1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa việt nam qua truyền kỳ tân phả của đoàn thị điểm

170 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa Việt Nam qua Truyền kỳ Tân Phả của Đoàn Thị Điểm
Tác giả Lưu Nguyễn Thảo Nguyên
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Công Lý
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, với ý thức xây dựng một nền văn hóa độc lập, tự cường nên các tác giả văn học trung đại Việt Nam luôn lấy văn hóa và văn học dân gian làm nền tảng, vì thế các tác phẩm đã tự t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

∞∞∞∞∞

LƯU NGUYỄN THẢO NGUYÊN

VĂN HÓA VIỆT NAM QUA

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

∞∞∞∞∞

LƯU NGUYỄN THẢO NGUYÊN

VĂN HÓA VIỆT NAM QUA

TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ

CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

3 PGS.TS Đoàn Thị Thu Vân

4 PGS.TS Lê Thu Yến

5 TS Lê Quang Trường

Chủ tịch Hội đồng Thư ký Hội đồng Phản biện 1 Phản biện 2

Ủy viên Hội đồng

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học với đề tài: “Văn hóa Việt Nam qua Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm”, là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Công Lý

Các tư liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Tác giả luận văn Lưu Nguyễn Thảo Nguyên

Trang 4

Trước tiên, với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

tới PGS TS Nguyễn Công Lý, đã gợi ý đề tài và nhiệt tình hướng dẫn khoa học

cho tác giả để luận văn được hoàn thành!

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô khoa Văn hóa học trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

đã hết sức giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu tại khoa, trường!

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn thạc sĩ của mình!

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn Lưu Nguyễn Thảo Nguyên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Lịch sử vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8

7 Cấu trúc của luận văn 9

CHƯƠNG 1 TƯƠNG TÁC GIỮA VĂN HOÁ VÀ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN 11

1.1 Hướng tiếp cận văn hóa học đối với văn học 11

1.1.1 Khái niệm văn hóa 11

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 15

1.1.3 Phương pháp tiếp cận văn hoá học đối với văn học 17

1.2 Nét đặc thù của văn hóa và văn học trung đại Việt Nam 20

1.2.1 Nét đặc thù của văn hóa trung đại Việt Nam 20

1.2.2 Nét đặc thù của văn học trung đại Việt Nam 30

1.3 Đoàn Thị Điểm và khởi nguồn của Truyền kỳ tân phả 33

1.3.1 Thân thế và sự nghiệp văn chương của Đoàn Thị Điểm 34

Trang 6

1.3.2 Sự tương tác giữa văn hóa dân gian và văn học trung đại Việt Nam khởi

nguồn của Truyền kỳ tân phả 38

Tiểu kết 47

CHƯƠNG 2 YẾU TỐ DÂN GIAN TRONG HÀNH TRÌNH CỐT TRUYỆN TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ 49

2.1 Cốt truyện Truyền kỳ tân phả chịu ảnh hưởng từ cốt truyện tự sự dân gian……… 50

2.1.1 Cốt truyện Truyền kỳ tân phả tiếp thu yếu tố kỳ ảo của tự sự dân gian 50

2.1.2 Cốt truyện Truyền kỳ tân phả tiếp thu mẫu hình của tự sự dân gian 66

2.2 Cốt truyện tự sự dân gian trên bình diện thẩm mỹ mới trong cốt truyện Truyền kỳ tân phả 73

2.3 Con đường trở về với dân gian của cốt truyện Truyền kỳ tân phả 76

2.3.1 Cốt truyện Truyền kỳ tân phả trở về với dân gian qua thần tích và thần sắc……… 77

2.3.2 Cốt truyện Truyền kỳ tân phả trở về với dân gian qua chầu văn và diễn ca……… 80

2.3.3 Cốt truyện Truyền kỳ tân phả trở về với dân gian qua những sưu tầm truyền thuyết và cổ tích ở thời hiện đại 84

Tiểu kết 87

CHƯƠNG 3 BIỂU HIỆN VĂN HOÁ CỦA NHỮNG CON NGƯỜI LÀ CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ 89

3.1 Những con người có lối tư duy trên nền tảng triết lý lưỡng phân lưỡng hợp………90

3.2 Những con người trong tổ chức đời sống cộng đồng 93

3.2.1 Con người trong tổ chức gia đình 93

3.2.2 Con người trong tổ chức làng xã 95

Trang 7

3.2.3 Con người trong tổ chức quốc gia 97

3.3 Những con người biết thích ứng với điều kiện tự nhiên 100

3.3.1 Tận dụng thiên nhiên qua ăn uống 101

3.3.2 Hòa hợp với thiên nhiên qua mặc, ở và đi lại 105

3.4 Những con người ảnh hưởng nét tinh hoa từ hai nền văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc 110

3.4.1 Ảnh hưởng nét tinh hoa văn hóa Ấn Độ 111

3.4.2 Ảnh hưởng nét tinh hoa văn hóa Trung Quốc 113

3.5 Những con người thần thánh linh thiêng trong tín ngưỡng – tôn giáo 115 3.5.1 Thánh Mẫu Liễu Hạnh 116

3.5.2 Chế Thắng phu nhân và Trinh Liệt phu nhân 117

3.5.3 An Quốc chân nhân (Tú Uyên) 119

3.6 Những người phụ nữ mang vẻ đẹp truyền thống 121

3.6.1 Vẻ đẹp trong ngoại hình và ngôn ngữ 122

3.6.2 Vẻ đẹp trong tâm hồn và phẩm hạnh 124

3.6.3 Vẻ đẹp trong vai trò và năng lực 130

3.6.4 Vẻ đẹp trong những thắng lợi 135

3.6.5 Vẻ đẹp trong những số phận 138

Tiểu kết 143

KẾT LUẬN 144

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 147 TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Văn học là sự tự ý thức văn hóa” Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một biểu hiện sinh động của văn hóa, một sản phẩm đã được định hình của văn hóa, hay nói cách khác, văn học mang giá trị tự thân của văn hóa được biểu hiện bằng nghệ thuật ngôn từ Hơn nữa, văn học không chỉ tham gia vào con đường hình thành những giá trị văn hóa mà còn là phương tiện lưu giữ những thành quả của các quá trình hoạt động văn hóa Và cũng chính vì vậy, thông qua các tác phẩm văn học của từng thời đại, các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu về văn hóa, nhận diện văn hóa ở các thời đại khác nhau

Nằm trong quá trình phát triển liên tục của văn học nhưng văn học trung đại Việt Nam lại mang những đặc trưng và quy luật riêng Văn học trung đại Việt Nam được tính từ sau chiến công của Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên dòng

sông Bạch Đằng vào mùa đông năm 938, mở ra kỷ nguyên mới: “Kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thống nhất cộng đồng” [Nguyễn Công Lý, Mấy đặc trưng về thời đại Lý – Trần, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 3 năm 2000] Đây

là thời gian ông cha ta từng bước khôi phục và phát triển nền văn hóa dân tộc, vậy nên dù văn học trung đại Việt Nam vẫn mang mô hình phát triển chung giống như tất cả các nước trên thế giới nhưng hệ thống giá trị, phương thức cảm nhận và tư duy có nhiều nét khác biệt, ảnh hưởng từ yếu tố đặc thù Việt Nam Một trong những đặc điểm của thời đại này là văn học trung đại Việt Nam vẫn còn phải “vay mượn” thể loại và chữ viết có nguồn gốc từ Trung Quốc Tuy nhiên, với ý thức xây dựng một nền văn hóa độc lập, tự cường nên các tác giả văn học trung đại Việt Nam luôn lấy văn hóa và văn học dân gian làm nền tảng, vì thế các tác phẩm đã tự

thân bảo lưu được những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm một tác phẩm quan trọng của văn học trung đại Việt Nam

cũng không nằm ngoài qui luật ấy

Truyền kỳ là một hình thức “tiểu thuyết” của Trung Quốc, bắt nguồn từ “tiểu thuyết” chí quái, chí nhân, chí dị trước đó, nở rộ ở đời Đường (618 - 907), cực thịnh

Trang 9

ở đời Tống (960 - 1279), rồi tiếp tục phát huy ảnh hưởng đến văn học Đông Á, văn học Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

Truyện truyền kỳ Việt Nam tiếp thu hình thức và đặc trưng thi pháp thể loại truyện truyền kỳ của văn học Trung Quốc, nhưng lại thể hiện những câu chuyện thuần Việt với cốt cách văn hoá Việt, tâm hồn Việt, đời sống Việt, trong đó nét chủ đạo là văn hóa tâm linh và đời sống tâm linh của con người Việt Từ những truyện

có yếu tố kỳ ảo thời Lý, thời Trần, đến cuối thế kỷ XV Lê Thánh Tông viết Thánh Tông di thảo – Đây là tác phẩm viết theo thể loại truyền kỳ đầu tiên ở Việt Nam

Sang nửa đầu thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ đã viết lại những câu chuyện dân gian rồi

thổi vào đó cái hồn của thời đại trong áng “Thiên cổ kỳ bút”: Truyền kỳ mạn lục Đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm viết Truyền kỳ tân phả Điểm đặc biệt là những cốt truyện trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm đều

có “nguyên mẫu” từ dân gian hoặc hình thành từ chất liệu dân gian, rồi sau khi thành tác phẩm văn học phần lớn lại đã mau chóng trở về với dân gian Hơn thế,

Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm còn biểu hiện văn hóa Việt Nam trên một

bình diện rộng thông qua những con người trong thế giới nhân vật của tác phẩm

Nhận diện văn hóa Việt Nam thông qua các tác phẩm văn học của các tác giả nổi tiếng là một hướng tiếp cận mà ngành Văn hóa học đã khai thác và gặt hái không ít thành công Còn nhận diện văn hóa Việt Nam thông qua các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, nhất là các tác phẩm viết bằng chữ Hán, thì dường như vẫn còn khá mới mẻ, thành tựu chưa có nhiều Điều đó cũng dễ hiểu, bởi các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán thường có độ lùi thời gian khá xa nên khó đọc, khó cảm Điểm mạnh của các tác phẩm này chính là “độ dày” của các

“thông tin” về văn hóa dân gian Nhưng đây cũng chính là “thách thức” cho những người nghiên cứu văn hoá học Bởi sự vận động khá phức tạp của các thành tố văn hóa trong chiều sâu thời gian, trong rộng lớn không gian, hơn nữa các thành tố văn hóa này luôn có xu hướng vượt ra ngoài tác phẩm Hướng nghiên cứu này, nếu thành công sẽ mở ra nhiều triển vọng trong việc tìm hiểu văn hóa Việt Nam thông qua các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán, cũng như góp phần định hướng văn hóa trong điều kiện mới, và trên hết chứng minh tính khả thi của phương pháp nghiên cứu đa ngành và liên ngành trong văn hóa học

Trang 10

Nhận thức như trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Văn hóa Việt Nam qua

Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn này nhằm tìm hiểu, làm rõ đặc trưng văn

hóa Việt Nam trong Truyền kỳ tân phả và cả những đóng góp của Truyền kỳ tân phả đối với tiến trình phát triển văn hóa Việt Nam Qua đó, góp phần bổ sung tư

liệu vào chuyên ngành Văn hóa học trong việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam, góp thêm tiền đề vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay

3 Lịch sử vấn đề

Xuất hiện ở nửa đầu thế kỷ XVIII, Truyền kỳ tân phả của nữ sĩ tài hoa Đoàn

Thị Điểm đã được giới trí thức Nho giáo và cả cộng đồng “bình dân” đón nhận

nồng nhiệt vì sự đổi mới và khác lạ, bởi cốt truyện Truyền kỳ tân phả không chỉ đều

có “nguyên mẫu” từ dân gian hoặc hình thành từ chất liệu dân gian mà còn vì phần

lớn các cốt truyện trong Truyền kỳ tân phả thể hiện những “việc thật” gần gũi thân

quen, gắn liền với tục thờ cúng dân gian, nên sau khi đã trở thành hình tượng văn học lại đã mau chóng trở lại với dân gian, có sức lan tỏa mạnh mẽ đến đời sống, đến

tâm linh cộng đồng Mặt khác, thế giới nhân vật trong Truyền kỳ tân phả không chỉ

là thế giới của các thánh thần mà còn là thế giới của những “người thật” Đó là những vị thần có hành trạng sáng tỏ, “sống làm tiết nghĩa, chết nên phúc thần” được nhân dân sùng kính, phụng thờ Đó còn là những phu nhân, những nho sĩ, những vị vua… có thật trong lịch sử, nổi tiếng một thời Dù ít nhiều vẫn còn những hạn chế,

nhưng có thể coi đây là thành công lớn mà Đoàn Thị Điểm qua Truyền kỳ tân phả

đã mang đến cho văn hóa và văn học Việt Nam

Sau đây là một số bài viết và công trình nghiên cứu đáng chú ý về tác giả

Đoàn Thị Điểm và tác phẩm Truyền kỳ tân phả

Là một thiếu phụ có danh nhất trong làng văn nhưng tài liệu về Đoàn Thị

Điểm không nhiều Và như vậy Truyền kỳ tân phả cũng phải chịu chung số phận này Các tác giả như Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án trong Tang thương ngẫu lục, Đan Sơn trong Sơn cư tạp thuật… (viết khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX),

Trang 11

và một số tác giả cùng thời có nhắc tới Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả nhưng

với nội dung chỉ giới thiệu qua Đáng chú ý nhất là danh sĩ Phan Huy Chú trong

Lịch triều hiến chương loại chí (viết đầu thế kỷ XIX) mục “Văn tịch chí” có ghi như sau: “Tục truyền kỳ một quyển, nữ học sĩ Đoàn Thị Điểm soạn, ghi chép những cuộc hội ngộ linh dị…”

Việc nghiên cứu về Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả được khởi động

vào đầu thế kỷ XX khi Phan Kế Bính “góp nhặt” từ các nguồn tài liệu cũ, dịch ra

chữ quốc ngữ, đưa vào Nam Hải dị nhân liệt truyện, viết năm 1912 Tiếp tới là Trúc Khê với Những tài liệu mới về nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, Tiểu thuyết thứ Bảy, số 4, tháng 7 – 1944; Thuần Phong với Chinh phụ ngâm khúc giảng luận, bản kỳ nhì, Sài Gòn, Văn hoá xuất bản (1952); Hoàng Xuân Hãn với Chinh phụ ngâm bị khảo,

Paris: Minh Tân, (1953)…

Công việc nghiên cứu về Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả chỉ thật sự

được đẩy mạnh bắt đầu từ giữa thế kỷ XX đến nay, với những bài viết khác nhau trong các giáo trình giảng dạy ở bậc đại học và các công trình nghiên cứu về văn học trung đại Việt Nam, cũng như trong các công trình nghiên cứu về Hán Nôm Cụ thể như sau:

Trong Việt Nam thi văn giảng luận, Nhà xuất bản Đại Nam (1951) tác giả

Hà Như Chi đã giới thiệu tiểu sử Đoàn Thị Điểm và liệt kê lại tác phẩm của bà

trong đó có Tục truyền kỳ – trang 151

Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Tập 2, Quốc học Tùng Thư,

Phạm Thế xuất bản, Sài Gòn (1961), Phạm Thế Ngũ đã viết tiểu sử Đoàn Thị Điểm

rất tỉ mỉ, nhưng về Truyền kỳ tân phả tác giả chỉ có một câu “…Bà có soạn tập truyện Truyền kỳ tân phả bằng chữ Hán…” – trang 194

Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, Tập 3, Tủ sách Đại học Sư phạm I

Hà Nội, của nhóm tác giả Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Văn Luận,

Lê Hoài Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, in lần đầu 1963, in lần thứ năm có sửa chữa (1978), chương I và chương II do Đặng Thanh Lê viết Chương I có nhắc

đến Đoàn Thị Điểm và tập Truyền kỳ tân phả (các trang 18, 20, 21, 27, 30) “Gồm nhiều truyện ngắn với nội dung trữ tình sâu sắc, bên cạnh yếu tố thần linh duy tâm”

– trang 21 Văn học giai đoạn thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX đã phản ánh

Trang 12

nguyện vọng về tự do, hạnh phúc, những ước mơ giải phóng của con người bị áp

bức trong những tác phẩm như Chim trong lồng, Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc, Sơ kính tân trang, Nữ tú tài, Hương miết hành, Lâm truyền kỳ ngộ, Truyền kỳ tân phả Giáo trình viết: Ngay cả Đoàn Thị Điểm, một phụ

nữ dòng dõi nho gia, cũng để nhân vật mình bào chữa thái độ bất chấp lễ giáo bằng cách trách người đàn ông: “Người trượng phu không cần câu chấp lễ nghi lặt vặt” – trang 27 Chương II giáo trình viết về tác phẩm Chinh phụ ngâm nguyên tác

bản dịch, có một mục viết về tác giả Đoàn Thị Điểm – trang 37 – 38

Trong giáo trình Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế

kỷ XIX), Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1976), tác giả Nguyễn

Lộc đã giới thiệu tóm tắt tiểu sử và sự nghiệp văn chương của Đoàn Thị Điểm Trong tác phẩm này Nguyễn Lộc còn khái quát so sánh giá trị nghệ thuật giữa

Truyền kỳ tân phả với truyện Truyền kỳ trong văn học Việt Nam thời trung đại, nhất

là truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ – trang 149

Trong giáo trình Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX), Nhà xuất bản Giáo dục (1990), các tác giả Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên,

Phạm Luận, có giới thiệu về Đoàn Thị Điểm và tác phẩm chính viết bằng chữ Hán

còn để lại là tập Truyền kỳ tân phả – trang 50

Trong Từ điển văn học, Tập 1 (A–M), Nhà xuất bản Khoa học xã hội

(1983), Nguyễn Lộc đã giới thiệu tóm tắt về Đoàn Thị Điểm, trong đó có nhắc tới

Truyền kỳ tân phả cùng lời khen của Phan Huy Chú – trang 216 Sau đó, trong Từ điển văn học bộ mới, Nhà xuất bản Thế giới (2004), mục từ viết về Đoàn Thị Điểm, trang 433 – 434 không có gì khác so với Từ điển văn học, Tập 1, bởi đều do

Nguyễn Lộc viết

Trong công trình Lược truyện các tác gia Việt Nam, Tập 1, Nhà xuất bản

Khoa học xã hội (1997), nhóm tác giả Trần Văn Giáp (chủ biên), Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Trường Phượng, Đỗ Thiện, viết khá kỹ về Đoàn Thị

Điểm và tác phẩm Truyền kỳ tân phả của bà – trang 287 – 288

Trong chuyên khảo Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nhà

xuất bản Giáo dục (1999) của Trần Đình Sử, ở mục truyện Truyền kỳ có giới thiệu

và nhận xét về Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm – trang 299

Trang 13

Tóm lại, các nhà nghiên cứu đều khá thống nhất trong việc đề cao cuộc đời

và sự nghiệp văn học của Đoàn Thị Điểm Đặc biệt là tác phẩm văn xuôi chữ Hán

Truyền kỳ tân phả với nhiều nét “canh tân” từ văn học trung đại Việt Nam Và theo

cùng với nó là một số (không nhiều) các luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học

Việt Nam và ngành Hán Nôm được thực hiện, như Nguyễn Hữu Hòa (2010), Thế giới nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, luận văn Thạc sĩ ngành Văn học, Trường Đại học Vinh; Lê Tùng Lâm (2011) Văn bản Truyền kỳ tân phả và mối quan hệ với các thần tích, luận văn Thạc sĩ ngành Hán Nôm, Trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội… Đáng chú ý là

nghiên cứu của Olga Dror: “Vân Cát thần nữ truyện của Đoàn Thị Điểm: Truyện giải phóng người phụ nữ”, Lê Thị Huệ dịch, http://www.gio-o.com, với nhiều phát hiện thú vị về Vân Cát thần nữ lục – Truyền kỳ tân phả từ góc nhìn nữ quyền và

giải phóng phụ nữ

Như vậy, các công trình nghiên cứu về Truyền kỳ tân phả đều thuộc chuyên

ngành Văn học, ngành Hán Nôm… Lẽ dĩ nhiên, trong các công trình đó ít nhiều có

đề cập đến văn hóa, nhưng do tập trung khảo sát Truyền kỳ tân phả với tư cách là

đối tượng của ngành Văn học và ngành Hán Nôm… nên ở các công trình đó văn hóa được đề cập với dung lượng không nhiều và không có tính hệ thống…

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu Truyền kỳ tân phả có thể thấy, các bài viết, các

công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những nhận định sơ lược về văn hóa, chưa

có các công trình nghiên cứu về văn hóa có tính hệ thống, càng không có các công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về văn hóa qua tác phẩm… Với luận văn này, chúng tôi sẽ tiếp thu những thành tựu trên và cố gắng khảo sát một cách hệ

thống, thấu đáo Truyền kỳ tân phả, từ đó chỉ ra những đặc trưng văn hóa Việt Nam

trong tác phẩm và cả những đóng góp của tác phẩm đối với tiến trình phát triển văn hóa Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa Việt Nam được tái hiện trong Truyền kỳ tân phả cùng với ảnh hưởng của tác phẩm đối với tiến trình phát triển văn hóa Việt

Nam

Trang 14

Phạm vi nghiên cứu: Về văn hóa Việt Nam qua Truyền kỳ tân phả của Đoàn

Thị Điểm có nhiều vấn đề cần được nghiên cứu Tuy nhiên, trong phạm vi điều kiện cho phép, luận văn này chỉ tập trung đi sâu vào khảo sát, phân tích dưới góc nhìn

văn hóa học qua văn bản văn học Truyền kỳ tân phả ở hai hướng chính như sau:

Yếu tố dân gian trong hành trình của cốt truyện và biểu hiện văn hóa của những con người là các nhân vật trong tác phẩm Hướng nghiên cứu cơ bản của luận văn là như thế, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi cái đều nằm trong văn bản văn học

Truyền kỳ tân phả Chẳng hạn, hai truyện trong Truyền kỳ tân phả có “nguyên mẫu”

từ truyền thuyết dân gian, nhưng chỉ riêng Vân Cát thần nữ lục đã có “tầng tầng lớp

lớp” truyền thuyết dân gian về Liễu Hạnh Vì vậy, chúng tôi sẽ chỉ xem xét các truyền thuyết dân gian ở các địa phương mà Liễu Hạnh đã xuất hiện như trong nội dung của tác phẩm (Nam Định, Lạng Sơn, Thanh Hoá, Nghệ An, Thăng Long…)

Thêm nữa, để có thể chỉ ra ảnh hưởng của cốt truyện Truyền kỳ tân phả đối với văn

hóa dân gian, chẳng hạn như tín ngưỡng dân gian của lễ hội cổ truyền, nhưng đây là vấn đề rất lớn (gồm bản chất và đặc trưng) vì thế chúng tôi sẽ chỉ xem xét phần

“ngoại vi” có liên quan đến tín ngưỡng dân gian của lễ hội cổ truyền thông qua các văn bản còn lưu giữ như “Thần tích và Thần sắc”; “Chầu văn (văn chầu) và Diễn ca”; và “Những sưu tầm truyền thuyết và cổ tích ở thời hiện đại” Đây chỉ là một số vấn đề trong nhiều vấn đề chúng tôi sẽ giới hạn và sẽ được trình bày kỹ trong chính văn, khi triển khai từng nội dung cụ thể của luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về ý nghĩa khoa học: Đối với hướng nghiên cứu văn hóa học qua các tác phẩm văn học trung đại, luận văn sẽ làm sáng tỏ thêm khía cạnh lý luận và phương pháp Đối với vấn đề văn hóa Việt Nam, luận văn góp phần làm rõ đặc trưng văn

hóa Việt Nam tái hiện trong Truyền kỳ tân phả cùng những đóng góp của tác phẩm đối với tiến trình phát triển văn hóa Việt Nam

Về ý nghĩa thực tiễn: Nếu thành công, luận văn sẽ là một đóng góp thiết thực, mở ra hướng nghiên cứu văn hóa học sâu rộng hơn thông qua các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, nhất là các tác phẩm viết bằng chữ Hán

Trang 15

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Phương pháp nghiên cứu: Trong luận văn chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp lịch sử, phương pháp loại hình, phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh… và phương pháp của các chuyên ngành liên quan (phương pháp liên ngành), theo hướng tiếp cận văn hóa

học trên văn bản văn học Truyền kỳ tân phả Ngoài ra, chúng tôi cũng xin được sử

dụng và kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tiền bối Sơ lược như sau:

– Phương pháp lịch sử: Chúng tôi vận dụng phương pháp tiếp cận lịch sử để giải mã các hình tượng văn học, nhằm tìm ra nền tảng văn hóa của chúng trong xã

hội đương thời mà truyền kỳ tân phả đề cập…

– Phương pháp loại hình: Chúng tôi sử dụng phương pháp loại hình để tiếp

cận “nguyên mẫu” tự sự dân gian trong truyền kỳ tân phả như truyền thuyết dân

gian, truyện cổ tích và cả các môtíp dân gian…

– Phương pháp thống kê: Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát, thống kê các hình tượng văn học cũng như các mối quan hệ giữa chúng với tự

sự dân gian, tín ngưỡng dân gian Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các thông tin trong các tư liệu lịch sử, tư liệu văn học để chứng minh luận điểm được đưa ra…

– Phương pháp hệ thống: Truyền kỳ tân phả là một chỉnh thể văn học với

toàn bộ hệ thống cốt truyện, nhân vật… nên chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống nhằm mục đích giúp cho việc bóc tách cũng như đối chiếu với hệ thống văn hóa Việt Nam được dễ dàng, từ đó chỉ ra các thành tố văn hóa Việt Nam tồn tại trong tác phẩm…

– Phương pháp so sánh: Để thấy được mối liên hệ đa dạng, đa chiều cũng

như nét chung, nét riêng của truyền kỳ tân phả, chúng tôi sử dụng phương pháp so

sánh…

– Phương pháp liên ngành: Chúng tôi sử dụng tri thức văn hóa từ một số chuyên ngành liên quan nhằm vận dụng tìm hiểu, lý giải, phân tích, cắt nghĩa một cách khoa học, từ đó đi sâu làm rõ bản chất và đặc trưng văn hóa Việt Nam trong

Trang 16

Truyền kỳ tân phả cùng một số đặc điểm mang tính quy luật của tiến trình phát triển văn hóa Việt Nam qua Truyền kỳ tân phả…

Nguồn tư liệu: Bên cạnh tác phẩm Truyền kỳ tân phả và những tư liệu ghi

chép về Đoàn Thị Điểm, khi thực hiện đề tài chúng tôi còn nghiên cứu tài liệu về một số loại hình văn hóa dân gian liên quan đến sự trở về của tác phẩm (“Danh mục một số Thần tích và thần sắc đã được khảo sát trong luận văn” thể hiện ở phần phụ lục 6), cũng như sách, tạp chí, báo… của các tác giả trong nước và ngoài nước đã công bố về văn hóa Việt Nam Bên cạnh đó chúng tôi cũng xin được sử dụng các giáo trình, các tập bài giảng của các Thầy, Cô Ngoài ra, để có cái nhìn khách quan

và đầy đủ chúng tôi chọn nghiên cứu thêm một số tư liệu lịch sử, tư liệu văn hóa và một số tác phẩm văn học trung đại (“Danh mục một số tác phẩm văn học trung đại

đã được khảo sát trong luận văn” thể hiện ở phần phụ lục 5)

7 Cấu trúc của luận văn

Tìm hiểu “Văn hóa Việt Nam qua Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm”

chúng tôi xác định, cần phải khai thác triệt để thế mạnh vốn có của tác phẩm, thông qua cốt truyện có “nguyên mẫu” từ dân gian sau đó trở về với dân gian và nhân vật

là những con người Việt Nam, biểu hiện văn hóa Việt Nam

Với nhận thức như thế, nên luận văn (151 trang) được cấu trúc như sau: Phần Dẫn nhập (10 trang), phần Kết luận (3 trang), phần Danh mục công trình khoa học liên quan đến luận văn và Tài liệu tham khảo (5 trang), phần Nội dung (133 trang) Phần Nội dung được tổ chức thành ba chương:

Chương 1: Tương tác giữa văn hóa và văn học trung đại Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn (38 trang) Nội dung chính như sau:

 Với cơ sở lý luận văn hóa học các khái niệm văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, đến phương pháp tiếp cận văn hóa học đối với văn học đều đã được làm sáng tỏ, từ đó cho thấy tính khách quan, tất yếu của sự tương tác giữa văn hóa và văn học trung đại

 Đặc thù văn hóa và văn học trung đại Việt Nam chính là tiền đề để hình thành nên thực tiễn tương tác mạnh mẽ giữa văn hóa dân gian và văn học trung đại Việt Nam

Trang 17

 Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm bằng cuộc đời và sự nghiệp văn chương của mình cũng đã hòa chung vào “dòng chảy” tương tác mạnh mẽ giữa văn hóa dân gian và văn học trung đại Việt Nam phát triển qua ba giai đoạn để cho ra đời tác phẩm

Truyền kỳ tân phả ở nửa đầu thế kỷ XVIII, mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam

Chương 2: Yếu tố dân gian trong hành trình cốt truyện Truyền kỳ tân phả (40 trang) Nội dung chính như sau:

 Đoàn Thị Điểm đã tiếp thu tinh hoa của văn hóa dân gian như các yếu tố nghệ thuật kỳ ảo của tự sự dân gian, các mẫu hình của tự sự dân gian để hình

thành cốt truyện Truyền kỳ tân phả

 Đoàn Thị Điểm hoàn toàn có ý thức bảo lưu và nâng tầm văn hóa dân tộc

trong cốt truyện Truyền kỳ tân phả và chính điều đó khiến cốt truyện Truyền kỳ tân phả vừa mang dáng dấp gần gũi của dân gian vừa mang sức sống của thời đại

 Với cách sắp xếp cốt truyện như thế, Đoàn Thị Điểm không chỉ “mở cửa”

để cốt truyện Truyền kỳ tân phả sớm đi trên con đường trở về với dân gian và tham

gia tích cực vào quá trình phát triển văn hóa mà còn tạo ra không gian rộng lớn cho các thành tố văn hóa Việt Nam khác “tràn vào” tác phẩm

Chương 3: Biểu hiện văn hóa của những con người là các nhân vật trong

Truyền kỳ tân phả (55 trang) Nội dung chính như sau:

Thế giới nhân vật đa dạng và phong phú trong Truyền kỳ tân phả là thế

giới của những con người Việt Nam nên biểu hiện văn hóa Việt Nam trên một bình diện rộng, với nhiều cung bậc khác nhau trong đời sống văn hóa

Các hoạt động văn hóa Việt Nam được thể hiện trong Truyền kỳ tân phả

đã “gắn kết” những con người khác nhau, những câu chuyện khác nhau để làm thành một tổng thể xã hội đầy tính nhân văn, nhân bản đem đến cho người đọc dòng cảm thức sâu lắng về nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc

Vẻ đẹp “thiên tính nữ” truyền thống trong Truyền kỳ tân phả đã chỉ ra,

Đoàn Thị Điểm không chỉ hết lòng ngợi ca và bênh vực người phụ nữ Việt Nam mà

bà đã thực sự đề cao giá trị văn hóa tinh thần và mở ra chân trời mới cho quan niệm

về người phụ nữ Việt Nam trước thời đại của mình

Trang 18

Chương 1 TƯƠNG TÁC GIỮA VĂN HOÁ VÀ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

VIỆT NAM TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

1.1 Hướng tiếp cận văn hóa học đối với văn học

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Ý niệm về “văn hóa” xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như ở phương Tây Ngay từ thời Cổ đại “văn hóa” đã xuất hiện ở phương Đông khi người Trung Quốc cho rằng, “văn hóa” được hiểu như là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng “văn hóa” để giáo hóa, tức là dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con người Còn ở phương Tây, thế kỷ thứ III trước Công nguyên, người La

Mã là người đầu tiên nói đến “văn hóa” với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với

tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo một cá thể hay cộng đồng để họ có phẩm chất người hơn, tốt đẹp hơn Ở Việt Nam gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã từng khát vọng về một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình

độ học vấn và trình độ tu thân của mỗi con người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội Tuy nhiên, từ ý niệm sơ khai ban đầu về “văn hóa” đến trở thành thuật ngữ, khái niệm khoa học về văn hóa nhân loại lại phải trải qua một quá trình nhận thức khá dài…

Cho đến năm 1871 trong công trình Văn hoá nguyên thuỷ, Edward Burnett Tylor nhà Nhân học người Anh đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa

là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực thói quen mà con người đạt được trong xã hội” [E.B Tylor 2000: 13] Có thể nói, Edward Burnett Tylor là người đầu tiên mở

đường cho nghiên cứu khoa học về văn hóa, nhưng cũng phải gần 40 năm sau, năm

1909 thuật ngữ văn hóa học mới được khẳng định bởi Willhelm Ostwald nhà khoa học và triết học Đức Tuy nhiên, người sáng lập thực thụ văn hóa học lại là Leslie

Alvin White nhà Nhân học Hoa Kỳ với các công trình Khoa học về văn hóa (1949)

và Khái niệm về văn hóa (1973), cùng định nghĩa hướng tới cách giải thích vật chất

– vật thể… Điểm khó chấp nhận là các nhà nghiên cứu văn hóa phương Tây cho rằng, bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển thành văn

Trang 19

minh Bởi vậy, năm 1989 Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đã được

cộng đồng quốc tế hoan nghênh, khi đưa ra định nghĩa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [Tạp chí Người

đưa tin UNESCO; tháng 11 năm 1989: trang 5]

Dù ít nhiều còn có những khác biệt nhưng nhìn chung giới nghiên cứu văn hóa đều cho rằng, văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra và tồn tại ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người Văn hóa được hiểu là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của một xã hội, một dân tộc thể hiện trên các mặt vật chất, tinh thần, tri thức, tình cảm…

Ở Việt Nam, trong Việt Nam văn hóa sử cương in năm 1938, khái niệm văn hóa đã được Đào Duy Anh định nghĩa: “Người ta thường cho rằng văn hóa là chỉ những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy, học thuật tư tưởng có nhiều

là ở trong phạm vi văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải ở phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua chỉ chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: “Văn hóa tức là sinh hoạt”” [Đào Duy Anh 2014: 13] Đến năm 1940, Hồ Chí Minh viết về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh

ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Hồ Chí Minh toàn

tập, tập 3, 1995: 431]

Vậy là tất cả các sáng tạo (vật chất và tinh thần) có giá trị (nhân văn và nhân bản) của con người vốn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của đời sống con người, được tích lũy qua thời gian đều được coi thuộc về văn hóa Giá trị là những nhu cầu

đa dạng mang tính ước muốn cao cả của con người muốn đạt đến, có ngoại diên rất rộng nên nó khó có thể đo lường một cách bao quát được Vì thế, từ nhu cầu về

Trang 20

chính trị làm xuất hiện các giá trị về trật tự xã hội; Nhu cầu về điều hòa xã hội thì lại có các giá trị đạo đức; Còn nhu cầu về một cõi vĩnh hằng vẫn được lưu giữ trong

ký ức xã hội thì làm xuất hiện giá trị tôn giáo, tín ngưỡng; Nhu cầu trao gởi truyền thống thì xuất hiện giá trị giáo dục; Nhu cầu về nơi ăn chốn ở thì xuất hiện giá trị kiến trúc… Giá trị định hướng con người ở các xã hội khác nhau vì thế thang đo giá trị cũng khác nhau Vậy có thể nói văn hóa là hệ thống các giá trị xã hội, để có hệ thống các giá trị xã hội thì vai trò con người trong xã hội được xem là yếu tố cốt lõi Tuy nhiên, để phân biệt giá trị văn hóa (tính nhân sinh cao và tính lịch sử) so với

giá trị tự nhiên và giá trị văn minh cần xác định: “Giá trị văn hóa bao gồm hai bộ phận là các giá trị con người (trực tiếp thuộc về con người), và các giá trị gián tiếp

có liên quan đến con người” [Trần Ngọc Thêm 2016: 56]

Rõ ràng, văn hóa là khái niệm có ý nghĩa rất rộng Và cũng vì thế có rất nhiều khái niệm về văn hóa, bởi mỗi học giả, mỗi nhà nghiên cứu đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu để đưa ra các khái niệm về văn hóa Nhưng xét cho cùng, khó có thể có một khái niệm nào đủ sức bao trùm hết các phương diện đa dạng của văn hóa, nhất

là khái niệm đó phải đủ lớn để có thể ứng dụng vào việc nghiên cứu một lĩnh vực

đa dạng và phức tạp như văn học chẳng hạn Tuy nhiên, việc tìm hiểu cách tiếp cận của các khái niệm văn hóa là việc phải làm, bởi nó cho ra cách nhìn, cách đánh giá tương đối mở đối với văn hóa, để từ đó có thể dễ dàng hơn khi tiếp cận với văn bản văn học

Có bốn cách tiếp cận chủ yếu mà các học giả, các nhà nghiên cứu thường xem xét khi đưa ra các khái niệm văn hóa: tiếp cận giá trị học, tiếp cận hoạt động, tiếp cận nhân cách và tiếp cận ký hiệu Bốn cách tiếp cận này tuy khác nhau nhưng đều dựa trên nguyên tắc chung đó là dựa trên mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, dựa trên hình thái kinh tế xã hội và những nguyên tắc hoạt động của thực tiễn

Dù có bốn cách tiếp cận, nhưng như trên đã trình bày, cách tiếp cận giá trị học có một lịch sử lâu đời và cho đến hôm nay vẫn thể hiện vai trò chủ đạo Cách tiếp cận này không chỉ làm nền tảng cho lý luận văn hóa học mà còn xâm nhập vào triết học, kinh tế học, mỹ học, đạo đức học… Mặt khác, tiếp cận giá trị học thể hiện

Trang 21

sự tìm kiếm bản chất của văn hóa qua các cấp độ: cấp độ hệ thống; cấp độ vật chất

và tinh thần; cấp độ chức năng Đây cũng là cách tiếp cận mà các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam (tiếp thu từ “trường phái” nghiên cứu văn hóa học của Liên Xô trước đây và Nga sau này) đã mấy thập kỷ qua dành nhiều công sức và đã có những thành công Tiêu biểu là định nghĩa về văn hóa của Trần Ngọc Thêm trong công

trình Cơ sở văn hoá Việt Nam như sau: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2006: 25]

Có thể nói, các định nghĩa của các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam theo hướng tiếp cận giá trị học đã ghi dấu một bước tiến dài, không chỉ trong việc tiếp cận hệ thống văn hóa để mở rộng phạm vi nghiên cứu văn hóa Việt Nam mà còn chỉ ra tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử… Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận, cách tiếp cận giá trị văn hóa dường như có phần nghiêng về lịch sử (để phân biệt với văn minh) nên đã chi phối và quy định các yếu tố khác nhau trong tác phẩm văn học và không phải lúc nào cũng đồng nhất Ví dụ: Ở thời trung đại Việt Nam sắc đẹp người phụ nữ bị xem thường, nhưng ngày nay sắc đẹp người phụ nữ được trân trọng Hơn nữa, đối với văn hóa truyền thống việc chỉ coi trọng văn hóa dân gian (ca dao, tục ngữ…), hay khái quát trên dẫn liệu văn hóa vật chất (ăn, mặc, ở…) đã dẫn tới tình trạng khiêm cưỡng Bởi cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần đều quan trọng như nhau, giữa chúng đôi khi thật khó có thể tách bạch Hơn thế nữa, cả văn hóa dân gian và văn hóa bác học đôi khi đều là những bộ phận cấu thành của một tác phẩm văn học, ví như trong một số tác phẩm văn học trung đại chẳng hạn

Từ thực tiễn nghiên cứu văn hóa học trên văn bản văn học trung đại cần bổ

sung thêm nhận thức: “văn hóa là các giá trị hình thành trong các mối quan hệ ứng

xử căn bản… Những mối quan hệ căn bản trên của con người có văn hóa bao giờ cũng mang những quan niệm giá trị riêng của một thời đại xác định, tiếp tục tồn tại hoặc biến đổi trong thời đại khác Vấn đề là vận dụng đúng đắn những hiểu biết về văn hóa vào việc cắt nghĩa, đánh giá tác phẩm.” [Trần Nho Thìn, Trần Ngọc

Vương chủ biên 2007: 58] Hoặc bổ sung thêm nhận thức theo cách nhìn về giá trị

như sau: “Sự tương quan giữa hai mức độ tích cực và tiêu cực làm cơ sở cho việc

Trang 22

đánh giá một tính chất ở đối tượng đang xét là giá trị hay phi giá trị luôn phải được định vị trong một bối cảnh chủ thể – không gian – thời gian cụ thể… Cùng một tính chất, sự việc, hiện tượng… nhưng trong bối cảnh này sẽ được đánh giá là tích cực,

do vậy là giá trị, còn trong một một bối cảnh khác sẽ được đánh giá là tiêu cực, do vậy sẽ là phi giá trị.” [Trần Ngọc Thêm 2016: 46]

Từ khái niệm văn hóa đến khái niệm nền văn hóa là một nhận thức mang tính tư duy và thực tiễn cao Bởi như chúng ta đều biết, trên thế giới có hàng trăm dân tộc tồn tại vì thế cũng có hàng trăm nền văn hóa khác nhau Do đó, mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, ở mỗi thời kỳ đều có cách thể hiện khác nhau về vấn đề nhân văn, nhân bản, mang bản chất người, nên tạo ra những nét đặc trưng văn hóa riêng Mặt khác, văn hóa của một dân tộc, một cộng đồng vừa có tính ổn định vừa có tính biến đổi do giao lưu tiếp biến văn hóa Chẳng hạn, văn hóa Việt Nam có đặc trưng riêng, nhưng văn hóa Việt Nam là văn hóa phương Đông, nằm trong không gian chung, tiếp nhận và chuyển hóa giá trị văn hóa vùng Ví dụ, không thể nói đến hệ thống các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam mà lại bỏ qua tư tưởng triết học, đạo đức, tôn giáo của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo vốn có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Quốc Bởi xét cho cùng, ở thời trung đại, đây là những giá trị văn hóa tiên tiến nhất có thể

có ở phương Đông và việc chúng có ảnh hưởng đến nhiều nước Đông Á, Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam cũng là điều dễ hiểu

Như vậy, tìm hiểu văn hóa của một cộng đồng người, của một tộc người đồng nghĩa với việc không chỉ khám phá một thế giới tinh thần phong phú, đa dạng của con người ở ngay trong một quốc gia hay trong vùng lãnh thổ nhất định mà còn phải mở rộng và so sánh chúng với văn hóa vùng để có thể chỉ ra đúng hệ giá trị văn hóa đã được sản sinh

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

Nếu văn hóa gồm văn hóa dân gian và văn hóa bác học thì cũng có hai dòng văn học hợp thành văn học: văn học viết và văn học dân gian Về văn học viết (hay văn học thành văn, văn học bác học), là văn học được sáng tác thành văn bản chữ viết, thành văn tự, trái lại với văn học dân gian được sáng tạo bằng lời, bằng truyền khẩu Trong khi đó, văn học dân gian vừa mang ý nghĩa văn học vừa mang ý nghĩa văn hóa dân gian Vì vậy mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, đặc biệt mối quan

Trang 23

hệ giữa văn hóa dân gian và văn học dân gian là không hề đơn giản, cần phải được giải mã

Trước thế kỷ XX mối quan hệ giữa văn hóa và văn học chỉ được đánh giá là mối quan hệ tương hỗ Nghiên cứu văn hóa thì văn học được coi như nguồn tài liệu

và ngược lại Trong thế kỷ XX với nhận thức văn hóa là động lực của phát triển, nên mối quan hệ giữa văn hóa và văn học được nghiên cứu sâu hơn

Với việc thừa nhận văn hóa là một hệ thống, bao gồm nhiều yếu tố, trong đó

có văn học, thì “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa và không thể hiểu nó bên ngoài bối cảnh của văn hóa tổng thể ở một thời đại cụ thể”

[Mikhail Bakhin, Nguyễn Văn Hiệu dịch 2007: 20] Ở một góc nhìn cụ thể hơn, thì:

“Văn hoá chi phối văn học với tư cách: hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối

bộ phận Đây là quan hệ bất khả kháng Văn học của một dân tộc vừa là một thành

tố bộ phận quan trọng thuộc về văn hóa; đồng thời văn học của mỗi một dân tộc cũng vừa tác động đến sự tồn tại, phát triển văn hóa của dân tộc ấy” [Đỗ Lai Thuý

2006: 59] Như vậy, văn học là một phần của văn hóa, thuộc về văn hóa, mặt khác văn học lại có sự chi phối, ảnh hưởng đến văn hóa Điều dễ nhận ra là ở bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng có (ít hay nhiều) hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và

tái hiện của nhà văn, đó là mối quan hệ không thể thiếu: “Văn học luôn có mối quan

hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác nhau của văn hóa truyền thống Có thể nói nhà văn đích thực là một nhà hoạt động văn hóa và người đọc là người hưởng thụ văn hóa” [Huỳnh Như Phương 2009: 20 – 28] Ở một góc khác, văn học có thể tác động

đến văn hóa, bởi việc phản ánh, lựa chọn, tái tạo văn hóa được bộc lộ trong tác phẩm văn học Nói cách khác văn học còn góp phần điều chỉnh, định hướng văn hóa Rõ ràng, mỗi loại hình văn học, mỗi thời kỳ văn học đều gắn với một nền tảng văn hóa của một dân tộc, một cộng đồng nhất định

Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của một thời đại, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi các nhà nghiên cứu đi tìm dữ liệu văn hóa để hình dung bức tranh văn hóa của thời đại đó Nói khác đi, văn học có thể cung cấp những dữ liệu đáng tin cậy cho nhà nghiên cứu văn hóa Ví dụ, xem xét văn học thời trung đại, có thể thấy sự xâm nhập sâu của văn hóa Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo vào xã hội Việt

Nam Mặt khác, văn hóa cũng chi phối trở lại văn học, bởi: “Văn hóa là cái gốc, cái

Trang 24

hồn của một con người, một xã hội, một dân tộc” [Lê Ngọc Trà 2002: 272] Vì vậy,

văn hóa bao trùm lên không chỉ tác phẩm, mà cả thế giới nội tâm và hoạt động sáng tạo của nhà văn, cũng như sự tiếp nhận của bạn đọc

Đối với Việt Nam, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học cũng có những đặc điểm riêng Ngay từ điểm khởi đầu văn học trung đại Việt Nam đã được ghi chép bằng chữ Hán và sau này mới xuất hiện chữ Nôm Mặc dù các tác phẩm đầu tiên viết bằng chữ Hán còn chưa tách khỏi chức năng hành chính, tôn giáo nhưng nội dung tư tưởng, thẩm mỹ, ý nghĩa lịch sử khá sâu sắc, đậm đà bản sắc văn hóa Việt

Có được điều đó là bởi, ngay từ thời kỳ đầu quốc gia mới giành độc lập, các triều đại phong kiến Việt đã có chủ chương xây dựng nền văn hóa độc lập, tự cường, bằng cách dựa vào nguồn văn hóa dân gian vốn có sức sống mãnh liệt từ bao đời truyền lại Đó là kho tàng truyện tự sự dân gian của người Việt bao gồm các truyện

kể bằng miệng như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, sử thi… đã xuất hiện từ rất xa xưa, trước khi có chữ viết Trong đó, nhiều truyện rất kỳ vĩ nói về cội nguồn dân tộc, giống nòi và tích hợp nhiều giá trị tri thức, tín ngưỡng, phong tục mang tính truyền đời của người Việt Chính vì vậy, ngay từ khi khởi phát nền văn học viết đã không thể không lấy văn hóa và văn học dân gian làm nền tảng Và cứ như thế, suốt trong mười thế kỷ của thời trung đại, văn hóa dân gian cứ như một tác nhân mạnh

mẽ, chẳng những góp phần vào việc bảo tồn văn hóa mà còn luôn giữ vai trò cơ sở

tư tưởng, thẩm mỹ cho văn học trung đại Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung mau chóng trưởng thành

Tóm lại, như trên đã trình bày, văn hóa và văn học có mối quan hệ hữu cơ, nên sự tương tác giữa chúng là một tất yếu khách quan Nhận thức đúng về mối quan hệ này, sẽ tạo nền tảng vững chắc cho việc tiếp cận văn hoá học trong văn học, nhất là đối với văn học trung đại Đây là một hướng nghiên cứu của ngành Văn hóa học và ít nhiều đã có những thành công

1.1.3 Phương pháp tiếp cận văn hoá học đối với văn học

Văn hóa học là khoa học liên ngành nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa, được hình thành trên các tri thức tổng hợp của các ngành khoa học xã hội và nhân văn như triết học, sử học, nhân học, xã hội học, tâm lý học… Như vậy, văn hoá học là khoa học nghiên cứu một cách toàn diện về bản chất văn hóa, về các quy luật và

Trang 25

đặc điểm có tính quy luật của văn hóa đến từng lĩnh vực văn hóa riêng biệt, tức là toàn bộ đời sống văn hóa của con người trong lịch sử xã hội

Như đã trình bày ở phần trước, văn học luôn được đặt trong cấu trúc tổng thể của văn hóa Vì vậy, tiếp cận văn hóa học đối với văn học là đi tìm hiểu hệ thống các giá trị văn hóa ở bên trong tác phẩm Mặt khác, cũng cần tìm hiểu văn hóa như

là các chất liệu để văn học lấy đó làm nguồn cảm hứng, sáng tạo nên tác phẩm, để rồi sau đó tác phẩm lại trở lại đời sống xã hội với tư cách của văn hóa Như vậy, tiếp cận văn hóa học đối với văn học cần phải có tư duy mở mang tính đa chiều

Để tìm hiểu hệ thống các giá trị văn hóa trong tác phẩm văn học, các nhà nghiên cứu văn hóa học tiếp cận các thành tố văn hóa có mặt trong tác phẩm Cách tiếp cận này, thực chất là đặt tác phẩm văn học trong tọa độ văn hóa với những đặc trưng của nó trong quá trình hoạt động văn hóa, để chỉ ra các thành tố văn hóa đã xâm nhập vào thế giới sáng tạo của nhà văn được tái hiện trong tác phẩm Và cả những giá trị văn hóa truyền thống âm thầm chảy trong tác phẩm, tạo ra thế giới hình tượng và ngôn ngữ của tác phẩm, xuất phát từ tâm thức của người sáng tạo được người đọc (người cảm thụ) chia sẻ

Những giá trị văn hóa đương thời, ngay khi mới hình thành, thậm chí còn phôi thai, luôn đòi hỏi các nhà văn sớm chuyển tải bằng ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm của mình Nói văn học là “chất gây men”, là “nguồn cảm hứng” cho những bước phát triển xã hội là như thế đó Rõ ràng, thông qua văn bản văn học, cùng với dấu ấn cá nhân của người sáng tạo còn có thể nhìn thấy được bước đi của thời đại đó và cả những giá trị của một nền văn hóa Như vậy, tiếp cận văn hóa học đối với văn học giúp các nhà nghiên cứu không chỉ tìm ra nền tảng văn hóa của thời đại được văn bản văn học đề cập mà còn có thể “đi xa” hơn khi thông qua văn bản văn học để có thể chỉ ra, bản chất của văn hóa cùng các bước phát triển mang tính quy luật của văn hóa

Về mặt tổng thể thì cách tiếp cận văn hóa học đối với văn học là như thế Tuy nhiên, đi sâu tìm hiểu hướng tiếp cận văn hóa học đối với văn học, để từ đó hình thành phương pháp tiếp cận văn hoá học đối với văn học trung đại, chắc chắn còn rất nhiều điều cần phải tìm tòi, suy nghĩ thêm

Trang 26

Điều dễ dàng nhận ra là cho đến hôm nay dường như chưa hề có một đề tài nghiên cứu văn hóa học truyền thống nào được chuẩn mực hóa để áp dụng vào nghiên cứu văn học trung đại, vì vậy người nghiên cứu rất dễ rơi vào “cảm tính” và

“tự phát”… Và để tránh tình trạng này có lẽ cũng cần phải lưu tâm đến một số điểm

có tính chất riêng rẽ khi tiếp cận văn hóa học đối với tác phẩm văn học trung đại:

– Đọc một tác phẩm văn học trung đại theo quan điểm văn hóa học là vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố con người (con người là trung tâm) và yếu tố thi pháp (nguyên tắc ứng xử, nguyên tắc giá trị) trong một thời đại cụ thể Điểm cần lưu ý là một hiện tượng có thể tiếp tục tồn tại, mà cũng có thể biến mất hoặc biến đổi để tạo ra một hiện tượng mới…

– Phương pháp tiếp cận văn hóa học đối với văn học trung đại luôn chú ý đến tính lịch sử cụ thể của một quan niệm giá trị văn hóa, đến đặc trưng của cấu trúc hệ thống văn hóa Và ngược lại, các quan niệm này lại là sản phẩm của những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể Chẳng hạn vẻ đẹp người phụ nữ trung đại vốn bị xã hội xem thường, nhưng Đoàn Thị Điểm ngợi ca, rõ ràng nhà văn đã vượt qua tầm nhìn hạn hẹp, đầy định kiến của Nho giáo để cảm thông, bênh vực người phụ nữ…

Và như thế, Đoàn Thị Điểm đã đề cao giá trị văn hóa tinh thần và mở ra một chân trời mới cho quan niệm về con người (dù có thể chưa hoàn toàn là ý thức) trước thời đại của mình…

– Áp dụng lý thuyết liên văn bản là vấn đề lớn và khó đối với phương pháp tiếp cận văn hóa học đối với văn học trung đại, nhất là những người không theo học ngành Hán Nôm Bởi chỉ có thể hiểu đúng vấn đề được nêu ra trong tác phẩm nếu

ta đọc được nguồn gốc khái niệm của văn bản Chẳng hạn, hình tượng “Kê minh

thập sách” của Bích Châu dâng vua Trần Duệ Tông trong Hải khẩu linh từ lục – Truyền kỳ tân phả có nguồn gốc từ thơ Kê Minh trong Tế phong kinh Thi nói về người vợ khuyên chồng thức dậy sáng sớm để đi chầu Còn Thập sách là mười điều

kế sách Tuy nhiên, nếu có bản dịch (văn bản thứ cấp) kỹ càng và chú thích đầy đủ tình hình nghiên cứu sẽ thuận lợi hơn, vì thế chọn bản dịch cũng là điều cần phải tính tới…

Tóm lại, đi tìm phương pháp tiếp cận văn hoá học đối với văn học nói chung

và văn học trung đại nói riêng, các nhà nghiên cứu cần phải thận trọng trong cái

Trang 27

nhìn, cách nhìn, cách đánh giá, tránh lối lập luận tiên nghiệm và áp đặt Bởi xét đến tận cùng, văn bản văn học bao giờ cũng là sự sáng tạo của cá nhân (cho dù có là ghi chép như một số tác phẩm trung đại), trong đó các yếu tố văn hóa chỉ là một phần (dù lớn) của chất liệu gây dựng nên nguồn cảm hứng Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu văn hóa từ trong thế giới nội tâm sáng tạo của tác giả là việc cần phải làm, dù rằng việc này rất khó

1.2 Nét đặc thù của văn hóa và văn học trung đại Việt Nam

Tên gọi “văn hóa và văn học trung đại Việt Nam” hay “văn hóa và văn học Việt Nam thời trung đại” thực ra là một quy ước mang tính khoa học mà các quốc gia phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng “mượn” từ khái niệm “thời trung đại” trong lịch sử châu Âu Thời trung đại được xem là thời đại văn hóa lớn trong lịch sử nhân loại Đó cũng là thời đại hình thành các giá trị văn hóa truyền thống có ảnh hưởng đến tận ngày nay Riêng đối với Việt Nam thời trung đại là thời hình thành toàn bộ di sản văn hóa thành văn của dân tộc, kéo dài gần một thiên niên

kỷ (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX)

1.2.1 Nét đặc thù của văn hóa trung đại Việt Nam

Văn hóa trung đại Việt Nam khởi đầu cùng một lúc với việc người Việt giành độc lập sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 Quốc hiệu Đại

Cồ Việt được Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968, và sau đó vua Lý Thánh Tông chính thức đặt tên Đại Việt vào năm 1054, dùng liên tục đến đầu đời nhà Nguyễn, Gia Long lên ngôi, tên nước được đổi thành Việt Nam năm 1804

1.2.1.1 Định vị văn hóa trung đại Việt Nam

Không gian văn hóa Việt thời kỳ đầu nằm ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ hiện

nay Trong thời kỳ này, quốc gia trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: chống giặc Tống, giặc Chiêm Thành, giặc Nguyên Mông, giặc Minh, giặc Xiêm, giặc Thanh; và chiến tranh nội bộ: Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn Tuy nhiên, không gian văn hóa Việt vẫn liên tục mở rộng với việc biên giới phát triển về phương Nam Từ thế kỷ XV cùng với sự suy tàn của vương quốc Chămpa không gian văn hoá Việt mở rộng suốt dải Trung Bộ và Tây Nguyên Và đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII các chúa Nguyễn đã cơ bản hoàn tất việc chinh phục phương Nam mở

Trang 28

rộng không gian văn hóa Việt đến toàn vùng Nam Bộ Như vậy là không gian văn hóa Việt luôn có sự phát triển, cho đến năm 1804 khi đổi tên là Việt Nam thì bờ cõi

đã liền một dải, từ tỉnh Lạng Sơn đến tỉnh Cà Mau như ngày hôm nay

Thời gian văn hóa Việt cũng có những đặc điểm riêng Trên dải đất Việt

trước đây và Việt Nam sau này, ba nền văn hóa ở thiên niên kỷ đầu Công nguyên

đã có những hướng phát triển khác nhau Ở đồng bằng sông Cửu Long nền văn hóa

Óc Eo của vương quốc Phù Nam từ sau thế kỷ VIII, dường như tắt hẳn chỉ còn lại hào quang Ở Trung Bộ từ thế kỷ XV nền văn hóa Chămpa, phát triển từ nền văn hóa Sa Huỳnh đã trở thành nền văn hóa của một tộc người trong nền văn hóa đa tộc người của dân tộc Việt Văn hóa Việt có nền móng từ văn hóa Đông Sơn với sức sống mãnh liệt của mình nên dù phải trải qua ngàn năm Bắc thuộc vẫn đã nhanh

chóng phục hưng để bước vào thời kỳ độc lập, tự chủ

Văn hóa Việt thời kỳ này có nhiều biến đổi tự thân với các vương triều thay thế nhau trị vì đất nước: nhà Ngô (939 – 965); nhà Đinh (968 – 980); nhà Tiền Lê (981 – 1009); nhà Lý (1009 – 1225); nhà Trần (1225 – 1400); nhà Hồ (1400 – 1407); nhà Hậu Trần (1407 – 1413); nhà Hậu Lê (1427 – 1527); nhà Mạc (1527 –

1677, thời cường thịnh ở Thăng Long 1527 – 1592, thời suy tàn ở Cao Bằng 1592 - 1677); nhà Lê trung hưng (1533 – 1788, trong đó ở Thanh Hóa 1533 – 1592, ở Thăng Long 1592 – 1788); Tây Sơn (1778 – 1802); nhà Nguyễn (1802 – 1945)

Chủ thể văn hóa Việt chính là người Việt (Kinh), tộc người đa số, chiếm

90% dân số Ngoài ra, bên cạnh chủ thể chính là người Việt còn có các tộc người thiểu số: Mường, Thổ, Chứt, Tày, Thái, Nùng, Cao Lan, H’mông, Dao, Pà Thèn… đến thế kỷ XV có thêm tộc người Chăm, Raglai, Êđê, Chru… và cuối thế kỷ XVII

đầu thế kỷ XVIII có thêm tộc người Hoa, Khmer, Mnông, Kơho, Xtiêng…

1.2.1.2 Các thành tố văn hóa trung đại Việt Nam

Văn hóa nhận thức được ra đời từ sự tích luỹ trong quá trình sinh sống và

hoạt động thực tiễn của người Việt Nền văn hóa nông nghiệp vốn trọng tĩnh hơn trọng động, lại có liên quan nhiều với tự nhiên, do đó người Việt ngay từ lớp văn hóa bản địa đã chú tâm đến mối quan hệ (Thuyết âm dương) và lối sống hướng tới

sự hài hòa Đến sau này, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Đạo

Trang 29

giáo (lớp văn hóa giao lưu với Ấn Độ, Trung Quốc) được Việt hóa và dung hợp với nhau, đã góp phần vào sự phát triển văn hóa nhận thức của người Việt Như vậy, xã hội nông nghiệp với tính cộng đồng làng xã đã cho con người Việt lối tư duy trên nền triết lý lưỡng phân lưỡng hợp, một cách tư duy cụ thể, thiên về kinh nghiệm cảm tính hơn là duy lý, ưa hình tượng hơn khái niệm, nhưng uyển chuyển, dễ dung

hợp

Văn hóa tổ chức đời sống tập thể của người Việt gồm làng xã, quận,

huyện, tỉnh và quốc gia Tuy nhiên, quận huyện và tỉnh chỉ là cấp trung gian, còn làng xã tồn tại lâu bền và có tính văn hóa ổn định Đặc điểm của làng xã là tính cộng đồng và tính tự trị rất cao, là nơi sản sinh và lưu giữ nhiều truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Làng xã tạo cho người Việt lối sống nặng tình nghĩa, giải quyết mâu thuẫn một cách dung hoà… Và làng xã còn tạo cho người Việt những giá trị tinh thần to lớn như trọng nhân nghĩa, trung với nước, trọng chữ hiếu… Nhưng làng xã cũng tạo nên những thói quen “xấu” cho người Việt như cục bộ, bảo

thủ, khép kín…

Làng và Nước (quốc gia) là hai tổ chức quan trọng nhất của người Việt cả về mặt hành chính và văn hóa Đặc điểm của thời kỳ này là các triều đại phong kiến cần phải xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất nên Nho giáo với thế mạnh về văn hóa và xã hội nhanh chóng được tiếp nhận Lý Thánh Tông cho xây Văn Miếu thờ Khổng Tử năm 1070, Lý Nhân Tông lập trường Quốc Tử Giám năm 1076 Thời Hậu Lê, Nho giáo trở thành quốc giáo, Nho sĩ chiếm địa vị cao trong xã hội, trở thành rường cột trong bộ máy quan lại… Mặc dù chọn mô hình phong kiến kiểu Trung Quốc nhưng người Việt đã vận dụng nó theo bản sắc văn hóa dân tộc Việt: Hạn chế sự độc tài của vua; Phát huy tính dân chủ; Điều chỉnh pháp luật phù hợp với người Việt…

Văn hóa tổ chức cá nhân là một nét ứng xử đặc biệt quan trọng của văn hóa

Việt Về tín ngưỡng, tiếp nối truyền thống lâu đời của dân tộc nên người Việt sùng

bái cả tín ngưỡng tự nhiên và tín ngưỡng con người Sơ lược như sau:

– Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Trang 30

Sống ở một vùng đất nhiệt đới với nhiều biểu hiện bất thường và dữ dội của

thời tiết, cư dân Việt làm ăn, sinh sống lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên: “trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm” Và hệ quả là

tâm lý phụ thuộc, ý thức tôn sùng cùng thái độ hòa hợp với thiên nhiên, từ đó hình thành lối tư duy tổng hợp và tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tôn thờ tất cả những lực lượng siêu hình, chi phối, định đoạt đời sống Đây chính là cơ sở hình thành tín ngưỡng đặc biệt: tín ngưỡng đa thần

Giữa đất trời “vuông tròn” thế giới quan của con người tồn tại “vạn vật hữu linh”: núi, sông, mưa, gió, chim thú, cỏ cây… Niềm tin linh thiêng ấy trở thành lòng tôn kính thánh thần che chở bằng các hình thức nghi lễ: tục thờ thiên thần, nhiên thần, động thực vật và tục lễ trời đất

Tục thờ thiên thần, nhiên thần (mây, mưa, sấm, chớp, nước, đất, núi, đá…) Vốn dĩ sống trong điều kiện gần gũi với tự nhiên, phụ thuộc vào tự nhiên, nên

từ đó con người luôn tìm cách thích ứng với tự nhiên Nói cách khác, tự nhiên trở thành đối tượng của những ứng xử cụ thể trong cuộc sống con người như thờ trời, đất, nước… Từ truyền thống coi trọng phụ nữ nên người Việt xưa thờ nữ thần: Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước – những nữ thần cai quản ba hiện tượng tự nhiên quan trọng nhất, thân thiết nhất đối với nghề nông Ngoài ra, còn có tục thờ mặt trời, thờ mây – mưa – sấm – chớp Đến khi có ảnh hưởng của Phật giáo, nhóm nữ thần mây – mưa – sấm – chớp được chuyển hóa thành hệ thống tứ pháp: Pháp Vân – Pháp Vũ – Pháp Lôi – Pháp Điện (được thờ ở bốn ngôi chùa mang tên bốn bà: Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Đàn, Bà Tướng) Đó là chưa kể đến môi trường sống và cảnh quan của cư

dân nông nghiệp còn thể hiện trong sự phù trợ của các sơn thần, thủy thần

Tục thờ nhiên thần, thiên thần của người Việt được biểu hiện ở việc thờ cúng thần ngay tại địa phận cư trú của mình (cây đa, bến nước…) Do xu hướng cụ thể hóa đó con người có thể tin thần núi này thiêng hơn hay thần sông kia thiêng hơn…từ đó tạo ra mỗi vùng đều có núi thiêng, sông thiêng… của riêng mình, theo

quan niệm “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”

Từ việc cụ thể hóa đã dẫn đến nhân thần hóa các vị thần tự nhiên Và để các thần linh trở nên linh thiêng hơn, người Việt đã sáng tạo ra những câu chuyện

Trang 31

truyền thuyết đậm chất huyền thoại, kể về công tích, hành trạng các vị thần Đó là Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết về thời Hùng Vương; là Tống Hậu, Thánh Nương trong câu chuyện về Tứ vị Thánh Nương; là Long Vương, Đại Giang, Hà Bá trong huyền thoại thời con người xuống nước làm ăn sinh sống; là ông Đùng bà Đà (từ mây – mưa – sấm – chớp) hay bốn chị em gái con của Man Nương Phật Mẫu Vậy là người Việt xưa không chỉ lịch sử hóa bản thân mình mà còn lịch sử hóa cả chính môi trường tự nhiên mình đang sống, địa phương hóa các vị Thần Thành hoàng của làng xã quê hương mình Mỗi ngọn núi, con sông, vùng đất… đều có thể hóa thần, hóa thánh cùng các “nhân vật lịch sử” Có thể coi đây là lối ứng xử riêng

có trong lối sống, trong tín ngưỡng của người Việt từ xa xưa và luôn được tiếp nối…

Thờ vật thiêng (chim, rắn, cá sấu, voi… “nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng”)

Người Việt xưa đã nâng tầng các con vật (chủ yếu phổ biến ở vùng sông nước) lên thành biểu tượng Tiên Rồng thông qua các truyền thuyết về họ Hồng Bàng Tiên được tín ngưỡng hóa từ giống chim của người Việt cổ ở vùng miền núi Rồng được biểu tượng hóa từ loài rắn và cá sấu vùng sông nước Sự kết hợp rắn – chim, tiên – rồng đã tạo nên dòng dõi thần linh của người Việt Đó không chỉ là ý thức bảo tồn nòi giống mà còn là lòng tôn kính tự hào về Tổ tiên thiêng liêng của mình… Còn rùa vàng cũng được xem là một vật linh xuất phát từ tín ngưỡng thờ vật tổ của một số tộc người cư dân miền núi Rùa vàng (Thần Kim Quy) đi vào văn hóa Việt trong huyền thoại về sự ra đời của nhà nước Âu Lạc gắn với An Dương Vương

Tục tế lễ trời đất (lễ đảo vũ, lễ cúng trăng, lễ tế thần nông, lễ tế trời đất,…)

Lễ đảo vũ (lễ cầu mưa) là một lễ thức nông nghiệp, thể hiện sự tôn thờ nước, cầu cho “mưa thuận gió hòa” – yếu tố sống còn của sự sống Còn tục tế lễ trời đất (ý nghĩa cầu khẩn, cảm tạ) vốn đã rất phổ biến trong dân gian Với ảnh hưởng của Nho giáo, hình thức tế lễ này ngày càng được tổ chức quy củ hơn… Trong tín ngưỡng của người Việt xưa, trời là đấng tối cao, có quyền năng vô hạn, nên họ thắp hương, van vái, khấn nguyện, thề nguyền… xin được phúc, được may mắn nhằm

Trang 32

tạo dựng cuộc sống hạnh phúc cho mỗi cá nhân, gia đình, làng xã… và cũng là cách thức tiếp xúc với trời trong tâm thức của người Việt

– Tín ngưỡng sùng bái con người

Tín ngưỡng sùng bái con người của người Việt xưa vẫn luôn được tiếp nối ở tất cả các thời đại và được biểu hiện qua các hình thức: thờ cúng Tổ tiên; thờ các anh hùng lịch sử, danh nhân văn hóa; thờ tà thần

Thờ cúng Tổ tiên, đã trở thành một hình thức tín ngưỡng truyền thống mang những đặc trưng văn hóa riêng của người Việt Bởi từ điểm xuất phát là nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp, nên người Việt chủ yếu sống theo làng xã và hạt nhân cơ bản của làng là các hộ gia đình Đây là nhân tố quan trọng gắn kết các thành viên cùng chung sống dưới một mái nhà Công lao cha mẹ nuôi con “bằng trời bằng biển”, cho nên đối với phận làm con phải kính trọng cha mẹ khi sống, phụng thờ khi chết Vì thế, các gia đình đều có bàn thờ Tổ tiên (thờ chính hay thờ vọng) Có thể coi đây là hình thức thờ cúng mang tính bản địa từ thuở sơ khai rõ nét và mộc mạc nhất của người Việt xưa Ngoài ra, việc tiếp thu hệ tư tưởng Nho giáo đã nâng cao ý thức về Tổ tiên và lễ thức hóa tín ngưỡng thành một triết lý, một nghi thức, một niềm tin sâu sắc mang ý niệm thiêng liêng của người Việt Thờ cúng Tổ tiên vừa mang ý nghĩa tín ngưỡng vừa là một mỹ tục thể hiện truyền thống văn hóa của người Việt qua nhiều thế hệ

Thờ anh hùng lịch sử, danh nhân văn hoá đã thật sự là một trong tín ngưỡng của người Việt mang nội dung tư tưởng xã hội sâu sắc Bởi dựng nước và giữ nước luôn là hai nhiệm vụ trọng yếu xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Và ở đấy, công lao của những anh hùng hào kiệt luôn được đất nước và nhân dân ghi nhớ Họ được tạc vào lịch sử như những huyền thoại và được dân gian thiêng hóa để trở thành những vị thần được thờ phụng, tưởng nhớ…

Từ những nhân vật nửa huyền thoại đã trở thành biểu tượng của quốc gia như Lạc Long Quân, Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng… đến những con người

có thật trong lịch sử như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo… tất cả đều đi vào cõi “bất tử” như những thần linh Họ là những con người “sống khôn thác thiêng”, lập công trạng khi sống và hiển linh phù trợ giúp dân giúp nước khi chết

Trang 33

Có thể coi đây là “thứ chủ nghĩa yêu nước đã được linh thiêng hóa, tâm lý hóa” Điều đó giải thích vì sao, ý thức lịch sử, lòng yêu nước luôn là thứ tình cảm sâu đậm trong con người Việt, tâm hồn Việt

Thờ cúng dâm thần, tà thần là tín ngưỡng có cơ sở từ quan niệm “người sao

ma vậy”, “trần sao âm vậy” Người Việt xưa cho rằng, trong môi trường sống của

họ còn vô số những linh hồn “lang thang” không nơi “nương tựa”, nhưng những linh hồn ấy vẫn ẩn chứa sức mạnh có thể mang lại sự bình yên, cũng có thể gây tai họa Theo quan niệm chính thống, loại thần này không được thờ, nhưng với niềm tin tâm linh dân gian họ vẫn được thờ cúng ở các miếu, am, bàn thờ đây đó trong làng xã, đường đi, đầu sông, cuối chợ…

Như vậy, sự sùng bái cả tín ngưỡng tự nhiên và tín ngưỡng con người của người Việt có gốc rễ từ chính đặc điểm thiên nhiên, lịch sử của dân tộc Việt từ ngàn xưa Với người Việt, sự linh thiêng của non sông đất nước được gắn liền với sự linh thiêng của con người, không gian linh thiêng gắn nhập với thời gian linh thiêng, đất nước gắn nhập với lịch sử Và đó cũng là một nét đặc trưng văn hóa của các cư dân nông nghiệp xưa luôn được người Việt kế thừa

Bên cạnh đó các phong tục của người Việt như hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hội… đều được gắn với cộng đồng làng xã Lễ hội có hai phần, phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn và phần hội là phần sinh hoạt văn hoá cộng đồng…

Tiếng Việt thuộc dòng Môn – Khmer của ngữ hệ Đông Nam Á, sau chuyển biến thành tiếng Việt – Mường (hay tiếng Việt cổ) rồi tách ra Đặc điểm của tiếng Việt: đơn âm nhưng vốn từ cụ thể, phong phú, giàu âm sắc hình ảnh, diễn đạt đối xứng, nhịp nhàng, sống động, dễ chuyển đổi, thiên về biểu trưng biểu cảm… Chữ Hán trở thành văn tự chính thức của người Việt, nhưng chữ Hán được đọc và hiểu theo cách của người Việt Bên cạnh đó người dân Việt còn sáng tạo ra chữ Nôm để ghi âm tiếng Việt

Nền văn học viết bằng chữ Hán của người Việt phát triển rực rỡ Song song với văn học chữ Hán là văn học chữ Nôm của người Việt cũng đã nhanh chóng phát triển mạnh mẽ, có giai đoạn văn học Nôm áp đảo văn học Hán như ở thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX

Trang 34

Mặc dù đã có văn hóa bác học nhưng văn hóa dân gian của người Việt như

tự sự dân gian, ca dao, tục ngữ, hò vè… vẫn liên tục phát triển trên bình diện rộng

và đi vào chiều sâu tâm hồn Việt Nghệ thuật biểu diễn thời Lý – Trần vô cùng đặc sắc như nghệ thuật múa rối nước Trò chơi dân gian như đánh phết, đánh đu, chọi trâu, lò cò, ô ăn quan… đến nay vẫn còn tồn tại, cho thấy sức sống mạnh mẽ của

nó Thủ công mỹ nghệ cũng là niềm tự hào của mọi người dân Việt như men ngọc, men hoa nâu, men nhiều màu… Còn hội họa có thể kể đến tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống…

Văn hóa ứng xứ với môi trường tự nhiên của người Việt là sự tiếp nối

truyền thống gắn bó với môi trường tự nhiên có khởi nguồn từ xa xưa Người Việt chuộng cách ăn chắc mặc bền Vì vậy nên bữa ăn của người Việt thường là cơm, rau, cá… còn mặc thì đơn giản với loại vải chất liệu thực vật, mỏng nhẹ thích nghi với khí hậu nóng ẩm, gió mùa… Ngôi nhà của người Việt xưa thường gắn với môi trường sông nước (nhà sàn mái cong), rồi sau đó là nhà tranh vách đất, lợp rạ, không quá cao để tránh bão, hướng nhà là hướng Nam để chống nóng, chống rét… Phương tiện đi lại của người Việt chủ yếu vẫn là đi bộ, “cao sang” thì cưỡi ngựa,

còn trên sông nước là những con thuyền…

Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội là một nét riêng của văn hóa người

Việt Được du nhập từ rất sớm, nên cả ba hệ tư tưởng Phật giáo – Nho giáo – Đạo giáo đã có vị trí đáng kể trong đời sống tinh thần của người dân Việt và qua thời gian đã mặc nhiên trở thành các hệ giá trị văn hóa dân tộc Trên cơ sở văn hóa bản địa người Việt không tiếp thu các “giáo” như những ý thức hệ mà chỉ tiếp thu những yếu tố phù hợp và cải biến làm phong phú thêm văn hóa của mình Màu sắc văn hóa ấy được thể hiện qua sự tiếp hợp với các “giáo”, sơ lược như sau:

– Văn hóa Việt trong tiếp hợp với Phật giáo

Phật giáo là một tôn giáo bao gồm các truyền thống, tín ngưỡng và phương pháp tu tập dựa theo lời dạy của một nhân vật lịch sử là Siddhattha Gotama (Phật Thích Ca Mâu Ni) có nguồn gốc Ấn Độ Phật giáo đến Việt Nam từ rất sớm (có thể

từ những thế kỷ cuối trước Công nguyên) qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu trực tiếp

từ Ấn Độ thông qua các thương gia Ấn Độ tới buôn bán và các tăng sĩ Ấn Độ đến Việt Nam truyền đạo; Giai đoạn sau qua trung gian Phật giáo Trung Quốc (cũng có

Trang 35

nguồn gốc từ Ấn Độ) Quá trình phát triển lịch sử văn hóa dân tộc Việt từ góc nhìn giao lưu và tiếp xúc văn hóa luôn chỉ ra rằng, Phật giáo là một trong số ít các tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm lý, đạo đức, phong tục và đời sống của người Việt xưa cũng như sau này Giáo lý Phật giáo tác động mạnh mẽ và trên bình diện rộng đến nhân sinh quan, thế giới quan, cũng như các chuẩn mực đạo đức và thẩm

mỹ con người Việt Có thể nói, đạo Phật thấm vào văn hóa Việt dễ dàng và tự nhiên như “nước thấm vào đất” Sẽ là không quá lời khi nói rằng, nếu có một ngày nào đó đạo Phật mất đi như một lẽ vô thường thì văn hóa đạo Phật vẫn mãi còn tiềm ẩn trong mỗi con người Việt nói riêng và văn hóa Việt nói chung Tuy nhiên, cũng giống như các tôn giáo khác khi du nhập vào đất nước này, người Việt chỉ chấp nhận những gì đơn giản, phù hợp với quan niệm của người Việt về thế giới tự nhiên, thế giới siêu nhiên, góp phần nhân hóa cuộc sống

Trước hết, dưới sự tác động của Phật giáo hệ thống thần linh đã có sự biến đổi, tạo nên tính lưỡng hợp trong tín ngưỡng Việt Đó là sự xuất hiện thêm một số

vị thần vừa mang tín ngưỡng dân gian vừa mang tính chất đạo Phật như Phật Mẫu Man Nương, thiền sư Không Lộ, thiền sư Từ Đạo Hạnh… Còn Chùa – không gian linh thiêng, tôn nghiêm của Phật giáo không chỉ là vẻ đẹp của phong cảnh làng quê Việt mà còn là không gian văn hóa diễn ra các lễ hội, các sinh hoạt văn hóa dân gian thuần Việt Ở một góc khác, chùa vẫn dường như chỉ là những “đền” “miếu”

để dân gian thờ các thần theo cấu trúc lưỡng hợp “tiền Phật hậu Mẫu” hay “Tiền Phật hậu Thần”

Để sang bên, lối sống tu hành khổ hạnh, hướng đến cõi Niết bàn của Phật giáo, người Việt quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống trần thế Và cũng từ đó, nhiều khái niệm, thuật ngữ của Phật giáo được sử dụng để làm giàu thêm lên cho đời sống

xã hội, đẹp thêm lên những tình cảm người với người như “ở hiền gặp lành”; “ác giả ác báo”; “tu nhân tích đức”; “nhân nào quả nấy”… Trong quan niệm của người Việt “tu là sửa mình theo đạo lý Bi – Trí – Dũng”

Như vậy, có thể thấy Phật giáo đã không chỉ làm phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần của người Việt mà còn ít nhất cũng làm cho tín ngưỡng bản địa của người Việt có nội dung sâu sắc hơn…

– Văn hóa Việt trong tiếp hợp với Nho giáo

Trang 36

Mang tính chất kinh điển của một học thuyết với hệ thống triết học chính trị – xã hội và triết lý đạo đức – giáo dục có nguồn gốc Trung Quốc, Nho giáo dù khó xâm nhập vào đời sống nhân dân Việt trên diện rộng nhưng cũng đã ít nhiều chi phối đời sống xã hội, nhất là ở lĩnh vực thể chế (Tổ chức nhà nước; Tổ chức xã hội;

Hệ thống văn bản luật pháp; Thi cử kén chọn nhân tài ) Còn trong lĩnh vực văn hóa, sự tiếp xúc với Nho giáo giúp văn hóa Việt có sự cấu trúc lại nhưng vẫn đứng vững trên cái nền văn hóa bản địa

Chẳng hạn, trong tư tưởng Nho giáo, “Trời” là đấng “tối cao” còn Thiên tử (con “Trời”, tức Vua) có nhiệm vụ “thế thiên hành đạo”, nhưng người Việt lại có cách ứng xử hoàn toàn khác Họ tôn thờ nhưng không phải một ông “Trời” mà là bà

“Trời”, bà “Đất”, bà “Nước”, vốn có từ truyền thống coi trọng phụ nữ và tục thờ nữ thần Đối với người Việt, “Trời” không trừu tượng, không đáng sợ mà đáng kính, gần gũi và thực tế trong chức năng phù hộ cho muôn dân Hơn thế, “Trời” có thể nhìn thấy mọi việc, sẵn sàng trừng phạt kẻ ác và giúp đỡ người lương thiện Ngay

cả thần thánh người Việt cũng không quá coi trọng Đức Vua với kiểu nguyên tắc của một thiết chế xã hội mà lại bất tử hóa, thiêng hóa và thờ cúng các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Những người có công giúp nước (bất kể là ai) khi hóa (chết) đều được tôn vương, hay đại vương… Như vậy, bên cạnh việc tiếp thu những yếu tố tương đồng, phù hợp của Nho giáo, văn hóa Việt tiếp tục bảo lưu những yếu

tố văn hóa riêng có, mang đậm dấu ấn độc lập, với một sức sống mãnh liệt đến phi thường…

– Văn hóa Việt trong tiếp hợp với Đạo giáo

Đạo giáo là một nhánh triết học và tôn giáo có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng với người dân Việt, Đạo giáo được tiếp nhận ở những gì đơn giản nhất, phù hợp với quan niệm và niềm tin của người Việt Đạo giáo ngay khi mới vào đất Việt

đã mang đầy đủ hai tinh chất thần tiên và phù thủy Từ cơ sở những hiến tế ma thuật của các cư dân thời Nguyên thủy và tín ngưỡng sùng bái ma thuật phù phép từng tồn tại lâu dài, nên Đạo giáo phù thủy đã nhanh chóng tìm thấy sự tương đồng

và nhanh chóng thâm nhập, hòa quyện vào tín ngưởng bản địa của người Việt Thuyết tu tiên của Đạo giáo khá thịnh hành ở người Việt Tuy nhiên, khát vọng tu tiên chủ yếu dành cho tầng lớp trên, còn với số đông người dân Việt, niềm tin ấy

Trang 37

được gửi gắm vào các vị thần tiên cứu nhân độ thế, các bậc tiên phong đạo cốt với pháp thuật diệu kỳ có thể sai khiến âm binh chữa bệnh cứu người, diệt trừ ma quỷ,

phù trợ dân lành…

Như vậy, cả ba đạo khi vào đất Việt đều đã tìm được chỗ để tồn tại và phát triển, với tinh thần “tam giáo đồng nguyên”, trong không khí “hòa nhi bất hòa đồng” Vì vậy, việc “phân xuất” cái nào là gốc, cái nào ảnh hưởng hay không ảnh hưởng đến văn hóa Việt chỉ mang tính chất tương đối mà thôi Điều quan trọng, khi

đã hòa nhập vào văn hóa Việt thì chúng đã mau chóng trở thành văn hóa Việt, mang bản sắc Việt

Theo chân Phật giáo (Nguyên thủy), văn hóa Ấn Độ được tiếp xúc từ rất sớm, ngay từ những thế kỷ cuối trước Công nguyên và dấn ấn lâu dài của nó còn được ghi lại bằng việc Phật giáo Việt xuất thế mà không nhập thế…

Văn hóa Chămpa và văn hóa Việt cũng sớm giao lưu Và từ thế kỷ XV văn hóa Chămpa đã là một phần của văn hóa Việt

Văn hóa phương Tây đến đất Việt vào khoảng thế kỷ XVII qua “môi giới” của Kitô giáo và các tàu buôn phương Tây

Tóm lại, dù còn có những hạn chế nhưng về cơ bản văn hóa trung đại Việt Nam đã có sự tiếp nối và kiện toàn bản sắc văn hóa Việt vốn định hình từ thời tiền

sử, lại từng kinh qua những năm tháng khốc liệt của ách đô hộ phương Bắc nhưng vẫn bảo tồn sức sống mạnh mẽ Và từ tiền đề ấy, nền văn hóa Việt đã nhanh chóng phát triển, vươn lên ngang tầm khu vực, đủ sức tự cường và giữ vững nền độc lập dân tộc

1.2.2 Nét đặc thù của văn học trung đại Việt Nam

1.2.2.1 Đặc điểm cơ bản của văn học trung đại Việt Nam

Sinh ra hoàn cảnh lịch sử đặc biệt nên ngay từ khi khởi đầu, văn học trung đại Việt Nam đã gắn chặt với vận mệnh đất nước, dân tộc Chủ đề nổi bật của văn học thời gian này là chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng Đây là chủ đề xuyên suốt nền văn học trung đại, từ thơ ca của các nhà sư đời Lý, các vị tướng đời Trần đến các nhà thơ, nhà văn lớn ở các thế kỷ sau như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…

Trang 38

Bất cứ nền văn học trung đại của dân tộc nào cũng được xây dựng trên cơ sở nền văn hóa dân gian của dân tộc đó Văn học trung đại Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Văn hóa dân gian Việt Nam là nền tảng hình thành nền văn học viết trên nhiều phương diện – Đấy là cơ sở vững chắc để văn học viết phát triển Từ

những tác phẩm văn xuôi đầu tiên như Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục… ra đời trên cơ sở ghi chép các truyền thuyết dân gian, đến những tác phẩm có quy mô lớn như Đại Việt sử ký toàn thư cũng sử dụng nhiều yếu tố của văn hóa dân

gian Rõ ràng, không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng của văn hóa dân gian đậm đà

trong văn liệu, thi liệu, bút pháp thể hiện qua những tác phẩm truyền kỳ như Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả… hay trong thơ Nguyễn Trãi,

Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… Khẳng định giá trị về đặc điểm của văn học trung đại cũng đồng thời là sự đánh giá cao vai trò, vị trí của văn hóa dân gian – suối nguồn tươi mát giàu dưỡng chất nuôi lớn nền văn học trung đại Việt Nam

Trong thời trung đại, sự giao lưu ảnh hưởng của các nền văn học lâu đời (Ấn

Độ, Trung Quốc) với các nền văn học hình thành sau (Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) là một tất yếu khách quan Ở Việt Nam mặc dù trải qua ngàn năm Bắc thuộc nhưng nền văn hóa dân tộc đã không bị đồng hóa Sự tiếp thu ảnh hưởng văn học Trung Quốc không làm mất đi bản sắc dân tộc mà ngược lại càng làm cho văn học thêm phong phú, đậm đà bản sắc hơn Đặc biệt trên phương diện thể loại, sự tiếp thu đã diễn ra một cách toàn diện, dường như người Việt đã tiếp thu toàn bộ thể loại văn học của văn học Trung Quốc theo những qui mô khác nhau và biến đổi chúng theo nhiều cách khác nhau, bởi con đường phát triển của văn học dân tộc là vừa tiếp thu vừa Việt hóa những yếu tố hình thức thể loại để chuyển hóa thành những “sản phẩm văn hóa” mang tính dân tộc

Giống như văn học trung đại của các nước, văn học trung đại Việt Nam chịu

sự qui định của thi pháp văn học trung đại nói chung Nổi bật hơn cả là tính chất ước lệ tượng trưng của hình thức biểu hiện Tính ước lệ trung đại được biểu hiện ở tính chất tập cổ, tính quy phạm, tính công thức, sáo ngữ, nghi thức, gắn chặt với truyền thống, nệ truyền thống rất nặng Thêm nữa, văn học trung đại luôn ưu tiên cho các chức năng hành chính, giáo huấn, nghi lễ… nên coi nhẹ biểu hiện cá tính

Trang 39

Tuy nhiên, các đặc điểm thi pháp trên không hạn chế sự phong phú và phát triển của văn học Bằng tài năng sáng tạo và tâm hồn Việt văn học trung đại đã để lại nhiều áng thơ văn làm say đắm lòng người Có thể nói, trên con đường sáng tạo, văn học trung đại Việt Nam luôn vận động theo hướng dân tộc hóa, thường xuyên

tự đổi mới bằng cách bám sát cuộc sống của dân tộc, ngày càng trở nên gần gũi với tâm thức nhân dân Và chính điều đó đã làm cho các qui phạm dần bị lỏng lẻo, bị phá vỡ, đồng thời tạo nên tiền đề cho quá trình hiện đại hóa văn học đầu thế kỷ XX

Các đặc điểm cơ bản trên giúp ta nhận rõ đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam trong quy luật chung của các nền văn học trung đại trên thế giới Đó chính là sự tương tác mạnh mẽ của văn hoá dân gian đối với văn học viết trung đại Việt Nam Và qua những đặc trưng ấy có thể kết luận văn học trung đại Việt Nam

là một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa trung đại Việt Nam Đi trọn gần mười thế

kỷ, văn học trung đại Việt Nam kết thúc vai trò lịch sử của mình trong tiến trình văn học dân tộc, với những đóng góp vô cùng to lớn: phản ánh một cách chân thực đời sống của con người Việt trên các phương diện văn hóa khác nhau, đặc biệt là phát triển và lưu giữ những giá trị văn hóa Việt…

1.2.2.2 Truyện truyền kỳ trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

Văn xuôi gồm hai nhánh, văn xuôi tự sự và văn xuôi trữ tình Thời trung đại Việt Nam chưa xuất hiện văn xuôi trữ tình Văn xuôi tự sự thời kỳ này chủ yếu viết bằng chữ Hán Bên cạnh tự sự bằng văn xuôi còn có tự sự bằng văn vần Tự sự bằng văn vần (truyện Nôm, diễn ca lịch sử) Khái niệm văn xuôi tự sự (hay văn xuôi chữ Hán) dùng để khu biệt với truyện Nôm

Truyền kỳ là loại truyện có tỷ lệ khá lớn trong văn xuôi trung đại Việt Nam Trước hết, truyền kỳ được hiểu là truyền đi một sự lạ Mặt khác, truyền kỳ cũng là những truyện kỳ lạ được lưu truyền lại Đồng thời truyền kỳ cũng là khái niệm chỉ một thể loại tự sự cổ điển của văn học Trung Quốc rất thịnh hành ở đời Đường, phát triển mạnh ở đời Tống, vốn chứa đựng nhiều tình tiết ly kỳ, quái dị

Truyền kỳ có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc, rồi phát huy ảnh hưởng đến việc thúc đẩy sự ra đời của thể loại truyền kỳ trong văn học Đông Á, văn học Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Truyền kỳ đã trở thành một thể loại truyện mang

Trang 40

tính chất “kỳ văn dị sự” – một bộ phận tạo nên diện mạo nền văn xuôi trung đại Việt Nam

Hạt nhân của truyện truyền kỳ là yếu tố kỳ Kỳ trước hết là cái lạ, cái khác biệt, trái với cái bình thường (kỳ lạ, ly kỳ) Kỳ cũng là cái quái đản, phi thường, siêu nhiên (kỳ quái, kỳ dị) Cái lạ, cái khác biệt, cái quái đản, cái phi thường, cái siêu nhiên (gọi chung là kỳ ảo) trong truyện truyền kỳ tạo nên những “kỳ văn” với những “kỳ nhân”, “kỳ sự” Kỳ ảo tạo nên sự hấp dẫn, góp phần làm nên sức sống cho tác phẩm

Tuy nhiên, kỳ ảo cũng xuất hiện trong truyện chí quái, vậy sự khác biệt giữa chúng nằm ở đâu? Kỳ ảo trong truyện chí quái dành cho ma quỷ, cảm giác quái đản, còn kỳ ảo trong truyền kỳ chủ yếu nói về con người, xoay quanh các hiện tượng

nhân hóa thần linh và thần kỳ hóa con người như trong Thánh Tông di thảo, Truyền

kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả… Đặc biệt, yếu tố kỳ ảo trong truyền kỳ tham gia

vào sự kiện cốt truyện nhằm phản ánh hiện thực xã hội Nó không chỉ thể hiện trình

độ tư duy độc đáo mà còn là phương tiện, thi pháp nghệ thuật có hiệu quả cao trong phản ánh hiện thực và chuyển tải những vấn đề nhân sinh Với những đặc trưng và

vẻ đẹp nghệ thuật riêng, yếu tố kỳ ảo đã làm cho truyền kỳ khác với các thể loại truyện gần gũi với nó như truyện thần quái, chí quái… Và cũng vì thế, truyền kỳ đã khiến cho bao thế hệ người đọc được “tâm khai thần thích” (tâm thần sảng khoái)

Tóm lại, là bộ phận hữu cơ không thể tách rời của văn học Việt Nam nên văn xuôi trung đại Việt Nam nói chung và thể loại truyền kỳ nói riêng dù có chia làm nhiều xu hướng phát triển khác nhau song nhìn chung các tác phẩm đều thống nhất trong nội dung phản ánh bức tranh chung về đời sống và văn hóa con người Việt suốt chiều dài lịch sử gần mười thế kỷ

1.3 Đoàn Thị Điểm và khởi nguồn của Truyền kỳ tân phả

Đoàn Thị Điểm nổi danh về sắc đẹp lẫn tài văn, nhưng trong kho thư tịch cổ

Việt Nam chỉ có đôi dòng về bà trong: Lịch triều hiến chương loại chí, Tang thương ngẫu lục, Đại Nam hải ứng truyện, Nam thiên trân di tập, Sơn cư tạp thuật, Hát đông thư dị… Từ những ghi chép này, Phan Kế Bính góp lại đưa vào chương VIII “Các người có danh tiếng” của Nam Hải dị nhân liệt truyện (viết năm Nhâm

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Thị An (1992), “Sự vận động của truyền thuyết về Mẫu qua những truyện kể về Liễu Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm”, Tạp chí Văn học, số 5 – 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động của truyền thuyết về Mẫu qua những truyện kể về Liễu Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm
Tác giả: Trần Thị An
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1992
3. Đào Duy Anh (2014), Việt Nam văn hoá sử cương, NXB. Thế Giới, HN, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB. Thế Giới
Năm: 2014
4. Trần Lê Bảo (2011), Giải mã văn học từ mã văn hóa, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã văn học từ mã văn hóa
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: NXB. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
5. Phan Kế Bính biên soạn (2013), Nam hải dị nhân liệt truyện, NXB. Trẻ và NXB. Hồng Bàng, Tp.HCM, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam hải dị nhân liệt truyện
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB. Trẻ
Năm: 2013
6. Phan Huy Chú (2005), Lịch triều hiến chương loại chí, NXB. Gíao dục, HN, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB. Gíao dục
Năm: 2005
7. Hà Như Chi (1951), Việt Nam thi văn giảng luận, NXB. Đại Nam, SG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn giảng luận
Tác giả: Hà Như Chi
Nhà XB: NXB. Đại Nam
Năm: 1951
8. Nguyễn Đổng Chi sưu tầm và biên soạn (2003), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, (Quyển I, Tập I-III), (Quyển II, Tập IV-V), NXB. Khoa học xã hội, HN, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 2003
9. Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, NXB. Văn hoá dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: NXB. Văn hoá dân tộc
Năm: 2003
10. Chu Xuân Diên (2002), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB. Đại học quốc gia Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: NXB. Đại học quốc gia Tp. HCM
Năm: 2002
11. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hoá tâm linh, NXB. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB. Hà Nội
Năm: 1996
12. Nguyễn Dữ, Truyền kỳ mạn lục, Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch (1998), NXB. Văn nghệ, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Nguyễn Dữ
Nhà XB: NXB. Văn nghệ
Năm: 1998
13. Đoàn Thị Điểm, Truyền kỳ tân phả, Ngô Lập Chi – Trần Văn Giáp dịch (2013), NXB. Trẻ và NXB. Hồng Bàng, Tp.HCM, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ tân phả
Tác giả: Đoàn Thị Điểm, Ngô Lập Chi, Trần Văn Giáp
Nhà XB: NXB. Trẻ
Năm: 2013
14. Trần Văn Giáp chủ biên, Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tường Phượng, Đỗ Thiện (1997), Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, NXB.Khoa học xã hội, NH, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1
Tác giả: Trần Văn Giáp, Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tường Phượng, Đỗ Thiện
Nhà XB: NXB.Khoa học xã hội
Năm: 1997
15. Lại Văn Hùng, Trần Thị Băng Thanh (2004), Thần tích thần sắc Hà Nam, NXB. Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần tích thần sắc Hà Nam
Tác giả: Lại Văn Hùng, Trần Thị Băng Thanh
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 2004
16. Đỗ Thị Hảo, “Về bản Tiên từ phả ký của dòng họ Trần Lê vừa tìm lại được”, Tạp chí Văn học, số 5 – 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản Tiên từ phả ký của dòng họ Trần Lê vừa tìm lại được
Tác giả: Đỗ Thị Hảo
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1992
17. Hoàng Xuân Hãn (1953), Chinh phụ ngâm khúc bị khảo, NXB. Minh Tâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phụ ngâm khúc bị khảo
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: NXB. Minh Tâm
Năm: 1953
18. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên và nhiều người khác (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, NXB. Khoa học xã hội, HN, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, nhiều người khác
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 1993
19. Mai Xuân Hải tuyển chọn, dịch chú (1998), Lê Thánh Tông thơ văn và cuộc đời, NXB. Hội nhà văn, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thánh Tông thơ văn và cuộc đời
Tác giả: Mai Xuân Hải
Nhà XB: NXB. Hội nhà văn
Năm: 1998
20. Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án – Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch (1972), Tang thương ngẫu lục, NXB.Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tang thương ngẫu lục
Tác giả: Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, Trúc Khê, Ngô Văn Triện
Nhà XB: NXB.Văn học
Năm: 1972
21. Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, NXB. Văn hoá Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: NXB. Văn hoá Thông tin
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w