Trong luận án này, chúng tôi chọn hướng nghiên cứu cấu trúc cộng đồng làng xã của người Công giáo di cư năm 1954 tại Nam bộ.. Những luận điểm trong phần kết luận của luận văn thạc sĩ của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**********
NGUYỂN ĐỨC LỘC
CẤU TRÚC CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT CÔNG GIÁO DI CƯ NĂM 1954 TẠI NAM BỘ
(Nghiên cứu trường hợp cộng đồng Công giáo:
Hố Nai – Đồng Nai và Cái Sắn – Cần Thơ)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: DÂN TỘC HỌC
Mã số: 62.22.70.01
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**********
NGUYỂN ĐỨC LỘC
CẤU TRÚC CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT CÔNG GIÁO DI CƯ NĂM 1954 TẠI NAM BỘ
(Nghiên cứu trường hợp cộng đồng Công giáo:
Hố Nai – Đồng Nai và Cái Sắn – Cần Thơ)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tài liệu và số liệu được sử dụng trong công trình này do tôi thu thập và phân tích Ngoài những bài viết liên quan mà tôi công bố trên các tạp chí, sách nghiên cứu, nội dung chính của công trình đến nay vẫn chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tác giả
Nguyễn Đức Lộc
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Dẫn luận 6
1 Lý do – Mục đích nghiên cứu 6
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
4 Những câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Những đóng góp mới của luận án 20
7 Bố cục của luận án 20
Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ HAI CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO DI CƯ NĂM 1954 TẠI NAM BỘ 1.1 Những vấn đề lý thuyết và tổng quan về tình hình nghiên cứu 22
1.1.1 Thao tác hóa khái niệm 22
1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài 35
1.2 Những hướng tiếp cận lý thuyết của luận án 45
1.2.1 Tiếp cận dưới góc độ cấu trúc xã hội: 46
1.2.2 Tiếp cận dưới góc độ hành động xã hội: 55
1.3 Tổng quan về hai cộng đồng Công giáo di cư năm 1954 64
1.3.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên: 64
1.3.2 Nguồn gốc dân cư và quá trình hình thành cộng đồng 70
Chương 2 CÁC CHIỀU KÍCH CẤU TRÚC XÃ HỘI TRONG CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO DI CƯ 1954 TẠI NAM BỘ 2.1 Cơ cấu tổ chức gia đình, dòng họ 78
2.1.1 Gia đình 78
2.1.2 Dòng họ 84
2.2 Cơ cấu tổ chức theo giáo xứ 96
2.2.1 Cơ cấu tổ chức sinh hoạt theo giáo xứ 96
2.2.2 Hội đồng giáo xứ, giới tinh hoa của cộng đồng 105
2.2.3 Các giới, hô ̣i đoàn Công giáo 110
2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý hành chính cấp xã trong vùng Công giáo 120
Trang 52.3.1 Tổ chức quản lý hành chính cấp xã trước năm 1975 120
2.3.2 Tổ chức quản lý hành chính cấp xã hiện nay
2.4 Đặc điểm cấu trúc quyền lực trong cộng đồng 124
Chương 3 CHIẾN LƯỢC ỨNG XỬ CỦA TÍN ĐỒ CÔNG GIÁO TRONG BỐI CẢNH XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI 3.1 Chiến lược ứng xử của tín đồ trong đời sống xã hội 146
3.1.1 Nền tảng giáo dục kép 146
3.1.1.1 Giáo dục - nền tảng con đường tiến thân 147
3.1.1.2 Giáo dục - nền tảng đạo đức trong đời sống đạo 153
3.1.2 Những chiến lược sống 158
3.1.2.1 Lựa chọn nghề nghiệp 158
3.1.2.2 Lựa chọn cơ hội tiến thân và những quan niệm sống 167
3.2 Chiến lược ứng xử của tín đồ trong đời sống lễ nghi 178
3.2.1 Những nghi lễ kép: hôn lễ và tang lễ 181
3.2.1.1 Hôn lễ 181
3.2.1.2 Tang lễ 189
3.2.2 Sống đạo và chiến lược ứng xử linh hoạt trong đời sống lễ nghi 196
Kết luận 205
Danh mu ̣c công trình của tác giả 214
Tài liệu tham khảo 215
Chú thích 229
Phụ lục 1(trích các cuộc phỏng vấn) 238
Phụ lục 2 (trích nhật ký điền dã) 275
Phụ lục 3 (hình ảnh) 343 Phụ lục 4 (trích lục các văn bản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II)
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHƢ̃ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1: Tình hình định cư ở miền Nam (số liệu tính đến
tháng 11 năm 1955)
71
2 Bảng 1.2: Tình hình định cư ở miền Nam phân theo tôn
giáo (số liệu tính đến tháng 11 năm 1955)
71
3 Bảng 1.3: Tình hình các làng định cư ở miền Nam phân
theo tôn giáo (số liệu tính đến tháng 11 năm 1955)
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 2.1: Cơ cấu liên tộc họ của người Công giáo di cư
3 Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức hành chính, tự trị làng xã cổ
truyền và sơ đồ tổ chức các xứ đạo Công giáo di cư
7 Sơ đồ 2.7: Cơ cấu tổ chức Hội đồng Hương chánh xã trước
năm 1975 (tác giả vẽ lại theo lời kể của người dân)
124
8 Sơ đồ 2.8: Cơ cấu tổ chức hành chính cấp xã hiện nay 126
10 Sơ đồ 2.10: Phân bố địa vực cư trú dân trong cộng đồng 131
11 Sơ đồ 2.11: Mối quan hệ cộng đồng trong một cộng đồng
13 Sơ đồ 3.1: Sơ đồ chiến lược cuộc sống – Nhóm gia trưởng 160
14 Sơ đồ 3.2: Sơ đồ chiến lược sống – Nhóm hiền mẫu 162
Trang 9Ngày nay, khi đến các khu vực tập trung đông tín đồ Công giáo di cư như: Hố Nai, Gia Kiệm, Cái Sắn… chúng ta sẽ thấy tên gọi các giáo xứ tương ứng với tên các làng gốc thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ như: Ngọc Đồng, Kẻ Sặt, Lai Ổn, Ngô Xá…và nhất là tên một số đơn vị dân cư như: khu phố, ấp tương đương với tên các giáo xứ Bởi vậy, nhiều người không phải là tín đồ Công giáo khi gặp gỡ bất cứ ai là cư dân vùng Hố Nai, Gia Kiệm, Cái Sắn thì đều đặt câu
hỏi: “vậy anh/chị là người Công giáo hả?” Có vẻ như đây là sự mặc nhiên vì đa
số cư dân sinh sống trong các khu vực này đều là tín đồ Công giáo Trong khi đó, những người đã từng biết nhau cùng là tín đồ Công giáo thì thường đặt hỏi câu
hỏi ở mức độ sâu hơn “Anh/chị thuộc xứ nào?” với ngầm ý muốn biết thêm thông
tin về quê gốc của họ Cách nói vắn tắt dùng từ “xứ ” thay vì “giáo xứ” cũng là cách nói phổ biến trong giao tiếp hằng ngày của các tín đồ Công giáo di cư Điều này càng thể hiện sự phân định một cách rõ ràng về tính địa phương, vùng miền xuất xứ của các cộng đồng Công giáo di cư với nhau Chính vì vậy, nhiều người
khi nhắc đến “người Bắc di cư” hay “người Bắc 54” thì ngầm hiểu là những
Trang 10người Việt theo Công giáo di cư vào Nam bộ năm 1954 như là một bản sắc riêng
biệt của các cộng đồng này
Trong luận án này, chúng tôi chọn hướng nghiên cứu cấu trúc cộng đồng làng xã của người Công giáo di cư năm 1954 tại Nam bộ Đây cũng là hướng nghiên cứu chính được chúng tôi khởi sự từ năm 2002 đến nay tại khu vực Hố Nai (Đồng Nai), với việc thực hiện khóa luận đại học chuyên ngành nhân học với
nhan đề Cộng đồng cư dân Công giáo Hố Nai (Đồng Nai) Đến năm 2007, chúng tôi tiếp tục thực hiện luận văn thạc sĩ với nhan đề Tìm hiểu đời sống văn hóa
người Việt Công giáo Hố Nai (Đồng Nai) Năm 2008, chúng tôi thực hiện một đề
tài nghiên cứu khoa học cấp trường thuộc trường ĐH KHXH&NV TP.HCM với
nhan đề Quá trình phát triển cộng đồng Công giáo ở Hố Nai (Đồng Nai) Trong
hướng nghiên cứu này, chúng tôi đã đi sâu phân tích các động thái phát triển
làng-xã của các tín đồ Công giáo di cư năm 1954 ở Nam bộ với các yếu tố tác động như: môi trường sinh thái, tôn giáo, kinh tế và chính trị
Một trong những điều tâm đắc sau quá trình nghiên cứu liên tục nhiều năm tại Hố Nai là chúng tôi nhận thấy có một quá trình tái sản xuất cấu trúc cộng đồng Bắc bộ nơi vùng đất Nam bộ Có thể nói ở một mức độ nào đó, các cộng đồng tín đồ Công giáo di cư là phiên bản của các cộng đồng làng-xã cổ truyền vùng Bắc bộ nhưng có biến đổi, để thích nghi với điều kiện địa lý, xã hội và văn hóa Nam bộ Những luận điểm trong phần kết luận của luận văn thạc sĩ của chúng tôi khép lại với việc nhận diện đời sống văn hóa của những tín đồ Công giáo di cư năm 1954 mang đậm nét văn hóa cư dân vùng Bắc bộ, nhưng đồng thời cũng gợi
mở cho chúng tôi một hướng nghiên cứu so sánh giữa các cộng đồng Công giáo
di cư khác tại Nam bộ
Vì vậy, chúng tôi chọn Cấu trúc cộng đồng của người Việt Công giáo di cư
năm 1954 tại Nam Bộ làm đề tài luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc
học Với đề tài này, chúng tôi hướng đến giải quyết các mục tiêu sau:
Trang 11- Tìm hiểu những yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất cấu trúc cộng đồng Công giáo di cư năm 1954 Yếu tố tôn giáo, yếu tố cảnh quan môi trường sinh sống hay đặc điểm văn hóa, kinh tế - xã hội?
- Nhận diện cấu trúc cộng đồng Công giáo di cư năm 1954 tại Nam bộ và
sự chuyển biến của cấu trúc này
- Làm rõ mối quan hệ giữa cấu trúc xã hội và chiến lược ứng xử của các cá nhân sống trong các cộng đồng Công giáo di cư với các mối quan hệ xã hội đan
xen: gia đình – dòng họ, tôn giáo và nhà nước
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu chính của luận án là cơ
cấu tổ chức và các nhóm xã hội của cộng đồng làng xã người Việt Công giáo di
cư 1954, đặt trong bối cảnh điều kiện tự nhiên và điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội tại vùng đất Nam bộ Bên cạnh đó, xuất phát từ quan điểm nhìn nhận mối quan hệ giữa vai trò chủ thể cá nhân với cấu trúc xã hội, chúng tôi cũng đặt mối quan tâm nghiên cứu về ý nghĩa của hành động của cá nhân, hay nói cách khác, xem chiến lược ứng xử cá nhân trong mối tương quan giữa các cấu trúc xã
hội như là một trong hai đối tượng chính của luận án
Phạm vi nghiên cứu: đề tài được khu biệt trong phạm vi nghiên cứu là
các cộng đồng tín đồ Công giáo di cư năm 1954 gốc Bắc bộ, hiện đang cư trú tại khu vực Nam bộ, trên cơ sở nghiên cứu hai địa bàn thuộc hai vùng đại diện đặc trưng về mặt sinh thái và kinh tế xã hội của Nam bộ: Hố Nai (Đông Nam bộ) và Cái Sắn (Tây Nam bộ)
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa khoa học: cấu trúc cộng đồng là một hướng nghiên cứu của
nhiều ngành khoa học xã hội, trong đó có ngành nhân học, dân tộc học Việc chọn nghiên cứu cấu trúc cộng đồng của người Việt Công giáo ở Nam bộ, trường hợp
Hố Nai và Cái Sắn sẽ góp phần làm rõ đời sống văn hóa – xã hội của cộng đồng
cư dân Việt ở Nam bộ, góp phần bổ sung tư liệu và nhận xét khoa học một số lý
Trang 12thuyết về sự tái sản xuất cấu trúc cộng đồng cư dân trong nghiên cứu nhân học tôn giáo và cấu trúc xã hội
- Ý nghĩa thực tiễn: từ kết quả nghiên cứu, luận án cũng hy vọng góp phần
có ý nghĩa vào việc hoạch định chính sách về công tác tôn giáo và nhất là việc xây dựng các chương trình phát triển cộng đồng của người Việt Công giáo Vì
bản chất, nguyên tắc của công tác tôn giáo là khoan dung, thông hiểu và chia sẻ,
chỉ có thông hiểu đời sống tôn giáo, nắm bắt được nhu cầu, tình cảm, niềm tin tôn
giáo của cộng đồng giáo dân mới có thể làm tốt công tác tôn giáo
4 Những câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu luận án, chúng tôi đã tự đặt ra những câu hỏi chính yếu làm trọng tâm nghiên cứu như sau:
- Những yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa và tôn giáo đã tác động đến quá trình tái sản xuất cấu trúc làng-xã cổ truyền của những người Công giáo di cư
năm 1954 nơi vùng đất Nam bộ?
- Đặc điểm cấu trúc cộng đồng Công giáo giáo di cư tại vùng đất Nam
bộ qua các thể chế chính trị được vận hành như thế nào?
- Trước sự vận hành của các thể chế chính trị, các tín đồ Công giáo đã phải sống và lựa chọn chiến lược ứng xử nào giữa các trách nhiệm, cách sống
trong các mối quan hệ mâu thuẫn của sự trung thành nhiều chiều?
Từ những câu hỏi nghiên cứu như trên, chúng tôi cũng đã xây d ựng mô ̣t số giả thuyết nghi ên cứu chính để kiểm chứng gi ả thuyết thông qua quá trình thu thập và xử lý thông tin như sau:
a Quá trình tái sản xuất cộng đồng làng xã của người Công giáo di cư nơi vùng đất Nam bộ là quá trình kế thừa và tích hợp giữa đặc trưng cấu trúc làng-xã cổ truyền của người Việt với hệ thống tổ chức giáo hội Công giáo đến từ phương Tây Mặt khác, trong quá trình ly hương, định cư trên vùng đất mới với một số điều kiện thuận lợi từ chính sách di cư và định cư của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) như: di cư cả cộng đồng, dòng họ, định cư trong một địa
Trang 13vực và nhất là cùng chia sẻ một niềm tin tôn giáo, người ta buộc phải có chiến lược phòng vệ khi tái thiết lập cấu trúc cộng đồng làng-xã cổ truyền nơi vùng đất mới, nhằm đảm bảo các chức năng cố kết cộng đồng, bảo lưu các giá trị văn hóa, bản sắc cộng đồng, niềm tin tôn giáo của các thành viên trong cộng đồng
b Cấu trúc cộng đồng Công giáo di cư năm 1954 hiện nay tại Nam bộ là
mô hình cấu trúc xã hội đa hệ thống, với các mối quan hệ đan xen giữa các cấu trúc: gia đình, làng-xã, bộ máy quản lý hành chính nhà nước và cơ cấu tổ chức tôn giáo cùng tồn tại trong một cộng đồng Mỗi loại hình tổ chức có những cách thức vận hành và chức năng riêng Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các cấu trúc này vừa thể hiện những sự đối lập, vừa thể hiện sự hợp tác, cùng tồn tại song hành trong cùng một cộng đồng
c Cấu trúc cộng đồng Công giáo di cư hiện nay có thể xem là bộ khung chứa đựng các quan niệm, các hệ thống ý nghĩa mà cá nhân hấp thụ, linh hoạt lựa chọn và xây dựng nên hệ thống giá trị có ý nghĩa, từ đó hình thành chiến lược ứng
xử cho riêng mình
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án này, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu trường hợp, qua đó hướng tới thực hiện được các mục tiêu và kiểm chứng được những giả thuyết nghiên cứu chính của luận án
Về các địa bàn khảo sát:
Hai cộng đồng được chúng tôi chọn làm địa bàn khảo sát trong cuộc nghiên cứu này là Hố Nai (Đồng Nai) và Cái Sắn (Cần Thơ) Vì cả hai cộng đồng đều có chung đặc điểm: (1) cùng chung một nguồn gốc dân cư từ các tỉnh đồng bằng Bắc bộ như: Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… (2) cùng di cư vào Nam bộ sinh sống từ năm 1954 Bên cạnh đó, hai địa bàn này cũng có những yếu tố tương đối khác biệt về điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội
Khu vực Hố Nai hiện nay nằm trong vùng kinh tế trọng điểm các tỉnh phía Nam, giữa huyện Trảng Bom và thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, gần thành
Trang 14phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương Các tỉnh, thành này được xem là những trung tâm kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật lớn của các tỉnh, thành ở Đông Nam
bộ, với nhiều khu công nghiệp tập trung Cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt hội đủ điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cả ba lĩnh vực: Công nghiệp-Dịch vụ-Nông nghiệp Chính do địa vực trọng yếu như vậy, quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng với những tác động đáng kể về kinh tế, văn hóa, xã hội và nhất là vấn đề môi trường sống đối với dân chúng
Trong khi đó, đặc điểm kinh tế-xã hội vùng Cái Sắn hiện nằm giữa ba tỉnh thành là thành phố Cần Thơ, tỉnh Kiên Giang và tỉnh An Giang Mặc dù cùng với
sự phát triển kinh tế của cả nước từ sau những năm đổi mới (1986), kéo theo sự chuyển đổi kinh tế ở các địa phương, nhưng kinh tế chính ở vùng Cái Sắn vẫn là nông nghiệp trồng lúa nước Cơ cấu nghề nghiệp của địa phương chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao mức sống cho người dân, nên có hiện tượng những người trẻ tuổi trong cộng đồng đã di dân đến các khu công nghiệp ở TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai để mưu sinh
Một vấn đề nữa mà chúng tôi quan tâm trong việc lựa chọn địa bàn nghiên cứu là cả hai vùng Hố Nai và Cái Sắn đều tập trung khá nhiều xứ đạo với số lượng tín đồ khá lớn Trong khi cách tiếp cận nghiên cứu trường hợp và bản thân người nghiên cứu không thể nghiên cứu sâu nếu không lựa chọn những địa bàn nghiên cứu cụ thể, đại diện cho những nhóm xã hội khác nhau
Chính vì vậy, ngay từ năm 2002, khi khởi sự nghiên cứu về người Công
giáo di cư tại khu vực Hố Nai, chúng tôi đã chọn hai cộng đồng đại diện cho hai
loại hình kinh tế khác nhau là Lai Ổn và Ngô Xá tại Hố Nai (Đồng Nai) để nghiên cứu vì những lý do sau:
- Đại diện cho địa bàn có đặc điểm kinh tế nông nghiệp: Chúng tôi chọn
cộng đồng Lai Ổn, thuộc ấp Lộ Đức, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Đây là vùng có địa hình thấp, trũng so với các cộng đồng khác trong vùng
Hố Nai, nằm cách Quốc lộ I ba kilômét (km) về hướng Tây Nam Theo những người dân địa phương, năm 1954, những người giáo dân thuộc giáo xứ Lai Ổn
Trang 15đến định cư tại khu vực dọc theo tuyến đường Quốc lộ I, Hố Nai (nay thuộc giáo
xứ Hòa Bình - phường Tân Hòa thành phố Biên Hòa) Đến năm 1957, phần lớn số giáo dân thuộc giáo xứ Lai Ổn lại tiếp tục di chuyển vào vùng Đồng Lách (khu vực giáo xứ Lai ổn ngày nay), chọn nơi đây làm điểm định cư lâu dài Vì nơi đây đáp ứng được về mặt điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nghề nông Tính đến ngày nay, giáo xứ Lai Ổn vẫn còn duy trì nền kinh tế chính là nông nghiệp trồng lúa nước, canh tác theo kiểu Bắc bộ mà họ đã mang theo trong chuyến di cư năm
1954 Cơ cấu tổ chức xã hội và phân bố dân cư của cộng đồng này vẫn theo mô hình khép kín (kiểu làng-xã truyền thống Bắc bộ), tách biệt với các xứ đạo khác trong vùng Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, cộng đồng này cũng đang có xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ khác, do áp lực của đô thị hóa và những động thái kinh tế thị trường đang diễn ra tại Việt Nam
- Đại diện cho địa bàn có đặc điểm kinh tế thoát ly nông nghiệp: Chúng
tôi chọn cộng đồng Ngô Xá Đây là cộng đồng có vị trí nằm sát Quốc lộ I, hướng Biên Hòa đi Long Khánh Địa bàn giáo xứ có vị trí địa lý nằm giữa ranh giới hành chính của ba phường xã: xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom (năm 2003 là huyện Thống Nhất), phường Tân Hòa và phường Long Bình (thành phố Biên Hòa), với lối phân bố dân cư vừa khép kín (lấy nhà thờ làm trung tâm), vừa trải rộng đều theo đường quốc lộ; cơ cấu kinh tế phi nông nghiệp: thủ công mỹ nghệ, kinh doanh, dịch vụ đa dạng… Ngô Xá tiêu biểu cho địa bàn thuộc các phường-xã thoát ly nông nghiệp
Đến năm 2008, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại khu vực Cái Sắn
Chúng tôi đã dựa vào tiêu chí chọn địa bàn nghiên cứu ở Hố Nai làm hệ chuẩn để chọn tiếp những địa bàn nghiên cứu ở Cái Sắn Trên cơ sở gợi ý, tư vấn của Tiến
sĩ Trần Hữu Hợp, một người làm luận án tiến sĩ dân tộc học về người Công giáo ở Đồng bằng Sông Cửu Long, cộng với việc chúng tôi thực hiện những chuyến điền
dã dài ngày tại đây để khảo sát và chọn địa bàn nghiên cứu Cuối cùng, chúng tôi chọn được ba điểm nghiên cứu cụ thể như sau:
Trang 16- Đại diện cho địa bàn có đặc điểm kinh tế nông nghiệp, chúng tôi chọn hai cộng đồng là giáo xứ Vạn Đồn và giáo xứ Hải Hưng thuộc xã Thạnh Thắng, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Giáo dân thuộc giáo xứ Vạn Đồn chủ yếu
là cư dân gốc tỉnh Thái Bình, và một số ít là cư dân gốc Bùi Chu-Phát Diệm Cơ cấu kinh tế chính của cộng đồng này là nông nghiệp trồng lúa nước Giáo dân
thuộc giáo xứ Hải Hưng (gồm dân gốc Hải Phòng và Hưng Hóa) Đây là địa bàn
cũng có đặc điểm kinh tế nông nghiệp tương tự như ở Vạn Đồn, nhưng nhiều hộ gia đình có mối liên hệ về huyết thống, họ tộc với dân cư khu vực Hố Nai Chính
vì vậy, chúng tôi chọn hai cộng đồng dân cư giáo xứ Hải Hưng làm điểm nghiên cứu của mình
- Đại diện cho địa bàn có đặc điểm kinh tế thoát ly với nông nghiệp,
chúng tôi chọn giáo xứ Ngọc Thạch, thuộc địa bàn thị trấn Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Đây là địa bàn tập hợp nhiều người “dân tứ xứ” đổ về đây sinh sống và lập nghiệp, với đặc điểm kinh tế thương mại phát triển hơn so với các giáo xứ khác trong vùng Theo những người lớn tuổi, ban đầu khu vực này chỉ là một họ đạo lẻ, nhưng do người “dân tứ xứ” đến buôn bán, đông đúc nên người ta mới xây dựng nhà thờ mới, thành lập giáo xứ Hiện nay, theo những người dân ở đây cho biết, đất đai khu vực này rất “được giá” vì hội tụ đủ bốn yếu
tố: gần nhà trường, gần nhà thờ, gần bệnh viện, giao thông đi lại thuận tiện
- Về thời gian tiến hành các cuộc khảo sát:
+ Tại khu vực Hố Nai:
Nghiên cứu về người Công giáo di cư là một hướng nghiên cứu mà tôi đã chọn cách nay đã lâu Cụ thể là công việc nghiên cứu về hướng đề tài này được chúng tôi khởi sự từ năm 2002 tại khu vực Hố Nai, khi tôi thực hiện khóa luận đại học chuyên ngành nhân học Trong đó, tôi chọn nghiên cứu trường hợp hai giáo
xứ Lai Ổn và Ngô Xá Tuy nhiên, đây cũng là địa bàn mà chúng tôi đã gắn bó trên hai mươi năm qua với tư cách là thành viên của cộng đồng Sau này, do điều kiện học tập và công tác ở nơi khác nhưng chúng tôi vẫn giữ liên lạc và thường xuyên có những cuộc điền dã ngắn hạn tại đây Chính điều này đã tạo điều kiện
Trang 17cho chúng tôi có cái nhìn liên tục về những động thái văn hóa của cộng đồng người Việt Công giáo di cư
Hằng năm theo chu kỳ định sẵn là mùa hè và mùa xuân, chúng tôi và các cộng sự viên trở lại các cộng đồng thực hiện điền dã dân tộc học mỗi đợt khoảng
15 ngày Ngoài ra, mỗi khi trong cộng đồng có những sự kiện quan trọng, chúng tôi luôn được những người trong cộng đồng thông báo và trở về cộng đồng vừa với tư cách là thành viên của cộng đồng, vừa với tư cách là người nghiên cứu
Đặc biệt, tháng 10 năm 2007, chúng tôi rất vinh dự được những người thuộc Hội
tương trợ Đồng Bằng đồng hương, thuộc giáo xứ Lai Ổn, Hố Nai cho tháp tùng
chuyến trở về quê gốc ở tỉnh Thái Bình của nhóm giáo dân này Chính vì vậy, từ
đó đến nay chúng tôi luôn có cái nhìn xuyên suốt về những cộng đồng mà chúng tôi chọn làm địa bàn nghiên cứu
+ Tại khu vực Cái Sắn:
Chúng tôi chỉ tiếp cận các cộng đồng nghiên cứu khoảng thời gian hai năm (2008-2009) khi thực hiện luận án tiến sĩ này Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã thực hiện các đợt nghiên cứu liên tục từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 05 năm 2009, với sự hỗ trợ của các cộng sự viên là các giảng viên và các sinh viên chuyên ngành nhân học, xã hội học Một điều kiện thuận lợi, do nghiên cứu so sánh giữa khu vực Hố Nai và Cái Sắn, nên chúng tôi đã dùng mô hình tổ chức sinh hoạt theo giáo xứ ở Hố Nai làm hệ tham chiếu so sánh với Cái Sắn, đặc biệt lưu ý những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai địa bàn này
Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện những cuộc điền dã bên ngoài hai khu vực nghiên cứu chính để có cái nhìn so sánh rộng hơn như: cộng đồng Công giáo
di cư năm 1954 tại huyện Đắkmil, tỉnh Đắk Nông nơi người Công giáo di cư gốc miền Trung di cư từ các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh,… trong khoảng thời gian ba năm
(trên cơ sở của một đề tài nghiên cứu về dân tộc học giáo dục ở vùng cao, đa dân
tộc, từ năm 2007 – 2009, mỗi năm hai lần)
- Về phương pháp và kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu: để đạt được
các mục tiêu nghiên cứu đề ra, chúng tôi chú trọng vào thực hiện các phương
Trang 18pháp và kỹ thuật nghiên cứu như: quan sát – tham dự, thu thập và xử lý thông tin
định tính, và phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA)
- Phương pháp quan sát – tham dự là phương pháp đặc thù của ngành nhân
học, buộc người nghiên cứu phải sống, làm việc và nghiên cứu cùng cộng đồng trong một thời gian dài Người nghiên cứu trở thành một phần của cuộc sống hằng ngày tại cộng đồng, tham gia càng nhiều càng tốt vào công việc và cuộc sống của người dân Trên thực tế, để có thể hòa nhập hoàn toàn với đời sống cộng đồng địa phương là công việc rất khó thực hiện đối với các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cố gắng hòa nhập cuộc sống của họ không chỉ qua các cuộc phỏng vấn mà còn thông qua sự hiện diện của mình trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của họ (through simple “presence” in their lives) Với cách tiếp cận này, chúng tôi cố gắng thực hiện công việc thu thập thông tin thông qua việc đến địa bàn vào những khoảng thời gian khác nhau trong năm: trung bình mỗi chuyến đi chúng tôi kéo dài từ 10 đến 15 ngày tại các địa bàn nghiên cứu để thu thập thông tin phục vụ cho quá trình phân tích dữ liệu nghiên cứu liên quan đến luận án
Khi thực hiện phương pháp này, chúng tôi có nhiều thuận lợi vì sống trong cộng đồng với khoảng thời gian khá dài và mọi người xác định vị thế xã hội của chúng tôi là những trí thức, đến từ một trường đại học tại TP.HCM Tuy nhiên, chính những thuận lợi cũng ẩn chứa những trở ngại đáng kể trong quá trình nghiên cứu Bởi vì sự định vị chúng tôi là những người trí thức cho nên người dân địa phương đã tạo ra một khoảng cách khá lớn giữa chúng tôi và họ Vì vậy, chúng tôi đã phải cố gắng hòa nhập với cộng đồng để “xóa mờ” khoảng cách giữa những người nghiên cứu và những người dân địa phương Nhưng chính sự cố gắng xóa mờ khoảng cách giữa chúng tôi và người dân địa phương cũng là lúc chúng tôi bị kéo vào những rắc rối khác từ việc hiện diện trong cộng đồng một khoảng thời gian khá dài Bởi thực tế ở bất cứ xã hội nào cũng có những nhóm xã hội luôn ở trạng thái cạnh tranh, mâu thuẫn, xung đột nội bộ cộng đồng Chính vì vậy, chúng tôi phải rất khó khăn để thể hiện mình là những người trung lập, và các nghiên cứu của chúng tôi không có tính thiên vị và không làm ảnh hưởng đến
Trang 19những lợi ích xã hội, cũng như sự thăng tiến của các cá nhân và các nhóm trong cộng đồng Chính vì vậy, các trích dẫn trong luận án này, tên những người cung cấp thông tin cho luận án được chúng tôi mã hóa, hoặc thay bằng một tên khác nhằm đảm bảo sự riêng tư cá nhân
Trong quá trình điền dã tại hai địa bàn Hố Nai và Cái Sắn, chúng tôi đã
tiến hành viết nhật ký điền dã dân tộc học (Fieldnotes) với hai loại sổ: nhật ký
điền dã đầy đủ (Fullnote) và sổ ghi chép về phương pháp và trải nghiệm bản thân của nhà nghiên cứu tương tác với đối tượng nghiên cứu (Journal) Qua đó, chúng
tôi thấy rõ được những động thái xã hội trong đời sống người dân trong đời sống hằng ngày Ngoài cách thức làm việc độc lập của một nghiên cứu sinh, chúng tôi còn được nhận được sự cộng tác từ các cộng sự viên là giảng viên, các sinh viên chuyên ngành nhân học và xã hội học Chính vì vậy, chúng tôi đã phải tiến hành tập huấn phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu chính của luận án để những cộng sự viên tham gia quá trình thu thập dữ liệu thông tin bằng phương pháp quan sát tham dự có cái nhìn tương đồng với người thiết kế công cụ nghiên cứu Do đó, trong quá trình thực hiện phương pháp này tại cộng đồng, mối quan tâm hàng đầu của chúng tôi là làm thế nào để có thể thu thập thông tin một cách khách quan và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu nhất nhằm phục vụ tốt cho quá trình phân tích dữ liệu
Một trong những điểm thuận lợi của chúng tôi khi thực hiện luận án là nhóm cộng sự viên của chúng tôi gồm 15 người đại diện cho những nhóm xã hội
và tiểu văn hóa đến từ các vùng miền khác nhau Có người là người theo Công giáo, có người theo tôn giáo khác, có người dân gốc miền Nam, có người dân gốc miền Bắc và miền Trung Điều này giúp cho việc thu thập thông tin một cách khách quan dưới nhiều góc độ khác nhau Các nghiên cứu viên đã quan sát và cùng tham gia các hoạt động của cộng đồng trong suốt thời gian điền dã Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã trực tiếp trò chuyện với các nhóm: trẻ em, thanh niên, người lớn tuổi và giới chức Công giáo trong đời sống hằng ngày Phương pháp
Trang 20này chủ yếu lấy tư liệu từ việc ghi chép, có hỗ trợ bằng việc ghi âm và chụp ảnh tùy tình huống cụ thể
- Phương pháp thu thập và xứ lý thông tin định tính là phương pháp lấy
thông tin định tính từ các thành viên trong cộng đồng bằng các cuộc đối thoại có chủ định với các thành viên trong cộng đồng và các dữ liệu thư tịch được thu thập tại các trung tâm lưu trữ và tại các cộng đồng Công giáo di cư Phương pháp này
đã được chúng tôi thực hiện cùng với việc thực hiện phương pháp quan sát-tham
dự trong quá trình thực hiện điền dã tại các cộng đồng Đặc biệt, chúng tôi quan tâm đến phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm với nhiều hình thức như: phỏng vấn lịch sử qua lời kể (Oral history), phỏng vấn chiến lược, phỏng vấn nhóm tập trung, phỏng vấn cá nhân, đặc biệt là phỏng vấn cá nhân phi cấu trúc Với cách thức này, những người nghiên cứu và những người cung cấp thông tin cảm thấy khá thoải mái khi xác định rằng những người nghiên cứu đến để học hỏi về cuộc sống và kinh nghiệm từ người dân địa phương, đồng thời chia sẻ những nhìn nhận
và trải nghiệm cuộc sống của chúng tôi với họ Tuy nhiên, khi thiết kế công cụ nghiên cứu cho phương pháp này, chúng tôi đã không dựa hoàn toàn vào những câu hỏi được soạn sẵn theo cấu trúc khi trò chuyện, phỏng vấn người dân địa phương, mà chúng tôi chủ yếu làm việc với bộ công cụ nghiên cứu là những hệ
mã thông tin mở (tree notes) được thiết kế xoay quanh nội dung các câu hỏi nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu chính của luận án Chính vì vậy, chúng tôi thường biến những cuộc phỏng vấn sâu thành những cuộc trò chuyện thân tình, nhằm tránh sự căng thẳng không đáng có cho người cung cấp thông tin Thông qua các cuộc trò chuyện, người dân dễ dàng trình bày ý kiến, đưa ra những quan điểm riêng mà không bị áp lực hay khoảng cách giữa những người nghiên cứu và bản thân họ
Do đó, tùy theo từng vấn đề, từng mục đích yêu cầu của luận án, chúng tôi đã chọn lựa cách thức phỏng vấn và đối tượng phỏng vấn khác nhau tại các cộng đồng ở Hố Nai và Cái Sắn nhằm mục đích thu thập được các thông tin hữu ích phục vụ cho việc lý giải các giả thuyết nghiên cứu của luận án Tuy đây là
Trang 21phương pháp thu thập và xử lý thông tin định tính, nhưng chúng tôi cũng đã tiến hành chọn mẫu theo nguyên tắc chọn mẫu phân tầng và trường hợp mở rộng, với các thành phần đại diện cho các nhóm dân cư trong cộng đồng như: các linh mục, đại diện chính quyền địa phương, đại diện các giới, đoàn thể Công giáo, ban ngành cả bên chính quyền lẫn bên giáo xứ, một số nhân chứng trong chuyến di cư năm 1954, đại diện các hộ gia đình tới đây cư trú từ những ngày đầu lập giáo xứ
và những người mới di cư tới các cộng đồng này sinh sống Các thông tín viên cũng được chúng tôi phân loại theo các tiêu chí mang tính đại diện cho các thành
phần dân cư trong cộng đồng như giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, các giới, hội
đoàn.v.v Điều này giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn về đời sống của cộng
đồng Ngay với các cộng sự viên mà chúng tôi mời tham gia công việc thu thập
thông tin, chúng tôi cũng cân nhắc các yếu tố như giới tính, vùng miền, tôn giáo
để có nhiều góc nhìn khách quan hơn về các cộng đồng mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu Do bản thân nghiên cứu sinh là nam giới nên khi thiết kế các công cụ nghiên cứu cũng đã không ít lần “bỏ qua” yếu tố “bất bình đẳng về giới” trong việc thu thập và xử lý thông tin Tuy nhiên, với sự góp ý nhiệt tình của các cộng
sự viên thuộc phái nữ, chúng tôi đã có những bổ sung, điều chỉnh toàn diện hơn trong cách tiếp cận về giới trong nghiên cứu này
Đặc biệt, trong phương pháp này chúng tôi ứng dụng phần mềm xử lý
thông tin định tính - Nvivo trong việc phân tích các thông tin thu thập từ địa bàn
nghiên cứu Do có chủ đích trong việc ứng dụng phần mềm này trong nghiên cứu, nên ngay trong giai đoạn đầu thiết kế công cụ nghiên cứu, chúng tôi đã xây dựng
bộ công cụ thu thập thông tin bằng các hệ mã thông tin (tree notes và attributes) thay vì xây dựng bộ câu hỏi gợi ý phỏng vấn cá nhân như cách làm thông thường Với hệ mã thông tin được thiết kế phù hợp với các yêu cầu của luận án, tính linh hoạt trong thu thập thông tin của luận án được phát huy nhưng vẫn đi vào trọng tâm các câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu chính của luận án Nhìn chung, chúng tôi
tự đánh giá việc ứng dụng phần mềm Nvivo vào việc xứ lý thông tin có hiệu quả,
và tận dụng được tối đa nguồn tư liệu thu thập được
Trang 22Bên cạnh đó, chúng tôi còn thực hiện công việc thu thập và phân tích các văn bản, thư tịch Đặc biệt, trong quá trình trò chuyện với chúng tôi, những tín đồ Công giáo luôn trích dẫn các đoạn Kinh thánh vào các câu chuyện, để giải thích những ý tưởng, quan niệm sống thường ngày của họ Chính vì vậy, chúng tôi cũng phải làm công việc như những người chú giải Kinh thánh là tra cứu và đọc lại những đoạn Kinh thánh liên quan đến những gì người dân địa phương đã bàn luận, để hiểu biết được nguyên bản đoạn Phúc âm và những ý nghĩa từ việc diễn ngôn (discourse) Kinh thánh của người dân trong đời sống thường ngày Dù rằng làm công việc này là một thách thức rất lớn đối với bản thân chúng tôi Vì để làm tốt công việc này, chúng tôi phải có vốn hiểu biết về thần học Kinh thánh Công giáo, trong khi chúng tôi lại không có nhiều kiến thức trong lĩnh vực này Chúng tôi cũng đã cố gắng khắc phục hạn chế bằng cách tham vấn các linh mục trong cộng đồng, cũng như tham khảo các sách giáo lý Công giáo Tuy nhiên, chúng tôi cũng xác định rõ đây không phải là công trình nghiên cứu chú giải Kinh thánh Công giáo thuần túy mà là công trình nghiên cứu sự nhận thức của những tín đồ
về đời sống đạo trong một cấu trúc cộng đồng Công giáo
- Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA):
PRA là một công cụ đặc biệt hữu ích trong ngành công tác phát triển cộng đồng Đây có thể xem là một phương pháp trao quyền cho người dân để quyết định các công việc quan trọng của cộng đồng Dù luận án không phải là đề tài liên quan đến phát triển cộng đồng nhưng chúng tôi cũng đã tận dụng thế mạnh của phương pháp này để kết hợp với phương pháp thu thập và xử lý thông tin định tính trong suốt quá trình nghiên cứu, nhằm xác định: mạng lưới xã hội, thể chế, đánh giá nguồn lực thực tại địa phương,… Đặc biệt, với công cụ vẽ biểu đồ Venn, chúng tôi đã áp dụng trong việc thu thập và phân tích dữ liệu liên quan đến cấu trúc quyền lực địa phương Chúng tôi nhận thấy đây là công cụ minh họa hữu hiệu về các mối quan hệ quyền lực giữa các cá nhân, các đoàn thể với nhau, cũng như mức độ ảnh hưởng nhiều hay ít giữa các nhóm xã hội đối với cuộc sống của người dân địa phương
Trang 23Với phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA), chúng tôi đã xác định được “bản đồ cấu trúc quyền lực” tại các cộng đồng, đồng thời hình dung được vai trò của các tổ chức xã hội trong cộng đồng Bên cạnh đó, dựa vào nguyên lý làm việc của phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA), tháng 5 năm 2009, chúng tôi và các cộng sự viên đã tạo ra bộ công cụ mới và tạm đặt tên “sơ đồ tư duy chiến lược cuộc sống” (timelife) nhằm tìm kiếm thông tin chiến lược sống của các tín đồ Công giáo trong bối cảnh đương đại
6 Những đóng góp mới của luận án
Dưới góc độ nghiên cứu nhân học, dân tộc học về cấu trúc cộng đồng Công giáo, luận án thể hiện một số đóng góp mới như:
- Đưa ra một số giả thuyết và luận điểm mới để giải thích quá trình tái sản xuất cấu trúc xã hội nơi cộng đồng Công giáo di cư năm 1954 tại Nam bộ
- Góp phần bổ sung lý thuyết về nhân học tôn giáo và các lý thuyết liên quan đến cấu trúc xã hội và hành động xã hội của ngành dân tộc học, nhân học, với việc vận dụng đồng thời quan điểm cấu trúc luận và quan điểm cá nhân luận,
để giải thích ý nghĩa và động lực xã hội của quá trình biến đổi về cấu trúc xã hội, cũng lý giải được tính tích cực và tính chủ động tương đối của các chủ thể xã hội trong quá trình củng cố và biến đổi các định chế của cấu trúc xã hội
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận án gồm ba chương:
- Chương 1: trình bày cơ sở lý thuyết của luận án, tổng quan tình hình
nghiên cứu và bối cảnh của Nam bộ, đặc biệt tập trung vào hai cộng đồng nghiên cứu điểm: Hố Nai ở Đông Nam bộ và Cái Sắn ở Tây Nam bộ Qua đó, khái quát được những điểm tương đồng và khác biệt về điều kiện tự nhiên, địa vực cư trú, đặc điểm kinh tế-xã hội và văn hóa Điều này cũng góp phần quan trọng cho việc
lý giải các vấn đề của các chương sau
Trang 24- Chương 2: trình bày và phân tích các đặc điểm cơ cấu xã hội, đặc biệt
chú ý tới tính đan xen các cấu trúc xã hội trong cộng đồng cư dân Công giáo di cư như cơ cấu gia đình, tộc họ; cơ cấu tổ chức giáo xứ, hội đồng giáo xứ, các đoàn thể Công giáo và cả cơ cấu tổ chức hành chính cấp xã trước và sau năm 1975 Từ
đó phân tích tính đặc điểm cấu trúc quyền lực tại địa phương trong bối cảnh đương đại
- Chương 3: trình bày và phân tích chiến lược ứng xử và sự lựa chọn cơ
hội thăng tiến của những tín đồ Công giáo di cư trong mối tương quan các cấu trúc xã hội đan xen Trong chương này, chúng tôi lần lượt đi sâu phân tích những lựa chọn mang tính chiến lược của người Công giáo di cư ở hai lĩnh vực chính: đời sống xã hội và đời sống lễ nghi trong đời sống đương đại
Trang 25Chương 1
CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO DI CƯ NĂM 1954 TẠI NAM BỘ
1.1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Thao tác hóa khái niệm
Để tạo những tiền đề lý luận nghiên cứu cho luận án, chúng tôi xin lần lượt thao tác hóa các khái niệm chính liên quan đến đề tài Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là cấu trúc cộng đồng Công giáo di cư Chính vì vậy, chúng tôi sẽ thao tác hóa những khái niệm chính yếu như: cấu trúc xã hội; tái sản xuất cấu trúc cộng đồng và tái cấu trúc cộng đồng; thiết chế xã hội; cộng đồng (cộng đồng làng-xã và cộng đồng Công giáo); hiện đại hóa và chiến lược ứng xử hay tư duy chiến lược
- Cấu trúc xã hội: là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau
xuất phát từ quan điểm, phương pháp luận khác nhau Vì vậy có khá nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc xã hội Theo J H Fischer, nhà xã hội học người Mỹ, cấu trúc xã hội là sự sắp đặt của các thành phần xã hội hoặc các đơn vị xã hội, sự tương tác của chúng trong cả trạng thái tĩnh và động Ông xem xã hội là tổng hòa các đoàn thể xã hội Các đoàn thể xã hội được sắp xếp theo một trật tự nhất định trong hệ thống xã hội và giữa chúng có quan hệ với nhau [128 , 1973]
Trong khi đó A.V Bezrucov nhà xã hội học người Nga, không cùng quan điểm với H Fischer khi xem cấu trúc xã hội là tập hợp toàn thể các mối liên
hệ tương đối ổn định giữa các yếu tố trong hệ thống xã hội Chủ yếu nhằm vào phân tích các cộng đồng xã hội và quan hệ xã hội (quan hệ giai cấp, nghề nghiệp,
cư trú, dân tộc) mà quan trọng nhất là quan hệ giai cấp
Theo I Robertsons, một đại biểu xã hội học Mỹ khác thì cho rằng cấu trúc xã hội là mô hình của các mối quan hệ giữa các thành phần cơ bản trong hệ thống xã hội Những thành phần này tạo ra bộ khung cho tất cả xã hội loài người
Trang 26mặc dù tính chất của các thành phần và các mối quan hệ giữa chúng biến đổi từ
xã hội này sang xã hội khác Những thành phần quan trọng nhất của cấu trúc xã hội là vị thế vai trò nhóm và các thiết chế xã hội [138, 1987:90]
Quan niệm của Vũ Khiêu đưa ra trong bài viết đăng trên tạp chí Xã hội
học với nhan đề: “Chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ và những biến đổi thường xuyên của cơ cấu xã hội” như sau: “cần phân biệt giữa cơ cấu xã hội và
quan hệ xã hội; cơ cấu xã hội là tổng thể những bộ phận những thành tố đã tạo nên một xã hội nhất định Cơ cấu xã hội và quan hệ xã hội có mối quan hệ với nhau, nhưng không thể quy cơ cấu xã hội vào quan hệ xã hội là một Quan hệ xã hội là hình thức vận động của cơ cấu xã hội Cơ cấu xã hội là nội dung có tính chất bản thể luận của quan hệ xã hội, là cơ sở tồn tại và phát triển của cơ cấu xã hội.” [51, 1986: 40]
Như vậy, cấu trúc xã hội bao gồm các đặc tính được thừa nhận trong xã hội theo thời gian liên quan đến những sự khác biệt quan trọng (giai cấp xã hội, chủng tộc/dân tộc, tôn giáo, nông thôn/thành thị) giữa các nhóm người trong việc tiếp cận với nguồn lực vật chất, xã hội và tâm lý Nói đến cấu trúc xã hội là nói đến một hệ thống các quan hệ xã hội Cấu trúc xã hội dựa trên ý tưởng cho rằng
xã hội được phân chia thành các nhóm khác nhau với những chức năng, ý nghĩa, mục đích khác nhau Cấu trúc xã hội trả lời câu hỏi: các mối quan hệ xã hội được
tổ chức theo những kiểu hình như thế nào Ví dụ về cấu trúc xã hội: gia đình, tôn giáo, luật pháp, giai cấp, chủng tộc, kinh tế đều là các cấu trúc xã hội Cấu trúc xã
hội là một công cụ phân tích, nó giúp chúng ta hiểu được cách thức con người
ứng xử trong đời sống xã hội
- Tái sản xuất cấu trúc cộng đồng và tái cấu trúc cộng đồng:
Đây là hai khái niệm chính yếu của luận án và hiện nay cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về mặt ngữ nghĩa của hai thuật ngữ này Chính vì vậy, trong luận án này, chúng tôi xin định nghĩa hai khái niệm này một cách vắn tắt nhằm thống nhất cách hiểu trong luận án như sau:
Trang 27- Tái sản xuất cấu trúc cộng đồng được hiểu là việc thiết lập một cấu trúc
cộng đồng mới dựa trên nền tảng mô hình cấu trúc cộng đồng vốn có trước đây Quá trình tái sản xuất cấu trúc cộng đồng thường gắn liền với các điều kiện sau: (1) di cư vĩnh viễn của một hay nhiều nhóm dân cư có cùng chung các đặc điểm văn hóa, tôn giáo, dân tộc, và cùng chung vận mệnh lịch sử; (2) cùng tới định cư trong cùng một địa vực cư trú mới và có điều kiện cố kết cộng đồng, tái thiết lập các mô hình tổ chức làng xã cũ nhằm duy trì các chức năng sinh tồn của các thành viên trong cộng đồng
Cuộc di cư của người Việt Công giáo năm 1954 thực chất là một cuộc di
cư trong nội bộ tộc người Việt Đây cũng cuộc di cư vĩnh viễn của những nhóm người vùng Bắc bộ đến vùng đất Nam bộ Trong lịch sử các cuộc di cư Việt Nam, người ta hay nhắc đến các cuộc chuyển cư với các tính chất và tên gọi khác nhau như các cuộc “Nam tiến”, “Tập kết”, “Di cư” Trong đó, cuộc di cư của người Việt năm 1954 có một đặc thù riêng mang tính lịch sử nên được rất nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm Nhà nghiên cứu Diệp Đình Hoa còn cho rằng: “Khái niệm
di cư trong tiếng Việt chỉ dùng để gọi những người từ Bắc vào Nam năm 1954”
[41, 2001: 21] Bởi di cư là một từ Hán Việt nguyên nghĩa của khái niệm này là chỉ chuyển đi cư trú ở nơi khác Thông thường những người di cư, nhất là những trường hợp di cư đơn lẻ, thường có tập tính nhanh chóng thích nghi, hòa nhập với điều kiện sống mới, như thế cũng đồng nghĩa với việc những người di cư này sẽ phải bỏ bớt đi một số giá trị văn hóa, lối sống hay chí ít là những tập tục, thói quen của cộng đồng cũ để thích nghi, hội nhập với điều kiện của cuộc sống mới Thế nhưng ở khía cạnh khác, những cộng đồng ly hương (di cư cả cộng đồng) lại thường có chiến lược ứng xử phòng vệ, cố kết cộng đồng nhằm bảo tồn, giữ gìn những giá trị văn hóa cốt lõi của cộng đồng như là một sự phản ứng tự nhiên trong điều kiện sống mới, xa lạ và đầy trắc trở
- Tái cấu trúc cộng đồng được hiểu là việc sắp xếp lại các thành phần cấu
trúc cộng đồng cho phù hợp với điều kiện thay đổi của xã hội, hay nói cách khác
là việc thiết lập lại trạng thái cân bằng trong nội bộ cộng đồng nhằm duy trì tính
ổn định và phát triển của chúng trong những điều kiện luôn thay đổi của xã hội
Trang 28Thông thường, các cuộc tái cấu trúc cộng đồng thường diễn ra trong các điều kiện khi các giá trị và chuẩn mực của cấu trúc xã hội hiện hành trở nên lỗi thời đối với nhận thức và cách thức hành xử của các cá nhân trong cộng đồng
- Thiết chế xã hội hay định chế xã hội: trong quyển Cơ cấu xã hội và
phân tầng xã hội, Nguyễn Đình Tấn cho rằng thiết chế xã hội là tập hợp bền vững
các giá trị, chuẩn mực quy định hành vi của cá nhân hay một nhóm xã hội, được thừa nhận rộng rãi, có khi được thể chế hóa (có quyền lực buộc phải theo) nhằm thoả mãn một nhu cầu đặc thù nào đó (tôn giáo, kinh tế, xã hội ) Gắn liền với khái niệm thiết chế xã hội là giá trị và chuẩn mực xã hội Chức năng của thiết chế
là điều chỉnh hành vi con người phù hợp với quy phạm và chuẩn mực Ngăn chặn
và kiểm soát, giám sát những hành vi sai lệch với chuẩn mực qua hệ thống pháp luật hoặc dư luận xã hội Đặc điểm của thiết chế: khá bền vững, phản ứng lại các biến đổi chậm, các thiết chế có xu hướng phụ thuộc nhau, sự đổ vỡ hoặc khủng hoảng thiết chế có ảnh hưởng lớn đến xã hội [81, 2005: 70 – 72]
Theo Trần Hữu Quang, hiểu theo nghĩa xã hội học, định chế xã hội không phải là một nhóm người cụ thể, cũng không phải là một tổ chức hay một
hội đoàn cụ thể Định chế xã hội (hay thiết chế xã hội – social institution) là một
hệ thống các quan hệ xã hội đã được xác lập ổn định trong xã hội Nó được định hình theo thời gian, khi mà, trong các mối quan hệ tương tác giữa các vai trò, một
số ứng xử nào đó của con người được lặp đi lặp lại, rồi dần dần biến thành tập
quán, và cuối cùng trở thành những chuẩn mực mà mọi thành viên đều thừa nhận
và tuân thủ Định chế xã hội là một sản phẩm của đời sống xã hội Mỗi định chế đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội Người ta thường phân biệt bốn loại
định chế xã hội: các định chế chính trị (liên quan tới việc phân bố và sử dụng quyền lực trong xã hội), các định chế kinh tế (liên quan tới các quá trình sản xuất
và phân phối các của cải và dịch vụ), các định chế thân tộc (như hôn nhân, gia đình), và các định chế văn hóa (như giáo dục, tôn giáo, phong tục, văn chương,
nghệ thuật, truyền thông đại chúng ) [78, 2005: 20-26]
Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng định chế không phải là một thực tại bền
Trang 29vững và đứng yên Nó luôn luôn nằm trong quá trình biến chuyển và đổi thay Khái niệm định chế cần được xem như bao hàm cả cái “đã” lẫn cái “đang”
(institué và instituant), nói theo lời Cao Huy Thuần: “ Định chế không còn được
xem như một sự kiện được tạo thành mà là một quá trình biện chứng vẽ ra một
tranh chấp thường xuyên – và vĩnh viễn – giữa cái đã đƣợc định chế và cái đang
định chế, giữa institué và instituant Những cái đã được định chế luôn luôn bị phá
hoại, bị tấn công, bị làm tan rã dưới áp lực của những lực lượng định chế ( ) Định chế không phải là một tổng thể đã hoàn thành, có cấu trúc mạch lạc, bền vững, mà là một cái gì đang hoàn thành, luôn luôn đang hoàn thành Đó không phải là một “sự vật”, mà là một “thực tiễn” [94, 2001:4], [120, 1969: 121]
- Cộng đồng: Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng được sử dụng
một cách tương đối rộng rãi, để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô, đặc tính xã hội Danh từ cộng đồng được sử dụng cho các
đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng-xã, hay một nhóm xã hội nào đó có những
đặc tính xã hội chung về tâm thức và lý tưởng xã hội, hay về lứa tuổi, giới, hay về nghề nghiệp, về thân phận xã hội Chính vì vậy, khái niệm cộng đồng được hiểu dưới nhiều chiều kích khác nhau như: cộng đồng, tập thể, nhóm …và ở Việt Nam khái niệm được sử dụng khá phổ biến là làng-xã, thôn, ấp… cũng được xem như loại hình cộng đồng
Theo Lương Hồng Quang, nghiên cứu về cộng đồng là “nghiên cứu các đặc trưng văn hóa biểu thị qua các mặt: tôn giáo – tín ngưỡng, phong tục tập quán, cách giao tiếp ứng xử, khả năng chinh phục thiên nhiên, khả năng sáng tạo nghệ thuật, tính cách tâm lý của cư dân trong cộng đồng” [74, 1997:18] Cộng đồng (community) là “một nhóm người cư trú trên một khu vực địa lý riêng biệt
và làm việc trong những điểm tập trung cùng mối quan tâm và hoạt động như: thương mại, học vấn, tôn giáo, giải trí, sự thịnh vượng và hoạt động chính trị…” [166, 1982 : 337]
Cộng đồng theo quan niệm Marxist là: “Mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi các lợi ích chung của các thành viên có sự giống nhau
Trang 30về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng
đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động” [112, 1990: 19] Tất cả các hình thức tự tổ chức mà chúng ta đã biết của con người đều là các kiểu cộng đồng, chỉ khác nhau
ở phạm vi không gian-thời gian và nội dung các lợi ích liên kết chung Đó là các hình thức tổ chức gia đình, cộng đồng dân cư, các cộng đồng được xếp theo thứ hạng xã hội, theo nghề nghiệp, tộc người, theo lãnh thổ quốc gia và cuối cùng, loài người nói chung
Theo Ferdinand Tönnies, cộng đồng có các đặc trưng sau: “Thứ nhất,
những quan hệ xã hội nào mang tính chất tinh thần, thân thiện, mang độ cố kết có
ý nghĩa tự nhiên thì đấy là tính cộng đồng Thứ hai là tính bền vững Tính cộng đồng được khẳng định theo dòng chảy của lịch sử Thời gian có một vai trò là yếu
tố kết dính các thành viên trong cộng đồng Thứ ba là tính cộng đồng khi được xét từ quan điểm đánh giá và vị thế xã hội của các thành viên xã hội thì đó là vị thế xã hội được gán sẵn nhiều hơn là vị thế phấn đấu mà có được Cuối cùng, tính cộng đồng lấy quan hệ dòng họ là quan niệm cơ bản và mang cả hai đặc trưng: dòng họ là huyết thống và dòng họ trở thành khuôn mẫu văn hóa của sinh hoạt cộng đồng” [ 43, 2000: 13]
+ Cộng đồng làng xã: Ở Việt Nam, làng-xã được xem là đơn vị cư trú
truyền thống của người Việt Chính vì vậy, làng-xã cũng được xem là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành như sử học, dân tộc học, nhân học …
Theo Phan Huy Lê, làng Việt là cộng đồng tụ cư của những người tiểu nông trồng lúa nước kết hợp với một số nghề thủ công và buôn bán nhỏ dựa trên
mô hình công xã nông thôn dần dần phong kiến hóa [54, 1996:143] Làng-xã của người Việt thoát thai từ công xã nông thôn, dựa trên hình thái tổ chức xã hội này
mà hình thành nên làng-xã Điều này có nghĩa là sự ra đời của nó không theo kiểu phủ định công xã nông thôn Nền tảng kinh tế của làng-xã là nghề trồng lúa nước
Trang 31với những người chủ sở hữu nhỏ tư liệu sản xuất có khi ở qui mô rất nhỏ Nghề trồng lúa là cơ sở kinh tế của sự tồn tại làng-xã nhưng sau này, do sức ép dân số
mà diện tích ruộng đất bình quân trên đầu người giảm, xu hướng kết hợp nghề nông với các nghề tiểu thủ công và buôn bán nhỏ là phổ biến ở bình diện hộ-cộng đồng Khi xã hội phát triển theo xu hướng thương mại hóa, tính tự cấp tự túc dần dần không trở thành một đặc tính cố hữu của làng xã, song do những lý do về mặt kinh tế và lịch sử phát triển, như mức bình quân ruộng đất theo đầu người thấp,
đã hạn chế nhiều khả năng phá vỡ tính tự cấp tự túc
Ở Việt Nam, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi là người đầu tiên cố gắng
hệ thống hóa một cách đầy đủ về cơ cấu tổ chức xã hội làng Việt Theo ông, tổng thể cơ cấu xã hội ở làng-xã cổ truyền được tạo thành bởi năm hình thức tập hợp người như sau:
- Tập hợp người theo địa vực: Loại hình thức tập hợp này sẽ hình thành
nên các tổ chức ngõ, xóm Những đơn vị này dù chỉ là những phân thể của làng về
mặt cư trú, nhưng cũng có đời sống riêng của chúng thể hiện ở sự tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên cùng ngõ, xóm Mỗi xóm, ngõ cũng là một cộng đồng
về tín ngưỡng với “cây hương” riêng thờ thổ thần của ngõ, xóm mình Mỗi ngõ,
xóm có người đại diện, có “sổ nhân danh” ghi tên các thành viên…
- Tập hợp người theo huyết thống - họ tộc: Dòng họ là tập thể của
những người đang sống (và cả người đã chết), liên kết với nhau bằng quan hệ dòng máu và có chung một vị thuỷ tổ Họ được xem là dạng đặc biệt của gia đình
mở rộng nhằm tạo cho các thành viên mối cộng cảm về huyết thống Mối cộng cảm đó được duy trì, củng cố và tăng cường bởi một loạt các yếu tố: một “cương lĩnh” về hệ thống tổ chức gồm trưởng họ (tộc trưởng và các chi trưởng, ngành trưởng); một hình thái thờ phụng tổ họ gồm các nhà thờ họ (từ đường) và ngày giỗ, chạp một họ, cùng cơ sở kinh tế để nuôi dưỡng việc thờ phụng đó gồm ruộng
họ và quỹ họ
- Tập hợp người theo lớp tuổi: Giáp là loại hình tổ chức nằm giữa hai
cực địa vực và huyết thống Giáp là tổ chức dành riêng cho nam giới Quan hệ và
Trang 32vị trí của các thành viên trong giáp được xác định dựa trên tuổi tác của người đó Trong mối tương quan với cơ cấu tổ chức xã hội của làng Việt cổ truyền, giáp được coi là tổ chức năng động nhất, đảm nhiệm nhiều vai trò và chức năng nhất trong đời sống làng - xã
- Tập hợp người trong bộ máy chính quyền ở cấp xã: Bộ máy chính
quyền cấp xã là loại hình tập hợp người theo địa vị xã hội Cho đến thời Nguyễn,
về cơ bản bộ máy chính quyền cấp cơ sở đã được hình thành với ba tổ chức lồng
vào nhau: Dân hàng xã: gồm toàn bộ cư dân nam giới từ 18 tuổi trở lên
- Tập hợp người trong những tổ chức dựa trên lòng tự nguyện tham gia
của từng cá nhân - phe, hội, phường: Mục đích của các loại hình tập hợp này là
đáp ứng những nhu cầu tinh thần, tương trợ lẫn nhau của người nông dân Có rất
nhiều tổ chức khác nhau thuộc loại hình tập hợp người này như: Phe: một hình
thức câu lạc bộ của những người dân làng - xã, điển hình là phe tư văn (có nơi
còn gọi là Hội tư văn) Các Hội (còn được gọi là Họ) có mục đích tương trợ: Hội
tư cấp, họ hiếu, họ hỉ, họ ăn tết Các hội vì mục đích vui chơi, giải trí: hội võ, hội
chèo Các hội theo tôn giáo: hội chư bà, hội thiện Các Phường theo nghề nghiệp:
phường nề, phường mộc, phường sơn, phường chèo [107,1984]
- Trong khi đó, Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang trong công trình
Phát triển cộng đồng lý thuyết và thực tiễn, cho rằng cần phải phân tích trên một
chiều kích khác về cộng đồng, đó là chỉ ra các thành phần tạo lập nên một cộng đồng [43, 2000] Theo hai tác giả này, những cuộc nghiên cứu tại khắp nơi trên
thế giới cho thấy có một số yếu tố chính của cộng đồng là địa vực, yếu tố kinh tế hay nghề nghiệp, và cuối cùng là các yếu tố có tính văn hoá Những yếu tố này
tạo ra sự cố kết cộng đồng từ những đặc điểm chung, mà các thành viên có thể chia sẻ với nhau
Thực tế lịch sử, nhân loại thường tổ chức đời sống xã hội dựa trên ba nguyên lý cơ bản: 1.Dòng dõi: cùng huyết thống (thị tộc bộ lạc trong xã hội nguyên thủy, dòng họ trong xã hội có giai cấp sau này); 2 Cùng cư trú tức cộng
cư (làng, buôn, sóc ở nông thôn, khu phố ở đô thị); 3 Cùng lợi ích: giai cấp nhóm
Trang 33xã hội (lợi ích kinh tế, văn hóa ) Đối chiếu những nguyên lý này, chúng ta thấy làng Việt truyền thống tích hợp cả ba nguyên lý: vừa có huyết thống, vừa có láng giềng cùng cộng cư, vừa có các lợi ích khác gắn bó với nhau
Làng Việt ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam có quy mô có thể khác nhau, nhưng đều là nơi cư trú của những cộng đồng dân cư Việt có quan hệ huyết tộc hoặc cùng quê có một không gian xác định so với các làng khác Tuy nhiên,
do tiến trình lịch sử, do sự mở rộng vùng lãnh thổ của quốc gia, do gia tăng dân
cư nên sự hình thành các làng Việt diễn ra ở các giai đoạn lịch sử, ở các vùng là rất khác nhau
Ở vùng đồng bằng Bắc bộ – cái nôi của văn minh Việt – có những làng
có nguồn gốc từ thời nguyên thủy Bởi vì, sự phát triển của xã hội Việt Nam mà chúng ta có thể quan sát thấy không tạo ra một đột biến phá vỡ hoàn toàn cơ cấu
tổ chức làng xã cũ để thành lập lại trên cơ sở xã hội mới Các làng xã loại này, do vậy vẫn mang nặng những tàn dư công xã nông thôn với bộ phận đất công chiếm
đa số, do chưa có tư hữu Tình hình này còn biểu hiện rất rõ ở các tộc người thiểu
số ở Trường Sơn (Tây Nguyên) trong những thập niên gần đây [110, 1984] Người Việt trong quá trình Nam tiến đã mở rộng biên cương, xác lập chủ quyền, cũng là lúc hình thành những điểm tụ cư và trở thành làng
Làng Việt Nam bộ cũng mang những nét chung của làng Việt Bắc bộ Đó
là nơi cư ngụ của những cộng đồng dân cư Việt có quan hệ với nhau dựa trên một địa vực cư trú nhất định, và thêm vào đó là những mối quan hệ huyết tộc hoặc cùng quê Các làng Việt Nam bộ được hình thành muộn hơn nhiều so với làng Việt Bắc bộ nên không có làng-xã cổ truyền như các làng Việt Bắc bộ [56, 2007]
Chính vì vậy, làng Việt Nam bộ được hình thành trên cơ sở tái sản xuất cấu trúc cộng đồng trên nền tảng ký ức của những lưu dân Sự cố kết cộng đồng dựa trên mối quan hệ hàng xóm, láng giềng, cùng thân phận lưu dân và nhất là
trong các cộng đồng tôn giáo, sự cố kết cộng đồng còn dựa trên cơ sở niềm tin
Thực tế lịch sử cho thấy niềm tin tôn giáo là một yếu tố có tính chất bền vững cho
sự tồn tại của các cộng đồng dân cư Cùng chung một niềm tin tín ngưỡng-tôn
Trang 34giáo là sự chia sẻ những ước nguyện về mặt tinh thần, tạo nên sự thống nhất tinh
thần, củng cố nền tảng đạo lý chung tại cộng đồng Các tôn giáo lớn cùng với hệ
thống giáo lý, giáo hội và giáo đoàn đã góp phần củng cố sự đoàn kết cộng đồng
bằng sự chặt chẽ về tổ chức, những “áp chế” của hệ thống giáo lý, của tầng lớp giáo sĩ và tinh thần tự nguyện của tín đồ cũng đã tạo nên sự đoàn kết trong cộng đồng Trong thực tiễn, các tín ngưỡng dân gian và tôn giáo lại có sự lồng ghép với nhau trên một số nguyên lý, từ đó, thống nhất về mặt lịch sử các niềm tin của người dân, tránh những xung đột, tạo ra những sức mạnh cố kết cộng đồng mới,
có tính hiệu quả mạnh mẽ
Như vậy, cộng đồng làng xã cổ truyền của người Việt vừa bảo lưu các yếu tố của công xã nông thôn có từ thời nguyên thủy, những cộng đồng này còn tồn tại trong xã hội có giai cấp và đẳng cấp dưới sự quản lý của nhà nước, vì thế bên cạnh những thiết chế xã hội mang tính cộng đồng phi quan phương thì các thiết chế nhà nước và quan hệ giai cấp đẳng cấp chi phối rất mạnh mẽ gắn liền với lợi ích và quyền lực của các nhóm xã hội khác nhau
+ Cộng đồng Công giáo (chú thích – CT:1): cộng đồng Công giáo có
thể hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau như: giáo hội, giáo tỉnh, giáo phận, giáo hạt, giáo xứ hay họ đạo Tuy nhiên, trong luận án, chúng tôi khu biệt khái niệm cộng đồng Công giáo ở cấp độ giáo xứ
Giáo xứ là đơn vị cơ sở, cấp thấp nhất, có tư cách pháp nhân trong nội
bộ của tổ chức giáo hội Công giáo Nó có vai trò rất quan trọng, vì đây là nơi trực tiếp cai quản các tín đồ Công giáo và là nơi thực hiện các chủ trương của giáo hội Giáo hội Công giáo định nghĩa như sau: "Giáo xứ là một cộng đoàn, tín hữu được thiết lập thành đơn vị giáo hội cơ sở trong một địa dư nhất định, có tính bền vững trong cơ cấu tổ chức giáo hội", "Tất cả giáo xứ và các đơn vị tương đương
với giáo xứ đều có tư cách pháp nhân theo giáo luật" Mỗi giáo xứ có một linh
mục chánh xứ (hay còn gọi là Cha sở) phụ trách Ở những giáo xứ lớn có thể có
linh mục phó xứ hoặc các phó tế giúp việc linh mục có tư cách là người thay mặt
Trang 35cho giáo hội ở từng giáo xứ Linh mục có nhiệm vụ rao giảng Phúc âm, truyền đạt các chủ trương của giáo hội, quản lý giáo xứ bằng giáo luật của Hội Thánh
Bên cạnh đó, giáo xứ ở nông thôn cũng có những đặc trưng cơ bản của một cộng đồng làng-xã với mối quan hệ tương tác qua lại giữa các cá nhân trong cộng đồng dựa trên tính huyết thống, cùng một địa vực, cùng hoạt động kinh tế, cùng niềm tin và hoạt động tôn giáo tín ngưỡng trong cộng đồng Giáo xứ vừa mang tính chất một cộng đồng xã hội, vừa mang tính chất cộng đồng tôn giáo
Trong luận án này chúng tôi quan tâm đến cộng đồng người Việt Công giáo di cư năm 1954 Vì vậy cộng đồng cư dân Công giáo trước hết là cộng đồng người Việt với tất cả các đặc trưng vốn có của nó Bên cạnh đó, nó còn có những đặc điểm riêng mà sinh hoạt tôn giáo – Công giáo giữ vai trò chủ đạo
Tùy theo tỷ lệ tín đồ trong mỗi cộng đồng mà có thể phân chia cộng đồng
cư dân Công giáo thành những loại hình khác nhau Chẳng hạn như cộng đồng cư dân Công giáo “toàn tòng” (100% dân cư theo Công giáo) hay cộng đồng “xôi đỗ”, tức là cộng đồng người Công giáo cộng cư với những người theo tôn giáo khác trên cùng một địa vực Trong các cộng đồng cư dân Công giáo di cư năm
1954 còn có đặc điểm cộng đồng “toàn gốc”: bao gồm những người cùng một quê di cư tới vùng đất mới sinh sống trong một giáo xứ; cộng đồng “gom tạp”
bao gồm những người nhiều quê khác nhau và đến cư trú tại một cộng đồng ở những thời điểm khác nhau
Như vậy, cộng đồng giáo xứ đối với người Công giáo di cư vừa mang tính chất là tổ chức tôn giáo, vừa mang tính chất là tổ chức xã hội với đầy đủ đặc trưng cơ bản cộng đồng làng xã của người Việt, trong đó vai trò tôn giáo được đề cao và tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của dân chúng
Trong luận án này, ngoài các khái niệm chính yếu giải thích ý nghĩa vấn
đề cộng đồng xã hội, chúng tôi còn quan tâm đến góc độ hành động xã hội đặt trong bối cảnh đương đại Đặc biệt là quá trình hiện đại hóa đang diễn ra trong
bối cảnh xã hội Việt Nam từ sau thời kỳ đổi mới Chính vì vậy, các thuật ngữ hiện
đại hóa, tư duy chiến lược hay chiến lược ứng xử cũng được xem là những thuật
Trang 36ngữ then chốt của luận án
- Hiện đại hóa: Theo Trần Hữu Quang , trong bài viết “ Khái niệm hiện đại hóa ” , đăng trên tạp chí Xã hội học, số 2 (90), 2005, thuật ngữ hiện đại
(modern) xuất hiện từ thời Phục hưng ở châu Âu thường được hiểu theo nghĩa đối
lập với thuật ngữ cổ xưa (ancient) hay truyền thống (traditional) Phải đến Hegel
thì người ta mới thấy có sự phân tích nghiêm cẩn và sâu sắc nhất về thân phận của con người hiện đại: đó là con người đặt lịch sử trước mặt mình, và đặt mình trước lịch sử, và suy tưởng xem có sự hài hòa giữa hai cái này với nhau hay không Đặc trưng của tính hiện đại (modernity) theo Hegel là ở chỗ con người tự đặt mình vào lịch sử một cách có ý thức [ 166, 1982: 302 – 303]
Trong khi đó, Nguyễn Ngọc Giao, trong bài Xã hội dân sự, Trung Quốc
và Việt Nam, đăng trên tạp chí Thời đại mới, số 13, tháng 3 năm 2009 [178], đã
khái quát luận điểm của Hegel về việc phân biệt xã hội tiền-hiện đại và xã hội
hiện đại
Xã hội tiền hiện đại có hai đặc điểm: con người bị chìm đắm trong cái
bản thể (xã hội) và bị cai trị một cách trực tiếp, không có sự trung giới; chỉ có sự
phân biệt giữa “xã hội” tự nhiên và riêng tư của gia đình với “xã hội” công cộng
và nhân tạo của nhà nước chính trị Trong một trật tự xã hội như thế, không có chỗ cho những cá nhân hoạt động với tư cách là những “personnes” và những
“chủ thể” sử dụng sự tự do lựa chọn của mình để theo đuổi những mục đích riêng
và phát triển tính cá nhân độc đáo của mình trên vũ đài công cộng rộng hơn của đời sống xã hội
Còn trong xã hội hiện đại, con người hiện đại hiểu chính mình như là
personnes (…) có quyền tự do lựa chọn trong lĩnh vực ngày càng rộng rãi Lĩnh
vực này bắt đầu với thân thể của mình, rồi mở rộng ra thành những gì được gọi là
“tài sản cá nhân” Với Hegel, hình thức chính đáng duy nhất của tài sản được xã
hội hiện đại thừa nhận là sự tư hữu Con người hiện đại còn hiểu chính mình như
là những chủ thể mang lại ý nghĩa cho cuộc đời thông qua những sự lựa chọn của
mình Chủ thể đòi hỏi một lối sống tự chủ, xem hành động của mình là kết quả
Trang 37của sự lựa chọn chứ không phải của tập quán hay của sự cưỡng chế xã hội Ðiều
này cần có cấu trúc xã hội mà Hegel gọi là “sự tự do chủ quan”
Tác giả Trần Hữu Quang cũng cho rằng, khái niệm hiện đại hóa còn
được hiểu theo nghĩa là quá trình chuyển biến xã hội từ xã hội cổ truyền sang xã
hội hiện đại, và ông phân loại quá trình hiện đại hóa trong mấy lĩnh vực sau [a]
Hiện đại hóa về mặt chính trị là phát triển các định chế chính trị chủ yếu, như các chính đảng, nghị viện, quyền bầu cử, tức là những định chế tạo điều kiện cho con người có thể tham gia vào quá trình đưa ra các quyết định [b] Hiện đại hóa về mặt văn hóa được thể hiện chủ yếu trong quá trình thế tục hóa (secularisation) và hình thành tư tưởng quốc gia dân tộc [c] Hiện đại hóa về mặt kinh tế (không đồng nhất với khái niệm công nghiệp hóa) là quá trình diễn ra những thay đổi sâu sắc về mặt kinh tế, như ngày càng gia tăng mức độ phân công lao động, sử dụng các kỹ thuật quản trị, các công nghệ mới, và sự lớn mạnh của các hệ thống thương mại và các giao dịch thương mại [d] Còn hiện đại hóa về mặt xã hội thì được thể hiện qua hiện tượng gia tăng số người biết chữ, hiện tượng đô thị hóa, sự suy giảm của loại quyền lực cổ truyền, sự xuất hiện của xu hướng cá nhân (individualism) Tất cả những thay đổi kể trên được coi như nằm trong quá trình ngày càng dị biệt hóa (differentiation) về mặt xã hội và về mặt cấu trúc [ 77 : 103 – 104]
- Tƣ duy chiến lƣợc (Strategic Thinking) hay chiến lƣợc ứng xử
(Behaviour Strategy) là thuật ngữ được dùng phổ biến bởi các nhà kinh tế học, hay những nhà hoạch định kinh doanh [142, 2007] Nó được xem là quá trình đưa
ra những quyết định quan trọng trong các hoạt động kinh doanh, chính trị, quân
sự… được khái quát trong các luận điểm của Lý thuyết trò chơi Tuy nhiên, quan
điểm lý thuyết này, theo chúng tôi không chỉ dừng lại trong vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự mà ngay cả cuộc đời của mỗi cá nhân cũng được xem như là một trò chơi Ở đó trong mỗi nấc thăng tiến xã hội, chúng ta luôn luôn phải đưa ra những lựa chọn hay những quyết định mang tính chiến lược nhằm đạt mục đích thăng
Trang 38tiến bản thân nhưng vẫn đảm bảo được những chuẩn mực trong các tầng cấu trúc
xã hội mà mình đang sống
Tư duy chiến lược tập trung vào việc tìm kiếm và phát hiện những cơ hội thăng tiến trong xã hội bằng cách phát huy các thế mạnh của bản thân trong các mối tương quan với những cá nhân có ảnh hưởng đến bản thân và cộng đồng xã hội mình đang sống Tư duy chiến lược chính là phương cách đầu tư vào tương lai, biến tương lai thành hiện thực với việc nhận thức đặc điểm bản thân từ quá khứ đến hiện tại và tiên kiến được tương lai Còn chiến lược ứng xử là việc chủ thể hành động nhận thức được vai trò của mình trong các mối quan hệ xã hội trước khi đưa ra những quyết định hay có lối ứng xử nhằm đem lại những lợi ích, hay có ý nghĩa với bản thân mình Đôi khi những chiến lược ứng xử chỉ mang ý nghĩa với cá nhân này, hay nhóm xã hội này mà không có ý nghĩa với cá nhân khác, hay nhóm xã hội khác không cùng quan niệm tiến thân trong xã hội
Như thế, mỗi cá nhân luôn có lý do để lựa chọn hợp lý cho hành động của mình, tùy vào cảnh quan xã hội mình sinh sống Ở đó, người ta luôn luôn đặt cho mình câu hỏi chúng ta phải xử sự như thế nào trong xã hội? Bởi chúng ta không hành động trong môi trường chân không Mà các quyết định của cá nhân luôn chịu sự tác động hay nói cách khác là chịu sự chi phối bởi các cấu trúc xã hội như gia đình, dòng họ, tôn giáo, nhà nước
1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói cộng đồng làng-xã Việt Nam là một trong những đối tượng nghiên cứu chính của ngành khoa học xã hội ở Việt Nam Từ hàng trăm năm qua, lĩnh vực này đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm
Từ cuối thế kỷ XIX, khi người Pháp xâm chiếm và biến Việt Nam thành thuộc địa của họ, các nhà nghiên cứu người Pháp đã bắt tay ngay vào tìm hiểu
làng xã Việt Nam Theo Nguyễn Văn Phong qua công trình “La société
Vietnamienne de 1882 à 1902 d’après les écrits des auteurs français” (Xã hội
Việt Nam từ năm 1882 đến năm 1902 qua những công trình nghiên cứu của các
Trang 39tác giả người Pháp) xuất bản năm 1971 cho biết từ năm 1882 đến năm 1902 có 11 người Pháp viết về làng xã Việt Nam
Một trong những tác giả người Pháp nghiên cứu về làng xã Việt Nam cần
nhắc đến là Pierre Gourou với quyển Người Nông dân châu thổ Bắc kỳ Công
trình này đã được dịch giả Đào Hùng và các cộng sự viên chuyển ngữ và xuất bản năm 2003 Công trình nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ địa lý nhân văn đã khái quát được đời sống văn hóa xã hội của người nông dân vùng châu thổ Bắc kỳ những năm đầu thế kỷ XX Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến các công trình của các vị thừa sai người Pháp, họ cũng đã có những đóng góp đáng kể trong việc ghi chép lại các phong tục tập quán của người Việt lúc bấy giờ, tiêu biểu có tác giả
Leopold Cadière với công trình Tôn giáo người Việt, trong Văn hóa, Tôn giáo, tín
ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan học giả L Cadière do dịch giả Đỗ Trinh Huệ
biên khảo giới thiệu năm 2006
Đến giai đoạn sau năm 1954, Việt Nam bị chia cắt bởi hiệp định Genève, việc nghiên cứu về xã thôn ở miền Nam, Việt Nam cũng được các học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu Công trình nghiên cứu xã thôn được ghi nhận là một
trong những công trình điển cứu làng-xã đầu tiên ở Nam bộ là công trình Nghiên
cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam do học giả Gerald C.Hickey dẫn đầu phái
đoàn cổ văn đại học đường Tiểu bang Michigan đến Việt Nam tiến hành nghiên cứu đời sống cư dân ở ấp Dinh, xã Khánh Hậu (CT: 2), ở vùng đồng bằng sông Cửu Long vào tháng Giêng năm 1960 Công trình nghiên cứu khảo tả tổng thể đời sống văn hóa làng xã cư dân Nam bộ bấy giờ với đầy đủ các thiết chế xã hội văn hóa, giáo dục, chính trị.v.v
Ở Việt Nam, làng-xã được xem là một chủ đề được quan tâm nhiều trong giới khoa học xã hội khi viết về xã hội Việt Nam Các nhà sử học, dân tộc học, văn hóa học thường xoay quanh các vấn đề chế độ ruộng đất ở làng xã, tiêu biểu
cho thời kỳ này là công trình Vấn đề dân cày (1937) của Qua Ninh - Vân Đình
Sau Cách mạng tháng tám năm 1945, việc nghiên cứu làng xã Việt Nam
ở miền Bắc càng được coi trọng hơn cùng với một lực lượng các nhà nghiên cứu
Trang 40đông đảo đứng trên lập trường nghiên cứu Marxist Các tác giả tiêu biểu là
Nguyễn Hồng Phong (1959) với Xã thôn Việt Nam Giữa những năm 1970, Viện
sử học Việt Nam mở hai cuộc hội thảo và cho xuất bản hai tập kỷ yếu Nông thôn
Việt Nam trong lịch sử [Nxb KHXH, Hà Nội, 1978]
Sau ngày thống nhất đất nước (1975) hàng loạt các công trình nghiên cứu
được thực hiện như: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam (tập I – II, năm 1982 – 1983) của giáo sư Trương Hữu Quýnh; Lệ làng phép nước (1985) của Bùi Xuân
Đính.v.v Nhìn chung các công trình này đã khái quát về xã hội nông thôn truyền thống của Việt Nam thông qua cơ cấu tổ chức, tính dân chủ làng xã và đời sống văn hóa tinh thần của nông dân Việt Nam
Đặc biệt, chúng tôi còn tiếp xúc được các tác phẩm của tác giả Nguyễn
Từ Chi (Trần Từ) với quyển Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc bộ
(1984) và quyển sách tập hợp những bài viết xuất sắc của ông do các học trò sưu
tầm được Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người do Nhà xuất bản Văn hóa
dân tộc ấn hành năm 2003 Trong đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các cách
phân loại tổng thể cơ cấu xã hội ở làng - xã cổ truyền được tạo thành những hình
thức tập hợp người sau: Tập hợp người theo địa vực; Tập hợp người theo huyết
thống - họ; Tập hợp người theo lớp tuổi; Tập hợp người trong bộ máy chính quyền ở cấp xã; Tập hợp người trong những tổ chức dựa trên lòng tự nguyện tham gia của từng cá nhân - phe, hội, phường Ông được xem là một trong những
người đầu tiên hệ thống hóa các đặc điểm cơ cấu làng xã cổ truyền Việt Nam Đó cũng là nền tảng cơ bản cho các nhà nghiên cứu làng-xã Việt Nam kế thừa từ sự
hệ thống hóa này Thật ra, chính cách phân chia các đặc điểm cấu trúc làng-xã cổ truyền của người Việt, ông đã thể hiện nền tảng lý thuyết cấu trúc luận phương Tây, dù rằng chính bản thân ông không khẳng định điều này Nhìn dưới góc độ này, chúng ta có thể dễ dàng nhận biết mô hình xã hội cổ truyền của người Việt với các bộ phận xã hội hợp thành nhưng lại khó khăn trong việc tìm hiểu những động thái biến đổi cấu trúc cộng đồng đang diễn ra trong bối cảnh đương đại