1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng với việc xây dựng nền văn hóa việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay

132 39 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGÔ THỊ PHẤN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC, KHOA HỌC, ĐẠI CHÚNG VỚI V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGÔ THỊ PHẤN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC, KHOA HỌC, ĐẠI CHÚNG VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN,

ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC HIỆN NAY

Ngành: Hồ Chí Minh học

Mã số: 60 31 02 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Bùi Đình Phong

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

TS Doãn Thị Chín

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thầy PGS,TS Bùi Đình Phong Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố Những kết luận của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Ngô Thị Phấn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NỀN VĂN HÓA CÓ TÍNH CHẤT DÂN TỘC, KHOA HỌC, ĐẠI CHÚNG 10

1.1 Quá trình nhận thức của Hồ Chí Minh về nền văn hóa có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng 10

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nền văn hóa có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng 33

Chương 2: SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀO VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀBẢN SẮC DÂN TỘC HIỆN NAY 51

2.1 Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 51

2.2 Quan điểm, nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 63

2.3 Những giải pháp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc 98

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

TÓM TẮT LUẬN VĂN 128

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ thiên tài, nhà hoạt động chính trị kiệt xuất, người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại mà Người còn là một nhà tư tưởng lỗi lạc, một danh nhân văn hoá thế giới Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc đến sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá mới Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá nói riêng, trong đó có tư tưởng về xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức vai trò của văn hóa và dày công xây dựng một nền văn hóa Việt Nam mới khoa học, tiên tiến nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc, đặt nền tảng cho sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta trong cả một chặng đường lịch sử Việc tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng tư tưởng của Người về nền văn hóa Việt Nam dân tộc, khoa học, đại chúng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và cần thiết trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước của nước ta hiện nay

Kế thừa sâu sắc tư tưởng của Người, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII (1996) của Đảng đã khẳng định: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [25, tr.110] và “văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa

là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [25, tr.110] Điều này cho thấy vị trí quan trọng của tư tưởng văn hóa Hồ Chí

Trang 6

Minh đối với việc giải quyết các nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội trong sự nghiệp xây dựng đất nước của Đảng và nhân dân ta Đồng thời văn hóa cũng cần được xây dựng và phát triển một cách sâu rộng đến từng cá nhân, từng tập thể, từng khu vực Trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng dần đi tới những nhận thức mới, quan điểm mới về văn hóa Đặc biệt, trong Nghị quyết số 33 – NQ/TW ngày 09/06/2014, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Đảng ta đã nhấn mạnh:

“Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo

vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Tính chất của nền văn hóa mới được xác định trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI là: tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, mang tinh thần nhân văn, dân chủ tiến bộ thực chất là trở về với tư tưởng của

Hồ Chí Minh về một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng, đó cũng là sự tiếp nối, phát triển tư tưởng của Người trong xây dựng nền văn hóa mới của dân tộc

Đất nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, hội nhập và phát triển, sự giao lưu văn hóa trên các lĩnh vực đời sống, xã hội đang diễn ra, thay đổi theo từng ngày Đặc biệt, với sự góp sức của công nghệ thông tin, cần có những định hướng đúng cho sự phát triển của một nền văn hóa hội nhập nhưng không hòa tan Sự giao lưu văn hóa không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực cho sự nghiệp đổi mới đất nước, điều đó càng đòi hỏi tính sáng tạo, phát triển nền văn hóa tiên tiến, bắt kịp với sự đổi thay trong khu vực và quốc tế

Trang 7

Tuy nhiên, quá trình hội nhập, giao lưu trong thế giới, toàn cầu hóa, phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay bao giờ cũng có sự tác động hai mặt đến phát triển văn hóa Đồng thời với việc tạo ra những điều kiện mới cho sự phát triển thì chính sự hội nhập về kinh tế, văn hóa cũng gây ra những tác động tiêu cực với việc phát triển nền văn hóa của nước ta Điều đó cho thấy việc vận dụng tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh về văn hóa vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là một đòi hỏi bức thiết,

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn

Đặc biệt, khi được tiếp cận, nghiên cứu và tìm hiểu hệ thống tư tưởng toàn diện và sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong hệ thống tư tưởng rộng lớn và phong phú của Người thì tư tưởng về xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng là nội dung tác giả tâm đắc nhất Hơn nữa, khi thực hiện đề tài, tác giả sẽ bổ sung được nhiều kiến thức cho bản thân và góp phần khẳng định giá trị lý luận với sự nghiệp nghiên cứu tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh sau này

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng với việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ

ngành Hồ Chí Minh học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đã có không ít các nhà khoa học trong và ngoài nước, nói, viết về Người với nhiều phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau, dưới nhiều hình thức như: công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học, tạp chí, sách chuyên khảo, sách tham khảo, bài phát biểu, bài báo khoa học… nhưng tựu chung đều khẳng định sức sống trường tồn cùng những giá trị tư tưởng sống mãi với thời gian và sức lan tỏa của văn hóa Hồ Chí Minh đối với nhân dân trong nước và quốc tế

Trang 8

Liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, tạp chí, sách chuyên khảo tiêu biểu

mà tác giả chọn làm tài liệu kế thừa dưới đây:

nói chung và Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính chất nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, khoa học, đại chúng với việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói riêng

Trong các tác phẩm này, hầu hết các tác giả đề cập đến các quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về văn hóa, chức năng, vai trò, sự kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu, chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để xây dưng nền văn hóa Việt Nam mới, tiên tiến, khoa học mà vẫn đậm đà tính nhân văn, dân tộc như:

Hồ Chí Minh với nền văn hóa mới Việt Nam trước 1954, của Bùi Đình

Phong, Nxb Lao Động, Hà Nội, 1994 Đây là cuốn sách đã đề cập một cách toàn diện và hệ thống tới vai trò của Hồ Chí Minh trong xây dựng nền văn hóa dân tộc trước năm 1954

Văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh của GS Đinh

Xuân Lâm và PGS,TS Bùi Đình Phong, Nxb CTQG, 2007 Ở công trình này, tác giả đã nêu và phân tích một cách khá đầy đủ về triết lý phát triển xã hội theo hướng nhân văn, từ tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, Hồ Chí Minh quan tâm tới vấn đề giải phóng con người, đó cũng là triết lý nhân sinh đỉnh cao trong tư tưởng của Người

Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam: mấy vấn đề lý luận và

thực tiễn của PGS,TS Thành Duy, Nxb Chính trị quốc gia, 2006 Đây là cuốn

sách mà tác giả phân tích rõ hai yếu tố cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam đang hướng tới xây dựng là vừa tiên tiến khoa học, vừa đậm đà bản sắc dân tộc

Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất, của PGS Song Thành, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Với công trình này, tác giả đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa các giá trị văn hóa truyền thống và tinh

Trang 9

hoa văn hóa nhân loại Từ đó khẳng định nhà văn hóa Hồ Chí Minh đã mở đường cho một thời đại mới, xây dựng một nền văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Hồ Chí Minh văn hóa và đổi mới, GS, Đinh Xuân Lâm, PGS,TS Bùi

Đình Phong, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2001 Từ việc tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ: chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, đạo đức, truyền thống dân tộc và các trào lưu trên thế giới từ trước đến nay, tác giả khám phá sâu mối quan hệ giữa văn hóa và đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh Những

tư duy văn hóa của Người trong cách ứng xử giúp dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển trong một thế giới nhiều biến động, phức tạp để vững bước trên con đường xây dựng và phát triển

Vì một nền văn hóa Việt Nam dân tộc, hiện đại, của Nguyễn Phú Trọng,

Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002 Cuốn sách đã đưa ra những nội dung

cơ bản về nền văn hóa Việt Nam và xây dựng văn hóa trong thời kỳ mới, phù hợp giữa lý luận và thực tiễn, là cơ sở tạo điều kiện cho việc xây dựng một nền văn hóa sáng tạo, toàn diện và bền vững

Nhìn chung, các tác phẩm đã đóng góp một phần lý luận quan trọng, là tài liệu cho việc tham khảo, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tiền đề lý luận cho việc hoàn thành các tác phẩm nghiên cứu sau với vấn đề văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa Hồ Chí Minh nói riêng

Hai là: Các công trình nghiên cứu về sự vận dụng tư tưởng văn

hóa Hồ Chí Minh vào việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và liên hệ trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, giải pháp của Đảng ta để

văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, của PGS,TS Hoàng Đình Cúc, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 4, 2008 Đây là

bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành đưa ra quan điểm, giải pháp, phương hướng để xây dựng nền văn hóa trong thời kỳ mới theo nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 10

Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, của Nguyễn Khoa Điềm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.Công trình

là sự nhìn nhận nền văn hóa dân tộc dưới nhiều góc độ lich sử và thực tiễn, từ đó tác giả đã đưa ra các giải pháp xây dựng cho nền văn hóa đất nước trong tương lai

Vận dụng tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay, của TS Hoàng Anh, đề tài cấp cơ sở trọng điểm năm

2008, Học viện Báo Chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2008 Đề tài là sự tổng kết các quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về cơ sở nền tảng, tính chất của nền văn hóa Việt Nam và nêu nên thực tiễn và vận dụng tư tưởng của Người vào xây dựng nền văn hóa ở nước ta hiện nay

Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản

sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới, của Tô Huy Rứa, Tạp chí Cộng sản, số 786,

2008 Đây là bài viết tác giả khẳng định tính chất đúng đắn của việc phát huy những giá trị văn hóa dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và sự vận dụng vào nền văn hóa ở nước ta hiện nay, Doãn Thị Mai Thủy, luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Hồ Chí Minh học,

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2010

Tìm hiểu đường lối của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc, của Vũ Thị Kim Nga, Luận văn thạc sĩ lịch sử, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1998

Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về tính dân tộc của văn hóa nghệ thuật vào xây dựng nền văn hóa nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay, của Nguyễn Thị Thu Hiền, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2008

Đó là các công trình luận văn nghiên cứu mà tác giả đã khái quát về mặt lý luận nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phân tích thực tiễn vận dụng trong hoàn cảnh đất nước hiện nay

Trang 11

Có thể nói, phần lớn các tác giả giải quyết vấn đề theo hướng khái quát hóa các quan điểm lý luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và tính chất nền văn hóa nói chung, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Đồng thời

dự báo xu hướng, đề xuất các giải pháp tiếp tục phát triển đời sống văn hóa, xã hội dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Nhìn chung, nghiên cứu về văn hóa và văn hóa Hồ Chí Minh nói chung khá đa dạng và phong phú Các tác phẩm đều đã tập hợp được nhiều tư liệu và trình bày một cách có hệ thống các quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về văn hóa và các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng ta về việc xây dựng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đánh giá thực trạng đời sống văn hóa nước ta, phù hợp giữ lý luận với thực tiễn, là cơ sở tạo điều kiện cho việc xây dựng một nền văn hóa sáng tạo, toàn diện và bền vững Song các công trình nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng nói riêng thì không nhiều, mà vấn đề chỉ được đề cập

ở mức độ chung chung hoặc nghiên cứu, tìm hiểu với tính chất là một khía cạnh của vấn đề hoặc được viết chung với các vấn đề nghiên cứu khác Vì vậy, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứ của những người đi trước, luận văn

sẽ tiếp tục đi sâu phân tích để góp phần làm rõ hơn nữa tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng của nền văn hóa Việt Nam và việc xây dựng nền văn hóa

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích

Luận văn làm rõ nội dung Tư tưởng Hồ Chí Minh về nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng và sự vận dụng của Đảng ta vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

3.2 Nhiệm vụ

- Phân tích và làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học và đại chúng

Trang 12

- Phân tích và làm rõ sự vận dụng của Đảng ta trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

- Đề xuất các phương hướng, giải pháp trong việc vận dụng và xây

dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền văn hóa có ba tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng

- Nghiên cứu thực trạng sự vận dụng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn

hóa dân tộc, khoa học, đại chúng và quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta trong giai đoạn

hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của Đề tài

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành của ngành Hồ Chí Minh học và một số phương pháp khác như: phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp diễn dịch, quy nạp…

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Luận văn góp phần phân tích một cách có hệ thống các vấn đề về yếu

tố hình thành, nội dung, quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn

Trang 13

hóa dân tộc, khoa học, đại chúng và tìm hiểu thực trạng, sự vận dụng trong xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay

- Góp phần khẳng định giá trị lý luận và giá trị thực tiễn của Tư tưởng

Hồ Chí Minh trong xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng

- Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng, phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Làm rõ thêm và góp phần nghiên cứu lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh

về văn hóa

- Khi luận văn được bảo vệ thành công, có thể là tài liệu tham khảo, phục

vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, các trường Chính trị nói chung

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia làm 2 chương 5 tiết

Trang 14

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NỀN VĂN HÓA

CÓ TÍNH CHẤT DÂN TỘC, KHOA HỌC, ĐẠI CHÚNG

1.1 Quá trình nhận thức của Hồ Chí Minh về nền văn hóa có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng

1.1.1 Nhận thức của Hồ Chí Minh về nền văn hóa có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng trước năm 1945

1.1.1.1 Từ tinh hoa văn hóa Việt Nam

Mỗi nền văn hóa của một quốc gia đều có cốt cách riêng của dân tộc mình Tiếng nói dân tộc, tâm lý dân tộc, tình cảm dân tộc, các phong tục tập quán chính là điểm đặc biệt tạo nên cốt cách của mỗi dân tộc đó Trước khi đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nuôi dưỡng trong một nền văn hóa nghệ thuật có đầy bản sắc Ca dao, tục ngữ, các tích chèo của Đồng bằng Bắc Bộ, các bài hát dậm, hát ví, hát chòi, hát tuồng của miền Trung, rồi nhạc tài tử miền Nam đã in đậm vào tư tưởng tình cảm của người thầy giáo trẻ Nguyễn Tất Thành ngày ấy

Cùng với một nền văn hóa dân gian đặc sắc, một nền văn hóa bác học cũng đã ăn sâu vào tâm khảm người học trò xứ Nghệ tại Cố đô Huế Tiếp thu các giá trị về văn hóa của dân tộc như: Bài thơ thần của Lý Thường Kiệt, bài

Hịch Tướng Sỹ của Trần Hưng Đạo, bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi,

thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyện Kiều của Nguyễn Du là nguồn quan

trọng hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nghệ thuật

Trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, văn hóa các dân tộc có giao lưu

và thống nhất trong đa dạng Văn hóa của mỗi dân tộc bao gồm cả các giá trị văn hóa nghệ thuật của đồng bào miền xuôi và đồng bào miền ngược Tất cả các giá trị này đều bình đẳng ngang nhau Những giá trị ấy đều có lịch sử lâu đời và đều là những bông hoa trong vườn hoa chung của dân tộc Chủ tịch Hồ

Trang 15

Chí Minh cho rằng các dân tộc trên đất nước ta đều bình đẳng về mọi mặt Tất

cả các dân tộc nước ta đều có điều kiện và có quyền phát huy khả năng của mình, trong hoạt động sáng tạo

Thực tiễn xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam cho thấy, tư tưởng của Hồ Chí Minh “…Vào vườn hoa, cần cho mọi người được thấy nhiều loại hoa đẹp”[64, tr.665], là đúng đắn Nó cống hiến vào kho tàng lý luận xây dựng nền văn hóa đa dân tộc với những tư tưởng nhân văn sâu rộng của Người

Nền văn hóa nói chung và tính chất nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng nói riêng, là mối dây tình cảm ràng buộc quá khứ, hiện tại và tương lai của mỗi cộng đồng dân tộc Xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam tiên tiến, khoa học nhưng cần bảo tồn và tôn trọng, phát huy các giá trị truyền thống, gìn giữ nó để xây dựng nền văn hóa trong thời đại mới Khi xây dựng nền văn hóa mới, Hồ Chí Minh chăm lo đến tính dân tộc của nghệ thuật Người đã viết rằng: “Phát triển những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng”[56, tr.40] Theo Hồ Chí Minh, nghệ thuật của cha ông hay lắm, tốt lắm, làm công tác văn nghệ mà không tìm hiểu sâu sắc vốn dân tộc thì không làm được Năm 1962, trong lời phát biểu tại triển lãm mỹ thuật, Người đã ân cần căn dặn anh chị em nghệ sĩ nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”[52, tr.511] Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật là kết tinh truyền thống hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau

Trang 16

1.1.1.2 Hồ Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa văn hóa phương Đông, phương Tây

Trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, văn hóa vừa là một mặt trận, vừa

là phương thức giao cảm giữa dân tộc này với dân tộc khác Sự phong phú thẩm mỹ của mỗi nền văn hóa dân tộc còn được tạo nên bởi giao lưu văn hóa

Phép biện chứng giữa cái dân tộc và cái quốc tế là nền tảng tư tưởng thẩm mỹ Hồ Chí Minh khi khẳng định mỗi dân tộc cần chăm lo đến nền văn hóa của dân tộc mình Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã viết rằng: Khi chủ nghĩa dân tộc thắng lợi “nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”[52, tr.513] Trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, mỗi nền văn hóa dân tộc chỉ có thể tồn tại khi nó mở rộng giao lưu quốc tế Giao lưu quốc tế là biện pháp tốt để nâng cao các giá trị của nền văn hóa mỗi dân tộc Khi giao lưu quốc tế, mỗi dân tộc có thể hấp thụ các giá trị tốt đẹp các nền văn hóa khác mà duy trì, phát triển nền văn hóa chính mình Khi giao lưu quốc tế thì nền văn hóa của mỗi dân tộc lại được giới thiệu rộng rãi cho toàn thể nhân loại Vì thế, trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội Đảng lần thứ II,

Hồ Chí Minh đã nêu rõ phương hướng xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam là: “đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới” [56, tr.40]

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh hoa văn hóa dân tộc gắn chặt chẽ với thời đại, do đó “tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn với tinh thần “vi quốc” của bọn đế quốc phản động Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế”[56, tr.39] Theo tư tưởng này, Hồ Chí Minh đã mời nhiều nhà văn hóa, nhiều tổ chức nghệ thuật đến trao đổi văn hóa với Việt Nam, và ngược lại Việt Nam cũng đã cử nhiều đại diện các nhà hoạt động văn hóa xuất sắc ra nước ngoài Nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của nhân loại được lưu hành đan xen nhiều trong nền văn hóa dân tộc của chúng ta

Trang 17

Tư tưởng giao lưu văn hóa để gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc của

Hồ Chí Minh xuất phát từ lòng yêu thương rộng lớn đối với con người và lý tưởng cộng đồng cao quý Hồ Chí Minh nói rằng cần phải “gạt bỏ Đế quốc Chủ nghĩa cường quyền và Quốc gia chủ nghĩa chật hẹp, vì cả hai đều không hợp thời Chúng ta có chung một lý tưởng triết học phương Đông, và phương Tây, đều thực hiện một giáo dục chung” [54, tr.401]

Một lần đến thăm Việt Nam, ông Rút Bersatski - nhà văn hóa của Liên

Xô đã phỏng vấn Hồ Chí Minh về bản sắc dân tộc của nền văn hóa Việt Nam, Người đáp “các bạn chớ hiểu là tôi cho rằng chúng tôi cần phải dứt bỏ văn hóa nào đó, dù là văn hóa Pháp đi nữa Ngược lại tôi muốn nói điều khác Nói đến việc phải mở rộng kiến thức của mình về văn hóa thế giới, mà đặc biệt hiện nay

là văn hóa Xô viết - Chúng tôi thiếu nhưng đồng thời tránh nguy cơ trở thành kẻ bắt chước Không thể lấy từ nghệ thuật của dân tộc khác, chỉ riêng mặt nào đó - chẳng hạn, tính ước lệ nổi tiếng của văn nghệ Trung Quốc, cái đó sẽ chẳng hay

ho gì Văn hóa của dân tộc khác cần phải nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới có thể tiếp thu được nhiều hơn cho văn hóa của chính mình”[50, tr.516]

Lúc phê bình điện ảnh, khi tham quan triển lãm mỹ thuật quốc tế, hay tự mình sáng tác văn học, hội họa, thi ca; Hồ Chí Minh luôn chú ý đến mối quan hệ của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại Người coi địa chỉ của tất cả các giá trị văn hóa quốc tế đều bắt nguồn từ giá trị dân tộc Nghệ sĩ cảm nhận thế giới từ cách cảm, cách nghĩ của dân tộc mình Đỗ Phủ hay Tề Bạch Thạch, Tônxtôi hay Taygor…các danh nhân văn hóa thế giới lớn ấy đều cảm nhận cuộc sống, sáng tạo nghệ thuật theo cách cảm, cách nghĩ của nhân dân mình

Giá trị dân tộc là cái gốc của văn hóa và giá trị toàn nhân loại là hướng vươn tới phổ biến của giá trị dân tộc Song, nhân tố nhân loại lại nằm ngay trong nhân tố dân tộc của văn hóa Ngôn ngữ nghệ thuật bản thân nó có tính toàn nhân loại Cái đẹp của nghệ thuật hội họa, thi ca, âm nhạc, văn chương vừa gắn bó với tinh hoa dân tộc vừa mang ý nghĩa quốc tế Trong thời đại ta, vận mệnh của mỗi dân tộc gắn liền với vận mệnh của nhân loại Những chủ

Trang 18

đề lớn lao, những day dứt khôn nguôi của mỗi nền văn hóa dân tộc, đều lay động, thức tỉnh lương tâm nhân loại Các vấn đề thiện ác, đẹp xấu, cao thượng, thấp hèn, đúng sai… trong nền văn hóa của mỗi dân tộc có thể tác động làm thổn thức hàng chục triệu trái tim nhân loại Nhà văn vĩ đại Hêmingue đã miêu tả người chiến sĩ tình nguyện Tây Ban Nha cầm súng chiến đấu chống bọn phát xít Khi anh ngã xuống, tiếng chuông cầu nguyện anh đã thức tỉnh ý thức hòa bình của nhân loại

Hồ Chí Minh là một danh nhân văn hóa, là một người có lý tưởng độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hòa bình cho nhân loại, khi xây dựng nền văn hóa nghệ thuật mới Việt Nam, một nền văn hóa ra đời trong chiến tranh

và phải giải quyết các chủ đề bi hùng của cuộc chiến, Người đã giáo dục cho những nghệ sĩ Việt Nam lòng yêu hòa bình tha thiết Nền văn hóa mới ở Việt Nam, do mang chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc mà đã xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của các nền văn hóa chống đế quốc trong thời đại ta

Trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa tính độc đáo dân tộc của văn hóa với nền văn minh nhân loại ngoài chính sách giao lưu văn

hóa còn có cả năng lực sáng tạo của nghệ sĩ Nhà văn hóa lớn, với lý tưởng

nhân đạo của mình, một cảm hứng nghệ thuật mãnh liệt và tầm nhìn tỉnh táo sắc sảo, Hồ Chí Minh vừa làm vẻ vang nền văn hóa đậm tính dân tộc Việt Nam, vừa góp phần làm phong phú văn hóa nghệ thuật của nhân loại Trong

tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, cái bao trùm nhất, lâu bền nhất là tính nhân dân, tính dân tộc đậm đà của nền văn hóa Việt Nam

1.1.1.3 Hồ Chí Minh đến với ánh sáng lý luận văn hóa của chủ nghĩa Mác – Lênin

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa nghệ thuật Nghệ

thuật là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh hiện thực một cách cụ thể sinh động bằng hình tượng nghệ thuật Nghệ thuật bắt nguồn từ lao động sản xuất, đấu tranh cách mạng, nó tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người

Trang 19

Nghệ thuật là sản phẩm bậc cao của ý thức con người, là sự thăng hoa sức mạnh bản chất người Là một hình thức phản ánh đặc biệt, ý thức nghệ thuật vẫn là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Bản chất xã hội của nghệ thuật không phải là ở chỗ phương hướng phản ánh xã hội của một loại nghệ thuật là như thế nào, mà nó thể hiện ở chỗ phương thức phản ánh nói lên được cái gì của đời sống hiện thực Không phải nghệ thuật tạo ra hiện thực,

mà ngược lại đời sống hiện thực quy định nội dung, bản chất của nghệ thuật

Là sự phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh cơ sở kinh tế Trong xã hội có giai cấp nghệ thuật phản ánh mối quan hệ giai cấp và mang tính giai cấp sâu sắc

Nghệ thuật không những có tính đảng, tính giai cấp mà còn có tính nhân dân, tính dân tộc, tính quốc tế sâu sắc Nghệ thuật tiến bộ phản ánh, bảo

vệ lợi ích của nhân dân lao động và dân tộc, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ của quần chúng, phát triển những tình cản tốt đẹp của quần chúng Nghệ thuật xã hội chủ nghĩa có sự thống nhất giữa tính đảng vô sản với tính nhân dân sâu sắc Đặc trưng của nghệ thuật được biểu hiện tập trung ở đặc trưng của hình tượng nghệ thuật đó là khái quát hoá, điển hình hoá, sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung và sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan Nghệ thuật

có nhiều chức năng như thưởng thức, nhận thức, giáo dục, giao lưu Một tác phẩm nghệ thuật có tác dụng lớn lao về mặt nhận thức, giáo dục và thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ cho con người và xã hội, phải là tác phẩm có nội dung tốt, hình thức thể hiện phù hợp với nội dung

Nắm vững và vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin, Hồ Chí Minh dưới ánh sáng của một thế giới quan và lý tưởng thẩm mỹ tiến bộ vào trong tác phẩm nghệ thuật Trong đó yếu tố khách quan cuộc sống là yếu tố suy đến cùng quy định toàn bộ nội dung hiện thực của tác phẩm nghệ thuật Còn yếu

tố chủ quan của Người là yếu tố trực tiếp quyết định chủ đề nội dung tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật Tiêu chí của một tác phẩm nghệ thuật có nội dung tốt là phản ánh trung thực hiện thực khách quan, song không phải là sự sao

Trang 20

chép máy móc mà là sự khái quát hoá, điểm hình hoá, tái tạo sáng tạo hiện thực mang giá trị thẩm mỹ cao

Các tác phẩm nghệ thuật của Hồ Chí Minh là cách thức tổ chức, kết cấu bên trong của nội dung tác phẩm Hình thức là cách thức thể hiện nội dung Nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật tốt phụ thuộc trực tiếp vào trình độ thẩm mỹ, lập trường giai cấp, thế giới quan, phương pháp luận Đồng thời, còn phụ thuộc vào lý tưởng cách mạng, trình độ văn hoá vốn sống

và khả năng chọn lọc, sử dụng hệ thống tín hiệu, chất liệu, ngôn ngữ của người nghệ sỹ Mục đích sử dụng, cách thức giải quyết mối quan hệ giữa tính giai cấp, tính nhân dân của văn hoá bao giờ cũng bị chi phối bởi hệ tư tưởng của gia cấp thống trị Tính dân tộc của văn hoá là dấu hiệu cơ bản để phân biệt văn hoá của dân tộc này với dân tộc khác Tính dân tộc và tính nhân loại phổ biến của văn hoá là hai mặt thống nhất của nền văn hoá dân tộc, tính dân tộc không hoà tan vào tính nhân loại phổ biến, ngược lại tính nhân loại phổ

biến không thể lấn át tính dân tộc

Như vậy, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề văn hóa văn nghệ trong vấn đề chung của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Đó là việc giải phóng năng lực sáng tạo của hàng triệu người đã từng

bị chế độ Phong kiến và Tư bản làm bần cùng hóa Đó là sự nghiệp cần phải tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân xây dựng chế độ mới Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, quần chúng nhân dân thường ít học

và lạc hậu về văn hóa Hồ Chí Minh đã từng lập kế hoạch về cuộc cách mạng văn hóa để cứu nước Việt Nam lạc hậu, làm tăng trưởng các khả năng sáng tạo mới trong nhân dân, đẩy nền văn hóa văn nghệ của nước ta lên một trình

độ sáng tạo mới Trong thời gian chuẩn bị cách mạng, để có một tuyên ngôn tập hợp lực lượng sáng tạo của quần chúng và có một định hướng cho những người cách mạng thống nhất hoạt động trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật,

Trang 21

Hồ Chí Minh đã khẳng định nền văn nghệ mới của giai cấp vô sản nó sẽ phục

vụ hàng triệu và hàng chục triệu nhân dân lao động, tức là tinh hoa, lực lượng

và tương lai của đất nước Nền văn hóa văn nghệ của giai cấp vô sản mang tính nhân dân sâu sắc

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Hồ Chí Minh đã tiến hành ngay vào xây dựng, tổ chức nền văn hóa nghệ thuật mà trong đó có vai trò của quần chúng nhân dân sẽ trở thành chủ đạo Đó là một nền nghệ thuật thuộc về nhân dân, bắt rễ sâu xa trong lòng quần chúng đông đảo

Lãnh đạo của Cách mạng Việt Nam tiến hành giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trung thành với các nguyên lý sáng tạo của Chủ nghĩa Mác – Lênin Người đã hướng mọi tâm huyết của mình trên ngòi bút để vạch trần những cái xấu xa, thối nát, đê hèn,

dã man, tàn bạo của bọn cướp nước và bán nước Người bảo vệ “những người cùng khổ”, Người viết văn, làm thơ và vẽ với mục đích thức tỉnh nhân dân lao động giành lấy quyền sống, quyền làm người thiêng liêng

Tóm lại, cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa văn nghệ được hình thành từ tinh hoa văn hóa Việt Nam, giá trị văn hóa phương Đông, phương Tây, thực tiễn văn hóa thế giới và Việt Nam, từ lý luận Mác – Lênin

về văn hóa văn nghệ, bên cạnh đó còn xuất phát từ chủ quan của Hồ Chí Minh, trong đó lý luận Mác – Lênin về văn hóa đóng vai trò quyết định tính

cách mạng, khoa học trong tư tưởng văn hóa văn nghệ của Hồ Chí Minh

1.1.1.4 Đấu tranh trên lĩnh vực văn hoá của Đảng và Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Ngay sau đó, hàng loạt các phong trào cách mạng đã nổ ra rầm rộ, mạnh mẽ mà tiêu biểu nhất là Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931) đã diễn ra, mở đầu cho các phong trào cách mạng

và cuộc đấu tranh chống giặc pháp xâm lược của nhân dân cả nước

Trang 22

Trong cuộc đấu tranh, những chiến sĩ cách mạng kiên cường như Hồ Tùng Mậu, Hồ Văn Ninh, Lê Tất Đắc, Trần Hữu Chương, Ngô Đức Mậu đã trở thành tác giả của những bài thơ cách mạng Đồng thời, đông đảo người dân lao động tham gia cách mạng cũng đã dùng những hình thức văn nghệ quần chúng như: ca trù, hò, vè, ca dao, để nói lên tiếng nói nhiệt thành đối với cách mạng và lên án mạnh mẽ ách áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến, thơ văn

Xô Viết Nghệ Tĩnh thời kỳ này đã đóng vai trò cổ động, tuyên truyền vận động đấu tranh không chỉ ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh mà còn lan rộng ra các khu vực khác Trong những nhà tù chính trị như Hỏa Lò, Côn Đảo, Kon Tum, Lao Bảo, Sơn La và trại giam ở nhiều nơi, những người tù chính trị, các chiến sĩ cách mạng đã biên soạn các tài liệu lý luận chính trị, các lớp học văn hóa được ra đời Các trào lưu văn nghệ cũng xuất hiện như: Trào lưu thơ mới và văn học lãng mạn mà tiêu biểu là nhóm “Tự lực văn đoàn” với một số tên tuổi như: Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Thứ Lễ, Ngô Xuân Diệu, Nguyễn Cát Tường Trên văn đàn công khai cũng đã diễn ra các cuộc tranh luận về triết học duy vật và duy tâm; nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh nhằm chống lại những luận điệu tuyên truyền cho chủ nghĩa duy tâm của Phan Khôi

Như vậy, lần đầu tiên trên diễn đàn văn học nước ta, những quan điểm Mácxít về văn học nghệ thuật được trình bày có tính lý luận Điều đó bước đầu đẩy lùi những quan điểm của văn học nghệ thuật tư sản và góp phần hướng những văn nghệ sỹ đang có tư tưởng bế tắc vào con đường đem văn học nghệ thuật phục vụ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc Cuộc tranh luận này có tác dụng thúc đẩy sự nghiệp xây dựng một nền văn hoá mới của dân tộc phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại Hầu hết các cây bút của cả hai phái “vị nhân sinh” hay “vị nghệ thuật” trong cuộc tranh luận trên đây về sau đều đã trở thành những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá Thời kỳ 1936 - 1939, tình hình thế giới có những chuyển biến quan trọng với sự ra đời của chủ nghĩa phát xít Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệt để sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh cách mạng Mặc dù chế

Trang 23

độ thuộc địa chỉ giành quyền ra báo cho một số tư sản, địa chủ, trí thức thân Pháp mà lòng trung thành đã được bảo đảm Đối với báo chí tiến bộ, bọn thống trị đặt ra những luật lệ khắt khe, thi hành chế độ kiểm duyệt gắt gao, luôn luôn rút giấy phép hoặc tịch thu Thống sứ, Thống đốc, Khâm sứ và vua quan triều Nguyễn luôn luôn ra nghị định cấm lưu hành, tàng trữ sách báo tiến bộ trong địa hạt cai trị của chúng Nhưng văn hóa quần chúng và những sáng tác, tác phẩm phục vụ cho cách mạng, cho phong trào đấu tranh vẫn được các văn nghệ sĩ, cá nhân, tập thể yêu nước tuyên truyền cho mục đích chống giặc xâm lược một cách công khai và bán công khai

Từ ngày 25 đến 28-2-1943, đồng chí Trường Chinh, lúc này là Tổng Bí Thư đã triệu tập Ban Thường vụ Trung ương tại Võng La, Đông Anh, Phúc Yên

để bàn việc mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa

vũ trang Cũng tại Hội nghị này, Ban Thường vụ đã thông qua Đề cương Văn hóa Việt Nam do đồng chí Trường Chinh trực tiếp dự thảo

Đề cương đã xác định văn hoá là một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị, văn hoá của cách mạng Việt Nam Đề ra ba nguyên tắc của nền văn hoá mới là Dân tộc hóa – Khoa học hóa – Đại chúng hóa Xác định khái niệm văn hoá bao gồm cả tư tưởng, học thuật và nghệ thuật, những vấn đề cơ bản của đời sống tinh thần xã hội và khẳng định văn hoá mới Việt Nam có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung

Có thể coi Đề cương chính là cương lĩnh văn hoá của Đảng trong cách mạng giải phóng dân tộc, là phương hướng chỉ đạo hoạt động văn hoá, nghệ thuật trong quá trình đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và cả những năm sau đó, khi vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc, vừa kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Với ba nguyên tắc “Dân tộc hóa – Đại chúng hóa - Khoa học hóa” văn hóa Việt Nam thời đó “chưa phải là văn hóa xã hội chủ nghĩa” mà mới chỉ là “một thứ văn hóa

có tính chất dân tộc về mặt hình thức và tân dân chủ về nội dung” [36, tr.320] nhưng ba nguyên tắc ấy đã là một chỉnh thể, một không gian ba chiều, là một hệ

Trang 24

thống với những thành tố quan hệ hữu cơ, tương tác vô cùng quan trọng và cần thiết trong từng thời kỳ và sự phát triển chung của đất nước Những nguyên tắc này đã trở thành những nguyên tắc có tính lịch sử, những định hướng cơ bản trong đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng ta suốt từ ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và nhất là từ năm 1954 đến nay Tinh thần của những nguyên tắc ấy được thể hiện trong hầu hết các Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, dù cho mỗi đại hội có dùng những câu chữ khác nhau, phản ánh quá trình nhận thức rõ hơn, sâu hơn, phù hợp hơn qua mỗi thời kỳ, giai đoạn phát triển khác nhau của cách mạng Nhờ đó, nền văn hóa Việt Nam trong nửa thế kỷ qua đã

có những bước phát triển chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc Những thành tựu lớn lao ấy đã đóng góp một phần không nhỏ vào thắng lợi trong công cuộc đánh thắng giặc ngoại xâm và dựng xây đất nước, dựng xây chủ nghĩa xã hội

Từ một thực trạng “văn hóa nửa phong kiến, nửa tư sản và hoàn toàn thuộc địa” [36, tr.317], chúng ta đã có một nền văn hóa của một dân tộc anh hùng, bền bỉ đấu tranh giành độc lập và đã trở thành một quốc gia độc lập, có vị trí trên thế giới Truyền thống văn hóa hàng ngàn năm đã được nối mạch trở lại

và phát triển Văn hóa “nô dịch” mà mục đích của nó là “nhồi sọ” và ngu dân, ngày nay chúng ta có một nền văn hóa của dân , do dân, vì dân Đề cương văn hóa Việt Nam đã khẳng định nguyên tắc đúng đắn và sức sống mãnh liệt của văn hóa dân tộc Dù đã ra đời hơn 72 năm qua nhưng Đề cương văn hóa năm 1943 vẫn còn nguyên giá trị và mang tính cập nhật thời đại

1.1.2 Nhận thức của Hồ Chí Minh về nền văn hóa có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng trong hai cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

1.1.2.1 Kết hợp truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại để xây dựng một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng

Trải qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân

tộc Việt Nam đã xây dựng và bồi đắp được nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp như giữ gìn và phát triển tiếng nói dân tộc; nuôi dưỡng và làm giàu vốn văn

Trang 25

hóa dân gian, những điệu hò, lời ru, những điệu ca trù, hát ví, hát dặm… Ngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã rất trân trọng nét đẹp văn hóa dân tôc Sau này, Người thường ca ngợi, quảng du hình ảnh và coi đó là những của quý tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn và là chìa khóa của những người làm công tác văn hóa văn nghệ

để đi sâu, đi xa, khám phá kho tàng văn hóa dân tộc và nhân loại

Để phát triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, Người cho rằng trước hết cần phải “tìm hiểu sâu vốn của dân tộc” Người thường nhắc nhở anh chị em làm công tác văn hóa văn nghệ về thái độ trân trọng vốn văn hóa dân tộc: “Làm công tác văn nghệ mà không hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được đâu” [82, tr.93] Bản thân Người cũng thuộc nhiều những câu hò, lời ca, điệu ví, hát tuồng, chèo, phường vải, am hiểu cả âm nhạc, dân ca, thơ cổ điển, những tác phẩm đặc trưng như Kiều, Chinh Phụ Ngâm…Người cho rằng: Người nghệ sĩ không chỉ có hưởng thụ cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của vốn văn nghệ dân tộc, mà còn phải biết khai thác và phát triển nó lên.Phải thực sự có tâm huyết với văn hóa dân tôc, phải trân trọng và chịu khó học hỏi Từ tâm huyết và sự quý trọng mới đến sáng tạo và phát triển

Nét tiêu biểu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa dân tộc là sự kế thừa, phát huy và nâng cao lên một trình độ và chất lượng mới nhằm đáp ứng trình độ văn hóa và thưởng thức nghệ thuật ngày càng tăng của quần chúng nhân dân Đồng thời, những giá trị hiện đại, tiên tiến bao giờ cũng bắt nguồn từ truyền thống tốt đẹp Càng thấm nhuần những yếu tố văn hóa hiện đại thì càng cần phải coi trọng những yếu tố văn hóa truyền thống Tiếp chuyện phóng viên báo Đảng

và Thông tấn xã Cộng hòa Dân chủ Đức Irê –nê Pha – be, Hồ Chí Minh từng nói: “Nguyễn Du là một nhà thơ cổ điển vĩ đại của chúng tôi…Những người cộng sản chúng tôi rất quý trọng cổ điển Có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ ngọn nguồn cổ điển đó Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông” [82, tr.95]

Trang 26

Trong khi nhấn mạnh phát triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh không tách rời việc tiếp thu những cái mới của văn hóa tiến bộ trên thế giới Tính biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa rất sâu sắc, cụ thể Người cho rằng yếu tố dân tộc là yếu tố hàng đầu của văn hóa, tính dân tộc càng sâu sắc, hoàn thiện thì càng có điều kiện để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Một phóng viên trên tờ báo Mỹ “Diễn Đàn” khẳng định: “Cụ Hồ không phải là một người dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi mà Cụ là một người yêu mến văn hóa Pháp trong khi chống thực dân Pháp, một con người biết coi trọng những truyền thống cách mạng Mỹ trong khi Mỹ phá hoại đất nước của Cụ” [82, tr.96]

Là một dân tộc đã chịu ách đô hộ hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến, hàng trăm năm dưới chế độ thực dân đế quốc, chúng ta đã không có một truyền thống dân chủ Từ đó dẫn tới tình trạng điểm xuất phát để xây dựng nền văn hóa cách mạng của chúng ta ở mức thấp và có nhiều khó khăn Hơn nữa, đất nước ta đã trải qua một thời gian dài chiến tranh chống giặc ngoại xâm Ngay khi giành được độc lập, tự do thì đất nước lại rơi vào hoàn cảnh

“vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” Tình hình đó cắt nghĩa sự thiếu hụt tất yếu trong mối giao lưu văn hóa quốc tế Và không phải ai cũng có được suy nghĩ và hành động đúng về việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh như vậy Phải có một sự hiểu biết

và nhìn nhận khoa học Chính ở đây, Hồ Chí Minh là biểu tượng cho sự hòa nhập, giao lưu và sáng tạo Ngay từ năm 1946, tại Diễn đàn Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, Hồ Chí Minh đã nói với các nhà văn hóa:

“Có cái gì tốt của Đông phương hay Tây phương ta phải học lấy để tạo nên

1 nền văn hóa Việt Nam” [82, tr.97] và “Mình có thể bắt chước những cái hay của bất kỳ nước nào ở Âu, Mỹ nhưng điều cốt yếu là sáng tác Mình đã hướng cái hay của Người thì mình cũng có cái hay cho người ta hưởng Mình đừng chịu vay mà không trả” [82, tr.97,98]

Trang 27

Như vậy, nếu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh là người đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản khoa học, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, thì trong sự nghiệp văn hóa, Người cũng đã kết hợp nhuần nhuyễn đến kỳ lạ yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc với văn hóa nhân loại Người đã đi từ văn hóa dân tộc đến văn hóa nhân loại và kết hợp văn hóa dân tộc với văn hóa nhân loại trên cơ sở gốc là văn hóa dân tộc: “Phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng” [82, tr.99]

1.1.2.2 Văn hóa phải phục vụ quần chúng, phục vụ nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm mục tiêu

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, tư tưởng đi vào quần chúng để phục

vụ của Hồ Chí Minh đã thể hiện khá rõ nét trong các tác phẩm văn học của Người Sau ngày cách mạng thành công, tư tưởng “Các nhà văn hóa cần tổ chức chặt chẽ và đi sau vào quần chúng, phục vụ quần chúng” đã được quán xuyến suốt cả giai đoạn “kháng chiến kiến quốc” Phát biểu trong buổi khai mạc “Khai mạc phòng triển lãm văn hóa” tháng 10 năm 1945, Hồ Chí Minh nhận xét: “Những bức tranh này tỏ ra các nghệ sĩ của ta lâu nay đều đã cố gắng tìm một con đường đi Nhưng tiếc một điều là không muốn đi ở dưới đất

mà cứ muốn vụt lên trời: chất mơ mộng nhiều quá, mà cái chất thật của sự sinh hoạt rất ít”[ 82, tr.99,100]

Tư tưởng vì con người, vì hạnh phúc của nhân dân là tư tưởng lớn nhất,

cốt lõi nhất trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Tư tưởng văn

hóa phải phục vụ quần chúng, phục vụ nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm mục tiêu đã trở thành tư tưởng then chốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Trang 28

Mọi suy nghĩ và việc làm, tư duy và hành động của Hồ Chí Minh đều hướng vào quần chúng, lấy quần chúng làm đối tượng Đối với Hồ Chí Minh, nghĩ, viết và hành động đều xuất phát từ cái tâm “Vì nhân dân phục vụ” Người cũng đòi hỏi những người làm công tác văn hóa phải quan tâm trước hết và trên hết đối tượng phục vụ của mình là nhân dân Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, Hồ Chí Minh phát biểu: “Tôi tha thiết mong muốn cho nền văn hóa mới của nước nhà sẽ lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở” [82, tr.100]

Đọc các bài viết của Hồ Chí Minh về văn hóa, đặc biệt các thư của Người gửi các Hội nghị văn hóa toàn quốc, gửi đội ngũ những người làm công tác văn hóa, anh chị em trí thức… trong khoảng chưa đầy một thập kỷ (1945 - 1954), chúng ta có thể khẳng định được rằng tư tưởng “văn hóa phải lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu” của Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp văn hóa của Người Tháng 10 năm 1947, Trong

tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta phải ghi

tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt…Bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm… Nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo v.v… của chúng ta, đều phải lấy câu này làm khuôn phép:

“Từ trong quần chúng ra Về sâu trong quần chúng” [82, tr.101]

Sự vĩ đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là đã đánh giá đúng lực lượng và tài nghệ của nhân dân Nhân dân hưởng thụ văn hóa, kiểm nghiệm sản phẩm văn hóa, đồng thời sáng tạo văn hóa Nhân dân là mảnh đất nuôi dưỡng các nhà hoạt động văn hóa và tạo điều kiện cho tài năng nghệ sĩ phát triển Nhân dân là lực lượng quyết định thắng lợi của cách mạng trong đó

có sự thành, bại của văn hóa nghệ thuật Nhận thức rõ được những điều đó,

Hồ Chí Minh luôn coi quần chúng là gốc cách mạng và làm cách mạng vì hạnh phúc của quần chúng

Trang 29

1.1.2.3 Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy

Tư tưởng “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” của Hồ Chí Minh

có từ những năm hai mươi của thế kỷ XX, nhưng lần đầu tiên được phát biểu

thành văn trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951 Đây

là một tư tưởng lớn xuyên suốt mọi hoạt động văn hóa của Người

Người coi mặt trận văn hóa trong mối quan hệ ngang hàng với các mặt trận chính trị, kinh tế, quân sự… Đã là mặt trận thì ở đó phải có “chiến sĩ”, có lực lượng cách mạng và phản cách mạng, tiến bộ và phản tiến bộ…văn hóa, kinh tế, chính trị có tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau Và “văn hóa không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” Văn hóa phải phục vụ những mục đích chính trị nhất định và lấy kinh tế làm cơ sở Tuy nhiên, không phải bao giờ văn hóa cũng chờ kinh tế và đi sau kinh tế Ngược lại, có lúc văn hóa có vai trò “xung kích mở đường” rất lớn

Là một nước thuộc địa nửa phong kiến nên khi bắt tay vào xây dựng xã hội mới, chúng ta thừa hưởng một gánh nặng do quá khứ để lại, trong đó những giá trị văn hóa phản tiến bộ là một trở lực rất lớn Vì vậy, cùng với quá trình xây dựng chế độ mới, nền văn hóa cách mạng, cần phải từng bước khắc phục, đi đến xóa bỏ hoàn toàn những chướng ngại đó

Văn hóa trong thời kỳ kháng chiến – kiến quốc được Hồ Chí Minh đặc

biệt coi trọng Trong Thư gửi Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2, Hồ Chí

Minh chỉ rõ: “Chúng ta cần phải xây đắp một nền văn hóa kháng chiến kiến quốc thiết thực và rộng rãi, để giúp sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của toàn dân” [82, tr.102] Văn hóa là một bộ phận của cách mạng, là công cụ sắc bén của Đảng trong đấu tranh cách mạng Văn hóa phải gắn bó mật thiết với nhân dân, với Đảng, với dân tộc Lênin từng chỉ ra rằng : “Tất cả các tổ chức của văn hóa vô sản có trách nhiệm tuyệt đối phải hoàn toàn tự coi mình là những

cơ quan phụ thuộc trong hệ thống những cơ quan của Bộ dân ủy giáo dục và

Trang 30

phải làm tròn nhiệm vụ của mình, coi đó là một bộ phận của những nhiệm vụ của nền chuyên chính vô sản, dưới sự lãnh đạo chung của chính quyền xô viết (và đặc biệt là của Bộ Dân ủy Giáo dục) của Đảng Cộng sản Nga”

Cũng như Lênin, Hồ Chí Minh đặt ra cho văn hóa và chiến sĩ văn hóa những trọng trách lớn lao Muốn văn hóa trở thành một mặt trận đúng nghĩa của nó thì ở đó phải có những chiến sĩ văn hóa dũng cảm, kiên cường “có lập trường vững, tư tưởng đúng, nói tóm tắt là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết” [82, tr.104] Là lĩnh vực của

sự sáng tạo, của óc tư duy và trí tưởng tượng, văn hóa nghệ thuật có quy luật tồn tại và phát triển riêng Nhưng dù có sáng tạo hay sáng kiến cá nhân, tư duy hay tưởng tượng, thì sáng tác nghệ thuật cũng phải “hiểu thấu, liên hệ và

đi vào đời sống của nhân dân Như thế mới bày tỏ được cái tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy” [82, tr.104] Đây cũng là sự tiếp nối, kế thừa các chỉ thị của Đề cương văn hóa của Đảng năm 1943

Mặt trân văn hóa trong thời kỳ kháng chiến kiến quốc cũng mang những đặc trưng riêng, không giống như mặt trận văn hóa thời kỳ đấu tranh giành tự do, độc lập, càng không giống giai đoạn hòa bình xây dựng đất nước Đặc trưng cơ bản của thời kỳ 1945 – 1954 là cả nước “Kháng chiến và kiến quốc” Vì vậy, mặt trận văn hóa cũng phải tập trung cho nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Ngòi bút của các bạn cũng

là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà mà anh em văn hóa

và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho tổ quốc” [82, tr.105] Đi vào từng khía cạnh cụ thể, Người còn chỉ ra rằng: “Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của nhân dân, mà còn phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới biết

Trang 31

Các nhà văn hóa phải có những tác phẩm xứng đáng, chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền những gương mẫu oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho con cháu đời sau” [82, tr.105]

Tóm lại, cùng với tư tưởng “văn hóa mới phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm mục tiêu”, tư tưởng “văn hóa cũng là một mặt trận” của

Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú, phát triển và ngày một hoàn thiện

tư tưởng của Người về văn hóa

1.1.2.4 Văn hóa soi đường cho quốc dân đi

Đối với văn hóa, ý nghĩa soi đường cần hiểu như sự khai thông tư tưởng, từ thức tỉnh và cùng với thức tỉnh là sự định hướng cuối cùng dẫn tới hành động của cách mạng Người nói: “Phải làm thế nào cho văn hóa ăn sâu vào tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, và phải lấy tự do, độc lập làm gốc.Văn hóa phải làm cho mọi người vì nước quên mình”(82, tr.107) Vì vậy, khi nêu lên mối quan

hệ khăng khít của ba mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa, Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò “soi đường” của văn hóa

Ngay từ năm 1946, Người nói: “Đối với xã hội, văn hóa phải làm thế nào cho mỗi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả nam và nữ, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng những hạnh phúc mà mình đáng được hưởng Số phận dân ta ở trong tay ta Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” [82, tr.106]

Người chiến sĩ văn hóa cũng đóng một vai trò rất lớn, tác dụng sâu xa, lâu dài vào tâm lý của quốc dân Nó cổ vũ tinh thần kháng chiến, chỉ ra được đâu là cơ sở của niềm tin và chiến thắng Văn hóa cách mạng phải đứng trên lập trường giai cấp công nhân, phải định rõ thái độ đối với bạn, thù, phải chống văn hóa phải động và đồi trụy…

Trong mỗi giai đoạn lịch sử, ý nghĩa soi đường của văn hóa có những nội dung khác nhau Khi chưa giành được tự do, độc lập, nội dung soi đường

Trang 32

cơ bản của văn hóa là giác ngộ, thức tỉnh gieo hạt giống cách mạng, tố cáo chính sách nô dịch văn hóa của chủ nghĩa thực dân, định hướng nền văn hóa cách mạng… trong kháng chiến, cả dân tộc phải tập trung cao độ cho thắng lợi cuối cùng Vì vậy tác dụng soi đường cho kháng chiến mau thắng lợi là rất lớn Tư tưởng văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi theo đó là một tư tưởng then chối của Hồ Chí Minh về văn hóa có liên quan mật thiết với tư tưởng là một mặt trận, tập trung khẳng định vai trò to lớn của công cụ văn hóa của Đảng, của cách mạng

1.1.2.5 Sử dụng trí thức và nhân tài vào việc xây dựng một nền văn học nghệ thuật, khoa học tiên tiến

Cùng với nhiều quan điểm tư tưởng khác, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã chú ý tới việc trong dụng trí thức Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam vra đời, Người đã nên rõ nhiệm vụ của Đảng là phải hết sức liên lạc với tiểu

tư sản, trí thức, trung nông để kéo họ đi về phe vô sản giai cấp Tư tưởng đó

đã được quán triệt và triển khai rộng rãi sau khi Hồ Chí Minh sáng lập Mặt trận Việt minh Nhiều tổ chức của trí thức được thành lập theo Lời kêu gọi của Người như Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam (1943), Đảng dân chủ Việt Nam (1944) …

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, bằng tấm lòng rộng mở chân thành, vì nghĩa lớn đối với vận mệnh dân tộc, Hồ Chí Minh đã có những quyết sách lớn để đoàn kết được rộng rãi hơn và sử dụng được ở mức cao hơn năng lực của các tầng lớp nhân sĩ, trí thức bao gồm giới văn nghệ sĩ, các nhà khoa học v.v… Người nói: “Nước nhà cần phải kiến thiết Kiến thiết cần phải

có nhân tài…Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đại đoàn kết Đối với các vị quan lại cũ, cũng như đối với tất cả giới đồng bào, những người có tài,

có đức thì chính phủ đều hoan nghênh ra gánh vác việc nước” [54, tr.240]

Đối với một số công việc quan trọng, then chốt, đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao, Người đã trực tiếp tìm chọn người có tài, có đức trong giới

Trang 33

trí thức để ủy thác Người rất con trong trí thức dù cả trong kháng chiến kiến quốc hay xây dựng chủ nghĩa xã hội “cách mạng rất cần trí thức…Trí thức không bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức mà thôi” [82, tr.128]

Tư tưởng coi trọng nhân tài và trí thức là một khâu quan trọng có tính quy luật trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới Người cũng chú trọng việc sử dụng những nhân sĩ, trí thức cũ, xây dựng và phát triển lực lượng trí thức mới

Tư tưởng sử dụng trí thức của Hồ Chí Minh không chỉ được thể hiện bằng các chủ trương, lời kêu gọi mà còn thông qua những việc làm cụ thể của chính Người, đưa tới sức cảm hóa thực sự đối với các trí thức tiến bộ

Trong kháng chiến dù bận trăm công ngàn việc, Người vẫn không quên gửi một công điện cảm ơn một trí thức – thi sĩ đã gửi tặng Người một tập thơ Người khoan dung, độ lượng, không hề định kiến quá khứ, tìm đến từng con người cụ thể, với ai cũng tìm cách thuyết phục và dám dùng, kể cả lớp quan lại cũ miễn là có lợi cho cách mạng, vì lợi ích chung của toàn dân Đội ngũ trí thức Việt Nam đã tin tưởng đi theo con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra, bổ sung vào đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, văn hóa, văn nghệ Với lực lượng này, không những chúng ta có quyền tự hào rằng: “Những người lao động trí óc Việt Nam đều đứng trong hàng ngũ kháng chiến” mà đó còn là nhân tố có ý nghĩa quyết định hàng đầu trong việc thực hiện các nhiệm vụ xây dựng một nền khoa học mới, hiện đại, tiên tiến

1.1.2.6 Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

Sau hiệp đinh Giơnevơ năm 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, với hai chế độ chính trị khác nhau Miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Ở miền Nam, Pháp rút quân khi chưa thực hiện cuộc hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam – Bắc

Mỹ vào thay chân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ

Trang 34

Trước tình hình đó Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định nhiệm vụ của cách mạng nước ta lúc này là tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc Đây là đặc điểm lớn nhất, độc đáo nhất của cách mạng Việt Nam thời kỳ 1954 – 1975 Với nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, việc xây dựng nền văn hóa mới, đời sống văn hóa mới, lối sống mới vô cùng quan trọng bởi lúc này miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với cách mạng cả nước, còn miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất tổ quốc Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển Đó là quan hệ giữa hậu phương với tuyền tuyến.

Từ 1954 - 1957, miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” Qua 5 đợt cải cách, mặc dù gặp phải những hạn chế và phải trả giá đắt cho nhiều bài học kinh nghiệm nhưng việc cải cách ruộng đất đã xoá bỏ triệt để chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến Sau cải cách,

bộ mặt nông thôn miền Bắc có nhiều thay đổi, khối liên minh công nông được củng cố Kinh tế nông thôn đã khởi sắc với tinh thần hăng say lao động của người nông dân

Tháng 9 năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã diễn ra tại Hà Nội xác định nhiệm vụ chiến lược chung của cách mạng cả nước: Tăng cường đoàn kết các dân tộc, quyết tâm đấu tranh giữ vững hoà bình; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng, dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; tiến tới hoà bình thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập và dân chủ; xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình thế giới

Trang 35

Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng miền Bắc vững mạnh

là tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, là tiền tuyến chi viện cho miền Nam đánh Mỹ tiến tới mục tiêu thống nhất đất nước

Đại hội đã xác định, mục tiêu, kế hoạch, chiến lược xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc, thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) nhằm bước đầu xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội Đưa các phong trào thi đua xây dựng hợp tác xã văn hóa, các phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, hăng say lao động “mỗi người làm việc bằng hai” [62, tr.572] Củng cố quan hệ sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao chất lượng và phổ cập giáo dục đến mọi tầng lớp nhân dân, nâng cao chất lượng y

tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân và dù phải vượt qua rất nhiều khó khăn, thử thách và bị Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại (1965 - 1968) nhưng miền Bắc vẫn đứng vững hoàn thành nghĩa vụ hậu phương đối với tiền tuyến miền Nam Từ trong sức sống mãnh liệt và tinh thần quyết tâm cao độ của nhân dân miền Bắc với cách mạng, các giá trị văn hóa đã được bộc lộ và phát huy cao

độ Đảng ta luôn coi trọng xây dựng nền văn hoá Việt Nam vừa mang tính dân tộc, vừa hiện đại, mang tính chất xã hội chủ nghĩa Văn hoá luôn được xác định là một mục tiêu, thậm chí là mục tiêu bao trùm của sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời là động lực, nền tảng vững chắc nhất của cách mạng

Trong văn kiện Đại hội III của Đảng (09/1960) cũng đã nêu rõ đường lối xây dựng nền văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng xác định văn hoá - tư tưởng là một cuộc cách mạng, tiến hành đồng thời gắn bó chặt chẽ với cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học kỹ thuật Đảng đề ra đường lối tiến hành cuộc cách mạng văn hoá tư tưởng, xây dựng nền văn hoá mới xã hội chủ

Trang 36

nghĩa mang đặc trưng dân tộc - khoa học - đại chúng tiếp tục được phát triển,

bổ sung trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Trong giai đoạn này, chiến trường miền Nam cũng bước vào những năm tháng gay go, ác liệt nhất, nhân dân miền Nam chuyển từ đấu tranh vũ trang trong kháng chiến chống Pháp sang đấu tranh chính trị, đòi thi hành Hiệp định; rồi phát triển lên đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ, chống những chính sách khủng bố của kẻ thù Qua thực tiễn đấu tranh, lực lượng chính trị được bảo tồn và phát triển, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng được xây dựng lại ở nhiều nơi Đó là điều kiện để tiếp tục đưa cách mạng tiến lên, nhiều phong trào chống giặc ngoại xâm trong quần chúng dâng cao đã thành cao trào cách mạng như: Phong trào Đồng khởi (1959 - 1960)

…quân dân miền Nam cũng anh dũng đấu tranh chống lại các chiến lược

chiến tranh của Đế quốc Mỹ như: Chiến lược chiến tranh đặc biệt 1965), Chiến lược chiến tranh cục bộ (1965-1968), Chiến lược “Việt Nam

(1961-hóa chiến tranh” và “Đông Dương (1961-hóa chiến tranh” (1969 - 1973), chống

chiến tranh bình định - lấn chiếm ( 1973 - 1975) Và kết thúc với Cuộc Tổng

tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975 đã đem lại thắng lợi hoàn toàn cho cách

mạng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Như vậy, với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam để đưa đất nước về một khối thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nhiệm vụ quan trọng của văn hóa trong giai đoạn 1954 - 1975 này là tiến hành xóa nạn mù chữ, xây dựng, cải cách lại hệ thống giáo dục, phát triển kinh tế, khoa học, văn hóa nghệ thuật, giáo dục tinh thần yêu nước, làm chủ tập thể, làm chủ cá nhân của người dân, phổ biến lối sống mới sâu rộng vào mọi tầng lớp nhân dân và phê phán, xóa

bỏ những ảnh hưởng văn hóa cũ, lạc hậu và đấu tranh chống lại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mĩ, bài trừ văn hóa thực dân mới ở miền Nam

đã định hình cơ bản những giá trị văn hóa mới của dân tộc Với thắng lợi của

Trang 37

cách mạng nhân dân cả hai miền Nam – Bắc đưa đến thống nhất đất nước, tạo điều kiện cho Đảng và nhân dân ta xây dựng xã hội mới với nền văn hóa mới khoa học, đại chúng, nhân văn và đậm đà bản sắc dân tộc

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nền văn hóa có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng

Tính chất của nền văn hóa mới Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính lịch sử: Trong cách mạng dân tộc dân chủ được xác định với ba tính chất là: dân tộc, khoa học và đại chúng; trong cách mạng xã hội chủ nghĩa được khẳng định là có tính dân tộc và nội dung xã hội chủ nghĩa

Nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng lần đầu tiên được đưa ra trong Đề cương văn hóa năm 1943 do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng ta khởi thảo và được công bố năm 1943 trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai đang lan rộng

và ngày càng ác liệt Ở Việt Nam, tình hình kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa – xã hội rất phức tạp, mâu thuẫn giai cấp và dân tộc ngày càng sâu sắc Nhân dân ta không chỉ sống trong tình cảnh “một cổ hai tròng” do quân xâm lược Nhật, Pháp gây lên mà còn lâm vào tình cảnh lầm than, cơ cực do bè lũ tay sai “bóp nặn” một cách dã man, tàn ác Hơn nữa, phát xít Nhật và thực dân Pháp lại thi nhau vơ vét, bóc lột, đàn áp nhân dân, khủng bố phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo Trước cảnh nước mất, nhà tan, đời sống nhân dân cực khổ, lầm than, dưới sự kêu gọi và lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã đứng lên đánh giặc cứu nước; các tổ chức vũ trang cách mạng lần lượt ra đời; phong trào quyên góp lương thực, vũ khí, thuốc men, đưa con em tham gia các đội quân cách mạng diễn ra khắp các thôn làng, ngõ xóm Trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên yêu nước chịu ảnh hưởng của cách mạng đã đứng lên đấu tranh chống lại phát xít Nhật và thực dân Pháp, đòi lại quyền tự do, độc lập cho dân tộc Thế nhưng quân phát xít và thực dân đã cấu kết với bè lũ tay sai, dùng các thủ đoạn dã man, tàn ác, để khống chế nền kinh tế, chính trị

Trang 38

của nước ta, đặc biệt chúng kìm kẹp về văn hóa, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc văn hóa, kể cả thủ đoạn “trói buộc văn hóa và giết chết văn hóa Việt Nam” để thực hiện mưu đồ xâm lược của chúng

Trong bối cảnh ấy, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng đã họp từ ngày 25 đến 28 - 2 - 1943 để bàn biện pháp đối phó tình hình, quyết tâm đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng trong cả nước, tiến tới chặn đứng và đập tan âm mưu, thủ đoạn xâm lược của phát xít Nhật và thực dân Pháp Từ thực tiễn hơn chục năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lại đứng trước những việc cần kíp bắt buộc phải làm ngay, kịp thời ngăn chặn bàn tay nhuốm máu đầy tội ác của kẻ thù, Đảng ta nhận định rằng, trong lúc này, Đảng cần phải có các tổ chức và đội ngũ cán bộ chuyên môn hoạt động về văn hóa, văn nghệ để gây dựng và thúc đẩy phong trào văn hóa tiến bộ, văn hóa cứu quốc, nhằm chống lại văn hóa phát xít thụt lùi, văn hóa phong kiến bảo thủ, lạc hậu…Vì vậy, Hội nghị Thường vụ Trung ương lần này, Đảng ta khẳng định rõ thái độ của mình đối với vấn đề văn hóa và nó được ghi rõ trong Đề cương văn hóa Việt Nam được công bố năm 1943

“1 Phạm vi vấn đề: Văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật

2 Quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, chính trị: nền tảng kinh tế của một xã hội

và chế độ kinh tế dựng trên nền tảng ấy quyết định toàn bộ văn hóa của xã hội kia (hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc) 3 Thái độ Đảng Cống sản Đông Dương đối với vấn đề văn hóa:

a) Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa), ở

đó người cộng sản phải hoạt động

b) Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa nữa

Có lãnh đạo được phong trào văn hóa, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả” [36, tr.316]

Trang 39

Có thể khẳng định rằng, Đề cương về văn hóa Việt Nam là bản cương lĩnh văn hóa đầu tiên của Đảng ta, đã nêu ra hai ức thuyết về tiền đồ văn hóa Việt Nam Một là, “nền văn hóa phát xít (văn hóa trung cổ và nô dịch hóa) thắng thì văn hóa dân tộc Việt Nam nghèo nàn và thấp kém”[36, tr.318] Hai

là, “văn hóa dân tộc Việt Nam sẽ do cách mạng dân chủ giải phóng thắng lợi

mà được cởi mở xiềng xích và sẽ đuổi kịp văn hóa dân chủ thế giới”[36, tr.318] Trong Đề cương, Đảng ta đặt vấn đề: trong “Hai ức thuyết, cái nào sẽ trở nên sự thực?” và khẳng định: “Căn cứ vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội hiện nay, cách mạng dân tộc Việt Nam nhất quyết sẽ làm cho ức thuyết thứ hai trở nên thực sự” [36, tr.318]

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời đó, “văn hóa nửa phong kiến, nửa

tư sản và hoàn toàn có tính cách thuộc địa” thống trị thì sự ra đời của Đề cương văn hóa Việt Nam có thể coi là một ngọn đuốc sáng thần kỳ, có tác dụng soi đường, chỉ lối và định hướng tư tưởng, nhận thức, phương châm hoạt động văn hóa, văn nghệ cho toàn Đảng, toàn dân và cuộc đấu tranh cách mạng ở Việt Nam; đặc biệt là nó đã lôi cuốn, thuyết phục và tập hợp đông đảo những người hoạt động văn hóa yêu nước Việt Nam vào Hội văn hóa cứu quốc, một thành viên của mặt trận Việt Minh; khai sinh và phát triển nền văn hóa xã hội chủ nghĩa” ở nước ta Vì vậy, Đảng nhấn mạnh: “những phương pháp cải cách văn hóa đề ra bấy giờ chỉ là dọn đường cho cuộc cách mạng triệt để mai sau”, tức là chuẩn bị cho “cách mạng chính trị thành công”

Trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận biện chứng duy vật, Đề cương văn hóa Việt Nam đã luận giải một cách sắc sảo tình hình tư tưởng, văn hóa, xã hội Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX, chỉ ra sự tác động của cuộc chiến tranh thế giới lần hai và tội ác tột cùng của phát xít Nhật cùng thực dân Pháp cấu kết với bọn tay sai, bán nước, giầy xéo tổ quốc Việt Nam Đề cương cũng chỉ rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn dã man, tàn ác của phát xít Nhật và bọn thực dân Pháp trong việc trói buộc và bức tử nền văn hóa nước

Trang 40

ta; qua đó cảnh báo nguy cơ có thể bị diệt vong đối với một quốc gia, dân tộc có

bề dày truyền thống, lịch sử, văn hóa, có độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ dưới gót dày quân xâm lược Pháp – Nhật

Vì vậy, nhiệm vụ cần kíp của những người cộng sản và các nhà văn hóa cách mạng ở Đông Dương, của cách mạng văn hóa, tư tưởng ở Việt Nam lúc bấy giờ được Đảng ta khẳng định là đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai để cứu lấy nước, giữ lấy nhà, bảo vệ cho được các giá trị văn hóa dân tộc, phẩm giá, nhân cách con người Việt Nam

Để làm tròn sứ mệnh cao cả, thiêng liêng của mình, Đảng ta khẳng định:

“cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo” và nó phải thực hiện nghiêm túc nguyên tắc mácxít – lêninnít Mục tiêu, con đường, phương châm, nguyên tắc, phương pháp thực hiện cuộc cách mạng văn hóa ở nước ta, trước hết phải nắm vững “ba nguyên tắc vận động của văn hóa nước Việt Nam trong giai đoạn này

a) Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập)

b) Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng)

c) Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ)” [36, tr.318]

Căn cứ vào các điều kiện khách quan của tình hình thế giới và tác động, ảnh hưởng của nó đến sự biến đổi tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam; sự phát triển rộng khắp của phong trào đấu tranh cách mạng chống quân xâm lược và bè lũ tay sai; ngay sau khi công bố Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, những người cộng sản và các nhà văn hóa, trí thức yêu nước đã tin tưởng, nhiệt tình ủng hộ, tổ chức nhiều cuộc vận động xây dựng nền văn hóa mới – văn hóa cách mạng, văn hóa xã hội chủ nghĩa Trong các văn kiện, sách báo của Đảng, trên các phương tiện thông tin đại chúng có được lúc bấy giờ

Ngày đăng: 11/11/2021, 18:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2008), Vận dụng tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay, Đề tài trọng điểm cấp cơ sở, Học viện Báo Chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2008
2. Hoàng Anh, Phạm Duy Bắc, Phạm Văn Thủy (2010), Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Anh, Phạm Duy Bắc, Phạm Văn Thủy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc
Năm: 2010
3. Phạm Ngọc Anh (Chủ biên) (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đảng
Tác giả: Phạm Ngọc Anh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
4. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (2009), Hồ Chí Minh – văn hóa và phát triển, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh – văn hóa và phát triển
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2009
5. Hoàng Tuấn Anh (2011), Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới, Tạp chí Cộng sản, (822) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng sản
Tác giả: Hoàng Tuấn Anh
Năm: 2011
6. Hoàng Chí Bảo (2006), Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Nguyễn Đình Bắc (2011), Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển văn hóa, Tạp chí Lý luận chính trị, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chính trị
Tác giả: Nguyễn Đình Bắc
Năm: 2011
8. Nguyễn Chí Bền (2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
9. Trần Văn Bính (2010), Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
10. Bộ Văn hóa thông tin (1992), Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bộ Văn hóa thông tin
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1992
11. Bộ Văn hóa thông tin (1999), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc: Thực tiễn và giải pháp, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc: Thực tiễn và giải pháp
Tác giả: Bộ Văn hóa thông tin
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1999
12. Huy Cận (1994), Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
13. Hồ Văn Chiểu (2003), Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại, Tạp chí Cộng sản, (34) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng sản
Tác giả: Hồ Văn Chiểu
Năm: 2003
14. Trường Chinh (1984), Về cách mạng tư tưởng và văn hóa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cách mạng tư tưởng và văn hóa
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
15. Trường Chinh (1985), Về văn hóa và nghệ thuật tập I, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hóa và nghệ thuật tập I
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1985
16. Hoàng Đình Cúc (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, giải pháp của Đảng ta để văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chính trị và truyền thông
Tác giả: Hoàng Đình Cúc
Năm: 2008
17. Lê Duẩn (1977), Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1977
18. Trần Kim Dung (2011), Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong giao lưu quốc tế, Tạp chí Lý luận chính trị, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chính trị
Tác giả: Trần Kim Dung
Năm: 2011
19. Đinh Xuân Dũng (2011), Phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2011
20. Thành Duy (1998), Cơ sở khoa học và nền tảng văn hoá của tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và nền tảng văn hoá của tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w