1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng triết học trần thái tông

147 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Tác giả Nguyễn Ngọc Phượng
Người hướng dẫn PGS.TS. Trịnh Doãn Chính
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ triết học
Năm xuất bản 2008
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (6)
  • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài (7)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn (10)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu của luận văn (11)
  • 5. Phạm vi nghiên cứu của luận văn (11)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn (11)
  • 7. Kết cấu của luận văn (12)
  • CHƯƠNG 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG (0)
    • 1.1. Cơ sở xã hội dẫn đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông (0)
    • 1.2. Những tiền đề tư tưởng dẫn đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông (29)
  • CHƯƠNG 2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG (0)
    • 2.1. Bản thể luận trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông (57)
    • 2.2. Nhận thức luận trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông (74)
    • 2.3. Triết lý nhân sinh đạo đức trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông (96)
    • 2.4. Giá trị tư tưởng triết học Trần Thái Tông (124)
  • KẾT LUẬN (136)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (141)

Nội dung

Do đó, việc tìm hiểu tư tưởng triết học Trần Thái Tông không chỉ với mong muốn góp phần vào việc làm sáng tỏ khuynh hướng tư tưởng dân tộc dưới thời nhà Trần, mà thông qua việc tìm hiểu

Trang 1

-

NGUYỄN NGỌC PHƯỢNG

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC

TRẦN THÁI TÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH-NĂM 2008

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN NGỌC PHƯỢNG

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC

TRẦN THÁI TÔNG

Chuyên ngành: Triết học Mã số : 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRỊNH DOÃN CHÍNH

TP HỒ CHÍ MINH- 2008

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập, trung thực của bản thân, chưa từng được công bố trên bất kỳ một công trình nào khác Nếu có gì không đúng, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2008 Tác giả

Nguyễn Ngọc Phượng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn Thầy hướng dẫn - PGS.TS Trịnh Doãn Chính, quý Thầy Cô giảng dạy tại Khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, quý Thầy Cô công tác tại Bộ môn Mác Lênin - Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã hết lòng chỉ bảo, giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành công trình này!

Tác giả cẩn chí

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 6

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG 8

1.1 Cơ sở xã hội dẫn đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông 9

1.2 Những tiền đề tư tưởng dẫn đến sự hình thành tư tưởng triết học

Trần Thái Tông 25

CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG 53

2.1 Bản thể luận trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông 53

2.2 Nhận thức luận trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông 71

2.3 Triết lý nhân sinh đạo đức trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông 93

2.4 Giá trị tư tưởng triết học Trần Thái Tông 121

KẾT LUẬN 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh nước ta mở rộng những quan hệ giao lưu, hội nhập về nhiều mặt ngày càng tăng như hiện nay, cùng với việc xây dựng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền vững mạnh, thì nhiệm vụ bảo tồn, xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trở thành một vấn đề có ý nghĩa hết sức to lớn Nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề trên, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của nước ta”[13, tr.82] Để góp phần vào việc giải quyết nhiệm vụ chung đó, trong những năm gần đây, việc tìm hiểu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và lịch sử tư tưởng triết học nói riêng đã trở thành một mảng đề tài được sự quan tâm, làm sáng tỏ nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả với một số công trình khá đồ sộ và có giá trị khoa học sâu sắc Tuy nhiên, phần lớn những công trình ấy mới chỉ bàn nhiều đến các khía cạnh lịch sử, văn hóa, văn học… của lịch sử tư tưởng dân tộc mà chưa dành cho khía cạnh triết học một sự nghiên cứu thấu đáo ngang tầm với nó, điều này khiến cho tư tưởng triết học trong toàn cục lịch sử tư tưởng Việt Nam được thể hiện khá mờ nhạt

Có thể nói lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam trong suốt mười bốn thế kỷ đầu tiên chủ yếu là lịch sử tư tưởng Phật giáo với sự phát triển mạnh mẽ của các tông phái thiền Trong vườn thiền Việt Nam, Trần Thái Tông không chỉ thể hiện mình như một trong số những đại biểu anh tú nhất với tác phẩm Khóa hư lục được đánh giá như một tác phẩm triết học thực sự, mà Trần Thái Tông còn là một vị

Trang 7

minh quân, một nhà quân sự tài ba, một nhà văn, nhà thơ, một nhà tư tưởng lớn của dân tộc

Do đó, việc tìm hiểu tư tưởng triết học Trần Thái Tông không chỉ với mong muốn góp phần vào việc làm sáng tỏ khuynh hướng tư tưởng dân tộc dưới thời nhà Trần, mà thông qua việc tìm hiểu này còn giúp cho chúng ta trau dồi thêm sự hiểu biết của mình trong quan điểm về vũ trụ, về nhân sinh, triết lý sống cũng như phương pháp tu dưỡng đạo đức của ông Đồng thời, cũng qua đó giúp chúng

ta có cái nhìn khách quan, khoa học, đúng đắn hơn với di sản mà các bậc tiền nhân đã dày công tạo dựng trong lịch sử, để mỗi người hôm nay đều biết lựa chọn, “gạn đục khơi trong”, trân trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị tích cực trong mạch ngầm tư tưởng dân tộc, nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và

phát triển đất nước trong thời kỳ mới

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chế độ phong kiến Việt Nam đã đạt đến sự phát triển hưng thịnh rực rỡ vào hai triều đại Lý và Trần cả về kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng gắn liền với những chiến công oanh liệt, hiển hách của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Và có thể xem đặc điểm nổi bật của thời đại đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà khoa học, các học giả, các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu, khai thác giai đoạn lịch sử này ở nhiều khía cạnh khác nhau như: văn học, sử học, quân sự, chính trị, văn hóa, tư tưởng, nghệ thuật, v.v… Trên bình diện chung, nguồn tư liệu liên quan đến thời đại và nhân vật mà luận văn tìm hiểu là rất phong phú, đa dạng Đây là một thuận lợi đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cần phải biết phân loại, lựa chọn, đối chiếu giữa các nguồn tài liệu thu thập khác nhau để đảm bảo tính khoa học, xác thực của chúng nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu tốt hơn

Trang 8

Vốn là một đại biểu xuất sắc trong suốt chiều dài lịch sử tư tưởng dân tộc nói chung, lịch sử Phật giáo nói riêng, nên đã có không ít các công trình, bài viết nghiên cứu về Trần Thái Tông Một cách khái quát, có thể tạm chia ra ba mảng chính sau:

Thứ nhất là mảng những công trình nghiên cứu độc lập về tư tưởng Trần

Thái Tông có tính chuyên khảo như: Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật

giáo Trần Thái Tông của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

1996; Thiền học Trần Thái Tông của Nguyễn Đăng Thục, Nxb.Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1996; Khóa hư lục giảng giải của Thích Thanh Từ, Thiền viện Thường

Chiếu ấn hành, Thành phố Hồ Chí Minh, 1996

Về công trình nghiên cứu Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo

Trần Thái Tông của tác giả Nguyễn Hùng Hậu, đã trình bày một cách chặt chẽ,

có hệ thống từ góc độ triết học, về các mặt bản thể luận, nhận thức luận, tư tưởng đạo đức trong triết học Phật giáo Trần Thái Tông Điểm mạnh của công trình này là đã mạnh dạn đưa ra cái nhìn mới, cách tiếp cận mới về Trần Thái Tông, không xem ông như một nhà thiền học đơn thuần, mà là một nhà tư tưởng lớn ngang tầm triết gia thực thụ của Việt Nam Tác giả còn đưa ra nhiều ý tứ mới mẻ và nhận định sâu sắc về những cống hiến của ông trong lịch sử Thiền học Việt Nam và thế giới Tuy nhiên trong tác phẩm lại chưa dành cho triết lý nhân sinh của Trần Thái Tông một sự nghiên cứu thấu đáo ngang tầm với nó Điều này ít nhiều làm giới hạn đi tính toàn diện trong khi tìm hiểu về Trần Thái Tông, bởi lẽ triết lý nhân sinh là yếu tố chi phối sâu sắc mọi hành động trong cả cuộc đời của ông

Về công trình Thiền học Trần Thái Tông của tác giả Nguyễn Đăng Thục

gồm một số bài viết dưới dạng tiểu luận chuyên đề đáng để tham chiếu, trao đổi

như: yếu tố thi ca với thiền trong Khóa hư lục, tâm lý học, đạo đức học Trần Thái

Tông – so sánh trên bình diện tổng thể của tinh thần phương Đông với một vài ý

Trang 9

kiến của các học giả phương Tây; về triết lý Trung Quán và quan điểm tôn giáo của Trần Thái Tông Công trình này được viết khá công phu, phản ánh năng lực của người viết có kiến thức rộng trên nhiều lĩnh vực thuộc phạm vi khoa học xã hội nhân văn nói chung Tuy nhiên, do cách tiếp cận vấn đề ở phạm vi khá rộng và dường như tác phẩm ra đời dựa trên sự tổng hợp từ các bài viết chuyên đề trước đó nên đôi chỗ còn rời rạc, chưa thật sự làm nổi bật tư tưởng triết học Trần Thái Tông trong cái nhìn toàn cục

Về công trình Khóa hư lục giảng giải của tác giả Thích Thanh Từ do Thiền

viện Thường Chiếu ấn hành Đây là một công trình được thực hiện tỉ mỉ trong thời gian dài thể hiện tâm huyết của người viết, muốn rộng đem cái hiểu biết tường tận của mình, diễn giải lại cho thiền sinh và tăng chúng hiểu được một cách bài bản qua cách sắp xếp lại thứ tự các tác phẩm đi từ dễ đến khó tư tưởng thiền học Trần Thái Tông Cái làm được của công trình này là ở chỗ tác giả của nó là một thiền sư có tiếng tăm trong giới Phật học, dành cả cuộc đời tu tập, hành thiền nên sự hiểu biết về đạo pháp tỏ ra bản lĩnh, dạn dày, có cơ sở vững vàng Tuy nhiên, do tác phẩm ra đời dựa trên bổn nguyện dạy cho thiền sinh và tăng chúng bước đầu tu thiền là chủ yếu nên đôi chỗ văn phong dùng theo lối thuyết giảng, diễn xuôi từng ý, từng từ theo cụm bài; do đó ít nhiều làm hạn chế đi tính hệ thống từ cách tiếp cận về mặt triết học trong công trình

Thứ hai là mảng những công trình lớn về lịch sử tư tưởng hay lịch sử Phật

giáo Việt Nam đã dành một số trang viết nhất định về tư tưởng Trần Thái Tông

Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu như: Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000 của Nguyễn Lang; Tư tưởng triết học của Thiền phái

Trúc Lâm đời Trần, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 của Trương Văn

Chung; Triết học Phật giáo Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin và Viện văn hóa,

Trang 10

Hà Nội, 2006 của tác giả Nguyễn Duy Hinh; Lịch sử tư tưởng Việt Nam – tập 4,

Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998 của Nguyễn Đăng Thục…

Thứ ba là mảng những bài viết ngắn tiếp cận tư tưởng Trần Thái Tông ở

những khía cạnh khác nhau được đăng rải rác trên các tạp chí chuyên ngành như:

tạp chí Triết học, tạp chí Nghiên cứu Phật học, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo cũng

đã góp phần làm phong phú thêm trong việc nghiên cứu về Trần Thái Tông dù rằng không chuyên sâu như hai mảng công trình kể trên

Nhìn chung, các công trình đã đạt được một số kết quả nhất định, mang lại một hình ảnh tương đối rõ nét về Trần Thái Tông Tuy nhiên, việc nghiên cứu, tìm hiểu không chỉ dừng lại ở đó là đủ Trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã đạt được của những người đi trước, trong khuôn khổ của một luận văn cao học và khả năng còn nhiều hạn chế, người viết xin được tiếp tục tìm hiểu, góp phần vào việc làm sáng tỏ và khẳng định những giá trị nổi bật về mặt triết học mà Trần Thái Tông đóng góp vào sự tiến triển nội tại của dòng chảy tư tưởng triết học Việt Nam trong lịch sư.û

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn: là phân tích làm sáng tỏ những tiền đề dẫn đến sự

hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông, trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông được thể hiện qua những tác phẩm còn lại đến ngày nay của ông, cũng như chỉ ra những nét độc đáo và những ảnh hưởng trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông đối với sự ra đời và phát triển của thiền phái Trúc Lâm sau này Qua đó, góp phần khẳng định chiều sâu tâm thức triết học Phật giáo ẩn chứa mạch nguồn tâm tưởng dân tộc trong lịch sử dựng nước và giữ nước ở thời Trần

Trang 11

Nhiệm vụ của luận văn: để đạt được mục đích nói trên, luận văn phải thực

hiện những nhiệm vụ sau:

- Trình bày khái quát những tiền đề dẫn đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông

- Trình bày một số nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông bao gồm: bản thể luận, nhận thức luận và triết lý nhân sinh – đạo đức

- Tìm hiểu những giá trị cốt yếu của tư tưởng triết học Trần Thái Tông đóng góp vào sự phát triển triết học Phật giáo Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, người viết dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được tốt hơn, người viết còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp sử học, phương pháp lịch sử – logic

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong khuôn khổ của một luận văn cao học, người viết xin đi sâu, làm rõ khía cạnh triết học trong tư tưởng Trần Thái Tông được thể hiện chủ yếu qua tác phẩm Khóa hư lục và một số trước tác còn lưu lại đến ngày nay của ông Tuy nhiên, để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được tốt hơn, người viết sẽ tìm hiểu thêm về bối cảnh lịch sử – xã hội thời đại ông sống, các cứ liệu lịch sử về niên đại, sự kiện, thơ văn do Trần Thái Tông viết, những nhận xét, đánh giá của người đương thời cũng như hậu thế về Trần Thái Tông nhưng không đi sâu phân tích

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Trang 12

- Góp phần làm sáng tỏ tư tưởng triết học của Trần Thái Tông - một trong những đại biểu anh tú nhất trong vườn thiền Việt Nam dưới thời nhà Trần, từ đó phần nào phản chiếu nét độc đáo trong thiền học Việt Nam so với thiền ở Trung Quốc, Ấn Độ

- Soi rọi những giá trị trong tư tưởng triết học của Trần Thái Tông thuộc về bản sắc Thiền học dân tộc cần giữ gìn và phát huy trong bối cảnh mới, qua đó khơi dậy niềm tự hào đối với di sản tư tưởng triết học mà tiền nhân để lại, trau dồi thêm vốn tri thức, lòng yêu nước và ý thức hướng về nguồn cội nơi lớp trẻ hiện nay

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc

nghiên cứu, học tập môn “Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam” trong các trường

đại học và cao đẳng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có hai chương và sáu tiết

Chương 1: Những tiền đề hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông

Chương 2: Những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Trần Thái Tông

Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG

Trang 13

Trần Thái Tông họ Trần, tên húy là Cảnh, là con thứ của Trần Thừa, sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, Kiến Gia thứ 8 triều Lý (1218) Tổ tiên của vua là người đất Mãn (có người nói là ở Quế Lâm) đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường và là một gia tộc có thế lực trong vùng, dựa trên cơ sở kinh tế vững chắc là nghề đánh cá Năm lên 8 tuổi, Trần Cảnh được người chú họ là Trần Thủ Độ đưa vào cung làm chức Chi hậu chính chi ứng cục triều Lý, hầu cận vị vua trẻ tuổi Lý Chiêu Hoàng Theo sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng kết hôn với Trần Cảnh và vào ngày 12 tháng 12 năm Mậu Dần (1225), ông được nhận thiền vị của Chiêu Hoàng, lên ngôi hoàng đế, mở đầu triều đại nhà Trần, lấy niên hiệu là Kiến Trung Trần Thái Tông ở ngôi 33 năm, thọ 60 tuổi, mất năm

1277 Tài năng, đức độ của Trần Thái Tông được Sử thần Ngô Sĩ Liên ghi lại

trong Đại Việt Sử ký toàn thư với những lời lẽ trang trọng sau: “Vua khoan nhân

đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy.” [35, tr.7]

Sinh thời Trần Thái Tông viết nhiều, tuy nhiên trước những thăng trầm của

lịch sử, nhiều tác phẩm đã mất hoặc thất lạc, chỉ còn lại hai bài thơ trong Thái

Tông thi tập; ba bài văn, một đề tựa cuốn Kinh Kim Cương tam muội chú giải,

một đề tựa cuốn Thiền Tông chỉ nam ca và còn lại là bài tựa Bình đẳng lễ sám

văn; ngoài ra còn có hai tác phẩm được giữ lại hầu như trọn vẹn là sách Khóa hư lục và Lục thì sám hối khóa nghi Các trước tác còn lại đến ngày nay của Trần

Thái Tông được ghép chung vào sách lấy tên là Khóa hư lục

Về thời đại, Trần Thái Tông sinh ra trong bối cảnh triều Lý rơi vào sự suy tàn không sao cứu vãn nổi, triều đình bạc nhược, trong nội bộ đất nước diễn ra sự tranh giành quyền lực giữa các dòng tộc Họ Trần nhân dịp này đã chớp thời cơ, dùng mưu lược chuyển ngai vàng từ nhà Lý sang nhà Trần một cách hòa bình êm thấm Và Trần Thái Tông (1218-1277) đã trở thành vị vua có công khai mở cho

Trang 14

sự trị vì của nhà Trần suốt khoảng thời gian sau đó (1225-1400) Ông không chỉ là

người có công chuyển từ sự rối ren, suy vi của cuối nhà Lý sang sự hợp nhất,

hưng thịnh của đầu triều Trần mà còn là người đứng ra đảm nhiệm việc tạo dựng

cái nền tư tưởng cho sự hợp nhất ba dòng thiền ở thời Lý thu về một mối và phát

triển nó lên thành hệ tư tưởng chính thống thể hiện cái tinh túy, cái hồn của dân

tộc Việt Nam

Trong một bài xã luận đăng trên báo Kolnische Zeitung số 179, C Mác có

viết: “Mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại

mình” [36, tr.157] Sự ra đời của một học thuyết triết học không phải ngẫu nhiên

mà nó vừa chính là sự phản ánh điều kiện lịch sử xã hội, vừa là sự kế thừa những

tư tưởng lý luận trước đó Triết học Trần Thái Tông cũng không nằm ngoài sự

quy định ấy Do đó, để tìm hiểu triết học Trần Thái Tông không thể bỏ qua việc

tìm hiểu khái quát về những tiền đề dẫn đến sự ra đời tư tưởng triết học của ông

1.1 Cơ sở xã hội dẫn đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông

Tư tưởng triết học Trần Thái Tông là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng

của xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII Do vậy, để có được

cái nhìn tổng quan về thời đại, không thể bỏ qua việc xem xét từ góc độ cơ sở hạ

tầng và sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố trong kiến trúc thượng tầng, tập

trung vào ba phương diện chính: chính trị, kinh tế, xã hội

Về chính trị, sau thời kỳ hưng thịnh thì từ khoảng giữa thế kỷ XII trở đi,

triều đình nhà Lý bước vào giai đoạn suy tàn Đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng

chính trị - kinh tế - xã hội trầm trọng Nạn thiên tai, mất mùa, đói kém, dịch bệnh

hoành hành nhiều nơi trong nước làm cho nền kinh tế ngày một thêm sa sút Đại

Việt sử ký toàn thư còn ghi lại những sự kiện tiêu biểu như nước to vào năm

1181, 1199, 1208 khiến dân bị đói chết gần một nửa, giặc cướp nổi lên càng làm

Trang 15

đời sống nhân dân thêm cùng khổ, bên cạnh đó là tình trạng thuế khóa quá nặêng nề khiến cho nhiều nơi, người dân phải bỏ quê, sống tha phương cầu thực Tình trạng này kéo dài càng khiến tăng thêm nỗi bất bình trong dân chúng dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân đã nổ ra, tiêu biểu như của Thân Lợi (1140), cuộc nổi dậy ở Đại Hoàng (Ninh Bình) do Nùng Khả Lai chỉ huy, Lê Văn (1180-1182), của Phí Lang (1202-1215)… Bên cạnh đó, do bộ máy chính quyền nhà Lý từ trung ương đến địa phương tỏ ra quan liêu, lỏng lẻo trong việc quản lý xã hội dẫn đến tình trạng ở nhiều địa phương, các lãnh chúa phong kiến đã tập hợp lực lượng, nổi dậy chống phá triều đình, gây nên tình trạng cát cứ, phân quyền trong nội bộ quốc gia Trong số các tập đoàn quân sự cát cứ thời bấy giờ, phải kể đến ba tập đoàn quân sự lớn chiếm cứ ở ba vùng là: Nguyễn Nộn chiếm cứ Bắc Giang, Đoàn Thượng chiếm cứ Hồng Châu (Hải Dương) và mạnh nhất là tập đoàn cát cứ của anh em họ Trần ở vùng Hải Ấp (Thái Bình)

Trước tình hình đó, triều đình nhà Lý trong buổi suy tàn không còn cách nào khác đành phải bất lực chịu cảnh khi thì dựa vào thế lực cát cứ này, khi thì dựa vào thế lực cát cứ khác, nhìn quyền lực ngày một xa tầm tay mình mà không sao cứu vãn nổi

Kinh thành Thăng Long rơi vào cảnh loạn lạc, nhiều lần bị đánh phá khiến vua tôi nhà Lý phải sơ tán đi nơi khác Và cơ hội lập thế, tạo lực của anh em họ Trần trên bước đường chuyển ngai vàng từ nhà Lý sang nhà Trần đã đến trong một lần vua Cao Tông phải chạy loạn lên vùng Quy Hóa Giang (Yên Bái ngày nay), còn thái tử Sảm - tên lúc nhỏ của Vua Lý Huệ Tông - phải chạy về lánh nạn ở thôn Lưu Gia, thuộc Hải Ấp (Thái Bình ngày nay) Nhân buổi loạn lạc, Ông Tổ của họ Trần là Trần Lý, một hào trưởng giàu có và có thế lực trong vùng, đã tập hợp lực lượng chiếm cứ vùng Hải Ấp Trong cuộc lánh nạn này, thái tử Sảm đã gặp và đem lòng yêu thương người con gái thứ của Trần Lý tên là Trần

Trang 16

Thị, cưới nàng làm vợ Chính anh em họ Trần đã có công đem quân yểm trợ, đưa thái tử Sảm về kinh và dẹp loạn, lập lại trật tự

Sau khi Vua Cao Tông mất năm 1210, thái tử Sảm lên ngôi thay Vua cha, lấy hiệu là Lý Huệ Tông Huệ Tông lên ngôi liền cho người đi đón Trần Thị về kinh, lập làm nguyên phi Do có công giúp nhà Lý dẹp loạn, gia tộc họ Trần đã không bỏ lỡ cơ hội tận dụng mối quan hệ hôn nhân này, lần lượt đưa con cháu vào cung giữ những chức vụ quan trọng trong triều chính để thao túng quyền lực Mặc dù trên danh nghĩa, Lý Huệ Tông là người đứng đầu một nước nhưng do bản tính nhu nhược, yếu đuối nên kỳ thực hầu như mọi quyền hành của triều đình đều thâu tóm trong tay anh em họ Trần cả Dựa vào thế lực quân sự mạnh, anh em họ Trần đã từng bước dẹp được tất cả các lực lượng cát cứ khác, quy về một mối, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng, phân tán trong cả nước, mở ra một trang sử mới cho nền thái bình, thịnh trị của dân tộc

Như một điềm báo trước cho nền thống trị của nhà Lý đã đến hồi mạt, vua Lý Huệ Tông do thể chất yếu, bản tính nhu nhược, lại phải chịu những áp lực căng thẳng trong một thời gian dài, cộng với nỗi buồn phiền vì không có con trai nối nghiệp đã khiến cho ông mắc phải chứng bệnh tâm thần Vào năm Ất Dậu

1225, Huệ Tông phải nhường ngôi vua cho con gái là Chiêu Thánh vừa mới bảy tuổi, rồi lên làm Thái Thượng Hoàng và sau đó xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo lấy hiệu là Huệ Quang đại sư Công chúa Chiêu Thánh lên ngôi lấy hiệu là Lý Chiêu Hoàng Tuy với cương vị là vua của một nước, thế nhưng do còn quá nhỏ nên mọi quyền hành trong thực tế đều do anh em họ Trần thao túng, nhất là Trần Thủ Độ Vào tháng 12 năm 1225, Trần Thủ Độ dàn xếp cho Chiêu Hoàng kết hôn với Trần Cảnh và xuống chiếu nhường ngôi báu cho chồng Vậy là bằng mưu kế, Thủ Độ đã chuyển chính quyền từ nhà Lý sang nhà Trần một cách êm thấm Nhờ công lao này mà lập tức sau đó, Trần Thủ Độ được phong làm Thái sư trông

Trang 17

coi các mặt triều chính Còn vua do còn nhỏ tuổi nên kỳ thực mọi quyền hành đều do Thủ Độ thao túng, chỉ đến tuổi trưởng thành vua mới thực sự nắm mọi quyền hành trong tay

Sau hơn mười năm ăn ở với Trần Thái Tông mà vẫn chưa có con, năm 1237 Trần Thủ Độ vì nóng lòng muốn có người nối nghiệp báu đã buộc Thái Tông phải từ bỏ người vợ yêu quý, giáng Chiêu Thánh xuống làm công chúa, và lập công chúa Thuận Thiên lên làm hoàng hậu, tức chị ruột của Chiêu Thánh và là vợ của Trần Liễu đang có mang 3 tháng, định mạo nhận đứa con để làm chỗ dựa về sau Vì chuyện này đã khiến Trần Liễu họp quân ở sông Cái làm loạn Còn Thái Tông bị dằn vặt, áy náy vì mang tiếng “lấy tranh vợ của anh ruột” khiến ông hết sức đau khổ, ban đêm ra khỏi kinh thành, đến chỗ Quốc sư Phù Vân trên núi Yên Tử, định bỏ ngôi vua đi tu Sáng sớm hôm sau, sự việc bị phát giác, Trần Thủ Độ dẫn các quan đến nài nỉ, buộc vua phải về cung trị vì thiên hạ Lời trần tình của Thủ Độ và Quốc sư Phù Vân khiếân Thái Tông bất đắc dĩ phải theo về, miễn cưỡng lên ngôi mà ông xem đó như một trách nhiệm nặng nề không thể không gánh

Trong những năm đầu trị vì, nhà Trần một mặt muốn ổn định xã hội để phát triển đất nước, mặt khác do nhu cầu cần phải xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền vững mạnh, đủ sức bảo vệ nền độc lập, tự chủ của dân tộc nên đã ban hành nhiều biện pháp tích cực nhằm khôi phục, củng cố nhiều mặt trong xã hội Tiêu biểu như: sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong cả nước từ trung ương đến các địa phương theo từng cấp phủ lộ, huyện châu, hương xã vào năm 1242, đặt các quan chức trách trông coi; tổ chức thi lại viên và khảo sát số đinh trong dân chúng năm 1228; định lại Quốc triều thông chế và sửa đổi hình luật lễ nghi, cách thức về luật hình năm 1230 và 1244; quy định cấp bậc lương bổng cho bộ máy quan lại giúp việc nhà nước năm 1236; định quy chế xe kiệu,

Trang 18

mũ áo cho tôn thất, quan lại các phẩm năm 1254; chú trọng việc xây dựng lực lượng quân sự tinh chuyên vào loại bậc nhất thế giới bấy giờ thông qua việc mở giảng võ đường, tuyển chọn trai tráng khỏe mạnh, sung vào hàng ngũ các loại quân, sắm sửa vũ khí, giảng dạy binh pháp, tinh thần thượng võ cho quân sĩ các năm 1246, 1253; thực hiện quan hệ bang giao với nhà Tống, nhà Nguyên ở Trung Quốc và Chiêm Thành… [35, tr.11-26]

Suy đến cùng, những biện pháp mà nhà Trần tiến hành như trên đều xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đất nước đặt ra phải xây dựng được một Nhà nước quân chủ quý tộc có sự thốâng nhất cao, vua tôi đồng tâm hiệp lực để bảo vệ nền độc lập dân tộc Nhìn xa hơn, đó cũng là để củng cố, duy trì, bảo vệ quyền lực, lợi ích của gia tộc họ Trần ngày một vững chắc Nhiệm vụ trung tâm này đã chi phối mọi mặt khác của đời sống xã hội Và vua Trần với tư cách là người lãnh đạo tối cao của đất nước, đồng thời cũng là người đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị trong xã hội Điều này thể hiện rõ qua câu nói của Trần Thánh Tông năm 1268 sau:

Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui Các khanh nên truyền lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc [35, tr.39]

Nhìn chung, ở buổi đầu của triều đại nhà Trần, mặc dù còn tồn tại ít nhiều biến động, nhưng về cơ bản, nhà Trần đã từng bước ổn định chính trị, củng cố các quan hệ về mặt pháp luật, hành chính, thiết chế bộ máy nhà nước, quân sự, ngoại giao đi vào nề nếp, quy củ, chặt chẽ hơn so với thời Lý trước đó Bước đầu nhà Trần đã tạo dựng được niềm tin trong dân chúng chỉ với sau hai mươi năm trị vì

Trang 19

(1226-1246), được ghi lại trong Đại Việt sử ký là “Bấy giờ quốc gia vô sự, nhân

dân yên vui” [35, tr.22] Đây là một giai đoạn tương đối ngắn so với hàng mấy thập kỷ đất nước rơi vào cảnh phân tán, cát cứ, đánh nhau liên miên giữa các tập đoàn quân sự cuối thời Lý Như vậy, bằng những chính sách vừa cứng rắn vừa mềm dẻo cả trong lĩnh vực đối nội lẫn đối ngoại, nhà Trần đã tạo lập được cho mình một chỗ dựa vững chắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trước những biến động lớn lao của thời cuộc sau này

Về kinh tế, vào cuối thời Lý, do tình trạng nội chiến liên miên giữa các tập

đoàn quân sự lớn và sự nhu nhược, yếu kém, bê trễ trong công tác quản lý của triều Lý dẫn đến đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng chính trị - kinh tế - xã hội nghiêm trọng Nạn sưu cao, thuế nặng của nhà nước cộng với thiên tai, mất mùa, đói kém liên tiếp diễn ra càng mau chóng gây nên tình trạng nông dân bị bần cùng hóa ngày càng phổ biến Nhiều nơi dân nghèo phải bỏ ruộng đất hoang, đi xiêu tán, sống tha phương cầu thực

Về mặt sở hữu thì cuối thời Lý vẫn duy trì chế độ công hữu về ruộng đất là chủ yếu Nhà nước nắm quyền sở hữu ruộng đất nhưng được thực hiện thông qua việc chia ruộng công về các dân đinh trong công xã lãnh hữu để làm và cuối vụ nộp tô thuế cho nhà nước Loại hình sở hữu ruộng đất này có điểm lợi ở chỗ làm cho kết cấu kinh tế - xã hội khá ổn định, ít biến động do việc thay đổi chủ sở hữu Tuy nhiên nó cũng bộc lộ hạn chế ở chỗ không kích thích được sự phát triển của lực lượng sản xuất, không hình thành nên những những tầng lớp đại địa chủ nắm giữ số lượng lớn ruộng đất trong các thái ấp, điền trang Từ chỗ nhà nước bảo hộ độc tôn kiểu quan hệ sản xuất này đã ít nhiều cản trở việc đưa lực lượng sản xuất phát triển đến đỉnh cao của nó

Khi chính quyền chuyển từ nhà Lý sang nhà Trần, trong những năm đầu trị

vị, nhà Trần đã ban bố nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm khắc phục

Trang 20

cuộc khủng hoảng cuối thời Lý, tạo đà cho lực lượng sản xuất phát triển, bắt đầu bằng việc hết sức coi trọng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

Việc làm đầu tiên của nhà Trần sau khi lên trị vì là lập tức ban chiếu cho cận thần đi điều tra, khảo sát về số dân đinh và số hộ khẩu trong từng đơn vị hành chính của cả nước vào năm 1228 sau bao năm loạn lạc, phiêu tán Sử cũ còn ghi lại sự kiện phủ Thanh Hóa được chọn làm trước: “Lệ cũ, hằng năm vào đầu mùa xuân, xã quan khai báo nhân khẩu gọi là đơn sổ, rồi căn cứ vào sổ, kê rõ các loại tông thất, văn quan văn giai, võ quan võ giai, quan theo hầu, quân nhân, tạp lưu, hoàng nam, già yếu, tàn tật, phụ tịch, xiêu tán v.v…” [35, tr.11] Trên cơ sở xác định rõ số dân đinh trong cả nước, mới tiến hành chia ruộng và định mức thuế nộp lại cho nhà nước Hình thức thu tô thuế của nhà nước được thực hiện bằng cả hình thức hiện vật (thóc) và tiền, với những quy định cụ thể như: “Nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc, người không có ruộng đất thì miễn cả Có 1, 2 mẫu ruộng thì nộp 1 quan tiền, có 3, 4 mẫu thì nộp hai quan tiền, có từ 5 mẫu trở lên thì nộp 3 quan tiền Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc.” [35, tr.20]

Bên cạnh việc điều tra số đinh mang ý nghĩa để nắm được số lao động trong lực lượng sản xuất, đầu triều Trần, một biện pháp tích cực khác được nhà nước đứng ra đảm nhiệm thực hiện, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhân dân đó là công tác trị thủy và thủy lợi Do đặc điểm địa lý có nhiều hệ thống sông ngòi lớn, chằng chịt khắp các dải đồng bằng, đây là một thuận lợi đồng thời cũng đặt ra thách thức lớn cho sản xuất nông nghiệp lúa nước từ ngàn xưa, đó chính là công tác trị thủy Những năm đầu trị vì, nhà Trần đã có được bài học về vấn đề này qua các sự kiện như: nước to các năm 1238, 1241; năm 1245 “Mùa thu, tháng 8, nước to, vỡ đê Thanh Đàm Mùa đông, tháng 12, gió to, mưa lớn 3 ngày, nước sông tràn ngập, rắn, cá chết nhiều” [35, tr.21] ; năm 1265 “Mùa thu, tháng 7,

Trang 21

nước to, vỡ ở phường Cơ Xá Người và súc vật bị chết đuối nhiều” [35, tr.37] v.v… Để phòng chống tác hại của thiên tai, lũ lụt gây ra gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân, nhà Trần xác định để làm tốt công tác đó, không thể cứ quy trách nhiệm cho một địa phương nào cả mà phải do nhà nước đứng ra đảm nhiệm, trực tiếp tổ chức, huy động, tập hợp nhân dân theo quy mô lớn Năm

1248 “Tháng 3, lệnh cho các lộ đắp đê phòng lụt, gọi là đê quai vạt, từ đầu nguồn đến bờ biển, để ngăn nước lũ tràn ngập Đặt chức Hà đê chánh phó sứ để quản đốc Chỗ đắp thì đo xem mất bao nhiêu ruộng đất của dân, theo giá trả lại tiền Đắp đê quai vạt là bắt đầu từ đó.” [35, tr.23] Việc hình thành những đê lớn, vững chãi dọc theo các con sông lớn đã phản ánh tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của nhà nước trong tổ chức đời sống kinh tế xã hội, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Bên cạnh đó, công tác thủy lợi cũng được nhà nước quan tâm sâu sát như tổ chức đắp đê ngăn nước mặn ở vùng ven biển để lập điền trang, tiến hành đào hoặc nạo vét kênh dẫn thủy phục vụ tưới tiêu trong nông nghiệp đã góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực của đời sống xã hội đầu thời Trần

Nước Đại Việt thời Trần, mặêc dù có những điểm đặc thù của nó, song vẫn là một quốc gia mang những nét chung của châu Á Đó chính là một xã hội tiểu nông truyền thống nằm trong khung cảnh chung của phương thức sản xuất châu Á với đặc trưng của nó là nhà nước quân chủ chuyên chế phương Đông, chế độ nô lệ không điển hình và kết cấu làng xã theo lối cổ truyền

Do những biến động chính trị cuối thời Lý dẫn đến đầu thời Trần, nhiều vùng đất vẫn còn bị bỏ hoang, thiếu đất canh tác, nhiều người không có ruộng đất phải đi cày thuê cho nhà giàu Để giải quyết tình trạng này, triều Trần đã xuống chiếu năm 1266 cho phép “vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập

Trang 22

thành điền trang.Vương hầu có trang thực bắt đầu từ đấy.” [35, tr.38] Nhờ đó diện tích đất đai canh tác được mở rộng đáng kể Từ việc thừa nhận quý tộc, tôn thất được quyền sở hữu điền trang, càng kích thích tầng lớp này ra sức chiêu tập dân nghèo xiêu tán đến khai khẩn các vùng đất mặn, nhiễm phèn, bãi bồi ven biển, đắp đê ngăn mặn rồi canh tác sản xuất, cho phép nô tỳ lấy nhau lập ấp, lập làng mới tại đó Kết quả của những biện pháp này đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ thể hiện ở số ruộng đất điền trang mọc lên ngày càng nhiều, và theo đó là lực lượng nô tỳ đáng kể lao động trong đó, hoặc họ được giải phóng làm nông nô

Thêm vào đó, bước sang thời nhà Trần vào đầu thế kỷ XIII, về mặt danh nghĩa thì vua là chủ sở hữu tối cao đối với toàn bộ ruộng đất và thần dân trong cả nước Thế nhưng để phát triển sản xuất, triều Trần đã ban hành những chính sách nhằm khẳng định quyền tư hữu ruộng đất, cho phép phát triển chế độ tư hữu

ruộng đất Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại vào năm 1254 “Tháng 6, bán ruộng

công, mỗi diện là 5 quan tiền (bấy giờ gọi mẫu là diện), cho phép nhân dân mua làm ruộng tư” [35, tr.27] Để hoàn chỉnh việc thừa nhận chế độ tư hữu ruộng đất, triều Trần còn mạnh dạn quy định chặt chẽ việc mua bán ruộng đất theo pháp luật sau: “Khi làm giấy tờ về chúc thư, văn khế ruộng đất và vay mượn tiền bạc thì người làm chứng in tay ở 3 dòng trước, người bán in tay ở 4 dòng sau” [35, tr.16] Từ những chính sách kinh tế hợp lòng dân này đã góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực, khởi sắc trong nền kinh tế đầu thời Trần, làm cho người nông dân (do được mua ruộng đất giá rẻ) và tầng lớp địa chủ thêm gắn bó với ruộng đất do được thừa nhận quyền tư hữu

Xét trên bình diện quan hệ sản xuất, có thể khái quát lại các hình thức sở hữu ruộng đất thời Trần thành hai loại cơ bản, đó là sở hữu ruộng đất công (nhà nước) và sở hữu ruộng đất tư nhân

Trang 23

Loại hình sở hữu ruộng đất công bao gồm:

- Ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý (như ruộng sơn lăng, ruộng tịch điền và ruộng quốc khố), nhà vua là chủ sở hữu thực sự và thu hoạch phần lớn hoa lợi được cày cấy trên loại ruộng ấy

- Ruộng đất công làng xã, về hình thức vẫn là “đất của vua”, Vua là chủ sở hữu tối cao đối với loại ruộng đất này nhưng giao lại cho làng xã quản lý, căn cứ theo số nhân khẩu trong làng mà chia ruộng để cày cấy và cuối vụ nộp tô cho nhà nước Theo đó dân đinh trong làng xã chỉ có quyền lãnh hữu – lãnh ruộng đất để làm – mà không có quyền sở hữu thật sự đối với ruộng mà họ cày cấy Lực lượng lao động chủ yếu trong loại ruộng này là do nông dân làng xã đảm nhiệm

- Ruộng đất thái ấp dùng để phân phong cho các vương hầu Khác với thời Lý, sang thời nhà Trần, để củng cố địa vị chính trị của mình, nhà Trần đã tiến hành ban cấp thái ấp cho một bộ phận quý tộc họ Trần để tăng cường mối liên hệ gắn bó trong chính sự Diện tích một thái ấp có thể tương đương một xã hoặc vài xã, trong đó có nhà cửa, phủ đường, ruộng vườn, đình chùa… Người được phong thái ấp được hưởng hoa lợi trên đó nhưng không phải là vĩnh viễn và không được quyền thừa kế, nghĩa là sau khi người được phong thái ấp qua đời, phần đất đó sẽ trở về sự quản lý của nhà nước

Loại hình sở hữu ruộng đất tư nhân bao gồm:

- Ruộng đất thuộc điền trang của các vương hầu quý tộc Đây là hình thức tổ chức sản xuất kinh tế đặc trưng dưới thời Trần, ngày càng phát triển nhờ vào việc được nhà nước thừa nhận quyền tư hữu ruộng đất Các vùng đất khai hoang, phục vụ cho sản xuất không ngừng mở rộng đã quy tụ một lực lượng lớn nô tỳ, dân phiêu tán, nông nô đứng ra đảm nhiệm vai trò sản xuất, tạo ra tiềm lực kinh tế lớn mạnh cho tầng lớp địa chủ quý tộc, tôn thất nhà Trần Quan hệ sản xuất

Trang 24

trong các điền trang là quan hệ giữa địa chủ và nông nô là cơ bản Lực lượng lao động chính trong các điền trang, thái ấp này được gọi chung là nô, họ có thể là nô tỳ hoặc nông dân lệ thuộc, dân phiêu tán bán mình làm nô, sau khi khai khẩn đất hoang thì lấy nhau rồi định cư ở đấy, cày cấy cho chủ Do tính chất phức tạp của phương thức sản xuất châu Á, vừa mang diện mạo của quan hệ sản xuất thống trị kiểu phong kiến, kết cấu xã hội theo lối địa chủ - nông nô, vừa mang dáng dấp của quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ không điển hình, theo kiểu gia trưởng giữa chủ nô - nô lệ, lại được đặt trong bối cảnh của chế độ công xã nông thôn theo lối cổ truyền, mà mỗi công xã - được gọi là một “giáp” với đơn vị sản xuất là các hộ gia đình cư trú trong đó Như vậy, trong một chừng mực nào đó, có thể xem các điền trang thời Trần như những hình thức tổ chức kinh tế mang tính chất hỗn hợp, đan xen nhau, đóng vai trò quyết định đến loại hình sở hữu ruộng đất quý tộc phong kiến bấy giờ

- Ruộng đất thuộc sở hữu của địa chủ thứ dân và tiểu nông Cũng từ những chuyển biến nội tại của nền kinh tế thời Trần với đòi hỏi bức thiết của việc phát triển chế độ tư hữu ruộng đất trong điều kiện tiền tệ đã tác động vào ruộng đất, làm cho nó trở thành hàng hóa có thể mua bán, trao đổi Năm 1254, nhà Trần bán ruộng công giá rẻ cho nhân dân mua làm ruộng tư dẫn đến một số hộ gia đình nông dân kiêm nghề thợ thủ công có thể mua được Từ chủ trương này của nhà Trần đã dẫn đến sự hình thành một tầng lớp xã hội mới khá đặc biệt, đó là địa chủ thứ dân Tuy nhiên họ không có chút địa vị chính trị nào cả và tính chất sở hữu này cũng thường dao động, do việc thay đổi chủ sở hữu chứ không mang tính ổn định, tập trung như ở hình thức điền trang

- Ruộng đất thuộc sở hữu nhà chùa Đầu thời Trần, Phật giáo tiếp tục phát triển, giữ địa vị độc tôn trong đời sống tinh thần của xã hội, số lượng tăng sư ngày một đông đảo, do đó để đảm bảo nền tảng kinh tế ổn định cho các chùa, nhà

Trang 25

Trần tiến hành ban cấp rất hậu nhiều ruộng đất và nô tỳ lo việc sản xuất trong các chùa chiền Nhà chùa trở thành một nơi nắm quyền sở hữu một diện tích ruộng đất đáng kể trong cả nước mà nhà nước không can thiệp vào

Sự khởi sắc của nền kinh tế đầu thời Trần không chỉ thể hiện trong lĩnh vực nông nghiệp mà ngay cả trong các lĩnh vực khác như thương nghiệp, thủ công nghiệp cũng cĩ nhiều chuyển biến đáng kể Nhờ sự phát triển mở rộng của hệ thống giao thơng đường thủy và đường bộ đã tạo điều kiện thúc đẩy quá trình lưu thông, trao đổi hàng hoá giữa các vùng, miền trong cả nước Thành Thăng Long không chỉ là trung tâm chính trị của cả nước mà còn là một trung tâm thương mại sầm uất với 61 phường, tập trung hầu hết các mặt hàng từ khắp mọi vùng, miền của cả nước đổ về Hoạt động thương nghiệp cũng được mở rộng, tạo điều kiện cho thông thương hàng hóa với những nước khác trong khu vực như: Trung Quốc, Giava, Miến Điện, Ấn Độ, Xiêm La… qua một số trung tâm lớn như: Thành Thăng Long, cảng Vân Đồn… tạo điều kiện giao lưu, tiếp biến văn hoá với nhiều nước khác trong khu vực

Hoạt động thủ công nghiệp đầu thế kỷ XIII cũng có những thành tựu đáng kể, được nhà nước quan tâm phát triển Hình thành nên hai mảng lớn: thủ công nghiệp nhà nước do nhà nước trực tiếp quản lý, điều hành hướng vào những nghề như: sản xuất đồ gốm, nghề dệt, chế tạo vũ khí, làm nón; với mảng thủ công nghiệp nhân dân gắn liền với những làng nghề, phường hội chuyên sản xuất những mặt hàng nổi tiếng như: nghề gốm Bát Tràng, Phù Lãng (Bắc Ninh), nghề rèn sắt ở Nho Lâm (Nghệ An), nghề đúc đồng, nghề làm giấy và khắc bản in, nghề mộc và xây dựng… đã đóng góp đáng kể vào nền kinh tế đất nước

Về xã hội, từ những chuyển biến trong đời sống chính trị, kinh tế đầu thời

Trần cộng với nhu cầu xây dựng một chính quyền quân chủ quý tộc vững mạnh đã tác động mạnh mẽ đến kết cấu giai cấp trong xã hội, một cách đại thể phân

Trang 26

hóa thành hai giai cấp cơ bản là giai cấp quý tộc, tôn thất, quan lại trong chính quyền quân chủ và giai cấp những người bình dân, nô tỳ

Giai cấp quý tộc, tôn thất, quan lại trong chính quyền quân chủ, đứng

đầu là vua, dưới vua là các quý tộc, quan lại, những người trong bộ máy hành chính giúp việc cho nhà nước Xét về mặt quan hệ giai cấp trong xã hội thời Trần thì đây chính là giai cấp thống trị, bóc lột trong xã hội Xuất phát từ nhu cầu cần thiết lập nên một nhà nước quân chủ quý tộc mạnh, triều Trần đã tìm cách bảo hộ cho đặc quyền đặc lợi của tầng lớp này nhằm củng cố tiềm lực kinh tế - chính trị - quân sự vững chắc cho mình Vua Trần đóng một vai trò đặc biệt trong tập đoàn quý tộc, thể hiện ở chỗ vua là người nắm quyền lực tối thượng trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, giáo dục, văn hóa của đất nước Vua đồng thời là người nắm giữ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, quyền phong cấp, bổ nhiệm, bãi nhiệm các chức sắc trong bộ máy triều đình Về mặt danh nghĩa, vua nắêm quyền sở hữu tối cao đối với toàn bộ ruộng đất, tài sản của quốc gia, đồng thời vua cũng là người đứng ra chủ trì các nghi lễ tôn giáo lớn, các cuộc hội nghị lấy ý kiến của nhân dân trong vấn đề chính sự v.v… Tuy tập trung trong tay quyền lực tuyệt đối, lớn lao đến vậy, nhưng đầu thời Trần, điều này chưa phải là một hiện tượng độc đoán chuyên chế mà trên bình diện chung, đó chính là một sự đảm bảo thống nhất, tập trung quyền lực cần thiết để làm tốt công tác quản lý mọi mặt của đời sống xã hội Giúp việc cho vua là một bộ máy tôn thất, quý tộc thuộc giới thượng lưu cầm quyền trong xã hội, có địa vị chính trị cao và sở hữu số lượng lớn các điền trang, thái ấp do được phong cấp hoặc khẩn hoang mà có Bên cạnh đó, còn có một bộ phận tầng lớp quan liêu giúp việc trong các đơn vị hành chính của nhà nước Họ không có đặc quyền về kinh tế như giới quý tộc, tôn thất nhưng sự tồn tại của tầng lớp này phần nào tạo điều kiện cho người thuộc giới bình dân có thể tham gia quan trường để tiến thân thông qua con đường khoa cử

Trang 27

Giai cấp những người bình dân (chủ yếu là nông dân các làng xã, thợ thủ

công, thương nhân và địa chủ thứ dân) và nô tỳ Đây là lực lượng đông đảo nhất

trong xã hội, đóng vai trò chủ đạo trong lực lượng sản xuất, nuôi sống xã hội và gánh vác các nghĩa vụ do nhà nước quy định như nộp tô thuế, lao dịch, đi lính… Xét về mặt quan hệ giai cấp, thì những người bình dân, nô tỳ này đều thuộc về giai cấp bị trị trong xã hội, chịu sự thống trị, bóc lột từ giai cấp quý tộc, tôn thất bên trên Tuy nhiên vào đầu thời Trần, do tính chất tiến bộ cũng như việc ban hành những chính sách thiết thực, hợp lòng dân nên mâu thuẫn giai cấp chưa thể hiện rõ nét như ở giai đoạn sau Trong giai cấp bị trị này còn có một lực lượng đáng kể nô tỳ Nô tỳ có thể xuất thân từ dân nghèo phiêu tán, không có sản nghiệp, phải bán mình làm nô, tội nhân bị sung làm nô hoặc tù binh Nô tỳ lại được phân thành “gia nô” – tức nô tỳ làm việc sản xuất, phục vụ trong các điền trang, thái ấp của gia đình quý tộc, quan lại, để phân biệt với nô tỳ của nhà nước – làm trong các loại ruộng đất công hoặc những công trình công cộng do nhà nước quản lý Năm 1230, để phục vụ cho sản xuất ruộng đất thuộc sở hữu công, nhà nước định ra quy định bắt các tội nhân làm nô tỳ như sau: “Loại bị đồ làm Cảo điền hoành thì thích vào mặt 6 chữ, cho ở Cảo xã (nay là xã Nhật Cảo), cày ruộng công, mỗi người 3 mẫu, mỗi năm phải nộp 300 thăng thóc” [35, tr.12] Nô tỳ mang địa vị thấp kém trong xã hội, họ không có tư liệu sản xuất trong tay, phải gánh vác mọi trách nhiệm nặng nhọc chủ giao phó Chế độ nô lệ ở nước ta mang tính chất không điển hình theo kiểu nô lệ gia trưởng phương Đông, tuy nhiên, về đại thể mà xét thì lực lượng nô tỳ đóng một vai trò không nhỏ trong sản xuất và cả trong công cuộc kháng chiến giữ nước Nhiều nhà tôn thất, quý tộc, vương hầu có số lượng nô tỳ lên đến hàng nghìn người, có nhà đối xử với gia nô rất hậu, khi có chiến tranh thì họ được xem là lực lượng gia binh trung thành dưới sự thống lĩnh của chủ, tiêu biểu như đội ngũ gia nô của Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật,

Trang 28

Trần Quốc Toản… đã từng lập nhiều công trận trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông sau này như Yết Kiêu, Dã Tượng…

Đầu thời Trần, mâu thuẫn giai cấp đã có nhưng chưa đến mức sâu sắc Tuy nhiên ở buổi đầu dựng triều đại, vua Trần đã thấy được mối họa ngấm ngầm đe dọa về sau, do đó đã có nhiều biện pháp xoa dịu, điều hòa mâu thuẫn giai cấp, lấy lòng dân như xuống chiếu đại xá, miễn tô thuế ruộng, kêu gọi nhà giàu phát gạo chẩn tế cho dân nghèo khi gặp thiên tai, đói kém… các năm 1240, 1242,

1249, 1265 Việc làm này đã có tác dụng tích cực ở chỗ động viên sức người, sức của vượt qua lúc nguy khó để cả nước đoàn kết một lòng, ra sức xây dựng và bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước

Bằng nhãn quan chính trị nhạy bén của mình, Trần Thái Tông đã nhận thấy được nguy cơ ngấm ngầm về sau trong mâu thuẫn giai cấp nên không phải ngẫu nhiên mà ông chọn Phật giáo làm hệ tư tưởng chính thống để cố kết, thống nhất về một mối trong đời sống tinh thần của xã hội Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ một mặt, Trần Thái Tông muốn tiếp tục mạch nguồn văn hóa đề cao Phật giáo đã có từ thời Lý trước đó, mặt khác ông nhận thấy nhân sinh quan Phật giáo có nhiều điểm có lợi, phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị mà ông là người đại diện Tinh thần hòa ái, từ bi, hỉ xả, thủ tiêu đấu tranh, tu tâm dưỡng tánh trong đạo đức nhân sinh Phật giáo sẽ là một điểm tựa vững chắc cho hệ tư tưởng của quốc gia Đại Việt đang trên đường khẳng định nền độc lập, tự chủ của mình Ở đây, lợi ích của giai cấp thống trị thống nhất với lợi chung của toàn dân tộc và nhân dân nên đã tạo được sự cố kết cộng đồng xung quanh giai cấp cầm quyền, đảm bảo cho công cuộc bảo vệ nền thái bình cho xã tắc Tuy nhiên đó không phải hoàn toàn là tư tưởng Phật giáo nguyên thủy ít nhiều chứa đựng màu sắc yếm thế mà nó phải được cải biến đi ít nhiều, chứa đựng tinh thần nhập thế với thái độ hết mình phụng sự cho dân cho nước

Trang 29

Những lo lắng, khuyên răn của Trần Thái Tông đối với giới quý tộc, tôn

thất còn ghi lại trong Lục thì sám hối khóa nghi hay Văn răn ngũ giới kêu gọi họ

nên tiết dục, kiềm chế lòng tham, đam mê tiền của, sắc tửu dẫn đến tranh giành, ganh đua thiệt hơn, chiếm đoạt, hãm hại nhau gây mất đoàn kết trong nội bộ giới cầm quyền cộng với sự bóc lột quá mức nông nô sẽ khiến cho lòng người bất bình, nổi dậy đấu tranh Những bận tâm này của Trần Thái Tông không phải là không có sơ sở đặc biệt là đến đời Trần Nhân Tông đã bộc lộ rõ mâu thuẫn giai cấp vào năm 1290 “Đói to, ba thăng gạo giá 1 quan tiền, dân nhiều người bán ruộng đất và bán con trai con gái làm nô tỳ cho người, mỗi người giá 1 quan tiền.” [35, tr.71]

Tóm lại, xã hội Đại Việt từ cuối thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XIII, từ sự sụp đổ của triều Lý và sự thiết lập của triều Trần đã trải qua một thời kỳ đầy những biến động sâu sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Tuy nhiên, cùng với khuynh hướng phát triển của lịch sử, trong những năm đầu thống trị, nhà Trần đã có nhiều chủ trương, chính sách tiến bộ, phù hợp nhằm khôi phục lại nền kinh tế, ổn định tình hình chính trị, xã hội trong nước, tạo tiền đề cho sự phát triển rực rỡ hơn của đất nước ở những năm tháng tiếp theo của kỷ nhà Trần, như một mốc son chói lọi trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam

1.2 Những tiền đề tư tưởng dẫn đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông

Trong sự tiến triển nội tại của Thiền tông Việt Nam, thì triết học Trần Thái Tông ra đời không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà nó còn có cội nguồn sâu xa từ sự kế thừa thành tựu của các dòng thiền trước đó như: thiền phái Tỳ Ni

Đa Lưu Chi (Vinitaruci), thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường Theo nhiều tài liệu nghiên cứu Phật sử Việt Nam đều cho rằng Phật giáo đã có mặt ở nước ta vào khoảng thế kỷ II với trung tâm Phật giáo lớn tên là Luy

Trang 30

Lâu Do vị trí địa lý thuận lợi, giáp mặt biển Đông lại nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, có mạng lưới giao thông thủy bộ tản đi khắp nơi, nhờ vậy mà từ xưa đất Giao Chỉ đã có nhiều thương nhân nước ngoài tới để mua bán, trao đổi hàng hóa tấp nập tạo điều kiện cho nền văn hóa bản địa Việt Nam có điều kiện tiếp xúc với những luồng văn hóa tư tưởng khác trên thế giới Cũng từ đây, những

tư tưởng Phật giáo lần đầu tiên được truyền vào nước ta thông qua vai trò của các

vị tăng sư người Ấn theo thuyền buôn đến đất Giao Chỉ Như vậy, “cuộc hội ngộ” này đã tạo nên một quá trình dung hợp, tiếp biến giữa Phật giáo Ấn Độ với nền văn hóa tín ngưỡng bản địa Đây là thời kỳ mà Phật giáo Ấn Độ đang cố gắng từng bước để thích ứng và cắm rễ vào mảnh đất tinh thần Việt Nam Theo những

tài liệu ít ỏi về Phật sử nước ta giai đoạn này, tiêu biểu như Thiền uyển tập anh

có ghi lại cuộc đối thoại giữa Phù Thánh Linh Nhân Hoàng thái hậu với Quốc sư Thông Biện (?-1134) về gốc tích và sự du nhập Phật giáo vào nước ta, Quốc sư Thông Biện đã dẫn lời Đàm Thiên pháp sư trả lời vua Tùy Cao Tổ có đoạn:

Một phương Giao Châu, đường thông Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang Đông chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy Vào lúc ấy, thì đã có Khâu Đà La, Ma La Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó Nay lại có Pháp Hiền thượng sĩ, đắc pháp với Tỳ Ni Đa Lưu Chi, truyền tông phái của Tam tổ, là người trong hàng Bồ tát, đang ở chùa Chúng Thiện dạy dỗ học trò diễn thuyết giáo hóa Trong lớp học đó không dưới 300 người, cùng với Trung Quốc không khác… [57, tr.230]

Như vậy, theo lời Đàm Thiên pháp sư thì trong giai đoạn nhà Tùy (khoảng cuối thế kỷ VI), Phật giáo Giao Châu phát triển không thua kém gì Phật giáo Trung Quốc cả, chí ít cũng là xét về mặt hệ thống chùa chiền, việc độ tăng

Trang 31

chúng và phát triển học thuật qua dịch kinh nguyên tác từ tiếng Phạn sang Để có được những thành tựu bước đầu vững chắc như vậy, không thể bỏ qua việc xét đến quá trình du nhập, dung hợp giữa Phật giáo Ấn Độ tiếp xúc với cơ tầng văn hóa bản địa gốc của cộng đồng cư dân Việt Trước khi giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa khác thì cư dân bản địa nước ta từ lâu sinh sống dựa trên nền văn minh nông nghiệp lúa nước đã có tín ngưỡng riêng của mình dưới hình thức sơ khai ban đầu như tục thờ các vị thần bảo hộ mùa màng (Thần Lúa, Ông Trời, Sơn Tinh, Thủy Tinh…), thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực, tục thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ quan niệm về phần hồn – phần xác, linh hồn bất tử v.v… Chính đặc điểm trên mà ngay từ đầu đã quy định nên thể thức cho sự du nhập Phật giáo vào nước ta khá rõ ràng, muốn tồn tại và phát triển, trở thành một yếu tố hữu cơ gắn bó mật thiết trong đời sống tinh thần cư dân Việt thì Phật giáo Ấn Độ phải có sự điều chỉnh, tiếp biến, dung hợp với tín ngưỡng cổ truyền của cộng đồng này Ngoài Thiền uyển tập anh được xem như tài liệu Phật sử vào loại cổ nhất

còn truyền lại ở nước ta ngày nay, trong khi đi tìm hiểu về dấu tích cho sự xuất hiện của Phật giáo Giao Châu buổi đầu còn có thể dựa vào các tác phẩm cổ khác

được lưu ở thư tịch Trung Quốc, tiêu biểu như trong quyển đầu của sách Hoằng

Minh tập của Lương Tăng Hựu có ghi chép về trước tác của Mâu Tử với nhan đề Mâu Tử lý hoặc luận hay tác phẩm Lục độ tập kinh do Khương Tăng Hội trích

dịch và biên soạn

Mâu Tử là người nước Thương Ngô do chạy loạn mà lánh sang đất Giao Chỉ sinh sống và học Phật dưới thời Sĩ Nhiếp tức khoảng cuối thế kỷ II Ông là người Hán, học rộng tỏ ra am tường cả Nho giáo và Đạo giáo, tuy nhiên sau khi học Phật tại Giao Chỉ, ông đã mạnh dạn đem trình bày sự hiểu biết của mình về

Phật giáo trong cuốn Lý hoặc luận để biện luận với những kẻ sĩ thời đó tỏ ý bài

bác Phật giáo, nhằm xóa tan mối nghi hoặc trong lòng họ Qua đó, có thể phỏng

Trang 32

đoán được ít nhiều về không khí tranh luận học thuật đã khá sôi nổi, minh chứng cho sức sống lan tỏa của Phật giáo ở buổi đầu du nhập Tư tưởng Phật giáo thời kỳ này được phản ánh trong tác phẩm phần nào giúp chúng ta hình dung được

những nét chủ đạo của nó Khi trả lời câu hỏi: Phật là gì? Mâu Tử đáp:

Phật có nghĩa là Giác Biến hóa thảng thốt, phân thân tán thế, hoặc tồn tại hoặc mất, có thể nhỏ có thể lớn, có thể tròn có thể vuông, có thể già có thể trẻ, có thể ẩn tàng có thể lộ rõ, đạp lửa không cháy bỏng, giẫm dao không bị thương, ở trong nhơ bẩn mà không nhuốm bẩn, trong tai họa không nguy nan Đi thì bay, ngồi thì tỏa hào quang [21, tr.196-197]

Như vậy, rõ ràng Phật giáo Ấn Độ truyền vào nước ta ở thế kỷ II hoàn toàn không phải là một cuộc truyền bá đạo Phật mang tính nghiệp đoàn, có tổ chức, quy mô nhất định mà sự truyền bá này được thực hiện thông qua vai trò cá nhân của các vị tăng người Ấn theo thuyền buôn đến đất Giao Chỉ, nhằm cầu phù hộ, bình an cho chuyến hải hành dài ngày của họ trên biển cũng như nơi đất khách

Do tính chất đơn lẻ như thế, nên các vị tăng người Ấn cư trú ở đâu thì lập bàn cúng dường Đức Phật ở nơi ấy với các nghi lễ đơn sơ, gần gũi, phần nhiều chú trọng về mặt thực tiễn tôn giáo hơn là nặng về phần lý luận trừu tượng Cũng từ nếp sinh hoạt tôn giáo thường nhật ấy dần dà trở nên quen thuộc với cộng đồng

cư dân Việt, họ bắt đầu tìm hiểu những nét sơ khai, dung dị của Phật giáo và nhận ra nhiều điểm tương đồng giữa Phật giáo với tín ngưỡng bản địa của họ Tiêu biểu như quan niệm coi Đức Phật cũng tương tự như Ông Trời, như những vị thần linh đầy quyền năng, phép thuật, thần thông biến hóa, có lòng từ bi, che chở

họ lúc nguy nan theo kiểu “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” Như vậy, có thể nhận

thấy, thời kỳ đầu đã diễn ra quá trình Việt hóa Phật giáo Ấn Độ cho phù hợp

với tín ngưỡng và tâm thức của người Việt Tư tưởng này bàng bạc mà lan tỏa khắp nơi như nước thấm vào lòng đất, đã có ảnh hưởng nhất định đến tăng chúng

Trang 33

ở Giao Châu bấy giờ Và cũng từ đó, Mâu Tử được học Phật ở đây, nên trong cách hiểu của ông, ý nghĩa triết học mới chỉ dừng lại ở việc hiểu Phật – tức chỉ đấng giác ngộ mà thôi, còn toàn bộ những mô tả về sau của ông hoàn toàn là cách hiểu quen thuộc, phổ biến về Đức Phật của cư dân bản địa

Như vậy người Việt tiếp nhận Phật giáo buổi đầu trước hết với tư cách một tôn giáo đi vào chiều sâu tâm thức, xem Đức Phật như một vị thần linh là đối tượng thờ cúng hơn là tiếp nhận Phật giáo với tư cách một học thuyết triết học với lý luận cao siêu trừu tượng Một minh chứng khác cho tính chất bản địa hóa Phật giáo Ấn Độ có thể thấy trong mẩu đối thoại khác giữa người hỏi với Mâu Tử có đoạn:

Hỏi: Đạo Phật nói, người ta chết rồi sẽ thác sinh trở lại, tôi không tin điều ấy đúng như thế

… Mâu Tử nói: Đúng như vậy Thần hồn vốn bất diệt, chỉ có thân thể là tự rữa nát thôi Thân người tỉ như rễ và lá của ngũ cốc, còn thần hồn thì như hạt giống Rễ, lá có sống thì có chết, Còn hạt giống thì mất đi sao được? [21, tr.207-208]

Qua đó, có thể thấy rõ ràng, quan điểm về sinh tử luân hồi của Phật giáo đã không được Mâu Tử giảng giải trên nền tảng lý luận vô thường và thuyết duyên khởi, mà ông chỉ mượn hình ảnh cụ thể về cây – hạt với lối giải thích nặng về quan niệm hồn – vía cổ truyền của cư dân Việt

Mặc dù có thể coi Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng trực tiếp của Phật giáo từ Ấn Độ du nhập sang được thể hiện qua chi tiết còn ghi

lại trong sách Lý hoặc luận, có người hỏi Mâu Tử rằng: “Nay sa môn mặc áo vải

đỏ, ngày ăn một bữa, kiềm chế lục tình, tự dứt với đời phỏng được cái gì?” [21, tr.214] Tuy nhiên, bên cạnh việc thực hiện lối tu tập như Phật giáo Ấn Độ, thì

Trang 34

ngay từ đầu, các vị cao tăng ở đất Giao Chỉ như Khương Tăng Hội thông qua việc trích lục kinh kệ, soạn dịch đã thể hiện tinh thần riêng của Phật giáo Giao Chỉ

thông qua tác phẩm Lục độ tập kinh ra đời cũng trong khoảng thời gian này, đúng

như lời nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh đã nhận xét: “Phật giáo Giao Chỉ trọng từ bi hơn Tuệ, trọng hành vi hơn nhận thức lý luận” [21, tr.270]

Trong Lục độ tập kinh nổi bật lên quan điểm tứ thiền, bàn về trình tự tu tập thiền

định của hành giả nhằm đạt đến sự chứng đắc quả vị thiền Ông cũng là người đã dịch bản kinh căn bản và sớm nhất của Đại thừa, đó là kinh Bát thiên tụng Bát

nhã Nếu như ở thế kỷ II, tác phẩm Lý hoặc luận của Mâu Tử còn nặng về tính

biện luận và chịu ảnh hưởng đậm nét pha trộn với tín ngưỡng bản địa, thì sang

đến đầu thế kỷ III, ở Lục độ tập kinh, những mầm móng ban đầu cho sự xuất hiện

của tư tưởng Thiền học đã thể hiện khá rõ nét Từ Khương Tăng Hội, tư tưởng thiền đã bám rễ, nảy mầm trên mảnh đất đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân Việt Do đó, không phải là không có cơ sở khi học giả Nguyễn Lang đưa ra nhận định về công lao đóng góp vào sự phát triển Thiền học ở nước ta và cả Trung Quốc của vị danh tăng này bằng những dòng trang trọng như sau: “Thiền học Việt Nam khởi đầu bằng Khương Tăng Hội vào đầu thế kỷ thứ ba Không những Tăng Hội là sáng tổ của thiền học Việt Nam, ông cũng còn phải được xem là người đầu tiên đem thiền học phát huy ở Trung Hoa nữa.” [33, tr.72] Đây thật sự là một điều vinh dự lớn cho thiền học nước nhà về sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của Tăng Hội khi ông sang đất Kiến Nghiệp (Trung Quốc) vào năm

247, gần ba thế kỷ trước khi Bồ Đề Đạt Ma – người được coi là sơ tổ Thiền tông Trung Hoa – đến Nam Hải vào triều Lương Võ Đế năm 520

Trong thế kỷ III, ngoài Khương Tăng Hội, trong Cao tăng truyện của Đạo

Tuyên còn nhắc đến hai vị tăng sĩ người Ấn nổi tiếng từng có thời gian sống ở

Trang 35

Giao Chỉ là: Chi Cương Lương Tiếp (Kalaruci), từng dịch kinh Pháp Hoa tam muội và Ma La Kỳ Vực (Marajivaka) Cả hai đều mang khuynh hướng thiền học Hiện nay, chưa tìm thấy tài liệu nào đề cập đến Phật giáo nước ta vào thế

kỷ IV, nhưng vào thế kỷ V, trong Tục Cao tăng truyện có nhắc đến các vị thiền sư

danh tiếng, từng được mộ đạo mời sang Trung Quốc giảng kinh và tu thiền ở đó như: Đạt Ma Đề Bà (Dharmadeva) - người Ấn Độ, Thích Huệ Thắng và Đạo Thiền - người Việt Nam Hiện tư liệu về các tăng sư này vô cùng ít ỏi, chỉ có thể

dựa vào chi tiết được ghi lại trong Tục Cao tăng truyện đểø suy đoán mà thôi

Thích Huệ Thắng là học trò của Đạt Ma Đề Bà, tu ở chùa Tiên Châu Sơn, thường tụng kinh Pháp Hoa mỗi ngày một lần Một nhân vật đáng quan tâm khác đó là nhà sư Trung Quốc – Đàm Hoằng, đến nước ta tu ở chùa Tiên Châu Sơn, chịu ảnh hưởng tư tưởng Tịnh Độ, dùng phương pháp niệm Phật A Di Đà để cầu vãng sinh nước cực lạc, đánh dấu sự xuất hiện quan niệm coi niệm Phật cũng là một phương tiện hữu hiệu giúp chúng sinh đạt đến bến giác

Vào năm 580, Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam, lập nên dòng thiền đầu

tiên ở nước ta mang tên ông Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi tồn tại ở nước ta trải

suốt hơn sáu thế kỷ (580-1216), tức là đến cuối thời Lý đầu thời Trần mới biến

mất, gồm có 19 thế hệ truyền thừa với 28 vị thiền sư được ghi lại trong Thiền

uyển tập anh Về tiểu sử của thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, trong Thiền uyển tập anh

có kể lại như sau:

Tỳ Ni Đa Lưu Chi (?-594) người nước Nam Thiên Trúc, dòng Bàlamôn Nhỏ đã mang chí xuất tục, đi khắp Tây Trúc, cầu tâm ấn Phật Nhân duyên đạo chưa gặp, bèn cầm gậy sang Đông Nam Triều Trần Đại Kiến thứ 6 (574) năm Giáp Ngọ, lúc mới đến Trường An, lúc Chu Võ Đế phá diệt Phật pháp, Sư muốn sang đất Nghiệp Bấy giờ đệ Tam tổ Tăng Xán vì tị nạn, nên mang y bát ở ẩn trong núi Tư Không Sư đến gặp Tổ

Trang 36

thấy cử chỉ phi phàm, trong lòng phát niềm kính mộ, bèn đến trước, chấp tay đứng ba lần Tổ vẫn ngồi yên không nói Sư suy nghĩ giây lát, bỗng nhiên như có sở đắc, liền sụp lạy ba lạy Tổ gật đầu ba cái mà thôi Sư lùi

ba bước, thưa rằng: “Đệ tử bấy lâu không gặp thuận tiện, nhờ hòa thượng đại từ bi, xin cho con theo hầu hạ hai bên” Tổ dạy: “Ngươi nên mau qua phương Nam tiếp xúc, không nên ở đây lâu” Sư từ biệt ra đi, đến Quảng Châu trác tích chùa Chế Chỉ Đại để 6 năm, dịch được các kinh Tượng đầu và Báo nghiệp sai biệt Đến tháng 3 năm Canh Tý đời Chu Đại Tường thứ

2 (580), sư đến nước ta ở tại chùa đó, lại dịch ra kinh Tổng trì, 1 quyển” [57, tr.278-279]

Như vậy từ Thiền uyển tập anh, có thể thấy về mặt giáo kinh, Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi khởi đầu dựa trên kinh Tượng đầu tinh xá – đây là một kinh có

tính chất thiền học, thuộc văn hệ Bát nhã với nội dung chủ yếu bàn đến mười phương pháp thiền quán giúp cho hành giả có thể phá trừ các loại chấp trước, đạt đến sự thanh tịnh của thân tâm Phương pháp thiền quán này về sau được học trò của Tỳ Ni Đa Lưu Chi là Pháp Hiền truyền bá, giảng dạy cho đông đảo tăng chúng theo học Từ đó có thể cho thấy, ngay từ đầu Thiền học nước ta đã chú trọng về mặt học thuật, sách vở, kinh kệ, giáo lý – xem nó như một trong những phương tiện hữu hiệu để đạt đến giải thoát, chứ không phải là thái độ khước từ

hoàn toàn theo tinh thần triệt để “giáo ngoại biệt truyền” như tôn chỉ của Thiền

tông Trung Hoa Bên cạnh kinh Tượng đầu tinh xá, có thể phỏng đoán thêm về tư tưởng của Tỳ Ni Đa Lưu Chi dựa vào chi tiết trong bài kệ truy tán thiền sư do Vua Lý Thái Tông đề tặng có dòng:

Trăng Lăng già vằng vặc

Sen Bát nhã ngát thơm

Lúc nào đến chẳng gặp

Trang 37

Cùng nhau bàn đạo huyền [57, tr.280]

Phiên âm:

Hạo hạo Lăng già nguyệt

Phần phần Bát nhã liên

Hà thời tái đắc kiến

Tương dữ thoại trùng huyền

Theo tư liệu Phật sử Trung Quốc, chính Bồ Đề Đạt Ma là người đã trao

quyển Kinh Lăng già (Lankavatara Sutra) - từ lâu được coi là kinh khai tông của

Thiền tông Trung Hoa cho Huệ Khả làm Nhị tổ vào khoảng đầu thế kỷ VI Trước khi sang nước ta vào cuối thế kỷ thứ VI, Tỳ Ni Đa Lưu Chi từng diện kiến, nhận tâm ấn từ Tam tổ Tăng Xán trao truyền và có thời gian lưu lại trên đất Trung Hoa để dịch kinh Do đó rất có thể trong thời gian này, ông được tiếp xúc với tư tưởng Kinh Lăng già vốn được trọng thị bậc nhất thời bấy giờ Nội dung cốt lõi của

Kinh Lăng già là nhấn mạnh vấn đề tâm thay vì đề cao Phật Nên trong bài kệ tịch dặn dò lại Pháp Hiền, ông đề cập đến khái niệm tâm ấn nhắc lại đúng theo tinh thần mà Tăng Xán đã nói về tâm ấn trong Tín tâm minh như sau:

Tâm ấn chư Phật

Tất không lừa dối

Tròn đồng thái hư

Không thiếu không dư [57, tr.279]

Tuy nhiên khi diễn tả tiếp theo về cái tâm ấn ấy, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã mượn quan điểm Bát bất trong triết lý Trung luận của Long Thọ Bồ Tát

(Nagarjuna) ở Ấn Độ để giúp cho Pháp Hiền hiểu về nó Trong quá trình phát triển Phật giáo Đại Thừa ở Ấn Độ, Long Thọ Bồ Tát và Đề Bà (khoảng đầu thế kỷ III) đã hệ thống hóa tư tưởng Bát nhã, phát triển lý luận Đại Thừa lên một bước tiến mới với sự ra đời của Tam luận gồm: Trung luận, Bách luận và Thập

Trang 38

nhị môn luận Trong Trung Quán luận, tư tưởng Bát bất được trình bày trong bốn

dòng đầu tiên của Phẩm Quán nhân duyên gồm:

Bất sinh diệc bất diệt

Bất nhất diệc bất dị

Bất thường diệc bất đoạn

Bất khứ diệc bất lai [30, tr.56]

Về mặt tiểu sử, trước khi sang Trung Quốc, Tỳ Ni Đa Lưu Chi từng đi khắp Ấn Độ để tham thiền học đạo, do đó, chắc chắn công cuộc xiển dương Phật pháp

của Long Thọ Bồ Tát với triết lý Không (Sunya) cùng quan điểm Bát bất và sự

tiếp thu Tứ thiền Bát định của giáo lý Bàlamôn nhằm phát triển lý luận Đại Thừa Phật học lên một tầm cao mới đã ít nhiều để lại ảnh hưởng về mặt tư tưởng của ông Khi bàn về mặt tướng của tâm ấn, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã diễn tả nó gần

giống với tư tưởng Bát bất mô tả về Không như sau:

Không đi không đến

Không được không mất

Chẳng một chẳng khác

Chẳng thường chẳng đoạn

Vốn không chỗ sinh

Cũng không chỗ diệt… [57, tr.279]

Đi sâu vào tìm hiểu tư tưởng Tỳ Ni Đa Lưu Chi về tâm ấn, có thể nhận thấy

rằng đây là lần đầu tiên Thiền học Việt Nam trực tiếp đề cập đến một cách khá rõ ràng về mặt bản thể luận, còn trước đó phần nhiều rải rác trong một vài trước tác còn lại, chỉ dừng ở việc chú trọng về mặt pháp môn tu tập thiền định để đạt

đến giác ngộ và giải thoát mà thôi Tâm ấn tức là muốn nói đến cái tâm đã hoàn

toàn vắng lặng, đã được ấn chứng tự tính của nó, đó cũng chính là tự tính không của vạn pháp Cái tâm này còn được gọi là chân tâm - là cái đối lập với vọng,

Trang 39

nằm tiềm ẩn trong bản thân mỗi người Ở đây, có một sự biến chuyển đánh dấu

bước phát triển mới của thiền học nước ta, đó là quan điểm tâm thay cho Phật,

tâm cũng chính là Phật, “cầu Bồ Đề ngay chính trong tâm” chứ không còn dừng lại ở việc tu thiền định, niệm Phật chính tâm thành ý, xem Phật như một đối tượng tha lực có thể độ chúng sinh sang bến giác v.v Xuất phát từ quan niệm về

tâm ấn như vậy, nên con đường giải thoát cũng đi từ việc nhận thức cái tâm Tuy

nhiên để nhận thức được bản tâm này, thiền giả phải tự mình vượt lên trên mọi biên kiến, chấp trước của giới hạn nhận thức thông thường, tức là phải nắm được nhu yếu quán xuyến bao trùm hết thảy, đó là tinh thần siêu việt hữu vô và siêu

việt văn tự cơ bản trong Thiền tông Thông qua việc định nghĩa tâm ấn bằng một loạt những phủ định như: không thiếu không dư, không sinh không diệt, không đi

không đến, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn , là ngụ ý rằng cái chân tâm ấy là thật có, nhưng nó là cái không thể dùng

ngôn ngữ, văn tự bình thường để chỉ ra được hay nói khác đi ngôn ngữ đành bất

lực trong việc trực tả nó, chỉ có thể hiểu được cái tâm ấn ấy khi đã đạt đến trạng thái giác ngộ mà thôi Cũng cần nói thêm, để quán chiếu sâu sắc về tâm ấn, cần

phải thực hiện tinh thần siêu việt hữu vô, vượt lên mọi đối đãi, phân biệt đời thường như sinh – diệt, được – mất, thường – đoạn, đến – đi v.v Có nhận thức và

thực hiện được như vậy thì hành giả mới có đủ khả năng lĩnh hội được tâm ấn nơi

mình

Một tư tưởng cơ bản khác của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi là quan điểm

“truyền tâm ấn” Ở đây, cần phải hiểu thuật ngữ “truyền tâm ấn” trong Thiền

tông là đề cập đến việc lấy tâm truyền tâm mà không qua bất kỳ một người hay

một vật trung gian nào cả Thầy và trò đạt đến trạng thái thấu suốt, trực kiến nhau qua tâm Cái tâm tròn đồng, thái hư, viên mãn này còn được gọi với cái tên

khác là chân tâm, Phật tính, tức là cái mầm giác ngộ mà mọi chúng sinh đều có

Trang 40

Bởi vậy, nói là truyền tâm, nhưng kỳ thực là chẳng truyền, chẳng ấn cái gì cả, bởi vì cái tâm ấy đã có sẵn ở mỗi người rồi, vấn đề ở chỗ cốt làm sao cho họ nhận ra, hiển lộ được cái chân tâm, Phật tính ấy

Ngoài việc chịu ảnh hưởng Kinh Lăng già và Tượng Đầu tinh xá, trong

Thiền uyển tập anh còn nhắc đến thiền sư Thanh Biện (?- 686) thuộc thế hệ thứ tư

của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, chuyên trì Kinh Kim Cương (Vajracchedika

prajnaparamita sutra) rất thấu đáo Đây là một kinh rất quan trọng trong Thiền học, từng để lại ảnh hưởng sâu sắc trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông sau

này Thử tìm hiểu ý chỉ của Thanh Biện qua giai thoại còn ghi lại trong Thiền

uyển tập anh sau:

Thanh Biện đến chùa, xin tham vấn thiền sư Huệ Nghiêm

Nghiêm hỏi: “Kinh đó (chỉ Kinh Kim Cương) là người nào nói?”

Sư đáp: “Há không phải Như Lai nói sao?”

Nghiêm hỏi: “Trong kinh nói: Nếu ai nói Như Lai có chỗ thuyết pháp tức là hủy báng Phật, người ấy không thể hiểu nghĩa ta nói Ngươi nên khéo suy nghĩ, nếu bảo kinh này không phải là Phật nói tức là hủy báng kinh; nếu bảo do Phật nói tức là hủy báng Phật Ngươi phải làm sao? Nói mau! Nói mau!” Sư sắp mở miệng, Nghiêm cầm cái phất trần đánh ngay vào miệng Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, bèn sụp xuống lạy [57, 284]

Thông qua giai thoại thiền trên đã phản ánh ý chỉ thấu suốt toàn bộ Kinh

Kim Cương mà Huệ Nghiêm khai thị cho Thanh Biện, đó là câu“Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” Nội dung cốt lõi của kinh là làm sao cho hành giả nắm được yếu

chỉ thiền ấy, chứ không phải chỉ dừng lại ở sự trì kinh chuyên chú tám năm hay dù một trăm năm cũng hoài công vô ích Việc đặt ra vấn đề tựa hồ vô thưởng vô

phạt, ai cũng biết khi hỏi Kinh Kim Cương do ai nói, Huệ Nghiêm liền đặt Thanh

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anh Chi (2007), “Trần Thái Tông – Nhà Phật học lớn của nước Việt”, Nghiên cứu Phật học, (4), tr.22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thái Tông – Nhà Phật học lớn của nước Việt
Tác giả: Anh Chi
Nhà XB: Nghiên cứu Phật học
Năm: 2007
2. Minh Chi (2003), Truyền thống văn hóa và Phật giáo Việt Nam, Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống văn hóa và Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Minh Chi
Nhà XB: Tôn giáo
Năm: 2003
3. Doãn Chính (Chủ biên) – Trương Văn Chung – Nguyễn Thế Nghĩa – Vũ Tình (2002), Đại cương triết học Trung Quốc, Thanh Niên, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính, Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình
Nhà XB: Thanh Niên
Năm: 2002
4. Doãn Chính (1997), Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1997
5. Trương Văn Chung (1998), Tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần
Tác giả: Trương Văn Chung
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1998
6. Trương Văn Chung – Doãn Chính (Đồng chủ biên) (2008), Tư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần
Tác giả: Trương Văn Chung, Doãn Chính
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2008
7. Đoàn Trung Còn (1997), Phật học từ điển, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học từ điển
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
8. Đoàn Trung Còn soạn dịch và chú giải (2006), Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Tôn giáo
Năm: 2006
9. Trần Đức Công (2004), “Hãy thực hành tri giác thanh tịnh trong đời sống!”, Nghiên cứu Phật học, (3),tr.27-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy thực hành tri giác thanh tịnh trong đời sống
Tác giả: Trần Đức Công
Nhà XB: Nghiên cứu Phật học
Năm: 2004
10. Ức Cung (2003), “Đọc sách Khóa hư lục của vua Trần Thái Tông”, Nghiên cứu Phật học, (4), tr.22-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc sách Khóa hư lục của vua Trần Thái Tông
Tác giả: Ức Cung
Nhà XB: Nghiên cứu Phật học
Năm: 2003
11. Nguyễn Đức Diện (2002), “Dung hòa giữa đốn ngộ và tiệm ngộ – Nét đặc sắc trong Phật giáo Việt Nam”, Nghiên cứu Phật học, (6), tr.13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dung hòa giữa đốn ngộ và tiệm ngộ – Nét đặc sắc trong Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Diện
Nhà XB: Nghiên cứu Phật học
Năm: 2002
12. Nguyễn Hồng Dương (2008), “Nghiên cứu và ứng dụng các giá trị văn hóa Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay”, Nghiên cứu tôn giáo, (5), tr.23- 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và ứng dụng các giá trị văn hóa Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nghiên cứu tôn giáo
Năm: 2008
13. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1998
14. Thích Phước Đạt (2007), “Trần Thái Tông với chủ trương thiết lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử”, Nghiên cứu Phật học, (4), tr.24-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thái Tông với chủ trương thiết lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Tác giả: Thích Phước Đạt
Nhà XB: Nghiên cứu Phật học
Năm: 2007
15. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, tập 1: Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, tập 1: Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
16. Nhất Hạnh (1966), Đạo Phật đi vào cuộc đời, Lá Bối, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Phật đi vào cuộc đời
Tác giả: Nhất Hạnh
Nhà XB: Lá Bối
Năm: 1966
17. Thích Nhất Hạnh (2005), “Đạo Phật và con đường thực nghiệm tâm linh”, Nghiên cứu Phật học, (6), tr.3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Phật và con đường thực nghiệm tâm linh
Tác giả: Thích Nhất Hạnh
Nhà XB: Nghiên cứu Phật học
Năm: 2005
18. Nguyễn Hùng Hậu (2002), Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập 1, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Nhà XB: Khoa học xã hội
Năm: 2002
19. Nguyễn Hùng Hậu (1996), Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Nhà XB: Khoa học xã hội
Năm: 1996
20. Nguyễn Hùng Hậu (Chủ biên)- Doãn Chính – Vũ Văn Gầu ( 2002) Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu, Doãn Chính, Vũ Văn Gầu
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w