tình hình nhiễm giun, sán trên đất (18)
      • 1.2.2. Tình hình nhiễm giun, sán trên rau (18)
      • 1.2.3. Tình hình nhiễm giun, sán trong nước sinh hoạt và nước tưới rau (20)
    • 1.3. Các biện pháp phòng chống giun, sán (20)
      • 1.3.1. Các biện pháp phòng chống giun, sán được khuyến cáo (20)
        • 1.3.1.1. Đối với giun truyền qua đất (20)
        • 1.3.1.2. Đối với các loại sán (21)
      • 1.3.2. Thực tế nghiên cứu tại khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng (22)
    • 1.4. Sơ lược một số đặc điểm về nguyên nhân, đường lây, chẩn đoán, điều trị và phòng chống các bệnh giun, sán thường gặp (24)
      • 1.4.1. Bệnh giun đũa (24)
      • 1.4.2. Bệnh giun tóc (26)
      • 1.4.3. Bệnh giun móc/mỏ (27)
      • 1.4.4. Bệnh giun lươn (29)
      • 1.4.5. Bệnh ấu trùng giun đũa chó (0)
      • 1.4.6. Bệnh sán lá gan lớn (35)
      • 1.4.7. Bệnh sán dây bò (37)
      • 1.4.8. Bệnh sán dây lợn (37)
      • 1.4.9. Bệnh ấu trùng sán dây lợn (0)
    • 1.5. Đặc điểm khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng liên quan đến nghiên cứu (40)
      • 1.5.1. Địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội và dân số (0)
      • 1.5.2. Tình hình nhiễm giun, sán tại khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng (42)
      • 1.5.3. Tình hình tổ chức mạng lưới và cơ sở vật chất về phòng chống giun, sán tại khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng (42)
  • CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (44)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (44)
    • 2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu (44)
      • 2.2.1. Thời gian nghiên cứu (44)
      • 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu (44)
        • 2.2.2.1. Tại thực địa (44)
        • 2.2.2.2. Tại Labo (49)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (49)
      • 2.3.1. Tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm một số loài giun truyền qua đất ở khu vực NB-LĐ (49)
      • 2.3.2. Thực trạng nhiễm một số loài sán phổ biến ở khu vực NB-LĐ (50)
      • 2.3.3. Đánh giá kết quả một số biện pháp phòng chống giun sán dựa vào cộng đồng (51)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (51)
      • 2.4.1. Thiết kế nghiên cứu (51)
      • 2.4.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu (51)
    • 2.5. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu (56)
    • 2.6. Công cụ nghiên cứu (57)
    • 2.7. Các biến số (58)
    • 2.8. Các chỉ số (59)
      • 2.8.1. Đối với nghiên cứu nội dung 1 và 2 (59)
      • 2.8.2. Đối với nghiên cứu về các yếu tố liên quan (60)
    • 2.9. Xử lý số liệu và viết báo cáo (0)
    • 2.10. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học (60)
  • CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (61)
    • 3.1. Tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm một số loài giun truyền qua đất ở khu vực (61)
      • 3.1.1. Tỷ lệ nhiễm một số loài giun truyền qua đất ở mẫu phân người (61)
      • 3.1.2. Tỷ lệ nhiễm giun đũa chó/mèo, giun lươn ở người (65)
      • 3.1.3. Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở môi trường (69)
      • 3.1.4. Cường độ nhiễm một số loài giun truyền qua đất (71)
    • 3.2. Thực trạng nhiễm một số loài sán phổ biến ở khu vực NB-LĐ (72)
      • 3.2.1. Tỷ lệ nhiễm một số loài sán ở mẫu phân người (72)
      • 3.2.2. Tỷ lệ nhiễm sán lá lớn ở gan, ấu trùng sán dây lợn ở người (0)
      • 3.2.3. Tỷ lệ nhiễm sán lá và sán dây ở môi trường (77)
      • 3.2.4. Xây dựng bản đồ phân bố giun, sán khu vực Nam Bộ – Lâm Đồng (79)
        • 3.2.4.1. Bản đồ tỷ lệ nhiễm giun, sán từ số liệu của đề tài nghiên cứu (79)
        • 3.2.4.2. Triển khai tập huấn sử dụng phần mềm bản đồ giun, sán cho địa phương (0)
    • 3.3. Một số biện pháp phòng chống giun sán dựa vào cộng đồng (83)
      • 3.3.1. Các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm một số loài giun sán (83)
        • 3.3.1.1. Các yếu tố liên quan đến nhiễm GTQĐ ở các điểm nghiên cứu (0)
        • 3.3.1.2. Các yếu tố liên quan đến nhiễm giun đũa chó/mèo, giun lươn (84)
        • 3.3.1.3. Các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm sán lá lớn ở gan, ấu trùng sán dây lợn (87)
      • 3.3.2. Kết quả áp dụng biện pháp tẩy giun (90)
        • 3.3.2.1. Triển khai biện pháp tẩy giun tại các xã can thiệp (90)
        • 3.3.2.2. Hiệu quả áp dụng biện pháp tẩy giun tại cộng đồng (92)
        • 3.3.2.3. Nhận thức của người dân về bệnh giun sán và cách phòng chống (0)
      • 3.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe và vệ sinh môi trường (97)
        • 3.3.3.1. Triển khai biện pháp truyền thông cộng đồng và vệ sinh môi trường tại các xã can thiệp (97)
        • 3.3.3.2. Hiệu quả áp dụng biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng và vệ sinh môi trường (101)
        • 3.3.3.3. Nhận thức của người dân về bệnh giun sán và cách phòng chống (0)
      • 3.3.4. Xây dựng quy trình tẩy giun dựa vào cộng đồng (107)
  • CHƯƠNG IV. BÀN LUẬN (114)
    • 4.1. Tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm một số loài giun truyền qua đất ở khu vực (114)
      • 4.1.1. Tỷ lệ nhiễm một số loài giun truyền qua đất ở mẫu phân người (114)
      • 4.1.2. Tỷ lệ nhiễm giun đũa chó/mèo, giun lươn ở người (124)
      • 4.1.3. Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở môi trường (129)
    • 4.2. Cường độ nhiễm một số loài giun truyền qua đất (135)
    • 4.3. Thực trạng nhiễm một số loài sán phổ biến ở khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng (138)
      • 4.3.1. Tỷ lệ nhiễm một số loài loài sán ở mẫu phân người (138)
      • 4.3.2. Tỷ lệ nhiễm sán lá lớn ở gan, ấu trùng sán dây lợn ở người (0)
      • 4.3.3. Tỷ lệ nhiễm sán lá và sán dây ở môi trường (145)
      • 4.3.4. Xây dựng bản đồ phân bố giun, sán khu vực Nam Bộ – Lâm Đồng (148)
    • 4.4. Một số biện pháp phòng chống giun sán dựa vào cộng đồng (149)
      • 4.4.1. Các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm một số loài giun sán (149)
        • 4.4.1.1. Các yếu tố liên quan đến nhiễm GTQĐ ở các điểm nghiên cứu (0)
        • 4.4.1.2. Các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm giun giun đũa chó, giun lươn (152)
        • 4.4.1.3. Các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm sán lá lớn ở gan và ấu trùng sán dây lợn tại khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng (156)
      • 4.4.2. Kết quả áp dụng biện pháp tẩy giun (158)
        • 4.4.2.1. Hiệu quả áp dụng biện pháp tẩy giun tại cộng đồng (158)
        • 4.4.2.2. Nhận thức của người dân về bệnh giun sán và cách phòng chống (0)
      • 4.4.3. Kết quả áp dụng biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe và vệ sinh môi trường (163)
        • 4.4.3.1. Hiệu quả làm giảm tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở người (163)
        • 4.4.3.2. Nhận thức của người dân về bệnh giun sán và cách phòng chống (0)
      • 4.4.4. Xây dựng quy trình tẩy giun dựa vào cộng đồng (167)
  • CHƯƠNG V. KẾT LUẬN (168)
    • 5.1. Tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm một số loài giun truyền qua đất ở khu vực (168)
    • 5.2. Thực trạng nhiễm một số loài sán phổ biến ở khu vực NB-LĐ (168)
    • 5.3. Một số biện pháp phòng chống giun sán dựa vào cộng đồng (169)
    • 5.4. Xây dựng quy trình tẩy giun dựa vào cộng đồng (169)
  • CHƯƠNG VI. KIẾN NGHỊ (170)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (171)

Nội dung

i BỘ Y TẾ VIỆN SỐT RÉT KÝ SINH TRÙNG CÔN TRÙNG TP HCM * BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG NHIỄM MỘT SỐ LOÀI GIUN, SÁN PHỔ BIẾN Ở KHU VỰC NAM BỘ LÂM ĐỒNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MỘT SỐ BIỆ[.]

TỔNG QUAN

Tình hình nhiễm giun, sán ở người

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2014, hơn 1,5 tỷ người trên toàn cầu, chiếm 24% dân số, nhiễm giun truyền qua đất, với các loại giun phổ biến như giun đũa (Ascaris lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichiura), giun móc (Ancylostoma duodenale) và giun mỏ (Necator americanus) Bệnh chủ yếu phân bố ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là khu vực cận sa mạc Sahara, châu Mỹ, Trung Quốc và Đông Nam Á Hơn 270 triệu trẻ em dưới tuổi đi học và hơn 600 triệu trẻ em trong độ tuổi đi học sống ở những khu vực có sự lây lan của ký sinh trùng, cần được điều trị và can thiệp phòng ngừa.

Theo báo cáo giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất tại Việt Nam cao nhất ở vùng trung du và miền núi phía Bắc với 65,3%, tiếp theo là đồng bằng sông Hồng 58,2%, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 42,2%, Tây Nguyên 30,2%, Đông Nam Bộ 29% và đồng bằng sông Cửu Long khoảng 12% - 14% Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương và cộng sự (2011) cho thấy tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh tiểu học tại 12 tỉnh thành là nhẹ, với cường độ nhiễm từ 1,4% - 41,2%, trong đó đơn nhiễm chiếm 86,4% và đa nhiễm 13,6% Tỷ lệ nhiễm giun kim ở miền Bắc dao động từ 29% - 43%, miền Trung 7,5%, Tây Nguyên 50% và đồng bằng Nam Bộ 16% - 47% Cụ thể, tỷ lệ nhiễm giun kim ở một số tỉnh như Bắc Giang 4,8%, Hà Nam 0,5%, Gia Lai 0,6%, Quảng Bình 1,2%, Quảng Ngãi 0,8%, Phú Yên 3,1%, Tây Ninh 1,6%, Đồng Tháp 0,6%, Đồng Nai 0,4%, và Lâm Đồng 1,6%.

Nghiên cứu của Vũ Thị Lâm Bình và cộng sự (2014) cho thấy tỷ lệ nhiễm giun lươn ở miền Bắc dưới 1%, trong khi tỷ lệ huyết thanh dương tính tại thành phố Hồ Chí Minh là 8%, Thái Nguyên 10,9% và Phú Thọ 4,1% Việc sử dụng hố xí không hợp vệ sinh, đi chân đất khi làm việc và sử dụng phân tươi bón ruộng có mối liên hệ với tỷ lệ nhiễm giun lươn.

Kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét – KST – CT TP HCM năm 2012 tại một số cộng đồng dân cư khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia [17], [18]:

Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất trong cộng đồng là 7,4%, bao gồm giun đũa 1,5%, giun tóc 0,4% và giun móc 5,7% Tất cả các trường hợp nhiễm giun đều ở mức độ nhẹ.

- Tỷ lệ nhiễm giun chung cao nhất ở tỉnh Tây Ninh (16,4%), thấp nhất là Kiên Giang (3,3%) Tây Ninh cũng là tỉnh có tỷ lệ giun móc cao nhất (14,5%)

- Kết quả xét nghiệm huyết thanh bằng kỹ thuật ELISA cho thấy: tỷ lệ (+) với giun lươn là 18,4%;

Kết quả nghiên cứu của Viện sốt rét – KST – CT TP HCM năm 2015 tại các tỉnh Cà Mau, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu [47]:

Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất trong cộng đồng là 10,8%, trong đó giun móc chiếm tỷ lệ cao nhất với 10,1% Tình hình nhiễm giun ở các tỉnh cụ thể như sau: Cà Mau có tỷ lệ từ 0,56% đến 3,48%, Tây Ninh từ 0,41% đến 15,43%, và Bà Rịa – Vũng Tàu từ 0,00% đến 9,07%.

- Tất cả các mẫu phân có kết quả xét nghiệm (+) với giun đều ở cường độ nhiễm nhẹ

- Kết quả xét nghiệm huyết thanh bằng kỹ thuật ELISA cho thấy: tỷ lệ (+) với giun lươn là 5,7%; trong đó, Cà Mau (13,5%), Tây Ninh (4,5%), Bà Rịa – Vũng Tàu (0,00%)

1.1.2 Ấu trùng giun đũa chó/mèo Ấu trùng giun đũa chó/mèo (Toxocara canis, Toxocara cati): bệnh được tìm thấy ở nhiều quốc gia, tỷ lệ nhiễm gần 14% dân số Mỹ và ở một số nơi có thể cao ≥ 40% Một số yếu tố có liên quan đến tỷ lệ nhiễm bệnh: người có nuôi chó, trẻ em và thanh thiếu niên < 20 tuổi, vị trí địa lý (bệnh phổ biến nhiều ở vùng nhiệt đới, trứng tồn tại lâu trong môi trường đất ẩm ướt) Một số khảo sát về tỷ lệ nhiễm trên thế giới cho thấy: Sri Lanka 43%, Đan Mạch 2,4%, Bali (Indonesia) 63,2%, Saint Lucia (Ấn Độ) 86% [34], [61], [64]

Bệnh ấu trùng giun đũa chó, mèo tại Việt Nam ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi và phân bố rộng rãi trên toàn quốc Kết quả điều tra huyết thanh cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh ở một số tỉnh như Hà Tĩnh là 71,3%, Bình Định từ 13,5% đến 16,5%, Đăk Lăk là 23,32% và Tây Ninh là 20,6%.

Nghiên cứu của Viện sốt rét – KST – CT TP HCM năm 2012 cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara canis đạt 51% tại một số cộng đồng dân cư khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia.

Kết quả nghiên cứu của Viện sốt rét – KST – CT TP HCM năm 2015 tại các tỉnh Cà Mau, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu: tỷ lệ huyết thanh (+) với

Toxocara canis 10,9%, trong đó, Cà Mau (23%), Tây Ninh (13%), Bà Rịa – Vũng Tàu (9,5%) [47]

1.1.3 Sán dây và ấu trùng sán dây lợn ( Taenia sp)

Bệnh do Taenia solium phân bố rộng rãi trên toàn cầu, đặc biệt phổ biến ở các nước châu Mỹ Latinh (tỷ lệ 0,2% - 2,7%), Đông Âu, khu vực cận sa mạc Sahara (0,13% - 8,6%), Ấn Độ và châu Á (3,9% - 38%) Taenia asiatica chỉ xuất hiện ở một số nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia và Thái Lan Nhiễm T saginata thường xảy ra ở những khu vực mà người dân tiêu thụ thịt bò chưa được nấu chín, chủ yếu ở Đông Âu, Nga, Đông Phi và Mỹ Latinh.

Tại Việt Nam, bệnh do sán dây lợn và sán dây bò có tỷ lệ nhiễm từ 0,5% đến 12%, phân bố rải rác ở nhiều địa phương Một nghiên cứu tại tỉnh Phú Thọ cho thấy tỷ lệ nhiễm sán dây lợn và sán dây bò đạt 8,65% Bệnh ấu trùng sán dây lợn cũng được ghi nhận ở ít nhất 49 tỉnh, với tỷ lệ nhiễm khoảng 5% đến 7%.

Nghiên cứu của Viện Sốt rét – KST – CT TP HCM năm 2015 cho thấy tỷ lệ người dân nhiễm ấu trùng sán dây lợn tại các tỉnh Cà Mau, Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu là 4,7% Trong đó, Cà Mau có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 12,5%, tiếp theo là Bà Rịa – Vũng Tàu với 1,5% và Tây Ninh với 1,0%.

Sán lá gan nhỏ (Clonorchis sinensis, Opisthorchiasis viverrini, Opisthorchiasis felinea): Clonorchis sinensis được tìm thấy ở châu Á gồm Hàn

Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Nhật Bản, Nga và châu Á

Opisthorchiasis viverrini được tìm thấy ở Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt

Nam Opisthorchiasis felinea phổ biến hơn, kéo dài từ Đông Âu đến Trung Á và Siberia [59],[69],[70]

Theo báo cáo của Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (2011), trong giai đoạn 2006 - 2010, sán lá gan nhỏ đã được phát hiện ở 24 tỉnh, thành phố tại Việt Nam, đặc biệt phổ biến ở những khu vực có thói quen ăn gỏi cá như Nga Sơn (Thanh Hóa) với tỷ lệ 17,7%, Ba Vì (Hà Nội) 27,7% và Kỳ Sơn (Hòa Bình) 32,7% Một cuộc điều tra tại xã Thuận Hạnh, tỉnh Đăk Nông vào năm 2010 cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ là 10,75% (76/707 đối tượng), với loài sán được xác định là Clonorchis sinensis thông qua hình thái học và kỹ thuật PCR.

Khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng trong vòng 10 năm gần đây chưa có một nghiên cứu nào về đánh giá tình hình nhiễm sán lá gan nhỏ

Sán lá gan lớn (Fasciola gigantica, F hepatica) là bệnh phổ biến trên toàn cầu, với khoảng 2,4 triệu người nhiễm bệnh ở hơn 70 quốc gia, đặc biệt tại các khu vực nuôi trâu, bò, cừu Fasciola hepatica xuất hiện ở hơn 50 quốc gia trên tất cả các châu lục, ngoại trừ Nam Cực, trong khi Fasciola gigantica ít phổ biến hơn và chỉ có mặt ở một số khu vực nhiệt đới Bệnh này chủ yếu được ghi nhận ở các nước đang phát triển, ngoại trừ khu vực Tây Âu.

Tại Việt Nam, sán lá gan lớn đã được xác định lưu hành ở 47 tỉnh, thành phố Hai loài ốc đã được tìm thấy là vật chủ trung gian của sán lá gan lớn.

Lymnaea viridis và Lymnaea swinhoei đã được phát hiện ấu trùng trên các loại rau thủy sinh như rau ngổ và cải xoong Tỷ lệ nhiễm ở Quảng Nam là 2,97% theo phương pháp ELISA và 3,19% theo xét nghiệm phân, với cường độ nhiễm thấp Tại Bình Định, tỷ lệ nhiễm ghi nhận là 6%.

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét – KST – CT TP HCM năm

Tình hình nhiễm giun, sán ở môi trường

1.2.1 Tình hình nhiễm giun, sán trên đất

Nghiên cứu của Dubna S (2006) tại cộng hòa Séc cho thấy: tỷ lệ nhiễm trứng Toxocara spp trên đất sân vườn là 45% [63]

Nghiên cứu của Habluetzel.A và Traldi.G (2002) tại Italy chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm trứng Toxocara spp trên đất ở vùng nông thôn vượt quá 50%, trong khi 3/6 công viên ở khu vực thành thị cũng có mẫu đất nhiễm loại trứng này.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Việt Hòa và cộng sự (2005 - 2009), tỷ lệ ô nhiễm trứng giun đũa xung quanh nhà tiêu trường học tại Bắc Giang dao động từ 7,1% đến 50,0% vào năm 2005, 4,0% đến 38,8% vào năm 2006, và 3,7% đến 40,7% vào năm 2007 Ngoài ra, khu vực này còn bị nhiễm trứng giun tóc và sán lá ruột lớn.

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương và cộng sự (2013), tỷ lệ nhiễm trứng giun đũa chó trên đất ở Bình Định 20% - 25%, Đăk Lăk 36,7% - 38,3% [8]

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét – KST – CT TP HCM năm

Năm 2012, tại các tỉnh biên giới Việt Nam – Campuchia, tỷ lệ mẫu đất nhiễm giun móc là 1,5% Trong đó, mẫu đất gần nhà vệ sinh tại tỉnh An Giang có tỷ lệ nhiễm giun móc cao nhất với 10,0%, tiếp theo là Tây Ninh với 5,0% và Đồng Tháp với 3,3% Ngoài ra, mẫu đất trên lối đi tại tỉnh Tây Ninh cũng ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun móc là 5%.

Nghiên cứu của Viện Sốt rét – KST – CT TP HCM năm 2015 tại các tỉnh Cà Mau, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu cho thấy không phát hiện trứng và ấu trùng giun, sán trong các mẫu đất thu thập từ các điểm nghiên cứu.

1.2.2 Tình hình nhiễm giun, sán trên rau

Khảo sát của Lê Thị Kim Ngọc (2006) và Trần Thị Hồng (2007) tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trên rau sống dao động từ 8,6% đến 97,1%.

Nguyễn Khắc Lực và cộng sự (2009) đã tiến hành khảo sát tình trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trên rau quả trồng ở ngoại thành Hà Nội, với kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên rau đạt 86,5% Cụ thể, rau muống có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 95,56%, tiếp theo là cải xoong 91,11%, cải canh 89,22%, xà lách 85,63%, gia vị 81,39%, cải cúc 80,85%, diếp cá 71,74%, và các loại rau khác cũng đạt 95,56%.

Theo khảo sát năm 2010 tại các chợ Buôn Mê Thuột, tỷ lệ rau sống nhiễm ký sinh trùng lên tới 88,46% (115/130 mẫu) Trong đó, tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun móc là 35,38%, trùng roi 30,77%, amip 16,15%, trứng giun móc 14,62%, ấu trùng giun lươn 12,31%, trứng giun đũa chó 10%, trùng lông 9,23%, và trứng giun đũa 3,08%.

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đề và cộng sự (2011), tỷ lệ nhiễm mầm bệnh giun sán trên rau tại Nam Định 9,1%, Hòa Bình 3,6%, Hà Nội 5,5% [15]

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét – KST – CT TP HCM năm

Tại các tỉnh biên giới Việt Nam – Campuchia năm 2012, tỷ lệ mẫu rau nhiễm giun sán đạt 81,8%, trong đó giun đũa chiếm 0,2%, giun móc 0,5%, đơn bào 72,8% và nhiễm phối hợp 9,0% Nhiễm giun đũa chỉ ghi nhận tại An Giang với tỷ lệ 1,0%, trong khi giun móc chỉ xuất hiện ở Tây Ninh với tỷ lệ 3,8% Tỷ lệ nhiễm đơn bào cao nhất là tại Bình Phước (91,0%) và thấp nhất là An Giang (48,0%), trong khi Kiên Giang, Long An và Đồng Tháp lần lượt có tỷ lệ 88,0%, 84,2% và 57,5% Nhiễm phối hợp cao nhất được ghi nhận tại Đồng Tháp (19,2%) và thấp nhất tại Tây Ninh (1,3%), với Bình Phước, Kiên Giang, Long An và An Giang có tỷ lệ lần lượt là 4,0%, 4,0%, 5,8% và 18,8%.

Nghiên cứu của Viện Sốt rét – KST – CT TP HCM năm 2015 cho thấy tỷ lệ nhiễm trứng ấu trùng giun, sán trên rau ăn sống chủ yếu là nhiễm trứng, với tỷ lệ nhiễm giun móc đạt 18,3% Cụ thể, tỷ lệ nhiễm tại các tỉnh như Cà Mau là 0,0%, Tây Ninh có tỷ lệ nhiễm giun móc lên đến 40%, trong khi Bà Rịa – Vũng Tàu ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun đũa 5,0%, giun móc 15% và giun lươn 5,0%.

1.2.3 Tình hình nhiễm giun, sán trong nước sinh hoạt và nước tưới rau

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét – KST – CT TP HCM năm

2012 tại các tỉnh khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia [18]:

Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đơn bào trong mẫu nước sinh hoạt và tưới rau của 6 tỉnh cao nhất đạt 17,0%, trong khi tỷ lệ nhiễm giun móc là 1,3% trong số các loại giun sán được xét nghiệm.

Tỷ lệ nhiễm chung các loại giun của 6 tỉnh cao (18,7%)

Phân tích tỷ lệ nhiễm đơn bào trong nước sinh hoạt cho thấy An Giang có tỷ lệ nhiễm là 17,5%, trong khi Kiên Giang và Tây Ninh không có mẫu nào nhiễm Đối với mẫu nước tưới rau, An Giang và Đồng Tháp ghi nhận tỷ lệ nhiễm đơn bào là 45,0%, trong khi Tây Ninh cũng không có mẫu nhiễm.

Nghiên cứu của Viện Sốt rét – KST – CT TP HCM năm 2015 tại các tỉnh Cà Mau, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu cho thấy không phát hiện trứng và ấu trùng giun, sán trong các mẫu nước thu thập tại các điểm nghiên cứu.

Các biện pháp phòng chống giun, sán

1.3.1 Các biện pháp phòng chống giun, sán được khuyến cáo

1.3.1.1 Đối với giun truyền qua đất: dựa vào 5 biện pháp cơ bản

Hóa liệu pháp là phương pháp điều trị hiệu quả các bệnh giun truyền qua đất trong cộng đồng, nhằm giải quyết nguồn bệnh Việc đánh giá tỷ lệ và cường độ nhiễm giun là cần thiết để phân loại nhóm cộng đồng nhiễm giun Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), việc tẩy giun định kỳ cho tất cả các quần thể có nguy cơ sống trong các vùng lưu hành là rất quan trọng để giảm tỷ lệ nhiễm.

‐ Tỷ lệ nhiễm trong cộng đồng dưới 20%: điều trị ca bệnh

‐ Tỷ lệ nhiễm trong cộng đồng trên 20%: tẩy giun 1 lần/năm

‐ Tỷ lệ nhiễm trong cộng đồng trên 50%: tẩy giun 2 lần/năm [71]

Cải thiện vệ sinh môi trường là cần thiết để ngăn chặn lây nhiễm giun truyền qua đất Việc giải quyết vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kinh tế, văn hóa, xã hội và tổ chức hành chính Để đạt được hiệu quả, cần quản lý và xử lý nguồn phân một cách hợp lý, bao gồm xây dựng đủ hố xí và đảm bảo vệ sinh, loại bỏ các thói quen thiếu vệ sinh, và không sử dụng phân tươi để bón ruộng Đồng thời, cần đảm bảo nguồn nước sạch cho sinh hoạt và vệ sinh môi trường.

Giáo dục sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về tác hại và đường lây của các bệnh giun, sán, từ đó giúp họ tự phòng chống cho bản thân và gia đình Cần tích hợp giáo dục truyền thông phòng chống bệnh giun vào chương trình giảng dạy chính khóa tại các trường phổ thông Đồng thời, sử dụng hệ thống thông tin đại chúng như đài truyền hình, truyền thanh, báo chí và các hoạt động truyền thông tại cộng đồng thông qua tranh ảnh, hiện vật để người dân có thể dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quan trọng trong công tác phòng chống bệnh giun, thông qua việc xã hội hóa và lồng ghép vào các chương trình, dự án khác Điều này không chỉ khuyến khích sự đóng góp của nhân dân cho nhà nước, mà còn bao gồm việc góp tiền mua thuốc và xây dựng nhà vệ sinh, nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Giám sát và đánh giá hoạt động phòng chống giun là cần thiết để nắm bắt dịch tễ học các bệnh giun, dựa trên các kết quả đã có và khảo sát lại Qua đó, có thể xác định các vùng và bệnh trọng điểm, từ đó xây dựng kế hoạch phòng chống lâu dài.

1.3.1.2 Đối với các loại sán Điều trị ca bệnh và điều trị dự phòng bằng thuốc Praziquantel

Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe về phòng chống bệnh cho cộng đồng

Vệ sinh môi trường là yếu tố quan trọng trong việc diệt ốc trung gian truyền bệnh sán lá Cần tránh việc đi tiêu bừa bãi và thực hiện chăn nuôi hợp vệ sinh, không thả rông gia súc như trâu, bò, lợn để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Vệ sinh ăn uống rất quan trọng, bao gồm việc rửa sạch thực vật thủy sinh trước khi tiêu thụ và tuyệt đối không ăn thịt, cá, tôm, cua chưa được nấu chín Ngoài ra, cần tăng cường các biện pháp quản lý thú y như nuôi nhốt và tẩy giun cho gia súc như trâu, bò, lợn.

1.3.2 Thực tế nghiên cứu tại khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng

Viện Sốt rét - KST - CT TP HCM đã thực hiện “Dự án phòng chống giun sán cho trẻ em lứa tuổi học đường khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng giai đoạn 2010 - 2013”, nghiên cứu các biện pháp phòng chống giun sán tại Sóc Trăng, Tây Ninh, Lâm Đồng và TP HCM Kết quả bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực trong việc giảm thiểu tình trạng nhiễm giun sán ở trẻ em.

Biện pháp truyền thông GDSK đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe cá nhân và cộng đồng Đầu tư vào truyền thông không chỉ mang lại độ bao phủ rộng mà còn hiệu quả cao với chi phí thấp Với nhiều hình thức và nhóm đối tượng khác nhau, truyền thông có khả năng thay đổi tập quán cũ và thiết lập chuẩn mực mới, từ đó thúc đẩy người dân thực hành đúng trong công tác phòng chống bệnh.

Hiệu quả của truyền thông phụ thuộc vào nhận thức, điều kiện kinh tế, và kinh phí đầu tư của cộng đồng Để đạt được hiệu quả lâu dài, hoạt động truyền thông cần phù hợp với điều kiện kinh tế, trình độ dân trí, phong tục tập quán và thành phần dân tộc của từng địa phương Loại hình truyền thông cần đa dạng và tác động đến nhiều đối tượng, đặc biệt là phải thu hút sự chú ý và quan tâm của chính quyền địa phương, các ban ngành, đoàn thể và người dân.

Biện pháp tẩy giun định kỳ cho đối tượng nguy cơ cao, như học sinh và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đã chứng minh hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ nhiễm giun Tuy nhiên, sau khoảng 6 tháng, tình trạng nhiễm có thể tái diễn Để khắc phục vấn đề này, Viện Sốt rét - KST - CT TP HCM đã thực hiện nghiên cứu thí điểm tại một số cộng đồng, tập trung vào trẻ em lứa tuổi học đường, với phương pháp tẩy giun dựa vào cộng đồng Nhân viên y tế xã và y tế trường học tự lập kế hoạch và tổ chức tẩy giun, trong khi các đơn vị y tế tuyến trên giám sát và cung cấp thuốc Phương pháp này không chỉ giảm tỷ lệ nhiễm mà còn duy trì bền vững thông qua việc thực hiện định kỳ 6 tháng, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm và hành vi ứng xử của cộng đồng, từ trẻ em đến cán bộ y tế và giáo viên.

Biện pháp vệ sinh môi trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kinh tế, văn hóa, xã hội và tổ chức hành chính Để đạt được kết quả tốt, cần tập trung vào việc quản lý và xử lý nguồn phân hiệu quả, bao gồm xây dựng đủ hố xí và đảm bảo vệ sinh, loại bỏ tập quán thiếu vệ sinh, và không sử dụng phân tươi để bón ruộng, hoa màu Đồng thời, cần đảm bảo nguồn nước sạch cho sinh hoạt và vệ sinh môi trường.

Vào năm 2013, Viện Sốt rét - KST - CT Tp HCM đã phối hợp với ngành y tế địa phương để triển khai thí điểm các buổi mít tinh tại một số tỉnh/thành Chủ đề của các buổi mít tinh này là “Tuần lễ vệ sinh môi trường phòng chống giun, sán”, nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về vệ sinh môi trường và phòng ngừa bệnh giun sán.

“Trường em sạch đẹp” là một chương trình có sự tham gia của chính quyền địa phương, ngành giáo dục, đài phát thanh, truyền hình, Đoàn thanh niên và Hội phụ nữ Chương trình đã xây dựng bản đồ phân bố nhiễm giun, sán tại một số điểm.

Xây dựng bản đồ phân bố nhiễm giun, sán của khu vực Nam bộ – Lâm Đồng

Bản đồ chi tiết đến tuyến xã

Sử dụng phần mềm nhập số liệu, tỷ lệ nhiễm của mỗi loài giun, sán sẽ được hiển thị bằng các màu sắc khác nhau.

Sơ lược một số đặc điểm về nguyên nhân, đường lây, chẩn đoán, điều trị và phòng chống các bệnh giun, sán thường gặp

Nguyên nhân gây bệnh: là do Ascaris lumbricoides ký sinh trong cơ thể người

‐ Trứng thụ tinh và không thụ tinh được bài xuất theo phân ra ngoài

Trong môi trường đất ẩm, phôi trong vỏ trứng sẽ phát triển thành ấu trùng trong khoảng thời gian từ 2 đến 4 tháng ở nhiệt độ 36 - 40 độ C, với điều kiện tốt nhất là ở 25 độ C chỉ cần 3 tuần Trứng chứa ấu trùng có khả năng gây nhiễm.

Khi người nuốt phải trứng có ấu trùng, ấu trùng sẽ thoát ra khỏi vỏ trứng ở tá tràng, sau đó xuyên qua thành ruột, vào mạch máu và di chuyển theo dòng máu đến gan, tim phải và cuối cùng là phổi.

Trong phổi, ấu trùng (AT) trải qua hai lần lột xác sau 5 ngày và khoảng 10 ngày sau đó, đạt chiều dài khoảng 1,5 mm - 2 mm và đường kính thân 0,02 mm AT làm vỡ các mao quản phổi, đi qua phế nang vào phế quản, sau đó ngược lên khí quản, thực quản và được nuốt trở lại ruột non để trưởng thành Thời gian từ khi người bị nhiễm đến khi giun trưởng thành khoảng 5 - 12 tuần, và giun trưởng thành có thể sống từ 12 - 18 tháng.

Trong quá trình di chuyển từ ruột non, AT có thể đi qua nhiều cơ quan khác trước khi quay trở lại định cư tại ruột non Tuy nhiên, trong quá trình này, AT có thể bị lạc sang các cơ quan khác, dẫn đến hiện tượng giun đi lạc chỗ.

Chẩn đoán: a) Lâm sàng: Triệu chứng không điển hình b) Cận lâm sàng:

‐ Xét nghiệm phân tìm trứng giun đũa

‐ Siêu âm có thể thấy bóng giun trong đường mật ở bệnh nhân giun chui ống mật

‐ Chụp X - quang ổ bụng phát hiện các trường hợp tắc ruột do giun

‐ Miễn dịch học: phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp Điều trị:

‐ Albendazole 400mg, liều duy nhất

‐ Mebendazole 500mg, liều duy nhất

‐ Pyrantel pamoate 10mg/kg cân nặng

‐ Giữ vệ sinh cá nhân

‐ Xử lý phân hợp vệ sinh

‐ Điều trị người nhiễm giun

‐ Truyền thông giáo dục sức khỏe

Hình 1.1 Chu kỳ phát triển của giun đũa (Nguồn: CDC)

Nguyên nhân gây bệnh: do Trichuris trichiura ký sinh trong cơ thể người gây nên

Giun tóc trưởng thành ký sinh ở manh tràng và ruột kết của người, với giun tóc cái bắt đầu đẻ trứng sau 60 - 70 ngày nhiễm Mỗi ngày, giun tóc cái có thể đẻ từ 3.000 đến 20.000 trứng, và trứng chưa có phôi được bài xuất theo phân ra ngoài Tại môi trường đất, trứng phát triển thành trứng giai đoạn 2 tế bào.

Trứng giai đoạn phôi dâu

Trứng phát triển thành trứng có ấu trùng bên trong, trở thành trứng giai đoạn nhiễm

Sau khi người ăn phải trứng (tay bẩn hoặc thức ăn), ấu trùng thoát vỏ trong ruột non Ấu trùng trưởng thành và ký sinh ở manh tràng

Giun tóc trưởng thành có thể sống 5 - 10 năm

Xét nghiệm phân để phát hiện trứng giun tóc có thể được thực hiện qua nhiều kỹ thuật khác nhau, bao gồm kỹ thuật trực tiếp bằng nước muối sinh lý, phương pháp nổi bằng nước muối bão hòa, và các phương pháp Kato và Kato.

‐ Giữ vệ sinh cá nhân

‐ Xử lý phân hợp vệ sinh

‐ Điều trị nhười nhiễm giun

‐ Truyền thông giáo dục sức khỏe

Hình 1.2 Chu trình phát triển của giun tóc (Nguồn: CDC)

Ancylostoma duodenale and Necator americanus are two types of hookworms that share similar egg structures, differing only in the morphology of their larvae and adult forms.

‐ Trứng được bài xuất theo phân ra ngoài

‐ Trong điều kiện thuận lợi (độ ẩm, ấm áp, bóng râm) trứng nở thành ấu trùng trong 1 - 2 ngày Ấu trùng hình que phát triển trong phân hoặc ở đất

‐ Sau 5 - 10 ngày (và thoát vỏ 2 lần) ấu trùng hình que phát triển thành ấu trùng hình chỉ (giai đoạn 3) là ấu trùng giai đoạn nhiễm

Ấu trùng này có thể tồn tại từ 3 đến 4 tuần trong điều kiện thuận lợi Khi tiếp xúc với người, ấu trùng sẽ chui qua da và di chuyển theo tĩnh mạch đến tim và phổi Từ đó, ấu trùng theo đường máu lên phổi, qua khí phế quản, rồi xuống dạ dày.

Ấu trùng di chuyển đến ruột non, ký sinh và phát triển thành giun trưởng thành Giun trưởng thành bám vào thành ruột non, hút máu và gây ra tình trạng mất máu mãn tính cho vật chủ.

Giun mỏ chủ yếu xâm nhập vào cơ thể qua da, trong khi giun móc thường lây nhiễm qua miệng do ăn phải ấu trùng từ rau sống, tay bẩn, đất và bụi Mặc dù phần lớn giun trưởng thành chỉ sống từ 1 đến 2 năm, nhưng một số có thể tồn tại lâu hơn, lên đến vài năm.

Hình 1.3 Chu trình phát triển của giun móc/mỏ (Nguồn: CDC)

Chẩn đoán: a) Lâm sàng: Triệu chứng thiếu máu (da xanh, niêm mạc nhợt) b) Cận lâm sàng:

‐ Xét nghiệm phân tìm trứng giun móc

‐ Nuôi cấy phân tìm ấu trùng giun móc trong phân: phương pháp Harada - Mori cải tiến, nuôi cấy trên đĩa petri

‐ Miễn dịch học: phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp

‐ Dịch tễ học: có trồng rau màu, có sử dụng phân tươi Điều trị: Nhiễm giun móc đơn thuần

‐ Albendazole: (Nhẹ: liều duy nhất 400mg cho mọi lứa tuổi (từ 2 tuổi trở lên); Nặng: liều 400mg/ ngày x 3 ngày)

‐ Mebendazole: (Nhẹ: liều duy nhất 500mg cho mọi lứa tuổi (từ 2 tuổi trở lên); Nặng: liều 500mg/ ngày x 3 ngày

‐ Pyrantel pamoate: (Nhẹ: liều duy nhất 10mg/kg cân nặng cho mọi lứa tuổi (từ 2 tuổi trở lên); Nặng: liều 10mg/kg cân nặng x 3 ngày)

Vệ sinh môi trường là rất quan trọng, bao gồm việc đại tiện đúng nơi quy định, không phóng uế bừa bãi, và tránh sử dụng phân tươi hoặc chưa ủ kỹ để bón cây Ngoài ra, cần ngăn chặn chó, gà tha phân ra ngoài, nhằm bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm.

‐ Vệ sinh cá nhân: đi giày dép, bảo hộ lao động khi tiếp xúc đất cát

‐ Giáo dục y tế: Tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện truyền thông, giáo dục sức khỏe, ý thức vệ sinh cá nhân và môi trường

‐ Ưu tiên phòng chống giun móc cho các đối tượng trẻ em và phụ nữ tuổi sinh sản tại vùng có tỷ lệ nhiễm giun móc/ mỏ cao

Nguyên nhân: do loài giun có tên khoa học là Strongyloides stercoralis gây nên

‐ Người bị nhiễm khi tiếp xúc với đất ô nhiễm phân có ấu trùng (AT) giai đoạn 2 sống tự do xâm nhập vào da

Khi theo đường máu, ký sinh trùng di chuyển đến phổi, nơi chúng làm vỡ mao quản phổi và xâm nhập vào phế nang Từ đó, chúng tiếp tục di chuyển đến các phế quản, khí quản, yết hầu, và thực quản, cuối cùng được nuốt vào ống tiêu hóa để phát triển thành giun cái trưởng thành.

Giun bám vào màng nhầy của ruột non và đẻ trứng, từ đó trứng nở ra ấu trùng giai đoạn 1, theo phân ra ngoài Ấu trùng giai đoạn 1 phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2, xâm nhập vào da khi người tiếp xúc với đất, tương tự như giun móc Quá trình này có thể diễn ra theo chu trình trực tiếp hoặc chuyển sang đời sống tự do, trong đó ấu trùng lột xác 4 lần để trở thành con đực và cái trưởng thành.

Strongyloides stercoralis trưởng thành giao phối và tạo ra thế hệ con cháu, tiếp tục chu trình ký sinh Chu trình trực tiếp xảy ra khi điều kiện bên trong ký chủ thuận lợi và bên ngoài bất lợi, trong khi chu trình gián tiếp ngược lại Một đặc điểm nổi bật là một phần nhỏ ấu trùng giai đoạn 1 lột xác thành ấu trùng giai đoạn 2 trong ruột non, sau đó xâm nhập vào ruột già và phát triển thành con đực và con cái trưởng thành Chu trình tự nhiễm diễn ra liên tục, duy trì ấu trùng trong cơ thể ký chủ trong nhiều tháng, nhiều năm mà không cần tái nhiễm, gây ra nhiều vấn đề bệnh lý phức tạp Chu trình này đặc biệt phổ biến ở những cá nhân suy giảm miễn dịch như người lạm dụng corticoides, nhiễm HIV, hoặc ghép cơ quan Ấu trùng có thể xâm nhập vào các cơ quan khác qua đường máu, dẫn đến các triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy thuộc vào vị trí ký sinh Trong những trường hợp này, ấu trùng thường không được phát hiện trong phân, do đó chẩn đoán cần dựa vào huyết thanh miễn dịch học.

Chẩn đoán bệnh dựa vào hai phương pháp chính: Lâm sàng và Cận lâm sàng Về lâm sàng, cần chú ý đến tam chứng cổ điển gồm tiêu chảy, đau bụng, nổi mề đay, đặc biệt là hội chứng ấu trùng di chuyển ngoài da, cùng với việc xem xét bệnh nhân có sống trong khu vực lưu hành bệnh Cận lâm sàng sẽ hỗ trợ xác định chính xác hơn tình trạng bệnh.

Đặc điểm khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng liên quan đến nghiên cứu

Khu vực Nam Bộ, bao gồm tỉnh Lâm Đồng, có tổng cộng 20 tỉnh/thành phố, trong đó có 6 tỉnh miền Đông và 13 tỉnh miền Tây Khu vực này được chia thành 208 huyện/thị, 2.606 xã/phường/thị trấn và 16.920 thôn/ấp.

Cơ cấu dân số Việt Nam năm 2013 đạt 32.732.071 người, bao gồm nhiều dân tộc thiểu số như K’Ho, Cin ở Tây Nguyên, Ê Đê, S'tiêng ở miền Đông Nam Bộ, và Khơ Me, Hoa ở miền Tây Nam Bộ Ngoài ra, các dân tộc Tày, Thái, Mường từ miền Bắc cũng đã di cư và sinh sống tại các tỉnh như Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước Mỗi dân tộc có những phong tục riêng về ăn uống, chăn nuôi và canh tác Tuy nhiên, điều kiện vệ sinh môi trường chưa được cải thiện, tạo điều kiện cho bệnh giun, sán phát triển.

Khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng có nhiều hình thức canh tác phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, như trồng rau màu ở Lâm Đồng và một số tỉnh miền Tây Nam Bộ, trồng cây công nghiệp ở Lâm Đồng và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, và trồng lúa nước chủ yếu ở các tỉnh Tây Nam Bộ Mỗi dân tộc và vùng miền có tập quán canh tác riêng, ví dụ, người miền Bắc sử dụng phân tươi để bón cây, trong khi người dân đồng bằng sông Cửu Long thường làm cầu tiêu trên ao, kênh, rạch và dùng phân để nuôi thủy sinh như sen, súng, rau nhút, rau muống Tuy nhiên, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát tán mầm bệnh giun, sán ra môi trường Hơn nữa, do điều kiện khó khăn, nông dân chưa được trang bị bảo hộ lao động, dẫn đến việc tiếp xúc trực tiếp với nguồn bệnh (đất, nước, phân) và dễ bị nhiễm các bệnh giun, sán.

Tập quán chăn nuôi ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam chủ yếu là nhỏ lẻ và thả rông, như chăn nuôi trâu, bò, lợn, dẫn đến việc không quản lý được nguồn phân và gây ô nhiễm môi trường Việc nuôi cá nước ngọt trong ao, hồ và sử dụng phân người cùng gia súc làm thức ăn cho cá là phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, tập quán nuôi lợn thả rông và cho ăn phân người vẫn còn tồn tại trong cộng đồng các dân tộc K’Ho, Stiêng tại Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai và đồng bào Khơ Me tại An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các bệnh về sán lá.

Thói quen ăn uống: một trong những món ăn truyền thống của người Việt

Phở bò tái và các món từ thịt trâu, bò tái như bò tái chanh, nướng tái rất phổ biến, trong khi thịt lợn sống, đặc biệt là nem chua, cũng được ưa chuộng ở nhiều tỉnh thành Tuy nhiên, việc tiêu thụ những món ăn này là nguyên nhân chính gây ra bệnh sán dây lợn và dây bò Ngoài ra, gỏi cá sống từ các loại cá nước ngọt như cá chép, cá mè, cá diếc cũng được người dân Đồng Nai, Lâm Đồng thường xuyên thưởng thức Các loại rau và thủy sinh như ngó sen, súng, rau muống, cải xoong là thực phẩm chính trong bữa ăn hàng ngày của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhưng cũng làm tăng nguy cơ nhiễm các bệnh sán lá.

Khu vực này có địa hình và khí hậu nhiệt đới, với thời tiết nóng ẩm gần như suốt cả năm Điều này tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là các bệnh giun sán, trong đó nổi bật là các loại giun truyền qua đất như giun đũa, giun tóc và giun móc.

Khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng có đầy đủ các yếu tố thuận lợi cho sự lây lan và phát triển của các bệnh liên quan đến giun, sán.

1.5.2 Tình hình nhiễm giun, sán tại khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng

Các bệnh do giun truyền qua đất, sán lá gan, sán dây, bệnh ấu trùng sán dây, sán lá phổi, bệnh giun chỉ, giun đũa chó, mèo đang gia tăng tại khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng Mặc dù chưa có đánh giá tổng thể, nhưng các báo cáo từ các cơ sở y tế cho thấy sự gia tăng đáng kể của những bệnh này ở các tỉnh như Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, và Tây Ninh.

Theo số liệu điều tra của Viện Sốt rét - KST - CT TP HCM trong các năm 2006 và 2008, tỷ lệ nhiễm giun móc, giun kim và đơn bào ở các tỉnh Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng đều cao, trong khi Long An, Vĩnh Long và Sóc Trăng cũng ghi nhận tỷ lệ nhiễm sán dây Báo cáo tại Hội nghị “Đánh giá Dự án phòng chống giun sán do WHO tài trợ” vào các năm 2003 và 2007 cho thấy khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng có tỷ lệ nhiễm giun đũa và giun tóc thấp hơn so với cả nước nhờ vào tập quán không sử dụng phân tươi bón ruộng và cây trồng Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm giun móc lại khá cao, đặc biệt ở các tỉnh Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ với tỷ lệ lên đến 55%.

Các điều tra hiện tại chỉ tập trung vào một số vùng trọng điểm và đối tượng có nguy cơ nhiễm cao như học sinh tiểu học và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản Chưa có số liệu tổng hợp về tình hình nhiễm giun, sán trong cộng đồng khu vực Do đó, cần tiến hành điều tra tổng thể trên diện rộng với nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm cộng đồng, môi trường và thực phẩm, nhằm xây dựng kế hoạch và đề xuất các biện pháp phòng chống giun, sán hiệu quả dựa vào cộng đồng.

1.5.3 Tình hình tổ chức mạng lưới và cơ sở vật chất về phòng chống giun, sán tại khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng Đến nay, mặc dù chưa được đầu tư đáp ứng nhu cầu, các hoạt động chưa được triển khai thực hiện đầy đủ, rộng khắp nhưng đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật vẫn được duy trì thường xuyên tại tuyến trung ương (Viện Sốt rét - KST

Khoa ký sinh trùng tại CT TP.HCM đảm nhận nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo và tổ chức công tác phòng chống giun, sán cho toàn khu vực Ở tuyến tỉnh, công tác này được tích hợp vào một số khoa phòng như Sốt rét và Kiểm soát dịch bệnh Tuy nhiên, ở tuyến huyện và xã, hiện nay hầu như không có cán bộ chuyên trách cho việc phòng chống giun, sán.

Nhân lực phòng chống giun, sán hiện còn hạn chế về số lượng và trình độ chuyên môn, với chỉ một số ít cán bộ có chuyên ngành ký sinh trùng ở tuyến Trung ương Tại các địa phương, hầu như không có hoặc chưa được đào tạo chuyên ngành đầy đủ Hơn nữa, trang thiết bị tại các tuyến cũng chưa được đầu tư đáng kể, chỉ có một số thiết bị được hỗ trợ thông qua các dự án quốc tế như WHO và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB).

Hoạt động giám sát và phòng chống bệnh giun, sán tại khu vực hiện chưa được thực hiện đầy đủ và có hệ thống Chỉ có một số hoạt động điều tra và can thiệp rời rạc, chủ yếu dựa vào nguồn đầu tư hạn chế từ nhà nước và các tổ chức quốc tế.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Người dân từ 2 tuổi trở lên sống và làm việc tại các điểm nghiên cứu cần chú ý đến môi trường xung quanh, bao gồm đất, nước sinh hoạt, rau ăn sống, nhà vệ sinh và phân chó.

Thời gian, địa điểm nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ các tỉnh được chọn nghiên cứu

Chúng tôi đã chọn 6 tỉnh đại diện cho các vùng sinh thái và quần thể dân cư đặc trưng về tập quán lao động, canh tác và thói quen ăn uống tại khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng.

- Vùng cao nguyên có trồng hoa màu, sử dụng phân tươi, có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống: chọn Lâm Đồng;

- Vùng đồng bằng nhiễm mặn, có trồng hoa màu, sử dụng phân tươi: chọn Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu;

- Vùng đồng bằng có trồng hoa màu, có sử dụng phân tươi: chọn Tiền Giang, Bạc Liêu và Cần Thơ

Xã An Nhơn, thuộc huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng, có diện tích 69,68 km² và bao gồm các thôn: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, Buôn Tố Lan Nơi đây có sự đa dạng về dân tộc, với đồng bào dân tộc gốc Tây Nguyên chiếm 6,2%, dân tộc Kinh 30%, Tày 21,1%, Nùng 42,4% và Hoa 0,3% Về cơ cấu kinh tế, lâm nghiệp chiếm 77,6%, nông nghiệp 18,2%, xây dựng 2,5%, dịch vụ 1,5% và công nghiệp 2%.

Phú Hội là một xã thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, với diện tích 108 km² Xã Phú Hội bao gồm các thôn như Chi Rông, K’nai, Lạc Lâm, Lạc Nghiệp, Phú An, Phú Hòa, Phú Lộc, Phú Tân, Phú Thịnh, Phú Trung, Pré, và R’chai 1.

R’chai 2 Kinh tế của bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Trảng Bom, một thị trấn thuộc huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, có diện tích 9,77 km² và bao gồm các khu phố 1, 2, 3, 4, 5 Trong những năm gần đây, dân số của thị trấn này đã tăng nhanh, chủ yếu do sự di cư từ các vùng miền khác.

Bắc Việt Nam do sự phát triển của các khu công nghiệp Cơ cấu kinh tế chủ yếu công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp

Tam An là xã thuộc huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, với diện tích 28,53 km² và có 6 tổ dân phố Kinh tế của xã chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với các loại cây trồng như mía, lạc, điều, hồ tiêu, sầu riêng, chôm chôm và nhãn Ngoài ra, xã còn phát triển chăn nuôi bò sữa và chế biến các sản phẩm từ sữa.

 Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Đá Bạc là một xã thuộc huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Xã Đá

Bạc có diện tích 43,65 km², bao gồm các thôn như Bầu Điền, Bình Sơn, Lồ Ồ, Nhơn Hòa, Phước An, Phước Trung, Phú Sơn và Quảng Phú Trong cơ cấu kinh tế, sản xuất nông nghiệp chiếm 85%, trong khi tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ chỉ chiếm 15%.

Kim Dinh là một phường thuộc thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng

Phường Kim Dinh, với diện tích 18,05 km², bao gồm các khu phố Hải Dinh, Kim Hải, Kim Sơn, Nam Dinh và Núi Dinh, đang tập trung phát triển kinh tế đa dạng với nhiều loại hình dịch vụ, thương mại, du lịch và vui chơi giải trí.

Thới Sơn là một xã thuộc thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, Việt Nam

Xã có diện tích 12,12 km², bao gồm các ấp Thới Bình, Thới Hòa, Thới Thạnh và Thới Thuận Cồn Thới Sơn, hay còn gọi là Cù lao Thới Sơn hoặc cồn Lân, nằm giữa dòng sông Tiền, được bao quanh bởi cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp Với hệ thống mương rạch chằng chịt, đất đai màu mỡ và cây trái xum xuê, nơi đây đã trở thành điểm du lịch miệt vườn lý tưởng, được xem là cái nôi của du lịch sinh thái miệt vườn.

Thân Cửu Nghĩa là một xã thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Xã có diện tích 12,62 km², dân số năm 1999 là 17032 người, [1] mật độ dân số đạt

Mật độ dân số tại khu vực này đạt 1350 người/km², bao gồm các ấp như Cửu Hòa, Ngãi Lợi, Ngãi Thuận, Thân Bình, Thân Đạo, Thân Đức và Thân Hòa Nghề chính của người dân là trồng rẫy, nổi bật với việc trồng rau má, cùng với các hoạt động đan lát truyền thống.

Châu Thới là một xã thuộc huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam Xã

Châu Thới có diện tích 42,74 km², bao gồm 14 Ấp: B1, B2, Bà Chăng A, Bà Chăng B, Béc Hen, Cai Điều, Công Điền, Giồng Bướm A, Giồng Bướm B, Nàng Rền, Nhà Việc, Trà Hất, Tràm 1, và Xóm Lớn Kinh tế của khu vực chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, với dân cư sống rải rác và không tập trung Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm, kết cấu hạ tầng còn thấp kém, và đời sống của một bộ phận người dân vẫn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo cao.

Vĩnh Trạch là một xã thuộc thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, Việt

Xã Vĩnh Trạch có diện tích 42,3 km², bao gồm các ấp như Ấp Giáp Nước, Ấp Vĩnh An, Ấp Kim Cấu, Ấp Thào Lạng, Ấp Rạch Thăng, Ấp An Trạch, Ấp An Trạch Đông và Ấp Công Điền Nằm cách trung tâm thành phố Bạc Liêu 6 km về hướng Đông Nam, Vĩnh Trạch là xã vùng ven với ba dân tộc sinh sống: Kinh, Khmer và Hoa Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 64,6%, dân tộc Khmer chiếm 21,6% và dân tộc Hoa chiếm 13,8%.

Lê Bình là một phường thuộc quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ

Phường Lê Bình có diện tích 2,46 km², từng là thị trấn Cái Răng, huyện lỵ của huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ cũ Đây là cửa ngõ của quận Cái Răng, với nền kinh tế chủ yếu dựa vào dịch vụ, trồng cây ăn quả, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.

Trà Nóc là một phường thuộc quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ

Phường có diện tích 7,12 km², phường có diện tích 1.477 người/km² Kinh tế chủ yếu phát triển thương mại - dịch vụ

Bảng 1.1 Nhiệt độ và lượng mưa ở Nam Bộ - Lâm Đồng trong thời gian nghiên cứu (từ tháng 4/2017 – 12/2018) (TT Dự báo Khí tượng Thủy văn QG)

Các trạm khí tượng Nam Bộ - Lâm Đồng

Thơ Rạch giá BR-VT TSN Đà Lạt Tháng

Labo Ký sinh trùng (Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng - TP HCM).

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm một số loài giun truyền qua đất ở khu vực NB-LĐ

 Thu thập mẫu xét nghiệm trên người:

- Xác định tỷ lệ nhiễm:

+ Thu thập mẫu phân của người dân và xét nghiệm bằng kỹ thuật Kato - Katz đối với các loài: giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ

Thu thập mẫu máu từ người dân và thực hiện xét nghiệm huyết thanh bằng kỹ thuật ELISA để phát hiện các loài giun lươn và ấu trùng giun đũa chó, đồng thời tiến hành xét nghiệm huyết học nhằm xác định bạch cầu ái toan, hỗ trợ cho việc phân tích kết quả xét nghiệm ELISA.

- Xác định cường độ nhiễm:

Thu thập mẫu phân từ cộng đồng và thực hiện xét nghiệm bằng kỹ thuật Kato - Katz để phát hiện các loại giun như giun đũa, giun tóc, và giun móc/mỏ Các mẫu phân có kết quả xét nghiệm dương tính sẽ được đánh giá cường độ nhiễm theo phân loại của WHO (2002).

 Thu thập mẫu xét nghiệm trên môi trường đất, nước, rau và phân chó:

Thu thập mẫu đất từ trường học và nhà dân, sau đó tiến hành xét nghiệm bằng kỹ thuật Kobayashi 1980 và Kagei 1983 Phương pháp này sử dụng dung dịch MgSO4 bão hòa để làm nổi trứng và ấu trùng giun, giúp xác định sự hiện diện của chúng trong mẫu đất.

Thu thập mẫu nước sinh hoạt và nước tưới rau từ hộ gia đình, sau đó tiến hành xét nghiệm bằng phương pháp ly tâm và lắng cặn để xác định sự hiện diện của trứng và ấu trùng giun.

- Thu thập mẫu rau ăn sống (vườn nhà dân, chợ), xét nghiệm bằng phương pháp Romanenko để xác định trứng, ấu trùng giun

- Thu thập mẫu phân chó và xét nghiệm bằng kỹ thuật ly tâm lắng cặn để xác định trứng giun đũa chó

Kết quả xét nghiệm những mẫu phân, máu, đất, nước, rau sẽ được tính tỷ lệ nhiễm theo công thức:

Tỷ lệ nhiễm giun = (số mẫu xét nghiệm dương tính x 100) / Tổng số mẫu xét nghiệm

2.3.2 Thực trạng nhiễm một số loài sán phổ biến ở khu vực NB-LĐ

 Thu thập mẫu xét nghiệm trên người:

Thu thập mẫu phân từ đối tượng nghiên cứu và tiến hành xét nghiệm bằng kỹ thuật Kato - Katz để phát hiện các loài sán lá, đồng thời sử dụng kỹ thuật đãi phân để kiểm tra sự hiện diện của sán dây.

Thu thập mẫu máu từ đối tượng nghiên cứu và thực hiện xét nghiệm huyết thanh bằng kỹ thuật ELISA cho các loài sán lá gan lớn và ấu trùng sán dây lợn, đồng thời tiến hành xét nghiệm huyết học để xác định bạch cầu ái toan, nhằm hỗ trợ cho kết quả xét nghiệm ELISA.

 Thu thập mẫu xét nghiệm trên môi trường đất, nước, rau:

Thu thập mẫu đất từ trường học và nhà dân, sau đó tiến hành xét nghiệm bằng kỹ thuật Kobayashi 1980 và Kagei 1983 Phương pháp này sử dụng dung dịch MgSO4 bão hòa để làm nổi trứng và ấu trùng sán, giúp xác định sự hiện diện của chúng trong mẫu đất.

Thu thập mẫu nước sinh hoạt và nước tưới rau từ hộ gia đình, sau đó tiến hành xét nghiệm bằng phương pháp ly tâm và lắng cặn để xác định sự hiện diện của trứng và ấu trùng sán.

- Thu thập mẫu rau ăn sống (vườn nhà dân, chợ), xét nghiệm bằng phương pháp Romanenko để xác định trứng, ấu trùng sán

Kết quả xét nghiệm những mẫu phân, máu, đất, nước, rau sẽ được tính tỷ lệ nhiễm theo công thức:

Tỷ lệ nhiễm sán = (số mẫu xét nghiệm dương tính x 100) / Tổng số mẫu xét nghiệm

 Xây dựng bản đồ phân bố giun, sán khu vực Nam Bộ – Lâm Đồng

- Thiết kế phần mềm (Chi tiết xem chuyên đề xây bản đồ giun, sán)

+ Mô hình hóa nghiệp vụ

+ Phân tích nội dung dữ liệu

+ Kiểm thử và chạy thử chương trình

2.3.3 Đánh giá kết quả một số biện pháp phòng chống giun sán dựa vào cộng đồng

- Các yếu tố liên quan nhiễm giun sán của khu vực

- Áp dụng biện pháp tẩy giun dựa vào cộng đồng

- Áp dụng biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe kết hợp vệ sinh môi trường

- Đánh giá hiệu quả phòng chống giun sán sau 6 tháng và 12 tháng

- Xây dựng quy trình tẩy giun dựa vào cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

2.4.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu Để thực hiện nội dung 1: Tỷ lệ, cường độ nhiễm một số loài giun truyền qua đất phổ biến ở khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng

Tại mỗi tỉnh, chủ động chọn 2 huyện, mỗi huyện chọn 1 xã, mỗi xã chọn 2 thôn/ấp/khu phố bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên

Tại mỗi thôn/ấp/khu phố, chủ động chọn các hộ gia đình để tiến hành điều tra, đánh giá

Tại mỗi hộ gia đình: Thu thập mẫu phân, máu của các cá nhân trong hộ gia đình

Chọn 10 hộ gia đình trong xã để thu thập mẫu đất, nước, rau ăn sống + Thu thập 02 mẫu đất: 01 mẫu ở lối đi trước nhà và 01 mẫu xung quanh nhà vệ sinh cho 10 hộ gia đình và 01 mẫu ở sân trường

+ Tại mỗi hộ: thu thập 01 mẫu nước sinh hoạt và 01 mẫu nước tưới rau (nếu có)

Tại mỗi hộ, chúng tôi sẽ thu thập một mẫu rau ăn sống từ vườn (nếu có) Nếu không đủ 10 mẫu rau ăn sống tại xã, chúng tôi sẽ mua thêm rau từ chợ để đảm bảo đủ số lượng mẫu cần thiết.

 Thu thập mẫu xét nghiệm trên người

Xét nghiệm mẫu phân người giúp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ, trong đó giun tóc có tỷ lệ nhiễm thấp nhất, chỉ đạt 0,79% Để ước lượng tỷ lệ nhiễm, có thể áp dụng công thức ước lượng một tỷ lệ.

Trong đó: n: Cỡ mẫu điều tra

: Mức ý nghĩa thống kê ( = 0,05, ứng với độ tin cậy 95%)

Z: Trị số phân phối chuẩn, với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96 p: là tỷ lệ nhiễm giun tóc p = 0,0079 d: Sai số mong muốn Chọn d = 0,0033

Thay các giá trị trên vào công thức, làm tròn số n= 2.800 mẫu

Xét nghiệm mẫu máu giúp xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó và giun lươn, trong đó giun lươn có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 2% Sử dụng công thức ước lượng để tính toán tỷ lệ nhiễm này.

: Mức ý nghĩa thống kê ( = 0,05, ứng với độ tin cậy 95%)

Z: Trị số phân phối chuẩn, với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96 p: là tỷ lệ nhiễm giun lươn p = 0,02 d: Sai số mong muốn Chọn d = 0,0044

Thay các giá trị trên vào công thức, làm tròn số n= 4.000 mẫu

 Thu thập mẫu xét nghiệm ở môi trường và động vật

Theo kinh nghiệm nghiên cứu, mỗi điểm điều tra sẽ lấy 21 mẫu đất, 20 mẫu nước, 10 mẫu rau và 10 mẫu phân chó Dự kiến sẽ chọn 12 điểm ở 6 tỉnh, do đó tổng số mẫu đất sẽ là 252.

240, mẫu rau 120, mẫu phân chó 120 Để thực hiện nội dung 2: Thực trạng nhiễm một số loài sán phổ biến ở khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng

 Thu thập mẫu xét nghiệm trên người

Xét nghiệm mẫu phân người giúp xác định tỷ lệ nhiễm giun sán, trong đó sán lá ruột nhỏ có tỷ lệ nhiễm thấp nhất, chỉ đạt 0,79% Để ước lượng tỷ lệ này, chúng ta sử dụng công thức ước lượng một tỷ lệ.

Trong đó: n: Cỡ mẫu điều tra

: Mức ý nghĩa thống kê ( = 0,05, ứng với độ tin cậy 95%)

Z: Trị số phân phối chuẩn, với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96 p: là tỷ lệ nhiễm sán lá ruột nhỏ p = 0,79% d: Sai số mong muốn Chọn d = 0,33%

Thay các giá trị trên vào công thức, làm tròn số n= 2800 mẫu

Xét nghiệm mẫu máu giúp xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây lợn và sán lá gan lớn, trong đó ấu trùng sán dây lợn có tỷ lệ nhiễm thấp nhất chỉ 1% Sử dụng công thức ước lượng để tính toán tỷ lệ này.

: Mức ý nghĩa thống kê ( = 0,05, ứng với độ tin cậy 95%)

Z: Trị số phân phối chuẩn, với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96 p: là tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây lợn p = 1% d: Sai số mong muốn Chọn d = 0,31%

Thay các giá trị trên vào công thức, làm tròn số n= 4000 mẫu

 Thu thập mẫu xét nghiệm ở môi trường

Giống nội dung 1 Để thực hiện nội dung 3: Một số biện pháp phòng chống giun, sán dựa vào cộng đồng

 Các yếu tố liên quan

 Cỡ mẫu và chọn mẫu:

- Mẫu điều tra K.A.P, dự kiến mỗi hộ điều tra 1 người chủ hộ hoặc người đại diện ≥ tuổi Ước tính cỡ mẫu điều tra là: 1.200 mẫu

- Mẫu quan sát, ghi nhận yếu tố vệ sinh môi trường nhà vệ sinh, bằng với mẫu điều tra K.A.P là: 1.200 mẫu

- Phỏng vấn lãnh đạo và cán bộ y tế phụ trách công tác phòng chống giun, sán các tuyến: tỉnh 12 người, huyện 24 người, xã 24 người

- Phỏng vấn chính quyền (xã/phường): 12 người; các đoàn thể: 24 người; ban giám hiệu trường học: 24 người

 Đánh giá kết quả một số biện pháp phòng chống giun, sán dựa vào cộng đồng

Chủ động chọn 3 tỉnh nghiên cứu đại diện cho các vùng địa lý trong khu vực:

+ Tây Nguyên: chọn Lâm Đồng

+ Miền Đông Nam Bộ: chọn Bà Rịa - Vũng Tàu

+ Miền Tây Nam Bộ: chọn Cần Thơ

Tại mỗi tỉnh, tiến hành chọn 2 xã đã được điều tra ban đầu để áp dụng và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp phòng chống giun, sán dựa vào cộng đồng sau 6 tháng và 12 tháng.

- Tỉnh Lâm Đồng: 1 xã áp dụng biện pháp tẩy giun, 1 xã áp dụng biện pháp truyền thông GDSK và vệ sinh môi trường

- Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: 1 xã áp dụng biện pháp tẩy giun, 1 xã áp dụng biện pháp truyền thông GDSK và vệ sinh môi trường

- Tỉnh Cần Thơ: 1 xã áp dụng biện pháp tẩy giun, 1 xã áp dụng biện pháp truyền thông GDSK và vệ sinh môi trường

- Thu thập 2.800 (1.400 x 2 đợt) mẫu phân

- Thu thập 252 (21 x 6 điểm x 2 đợt) mẫu đất, 240 (20 x 6 điểm x 2 đợt) mẫu nước, 120 (10 x 6 điểm x 2 đợt) mẫu rau, 120 (10 x 6 điểm x 2 đợt) mẫu phân chó

Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

- Kỹ thuật lấy và bảo quản mẫu phân, máu, đất, nước, rau ăn sống

- XN phân người bằng kỹ thuật Kato-Katz: Tìm trứng của giun

XN máu bằng kỹ thuật ELISA giúp phát hiện kháng thể kháng giun lươn, ấu trùng giun đũa chó/mèo, sán lá gan lớn và ấu trùng sán dây lợn Các bộ kít xét nghiệm được cung cấp bởi Công ty TNHH SXTM Hóa chất Việt Sinh, với số đăng ký lưu hành 73/2016/BYT-TB-CT.

+ Bộ xét nghiệm giun lươn Strongylisa (Model: KST6; Tiêu chuẩn:

Hiệu giá kháng thể từ 1/400 trở lên được xem là dương tính Độ nhạy 93,33%

Giá trị tiên đoán dương tính: 100% Độ đặc hiệu: 100%

Giá trị tiên đoán âm tính: 99,33%

+ Bộ xét nghiệm giun đũa chó Toxocarelisa (Model: KST7; Tiêu chuẩn: VS/TCCS07)

Hiệu giá kháng thể từ 1/400 trở lên được xem là dương tính Độ nhạy 100%

Giá trị tiên đoán dương tính: 83,33% Độ đặc hiệu: 97,59%

Giá trị tiên đoán âm tính: 100%

+ Bộ xét nghiệm sán lá gan lớn Fascelisa (Model: KST3; Tiêu chuẩn: VS/TCCS03)

Hiệu giá kháng thể từ 1/3200 trở lên được xem là dương tính Độ nhạy 100%

Giá trị tiên đoán dương tính: 91,15% Độ đặc hiệu: 95,23%

Giá trị tiên đoán âm tính: 100%

+ Bộ xét nghiệm gạo lợn Cysticelisa (Model: KST2; Tiêu chuẩn: VS/TCCS02)

Hiệu giá kháng thể từ 1/400 trở lên được xem là dương tính Độ nhạy 96,77%

Giá trị tiên đoán dương tính: 90,90% Độ đặc hiệu: 95,45%

Giá trị tiên đoán âm tính: 98,43%

XN máu bằng kỹ thuật xét nghiệm huyết học cho phép xác định bạch cầu ái toan thông qua việc lấy máu giọt mỏng, nhuộm giêm sa và quan sát dưới kính hiển vi.

- XN đất bằng kỹ thuật Kobayashi 1980-Kagei 1983 làm nổi trứng với dung dịch MgSO4 bão hòa

- XN nước bằng phương pháp ly tâm, lắng cặn

- XN rau bằng phương pháp Romanenko

- XN phân chó bằng phương pháp ly tâm, lắng cặn

- Phỏng vấn thu thập thông tin về hiểu biết, hành vi phòng chống bệnh giun, sán của người dân theo mẫu soạn sẵn

- Quan sát, ghi nhận yếu tố môi trường nhà vệ sinh bằng bảng kiểm

Phỏng vấn cộng đồng về sự chấp nhận và ủng hộ công tác phòng chống giun là rất quan trọng Lãnh đạo và cán bộ y tế phụ trách phòng chống giun các tuyến, cùng với chính quyền, các đoàn thể và Ban giám hiệu trường học, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng Sự hợp tác này sẽ góp phần hiệu quả vào công tác phòng chống giun, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Công cụ nghiên cứu

- Bộ câu hỏi phỏng vấn hiểu biết, hành vi của người dân (Phụ lục 2)

- Bảng kiểm đánh giá nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế (Phụ lục 2)

Phiếu phỏng vấn cộng đồng được thiết kế để đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng chống giun, sán trong cộng đồng Bao gồm ba mẫu phỏng vấn: một dành cho cán bộ y tế, một cho chính quyền địa phương, và một cho hiệu trưởng hoặc hiệu phó trường tiểu học.

- Các thiết bị, dụng cụ, hóa chất phục vụ cho việc thu thập, bảo quản, xét nghiệm mẫu phân, mẫu máu, mẫu đất, mẫu nước, mẫu rau

- Các loại thuốc điều trị từng loại giun, sán, theo “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh giun sán ở Việt Nam”, Bộ Y tế (2009).

Các biến số

‐ Nhiễm giun: Là mẫu (phân/máu/đất/nước/rau/phân chó) có kết quả xét nghiệm (+) với trứng, ấu trùng giun, giun trưởng thành, kháng thể

Hiểu biết chính xác về phòng chống bệnh giun là rất quan trọng, bao gồm việc nhận thức về nguyên nhân, tác hại và đối tượng dễ bị nhiễm Một trong những biện pháp hiệu quả để phòng ngừa giun là áp dụng các phương pháp vệ sinh và chăm sóc sức khỏe hợp lý.

Để phòng chống bệnh giun, cần thực hiện tẩy giun định kỳ cho bản thân và gia đình, rửa tay trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh Ngoài ra, việc quản lý và duy trì nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn vệ sinh cũng rất quan trọng.

‐ Nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn vệ sinh: Là nhà vệ sinh đạt từ 70 % trở lên so với các tiêu chuẩn do Bộ Y tế đề ra

Biện pháp phòng chống bệnh giun hiệu quả bao gồm can thiệp để giảm tỷ lệ và cường độ nhiễm giun, đồng thời nâng cao nhận thức và hành vi đúng đắn của người dân về phòng chống giun Sự chấp thuận và ủng hộ từ cán bộ y tế, chính quyền, cũng như hiệu trưởng hoặc hiệu phó tại địa phương là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các biện pháp này.

‐ Sự chấp nhận, phối hợp của cộng đồng đối với công tác phòng chống giun:

+ CBYT phụ trách phòng chống giun: Có lập kế hoạch hoạt động, trực tiếp tham gia, báo cáo

+ Chính quyền địa phương: Có quan tâm chỉ đạo, vận động các ban ngành, đoàn thể tham gia, hỗ trợ kinh phí

Hiệu trưởng trường tiểu học cần phối hợp và tổ chức các hoạt động để vận động phụ huynh đóng góp kinh phí và nhân lực, đồng thời tổ chức phổ biến kiến thức về phòng chống giun cho học sinh.

Người dân cần tích cực giữ gìn vệ sinh môi trường và tham gia các buổi mít tinh phòng chống giun Họ cũng nên đóng góp kinh phí khi nhà trường vận động hoặc tự mua thuốc tẩy giun cho bản thân và gia đình.

Các chỉ số

2.8.1 Đối với nghiên cứu nội dung 1 và 2

- Tỷ lệ nhiễm giun (sán) = (Số mẫu xét nghiệm dương tính x 100) / Tổng số mẫu được xét nghiệm

- Cường độ nhiễm trứng giun (WHO năm 2002): Tính theo số trứng giun trong 1 gram phân (egg per gram - epg), như sau:

Giun Nhiễm nhẹ Nhiễm trung bình Nhiễm nặng

Giun đũa 1- 4999 epg 5000-49999 epg ≥ 50000 epg

Giun tóc 1-999 epg 1000-9999 epg  10000 epg

Giun móc 1-1999 epg 2000-3999 epg  4000 epg

- Tỷ lệ đơn nhiễm = Số mẫu nhiễm 1 loài giun x 100 / Tổng số mẫu xét nghiệm dương tính

- Tỷ lệ nhiễm phối hợp = Số mẫu nhiễm giun phối hợp x100 / Tổng số mẫu xét nghiệm dương tính

- Tỷ lệ người dân có hiểu biết / hành vi đúng về phòng chống bệnh giun Số người có hiểu biết / hành vi đúng x 100 / Tổng số người được phỏng vấn

- Tỷ lệ nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn vệ sinh = (số nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn vệ sinh x 100) / Tổng số nhà vệ sinh được quan sát

2.8.2 Đối với nghiên cứu về các yếu tố liên quan

- Các chỉ số đánh giá ở nội dung 1 và 2

- Tỷ lệ chính quyền địa phương chấp nhận, ủng hộ = Số người chấp nhận, ủng hộ x 100 / Tổng số người được phỏng vấn

- Tính tương tự đối với các tỷ lệ: CB y tế tỉnh/huyện/xã; hiệu trưởng trường tiểu học, chấp nhận, phối hợp

2.9 Xử lý số liệu và viết báo cáo

Sử dụng các phần mềm thống kê y sinh học

2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học

1 Là nghiên cứu cắt ngang, các kỹ thuật khám, xét nghiệm đã được Bộ Y tế cho phép

2 Những người có kết quả xét nghiệm phân (máu) dương tính với giun sẽ được nhóm nghiên cứu điều trị theo “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh giun ở Việt Nam” do Bộ Y tế ban hành năm 2009 hoặc hướng dẫn đến cơ sở y tế để điều trị Nhóm nghiên cứu cam kết xử lý triệt để những trường hợp xảy ra tác dụng không mong muốn sau khi uống thuốc tẩy giun

3 Các can thiệp cộng đồng: truyền thông giáo dục sức khỏe, uống thuốc tẩy giun, vệ sinh môi trường không gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân

4 Các số liệu và kết quả nghiên cứu chỉ sử dụng cho mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, không sử dụng cho mục đích khác

5 Các đối tượng nghiên cứu được thông tin đầy đủ về nghiên cứu và có thể không tham gia nghiên cứu vào bất kỳ lúc nào mà không cần phải đưa ra lý do.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học

1 Là nghiên cứu cắt ngang, các kỹ thuật khám, xét nghiệm đã được Bộ Y tế cho phép

2 Những người có kết quả xét nghiệm phân (máu) dương tính với giun sẽ được nhóm nghiên cứu điều trị theo “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh giun ở Việt Nam” do Bộ Y tế ban hành năm 2009 hoặc hướng dẫn đến cơ sở y tế để điều trị Nhóm nghiên cứu cam kết xử lý triệt để những trường hợp xảy ra tác dụng không mong muốn sau khi uống thuốc tẩy giun

3 Các can thiệp cộng đồng: truyền thông giáo dục sức khỏe, uống thuốc tẩy giun, vệ sinh môi trường không gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân

4 Các số liệu và kết quả nghiên cứu chỉ sử dụng cho mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, không sử dụng cho mục đích khác

5 Các đối tượng nghiên cứu được thông tin đầy đủ về nghiên cứu và có thể không tham gia nghiên cứu vào bất kỳ lúc nào mà không cần phải đưa ra lý do.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Thị Khả Ái, Nguyễn Thị Thanh Hà, và cs (2011) "Khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó và các yếu tố liên quan ở cộng đồng xã Thạnh Tân, thị xãTây Ninh". Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Viện Sốt rét - KST - CT TP. Hồ Chí Minh 2011, tr. 343 - 347 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó và các yếu tố liên quan ở cộng đồng xã Thạnh Tân, thị xãTây Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Khả Ái, Nguyễn Thị Thanh Hà, cs
Nhà XB: Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học
Năm: 2011
[2] Trần Thị Kiều Anh, Cao Bá Lợi, Trần Thanh Dương. "Thực trạng nhiễm giun đường ruột ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (18 – 49) tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, năm 2014". Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm giun đường ruột ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (18 – 49) tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, năm 2014
Tác giả: Trần Thị Kiều Anh, Cao Bá Lợi, Trần Thanh Dương
Nhà XB: Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2014
[3] Tôn Nữ Phương Anh, Ngô Thị Minh Châu, 2017. "Đánh giá tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hoá và giá trị dự báo nhiễm ký sinh trùng của công thức máu". Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hoá và giá trị dự báo nhiễm ký sinh trùng của công thức máu
Tác giả: Tôn Nữ Phương Anh, Ngô Thị Minh Châu
Nhà XB: Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2017
[5]. Vũ Thị Lâm Bình, Đỗ Trung Dũng, Trần Thanh Dương, Trần Xuân Trường và cs (2014) "Thực trạng nhiễm giun lươn đường ruột Strongyloides Stercoralis tại xãDương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và xã Cáo Điền, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ". Tạp chí phòng chống sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, Viện sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng trung ương, 3, tr. 10 -14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm giun lươn đường ruột Strongyloides Stercoralis tại xãDương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và xã Cáo Điền, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Vũ Thị Lâm Bình, Đỗ Trung Dũng, Trần Thanh Dương, Trần Xuân Trường, cs
Nhà XB: Tạp chí phòng chống sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2014
[6]. Nguyễn Văn Chương, Bùi Văn Tuấn (2012) "Nghiên cứu thực trạng nhiễm và loài sán lá gan nhỏ tại xã Thuận Hạnh, huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông". Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Viện Sốt rét - KST - CT TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng nhiễm và loài sán lá gan nhỏ tại xã Thuận Hạnh, huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông
Tác giả: Nguyễn Văn Chương, Bùi Văn Tuấn
Nhà XB: Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học
Năm: 2012
[7]. Nguyễn Văn Chương, Bùi Văn Tuấn, và cs (2011) "Xây dựng mô hình phòng chống bệnh sán lá gan lớn ở hai xã của huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, Việt Nam".Công trình khoa học, Báo cáo tại hội nghị Ký sinh trùng lần thứ 38, Viện sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, tập 2, tr. 118 - 125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình phòng chống bệnh sán lá gan lớn ở hai xã của huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Chương, Bùi Văn Tuấn, cs
Nhà XB: Công trình khoa học
Năm: 2011
[8]. Nguyễn Văn Chương, Bùi Văn Tuấn, Huỳnh Hồng Quang (2014) "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh ấu trùng giun đũa chó, mèo ở người tại Bình Định và Đăk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh ấu trùng giun đũa chó, mèo ở người tại Bình Định và Đăk
Tác giả: Nguyễn Văn Chương, Bùi Văn Tuấn, Huỳnh Hồng Quang
Năm: 2014
[9] Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Hữu Giáo, Bùi Văn Tuấn, 2017. "Thực trạng và một số yếu tố liên quan nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ lứa tuối sinh sản tại một tỉnh khu vực Miền Trung – Tây Nguyên (2013 – 2015)". Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số đặc biệt 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ lứa tuối sinh sản tại một tỉnh khu vực Miền Trung – Tây Nguyên (2013 – 2015)
Tác giả: Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Hữu Giáo, Bùi Văn Tuấn
Nhà XB: Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2017
[10] Đỗ Mạnh Cường, 2013. "Thực trạng nhiễm sán lá gan nhỏ tại phường Hòa Nghĩa, quận Dương Kinh, Hải Phòng năm 2013". Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm sán lá gan nhỏ tại phường Hòa Nghĩa, quận Dương Kinh, Hải Phòng năm 2013
Tác giả: Đỗ Mạnh Cường
Nhà XB: Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2013
[11] Phạm Ngọc Duấn. "Kiến thức – thực hành và một số yếu tố liên quan đến thực trạng nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học tỉnh Hưng Yên". Tạp chí nghiên cứu y học 114 (5) - 2018, tr 68-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức – thực hành và một số yếu tố liên quan đến thực trạng nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Phạm Ngọc Duấn
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu y học
Năm: 2018
[12]. Trần Trọng Dương, Nguyễn Khắc Thủy, và cs (2012) "Thực trạng nhiễm và đánh giá một số yếu tố nguy cơ lây nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở người tại một số điểm khu vực miền trung Việt Nam". Tạp chí phòng chống sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm và đánh giá một số yếu tố nguy cơ lây nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở người tại một số điểm khu vực miền trung Việt Nam
Tác giả: Trần Trọng Dương, Nguyễn Khắc Thủy, cs
Nhà XB: Tạp chí phòng chống sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2012
[13] Nguyễn Văn Đề, 2013. "Đánh giá mầm bệnh ký sinh trùng trên rau tưới bằng nước thải tại thành phố Vinh và một xã nông thôn tỉnh Nghệ An năm 2012". Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mầm bệnh ký sinh trùng trên rau tưới bằng nước thải tại thành phố Vinh và một xã nông thôn tỉnh Nghệ An năm 2012
Tác giả: Nguyễn Văn Đề
Nhà XB: Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2013
[14]. Nguyễn Văn Đề (2013) Ký sinh trùng trong lâm sàng, NXB Y học, Hà Nội, [15]. Nguyễn Văn Đề, Phan Thị Hương Liên, và cs (2011) "Xác định mầm bệnh kýsinh trùng gây bệnh cho người trong rau và thủy sản được nuôi trồng từ nguồn nước thải tại một số thành phố và nông thôn miền bắc.". Công trình khoa học, Báo cáo tại hội nghị Ký sinh trùng lần thứ 38, Viện sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng trong lâm sàng
Tác giả: Nguyễn Văn Đề
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2013
[16] Nguyễn Văn Đề, 2013. "Đánh giá mầm bệnh ký sinh trùng trên rau tưới bằng nước thải tại thành phố Vinh và một xã nông thôn tỉnh Nghệ An năm 2012". Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mầm bệnh ký sinh trùng trên rau tưới bằng nước thải tại thành phố Vinh và một xã nông thôn tỉnh Nghệ An năm 2012
Tác giả: Nguyễn Văn Đề
Nhà XB: Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2013
[17]. Lê Thành Đồng, Trịnh Ngọc Hải, Hoàng Thị Mai Anh, Phạm Nguyễn Thúy Vy (2014) "Kết quả xét nghiệm giun, sán tại cộng đồng dân cư khu vực biện giới Việt Nam - Campuchia bằng kỹ thuật ELISA". Y học Thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề y tế công cộng, phụ bản tập 18, số 6 năm 2014, tr. 321- 325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả xét nghiệm giun, sán tại cộng đồng dân cư khu vực biện giới Việt Nam - Campuchia bằng kỹ thuật ELISA
Tác giả: Lê Thành Đồng, Trịnh Ngọc Hải, Hoàng Thị Mai Anh, Phạm Nguyễn Thúy Vy
Nhà XB: Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
[18]. Lê Thành Đồng, Dương Công Thịnh, Trịnh Ngọc Hải, Phùng Đức Thuận (2014) "Thực trạng nhiễm giun, sán ở một số cộng đồng dân cư khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia năm 2012". Y học Thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề y tế công cộng, phụ bản tập 18, số 6 năm 2014, tr. 315 - 320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm giun, sán ở một số cộng đồng dân cư khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia năm 2012
Tác giả: Lê Thành Đồng, Dương Công Thịnh, Trịnh Ngọc Hải, Phùng Đức Thuận
Nhà XB: Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
[19] Nguyễn Thanh Hà, 2015. "Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất của học sinh tiểu học từ 6 - 11 tuổi tại 4 tỉnh Hòa Bình, Thái Bình, Thanh Hóa và Đắk Lắk, năm 2014". Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất của học sinh tiểu học từ 6 - 11 tuổi tại 4 tỉnh Hòa Bình, Thái Bình, Thanh Hóa và Đắk Lắk, năm 2014
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Nhà XB: Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2015
[20]. Nguyễn Thị Việt Hòa, và cs (2011) "Nghiên cứu nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học xã Mai Trung, Hiệp Hòa, Bắc Giang 2005 - 2009". Công trình khoa học, Báo cáo tại hội nghị Ký sinh trùng lần thứ 38, Viện Số rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, tập 2, tr. 16 -25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học xã Mai Trung, Hiệp Hòa, Bắc Giang 2005 - 2009
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Hòa, và cs
Nhà XB: Công trình khoa học
Năm: 2011
[21] Phạm Thị Thu Hoài, Nguyễn Thu Hương, Lê Xuân Hùng, Trần Thanh Dương. "Thực trạng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở trẻ em tiểu học xã Yên Lạc, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, năm 2014". Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở trẻ em tiểu học xã Yên Lạc, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, năm 2014
Tác giả: Phạm Thị Thu Hoài, Nguyễn Thu Hương, Lê Xuân Hùng, Trần Thanh Dương
Nhà XB: Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2014
[22] Trần Thị Hồng, và cộng sự, 2011. "Khảo sát ký sinh trùng trên rau sống bán tại các chợ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh". Y học Thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề ký sinh trùng số 2 năm 2007, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, tr. 130 - 135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát ký sinh trùng trên rau sống bán tại các chợ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Thị Hồng, cộng sự
Nhà XB: Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Chu kỳ phát triển của giun đũa (Nguồn: CDC) - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Hình 1.1. Chu kỳ phát triển của giun đũa (Nguồn: CDC) (Trang 25)
Hình 1.3. Chu trình phát triển của giun móc/mỏ (Nguồn: CDC) - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Hình 1.3. Chu trình phát triển của giun móc/mỏ (Nguồn: CDC) (Trang 28)
Hình 1.4. Chu trình phát triển của giun lươn (Nguồn: CDC) - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Hình 1.4. Chu trình phát triển của giun lươn (Nguồn: CDC) (Trang 32)
Hình 1.5.  Chu trình phát triển của giun đũa chó, mèo (Nguồn: CDC) - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Hình 1.5. Chu trình phát triển của giun đũa chó, mèo (Nguồn: CDC) (Trang 33)
Hình 1.6. Chu trình phát triển của sán lá gan lớn (Nguồn: CDC) - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Hình 1.6. Chu trình phát triển của sán lá gan lớn (Nguồn: CDC) (Trang 36)
Hình 1.7.  Chu trình phát triển của sán dây (Nguồn: CDC) - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Hình 1.7. Chu trình phát triển của sán dây (Nguồn: CDC) (Trang 38)
Hình 2.1. Sơ đồ các tỉnh được chọn nghiên cứu - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Hình 2.1. Sơ đồ các tỉnh được chọn nghiên cứu (Trang 44)
Hình 3.1. Trang chủ website Viện SR – KST – CT TP.HCM - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Hình 3.1. Trang chủ website Viện SR – KST – CT TP.HCM (Trang 79)
Hình 3.2. Tỷ lệ nhiễm giun, sán của 6 tỉnh điều tra đợt 1 - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Hình 3.2. Tỷ lệ nhiễm giun, sán của 6 tỉnh điều tra đợt 1 (Trang 80)
Bảng 3.29. Tỷ lệ nhiễm giun sán ở môi trường trước và sau can thiệp - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Bảng 3.29. Tỷ lệ nhiễm giun sán ở môi trường trước và sau can thiệp (Trang 104)
Bảng 4. Tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm giun truyền qua đất ở khu vực - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Bảng 4. Tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm giun truyền qua đất ở khu vực (Trang 182)
Bảng 12. Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất trong mẫu phân chó chi tiết - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Bảng 12. Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất trong mẫu phân chó chi tiết (Trang 187)
Bảng 28. Đơn nhiễm và đa nhiễm giun truyền qua đất ở mẫu phân người tại các - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Bảng 28. Đơn nhiễm và đa nhiễm giun truyền qua đất ở mẫu phân người tại các (Trang 198)
Bảng 29. Cường độ nhiễm giun truyền qua đất tại các xã TTVS - 19-Lê Thành Đồng.pdf
Bảng 29. Cường độ nhiễm giun truyền qua đất tại các xã TTVS (Trang 199)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w