Bài tập lớn học kỳ ĐCVHVN – Lớp N03 MỤC LỤC Trang A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 1 I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1 II VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ “ ĐỊA VĂN HÓA” 2 1 Vùng văn hóa Tây Bắc 3 2 Vùng văn hóa Việt Bắc 4 3 Vùng văn[.]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1
II VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ “ ĐỊA - VĂN HÓA” 2
1 Vùng văn hóa Tây Bắc 3
2 Vùng văn hóa Việt Bắc 4
3 Vùng văn hóa Bắc Bộ 5
4 Vùng văn hóa Trung Bộ 8
5 Vùng văn hóa Tây Nguyên 10
6 Vùng văn hóa Nam Bộ 11
III SO SÁNH VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á TỪ GÓC ĐỘ ĐỊA - VĂN HÓA 16
1 Văn hóa Đông Nam Á từ góc độ địa - văn hóa 16
2 Sự giống nhau giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Đông Nam Á từ góc độ địa - văn hóa 20
3 Sự khác nhau giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Đông Nam Á từ góc độ địa - văn hóa 21
C KẾT LUẬN 24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC 26
Trang 2A MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước ven biển nối các nước ASEAN lục địa với các nước ASEAN hải đảo Một nền văn hóa ngã tư được bồi đắp qua hai ngàn năm để mang tính lưỡng căn Đông Á và Nam Á rồi qua mấy trăm năm cận đại giao thoa với văn hóa phương Tây thành một ngã tư quốc tế Đông Tây - Nam Bắc khá đặc trưng Đất nước Việt Nam quá dài và quá hẹp trải qua các miền khí hậu và địa chất, địa mạo liên tục thay đổi trên các diện tích nhỏ Việt Nam có nhiều dân tộc chung sống trên các vùng khác nhau Văn hóa Việt Nam không quá Đông Á, giống Trung - Nhật - Hàn như thoạt nhìn bên ngoài Bản chất Đông Nam Á của nó lẩn sâu và cố kết bền chắc hơn người ta tưởng Vì vậy
qua đề tài: “Phân tích văn hóa Việt Nam từ góc độ “ Địa - văn hóa” So
sánh văn hóa Việt Nam với các nước Đông Nam Á khác từ cách tiếp cận này” em xin được tìm hiểu về văn hóa Việt Nam qua công cụ định vị theo
vùng địa lý và từ đó có thể tìm ra được sự giống và khác nhau giữa nền văn hóa Việt Nam với các nền văn hóa khác ở khu vực Đông Nam Á
B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Khái niệm “ địa - văn hóa” được ra đời là nhờ đến công lao của ông Joel Bonnemaison là nhà địa lý học người Pháp, giáo sư Đại học Paris IV Trong nghiên cứu và giảng dạy, Joel Bonnemaison đặc biệt chú ý đến việc làm sáng
tỏ cách tiếp cận địa văn hóa và những cơ sở văn hóa của địa lý học nhân văn Năm 1997, khi đang tiến hành nghiên cứu ở New Caledonia thì ông qua đời,
vợ và học trò của ông tập hợp các bài giảng của ông để xuất bản, trong đó có công trình Culture and Space ( không gian văn hóa) bằng tiếng Pháp Đã có nhiều người chọn dịch và giới thiệu một phần nhỏ trong công trình kể trên của ông qua bản dịch tiếng Anh của Josée Pénot - Demetry, xuất bản ở New York năm 2005 về vấn đề địa - văn hóa Trong đó ông có nói địa - văn hóa là một khái niệm mới Đối với một số người, thuật ngữ này có vẻ như khó hiểu,
Trang 3vì văn hóa (thuộc những giá trị tinh thần) và địa lý học (một ngành học thuộc khoa học tự nhiên, gắn với không gian địa lý) khó có thể gắn kết với nhau Trong khuôn khổ của các ngành khoa học xã hội truyền thống, văn hóa dường như “thuộc về” các nhà dân tộc học, nhân loại học và xã hội học Trong khi đó, tự nhiên và môi trường là lĩnh vực của các nhà địa lý học Thuật ngữ địa văn hóa là mới, nhưng ý niệm về nó lại không mới Ở Pháp vào thế kỷ XIX, Friedrich Ratzel đã đề cập đến địa lý nhân học, sau đó quan niệm về địa văn hóa đến Pháp thông qua ảnh hưởng của nhân học Mỹ với những đóng góp quan trọng về địa văn hóa của Carl Sauer - một học trò của Ratzel Với sự nhấn mạnh đến tầm quan trọng của văn hóa,các nhà địa lý học nổi tiếng của Pháp ở Quebec đã có ảnh hưởng lớn đến sự phục hưng của cách tiếp cận địa - văn hóa vào những năm 1980
Còn để hiểu khái niệm đó theo cách hiểu đơn giản hơn thì địa - văn hóa là một phương pháp dùng để định vị văn hóa theo vùng địa lý, đồng thời cũng
là phương pháp kiến giải các đặc điểm văn hóa dựa vào điều kiện địa lý và hoàn cảnh tự nhiên Hay hiểu theo cách khác thì muốn nghiên cứu một văn hóa của một dân tộc, một cộng đồng thì ta phải biết một người, một cộng đồng, một dân tộc sống trong một khu vực địa lý cụ thể
II VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ “ ĐỊA - VĂN HÓA”
Như ta có thể biết nền văn hóa luôn chịu sự chi phối đáng kể của hoàn cảnh của địa lý - khí hậu Sự thống nhất do cùng cội nguồn đã tạo ra bản sắc chung của văn hóa Việt Nam, còn tính đa dạng của tộc người lại làm nên những bản sắc riêng đặc biệt của từng vùng văn hóa Sự khác biệt này được phản ánh trong nhiều câu ca dao, tục ngữ khá dí dỏm về địa lý và tính cách của mỗi vùng, qua đó ta có thể hình dung một phần nào về nếp sống, văn hóa của từng vùng, ví dụ như những câu thơ sau đây:
“Ai ơi về miệt Tháp Mười
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn” ( miền Nam)
Trang 4Hay là : “ Trâu gõ mõ, chó leo thang, ăn cơm lam, ngủ mặt sàn.” (miền Núi) Những năm gần đây việc phân vùng văn hóa trong lãnh thổ Việt Nam hiện tại cũng đã được nhiều học giả bàn luận đến tiêu biểu như Ngô Đức Thịnh, 1993; Huỳnh Khái Vinh, 1995; Cù Huy Cận, 1995…nhưng để cho mọi người có cái nhìn tổng quát nhất về văn hóa Việt Nam từ góc độ địa - văn hóa này thì không thể không nói đến cách phân thành 6 vùng của tác giả Trần Quốc Vương, 1997 Cách này có thể xem là hợp lí và rõ ràng nhất Sau đây là những vùng văn hóa cụ thể trên lãnh thổ Việt Nam:
1 Vùng văn hóa Tây Bắc
Không gian địa lý của vùng Tây Bắc là khu vực bao gồm hệ thống núi non trùng điệp bên hữu ngạn sông Hồng kéo dài tới bắc Thanh Nghệ và gồm
có 6 tỉnh là Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu và Lào Cai, Yên Bái Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Ở đây có trên 20 tộc người cư trú, trong đó các tộc Thái, Mường có thể xem là đại diện vì có dân số lớn nhất vùng
Biểu tượng cho vùng văn hóa này là hệ thống mương phái ngăn suối dẫn nước vào đồng với hệ thống tưới tiêu hợp lí; là nghệ thuật trang trí tinh tế trên chiếc khăn piêu Thái, chiếc cạp váy Mường, bộ trang phục của người H’Mông với những màu sắc sặc sỡ gam nóng, họa tiết bố cục và sắc màu phong phú Ai đã từng qua Tây Bắc đều không thể quên được hình ảnh những cô gái Thái với những bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho Tây Bắc Con người vùng Tây Bắc luôn coi trọng những con suối, luôn sống chân thật, giản dị và hòa thuận, kính trên nhường dưới, giúp đỡ vô tư, giữ gìn thuần phong mĩ tục dù cho nền kinh tế thị trường có tác động mạnh mẽ Họ tín ngưỡng thờ cúng đa thần, lực lượng thiên nhiên, bộ phận cơ thể con người và họ tin là có linh hồn, như người Thái đã tin rằng có 80 linh hồn: tai, mắt, mũi, trán, lông mày, … Còn về văn hóa nghệ thuật thì nơi đây có những tác phẩm truyền miệng vô cùng phong phú và những tác phẩm truyện thơ nổi
Trang 5tiếng như : Tiễn dặn người yêu, Tiếng hát làm dâu, Vườn hoa núi cối, Bên cạnh đó còn nổi tiếng với điệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi tiếng được nhiều người biết đến với 32 điệu xòe của Thái; múa khèn của H’Mông; múa bông, múa sạp của Mường
2 Vùng văn hóa Việt Bắc
Khu vực Việt Bắc nằm ở vị trí có vĩ độ cao nhất cả nước Là khu vực bao gồm hệ thống núi non hiểm trở bên tả ngạn sông Hồng Địa hình Việt Bắc có cấu trúc theo kiểu cánh cung tụ lại ở Tam Đảo, các cánh cung này mở ra ở phía Bắc và đông Bắc, phần hướng lồi quay ra biển Hiện nay, nói tới Việt Bắc là nói tới địa bàn của sáu tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang Cư dân chủ yếu là người Tày và Nùng Ngoài
ra còn có một số dân tộc ít người khác như Dao, H'mông, Lô Lô, Sán Chay,
…Tất cả những đặc điểm về điều kiện địa lý tự nhiên của vùng Việt Bắc sẽ tác động không ít đến văn hoá của vùng này
Về văn hoá vật chất, Người Tày- Nùng có hai loại nhà chính là nhà sàn và nhà đất Ở một số vùng còn có loại nhà nửa sàn nửa đất Trang phục của người Tày- Nùng có tính thống nhất, được phân biệt theo giới tính, địa vị, lứa tuổi, địa phương Trang phục của người đàn ông Tày khá giản dị, không
có sự trang trí bằng hoa văn Giữa nam giới Tày và Nùng chỉ khác nhau đôi chút về kích thước trong trang phục Trong khi đó, trang phục của nữ giới lại
đa dạng và phong phú Người phụ nữ Nùng chỉ mặc một màu chàm, khác với người phụ nữ Tày mặc chiếc áo trong màu trắng, đồ trang sức cũng khá đơn giản Chiếc khăn của phụ nữ Tày là khăn vuông, khi lễ tết, họ buộc thêm chỉ
đỏ, xanh quanh vành khăn rồi thắt nút ra phía sau Phụ nữ người Nùng có khác đôi chút là họ thường bịt răng vàng, ưa thích đồ trang sức bằng bạc như vòng chân, vòng tay,…Về mặt ăn uống, tùy theo từng tộc người mà cách thức chế biến thức ăn và khẩu vị của cư dân Việt Bắc có hương vị riêng Việc chế biến món ăn của cư dân Tày - Nùng, có những sáng tạo và tiếp thu kĩ
Trang 6thuật chế biến của các tộc lân cận như Hoa, Việt v.v Về tín ngưỡng tôn giáo, cư dân Tày - Nùng hướng niềm tin tới thần bản mệnh, trời - đất, tổ tiên Các thần linh của họ rất đa dạng như thần núi, thần sông, thần đất Tôn giáo cũng có những nét khác biệt Các tôn giáo như Khổng giáo, Phật giáo, Đạo giáo đều có ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của người dân ở Việt Bắc
Về chữ viết, vùng Việt Bắc ở giai đoạn cổ đại không có chữ viết; giai đoạn cận đại có chữ Nôm; giai đoạn hiện đại có chữ thêm chữ Latinh Năm 1960, Đảng và Nhà nước ta đã giúp người Tày - Nùng xây dựng hệ thống chữ viết theo lối chữ Quốc ngữ Văn học Việt Bắc khá đa dạng về thể loại, phong phú
về số lượng tác phẩm, như thành ngữ, tục ngữ, truyện cổ tích, nói ví, Riêng dân ca, là loại phong phú và khá riêng biệt được viết trên nền giấy vải khá công phu Đặc biệt, lời ca giao duyên : lượn coi và lượn lương, là những thể loại tiêu biểu được các thế hệ trẻ Tày - Nùng ưa chuộng
Lễ hội của cư dân Tày-Nùng rất phong phú Ngày hội của toàn cộng đồng
là hội Lồng tồng (hội xuống đồng), diễn ra gồm hai phần : Lễ và hội Nghi lễ chính là rước thần đình và thần nông ra nơi mở hội ở ngoài đồng Một bữa
ăn được tổ chức ngay tại đây Phần hội căn bản là các trò chơi như đánh quay, đánh yến,v.v…Nói đến sinh hoạt văn hóa của cư dân vùng này, không thể không nói đến sinh hoạt hội chợ vì đó là nơi để trao đổi hàng hóa, nhưng cũng là nơi để nam nữ thanh niên trao duyên, tỏ tình Và có thể coi đây như
là một sinh hoạt văn hóa đặc thù của vùng Việt Bắc
3 Vùng văn hóa Bắc Bộ
Bắc Bộ nằm ở vùng cực Bắc lãnh thổ Việt Nam, có phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp biển Đông Bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa Có bề mặt thấp dần, xuôi theo hướng Tây Bắc
- Đông Nam, được thể hiện thông qua hướng chảy của các dòng sông lớn
Nó là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính : Tây-Đông và Bắc-Nam Vị trí này khiến cho nó trở thành vị trí tiền đồn để tiến
Trang 7tới các vùng khác trong nước và Đông Nam Á, là mục tiêu xâm lược đầu tiên của tất cả bọn xâm lược muốn bành trướng thế lực vào lãnh thổ Đông Nam
Á Nhưng cũng chính vị trí địa lí này tạo điều kiện cho cư dân có thuận lợi
về giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực sông Hồng, sông Mã Đây là vùng văn hóa đúng như PGS, PTS Ngô Đức Thịnh nhận xét : "Trong các sắc thái phong phú và
đa dạng của văn hóa Việt Nam, đồng bằng Bắc Bộ như là một vùng văn hóa độc đáo và đặc sắc” Dẫn đến điều này là một hệ quả, một tổng hòa các quan
hệ của nhiều vấn đề khác nhau Trước hết là những đặc điểm của môi trường
tự nhiên Bắc Bộ Cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ là cư dân sống với nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệp một cách thuần túy Biển và rừng bao bọc quanh đồng bằng Bắc Bộ nhưng từ trong tâm thức, người nông dân Việt Bắc Bộ là những cư dân "xa rừng nhạt biển" (PGS, PTS Ngô Đức Thịnh) Nói khác đi
là, người nông dân Việt Bắc Bộ là người dân chuyên đắp đê lấn biển trồng lúa, làm muối và đánh cá ở ven biển Bắc Bộ là một châu thổ có nhiều sông ngòi, mương máng, nên người dân chài trọng về việc khai thác thủy sản Đất đai ở đây cũng không phải là ít, dân cư lại đông Vì thế, để tận dụng thời gian nhàn rỗi của vụ mùa, người nông dân đã làm thêm nghề thủ công Ở đồng bằng sông Hồng, có một số làng phát triển một số nghề lâu đời như nghề gốm, dệt, luyện kim, đúc đồng v.v Mặt khác những người nông dân này lại sống quần tụ thành làng Làng là đơn vị xã hội cơ sở của nông thôn Bắc Bộ, tế bào sống của xã hội Việt Nó là kết quả của các công xã thị tộc nguyên thủy sang công xã nông thôn Tiến trình lịch sử đã khiến cho làng Việt Bắc Bộ là một tiểu xã hội trồng lúa nước, một xã hội của các tiểu nông
Sự gắn bó giữa con người và con người trong cộng đồng làng quê, không chỉ
là quan hệ sở hữu trên đất làng, trên những di sản hữu thể chung như đình làng, chùa làng v.v , mà còn là sự gắn bó các quan hệ về tâm linh, về chuẩn mực xã hội, đạo đức Đảm bảo cho những quan hệ này là các hương ước, khoán ước của làng xã Các hương ước, hay khoán ước này là những quy
Trang 8định khá chặt chẽ về mọi phương diện của làng, vì thế mà nó đã trở thành một sức mạnh tinh thần không thể phủ nhận Nhưng cũng vì thế mà vai trò
cá nhân bị coi nhẹ Chính những đặc điểm ấy của làng Việt Bắc Bộ đã góp phần tạo ra những điểm riêng của vùng văn hóa này Nhà ở của cư dân Việt Bắc Bộ thường là loại nhà không có chái, sử dụng vật liệu nhẹ là chủ yếu Thường là người Việt Bắc Bộ muốn trồng cây cối quanh nơi cư trú, tạo ra bóng mát cho ngôi nhà Ăn uống của cư dân Việt trên châu thổ Bắc Bộ vẫn như mô hình bữa ăn của người Việt trên các vùng đất khác : cơm, rau và cá, các gia vị có tính chất cay, chua, đắng, quen thuộc với cư dân Trung Bộ, Nam Bộ lại không có mặt trong bữa ăn của người Việt Bắc Bộ nhiều lắm Cách mặc của người dân Bắc Bộ thích ứng với thiên nhiên châu thổ Bắc Bộ
đó là màu nâu Đàn ông với y phục đi làm là chiếc quần lá tọa, áo cánh màu nâu sống Đàn bà cũng chiếc váy thâm, chiếc áo nâu, khi đi làm Ngày nay y phục của người Việt Bắc Bộ đã có sự thay đổi khá nhiều
Mặt khác, nói tới văn hóa ở châu thổ Bắc Bộ là nói tới một vùng văn hóa
có một bề dày lịch sử cũng như mật độ dày đặc của các di tích văn hóa Các
di tích khảo cổ, các di sản văn hóa hữu thể tồn tại ở khắp các địa phương Đền, đình, chùa, miếu v.v , có mặt ở hầu khắp các địa bàn, tận các làng quê Nhiều di tích nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài như đền Hùng, khu vực Cổ Loa, Lam Sơn, phố Hiến, chùa Hương, v.v kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ có thể coi như một loại mỏ với nhiều khoáng sản quý hiếm Từ thần thoại đến truyền thuyết, từ ca dao đến tục ngữ, từ truyện cười đến truyện trạng,mỗi thể loại đều có một tầm dày dặn, mang nét riêng của Bắc Bộ, chẳng hạn như truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn v v sử dụng nhiều các hình thức câu đố, câu đối, nói lái, Ca dao xứ Bắc trau chuốt, tỉa gọt khá
đa dạng và mang đạm sắc thái như là hát quan họ, hát chèo, múa rối v.v Về tín ngưỡng của cư dân nơi đây là thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, thờ các ông tổ nghề,…Các tín ngưỡng này tiềm ẩn trong tâm thức con người và tồn tại trong lễ Hội như các lễ thức thờ Mẹ Lúa, thờ thần mặt trời, các trò diễn
Trang 9mang tính chất phồn thực như múa gà phủ, múa các vật biểu trưng âm, dương vật v.v Chính vì vậy mà lễ hội ở Bắc Bộ có thể ví như một bảo tàng văn hóa tổng hợp lưu giữ khá nhiều các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp Bên cạnh đó, sự phát triển của giáo dục, thành nhân tố tác động tạo ra một tầng lớp trí thức ở Bắc Bộ Năm 1078, Văn Miếu đã xuất hiện, năm 1076 đã có Quốc Tử Giám, v.v đã tạo ra cho xứ Bắc một đội ngũ trí thức đông đảo, trong đó có nhiều danh nhân văn hóa tầm cỡ trong nước, ngoài nước Vì vậy mà mọi người luôn cho rằng Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt, cũng là nơi sinh ra các nền văn hóa lớn, phát triển nối tiếp
4 Vùng văn hóa Trung Bộ
Miền Trung Việt Nam có phía Bắc giáp khu vực đồng bằng Sông Hồng
và Trung du miền núi vùng Bắc Bộ; phía Nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu của vùng Nam Bộ; phía Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp 2 nước Lào và Campuchia Dải đất miền Trung được bao bọc bởi những dãy núi chạy dọc bờ phía Tây và sườn bờ biển phía Đông, vùng có chiều ngang theo hướng Đông - Tây hẹp nhất Việt Nam Địa hình miền Trung chia cắt theo chiều dọc Bắc Nam, bởi các đèo là những dãy núi tách từ Trường Sơn đâm ngang ra biển Suốt dải đất miền Trung Bộ, đường
bờ biển Việt Nam "ưỡn" cong, "lồi" ra phía sau Biển Đông Sát bờ biển, từ Quảng Bình trở vào Nam, Ngãi, Bình, Phú có các dải cồn cát chạy dọc dài Bắc Nam Ở giữa các dải cồn cát là một vùng trũng nối xóm làng và ruộng lúa ngày nay Khác với Nam Bộ được khai phá muộn hơn, khác với Bắc Bộ
là đia bàn tụ cư và khai thác lâu đời của người Việt, vùng Trung Bộ một thời
kì dài thuộc các tiểu quốc của vương quốc Chămpa Trước khi người Việt vào nơi này, nền văn hóa Chămpa một thời rạng rỡ, như một ánh hào quang hắt lên mặt nước trong buổi chiều tà Vì vậy mà vùng văn hóa Trung Bộ là một vùng đất chứa nhiều dấu tích văn hóa Chăm pa Dọc miền Trung, nhiều
di sản văn hóa hữu thể còn tồn tại trên mặt đất Đó là các tháp Chăm phơi
Trang 10sương gió cùng năm tháng Lịch sử đi qua bao nỗi thăng trầm, tháp Chăm vẫn sừng sững như một dấu ấn không thể phai mờ Ở Huế, còn có tháp Đôi Liễu, Cốc Thượng, tháp Núi Rùa Ở Quảng Nam, Đà Nẵng, tại Mỹ Sơn đã
có 7 tháp, Có thể nói khó có vùng văn hóa nào ở nước ta lại có nhiều tháp Chăm như vùng văn hóa Trung Bộ Ngoài các tháp, di vật văn hóa Chămpa còn trên mặt đất, trong lòng đất khá nhiều Đó là các tượng bà PôNagar, đặc biệt là các tượng linga, yoni Đó là các phù điêu, các trụ đá, các bia đá
v.v Cùng các di sản văn hóa hữu thể, vùng Trung Bộ còn khá nhiều các di sản văn hóa vô thể của văn hóa Chămpa như Cồn Ràng, Cồn Mọi Đó là các tín ngưỡng dân gian của người Chăm như thờ bà mẹ xứ sở, thờ cá voi,… Người Việt tiếp nhận những di sản văn hóa của người Chăm, Việt hóa biến thành di tích văn hóa của mình Tháp Chăm, đền Chăm khi người Chăm ra đi thì người Việt thờ cúng, sử dụng Chẳng hạn như Tháp Bà ở Khánh Hòa, được người Việt sử dụng, coi như nơi thờ tự, linh thiêng của tín ngưỡng thờ Mẫu, một tín ngưỡng của người Việt
So với thiên nhiên Bắc Bộ và Nam Bộ, Trung Bộ là vùng đệm, mang tính chất trung gian Vì thế mà vùng văn hóa Trung Bộ còn ảnh hưởng bởi sự đa dạng của thiên nhiên nơi đây Yếu tố biển, sông, đầm, đồng bằng, núi non đều ánh xạ vào trong các thành tố văn hóa, từ diện mạo đến các phương diện khác Có thể thấy ngay điều này từ diện mạo các loại hình văn hóa, với Trung Bộ, làng làm nông nghiệp tồn tại đan xen với làng của ngư dân Bên cạnh lễ cúng đình của làng nông nghiệp là lễ cúng cá ông của làng nghề đánh
cá Điều này là đương nhiên, bởi lẽ, đồng bằng Trung Bộ thường là đồng bằng nhỏ hẹp, sát biển
Trong văn hóa đời thường, bữa ăn của cư dân Việt Trung Bộ đã bắt đầu
có sự thay đổi, nghiêng về các hải sản, đồ biển Nói cách khác, yếu tố biển
đã đậm đà hơn trong cơ cấu bữa ăn của cư dân ở đây Mặt khác, người dân Việt Trung Bộ, do tính chất khí hậu, nói rộng hơn là điều kiện tự nhiên chi