Tuy đây là một cuốn sách thiên về lịch sử báo chí cho nên phần chuyên về vai trò của báo chí quốc ngữ đối với tiến trình hiện đại hóa văn hóa Việt Nam không phải là một nội dung chính đư
Trang 1
BAO CHI TIENG VIET TRONG TIEN TRINH HIEN
DAI HOA NEN VAN HOA VIET NAM
Trang 2
HOC VIEN CHINH TRI QUOC GIA HO CHI MINH
HOC VIEN BAO CHi VA TUYEN TRUYEN
DE TAI KHOA HOC CAP CO SO
BAO CHI TIENG VIET TRONG TIEN TRINH
HIEN DAI HOA NEN VAN HOA VIET NAM
1865 - 1945
HÀ NỘI - 12/2016
Trang 3
MOT SO CUM TU VIET TAT DUOC SU DUNG TRONG CONG TRINH NAY NHU SAU
BCTT: Bao chi, truyén thong
GDB: Gia Dinh bao
NCMB: Nông cổ min dam
PNTV: Phụ nữ Tân văn
ANTC: An Nam Tạp chí
ĐDTC: Đông Dương tạp chí
NP; NPTC: | Nam Phong; Nam Phong tap chi
PH & NN: Phong Hóa và Ngày Nay
VDBC: Vién déng Bac cổ
TLVĐ: Tự lực Văn đoàn
Trang 4MUC LUC Báo chí tiêng Việt trong tiên trình hiện đại hóa
nên văn hóa Việt Nam 1865-1945
1.3 Vai trò của báo chí với văn hóa nói chung và báo chí quốc ngữ với văn 16
hóa Việt Nam nói riêng
Chương 2: VAI TRO NOI BAT CUA BAO CHI TIENG VIET DOI VỚI 19 NEN VAN HOA
2.1 Hiện đại hóa nên văn hóa Việt Nam là một vẫn đề tư tưởng, nhận thức 19 trong điêu kiện bị giặc ngoại xâm đô hộ
2.2 Báo chí quốc ngữ góp phân hiện đại hóa ngôn ngữ, chữ viết 24 2.3 Tiên trình hiện đại hóa nền văn hóa trong mỗi quan hệ giữa báo chí và 20
3.3 Phạm Quỳnh và Nam Phong Tạp chí 65
3.5 Vai trò đặc biệt của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Báo Thanh Niên 88
Trang 5
MO DAU
I Tính cấp thiết của đề tài
Một đất nước phát triển bắt đầu từ văn hóa, sự phát triển văn hóa sẽ là một trong những động lực chính để mở đường cho sự phát triển dân tộc Văn hóa, khoa học, giáo dục phải được đặt trên nên tảng của một tầm nhìn xa, rộng có ý nghĩa
thiết kế cho cả một tiến trình lịch sử dân tộc dài lâu
Báo chí Việt Nam ra đời và phát triển trong hoàn cảnh đất nước bị Pháp bảo
hộ và áp đặt nền văn hóa Pháp, văn hóa Tây phương lên xã hội Việt Nam Đây là giai đoạn văn hóa của người Việt Nam tiếp nhận và hòa nhập văn hóa Âu Tây sau một thời gian dài chìm đắm trong văn hóa Á đông và văn hóa Trung Hoa Người ta thấy cuộc tiếp xúc giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá phương Tây (trước tiên là văn hoá Pháp), nhất là giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu XX, có thể coi là một trường hợp tiếp nhận và chuyên hóa điển hình Đó là một sự biến đối làm cho văn hoá Việt Nam như được nhào nặn lại, làm lại trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây Dưới nhãn quan lịch sử văn hoá, sự hoà nhập vừa là đặc tính nội tại, vừa là điều kiện sống còn của văn hoá Mỗi nền văn hoá dân tộc không chỉ là sự phát triển tự thân của nó, mà còn là lịch sử của những mối quan hệ giữa nó với các nền văn hoá khác Văn hóa Việt Nam sau những quan hệ cấy ghép với văn hoá ngoại lai đã không mắt đi, không bị đồng hoá mà vẫn giữ được sắc thái của riêng mình Trong đó, vai trò của báo chí nổi lên hết sức đặc biệt
Hiện nay nhu cầu hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam đang tiếp tục đặt ra trong những điều kiện mới, trên một tầm thế mới nhằm đưa nước ta phát triển giàu mạnh cùng thế giới văn minh, đồng thời bảo đảm giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc trên mọi phương diện Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, bùng nỗ truyền thông và toàn cầu hóa, đất nước ta đang hội nhập ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng thì những bài học vê môi quan hệ giữa báo chí và văn hóa, về vai trò của báo chí tiêng Việt
Trang 6trong tiến trình hiện đại hóa văn hóa Việt Nam trước 1945 càng có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn quan trọng
II Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về báo chí Việt Nam, lịch sử báo chí Việt Nam, trong đó cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh văn hóa khác nhau trong sự phát triển của báo chí Một trong những cuốn sách quan trọng đầu tiên phải kế đến là cuỗn Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945, nhà Trí Đăng xuất bản lần đầu năm 1973, (sau đó tái bản các năm
2000 và 2016, Nhà xuất bán Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh) Đây là cuốn sách
trên cơ sở luận án tiễn sĩ của tác giả thực hiện tại Đại học Sorbonne Paris (1970 — 1971) Tuy đây là một cuốn sách thiên về lịch sử báo chí cho nên phần chuyên về vai trò của báo chí quốc ngữ đối với tiến trình hiện đại hóa văn hóa Việt Nam không phải là một nội dung chính được quan tâm, song những gì mà cuốn sách mang lại cũng rất có ích Thông qua Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945, độc giả sẽ được ngược dòng thời gian về với thuở sơ khai của báo chí nước Việt, biết được về lai lịch, nội dung, chủ đích của những tờ báo tổn tại trong thời gian 1865 —
1945; về chính sách đối với báo chí của các thể chế chính trị đương thời; vị trí, vai
trò của những tờ báo ở Đông Dương thời Pháp thuộc, về những nhà báo đóng vai trò lớn trong lịch sử báo chí nước nhà thuở đó
Cuốn Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945 của nhóm tác giả Đỗ Quang Hưng (cb), Nguyễn Thành, Dương Trung Quốc, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Đây là cuốn sách trong không khổ chương trình giáo trình của Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, cho nên nó nhắm đến mục tiêu trình bày
khái quát, dựng lược đỗ về báo chí Việt Nam 1865-1945; Các dòng báo, các
khuynh hướng báo chí; Báo chí và cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc; Sự đụng độ, tiếp xúc văn hóa Đông Tây trên địa hạt báo chí; Giá trị xã hội, chính trị, văn hóa
Trang 7của một giai đoạn báo chí Do tính chất của nó, cuốn sách cũng đã đề cập đến một số nội dung liên quan đến vai trò của báo chí và sự phát triển nền văn hóa nói chung, do đó cũng là một nguồn tham khảo có giá trị
Mới đây có cuốn sách Báo Quác ngữ ở Sài Gòn cuối thể kỷ 19 của Trần
Nhật Vy, Nhà xuất bản Trẻ, năm 2015 Như tác giả viết trong Lời giới thiệu: “Lịch
sử báo quốc ngữ ở Sài Gòn không chỉ là lịch sử của báo chí, của nghề báo mà còn
là lịch sử phát triển chữ quốc ngữ, lịch sử của văn học nước nhà” (tr.5) Đây là cuốn sách thiên về những nỗ lực tìm kiếm, truy nguồn để thống kê dựng lại diện mạo báo chí quốc ngữ ở phạm vi Sài Gòn cuối thế kỷ 19 Dù không trực tiếp đi sâu nhưng một số khía cạnh về vai trò của báo chí đối với tiến trình hiện đại hóa nền văn hóa cũng đã được ít nhiều đề cập đến trong những thống kê phục dựng tư liệu
Cùng thời gian năm 2015, nhà xuất bản Trẻ cho xuất ban cuén Lang bdo Sdi Gòn 1916-1930, cũng là một luận án tiến sĩ, một công trình nghiên cứu độc lập của tác giả Philipe M.F Peycam (ban dich Tiếng Việt của Trần Đức Tài) Thông qua
cuốn sách, tác giả tái hiện một thời kỳ làm báo sôi nổi của trí thức Sài Gòn và Việt
Nam, với những tờ báo có số phận chỉ vài tháng hay vài số báo, thậm chí một số báo duy nhất, đã chỉ rõ vai trò hoặc hạn chế của báo chí trong cuộc đấu tranh của dân tộc, và cũng qua đó thấy hiện lên một diện mạo văn hóa đang có nhiều biến động của Sài Gòn và cả nước Đây là một nguồn tư liệu tham khảo quý báu từ cái nhìn bên ngoài để góp phần làm sáng tỏ nhiều khía cạnh của lịch sử báo chí và tiến trình hiện đại hóa nên văn hóa Việt Nam
Bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu, công trình, bài báo khoa học của các tác giả nghiên cứu về lịch sử báo chí trong mối quan hệ với lịch sử tư tưởng, lịch
sử văn hóa, văn học Việt Nam cận đại như các tác giả: Trần Đình Hượu, Lê Chí
Dũng, Phan Ngọc, Nguyễn Văn Hạnh, Vương Trí Nhàn cũng góp những cái nhin sac sao vé môi quan hệ giữa báo chí và văn hóa nói chung, về báo chí quốc
Trang 8ngữ với văn hóa Việt Nam nói riêng và gợi lên những điểm nhìn khoa học sinh động, gan với thực tế lịch sử
Tuy nhiên cho đến nay hầu như chưa có công trình dành riêng sự quan tâm
để đi sâu vào nghiên cứu, phân tích, lý giải về vai trò của báo chí tiếng Việt đối với tiễn trình hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn trước 1945 Trong khuôn khổ một đề tài khoa học cấp cơ sở tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2016, chúng tôi cố găng bước đâu thực hiện mong muốn tổng hợp, khái quát lại những vấn đề đã được giới nghiên cứu để cập, đồng thời đặt ra những dấu nối với những vấn để còn bỏ ngỏ để hy vọng có thể có được những công trình nghiên cứu chuyên sâu và đây đủ hơn khi có đủ điều kiện
IH Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Xác định vai trò to lớn của báo chí tiếng Việt trong tiến trình hiện đại hóa Việt Nam trước 1945, rút ra những bài học quan trọng về mối quan hệ báo chí và văn hóa trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam và ý nghĩa của bài học đó trong tiến trình giao lưu, hội nhập văn hóa hiện nay/
- Nhiém vụ nghiÊH cứu
Đề đạt được những mục tiêu trên, nhiệm vụ chính của đề tài là:
- Nghiên cứu những tư tưởng và văn hóa Việt Nam
- Nghiên cứu bối cảnh và nhu cầu phát triển của nên văn hóa Việt Nam
- Nghiên cứu quá trình ra đời và phát triển của báo chí Tiếng Việt trong mối quan hệ với nhu cầu hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam giai đoạn cuối thế ky XIX,
đầu thế ky XX
VI Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Trang 9Báo chí tiếng Việt (hay còn gọi là báo chí quốc ngữ) dưới thời thuộc Pháp
- Phạm vì nghiên cứu
Giai đoạn trước 1945
V Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Duy vật Biện chứng, Chủ nghĩa Duy vật Lịch sử, các lý thuyết về giao lưu, phát triển văn hóa, các quan
hệ văn hóa báo chí, truyền thông
- Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu, thâm định những biểu đạt văn hóa của báo chí
và tác động của báo chí lên nền văn hóa, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tải liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trên cơ sở những phương pháp nghiên cứu trên sẽ rút ra những kết luận làm
cơ sở cho việc tìm hiểu, đánh giá vai trò của báo chí Tiếng Việt trong tiến trình hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam trước 1945
VI Kết cầu đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo đề tài được kết cấu làm 3
chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề về báo chí, văn hóa và mối quan hệ giữa báo chí
và văn hóa ở Việt Nam trước 1945
Chương 2: Vai trò nỗi bật của báo chí tiếng Việt đối với nền văn hóa
Chương 3: Chân dung một số nhà báo và tổ chức báo chí tiên phong
Trang 10CHUONG 1 MOT SO VAN DE VE BAO CHI, VAN HOA VA MOI QUAN HE
GIỮA BÁO CHÍ VÀ VĂN HÓA Ở VIỆT NAM TRƯỚC 1945
1.1 Một số khái niệm
- Báo chí Tiếng Việt: Đây là các báo, tạp chí được thể hiện bằng ngôn ngữ
Tiếng Việt và chữ Quốc ngữ, kể từ thời Pháp thuộc
- Văn hóa: Văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất va tinh thần mà do con người tạo ra
Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tỉnh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; - Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội; - Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tỉnh thần
(nói tổng quát); - Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát); - Văn hóa
là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; - Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên
cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn
- Văn hóa Việt Nam truyền thống: Với văn hóa của người Việt- Kinh là chủ thê trên cơ sở điêu kiện tự nhiên, kinh tê - xã hội và lịch sử hình thành quôc
Trang 11gia dân tộc, văn hóa Việt Nam sớm có xu thế giao lưu, hội nhập, tiếp biến, nhờ thế Việt Nam có nền văn hóa đa ngôn ngữ, giàu bản sắc Văn hóa Việt Nam có những nét mang tính đặc trưng phổ biển của văn hóa nói chung và có những đặc trưng riêng biệt, đặc thù Những đặc trưng cơ bản riêng biệt này được hình thành, đúc
kết, bảo lưu, phát triển từ điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, chính trị - kinh tế - xã
hội của Việt Nam Nhiều học giả, nhà nghiên cứu chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Văn hóa Việt Nam đã có nhiều ý kiến đa chiều về đặc trưng văn hóa
Việt Nam, tạo nên bức tranh phong phú, nhiều màu sắc, đôi khi là tương phản,
nhưng tông hợp lại, văn hóa Việt Nam có những nét chung tương đối khái quát
- Tiến trình hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam: được hiểu là tiến trình
mà các giá trị văn hóa truyền thống được thay thế hoặc lai ghép với các giá trị văn hóa mới được du nhập vào Việt Nam do hoàn cảnh lịch sử, chính trị và văn hóa
Ở đây chúng ta hiểu tiến trình hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam là tiến trình mà nên văn hóa Việt Nam truyền thống dần dần tiếp nhận và hòa nhập với các giá trị của văn hóa Tây phương trong thời kỳ cận hiện của lịch sử đất nước
1.2 Sự xuất hiện báo chí trong bối cảnh văn hóa Việt Nam thời kỳ pháp thuộc
Năm 1867, trong 7ế cấp bát điểu (Tám điều cần làm gấp), Nguyễn Trường
Tộ đặt vẫn dé: “An hành một tờ nhật bảo, đăng tải các chiếu, chỉ, sớ, dụ, những việc làm của các bậc có tiếng tăm, những công vụ của quốc gia hiện thời cho học sinh đọc để biết công việc trong nước” (1; tr.257) Một đề xuất thể hiện viễn kiến của một nhà cách tân Tuy nhiên, như thực tế lịch sử cho thấy, ở vào thời điểm ấy, không có cơ hội để một ý tưởng như thế trở thành hiện thực Lý do: tờ báo, sự hiện diện của nó, là thuộc về một cấu trúc xã hội và văn hóa khác hắn với tình hình thực tiễn của Việt Nam lúc bấy giờ Mặc dù luôn có quan hệ mật thiết với những vấn đề
kỹ thuật và công nghệ nhưng sự hình thành và phát triển của báo chí là một hiện
Trang 12tượng, trước tiên và pốc rễ nhất, được nhận diện trong mối quan hệ chiều sâu với những yếu tố về văn hóa, cơ cấu chính trị Ở phương Tây, báo chí hiện đại hình
thành, phát triển trên cơ sở của một chế độ dân chủ mà biểu hiện cụ thể là sự quan
tâm ngày càng tăng của quần chúng nhân dân với những vấn đề về chính trị, xã hội
Cần phải khăng định một điều: người Pháp đến Việt Nam cố nhiên không
phải để thiết lập một chế độ dân chủ Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu tiên của quá trình
thực dân, với ý đồ xóa bỏ cơ tầng văn hóa bản địa để cấy vào đó một mô hình văn hóa chính quốc đã đưa lại một sự đồng dạng nhất định, chí ít là trên cơ sở của những thiết chế, giữa hai nền văn hóa Ở giai đoạn tiếp theo, khi những văn hóa ban địa được lợi dụng cho việc vận hành một cách 6n định bộ máy cai trị thì những biến đổi về kinh tế sau hai cuộc khai thác thuộc địa đã kéo theo nó những thay đổi căn bản trong cấu trúc xã hội Tại thời điểm này, người ta ghi nhận sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu ở thành thị với một số lượng và vai trò văn hóa ngày một chiếm một tỷ lệ quan trọng Lẽ tự nhiên, tầng lớp dân cư này có sự tương |
thích đặc biệt với một môi trường sống mà ở đó tính chất dân chủ ít nhiều đã được
tôn trọng và bắt đầu bén rễ Cũng chính trong môi trường như thế, (với sự trợ giúp đặc biệt của chữ quốc ngữ) mà báo chí xuất hiện Nói chính xác hơn thì đây là một quan hệ tương hễ: báo chí thúc đây tư tưởng dân chủ phát triển và ngược lại những yếu tố dân chủ trong xã hội đã khiến báo chí phát triển nhanh chóng và có một vị trí đặc biệt trong đời sống tỉnh thần của xã hội
Tờ báo đầu tiên xuất hiện tại Đông Duong 1a to Le Bulletin Officiel
d’Expédition de la Cochinchine (Thanh tich biéu vién chinh Nam Kỳ), băng Pháp
văn Số 1 ra mắt ngày 29/9/1861 Tiếp đó là tờ Le Bulletin des Communes (Thành tích cộng đồng), bằng Hán văn, số 1 ra năm 1862, rồi thêm tờ công báo bằng Pháp văn Le courrier de Saigon (Sadi Gon thời báo)
Trang 13Mãi tới ngày 15/4/1865, tờ báo đầu tiên bằng Tiếng Việt (chữ Quốc ngữ)
mới chào đời ở Sài Gòn, là tờ Gia Đờnuh Báo Tuần báo này phát không trong các làng mạc miền Nam để phô biến chính sách của Pháp
Sang đầu thế kỷ XX, quá trình đô thị hoá cũng như sự phát triển của tầng lớp thị dân, lối sống thị dân, những hoạt động công thương nghiệp của giới doanh nghiệp Việt Nam và ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng dân chủ mới đã tạo điều kiện cho báo chí phát triển phong phú hơn Báo chí thời kỳ này không còn là của riêng chính quyên thực dân nữa mà đã xuất hiện những tờ báo tư nhân Về nội dung, các báo cũng không đơn thuần là những tờ công báo nữa mà bước đầu phản ánh quyền lợi của giới kinh doanh công thương nghiệp cũng như phản ánh những
chuyền biến trong tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá của Việt Nam lúc
bẩy giờ
Nhìn chung, trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các tờ báo đã chuyển dần từ vai trò là công cụ cai trị của chính quyền thực dân, thông báo các mệnh lệnh của chính quyền tới dân chúng sang vai trò là một kênh truyền bá tư tưởng học thuật, tạo nên một không gian văn hóa tư tưởng, nơi mọi người có thê thảo luận các vấn đề về văn hóa và lối sống, vận động Duy tân, phê phán những hủ tục, chế độ tảo hôn, chế độ đa thê, vận động học chữ quốc ngữ ( Đăng Cổ tùng bao, Déng Duong tap chi), phé phản tâm lý “trọng nông, ức thương”, tuyên truyền, cổ vũ, đề cao tư tưởng thực nghiệp, phát triển kinh doanh công thương nghiệp, coi chấn hưng thực nghiệp như một giải pháp cho tình trạng yếu kém của Việt Nam Có một hiện tượng đáng chú ý là ngay từ rất sớm vẫn để phụ nữ đã được đưa lên mặt báo, vừa là bàn về vấn đề của phụ nữ vừa mượn lời phụ nữ dé bàn về những vấn đề chung của xã hội như các mục NHời đàn bà trên Đăng cô tùng báo và Đông Dương tạp chí
Báo chí đem lại một không gian mới cũng như một khả năng mới trong tác động đên thực tiên, trong đó nhà báo với tư cách một nhân vật văn hóa mở đường
Trang 14cho một mô hình nhân cách với những thuộc tính của người trí thức trong xã hội
hiện đại Báo chí tác động đến thực tiễn xã hội một cách trực tiếp Báo chí được coi là một không gian rộng lớn để những ký giả xuất hiện với tư cách những tư
tưởng Thời kỳ này tên tuổi của những Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Văn Vĩnh,
Phạm Quỳnh, Nguyễn An Ninh, Vũ Đình Hòe chủ yếu được biết đến với những
tư tưởng, chủ thuyết mà họ đề xuất Mỹ khác, công chúng của tờ báo khiến cho
viết báo trở thành một nghề Người trí thức đến đây đã thoát khỏi thân phận ký
sinh vào tổn tại của ông quan trong xã hội phong kiến để giải phóng năng lực tư duy độc lập, khả năng bén nhạy trong việc nhận diện và phản biện về những ton tại của thể chế xã hội đương thời Báo chí như là môi trường và là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất cho sự xuất hiện của một mẫu hình mới: người trí thức trong xã hội hiện đại
Người ta không thể hình dung đến báo chí mà không có độc giả, đặc biệt là
độc giả đại chúng và với chức năng hàng đâu của bảo chí là cung cấp những thông tin thời sự, những vấn đề đang xáy ra hàng ngày Đây chính là điều kiện và môi trường văn hóa được hình thành và tác động với không gian công cộng một tâm thức văn hóa mới sẽ ra đời Nó góp phần quan trọng việc định hình những thiết chế hết sức quan trọng là cơ chế tạo nên sự biến đổi trong chiều sâu trong quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa
Từ sau chiến tranh thế giới I, nền kinh tế Việt Nam sang hướng tư bản chủ
nghĩa, nó làm vững mạnh thêm các giai tầng xã hội mới như công nhân, tư sản và tiểu tư sản, đặc biệt là tầng lớp trí thức tiểu tư sản Báo chí cũng phát triển mạnh hơn do Pháp không giữ độc quyền báo chí như trước nữa Do đó, nhiều người Việt Nam đã được phép xuất bản báo chí Đặc biệt có một số chủ doanh nghiệp đã mở rộng lĩnh vực kinh doanh công thương nghiệp sang lĩnh vực xuất bản báo chí Bất chấp chế độ kiêm duyệt hà khắc của chính quyền thuộc địa, từ sau chiến
tranh thế giới I cho tới những năm đầu thập niên 1930, báo chí tiếng Việt đã phát
Trang 15triển nhanh chóng cả về số lượng và nội dung Năm 1922, cả nước chỉ mới có 19
tờ báo tiếng Việt thì đến năm 1925 đã có 25 tờ, năm 1927 có 36 tờ và năm 1929 lên tới 47 tờ Các tờ báo tiêu biểu thời kì này là: Đông Dương tạp chí (1913- 1918), Trung Bắc tân văn(1915-1945),Nam Phong (1917-1935), Nữ giới chung (1918), Thực nghiệp dân báo (1920-1933), Khai hoá nhật báo (1921- 1927), Hữu thanh tạp chí (1921-1924), Đông Pháp thời báo (1923- 1928), 4n Nam tap chi (1926-1930), Than chưng (1929-1930), Trung lập bdo (1924-1933), Tan dan báo (1924-1925) Pháp Việt nhất gia (1927), Tiếng dân (1927-1943), Hà thành ngo báo (1927-1929), Báo Đông -Táy (1929-1932), Phụ nữ tân văn (1929- 1935), Ki lan bao (1928-1929), Van minh (1926-1931)
Đánh giá chung về báo chí thời kỳ này, có thể thấy nổi bật lên 2 đặc điểm chính: Đó là thời kỳ báo chí do người Việt chủ trương và là thời kỳ của xu thế dung hòa văn hóa Đông-Tây Sự phát triển của báo chí tiếng Việt đã tạo nên những không gian tương đối dân chủ cho sự giao lưu văn hóa và truyền bá tư tưởng mới, cũng như diễn đàn trao đổi về các vấn đề liên quan tới đời sống văn hóa, chính trị
và tư tưởng ở Việt Nam, nơi phổ biến thông tin, liên kết cộng đồng trong những mỗi quan tâm chung Có thể nhận rõ một số khuynh hướng thể hiện trên báo chí thời kỳ này:
Giới thiệu và truyền bá Iw tưởng, văn hóa văn mình thể giới Điển hình theo khuynh hướng này là Tạp chí Nam Phong Ra đời vào thời gian trước khi chiến tranh thế giới I kết thúc, năm 1917, trong bối cảnh chính quyền thuộc địa có chủ trương đây mạnh truyền bá văn hóa, văn minh Pháp, Nam Phong dưới sự dẫn dắt của Phạm Quỳnh đã không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền cho văn hóa văn minh Phương Tây mà còn dùng báo chí để giới thiệu, phổ biến di sản văn hóa, văn học phương Đông và Việt Nam Từ các bài khảo cứu về triết học, lịch
sử, khoa học, văn hóa và văn chương của cả phương Đông và phương Tây; dịch các tác phâm triệt học, văn học từ tiêng Pháp và chữ Hán ra tiêng Việt; sưu tâm và
Trang 16giới thiệu văn học cổ của Việt Nam qua Nam Phong, người Việt Nam có thê tiếp cận với những học thuyết chính trị, những tư tưởng về dân chủ, tư tưởng nữ quyên, các tác phâm văn chương không chỉ của nhân loại mà cả di sản của ông cha để lại, Cơ cấu vận hành, bộ máy quản lý xã thôn cổ truyền của Việt Nam cũng được giới thiệu và phân tích
Bên cạnh Nzm Phong, một số tờ báo khác cũng góp phần vào công cuộc truyền bá tư tưởng, văn hóa, văn minh như Đông Dương tạp chỉ, Đông Pháp thời báo, Thân chung, Trung Lập, Hà Thành Ngọ báo
Vận động và cô vũ Chấn hưng thực nghiệp Từ cuối thế kỷ XIX, ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, sự bảnh trướng của chủ nghĩa thực dân đã đặt Việt Nam đứng trước một thử thách lớn, thay đổi để tồn tại
và hội nhập với thế giới hay chấp nhận là người dân một nước thuộc địa? Đứng trước sự tồn vong của quốc gia dân tộc, nhiều trí thức yêu nước đã đưa ra những đề nghị cải cách nhằm phát triển đất nước theo hướng hiện đại, chấn hưng kinh tế, với mong muốn nước nhà đủ mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc Tuy nhiên, những
cố gắng cải cách, chấn hưng thực nghiệp đó cuối cùng đều thất bại
Đầu thế kỷ XX, bên cạnh khuynh hướng yêu nước chủ trương bạo động chống Pháp giành độc lập, đã xuất hiện khuynh hướng duy tân, chủ trương khai sáng dân trí, chấn hưng dân khí, phục hưng đất nước bằng con đường chấn hưng thực nghiệp Các trí thức yêu nước thuộc khuynh hướng này đã nhanh chóng nắm lấy báo chí như một công cụ truyền bá tư tưởng duy tân, hô hào đổi mới và cô động chấn hưng nên kinh tế bằng các hoạt động kinh doanh và sản xuất Những tờ báo tiêu biểu cho khuynh hướng cổ động thực nghiệp này có thể kế đến là 7ực nghiệp dân báo, Khai Hóa, Hữu Thanh tạp chí Mặc dù chỉ có tờ Hữu Thanh là tiếng nói của Hội tương tế thương mại và kỹ nghệ Bắc Kỳ còn những tờ báo lớn vận động thực nghiệp đều là của các chủ doanh nghiệp như tờ 7c nghiệp dân báo là của Nguyễn Hữu Thu, một nhà tư sản dân tộc, chủ hãng tầu lớn ở Hải
Trang 17Phòng, tờ Khai Hóa nhật báo là của Bạch Thái Bưởi Nhưng các tờ báo luôn
khẳng định, tờ báo là tiếng nói cổ động cho phong trào thực nghiệp của đất nước Nội dung của các tờ báo là cỗ động cho phong trào thực nghiệp, phản ánh yêu cầu của tư sản Việt Nam, đồng thời đấu tranh với chính quyền vì quyên lợi của người Việt
Một khuynh hướng nỗi bật của báo chí thời kỳ nay đó là vận động và tuyên truyền yêu nước, lòng tự tôn dân tộc và phê phán chính quyền thuộc địa Báo 7; iéng Dan do Huynh Thic Khang lam cht but, bao Déng Pháp thời báo của nhóm thanh niên yêu nước, có tư tưởng cấp tiến như Nguyễn Kim Đính, Trần Huy Liệu,
báo Đuốc Nhà Nam của Dương Văn Giáo, báo Thdn Chung của Diệp Văn Kỳ,
Nguyễn Văn Bá, báo Công luận đã đăng tải nhiều bài báo về tình cảnh của dân chúng, phê phán chế độ thực dân, khơi dậy tỉnh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm của người dân trước vận mệnh đất nước Có một điểm đáng lưu ý, là do chế
độ kiểm duyệt hà khắc của chính quyền thực dân, nhiều bài báo thường lấy danh nghĩa tiếng nói của phụ nữ Ví dụ Nam Kiều (Trần Huy Liệu), qua việc phê phán
quan niệm cho rằng phụ nữ chỉ cần lo công việc gia đình mà quên mất trách nhiệm đối với xã hội, đã nhắc nhở người đọc về thực trạng nô lệ và truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử: “ Kìa như hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh giặc, bà Triệu Âu một mình đánh với quân Ngô, nếu cứ theo như cái thuyết “ thành đồ chúa xây” thì sảu mươi lăm thành Linh biểu can chỉ phải đến Hai bà Trưng gánh vác, quân Ngô tàn bạo can chỉ phải đến Bà Triệu liễu mình Buôn thay cho xã hội ta ngày nay, việc công ích không ai tán thành, việc công phân không ai phẩn khích (Đông Pháp thời báo - 13/3/1929) Hoặc
báo Công luận ngày 19/4/1927 đã phân tích: “quốc gia đang khó khăn” “xã hội
đang điên đảo” bởi “phường tham quan ô lạt Vậy “chị em phải ráng học hành chữ nghĩa, phải ráng rèn lập tánh nế! mà giúp cho xã hội đương lúc khốn nguy, dân tộc đương lúc khó khăn thì mới không hồ với động loạt”
Trang 18Báo chí cũng là nơi tô chức, tập hợp quần chúng tham gia các hoạt động yêu nước như đòi ân xá cho Phan Bội Châu, đưa tang Phan Chu Trinh, đòi thả Nguyễn
An Ninh, đón tiếp Bùi Quang Chiêu, Bình luận về sự tham gia của phụ nữ trong các phong trào này nhưng qua đó lại nhắc nhở người dân về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam: “7 các bà, các cô không đủ sức mà cẩm cương lên ngựa đặng như bọn nam nhỉ mặc dâu chớ cái lòng nhiệt thành của hạng nữ lưu chỉ thiệt ngọn lửa rất nông nàn để ung dot long ái quốc của bọn nam nhỉ cho khỏi lui khỏi tắt Gương bà T rưng, bà Triệu còn làu làu trong thanh sử Việt Nam.” (Đông Pháp thời báo -10/3/1926)
Trong lịch sử Việt Nam, do ảnh hưởng của Nho giáo, phụ nữ chưa bao giờ
có tiếng nói trong đời sống cộng đồng làng xã, cũng như đời sống chính trị của đất
nước Từ sau chiến tranh thế giới thứ I, phong trào phụ nữ thế giới ảnh hưởng
mạnh mẽ tới xã hội Việt Nam, ở Việt Nam đã xuất hiện vấn đề phụ nữ được báo chí và cả xã hội quan tâm Rất nhiều tờ báo đã đành một số trang để bàn về vấn đề phụ nữ, hoặc có mục dành riêng cho phụ nữ Các mục như ăn Nữ giới hoặc 7 iéng Oanh được coi như một diễn đàn để phụ nữ trao đổi ý kiến về các vấn để của mình hoặc là nơi để phụ nữ tập viết các bài báo Các cuộc thảo luận trên báo chí về vấn
đề phụ nữ thời kỳ đó tập trung phân tích vai trò, địa vị của phụ nữ trong gia đình
và xã hội, vấn đề trách nhiệm của phụ nữ đối với vận mệnh quốc gia dân tộc cũng như vấn đề bình đẳng nam nữ và giải phóng phụ nữ
Qua báo chí, vai trò và địa vị của phụ nữ Việt Nam được nhìn nhận, cụ thể với các tờ Nữ Giới Chung, Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn, Phụ Nữ Thời Đàm ở Hà nội, Hội Nữ Công của bà Đạm Phương ở Huế, v.v Người đọc có thể tìm thấy những cuộc thảo luận trên hai tờ Nữ Giới Chung và Phụ Nữ Tân Văn về vị trí của người phụ nữ trong xã hội, bên cạnh những giáo huấn về công dung, về đời sống gia đình, về giải phóng phụ nữ (Tự Lực Văn đoàn), về nam nữ bình quyển, v.v Với báo chí, người phụ nữ có cơ hội lên tiêng và xuât hiện trước công chúng
Trang 19(Nguyễn Thị Manh Manh cổ động Thơ Mới), gia nhập văn đàn, tham gia trường văn trận bút, Trên các báo như Đông Pháp Thời Báo, Thần Chung, Công Luận, các nhà báo thường mượn lời phụ nữ để kêu gọi trách nhiệm của người dân đối với đất nước, và có những tác giả cũng dùng nhân vật phụ nữ đóng vai chính trong việc chuyển tải tư tưởng đấu tranh
Ý thức dân chủ của phương Tây lan rộng trong đời sống thị thành dẫn đến những chuyên biến sâu sắc trong tỉnh thần thời đại Báo chí bằng chữ quốc ngữ xuất hiện phong phú và lưu hành trong toàn quốc, trở thành dòng chảy thông tin quan trọng có tác dụng mở mang dân trí Báo chí còn là nơi "thử bút", giới thiệu văn nghệ sĩ, bình phẩm văn chương Viết văn làm báo trở thành nghề mưu sinh Có thể nói đây là những gì rất mới đối với người cầm bút đương thời và góp phân làm nên diện mạo riêng của văn hóa Việt Nam cuối thể kỷ XIX đầu thế ki XX Các hoạt động văn hóa nghệ thuật phương Tây mới lạ so với truyền thống lần lượt ra mắt công chúng như sân khấu kịch nói, điện ảnh, nghệ thuật xiếc, hội họa, âm nhạc " Ngọn cờ văn hoá mới được chuyền đến tay tầng lớp trí thức Âu hoá với những tỉnh thần dân chủ và tự do cá nhân Chữ Hán chỉ còn là vẻ đẹp "vang bóng một thời" Nho học ngày càng thất thế, tàn lụi Năm 1918, chế độ khoa cử chữ Hán
bị bãi bỏ hoàn toàn Kẻ từ khi xuất hiện, chữ quốc ngữ đã có cuộc hành trình từ địa
hạt truyền giáo (Đạo Thiên Chúa) sang lĩnh vực báo chí và văn học nghệ thuật Đây là điều Alexandre de Rhodes và các giáo sĩ phương Tây có thể đã không ngờ
tới
Đổi thay chữ viết là cuộc cách mạng quan trọng, tạo cơ sở cho quá trình hiện đại hóa văn hóa Việt Nam theo những xu thế của nhân loại Trong hoàn cảnh đất nước lầm than nô lệ, ý thức tự chủ về văn hóa dân tộc ta đã trỗi dậy mạnh mẽ Đó
là sự kiện lịch sử văn hoá kỳ diệu mà không phải dân tộc nào cũng làm được
Trang 201.3 Vai trò của báo chí với văn hóa nói chung và báo chí quốc ngữ với văn hóa Việt Nam nói riêng
Báo chí không những là công tụ chuyền tải văn hóa mà còn chủ động tham gia tác động vào việc hình thành một nền văn hóa Văn hóa như được hiểu ở đây là nên tảng tỉnh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh của phát triển, biểu hiện trong cuộc sống bằng nhiều hình thái và qua nhiều hoạt động, ở đó con người giữ vị trí chủ đạo và trung tâm |
Nói về báo chí là nói thông điệp mang tin tức, tư tưởng, quan điểm của con người Nhà báo chuyển thông điệp đến công chúng bằng phương tiện truyền thông Truyền thông không chỉ là công cụ vật chất, là công nghệ và kỹ thuật, truyền thông trước hết là con người và những nhu cầu văn hóa của nó
Báo chí thâm nhập vào Việt Nam qua con đường xâm lược của thực dân Pháp, sự phát triển của báo chí ở Việt Nam gắn với tiến trình đổi mới, hiện đại hóa nền văn hóa mà trước hết là ở sự khăng định, lan tỏa và hoàn thiện chữ quốc ngữ Các nhà khoa học, mặc dù không nói ra nhưng dường như tất cả đều công nhận rằng: Nếu không có đội ngũ các Giáo sĩ châu Âu tận tâm và sáng tạo trong sứ vụ truyền giáo của mình, thì mẫu tự của chữ Việt chắc vẫn là chữ Nôm, chứ không thê
là mẫu tự Latinh với nhiều ưu điểm mà chúng ta được thừa hưởng Sự hình thành chữ quốc ngữ là công của nhiều nguoi: Francesco de Pina, Cristoforo Borri, Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine, Taberd , và là của cộng đồng giáo dân Công giáo Việt Nam thời bấy giờ Chính cộng đồng này là lực lượng trong một thời gian khá dài sử dụng thành quả của các nhà xây dựng và hoàn thiện chữ quốc ngữ
Có một sự trùng hợp lịch sử: các chí sĩ Việt Nam cuối thế ký 19 đầu thế kỷ
20 trong quá trình tìm lối đưa dân tộc thoát khỏi lầm than, đã sớm nhận ra chữ quốc ngữ là văn tự dễ học, tiện dùng, có thể làm phương tiện mở mang dân trí, tự lực tự cường, tiến tới lật đỗ ách ngoại xâm Ở Bắc Kỳ, các chí sĩ Đông Kinh nghĩa
Trang 21thuc khang dinh: “Pham ngudi trong nước đi học, nên lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên” Ở Trung Kỳ, tiễn sĩ Trần Qúy Cáp cùng một số chí sĩ lãnh đạo phong trào chống thuế và duy tân, trước khi bị thực dân Pháp hành hình cụ có lời kêu gọi tâm huyết: “Chữ quốc ngữ là hồn trong nước/ Phải đem ra tính trước dân ta ”(2) Sớm hơn, tại Nam Kỳ, các học giả Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của cho dù quan điểm chính trị của họ có chỗ đáng bàn, là những người sử dụng sớm nhất chữ quốc ngữ Trương Vĩnh Ký chủ bút đầu tiên của tờ báo tiếng Việt đầu tiên: Gia Định báo (1864) Huỳnh Tịnh Của tác giả bộ Đại Nam quốc am ty Vi Các nhà trí thức “tân học” thuộc thế hệ tiếp đó ở Bắc Hà được giao nam nhiều phương tiện ngôn luận với mục đích truyền bá “Âu Tây tư tưởng” hay “nền văn mỉnh Thái Tây” thì đương nhiên dùng chữ quốc ngữ Song song với chủ trương xuất bản báo chí tiếng Việt, nhà cầm quyền Pháp, do nhu cầu đảo tạo người nguồn
nhân lực bản xứ, mở rộng hệ thống “trường tiểu học kiêm bị Pháp Việt? dạy trẻ
học tiếng Việt và tiếng Pháp Các nhà khoa bảng “cựu học” thời ấy muốn làm việc trong guồng máy hành chính của Nam triều nhất thiết phải biết ít nhiều chữ quốc ngữ Các chí sĩ yêu nước xuất thân từ những thành phần xã hội rất khác nhau như Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu, Diệp Văn Cương, Nguyễn An Ninh, Phan
Kế Bính, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Đăng Lưu, Trần Huy Liệu,
thông qua báo chí tiếng Việt non trẻ, cùng khăng định vai trò chữ quốc ngữ trong đời sống tỉnh thần của dân tộc Có thể khẳng định, chính báo chí tiếng Việt
đã tạo ra những diễn đàn bước đầu có tính dân chủ cho những cuộc thảo luận về các vấn đề chính trị, tư tưởng, văn hóa và xã hội của các trí thức Việt Nam yêu nước, góp phân tạo nên những thay đổi lớn trong đời sống kinh tế, văn hóa, chính
trị, xã hội ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập với thế giới hiện đại
Báo chí cũng là phương tiện đầu tiên chuyển tải văn học và điều này được coi là một đóng góp quan trọng vào tiễn trình hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam Việc hình thành quan niệm văn học, quan niệm sáng tạo và ý thức thẩm mỹ, hình
Trang 22thành nhân vật văn học mới, việc du nhập và tiếp thu các hình thức thể tài văn
chương mới, đã tạo nên một cuộc cách mạng văn chương chưa từng có trong lịch
sử và qua đó tác động mạnh mẽ đến nền văn hóa hiện đại Chính báo chí tiếng Việt
đã trở thành công cụ truyền bá học thuật, văn hóa, kể cả văn hóa nước ngoài, khởi đầu từ khoa học xã hội đi đến khoa học tự nhiên và công nghệ
Dân trí được nâng cao là tiền đề của mọi tiễn bộ, đổi thay, trong đó có tiến
bộ, đổi thay của văn hóa và báo chí Dân trí tăng lên có công của báo chí; đổi lại, nhờ thêm người có học vấn, độc giả tiềm năng phát triển về số lượng và trình độ, báo chí quốc ngữ càng có điều kiện phát triển Điều này cho thấy vị thế, vai trò của báo chí trên tư cách bộ phận cấu thành văn hóa, đặc biệt là trong tiến trình hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Trang 23Chương 2
VAI TRO NOI BAT CUA BAO CHi TIENG VIET
DOI VOI NEN VAN HOA
2.1 Hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam là một vấn đề tư tưởng, nhận
thức trong điều kiện bị giặc ngoại xâm đô hộ
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, nền văn hóa Việt Nam chấn động mạnh sau hơn 10 thế kỷ bình lặng Đó là một nhu câu bức xúc phải vượt thoát cái khuôn hình của di sản truyền thông hàng ngàn năm để bước vào một quỹ đạo mới Tiền đề của nó là:
- Sự xâm lược của thực dân phương Tây (Pháp) đã tác động sâu sắc tời diện mạo bên ngoài và kiến trúc bên trong của toàn bộ xã hội Việt Nam Quá trình đô thị hóa theo hướng Phương Tây hóa diễn ra nhanh chóng, xuất hiện tầng lớp công chúng mới với những nhu cầu văn hóa mới
- Các lực lượng yêu nước và tiến bộ Việt Nam ngày càng ý thức sâu sắc về
sự khủng hoảng, bất lực của chế độ phong kiến và xã hội truyền thống kiểu châu Á
ở nước ta đồng thời thấy rõ không thể cứu nước nếu không canh tân đất nước Con đường canh tân đất nước trở thành nhu cầu bức thiết, chí ít thì nó cũng ngang bằng
với nhu cầu đấu tranh giành độc lập dân tộc
- Hệ thống giáo dục Hán học dần bị thu hẹp, hệ thống nhà trường Pháp-Việt
và luồng văn hóa, tư tưởng phương Tây ngày càng lan rộng, hình thành tầng lớp trí thức mới, trí thức Tây học Tầng lớp này hào hứng với tiếp nhận và truyền bá những luồng tư tưởng mới, đặc biệt là văn hóa phương Tây, xuất hiện một lớp trí thức, văn sĩ, nhà báo chuyên nghiệp
- Sự phổ biến mạnh mẽ của chữ quốc ngữ (Giả sử các nhà yêu nước Việt Nam mà phải vận động cách mạng trên một nền tảng dân chúng chưa phổ biến chữ quôc ngữ, thì việc họ phải làm trước tiên là phô biên chữ quôc ngữ rôi mới ban
Trang 24chuyện tư tưởng và nhận thức, mới bàn đến phương pháp cách mạng, mới bàn đến vận động, tuyên truyền và cô vũ phong trào, mới bàn đến đấu tranh .)
- Trong phạm vi văn hóa học, thông qua các trường học, nhà xuất bản, cơ quan báo chí, việc giới thiệu, dịch thuật, truyền bá khoa học, tư tưởng, văn hóa văn học của các nước phát triển, đặc biệt là của Pháp, đã có đòng góp rất lớn vào quá
trình hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam
- Báo chí được xem là một trong những tiền đề tác động đến quá trình hình thành và hiện đại hóa nền văn hóa Việt Nam
Sau khi dập tắt các phong trào yêu nước, hoàn thành căn bản công cuộc bình định nước ta về mặt quân sự, thực dân Pháp đã tiễn hành hai cuộc khai thác thuộc địa, áp đặt một chính sách thống trị quy mô và triệt để trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá giáo dục nhằm biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn, bảo đảm siêu lợi nhuận cho chính quốc
Về văn hoá, thực dân Pháp đã thi hành một chính sách đầu độc, ngu dân đồng thời truyền bá văn hoá và giáo dục của Pháp để phục vụ cho chính sách thuộc địa của mình Ban đầu, thực dân Pháp thực hiện chính sách giáo dục chỉ nhằm mục đích đào tạo đội ngũ thông dịch viên và những người phục vụ trong bộ máy chính quyền thuộc địa, đồng thời từng bước truyền bá chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, hạn chế ảnh hưởng của chữ Hán Các trường học được tổ chức với ba bậc: bậc ấu học ở xã, bậc tiêu học ở phủ, huyện và bậc trung học ở tỉnh Học sinh theo học trong hệ thống các bậc học này, ngoài việc được trang bị các kiến thức khoa học phổ thông còn phải học tiếng Pháp Các bậc học càng cao thì môn tiếng Pháp và các kiến thức về văn hoá Pháp càng trở thành bắt buộc |
Bên cạnh đó, thực dân Pháp đã lợi dụng vũ khí báo chí để tuyên truyền cho các chính sách “khai hoá”, thống trị của chúng tại Việt Nam Hàng loạt các tờ báo được xuất bản bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp Vào tháng 6 năm
1915, “7w viện truyền bá ” được thành lập gồm hai bộ phận: thứ nhất là Đồng Dương
Trang 25tap chí, tuần báo văn chương, khoa học giáo dục và thứ hai là 7rưng Bắc tân văn, thời
báo chính trị, kinh tế, ấn hành bằng ba loại khác nhau và được viết bằng chữ Quốc
ngữ và chữ Hán Sau khi Đồng Dương tạp chí bị đình bản, chính quyền thực dân đã thành lập tờ am phong (1916) Qua báo chí, thực dân Pháp đã chuyển một hệ thống tư tưởng nô dịch, tuy vậy, trên một số tờ báo, những trí thức tiến bộ đương thời cũng đã lợi dụng để đăng tải một số thơ văn yêu nước, cỗ động tinh thần dân tộc nên
bị chính quyền thực dân đình bản như: Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí
Thực dân Pháp không thể ngăn trở được những trào lưu văn hoá dân tộc tiễn
bộ đã xuất hiện và phát triển trong thời gian này Những người đại biểu cho tư tưởng
mới là các sĩ phu tiễn bộ Họ là những người đi tiên phong trong các phong trào đả phá những quan niệm phong kiến lạc hậu mà theo họ đó là nguyên nhân của mọi sự
yếu hèn và thối nát hiện thời Họ còn kiên quyết đấu tranh chống lại phái bảo thủ, đại biểu cho những tầng lớp phong kiến với tư tưởng bài ngoại, độc tôn, khước từ
đổi mới Như vậy, những tư tưởng rường cột của ý thức hệ phong kiến chỉ biết có
“thiên triều” là chí tôn, “thiên quốc” là trung tâm thế giới, ngoài ra đều là “quỷ”,
“di” trước sức tắn công thống trị của chủ nghĩa tư bản, đã bị lay chuyển đến tận gốc
rễ Tâm lý phổ biến trong lớp sĩ phu tiến bộ lúc bấy giờ là háo hức tìm cái mới để
trang bị một giải pháp, một cách thức cứu nước, cứu nhà
Nếu như con đường cứu nước của Phan Bội Châu thiên về xu hướng bạo động với việc thành lập Duy ứân hội (1904), tổ chức phong trào Đông Du (1906) thì những hoạt động của nhà yêu nước Phan Châu Trinh đã làm dấy lên cuộc vận động duy tân, cải cách trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, văn hoá (Đông Kinh nghĩa thục, 1907) Các phong trào này đã hô hào người dân quyên góp tiền mở lớp học, bỏ nạn cờ bạc, thuốc phiện, giảm bớt nghi thức khi cưới xin, ma chay Đặc biệt Phan Châu Trinh và một số những cộng sự của mình đã rất đề cao chữ quốc ngữ và sử dụng chữ quốc ngữ trong giảng dạy, biên soạn, dịch thuật, sáng tác
Trang 26Cùng với mức độ và quy mô của công cuộc khai thác của thực dân là các thành tựu khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật từ phương Tây thông qua sách báo đã Š ạt tràn vào nước ta Tầng lớp trí thức được đào tạo trong nền giáo dục Tây học là những người trực tiếp chịu ảnh hưởng và đã tiếp thu làn sóng văn hoá, văn minh mới đó Giai đoạn này có thé thấy đã diễn ra sự giao thoa, đan xen và tổn tại đồng thời giữa những yếu tố văn hoá truyền thống và văn hoá phương Tây, cuộc đầu tranh vì văn hoá mới đang nấy sinh trong lòng xã hội thuộc địa Việt Nam
Trong giai đoạn 1925-1929, một phong trào văn hoá tiến bộ, tuyên truyền tư tưởng dân tộc dân chủ đã góp phân kích thích tư tưởng yêu nước phát triển khắp cả nước Ở Hà Nội, tổ chức Nam Đông thư xã do hai anh em Phạm Tuấn Lâm và Phạm Tuấn Tài sáng lập đã chủ trương giới thiệu nhiều tắm gương yêu nước Ở
Huế có Quan hải từng thự do Đào Duy Anh chủ trì đã biên dịch những tập sách
khảo cứu có khuynh hướng Mácxit Ở Sài Gòn có Cường hoc thu xd do Tran Huy Liệu chủ trì đã chú ý bồi dưỡng chủ nghĩa dân tộc Giác £h quần xã xuất bản những di cảo của Phan Châu Trinh Trần Hữu Độ dịch những lí luận trong tập Am băng thất của Lương Khải Siêu Một số tác phẩm có tiếng vang lớn trong nhân dân như Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc, Một bẩu tâm sự của Trần Huy Liệu, Tiếng cuốc kêu của Việt Quyên
Xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một xã hội đầy biến động Từ chỗ là
quốc gia phong kiến tự chủ, Việt Nam lúc này trở thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến Hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội tồn tại găn liền với nhau: mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là nông dân, với giai cấp phong kiến bản địa; mâu thuẫn giữa toàn dân Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược, thống trị Mặt khác, sự hiện diện của truyền thống tư tưởng, văn hoá dân tộc, trong đó HHỜI bật 1a tinh thần nhân ái, ý thức độc lập, tự cường và tình cảm cố kết cộng đồng, giữ vai trò quy định trực tiếp mọi quan hệ xã hội Đồng thời, sự tiếp nhận một cách sáng tạo những tinh hoa văn hoá phương Đông và văn minh phương Tây được xem
Trang 27như một nhân tố cần thiết để phát triển đời sống tư tưởng của dân tộc Con người Việt Nam là con người có nhân cách đặc sắc: tồn tại trong thực tiễn; coi trọng thiết thực, hữu ích; sống theo chuân mực đạo đức Thật - Tốt - Đẹp; lập thân bằng tự
lực, kiên trì, đũng cảm, trí tuệ, sáng tạo; tôn vinh học vấn, triết lý và hiền tài Đức
tính cao cả nhất, thiêng liêng nhất của con người Việt Nam là quên mình vì nước,
vì dân theo tinh thần của chủ nghĩa yêu nước mang tính nhân văn
Phong trào Duy tân với những đại biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Quý Cáp và Đông Kinh nghĩa thục đã chủ trương hoạt động theo mục tiêu Chấn dân khí — Khai dân trí - Hậu dân sinh Những mục tiêu mang tinh thần dân tộc và phù hợp với xu thế thời đại lúc bấy giờ đều dựa trên nền tảng của triết học dân chủ tư sản, thuyết tiến hoá, lý luận biến pháp, chủ nghĩa tam dân của các nhà triết học tư sản phương Tây và phương Đông (Vônte, Điđorô, Môngtéxkiơ, Rútxô, Spenxơ, Khang Hữu
VỊ, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn
Vấn đề là báo chí tiếng mẹ đẻ sẽ trở thành kênh truyền tải quan trọng tới mức độ nào cho người bản xứ đấu tranh chính trị công khai? Khi báo Pháp ngữ của người Việt đã phát triển trong những năm sau Thế chiến I, báo quốc ngữ cùng lúc
đó cũng tăng vọt sức ảnh hưởng trong môi trường công khai ở Sài Gòn Mặc dù chưa thể cạnh tranh bằng năng lực tạo ra sự kiện chính trị, chức năng giáo huấn phi chính trị mà cho đến lúc đó vẫn được chính quyền phân công cho báo quốc ngữ và các ký giả đầu tiên, đã không còn bền vững nữa Dẫu bị kiểm duyệt chặt chẽ và bị khống chế không cho người Việt nắm quyển sở hữu báo chí, một số tờ báo quốc ngữ ra đời trong nhiệm kỳ của Sarraut đã lắp đầy khoảng trống hạn hẹp dành cho chúng một cách thành công, lúc đầu là bằng xu hướng thiện chí dành cho chính sách cua Sarraut
Chính quyền không xác định rõ ràng cái øì là “hoạt động chính trị” Báo chí vân có chỗ đê thao diễn dưới sự săm soi của ban kiểm duyệt - một cơ câu tương
Trang 28đối tự chủ đứng đầu là giám đốc chỉ nhánh Nam Kỳ của Sở Liêm phóng là cơ quan
vốn có nhiều người Việt Trước khi xuất bản, báo chí phải trình nộp mọi số báo cho ban kiểm duyệt để xin phép Quan hệ tốt ở các cấp cao của chính quyền không phải lúc nào cũng ngăn ngừa được chuyện đục bỏ nhiều bài vở, chuyên mục và để lại những khoảng giấy trắng Một trở ngại quan trọng khác là các dân bản xứ không được phép làm chủ một tờ báo nào Sau một thời gian ban đầu nới lỏng các hạn chế này dưới nhiệm kỳ Sarraut, rất ít báo quốc ngữ được cấp phép hoạt động Bắt chấp hạn chế, quang cảnh báo chí quốc ngữ bắt đầu biến đổi Kết quả từ các
chính sách của Sarraut, tiền lệ của báo chí Pháp ngữ và sự khẳng định mới xuất
hiện của các nhà kinh doanh xuất bản người Việt (và Pháp) trước tiên ở Gia Định
đã khiến báo chí tiếng Việt ngày càng chính trị hóa Xem xét bốn tờ báo quốc ngữ quan trọng - Nông cô Mín Đàm, Công Luận Báo, Đông Pháp Thời Báo, và Nam
Kỳ Kinh Tế Báo - ta sẽ thấy nhiều ký giả có tư duy độc lập và sự hình thành của các mạng lưới liên kết cá nhân khi số dân chúng có học tăng vọt ở Sài Gòn Nhiều
nhà nghiên cứu nhận định rang, cho đến thời điểm năm 1922, giai đoạn chứng kiến
một thế hệ nhà báo mới trổ tài và nhờ đó mở rộng môi trường công khai cùng khả năng sinh tồn của Sài Gòn, ít nhất đã có tờ Nam Kỳ Kinh Tế Báo có thê bứt phá
tiến trình chính trị hóa báo chí quốc ngữ Đây chính là tiền đề tư tưởng, nhận thức góp phần quyết định vào tiến trình hiện đại hóa nền văn hóa trong điều kiện bị giặc ngoại xâm đô hộ
2.2 Báo chí quốc ngữ góp phần hiện đại hóa ngôn ngữ, chữ viết
Từ khi hình thành cho đến một thời gian dài sau đó, chữ quốc ngữ chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam, ngoại trừ được sử dụng trong cộng đồng Công giáo Lý do là vì triều Nguyễn không có thiện cảm với thứ chữ các nhà truyền giáo sáng tạo ra Cho tới khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, với các công văn quy định buộc phải sử dụng chữ quốc ngữ, từ đó loại hình chữ viết này mới được sử
Trang 29dụng Tại Nam Kỳ, Phó Đề đốc De Lagrandière đã bãi bỏ Hán học và mở trường dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ Năm 1882, nhà cằm quyền còn ra những nghị định bắt buộc dân phải dùng chữ quốc ngữ trong mọi công văn giấy tờ
Sang đầu thế kỷ XX, chữ quốc ngữ không chỉ được thừa nhận mà còn được lan rộng qua các phong trào cô động cho việc lựa chọn chữ quốc ngữ thay cho chữ Hán và chữ Nôm diễn ra trong khắp cả nước do các sĩ phu, trí thức hưởng ứng Các tên tuổi có đóng góp cho sự phát triển của chữ quốc ngữ như: Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Châu Trinh Nguyễn Văn Vĩnh: khuyến khích mọi người đề cao việc học chữ quốc ngữ đã nói: “Chữ quốc ngữ là hồn của nước”, “nước ta sau này hay dở đều ở chữ quốc ngữ”
Năm 1917, vua Khải Định ra lệnh bãi bỏ tất cả các trường học chữ Hán
Năm 1932, vua Bảo Đại ra quyết định dùng chữ quốc ngữ thay cho chữ Hán Năm
1938, Hội truyền bá chữ quốc ngữ ra đời, nhờ hội này sự phổ biến chữ quốc ngữ nhanh chóng đến với quần chúng
Người Pháp sớm nhận ra, đối với một nước có chiều dày văn hiến như Việt Nam, rất khó dùng tiếng Pháp áp đặt bộ máy cai trị và phục vụ công việc bình định
khan thiết và đầy khó khăn của họ lúc bấy giờ Cho đến đầu thế ký XX, theo báo
cáo của phó thống đốc Nam Kỳ “chỉ có khoảng mấy trăm người An Nam nói thạo tiếng Pháp” |
Lịch sử báo chí ở Việt Nam đã phải bắt đầu với người Pháp, người Pháp
cũng chẳng phải vì văn hoá Việt Nam mà sự thực đó là qua báo chí, người Pháp muốn phục vụ cho quyển lợi của nước Pháp Việc phổ biến chữ Pháp và chữ quốc ngữ cũng chỉ với mục đích chinh phục người dân thuộc địa Ngày 22-2-1869, Thống đốc Nam kỳ G Ohier đã ký nghị định bắt buộc các cơ sở hành chánh Nam
kỳ phải dùng chữ quốc ngữ trong các công văn và đến ngày 6-4-1&78, một nghị định mới còn buộc các công chức phải biết chữ quốc ngữ mới được tuyển dụng và thăng tiến Năm 1880, theo lệnh của Thống đốc Le Myre de Vilers, Soái phủ Sai
Trang 30Gòn hoạch định việc học chữ quốc ngữ cũng như việc xây cất trường học và việc phát không sách báo để phố biến chữ quốc ngữ
Rõ ràng người Pháp sớm nhận thấy cần nâng đỡ chữ quốc ngữ, sử dụng nó
để đưa vào đời sống xã hội, di nhiên nhằm phục vụ các mục đích của chủ thực dân trước hết Tờ báo tiếng Việt đầu tiên của nước ta là tờ Gia Định báo, xuất bản số
thứ nhất vào ngày 15/4/1865 tại Gia Định Thời gian đầu, báo do Ernest Potteau phụ trách, nhưng thực sự khởi sắc khi nhà báo Trương Vĩnh Ký (1837 — 1898)
được bổ nhiệm làm chủ nhiệm tờ báo vào năm 1869 Ong Truong Vĩnh Ký là một
trong số những người viết báo bằng tiếng quốc ngữ đầu tiên ở nước ta (ông quê ở Vĩnh Long, rất thông minh, tốt nghiệp trường dòng, biết tới 27 ngoại ngữ) Ngoài các công văn, nghị định chính quyền, báo này đã đăng tải các bài nghiên cứu về lịch sử, truyện cô tích, thơ ca V.V
Tuy nhiên, đến hết thế kỷ 19, số tờ báo tiếng Việt chỉ đếm trên đầu ngón tay: Gia Định báo (1865), Thông loại khóa trinh (1888), Nam Ky Nhat trinh (1897),
Phan Yên báo (1898), Nông cổ mín đàm (1901) (3)
Để chữ quốc ngữ đi dần vào đời sống xã hội, đi đôi với sự nâng đỡ của nhà cam quyền Pháp (như mở trường tiêu học Pháp Việt, bỏ các cuộc thi Hương ở Bắc
Kỳ và Trung Kỳ, buộc các viên chức bản xứ làm việc cho họ ngoài chữ Nho phải thông thạo chữ quốc ngữ, giảm bớt một phần những hạn chế khắt khe ra báo bằng tiếng Việt ) phải cậy đến vai trò của các nhà yêu nước Việt Nam Các chí sĩ Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 mặc dù hầu hết xuất thân Nho học và quyết liệt chống chủ nghĩa thực dân, đều sớm thấy rõ sự tiện lợi, dễ học và công dụng của chữ quốc ngữ Đông Kinh Nghĩa Thục công bố Văn minh tân học sách (1904) nêu sáu chính sách lớn, mà chính sách đầu tiên là dùng văn tự nước nhà: “Phàm người trong nước đi học nên lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên, để cho trong vài tháng đàn bà trẻ con cũng đều biết chữ ”, và chính sách thứ sáu là xuất bản báo chí quốc văn Tiến sĩ Trần Quý Cáp, người sau này bị thực dân Pháp kết tội tử
Trang 31hình, kêu gọi (1906): “Chữ quốc ngữ là hồn trong nước/ Phải đem ra tinh trước dân
ta ” Cụ nghè Ngô Đức Kế từ nhà tù Côn Đảo về, khẳng định: “Các nhà tân học,
cựu học đều biết răng muốn khai thông phong khí cho dễ, truyền bá văn minh cho mau, thì phải dùng tiếng mình chữ mình” v.v
Sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ ngẫu nhiên đã mở đường cho văn hóa Việt nam một chân trời mới chưa từng có Chính vì vậy, nó được đón nhận đây hào hứng của giới trí thức thuở ấy mà sau này mang cái tên những người “tân học”
Báo chí đã có công lớn là hoàn thiện, phổ cập, thống nhất, nâng cao chữ quốc ngữ, làm cho tiếng Việt thể hiện bằng chữ quốc ngữ trở thành một ngôn ngữ thống nhất đủ sức diễn đạt sáng tỏ, chuẩn xác, nhuằn nhị mọi vấn đề của cuộc sống bình thường cũng như trong chính trị, triết học, văn học, khoa học, công nghệ hiện đại
Từ những năm 20 thế kỷ trước, báo chí tiếp tục hoàn thiện chữ quốc ngữ về chính tả, cú pháp, tách ngôn ngữ văn hóa khỏi lối văn chương biển ngẫu, đồng thời nâng lên cho trau chuốt hơn, chuẩn xác hơn văn đời thường Người đầu tiên đề xuất phương án cải tiến cách chữ quốc ngữ, thay đổi một số điểm được cho là chưa hợp lý là Nguyễn Văn Vĩnh, chủ bút Đông Dương tạp chí Báo chí chữ quốc ngữ
từ đầu thế kỷ đến cuối những năm 20 đã chuẩn bị cho sự nở rộ của văn học Việt Nam những năm 30 trở đi, với việc đăng tải văn dịch của Phan Kế Bính, Nguyễn
Đỗ Mục, Nguyễn Bá Học, biên khảo của Phạm Quỳnh, Lê Thước, Đào Trinh Nhất, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tiến, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đào Duy Anh, luận chiến của Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Phan Khôi, sáng tác của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Thuật, Hồ Biểu Chánh, Tân Đà, Hoàng Ngọc
Phách, Đông Hồ và rất nhiều tên tuổi khác thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Thời
kỳ này “báo chí kế tiếp xuất bản, trong đó có các nhà báo có giá trị, hoặc về phái cựu học, hoặc về phái tân học , nhờ đó mà quốc văn mới thành lập và có cơ sở vững vàng” (Dương Quảng Hàm) Về nâng cao dân trí, thông qua báo chí bằng
Trang 32chữ quốc ngữ, người dân Việt Nam vẫn có thể tiếp cận các nhà tư tưởng Thế ký Anh sang Pháp, các triết gia Đức, các nhà Tân học Trung Hoa, các nhà Duy tân Nhật Bản, và trong chừng mực nào đó văn học Ấn Độ, Ba Tư
Đối với lĩnh vực văn hóa nói chung báo chí đã chuyển tải một khối lượng rất lớn tri thức về văn hóa cho mọi người, góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết của con người, thúc đây dân trí phát triển , nghĩa là báo chí đóng góp vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội
Mặc dù có các hạn chế, nhưng báo chí giai đoạn đầu ở nước ta đã giúp nhân dân ta làm quen với phương tiện thông tin mới là báo chí Báo chí đã làm cho chữ quốc ngữ ngày càng hoàn thiện — nhất là văn viết, góp phần nâng cao dân trí, đặc biệt là truyền bá những kiến thức văn hóa, tác phẩm văn học, thơ ca cho mọi người dân lúc đó Chính nhờ báo chí mà đời sống văn hóa tỉnh thần của nhân dân
ta lúc đó được nâng lên, xã hội có thông tin nhanh nhạy, cuộc sống phong phú hơn, cánh cửa bước vào đời sống văn minh hiện đại được mở rộng dần, hiểu được trào lưu khu vực và quốc tế để soi vào mình — suy ngẫm và cải thiện các hoàn cảnh thời đó
Chữ quốc ngữ là cơ sở để tiếng Việt phát triển VỀ mặt từ vựng, chữ quốc ngữ đã giúp tạo ra những từ mới nhăm hỗ trợ việc diễn đạt tư duy trong chiều sâu
và đỉnh cao của nó Về ngữ pháp, dấu chấm câu mà chữ quốc ngữ du nhập vào Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc sáng tạo các câu văn viết một cách sang sủa, mạch lạc , điều mà chữ Nôm trước đây không có Chữ quốc ngữ đã giúp diễn đạt tư duy logic, thể hiện những tư tưởng khoa học cách trọn vẹn hoàn hảo
Về mặt âm, chữ quốc ngữ giúp xác định chính âm cho tiếng Việt, tạo sự thống nhất chữ viết trong toàn lãnh thổ Việt Nam Trong bài “Khảo về chữ quốc ngữ” của Nam Phong tạp chí số 122, tháng 10.1927, Phạm Quỳnh đã khăng định: “Tôi tin răng hậu vận nước Nam hay hay là dở là ở chữ quôc ngữ, ở văn quốc ngữ”
Trang 33Chữ quôc ngữ là cơ sở đê mở rộng chức năng của tiêng Việt, nó vươn lên thành ngôn ngữ chính thức của quôc gia Chữ quôc ngữ là cơ sở đề phát triên nên quôc học lên một tâm cao mới Nó là công cụ bảo tôn và phát triên văn hóa Việt Nam Chính ở đây đã ghi công đầu cho báo chí quốc ngữ
2.3 Tiên trình hiện đại hóa nền văn hóa trong mối quan hệ giữa báo chí
và văn chương
Trong bài “La Presse annamite” (Báo chí Annam) trên Nzm phong số 107, tháng Bảy năm 1926, Phạm Quỳnh viết: “văn học hiện đại của chúng ta chỉ xuất hiện từ sau khi có báo chí ra đời Những tác giả đầu tiên của những tác phâm được viết bằng chữ Quốc ngữ đều được đào tạo trong môi trường báo chí”
Sự đóng góp của báo chí Quốc ngữ đầu thế kỷ 20 cho nền văn học Việt
Nam hiện đại là hết sức to lớn Thiếu Sơn trong bài diễn thuyết Báo giới và văn
học quốc ngữ năm 1933 tại Hội Nam Kỳ Khuyến học Sài Gòn đã thấy sự quan hệ đặc biệt của văn học và báo chí ở Việt Nam: “Ở các nước văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng nền văn học” (4; tr.115)
Phạm Thế Ngõ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên đã coi “vai trò tiên phong của báo chí” như là một trong “mấy yếu tính” của văn học giai đoạn
1907 — 1932 Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam cũng đặc biệt
nhắn mạnh tới tầm quan trọng của báo chí khi nói đến “văn học thế hệ 1913” và dành hắn một chương cho Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh với hai tờ Đóng Duong tap chi va Nam Phong tạp chí, hai nhà văn — nhà báo và hai tờ báo theo
ông là tiêu biểu đương thời Bùi Đức Tịnh trong Những bước dau cia bdo chi,
tiểu thuyết và thơ mới, Bằng Giang trong Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 -
1930 cũng cho báo chí là một “bộ môn tiên phong của nền văn học mới” đồng thời
là “môi trường nảy sinh và phát triên của tât cả các bộ môn khác” Các tác giả của
Trang 34Địa chí văn hĩa thành phố Hà Chí Minh khăng định “báo ở Sài Gịn thật sự cĩ
đĩng gĩp vào sự phát triển của văn học” (5; tr.334) Ở miền Bắc, vai trị của báo chí đối với sự hình thành của nền văn học mới cũng thường xuyên được nhắc tới
và nhân mạnh trong các giáo trình lịch sử văn học như Văn học Việt Nam 1900 —
1930 của Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng; Lịch sử văn học Việt Nam (Thời kỳ l1:
Giai đoạn II: Đầu thế kỷ XX - 1930) của Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chú
Tờ báo Quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo Lúc đầu chỉ là một tờ báo cơng
vụ, nhưng từ khi Trương Vĩnh Ký nhận chức tổng tài thì báo đã cĩ những đĩng gĩp quan trọng trong việc cơ động sử dụng chữ Quốc ngữ thay cho chữ Hán, chữ Nơm, khuyến khích tầng lớp trí thức đương thời tập viết báo, viết văn bằng chữ Quốc ngữ, ít nhiều nĩ đã đĩng vai trị thúc đây sự chuyển tiếp của một nền văn chương cổ sang văn chương hiện đại
Thơng loại khĩa trình, do Trương Vĩnh Ký chủ trương, tờ báo tư nhân đầu tiên, tạp chí văn học đầu tiên của nước ta, nơi ghi lại những cực nhục cuối đời của Trương Vĩnh Ký cũng rất đáng chú ý Mảng văn chương trên Thơng loại khĩa trinh đã dạy cho độc giả (đối tượng của Thơng loại khĩa trình là học sinh như tơn chỉ ghi trên trang bìa) biết chữ nghĩa văn chương và tập viết văn chương
Luc Tinh tan van cing là tờ báo cĩ uy tín vào bậc nhất ở Nam kỳ vào thời kỳ
đĩ Nhiều cây bút của xứ Bắc, Trung đã từng vào Sài Gịn học nghề làm báo ở tờ
này, từ Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khơi đến Trần Huy Liệu, Tản Đà Ngay Đồng
Dương tạp chí khi mới ra đời phải ghi trên măng-xét của mình la “An phẩm đặc biệt của Lục Tỉnh tân văn cho xứ Bắc và Trung kỳ” Từ khi Lê Hoằng Mưu về làm chủ bút năm 1921, mảng văn chương trên 1c Tỉnh tân văn mới bắt đầu khởi sắc với hàng loạt tác phẩm của chính ơng như Oøn kia theo mãi hay Ba mươi đêm Hỗ Cảnh Tiên tự thuật, Đỗ Triệu kỳ duyên, Hoan hỉ kỳ oan, Đêm rốt của người tội tử
hình
Trang 35Ra doi sau Luc Tinh tan văn, nhưng Công luận báo (năm 1916) đã đóng góp cho tiểu thuyết Nam Bộ rất nhiều tác phẩm của những tên tuổi như Biến Ngũ Nhy,
Lê Hoang Mưu, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Dương Minh Đạt, Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Nguyễn Ý Bửu, Trần Quang Nghiệp, Bửu Đình Đây là nơi xuất hién Kim thoi di sw — Ba Lau rong nghé đạo tặc của Biến Ngũ Nhy, quyền tiểu thuyết trinh thám đầu tiên ở nước ta Các tác phẩm nổi tiếng của Phú Đức như Hiệp phố châu hườn, Lửa lòng, Tiểu anh hùng Võ Kiết cũng xuất hiện đầu tiên trên Công luận báo Chúa Tàu Kim Quy của Hồ Biêu Chánh; Oan hồn yếu tử, Bình
vỡ gương fan của Dương Minh Đạt; Bó hoa lài, Vô oan trái, Giọt lệ má hông, Khép của phòng thu, Di hận ngàn thu của Nam Đình Nguyễn Thế Phuong; Giot máu anh hùng, Cù lao Thanh Thủy của Trần Quang Nghiệp; Một thiên tuyệt bút trường hận của Bửu Đình cũng đăng lần đầu trên tờ báo này |
Phụ nữ tân văn cũng là một tờ báo có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam trong giai đoạn giao thời Theo Vũ Ngọc Phan, đó là “một tạp chí mà sức truyện bá đã rất mạnh trong đám trí thức đương thời" (6; tr 335) Đây cũng là nơi đăng nhiều tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, của Bửu Đình; là nơi phát pháo khai cuộc tấn công vào thành trì của thơ cũ với bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ và Tình già, bài thơ được cho là bài thơ mới đầu tiên của Phan Khôi
Trước 1945, gần như không có một tờ báo nào chuyên chú tuyệt đối về văn chương, Nguyễn Sỹ Tế trong Việt Nam văn học nghị luận viết: “không những ta phải cứu xét lịch trình tiến hóa của văn chương, của ngôn ngữ mà còn phải cứu xét lịch trình tiến hóa của học thuật, của tư tưởng Việt Nam” (7) Khái niệm “văn học” hay “văn chương” ở Việt Nam luôn lớn hơn bản thân “văn học thuần túy” Cũng Nguyễn Sỹ Tế đã gọi Đông Dương tạp chí là “cơ quan văn học đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ”, dù Đông Dương tạp chí hay Nam phong đều không thê coi là thuần túy văn chương được, mà lớn hơn vậy: “việt bài khảo cứu và bình luận về văn học,
Trang 36phiên âm và dịch nghĩa các sách cũ, sưu tập các thơ văn cổ, in các sách quan trọng ”(7)
Mặt khác, nếu so sánh, đối chiếu về mặt mô hình, các tạp chí Pháp cũng phần nhiều không có tính chất chuyên biệt về văn học (tức chỉ đăng sáng tác và bình luận văn học), mà thường bao gồm cả chính trị, xã hội Điều quan trọng là
có sự tương đồng nổi bật giữa cách thức tổ chức và vận hành của các tạp chí ở Pháp và ở Việt Nam
Nguyễn Văn Trung, trong “Đôi lời giới thiệu” cho cuốn sách U/ch sử báo chí Việt Nam của Huỳnh Văn Tòng, viết: “Riêng về văn học, báo chí thời kỳ đầu ở Việt Nam đã là nơi phát xuất và nuôi dưỡng những thể văn, khuynh hướng văn mới, nhất là những thể văn, khuynh hướng văn chương chịu ảnh hưởng Tây phương”, rồi: “Một nhà biên soạn văn học sử thời cận đại và hiện đại không thể không dành một đôi chương nói về vai trò và công dụng của báo chí trong việc
phát huy và phổ biến văn học ” (8)
Các nhà báo, nhà văn Việt Nam thời Pháp thuộc, hết sức thân thuộc với vô
số tác giả báo chí, văn chương Pháp và nhiều báo chí ở Việt Nam (Đông Dương)
đã học tập được nhiều về cách tổ chức báo chí của Pháp Có một điều không khó
để nhận ra là báo chí chính là nơi tuyệt đại đa số nhà văn mới vào nghề đã thử sức,
và người ta thường xuyên tìm lại trong kho báo chí để tìm những gì một nhà văn
thành danh từng viết thuở ban đầu, và kết quả rất nhiều khi cho thấy rằng ngay ở
buổi ban đầu một nhà văn sau này nổi tiếng đã có những bài viết hết sức quan trọng, diễn tả rất đầy đủ nhân sinh quan, cách nhìn, lối viết, cũng như đã bộc lộ rất
nhiều tài năng Lịch sử văn học thế giới đã ghi lại nhiều trường hợp các nhà văn
đặc biệt găn bó với báo chí Marcel Proust không chỉ có bộ tiêu thuyết Đi từn thời gian đã mất, mà ngay từ khi còn rất trẻ ông đã tham gia rất nhiều tờ tạp chí, viết rất nhiều bài, và sau này cũng đã miêu tả hết sức tỉnh tế cảm giác của một thanh niên trẻ lần đầu tiên thấy có bài được đăng trên báo Jean Starobinski, nhà phê bình văn
Trang 37học người Thụy Sỹ nỗi tiếng, cũng kế lại niềm hứng khởi thời trẻ của mình như sau: “Tham vọng đâu tiên của tôi không phải cuốn sách, mà là những trang viết được nhận vào một tờ tạp chí” (Dẫn theo Cao Việt Dũng (9)
Những tờ báo, những tờ tạp chí có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh than của rất nhiều nhà văn: nhà văn Francois Mauriac danh tiếng cũng kế lại lần cuốn tiểu thuyết của ông được tờ WRF viết bình luận ngăn ông đã sung sướng đến thế nào: “chỉ vì một bài bình luận vô cùng tam thường, tôi cũng thấy ngây
ngất, tôi cũng thây vô cùng hạnh phúc” (Dẫn theo Cao Việt Dũng (9)
Báo chí Pháp thời ấy gắn bó mật thiết với văn chương, Tờ VREF mở ra với tiểu thuyết La Porre étroife (Khung cửa hẹp) của André Gide; tờ báo cũng là nơi đăng tải trước nhất một số tiểu thuyết nỗi tiếng của văn học hiện đại Pháp, trong đó
có Barnaboofh của Valery Larbaud và đặc biệt là cuốn tiêu thuyết lừng danh, cũng
là cuốn tiểu thuyết duy nhất trong cuộc đời nhà văn Alain-Fournier, Le Grand Meaulnes (Anh Môn cao kều), được đăng trên nhiều ky NRF trong nim 1913 Chắc hắn nhiều nhà văn Việt Nam đã đọc được một số tác phẩm quan trọng của văn học Pháp thông qua những tờ tạp chí như thế này Trên thuc té, NRF la to tạp chí thành công nhất trong lịch sử văn học Pháp về phương diện tiểu thuyết Điều này cũng là dễ hiểu, vì người sáng lập ra tờ tạp chí chính là một trong những tiểu thuyết gia lớn nhất của Phap, André Gide Sau nay nhìn lại, nhà phê bình Albert Thibaudet, cũng là một nhân vật quan trọng của NRF, timg gitt muc cho té tap chi trong nhiéu nam, da viét: “NRF giai đoạn trước chiến tranh đã có một bước đi mang tính quyết định, tạo ra một ảnh hưởng sâu sắc, dù cho chỉ ở một điểm duy nhất là tiêu thuyết Hắn là tôi cũng không quá lời khi nói rằng mọi chuyện đã diễn ra như thể nó thực sự đã từng là một viện hàn lâm tiểu thuyết [ ] Từ những năm ba mươi của thế kỷ XIX, rất ít thời kỳ và nơi chốn có được nhiều sáng tạo tiểu thuyết nhu 6 NRF vao nam 1913(Dan theo Cao Việt Dũng (9)” Điều này càng khang định thêm vai trò của báo chí trong sự phát triển của văn xuôi ở không chỉ Việt
Trang 38Nam, đặc biệt là tiểu thuyết, một thể loại không tĩnh lặng như ngày nay chúng ta thấy, mà ở giai đoạn đột phá về phát triển thể loại đã hết sức sôi động, thậm chí là
náo nhiệt trên các trang tạp chí Và đây cũng không hăn là một hiện tượng hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử phát triển sóng đôi của tạp chí văn chương và tiêu thuyết
ở Pháp: ngay ở thế kỷ XIX, không ít cuốn tiểu thuyết, kê cả những bộ trường giang tiêu thuyết, đã được đăng dài kỳ trên các tờ báo và tạp chí Ngay Gustave Flaubert, người luôn công khai chê trách, chỉ trích tính chất phù phiếm, tạm bợ của báo chí, cũng đã cho đăng tác phẩm quan trong cla minh, Madame Bovary, trén to Revue
de Paris trong vòng ba tháng, từ tháng Mười đến tháng Chạp năm 1856 (Dẫn theo Cao Việt Dũng (9)
Sẽ không có gì là lạ khi với các nhà văn trẻ bắt đầu cầm bút, các tờ tạp chí
danh tiếng có một vòng hào quang và một sức hút mãnh liệt Trong kiểu môi trường ấy, những tờ tạp chí uy tín đồng nghĩa với văn chương cao cấp Từ hào quang lại sinh ra hào quang Franeois Mauriac kể lại cảm tình nồng nhiệt của mình voi to NRF, to tạp chí có vai trò vô cùng quan trọng với thế hệ nhà văn trẻ hồi ấy:
“tôi thuộc về cái thế hé coi ts NRF 1a kim chi nam Toi đã ngay lập tức, và hết sức hứng khởi, toàn tâm toàn ý với VRF Thật không may cho tôi, tình yêu này không
hề được đáp lại (Dẫn theo Cao Việt Dũng (9)
Trong hồi ký của mình, Nguyễn Công Hoan thuật lại bầu không khí văn chương thời ông mới bước vào công việc viết văn như sau: “Trước kia, người viết văn ra làm báo, và trong khi làm báo, vẫn viết văn Báo nào cũng có đăng văn chương, nên văn chương ra đời bằng con đường của báo chí Chưa có báo chí thuần túy về văn chương, cũng chưa có nhà xuất bản in những sách văn học”, rồi:
“thời đó, người ta lẫn lộn nhà báo với nhà văn, cũng như nhà văn với nhà báo” (Dẫn theo Cao Việt Dũng (9)
Từ nhận xét rất quan trọng của Nguyễn Công Hoan về việc “lẫn lộn” nhà văn với nhà báo, ta có thê hình dung được phân nào mức độ khó của việc phân chia
Trang 39rạch ròi giữa báo chí và văn chương Trong tâm trí những người thời ấy, những người “ở bên trong”, việc phân chia này có lẽ là hoàn toàn không cần thiết, báo chí
và văn chương có một cuộc sống chung lý tưởng, không hắn là một sự tiến triển đi lên từ báo sang sách, mà hai lĩnh vực này đều có chỗ đứng riêng trong sự liên kết chặt chẽ vô cùng, tầm quan trọng của báo chí trong cái nhìn của nhà văn không hề thua kém tầm quan trọng của sách in Hơn thế nữa, các nhà xuất bản giai đoạn đầu này cũng là các thiết chế găn liền với những tờ báo: ta có thể thấy tên các nhà xuất bản như “Đông Dương tạp chí”, Tự lực Văn đoàn có tờ Ngày nay thì đồng thời cũng có các nhà xuất bản Ngày nay và Đời nay
Nhà văn của thời kỳ này đối diện với trang báo đồng thời với trang giấy viết
văn Vẫn là Nguyễn Công Hoan viết: “Báo ra đời nhiều dần là miếng đất tốt cho việc gieo hạt văn chương” (9; tr 91) Điều này cũng là dễ hiểu, vi ở giai đoạn này, hình thức phơi-ơ-tông (feuilleton) hết sức phổ biến Nguyễn Công Hoan cho biết:
“Trước kia, những truyện dài tôi đăng trên các báo hàng tuần, không phải tôi đã viết xong cả truyện, mà chính là tôi đã viết từng hồi để gửi ngay đăng vào từng kỳ” (9; tr 110) Nguyễn Công Hoan không phải là người duy nhất gia nhập “làng phơïi- ơ-tông”, mà đây là một hiện tượng hết sức phố biến thời ấy:
“Việc viết dần từng hồi là tôi bắt chước lối làm việc phổ biến của anh em viết truyện trên báo hồi bấy giờ Vũ Trọng Phụng cũng thế Ngô Tất Tố cũng thế Chỉ khi nào in thành sách mới sửa chữa lại toàn truyện” (9; tr.L1T)
Viết phơi-ơ-tông đăng báo không chỉ là công việc của các nhà văn, mà ở các nhà nghiên cứu cũng rất thịnh hành: bộ sách Dai Nam dat sử sau này của Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố là tập hợp các bài ông viết trên 7 đớn, và ta còn có thể kế rất nhiều ví dụ khác như Phan Van Him, Dao Trinh Nhat
Quả thực, việc nhà văn đối diện với trang báo cùng lúc đối diện với trang giấy trăng đã không chỉ làm cho bầu không khí văn chương Việt Nam trước 1945
có phong vị của truyền thông nói hơn hăn so với truyện thông việt, mà còn khiên
Trang 40khoảng cách giữa báo chí và sách In bị thu hẹp, khó phân định hơn bao giờ hết Đúng như nhận xét của Huỳnh Văn Tòng trong Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến
1945: “ta thấy rằng văn học Việt Nam hiện đại thoát thai từ báo chí, khác với
trường hợp ở các nước Tây phương là văn học đẻ ra báo chí” Huỳnh Văn Tòng cũng nêu một nhận xét then chốt về vai trò báo chí trong nền văn học thời ay: “Khi nghiên cứu văn học hiện đại, chúng ta hắn chú ý rằng đa số các tác phẩm văn học
đều đăng trước nhứt trên mặt báo, sau đó mới in thành sách Bởi vậy, theo thiên ý
chúng tôi, muốn nghiên cứu văn học hiện đại, ta nên xem qua lịch sử báo chí Các
nhà văn nổi tiếng lúc bấy giờ thường dùng báo chí để đăng tải lần hồi các tác phẩm
văn học do họ sáng tác”
Các tờ báo và tạp chí trở thành một giai đoạn, một bước đi không thê bỏ qua, thậm chí là bắt buộc, đối với các nhà văn trẻ Cũng có thê nói rằng rất nhiều hứng khởi, nhiệt tình của tuổi trẻ và tài năng văn chương đã được các nhà văn dành cho những tờ tạp chí Ở phương diện lý thuyết, lý thuyết gia của giai đoạn 1970-1980, Gérard Genette từng có một nhận xét lý thú: trong #?øzzes JV, 6ng phan biét “tinh
lý tưởng” của văn bản và “tính vật chất? của cuốn sách (Dẫn theo Cao Việt Dũng (9) Hình dung từ điểm nhìn này, vấn đề quan hệ giữa tờ báo hay tờ tạp chí và cuốn sách sẽ rõ ràng hơn: sự khác biệt năm ở mức độ sâu kín hơn nhiều so với vẻ bề ngoài đơn thuần; khi chuyên từ bài báo sang cuốn sách, có thể nói rằng đã có một chuyển hóa được thực hiện: chuyên hóa từ cấp độ ý tưởng sang cấp độ thực tế (khi
ấy vẫn còn lại một điều cần quan tâm là những sửa chữa, thêm bớt trong thao tác này), thậm chí có thể nói rằng “văn hóa báo chí” và “văn hóa sách”, tùy theo tương quan mức độ quan trọng mà bầu khí quyển mỗi thời đặt vào cho từng bên, quyết định tính chất đời sống văn học mỗi giai đoạn; đó chính là hai truyền thống cần được xem xét hết sức thận trọng và tỉ mi
Báo chí là một điều hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử Việt Nam, là một phân quan trọng làm nên thời kỳ hiện đại cả ở lịch sử nói chung lần lịch sử văn hóa, văn