Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề triết học Trần Thái Tông đã được các học giả, tác giả quan tâm, nghiên cứu như: Công trình “Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HOÀI ĐÔNG
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG QUA TÁC PHẨM “KHÓA HƯ LỤC”
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - 2007
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HOÀI ĐÔNG
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG QUA TÁC PHẨM “KHÓA HƯ LỤC”
Chuyên ngành: Triết học Mã số: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Văn Chung
TP HỒ CHÍ MINH - 2007
Trang 3Lời cam đoan
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học trung thực của riêng Tôi và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Hoài Đông
Trang 4MỤC LỤC
Trang
* Mở đầu 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của đề tài 7
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7
3.3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 7
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 7
5 Ý nghĩa khoa học của đề tài 8
6 Cấu trúc của đề tài 8
Chương 1 Tiền đề hình thành và phát triển tư tưởng triết học Trần Thái Tông 9
1.1 Cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông………9
1.2 Thiền tông Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông 12
1.2.1 Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi – sơ lược lịch sử, những tư tưởng cơ bản và ảnh hưởng của nó đối với sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông………18
1.2.2 Thiền phái Vô Ngôn Thông – sơ lược lịch sử, những tư tưởng cơ bản và ảnh hưởng của nó đối với sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông………22
1.2.3 Thiền phái Thảo Đường và ảnh hưởng của nó đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông………27
1.3 Ảnh hưởng của Nho giáo, Đạo giáo đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông 29
Trang 51.4 Trần Thái Tông - con người và tác phẩm “Khóa hư lục” 34
Chương 2 Nội dung tư tưởng triết học Trần Thái Tông qua tác phẩm “Khóa hư lục”……….43
2.1 Những vấn đề bản thể luận được thể hiện trong tác phẩm “Khóa hư lục”………43 2.2 Những vấn đề nhận thức luận được thể hiện trong tác phẩm “Khóa hư lục”………56 2.3 Những vấn đề triết lý nhân sinh được thể hiện trong tác phẩm “Khóa hư lục”………59 2.4 Những vấn đề phương pháp tu học trong tác phẩm “Khóa hư lục”………….71 2.5 Giá trị lịch sử của tư tưởng triết học Trần Thái Tông……….87
* Kết luận.………92
* Danh mục tài liệu tham khảo……….96
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tác phẩm “Khóa hư lục” được Trần Thái Tông – vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần viết vào thời kỳ sau khi đã nhường ngôi để chuyên tâm học thiền nơi cửa phật Đây là tác phẩm được viết như “máu chảy đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên từng trang giấy” với khát khao tìm tòi chân lý sau nỗi đau thế thái nhân tình để rồi đạt đến chỗ sở đắc “chân tâm”
Tác phẩm được viết sau khi đã trải qua một bi kịch gia đình mà Trần Thái Tông gọi là “thường luân, bại lý”, chính bi kịch này đã thúc đẩy ông đến với Phật giáo để hiểu rõ nghĩa lý lớn của đời thường là sinh và tử Song, khi đã đạt đến trình độ uyên thâm, Trần Thái Tông không chỉ dừng lại ở nhu cầu cá nhân mà còn xem Phật giáo và sự trải nghiệm của mình là phương tiên để “dẫn dụ đám người mê muội”, xem đó là tinh thần quốc gia để chống lại sự nô dịch của tư tưởng phương Bắc
Xuất phát từ “tâm” để đạt tới cái đích cuối cùng là “cái tâm” tĩnh lặng, hư không, trong tác phẩm của mình, Trần Thái Tông muốn gióng lên một hồi chuông
“nhập thế” tích cực, cống hiến toàn bộ sức lực cho sự nghiệp đời và đạo để chuyển hóa những cái “tâm” của con người lầm lạc trở về với con đường chính thiện
Mặc dù những tư tưởng thể hiện trong tác phẩm “Khóa hư lục” của Trần Thái Tông vẫn chưa thể vượt ra khỏi chủ đề vĩnh cửu của Phật giáo, vẫn mãi mê
đi tìm chân lý ở tầng mờ tối, sâu thẳm của tâm linh Song, với trái tim nhân bản, khát vọng giải thoát, triết lý bình dị, tự nhiên, gần gũi đời sống thường nhật thể hiện trong tác phẩm chính “Khóa hư lục” của Ông đã không cho phép những tư duy trầm buồn, siêu thoát tồn tại và vì thế mà đã mang một dáng vẻ mới, góp phần làm rõ hơn bản sắc, cốt cách và tâm hồn dân tộc, mang lại cho dân tộc một luồng sinh khí mới của sự sống có ý nghĩa
Trang 7Trên đây là những nhận định có căn cứ chính xác về tác phẩm “Khóa hư lục” của Trần Thái Tông Gần đây có tác giả khi nghiên cứu “Khóa hư lục” nêu lên ý kiến phủ nhận “Khóa hư lục” là của Trần Thái Tông Điển hình là trường hợp của Thiều Chửu, dịch giả “Khóa hư lục” trong “Thái Tông hoàng đế ngự chế
Khóa hư kinh”(19- 4 - 61) viết: Nguyên văn chữ Hán chép là của Vua Trần Thái
Tông soạn, nhưng “căn cứ” vào sử và xét đến bài lúc thăm cụ Huyền Quang ở Yên tử và mấy lời đức Trần Hưng Đạo mời về thì sách này là của vua Trần Nhân Tông soạn
Dịch giả Thiều Chửu đã đem ba bản “Khóa hư lục” ra mà xem xét, để tìm lấy sự thực, thì quyết rằng những bản chép của Trần Thái Tông là sai và khẳng định “Khóa hư lục” là của Trần Nhân Tông
Theo Tôi, lời phê bình trên đây là không xác thực Không một sử sách nào khẳng định việc Hưng Đạo vào Yên tử mời vua Trần Nhân Tông về mà trái lại sử chỉ chép rằng Trần Nhân Tông có những tác phẩm như “Thiền lâm thiết chủy ngữ lục”, “Đại hương hải ấu thi tập”, “Tăng già toái sự”, “Thạch thất mỵ ngữ” Tuyệt nhiên không thấy chép rằng tác phẩm “Khóa hư lục” là của Trần Nhân Tông
Nay xét vào nội dung của tác phẩm “Khóa hư lục” để tìm hiểu mạch lạc tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng thiền học của Trần Thái Tông xem có thật
xứng danh là “bó đuốc thiền học Việt Nam” không? Và triết học, thiền học của
Trần Thái Tông có những đặc điểm gì? Hơn nữa, việc nghiên cứu tư tưởng triết học Trần thái Tông qua tác phẩm “Khóa hư lục” không chỉ đáp ứng nhu cầu khách quan, bức thiết đối với khoa học xã hội và nhân văn mà còn là một nhu cầu thực tế Thế hệ trẻ hiện nay luôn có ý thức tìm hiểu về quá khứ của dân tộc, những tư tưởng giá trị đã góp phần làm nên bản sắc của dân tộc Họ không “sợ sệt, cầu viện đến những linh hồn của quá khứ” cũng không phải “mượn tên tuổi, khẩu hiệu chiến đấu, y phục của những linh hồn đó, để rồi đội cái lốt đáng kính ấy của người xưa, và dùng những lời lẽ vay mượn đó, để trình diễn màn mới của
Trang 8lịch sử” [3, 145] Rất đơn giản là họ muốn hiểu và nắm bắt được những di sản quý giá đã trở thành nét son giá trị và mạch sống của dân tộc để gìn giữ, kế thừa và phát triển, khẳng định giá trị đích thực của chúng trong cuộc sống hiện tại Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng triết học Trần Thái Tông chính là đi tìm một trong những khía cạnh bản sắc, giá trị của tư tưởng dân tộc, hiểu và tin vào truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Trên cơ sở đó biết chọn lọc, hiện đại hóa các giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp để đáp ứng được nhiệm vụ mà Nghị Quyết Đại hội
X của Đảng ta đã đề ra cho văn hóa là “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế”, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội [3, 213] Từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Tư tưởng triết học Trần Thái Tông” qua tác phẩm “Khóa hư lục” là cấp thiết đáp ứng được yêu cầu của lý luận và đòi hỏi của tình hình thực tiễn đổi mới của đất nước đang đặt ra
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề triết học Trần Thái Tông đã được các học giả, tác giả quan tâm, nghiên cứu như: Công trình “Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông và Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc lâm Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Hùng Hậu do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội xuất bản Trong 2 tác phẩm này tác giả đã tập trung giới thiệu khái quát tư tưởng triết học Phật giáo của Trần Thái Tông và thiền Trúc lâm Việt Nam, có thể nói đây là tác phẩm thực sự có giá trị gợi mở cho hướng đi sâu nghiên cứu tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Tác phẩm:“Thiền phái Trúc lâm đời Trần” của PGS TS Trương Văn Chung đã tập trung giới thiệu khái quát những tư tưởng triết học nói chung và những tư tưởng triết học về thiền của các học thuyết triết học tiêu biểu, đặc biệt là thiền phái trúc lâm đời Trần Tác phẩm này góp phần làm sinh động và phong
Trang 9phú thêm cho bức tranh nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam nói chung và của Trần Thái Tông nói riêng
Đặc biệt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã cho ra mắt tác phẩm: “Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam” (tập 1) của PGS TS Nguyễn Hùng Hậu (Chủ biên), PGS.TS Doãn Chính và TS Vũ Văn Gầu cùng tham gia biên soạn Tác phẩm đã giới thiệu khái quát những tư tưởng triết học Việt Nam từ khởi nguyên đến năm 1858 Nhìn chung, đứng về mặt tư liệu thì đây là một tác phẩm đáng tin cậy về lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam Do lĩnh vực, phạm vi khá rộng tác giả chỉ mới đề cập đến những tư tưởng cơ bản, chủ yếu nhất mang tính khái quát mà chưa đi sâu phân tích nội dung tư tưởng của các nhà triết học và các học thuyết triết học lúc bấy giờ Dù sao chăng nữa, cái quý nhất của tác phẩm này là ở chỗ, nó đã đi tiên phong trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Nghiên cứu tư tưởng triết học Trần Thái Tông còn có rất nhiều bài báo đăng trên các báo chuyên ngành, tạp chí, nhiều chuyên khảo, sách vở ở mức độ
ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến đề tài này như: Thử bàn về một
vài tư tưởng triết học Phật giáo (qua tác phẩm “Khóa hư lục”) của Nguyễn Hùng
Hậu đăng trên Tạp chí triết học, số 1, tháng 3 - 1989, Viện triết học, Ủy ban
Khoa học Xã hội Việt Nam; Tư tưởng triết học Trần Thái Tông của PGS.TS Doãn Chính và học viên cao học Nguyễn Ngọc Phượng; Ý nghĩa triết học và giá trị văn
học trong “Khóa hư lục” của Trần Thái Tông, Luận văn tốt nghiệp đại học của
Nguyễn Thị Thanh, trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 1898
Nhìn lại những công trình trên cho thấy các tác giả tùy theo góc độ nghiên cứu mà xem xét tư tưởng triết học Trần Thái Tông trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu tư tưởng triết học Trần Thái Tông qua tác phẩm “Khóa hư lục” thì còn rất hạn chế về số lượng các công trình khoa học Trong khi đó, khi nói đến tư tưởng triết học Trần Thái Tông thì phải kể đến những tư tưởng chính thể hiện trong “Khóa hư lục” Do đó,
Trang 10trên cơ sở kế thừa những thành quả của một số công trình nghiên cứu kể trên, tác giả Luận văn mong muốn thông qua đề tài này tập trung, tiếp tục luận giải một cách tương đối có hệ thống nhằm làm rõ nguồn gốc, nội dung tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng thiền của Trần Thái Tông qua tác phẩm “Khóa hư lục”
3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
_ Làm rõ những cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội và những tiền đề tư tưởng, tôn giáo dẫn tới việc hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông
_ Trên cơ sở đó, Luận văn khái quát những tư tưởng triết học đặc sắc của Trần Thái Tông thể hiện qua tác phẩm “Khóa hư lục”
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục đích trên, Luận văn triển khai một số nhiệm vụ:
_ Phân tích tình hình kinh tế - chính trị - xã hội - tư tưởng - tôn giáo của thời kỳ chuyển giao quyền lực giữa hai thời đại Lý - Trần để làm sáng tỏ nguồn gốc của tư tưởng triết học Trần Thái Tông
_ Khái quát hệ thống tư tưởng triết học đặc sắc của Trần Thái Tông thể hiện chủ yếu qua tác phẩm “Khóa hư lục”
3.3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung luận giải những tư tưởng triết học và tư tưởng thiền của Trần Thái Tông thể hiện qua tác phẩm chính “Khóa hư lục”
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài phương pháp chung nhất là phương pháp biện chứng duy vật, Luận văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp lôgic - lịch sử và phối hợp cùng một số phương pháp khác
Trang 115 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Tư tưởng triết học Trần Thái Tông có một vị trí lịch sử rất quan trọng và hơn thế nữa là những giá trị khoa học và lịch sử rất lớn – là “tập đại thành đầu tiên của lịch sử triết học Việt Nam từ khởi nguyên đến giữa thế kỷ XIII” - “bó đuốc của thiền học Việt Nam”, nó nổi lên như một nét son giá trị bền vững với tác phẩm quý báo “Khoá hư lục”, hoà vào dòng chảy tư tưởng triết học Việt Nam góp phần làm nên bản sắc của tư tưởng dân tộc
Luận văn có thể dùng làm tài liêu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
6 Cấu trúc của đề tài
Gồm có phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 2 chương, 9 tiết
Chương 1 Tiền đề hình thành và phát triển tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Chương 2 Nội dung tư tưởng triết học Trần Thái Tông qua tác phẩm
“Khóa hư lục”
Trang 12Chương 1 TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG
TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG 1.1 Cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, triết học được xem như biểu trưng cho tinh hoa tinh thần của thời đại ấy Sự ra đời của một học thuyết triết học không phải là ngẫu nhiên, tự phát mà nó vừa là kết quả của sự phản ánh những điều kiện lịch sử - xã hội vừa là kết quả của sự kế thừa những học thuyết, tư tưởng lý luận trước đó; nó không ra đời trên một mảnh đất trống không mà bao giờ cũng ra đời trên một mảnh đất hiện thực, kế thừa những giá trị, hợp lý, tinh túy của cái cũ, cái qúa khứ đồng thời bồi đắp, bổ sung thêm những nhân tố mới Đúng như C.Mác và Ph Ăngghen đã nói: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”[4, 15] và Ph.Ăngghen nhận xét: “Tư tưởng lý luận của thời đại đều là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử Trong những thời đại khác nhau nó có những hình thức hoàn toàn khác nhau Do đó nó cũng có những nội dung hoàn toàn khác nhau” [1, 51]
Triết học Trần Thái Tông cũng không nằm ngoài sự quy định ấy Do đó, để tìm hiểu triết học Trần Thái Tông không thể không tìm hiểu những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và những tiền đề lý luận, tôn giáo dẫn đến sự ra đời tư tưởng triết học của Ông
Sau thời kỳ hưng thịnh, khoảng giữa thế kỷ XII trở đi, triều đình nhà Lý bước vào giai đoạn suy tàn Đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng Thiên tai, mất mùa, đói kém, dịch bệnh hoành hành nhiều nơi trong nước làm cho nền kinh tế của triều đại này ngày càng thêm sa sút Bên cạnh đó,
do bộ máy chính quyền nhà Lý từ trung ương đến địa phương tỏ ra quan liêu, lõng lẻo trong việc quản lý xã hội dẫn đến tình trạng ở nhiều địa phương, các
Trang 13lãnh chúa phong kiến đã tập hợp lực lượng, nổi dậy chống phá triều đình, gây nên tình trạng phân quyền cát cứ Trong số các thế lực cát cứ thời bấy giờ nổi bật là tập đoàn quân sự của anh em họ Trần ở vùng Hải Ấp (Thái Bình) Do có công giúp nhà Lý dẹp loạn, lập lại trật tự, gia tộc họ Trần lần lượt đưa con cháu vào cung giữ những chức vụ quan trọng trong triều chính để thao túng quyền lực Mặc dù trên danh nghĩa, Lý Huệ Tông là người đứng đầu một Nhà nước nhưng thực chất mọi quyền hành của triều đình đều được thâu tóm trong tay của anh em họ Trần
Vị vua cuối cùng của nhà Lý, tức Lý Huệ Tông, do thể chất yếu đuối và bản tính nhu nhược, lại phải chịu những áp lực căng thẳng trong một thời gian dài, cộng với nỗi buồn phiền vì không có con trai nối nghiệp đã khiến cho Lý Huệ Tông mắc phải chứng bệnh tâm thần và phải nhường ngôi cho Lý Chiêu Hoàng, rồi lên làm Thái Thượng Hoàng và sau đó xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo lấy hiệu là Huệ Quang đại sư Tuy với cương vị là vua một nước, nhưng do Lý Chiêu Hoàng còn quá nhỏ nên mọi quyền hành trong thực tế đều do anh em họ Trần thao túng, nhất là Trần Thủ Độ Theo sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng đã kết hôn với Trần Cảnh Và, vào ngày 12 tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng trút bỏ áo ngự, nhường ngôi cho chồng là Trầøn Cảnh Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung, mở đầu cho triều đại nhà Trần
Dưới thời nhà Trần vào đầu thế kỷ XIII, về mặt danh nghĩa thì vua là chủ sở hữu tối cao đối với toàn bộ ruộng đất và thần dân trong cả nước Nhưng để phát triển sản xuất, triều Trần đã ban hành những chính sách nhằm khẳng định quyền tư hữu ruộng đất, cho phép lập nên những điền trang, thái ấp phì nhiêu tạo
cơ sở kinh tế vững chắc cho xã hội thời Trần, “cơ sở kinh tế của xã hội thời Lý - Trần (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII) về cơ bản là chế độ sở hữu nhà nước về đất đai thông qua công xã nông thôn” [11, 1]
Trang 14Thực chất của chế độ sở hữu nhà nước là quyền sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc nhà vua, người đứng đầu nhà nước chuyên chế Quyền sở hữu này được biểu hiện bằng quyền được hưởng dụng những sản phẩm thặng dư, quyền thu địa tô do thần dân cống nạp Tuy nhiên quyền sở hữu nhà nước lại được thiết lập trên các công xã nông thôn, nghĩa là nhà vua nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất, còn các công xã lại được quyền chiếm dụng và phân phối lại ruộng đất cho các thành viên công xã Đây là mối quan hệ sở hữu kép về ruộng đất giữa nhà vua và công xã Chính dựa trên nền tảng kinh tế này mà nhà Lý, nhà Trần (những năm đầu) đã xây dựng nhà nước quân chủ phong kiến độc lập, tự chủ, có khả năng tập trung mọi của cải và nhân lực để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thực hiện di dân, lập làng, làm các chức năng thủy lợi và trị thủy, đồng thời xây dựng một đội quân hùng mạnh để đánh bại quân xâm lược Tống (1076) và quân xâm lược Nguyên – Mông (1258, 1285, 1288)
Bản chất của mối quan hệ kép về sở hữu ruộng đất là bao hàm trong nó sự tồn tại song song hình thức công hữu (công điền) và tư hữu (tư điền), biểu hiện thành mâu thuẫn cơ bản giữa hình thức công hữu về ruộng đất với sự chiếm dụng
tư nhân Chế độ sở hữu công xã là cơ sở để trên đó thiết lập chế độ sở hữu nhà nứơc và là nền tảng cho một quốc gia thống nhất, một chính quyền tập trung vững mạnh
Sự phát triển khởi sắc của nền kinh tế thời kỳ đầu nhà Trần không chỉ thể hiện trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn thể hiện cả trong các lĩnh vực khác như thương nghiệp, thủ công nghiệp Điều đó đã làm cho những làng nghề, những phường hội chuyên sản xuất các mặt hàng nổi tiếng hình thành và phát triển, thúc đẩy quá trình lưu thông trao đổi hàng hóa giữa các vùng trong cả nước, tạo điều kiện cho nước ta giao lưu với những nền văn hóa của nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới
Những chuyển biến trong đời sống kinh tế đầu thời Trần đã ảnh hưởng đến sự phân hóa xã hội, Song song với sự phát triển của kinh tế, xã hội thời Trần
Trang 15cũng đã diễn ra sự phân hóa mạnh mẽ, sự biến động về mặt kết cấu giai cấp xã hội Một xã hội mới với những đẳng cấp mới đã dần được hình thành Có thể thấy, trong gần hai thế kỷ tồn tại, xã hội thời Trần đã hình thành và tồn tại ba đẳng cấp chính, đó là: đẳng cấp quí tộc, tôn thất, quan lại trong chính quyền quân chủ; đẳng cấp những người bình dân (chủ yếu là nông dân các làng xã, thợ thủ công và thương nhân) và đẳng cấp nô tỳ
Tóm lại, xã hội Đại Việt từ cuối thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XIII đã trải qua một thời kỳ đầy những biến động sâu sắc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Tuy nhiên, cùng với khuynh hướng phát triển của lịch sử, trong những năm đầu thống trị, nhà Trần đã có nhiều chủ trương, chính sách tiến bộ, phù hợp nhằm khôi phục lại nền kinh tế, ổn định tình hình chính trị - xã hội trong nước, tạo tiền đề cho sự phát triển rực rỡ hơn của nhà Trần ở những năm tháng tiếp theo Đây chính là cơ sở xã hội cho sự hình thành, phát triển của tư tưởng thời Trần, trong đó có triết học của Trần Thái Tông
1.2 Thiền tông Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Trong sự tiến triển nội tại của thiền tông Việt Nam, triết học Trần Thái Tông ra đời không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà nó có cội nguồn sâu xa từ sự kế thừa thành tựu về lý luận của các dòng thiền trước đó như: thiền phái Tỳ
Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) có nguồn gốc từ thiền tông Ấn Độ du nhập sang Việt Nam, thiền phái Vô Ngôn Thông có nguồn gốc từ thiền tông Trung Hoa và thiền phái Thảo Đường mang sắc thái dân tộc Việt Nam
Thiền, theo Phạn ngữ là Dhyàna (thiền na) nghĩa là “chú tâm ở một chỗ một, minh tưởng lấy diệu lý của nó” [26, 59]
Theo Nhiệm Kế Dũ: “Thiền định vốn là một phương pháp tu hành của nhiều tôn giáo của Ấn Độ cổ đại, phương pháp này cũng được Phật giáo dùng Nhưng ở Ấn Độ không có tôn phái tương đương với “thiền tông” Trung Quốc, Thiền tông là sản phẩm Phật giáo thuần túy của Trung Quốc” [14, 314]
Trang 16Còn theo Nguyễn Đăng Thục, “Thiền chẳng phải một triết học hệ thống hay là một tôn giáo nghi thức mà là một khoa học thực nghiệm về tâm lý và sinh lý, hay là đúng hơn một kỹ thuật tu luyện sinh lý tâm lý có tính cách pháp thuật của nhân loại cổ sơ mà Ấn Độ cổ truyền đã sớm quy định vào các khoa Yoga ngụ
ý tìm nối nhân thân với tuyệt đối” [55, 13] Krishnam Murti cũng có quan niệm như Nguyễn Đăng Thục, nhưng ông cho rằng: “Muốn hiểu thiền ta cần phải thực sống với chính mình, đào xới và đi sâu vào tâm hồn mình” [36, 1] Chang Chen Chi thì định nghĩa thiền: “Ở Trung Hoa thiền cũng còn gọi là tâm tông, có nghĩa là tâm giáo, hay “giáo lý về tâm” Chữ này có lẽ là lược ngữ hay nhất để chỉ tất cảø những gì thiền muốn nói, vì những gì thiền giảng dạy chính là đường lối để giác ngộ viên mãn về tâm” [5, 73] Ông cũng cho rằng: “Để hiểu thiền người ta phải khảo sát nó từ tất cả mọi khía cạnh dị biệt, phải nghiên cứu nó trên phương diện lịch sử, tâm lý và triết lý, cũng như trong các khuôn khổ văn chương, tu tập và tâm linh Chỉ bằng cách nghiên cứu nó từ tất cả các khía cạnh và mức độ dị biệt này may ra người ta mới hiểu được thiền một cách chính xác và không thiên lệch” [5, 282]
Nhìn chung, để nhận thức được thiền không thể chỉ bằng sự phân tích lý luận mà phải bằng sự chứng nghiệm tự thân của mỗi cá nhân Tuy nhiên, “nếu mở rộng ra phạm vi nhận thức luận nói chung thì thiền học Phật giáo đã đóng góp một hệ lý luận và thực hành về nhận thức hướng nội độc đáo của triết học - tôn giáo phương Đông, đặc biệt vượt trội và đi trước về lý luận trực giác mà triết học phương Tây sang thế kỷ XX mới thực sự chú trọng [54, 198 – 199]
Như vậy, Phật giáo thời đại nhà Trần là sự kế thừa trên cơ sở tiếp thu các nguồn thiền của thiền học Nam Ấn (những thế kỷ đầu công nguyên), thiền học Ấn Độ (thế kỷ VI) và thiền học Trung Quốc (thế kỷ IX)
Thiền bắt nguồn từ Ấn Độ nhưng đã trở thành một tông phái độc lập khi được truyền sang Trung Quốc, đặc biệt là sau thời của Lục Tổ Huệ Năng Nơi đây, thiền tông đã hấp thụ cốt tuỷ của nền văn hoá, triết lí Trung Quốc Nhà Ấn
Trang 17Độ học và Phật học người Đức H W Schumann viết như sau trong tác phẩm
“Đại thừa Phật giáo” (Mahâyâna-Buddhismus):
"Thiền tông có một người cha Ấn Độ nhưng đã chẳng trở nên trọn vẹn nếu
không có người mẹ Trung Quốc Cái “dễ thông”, cái hấp dẫn của thiền tông
chính là những thành phần văn hoá nghệ thuật, những đặc điểm sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Độ Những gì Phật giáo mang đến Trung Quốc - với tư tưởng giải thoát tuyệt đối, trình bày một cách nghiêm nghị khắt khe với một ngón tay trỏ chỉ thẳng - những điều đó được các vị thiền sư thừa nhận, hấp thụ với một nụ cười thầm lặng đầy thi vị Thành tựu lớn lao của các đại luận
sư Ấn Độ là nhét “con ngỗng triết lí” vào lọ, thì chính nơi đây, tại Trung Quốc, con ngỗng này được thả về với thiên nhiên mà không hề mang thương tích" Hay
nói như D.T.Suzuki: Thiền tông có hạt giống từ Ấn Độ nhưng được nảy mầm ở
Trung Quốc
Danh từ “thiền tông” xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ tám Trước đó chỉ có những tên như Lăng già tông, Đông sơn tông, Đạt Ma tông, Hà Trạch tông, Ngưu đầu tông v.v Tất cả đều thuộc về truyền thống Phật giáo lấy thiền tọa làm cơ bản
Vào giữa thế kỷ thứ năm, có một vị tăng người Ấn tên là Gunabhadra (Cầu Na Bạt Đà La hay Đức Hiền, 394 - 468) phiên dịch Kinh “Lăng già” (Lankàvatàra) ra Hán văn Học trò của Gunabhadra cùng với một số bạn hữu tổ chức học tập kinh này và lập thành một tông phái gọi là Lăng già tông Kinh
“Lăng già” thường được xem như một kinh căn bản của thiền học
Đến thế kỷ thứ bảy, tại tỉnh Hồ Nam, một vị cao tăng tên Đạo Tín 651) thành lập một tu viện chuyên về tọa thiền trên núi Đông sơn Học trò của Đạo Tín là Hoằng Nhẫn (602 - 675) tiếp tục giáo hóa hàng trăm đệ tử tại tu viện này Trong số những cao đệ của Hoằng Nhẫn có Thần Tú, Huệ Năng và Pháp Trí Thần Tú (706) sau này đi giáo hóa phương Bắc Huệ Năng (658 -713) đi giáo hóa ở phương Nam Còn Pháp Trí (635 - 702) về ở chùa U Thê núi Ngưu đầu ở
Trang 18(580-Nam Kinh để truyền giáo, thành lập Ngưu đầu tông, trong đó thiền có khuynh hướng tịnh độ Hầu hết các sách vở thiền đều nói Pháp Dung (594 - 647), đệ tử của Đạo Tín, là người sáng lập Ngưu đầu tông Kỳ thực Pháp Dung không sáng lập Ngưu đầu tông, mà cũng không phải là đệ tử của Đạo Tín
Truyền thống khai sáng bởi Đạo Tín và Hoằng Nhẫn được gọi là Đông sơn tông, bởi cả hai người bắt đầu giáo hóa tại núi Đông sơn
Thần Tú ở phương Bắc thành lập Bắc tông Sự sử dụng công án được phát sinh từ truyền thống Bắc tông này
Huệ Năng ở phương Nam thành lập Nam tông Kỳ thực chính đệ tử của Huệ Năng là Thần Hội (668 - 760) mới thực là người thành lập Nam tông Phần lớn những tài liệu về lịch sử thiền đều do Nam tông cung cấp, bởi vì truyền thống Bắc tông suy tàn sau đó chỉ vài thế hệ Nam tông khác Bắc tông ở chỗ khai thác triệt để ý niệm “đốn ngộ” trong khi Bắc tông nghiêng về “tiệm giáo” Lúc bấy giờ thanh thế của truyền thống đã lớn, Thần Hội cảm thấy chủ yếu phải dựng lại lịch sử của truyền thống thiền
Do đó, sử dụng những sự kiện lịch sử, Thần Hội đã vạch ra truyền thống thiền Ấn Độ với 28 vị tổ sư bắt đầu là Ca Diếp tổ thứ nhất cho đến Bồ Đề Đạt
Ma tổ thứ 28, và truyền thống thiền Trung Hoa với 6 vị tổ bắt đầu từ Bồ Đề Đạt
Ma, qua Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn đến Huệ Năng, tức là thầy của chính mình
Theo Thần Hội chính Bồ Đề Đạt Ma là người đầu tiên đã trao truyền Kinh
“Lăng già” cho Huệ Khả Tăng Xán, tác giả Tín Tâm Minh, là đệ tam tổ; Đạo Tín trở thành đệ tứ tổ; Hoằng Nhẫn đệ ngũ tổ; Huệ Năng đệ lục tổ, và chính Thần Hội là người chính thức thừa kế thiền
Những sự kiện của Nam tông cố nhiên nhắm tới tạo uy tín truyền thống cho Nam tông và những điều nói về Bắc tông do đó hẳn nhiên là không phản chiếu đầy đủ sự thực Thần Hội đả kích Bắc tông vì Bắc tông lúc đó rất thịnh hành và khuynh hướng tiệm giáo của Bắc tông lúc đó đang gây trở ngại cho Nam
Trang 19tông khá nhiều Bắc tông lại được giới vua quan ủng hộ; trong khi Nam tông chỉ được sự ủng hộ của giới Nho gia và Đạo gia Lúc này truyền thống được gọi là Đạt Ma tông Danh từ thiền tông vẫn chưa ra đời
Trong lúc đó tại núi Ngưu đầu, trong truyền thống Ngưu đầu do Pháp Trì thành lập, có Huyền Tố (668 - 752) nỗ lực xiển dương ý niệm "bất lập văn tự" Ý niệm này, cùng với phương pháp sử dụng công án do Bắc tông sáng tạo ảnh hưởng rất lớn tới các tông phái thiền về sau
Bắc tông tiêu trầm dần dần, trong khi Nam tông phát triển mạnh Sau Thần Hội, ta thấy có những cao tăng như Hy Thiên (700 - 790), Đạo Nhất (707 - 786) và Pháp Khâm (714 - 792) v.v Từ đó xuất hiện năm tông phái thiền nổi tiếng: Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn và Pháp Nhãn Những tông phái này sau được truyền sang Nhật Bản, Cao Ly và Việt Nam, thịnh hành nhất là hai phái Lâm Tế và Tào Động Sau Thần Hội, ngoài danh từ Đạt Ma tông, người ta còn gọi truyền thống thiền là Hà Trạch tông, vì Hà Trạch là nơi cư trú của Thần Hội Danh từ thiền tông xuất hiện trong thời đại cửa thiền sư Bách Trượng (739 - 808) người đã tạo ra pháp chế thiền môn, gọi là "Bách Trượng Thanh Quy" đưa sinh hoạt thiền tách ra độc lập với Luật Viện
Tại Trung Hoa, người ta có thể ghi dấu hai giai đoạn phát triển của thiền
tông Giai đoạn thứ nhất, tất cả tinh yếu của thiền, theo truyền tụng của lịch sử
thiền tông, được y cứ trên Kinh “Lăng già”, một bản kinh được nói là do Bồ Đề
Đạt Ma trao lại cho Huệ Khả Giai đoạn thứ hai, khởi đầu từ Huệ Năng, mà Kinh
“Kim cương” nghiễm nhiên trở thành địa vị then chốt
Tư tưởng chính trong Kinh “Lăng già” là nói về thánh trí tự chứng, tức là sự chứng ngộ nội tại của Phật Vì sự chứng ngộ đó vốn là siêu việt, nên trong chương mở đầu của bản Hán dịch của “Lăng già” bốn quyển kê khai 108 cú, nghĩa là tất cả những song quan luận, những mâu thuẫn nội tại của tư tưởng và ngôn ngữ; kết quả làm nổi bật sự bất lực của ngôn ngữ trước thực tại siêu việt Chứng ngộ của thiền, mà các ký sự và các ngữ lục của các thiền sư, cũng tương
Trang 20tự như thế Nhưng họ diễn tả một cách cụ thể hơn, chẳng hạn nói, ai ăn thì biết
no, ai uống thì tự mình biết đã khát
Tư tưởng của Kinh “Kim cương”, dưới con mắt của thiền tông, qua cơ duyên ngộ đạo của Lục Tổ Huệ Năng, được qui kết trong một câu thời danh của kinh: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” Nói cách khác, đó là tư tưởng vô trụ xứ trong nền triết học bát nhã Vô trụ xứ có thể được hiểu trên hai phương diện Về mặt trí tuệ, đó là cái thấy về bản tính không sinh, không diệt của vạn hữu Về mặt sinh hoạt thực tế, đó là lý tưởng Bồ tát đạo, không trụ sinh tử và không trụ niết bàn
Ở Việt Nam, nếu chúng ta căn cứ trên tính cách truyền thừa của hai dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông, cùng với sự liên hệ của chúng với thiền Trung Hoa, thì có thể cho rằng thiền của Tì Ni Đa Lưu Chi vốn trực tiếp chịu ảnh hưởng của Kinh “Lăng già” Sự kiện này không được ghi chép rõ trong các tài liệu của Việt Nam và của Trung Hoa Nhưng chúng ta suy luận từ chỗ ngài Tì Ni Đa Lưu Chi được truyền thừa từ tổ Tăng Xán, lúc mà thiền tông Trung Hoa chưa chuyển hướng sang trọng điểm vô trụ xứ của Kinh “Kim cương” Đằng khác, căn cứ trên lối điểm đạo giữa Tăng Xán và Tì Ni Đa Lưu Chi cũng có thể chứng tỏ điều đó
Dòng Vô Ngôn Thông được truyền thừa từ Bách Trượng tức là sau Huệ Năng, và đó là lúc thiền Trung Hoa đã lấy Kinh “Kim cương” làm nền tảng Sau này chúng ta sẽ thấy cả hai dòng thiền tại Việt Nam đã lần hồi tự tìm ra những phương pháp hành thiền riêng biệt, trong liên hệ như thế nào giữa hai kinh điển
“Lăng già”ø và “Kim cương”
Khởi thủy, tông chỉ của thiền Trung Hoa được ghi nhận với chủ trương trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật Để phân biệt với thiền được phát triển từ Huệ Năng về sau, người ta gọi giai đoạn sơ khởi này là thiền trực chỉ Tuy nhiên, nói chung, trước hay sau Huệ Năng, thiền vẫn là trực chỉ Nhưng nếu căn cứ trên Kinh “Lăng già” mà phô diễn, thì trực chỉ đó mang tính chất “tiệm” nhiều hơn
Trang 21“đốn” nổi bật rõ rệt Đằng khác, trước Huệ Năng, tông chỉ của thiền vẫn chỉ là hệ luận rút ra từ các kinh điển đại thừa Nhưng từ Huệ Năng về sau, người ta mới thấy có sự tự lập, với một tông chỉ độc đáo không cần đến các quan điểm triết lý căn bản của đại thừa Do đó, thiền tông từ bấy giờ đã không sử dụng các thuật ngữ của đại thừa đúng theo quán lệ của chúng Đây là điều có thể thấy rõ nơi các ngữ lục của Thần Hội
Thần Hội là một đệ tử của Huệ Năng, nhưng hình như chưa được chứng ngộ khi Huệ Năng còn tại thế Dù vậy, trong việc thiết lập cho thiền một tông chỉ đứng ngoài đại thừa cố hữu, phải nói là do công trình vận động của Thần Hội Nói là vận động, vì sau khi Huệ Năng mất, chủ trương đốn ngộ không được phổ biến Quả thực Huệ Năng được thầy truyền y bát, nhưng uy tín không đương nổi với Thần Tú chủ trương tiệm ngộ Với đại danh “lưỡng kinh pháp chủ, tam đế quốc sư” người ta có thể thấy địa vị lớn của Thần Tú cho đến cả sau khi Huệ Năng đã tịch Phải đợi khi Thần Hội mở các cuộc tranh luận công khai với các môn đệ tiệm ngộ của Thần Tú và khuất phục họ, bấy giờ tông chỉ thiền đốn ngộ của Huệ Năng mới bắt đầu hưng thịnh
1.2.1 Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi – sơ lược lịch sử, những tư tưởng cơ bản và ảnh hưởng của nó đối với sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu Phật sử Việt Nam đều cho rằng Phật giáo đã có mặt ở nước ta vào khoảng thế kỷ II với trung tâm Phật giáo lớn tên là Luy Lâu, thông qua vai trò truyền đạo của các vị tăng sư người Ấn theo thuyền buôn đến Giao Chỉ Đây là thời kỳ mà Phật giáo Ấn Độ đang cố gắng từng bước để thích ứng và cắm rễ vào mảnh đất tinh thần, tâm linh của dân tộc Việt Nam…
Tác giả Nguyễn Lang trong “Việt Nam Phật giáo sử luận” cho rằng, các tu
sĩ theo những đoàn thuyền buôn Ấn Độ là những người đầu tiên mang đạo Phật đến nước ta Thậm chí Nguyễn Tài Thư trong tác phẩm “Lịch sử phật giáo Việt Nam” đã khẳng định “…Việt Nam ngay từ thời rất xưa đã được các cao tăng Ấn
Trang 22Độ đến truyền giáo trực tiếp, và thời điểm đó có thể là xưa hơn thời điểm Phật giáo vào miền Nam Trung Hoa khá nhiều” [47, 21]
Nay xét theo thời gian của lịch sử dân tộc, Vào năm 580, Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam, trụ trì ở chùa Pháp vân, lập nên dòng thiền đầu tiên ở nước
ta mang tên ông và ở đây giáo hóa cho đến khi mất (594) Điều đáng chú ý là trước khi đến gặp tổ Tăng Xán, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã là một đạo sỹ Bàlamôn, nên đi tìm giác ngộ, tâm ấn Phật Sau khi đã đi khắp nơi trên miền đất Ấn, chắc
chắn ông đã ảnh hưởng triết lý đại thừa đang rất thịnh hành thời đó với triết lý
trung quán của Nagarjuna (Long Thọ Bồ Tát) và triết lý duy thức của vasubandhu
(Thế Thân Bồ Tát), nên ông đã mang lại cho thiền phái của mình màu sắc Phật giáo Ấn Độ Đó là sự im lặng hùng biện, sự thầm lặng trong vận động “từ Phật tồ đến Bohdhirama (Bồ Đề Đạt Ma) là sự phủ định toàn diện của Long Thọ Bồ Tát và sự đồng nhất tâm với Phật của Vasubandhu và Vinitaruci được đắc pháp trong tinh thần đặc biệt đó: Thầy thì ngồi yên không nói, mà trò thì hốt nhiên đạt ngộ” Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi này tồn tại ở nước ta trải suốt hơn sáu thế kỷ (580 - 1213) Tư tưởng của Tỳ Ni Đa Lưu Chi chịu ảnh hưởng triết lý “trung quán” của Long Thọ Bồ Tát (Nagarjuna) ở Ấn Độ, trong đó nổi bật lên quan điểm về “tâm ấn”, “chân thân”, “chân tâm”, “như như”, “chân tính”, “pháp tính”, “diệu bản”,
“hư vô”, “vô vi” Đối với người thường, những bản thể này vô cùng bí ẩn, huyền diệu, bản thể này cũng không thể dùng ngôn ngữ, văn tự mà miêu tả được
Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi cho rằng bản thể và hiện tượng có liên quan mật thiết với nhau, không tách rời nhau giống như nước và sóng, sóng từ nước mà
ra rồi lại trở về với nước Thiền sư Y Sơn viết:
“Chân thân thành vạn tượng Vạn tượng tức chân thân” [44, 244]
Thế giới các sự vật, hiện tượng (vạn tượng) thiên sai vạn biệt đều từ bản thể “chân thân” mà ra Vạn tượng là sự phản ánh, thể hiện của bản thể “chân thân” Tuy nhiên, ở thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi chưa dùng khái niệm “bản thể”
Trang 23mà họ mới chỉ dùng khái niệm “diệu bản” để chỉ bản thể, như Thiền sư Chân Không (1046 - 1100) đã nói:
“Diệu bản hư vô nhật nhật khoa Hòa phong xuy khởi biến sa bà”
(Hư vô diệu thể vẫn khoe bày Khắp cõi sa bà, gió dịu bay) Quan niệm về bản thể hư (vô) sau này được Trần Thái Tông phát triển thành học thuyết của mình trong tác phẩm “Khóa hư lục” Bản thể “diệu bản” này còn là “như như” (không thiếu, không thừa, không đi, không lại, không tới không lui, không được không mất, không xa không gần, bất sinh bất diệt) như thế là như thế, và không thể dùng ngôn ngữ, văn tự, thanh sắc mà mô tả được Điều này thể hiện rõ nhất trong khái niệm “tâm ấn” mà Tì Ni Đa Lưu Chi nói với học trò của mình - Pháp Hiền: “Tâm ấn ấy tràn đầu thái hư, không thiếu không thừa, không đi không tới, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường, chẳng đoạn, vốn không ở chỗ sinh, cũng không ở chỗ diệt, không lìa xa mà cũng chẳng không lìa xa Vì phải đối lập với cái duyên hư vọng mà phải giả đặt ra các tên như vậy”
“Tâm ấn” tức là muốn nói đến cái tâm đã hoàn toàn vắng lặng, tĩnh tại đã được ấn chứng tự tính củøa nó Đó chính là “chân tâm” hay “vô tâm” của Bohdhirama Về mặt nội dung, “tâm ấn” đồng nhất với “không” của Long Thọ Bồ Tát, có nghĩa nó chỉ là kết quả của hàng loạt phủ định và người ta chỉ có thể định nghĩa nó bằng một loạt những phủ định đó như Long Thọ Bồ Tát định nghĩa
“không” là:
“Không sinh, không diệt, Không đến, không đi, Không đồng nhất, không dị biệt, Không có, không không” [32, 8]
Trang 24Như vậy, cái “tâm” còn được gọi là “chân tâm” - là cái đối lập với
“vọng” Bản chất của cái tâm này là tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, không sinh không diệt, không đi không đến, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn , là cái tiềm ẩn trong bản thân mỗi người Việc định nghĩa “tâm ấn” bằng một loạt những phủ định như thế là ngụ ý rằng cái chân tâm ấy là thật có, nhưng nó là cái không thể dùng ngôn ngữ bình thường mà chỉ ra được hay nói khác đi ngôn ngữ đành bất lực trong việc trực tả nó, mà chỉ có thể hiểu được cái “tâm ấn” ấy khi đã đạt đến trạng thái giác ngộ mà thôi
Quan điểm trọng tâm và xuyên suốt dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi là vươn tới bản chất của sự giác ngộ Kinh “Tượng đầu tịnh xá” mà Tì Ni Đa Lưu Chi rất
ưa thích, thấu hiểu, ông đã dịch ra để làm căn bản cho sự hành thiền Kinh nói về bản chất của sự giác ngộ như sau:
“Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: bồ đề siêu việt tam giới, siêu việt ngôn ngữ, siêu việt văn tự, không can địa điểm nương tựa Lại nữa Văn Thù, an trú vào nơi không an trú, tức là an trú ở bồ đề, an trú ở nơi không chấp trước, tức là an trú ở bồ đề, an trú ở pháp không tức là an trú ở bồ đề” [31, 125]
Cũng như Phật giáo, thiền phái này cho rằng mỗi cá nhân xuất hiện là do nghiệp lực, nghiệp duyên Thiền sư Y Sơn trước khi chết, nghiệp duyên đã hết nên ông nói: “ta không trở lại cõi này nữa” Sở dĩ có nghiệp là do con người vô minh (thiếu sự hiểu biết), chính vô minh làm con người tăm tối, hành động và đau khổ triền miên Thiền sư Viên Học (1073 -1136 thế hệ thứ 17) nói:
“Sáu thức tối tăm khổ đêm dài Vô minh che đậy mãi mê say” [44, 236]
Chính vì vô minh mà mọi người đều không biết rằng mình có phật tính Chính vì vô minh mà thế giới vô thường cứ tưởng là hữu thường, giả cứ tưởng là chân, cuộn dây chừng lúc chập choạng tối cứ tưởng là con rắn, thân thể con người cứ tưởng là thuộc về ta mãi mãi Họ không hiểu mọi sự vật hiện tượng đều là hư ảo, mọi pháp giới ở thế gian đều là không thực, như tia sáng lóe lên rồi chợt tắt
Trang 25Thiền sư Vạn Hạnh nói: “Thân như bóng chớp có rồi không” [44, 191] Thân thể con người thật phù du, ngắn ngũi chẳng khác gì bóng chớp trên bầu trời, bọt nước, gợn sóng trên biển cả
Qua đây, ta có thể nhận xét các thiền sư của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi không trực tiếp bàn đến “Tứ diệu đế”, “Bát chánh đạo”, “Thập nhị nhân duyên”,
… mà họ chỉ nói lên những gì mà mình chứng nghiệm Mục đích của các thiền sư là giác ngộ, nhưng để đi đến giác ngộ thì đầu tiên họ phải thanh lọc thân tâm, cái mà Phật gọi là giới
Một tư tưởng cơ bản khác của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi là quan điểm
“truyền tâm ấn” Ở đây, cần phải hiểu thuật ngữ “truyền tâm ấn” trong thiền tông là đề cập đến việc lấy tâm truyền tâm mà không qua bất kỳ một người hay một vật trung gian nào cả Thầy và trò đạt đến trạng thái thấu suốt, trực kiến nhau qua “tâm”
Đặc điểm nổi bật của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đó là sự kết hợp hai yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau: thiền và mật trên cơ sở nòng cốt là thiền Chính yếu tố mật giáo đã làm cho khuynh hướng Phật giáo Ấn Độ trong thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi gần gũi hơn với tín ngưỡng dân gian, dễ được mọi người chấp nhận hơn như: tín ngưỡng phong thủy, sấm ký, cầu đảo, điều phục tà ma, bốc thuốc chữa bệnh vốn được nhân dân tin tưởng và rất thịnh hành ở nước ta thời bấy giờ Có thể nói, trường phái Tì Ni Đa Lưu Chi chủ yếu mang màu sắc Phật giáo Ấn Độâ và quá trình truyền thừa của nó đã kết hợp một cách có chọn lọc dịch pháp với Phật pháp tạo nên sắc thái mới cho thiền tông Việt Nam
1.2.2 Thiền phái Vô Ngôn Thông – sơ lược lịch sử, những tư tưởng cơ bản và ảnh hưởng của nó đối với sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Tại Việt Nam, theo “Thiền uyển tập anh”, vào năm 820 có một vị thiền sư người Trung Quốc tên là Vô Ngôn Thông sang Việt Nam sáng lập nên ở nước ta dòng thiền thứ hai mang tên ông - thiền phái Vô Ngôn Thông Thiền phái Vô
Trang 26Ngôn Thông chịu ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng, nghi lễ và tổ chức tăng viện của thiền Nam tông Trung Quốc
Khi bàn về bản thể, các thiền sư của thiền phái Vô Ngôn Thông đã dùng các từ khác nhau như: diệu thể, thân tâm, không tịch, hư không, phật tính,… thiền
sư Đạo Huệ(thế hệ thứ 9) nói:
“Sắc thân dữ diệu thể Bất hợp bất phân ly Nhược nhân yếu phân biệt Lô trung hoa nhất chi”
(Sắc thân và diệu thể Chẳng hợp chẳng lìa xa Kẻ nào toan tách biệt Lò lửa một cành hoa)
Ở đây bản thể (diệu thể) và thế giới hiện tượng (sắc thân) liên hệ mật thiết và không tách rời nhau Chúng không hợp nhất làm một nhưng cũng không phân ly làm hai Mặt khác, mặc dù là hai nhưng chúng lại là một và nếu có ai toan tính muốn phân biệt thì điều đó cũng vô lý cũng như cành hoa không thể mọc trong lò lửa đỏ
Thiền sư Cửu Chỉ thì cho rằng bản thể là “thân tâm” bản ngưng tịch Thân tâm ở đây chính là thân của tâm, điều đó suy rộng ra cũng có nghĩa là cái tâm thôi Khi giác ngộ thì cái tâm vốn ngưng động này sẽ thần thông biến hóa hiện chư tướng tức mọi sự vật hiện tượng Ông nói:
“Giác liễu thân tâm bản ngưng tịch Thần thông biến hóa hiện chư tướng Hữu vi, vô vi tòng thứ xuất Hà sa thế giới bất khả lượng” [44, 79]
Trang 27Ở đây muốn nói rằng khi đã giác ngộ được “thân tâm” thì tuệ nhãn khai mở Khi đã có tuệ nhãn thì có biến hóa linh thông như thế nào đi chăng nữa cũng có thể thấy rõ, hiển bày thực tướng
Thiền sư Bản Tịnh thì cho rằng bản thể là “không tịch” Ông cho rằng thân thể hư huyễn của con người vốn từ bản thể này sinh ra Điều đó cũng giống như từ trong gương hiện ra bóng hình, hiện ra hình tướng Nếu hiểu ra thì hình tượng đó tất thảy nhất thiết đều là không và chỉ khi đó hiễn thân mới chứng được thực tướng Ông viết:
“Huyễn thân bản tự không tịch sinh
Do như kính trung xuất hình tượng Hình tượng giác liễu nhất thiết không Huyễn thân tu du chứng thực tướng”
(Thân huyễn vốn từ không tịch sinh Dường tựa trong gương hiện bóng hình Giác ngộ hình tượng là không huyễn Thân huyễn phút giây chứng thực tướng) [44, 109]
Khi bàn về lẽ thường của sự sống và cái chết, các thiền sư của thiền phái Vô Ngôn Thông cho rằng cái chết như là một thế tục, lẽ thường, không nên hoang mang sợ sệt trước cái chết Họ biết trước được cái chết vì thế trước khi chết bao giờ họ cũng có ý thức làm tròn bổn phận với thế hệ sau, họ thường an nhiên thanh thản đọc kệ để rồi nhập tịch một cách an nhàn như lá và hoa rơi nhẹ nhàng về cội Thiền sư Thiên Hội cho rằng: “Sống chết là việc lớn, cần phải suy ngẫm cho thấu đáo” Vì do vô minh che lắp nên người ta tham sống sợ chết, tham sinh, úy tử đó là lẽ thường ở đời Sinh tử sự đại, cho nên sinh tử luân hồi được ví như biển lớn, như rừng rậm hoang vu, lạc vào đây thì khó trở ra Sinh tử như vòng bánh xe quay vòng mãi mãi chẳng ngừng, nó như dòng chảy cuốn chúng sinh vào mà chẳng buông tha, nó như đêm dài, vực thẳm, mây đen bao bọc lấy chúng sinh mãi không ngừng Sinh tử như là hư không mà hư không thì không thể diệt, vì thế
Trang 28mà Đạo Huệ đã nói: “Sinh không từ đâu tới, tử chẳng về đâu”, ta không thể biết từ đâu sinh tới cũng không thể biết khi tử sẽ về đâu, chỉ biết rằng sinh và tử hiển nhiên tồn thực [44, 127]
Như vậy, có thể khẳng định những tư tưởng cơ bản của thiền phái Vô Ngôn Thông là những quan niệm về “tâm địa” và “đốn ngộ” Khái niệm “tâm địa” đã được nói đến nhiều trong Kinh “Lăng nghiêm” và Kinh “Tâm địa quán” Quan niệm về “tâm địa” là sự kế thừa các quan niệm về “vô tâm” của Bồ Đề Đạt Ma và “vô niệm” của Lục Tổ Huệ Năng “Tâm địa” ở đây chính là tâm bản nguyên, là tự tánh, phật tính thanh tịnh, tuyệt đối, thường hằng vốân có ở khắp mọi nơi và có ở mỗi người Nó chứa đựng và viên đồng hết thảy Tất cả các sự vật, hiện tượng của thế giới này đều do tạo tác của tâm sai biệt mà ra Trong bài kệ của Vô Ngôn Thông trước khi quy tịch, tức Nam Nhạc Hoài Nhượng, mà ông luôn ghi nhớ trong lòng đến nỗi khi qua đời, ông nói lại với cảm thành:
“Nhất thiết chư pháp Giai tòng tâm sinh Tâm vô sở sinh Pháp vô sở trụ” [44, 30]
Như vậy, mọi “pháp”, tức là vạn vật đều từ “tâm” mà sinh ra, tất cả đều phụ thuộc vào “tâm” Nếu “tâm” không có chỗ sinh thì “pháp” cũng không có chỗ trụ Chính cái “tâm” vọng động, đối đãi, phân biệt đã khởi nên vạn vật trong trần thế, làm biến dạng bản tâm, che lấp đi cái tâm bản nguyên trong sáng ấy, cho nên muốn quay trở về cái “tâm” ban đầu cần phải cởi bỏ, buông xả tất cả những gì che lấp, bao phủ, làm biến dạng tâm địa, không cần tới bất kỳ một sự ấân chứng nào mà nó tự nhiên hiển lộ, bừng sáng khi con người đạt đến trạng thái
“đốn ngộ”
Về cơ bản, khái niệm “tâm ấn” của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi và “tâm địa” của trường phái Vô Ngôn Thông là giống nhau, nhưng chúng có những điểm khác biệt Nếu thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi đến với “tâm ấn” bằng một loạt các
Trang 29phủ định làm hiển lộ cái không, thì phái Vô Ngôn Thông đạt đến “tâm địa” bằng sự cởi bỏ, buông xuống những gì che lấp, bao phủ làm biến dạng cái tâm địa, biến nó thành cái “tâm” sai biệt, “tâm” vọng động… Một đằng đạt đến tâm ấn bằng quá trình phủ định cho đến khi không thể phủ định và không còn cái gì để phủ định nữa, còn một đằng vươn tới tâm địa bản nguyên bằng chính tâm địa mà không cần khuôn dấu hoặc ấn chứng nào cả, nó tự nhiên hiển lộ, bừng sáng như bản thân Vô Ngôn Thông đã tự nhiên đạt tới khi nghe câu nói của thiền sư Bách Trượng (724 - 814): “mặt đất của tâm vốn không bị ngăn che, mặt trời trí tuệ tự nhiên bừng sáng (tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu)”
Liên quan đến sự khác biệt này là khái niệm cực kỳ quan trọng của thiền phái Vô Ngôn Thông – “đốn ngộ” Quan niệm về “đốn ngộ” là một ý tưởng đặc sắc của Lục Tổ Huệ Năng và chỉ đến Huệ Năng thì khái niệm “đốn ngộ” mới thực sự chói sáng và phát triển rực rỡ trên mãnh đất Trung Hoa Theo Huệ Năng,
“đốn ngộ” là sự trực nhận về thực tại tuyệt đối, nó là bước nhảy định mệnh và xuất thần, tức thời như ánh chớp Nó trực tiếp không thông qua bất kỳ khâu trung gian nào Một con người đạt ngộ có thể nhận diện bằng nhiều dấu hiệu, trước hết là dấu hiệu trực tại, không bị lệ thuộc và không bị khống chế bởi những thành bại, vui buồn, mừng sợ và cuối cùng là dấu hiệu sức mạnh của đức điềm tĩnh, sự
im lặng và phong thái ung dung
Theo trường phái Vô Ngôn Thông, nếu “đốn ngộ” là nắm bắt được cái tâm địa trong sáng, tự tại, tìm tàng, là sự khai mở, buông bỏ mọi sự che lấp, thì về nguyên tắc sự “đốn ngộ” này phải được chính hành giả thực hiện chứ không thể chấp nhận của người khác Tức là sự “đốn ngộ” không có đối tượng trao và nhận như Vô Ngôn Thông nói: “Nếu thấy mình có đắc đạo do sự truyền thừa của kẻ khác thì sự đắc đạo đó không chân thật… sự trao truyền tâm ấn của Phật và của Tổ phải được hiểu như vậy” [31, 180]
Nếu như thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi có ảnh hưởng yếu tố của Mật giáo thì thiền phái Vô Ngôn Thông lại ảnh hưởng yếu tố của Tịnh độ giáo, dùng
Trang 30phương pháp quán niệm, nghĩa là chủ trương niệm Phật để đạt tới “nhất tâm bất loạn”, đạt đến cõi niết bàn Chủ trương quán niệm ở thiền phái Vô Ngôn Thông còn là niệm tụng với tất cả cái tâm và lời nói Như vậy, những đặc trưng chủ yếu của trường phái Vô Ngôn Thông là sự phát triển làm phong phú hơn khái niệm
“tâm”, đặt cơ sở lý luận cho khuynh hướng triết lý hướng nội và biện tâm của Trần Thái Tông Đây cũng là phương pháp tu tập thiền định về sau được Trần Thái Tông kế thừa và phát triển
1.2.3 Thiền phái Thảo Đường và ảnh hưởng của nĩ đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tơng
Trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam, vấn đề mà mọi người đều thừa nhận và khẳng định đó là tính chất dân tộc của Phật giáo Từ ngay trong bản thân Phật giáo, tính tùy thuận đã có Tùy vùng đất, tùy địa phương, tùy dân tộc mà có sự biến đổi Tính mềm dẻo, dễ dàng dung hợp với mọi hoàn cảnh đã là một trong những yếu tố nội sinh góp phần làm cho Phật giáo Việt Nam có được những đặc điểm, sắc thái riêng
Trải qua các triều đại, đạo Phật đều thể hiện nét riêng biệt đặc thù và cả trong ba yếu tố cấu thành của Phật giáo Việt Nam là thiền tông, tịnh độ và mật tông và cũng tuy từng thời điểm khác nhau mà thể hiện yếu tố này nhiều hay ít hơn yếu tố khác Từ đó cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quy định bản chất của Phật giáo Việt Nam Trong lịch sử tuy rằng có những giai đoạn phát triển rực rỡ của Phật giáo, trong đó có yếu tố mật tông vượt lên trên, với nhà sư nổi tiếng Từ Đạo Hạnh nhưng phải thừa nhận rằng trong suốt tiến trình lịch sử, thiền tông vẫn là yếu tố, là trường phái chủ đạo mang tính bao trùm, và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi hoạt động, sinh hoạt của Phật giáo Việt Nam
Nhìn lại lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, chúng ta thấy rằng, các triều đại trước nhà Lý tồn tại không lâu Chỉ đến khi nhà Lý lên ngôi thì nền cai quản đất nước mới đạt được trong khoảng thời gian tương đối lâu dài với sự
Trang 31thống nhất độc lập về lãnh thổ, kinh tế, chính trị, văn hóa trải từ 1010 đến năm
1225 Và chính điều này lại đăït ra một đòi hỏi bức thiết về một hệ tư tưởng độc lập làm chỗ dựa cho nhà nước Đại Việt lúc bấy giờ Trong khi đó, hai thiền phái Phật giáo Việt Nam lúc này là thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi mang màu sắc của Phật giáo Ấn Độ, và thiền phái Vô Ngôn Thông mang màu sắc của Phật giáo Trung Quốc, đều không đáp ứng được nhu cầu trên Trước tình hình đó, Lý Thánh Tông (1023 -1072) đã lập nên một thiền phái thứ ba ở nước ta mang tên Thảo Đường (tên một vị thiền sư người Trung Hoa sống khách ở đất Chiêm Thành, sau được Lý Thánh Tông phong làm Quốc sư) - một hệ tư tưởng tổng hợp sao cho ngang tầm với thực tiễn xã hội thời bấy giờ, theo khuynh hướng có tính chất tổng hợp, kết hợp giữa các yếu tố Thiền, Tịnh, Nho, Lão Sự ra đời của thiền phái Thảo Đường đã phản ánh rõ nét khuynh hướng “hòa đồng tam giáo” trên cơ sở lấy Phật giáo làm xương sống, trụ cột cho sự dung hợp đó
Tài liệu về thiền phái Thảo đường quá mỏng, ít ỏi, ta không thể xác định rõ những tư tưởng triết lý căn bản Sử sách chỉ ghi lại một cách vắn tắt năm thế hệ truyền thừa với 19 thành viên Trong năm thế hệ chỉ có 10 vị là người xuất gia, còn lại là cư sĩ mà phần lớn là các vua, quan giữ những trong trách như vua Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, các quan như Đỗ Vũ, Cao Ích, v.v Thiền phái Thảo đường chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, song nó có ảnh hưởng đến thiền phái Trúc lâm và tư tưởng triết học Trần Thái Tông ở hai điểm căn bản:
Thứ nhất, là khuynh hướng hòa đồng “tam giáo” Rất nhiều thiền sư am
tường sâu sắc tam giáo và có ý thức dung hợp làm một các ý thức hệ Các thiền
sư đã giảng dạy Nho giáo với những quan điểm tinh túy nhất trong khoa học xã hội và chính trị của Nho giáo
Biểu hiện rõ rệt nhất là các vua lý đề cao cả tam giáo, như năm 1070 vua Lý Thái Tông lập văn miếu ở kinh thành và đúc tượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ Phối, vẽ hình thất thập nhị hiền để tế lễ và sai Hoàng thái tử đến đó học tập
Trang 32Năm 1076, vua Lý Nhân Tông lập nhà Quốc tử giám, dùng người có văn học trong đám văn thần bổ nhiệm vào trông coi, triều Lý lần lượt mở các khoa thi minh kinh bác học và Nho học vào các năm 1070, 1075, 1076…
Thứ hai, thiền phái Thảo Đường còn đi theo khuynh hướng thiên trọng tri
thức và triết lý thơ ca Các vị thiền sư thuộc thiền phái này thường thể hiện tư tưởng triết lý thiền của mình qua hình thức thơ ca, vừa thi vị, phóng khoáng, tiêu dao, vừa súc tích, hàm ẩn nhiều ý tứ thâm sâu, huyền diệu Chính nét đặc sắc này đã tạo nên gần như một phong cách truyền thống cho thiền học Việt Nam ở các giai đoạn sau
Tóm lại, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường mặc dù có nhiều điểm khác nhau về giáo lý, cách tu tập cũng như vai trò của từng thiền phái trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước, thế nhưng, tựu trung lại, giữa ba thiền phái trên cũng có một số điểm chung nhất định, đó là tất cả đều dựa trên những giáo lý cơ bản của thiền tông để luận bàn, phát triển, làm sáng tỏ và phong phú hơn những vấn đề như: tâm, Phật, kiến tính, sinh tử, đốn ngộ… Và trên tất cả, đó chính là cả ba thiền phái này đều mang tinh thần nhập thế tích cực, hòa mình vào cuộc sống để giúp nước, giúp đời Cuối thời Lý, cả ba thiền phái này đều mất dần, trên góc độ nào đó, ta có thể nói đó là sự dung hợp, hòa lẫn tất cả những sự tương đồng và dị biệt của cả ba, để thống nhất trong một thiền phái duy nhất đời Trần – thiền Phái Trúc lâm Đồng thời, đây cũng chính là những tiền đề tư tưởng không thể thiếu được trong sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông sau này
1.3 Ảnh hưởng của Nho giáo, Đạo giáo đến sự hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Theo “Đại việt sử ký toàn thư”, vào thời Tây Hán, khoảng năm 110 trước công nguyên đến năm 39 sau công nguyên, hai viên thái thú Tích Quang và Nhâm Diên đã “dựng học hiệu, dạy lễ nghĩa” tại quận Giao Chỉ và Cửu chân Nho giáo bắt đầu được truyền vào Việt Nam từ đó Tuy nhiên, Nho giáo khi du
Trang 33nhập vào Việt Nam không còn là Nho giáo Khổng – Mạnh nguyên thủy mà là Nho giáo đã được Hán Nho cải tạo cho phù hợp với chế độ phong kiến trung ương tập quyền nhà Hán
Đạo giáo du nhập vào Việt Nam có lẽ cũng cùng thời gian với Nho giáo
Cơ sở lý luận của nó là học thuyết Lão Trang được ảnh hưởng nhiều trong công chúng với hai khuynh hướng Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng khi du nhập sang Việt Nam, ngoài những sắc thái chung, Đạo giáo Việt Nam cũng có những sắc thái riêng như: tín ngưỡng ma thuật, tư tưởng phiếm thần, thờ cúng,…
Một đặc điểm bao trùm của sự du nhập này là khi cả Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo du nhập vào Việt Nam thì không còn là Nho, Phật, Lão nguyên thủy mà phải có sự thay đổi cho phù hợp với “mảnh đất mới”, điều kiên mới
Trên cơ sở các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, mà nền tảng của nó là những truyền thống, cốt cách, bản sắc văn hóa, tinh thần dân tộc của dân tộc Việt Nam, gắn liền với những bước chuyển biến lớn trong lịch sử tư tưởng Việt Nam mà nảy sinh nhu cầu khách quan là dung hợp tam giáo với nhiều hình thức biểu hiện với tính chất, khuynh hướng khác nhau
Xã hội đời Trần là một trong những giai đoạn phát triển đặc biệt trong lịch sử Việt Nam với sứ mạng xây dựng và chiến đấu bảo vệ quyền độc lập, tự chủ của dân tộc Đây là nhiệm vụ lịch sử mang tính sống còn bao trùm, chi phối các nhiệm vụ khác Trong bối cảnh đó, mọi hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá dường như đều tập trung về một mục đích, quy tụ theo một ý chí thống nhất để giải quyết mâu thuẫn chủ yếu - mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với quân xâm lược Nguyên - Mông Đó chính là nguồn gốc xã hội quan trọng nhất, giữ vai trò quyết định làm xuất hiện hiện tượng tam giáo đồng nguyên đời Trần (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo trong tổ hợp tư tưởng) dựa trên những nhân tố chính trị và sau đó là truyền thống văn hoá dân tộc
Trang 34Để giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa dân tộc với quân xâm lược phương Bắc, cũng như để đoàn kết được toàn xã hội, để có được lời thề “sát thát” và tiếng thét “quyết đánh” đầy hào khí của toàn quân, toàn dân, nhà Trần cần phải có một bước chuyển lớn về mặt tư tưởng - một bước chuyển thấm đẫm tinh thần
“thân dân, khoan dung, cởi mở, dân chủ” Bước chuyển tư tưởng trong giai đoạn này đã đạt đến trình độ mới với những giá trị, chất liệu và diện mạo riêng mà người đương thời gọi là chất: “Đại Việt” [64, 358] Bước chuyển tư tưởng trên là kết quả của sự dung hợp tam giáo trong môi trường văn hóa “thân dân, khoan dung, cởi mở, dân chủ” vì vậy, “tam giáo đồng nguyên” đời Trần không phải là sự vận động tự thân, nguồn gốc, động lực của nó nằm ở những nhân tố trần tục - chính trị và sau đó là văn hóa
Bước chuyển tư tưởng thời Trần có sự tham gia, góp phần của triết học, tôn giáo, đó là làm sâu sắc hơn quan điểm về thế giới, con người, chính trị, quân sự, ngoại giao, đồng thời mang lại cảm hứng vô tận cho nền thơ ca đời Trần Đây cũng là thời kỳ xuất hiện những nhà tư tưởng lớn như: Trần Thái Tông (1218 - 1277) mà triết lý của Ông được viết ra như máu chảy đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên từng trang giấy Ông là nhà tư tưởng, nhà chính trị biết vận dung tam giáo trong việc quản lý xã hội, mặc dù Ông là tập đại thành đầu tiên của Phật giáo Việt Nam, là người đặt nền móng cho thiền phái Trúc lâm Việt Nam, song Ông lại rất uyên bác trong triết học và văn học Trung Hoa Sự dung hợp tam giáo
ở Trần Thái Tông biểu hiện rõ nhất trong tác phẩm triết học Phật giáo nổi tiếng:
“Khoá hư lục”, một sự pha trộn các quan niệm của Phật giáo, Nho giáo và Đạo
giáo Ví dụ, trong bài “Kệ bốn núi” (tứ sơn), ông đã dùng rất nhiều thuật ngữ Nho
giáo để diễn đạt quan điểm Phật giáo như: tam tài, thác thược, bút tảo, thiên quân, trịch quả, tang du, v.v [65, 42]
“Tam giáo đồng nguyên” đời Trần là sự dung hợp ba hệ tư tưởng có mục đích, tính chất, khuynh hướng khác nhau đã được mềm hóa bởi truyền thống văn hóa Việt Nam và chịu sự qui định của nhân tố chính trị đương thời Thực chất là
Trang 35mối quan hệ tương tác giữa hình thức này với đường lối chính trị nhà Trần Đây cũng chính là sự khác biệt giữa hình thức “tam giáo đồng nguyên” đời Trần với các hình thức còn lại Thời kỳ nhà Lý, “tam giáo đồng nguyên” cũng diễn ra và triết học Phật giáo cũng có vai trò là hạt nhân trung tâm hút và sắp xếp các yếu tố, bộ phận của các hệ tư tưởng, tôn giáo khác vào tổ hợp mới “Tam giáo đồng nguyên” đời Trần về cấu trúc không khác là mấy, song triết học Phật giáo đời Trần với tư cách là hạt nhân trung tâm của tổ hợp đã khác về chất Triết học Phật giáo đời Lý vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng từ trường phái mật tông, thiên về pháp thuật chữa bệnh, thần chú, cầu đảo, từ vua quan đến thường dân đều mộ đạo Phật nhưng vẫn thích, tin vào điềm lành, tin vào những điều thần bí, sức mạnh siêu nhiên Họ sùng kính các nhà sư tinh thông pháp thuật như Từ Đạo Hạnh niệm thần chú đánh chết Đại Điên, tự mình hóa thân, đầu thai sang kiếp khác [33 - 300, 326, 332] Sư Minh Không thì dùng pháp thuật chữa bệnh nan y, cầu đảo mưa, nắng rất linh nghiệm [33 - 300, 326, 332]
Triết học Phật giáo đời Trần dựa trên nền tảng thiền học, tập trung vào những vấn đề bản thể luận như : “tâm” (tâm vô trụ, tâm tự tính, tâm thường nhật v.v ) Chú trọng bàn đến cái bản thể uyên nguyên nhất, cái khởi thủy của toàn bộ thế giới, cái bản chất của vạn vật, thế giới quan thiền học đời Trần đã tìm thấy điểm chung với thế giới quan của Nho giáo, Đạo giáo rồi Các khái niệm “chân không”, “thái cực”, “đạo” đã cùng nhau bước qua cái vỏ ngôn từ để đồng nguyên về tư duy Đó là thế giới quan mang tính chất tự nhiên, thuần phác chứa đựng phép biện chứng của “sắc, không”, “lý, khí”, “âm, dương” Mặt khác, thế giới quan thiền học đời Trần lại được đặt trong môi trường tư tưởng khoan hòa, dân chủ hơn Thời Lý, xã hội chỉ coi trọng Phật giáo, Đạo giáo, nhà sư, đạo sĩ được
xem là trí thức đương thời Như Lý Nhân Tông từng ca ngợi :
“Giác Hải tâm như hải Thông Huyền đạo hựu huyền thần thông kiêm biến hóa
Trang 36nhất Phật nhất thần tiên.” [31, 201]
Nho giáo thời kỳ này chưa được coi trọng, không được bình đẳng, không có vai trò trong lĩnh vực chính trị, quyền lực Nghi án “hóa hổ” cho Lê Văn Thịnh - thủ khoa khoa thi “Minh kinh bác sĩ và Nho học tam trường” là một ví dụ Mãi đến cuối đời Lý, vua Lý Cao Tông mới mở khoa “thi tam giáo, cho đỗ xuất thân” (năm 1195)
Đời Trần, Nho giáo đã được coi trọng và có vị thế trong sinh hoạt chính trị Trần Thái Tông thừa nhận, khẳng định vị thế chính trị đó của Nho giáo:
“Cái phương tiện để mở lòng mê muội, cái đường lối soi rõ sống chết chính là đại giáo của đức Phật, giữ cán cân để làm mức cho hậu thế, nêu khuôn phép cho tương lai là trách nhiệm nặng nề của tiên thánh vậy” [65, 27]
Trong đó, chính trị, đạo đức là vấn đề trung tâm và cũng là thế mạnh của
tư tưởng Nho giáo, gồm các học thuyết chính danh, nhân trị, đức trị Mục đích của chúng là xây dựng một tôn ti trật tự, khuôn phép nghiêm ngặt trong xã hội với những chuẩn mực đạo đức bất biến và mẫu người quân tử thành thạo: tu, tề, trị, bình Nho giáo trong tổ hợp tư tưởng tam giáo dưới ảnh hưởng thế giới quan thiền học, đã bị tước đi tính chuẩn mực, hệ thống khuôn phép cứng nhắc và thái độ quan liêu Do vậy những nhân tố Nho giáo được dung hợp ở đây như tinh thần nhập thế tích cực, trách nhiệm trước vận mệnh quốc gia, dân tộc, tinh thần xả thân vì lý tưởng, tư tưởng nhân, nghĩa (hiểu theo nghĩa chung nhất của nó là lòng yêu người, giúp đỡ con người) của bậc nho sĩ đã được vận dụng mềm dẻo theo tinh thần khoan hòa, dân chủ Lòng khoan dung, độ lượng tha thứ của Trần Thái Tông đối với Trần Liễu đã làm tan chảy hệ thống tôn ti trật tự, xóa nhòa những qui tắc, lời thề, hình phạt nghiêm ngặt nhất của Nho giáo Trần Quốc Tuấn biết hi sinh chữ hiếu, biết gạt bỏ hiềm khích để đánh bại kẻ xâm lược, đưa đất nước vượt qua cơn nguy biến Tuệ Trung Thượng Sĩ tay không, ung dung vào trại giặc, trá hàng, lừa kẻ thù để quân ta có thời gian củng cố lực lượng Một tiêu biểu cho nho
sĩ, một đại diện cho Phật gia, nhưng đều chung tinh thần nhập thế tích cực, trách
Trang 37nhiệm trước vận mệnh quốc gia, dân tộc Thuyết chính danh, tôn ti trật tự trên dưới của Nho giáo rõ ràng không phù hợp với chủ trương khoan hòa, đoàn kết, dân chủ của triều đại nhà Trần, vì thế chúng không được nhắc tới trong tổ hợp tam giáo, mặc dù đó là cốt tủy tư tưởng chính trị Nho giáo
Đạo giáo trong tổ hợp tư tưởng tam giáo đời Trần cũng không còn nặng về pháp thuật thần bí nữa, nó trở lại tinh thần chân chất, thuần phác tự nhiên bởi sự kết hợp với triết lý vô ngã, vô thường của Phật giáo và tính duy lý của nhà Nho, nó mang lại làn gió lạ trong quan điểm nhân sinh, lý tưởng sống con người Những nhà tư tưởng lớn thời kỳ này đều có triết lý sống dung hòa như vậy Trần Thái Tông luôn sống ung dung, tự tại trong thế giới hình danh sắc tướng mà không đánh mất mình, ngồi trên ngôi cao vạn thặng đầy quyền lực châu báu, nhưng vẫn không rơi vào trạng thái “sống say, chết mộng” Thái độ sống của ông là không bi quan, yếm thế, cũng không buông thả theo lạc thú tầm thường, tiếp nhận sinh tử như cái lý tự nhiên Nếu như Thiện Hội đi tìm trong cái sinh tử để đạt tới cái không sinh, tử, Vân Phong cảm nhận sống, chết chỉ bằng một nắm tay, thì Trần Thái Tông thấu hiểu cái sinh tử ở ngay trong cuộc đời bình thường hàng ngày
Như vậy, trên cơ sở những nhân tố chính trị và sau đó là truyền thống văn hóa dân tộc quy định, Trần Thái Tông đã thể hiện rất rõ sự dung hợp, tiếp thu tư tưởng của tam giáo: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo trong tác phẩm “Khóa hư lục”
1.4 Trần Thái Tông – con người và tác phẩm “Khóa hư lục”
Vị vua đầu tiên của nhà Trần - Trần Thái Tông, sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218) tại hương Tức Mặc Phủ Thiên Trường, nay là thôn Tức Mặc xã Lộc Vượng ngoại thành Nam Định Ông có tên thật là Trần Cảnh con trai thứ của Trần Thừa, là cháu gọi Trần Thủ Độ bằng chú Việc lên ngôi của Ông do tài sắp đặt của Trần Thủ Độ mà nên, lúc ấy ông mới tròn 8 tuổi Trần Thủ Độ đã thu xếp cho Trần Cảnh được làm chức chánh hậu, có tên gọi là chức Chánh thủ Ban
Trang 38đầu chỉ được hầu hạ bên ngoài, sau vài lần được vào trong để bưng nước rửa cho vua Vua lúc bấy giờ là Lý Chiêu Hoàng (Con gái vua Lý Huệ Tông, là vị vua sau cùng của nhà Lý) Sau nhờ Trần Thủ Độ thu xếp Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho Trần Cảnh tức là vua Trần Thái Tông
Trần Cảnh lên ngôi nhưng việc quân sự thì do Trần Thủ Độ nắm, việc chính trị thì do cha làm thái thượng hoàng giúp đỡ, song những người này trình độ văn hoá cũng còn nhiều hạn chế Các quan nhà Lý ở lại phục vụ nhiều, song không thấy nói có một ai được chính thức giúp vua làm phụ chính Vậy mà trong suốt những năm đầu ở tuổi thiếu nhi, Trần Thái Tông đã được sử sách ghi chép đúng như một ông vua có tài
Để giữ vững an ninh đất nước, Trần Thủ Độ đã giúp nhà vua dần ổn định được tình hình, lợi dụng các mâu thuẫn giữa các tay quân phiệt và dần dần dẹp yên được nội loạn
Khi bước sang tuổi thành niên, Ông đã phát huy rõ rệt tài năng xuất sắc của mình Nhưng trước khi thực sự nắm chắc quyền hành của mình, Ông đã phải chịu một nỗi đau, khiến Ông phải xót xa ân hận mà không biết phải xử trí ra sao, nguyên nhân là Lý Chiêu Hoàng lấy Ông đã được nhiều năm mà vẫn chưa có con, trong khi triều Trần cần kíp phải có hoàng tử nối ngôi Trần Thủ Độ đã nhất quyết buộc Ông phải bỏ Lý Chiêu Hoàng lập hoàng hậu mới là Thuận Thiên chị ruột của Lý Chiêu Hoàng, hiện là vợ của Trần Liễu (anh của Trần Cảnh) đang có mang khiến Trần Cảnh đau khổ, dằn vặt lương tâm bỏ trốn ra khỏi kinh thành lên núi Yên Tử trú ngụ (1236) Và lúc bây giờ Trần Thủ Độ phải trổ hết mưu mẹo mới rước được Ông về kinh
Hơn nữa, Trần Thái Tông đã trải qua cuộc đời bi kịch, bố mẹ mất sớm, một mình đối phó với ông chú Phụ chính, cùng với Thiên Cực công chúa bày mưu lập vợ Hoài Vương đang có mang lên thay Lý Chiêu Hoàng vì Chiêu Hoàng đã nhiều năm chưa có con Do đấy mà Trần Liễu (Ân Sinh Vương) mất vợ, nổi
Trang 39loạn và Trần Thái Tông bất nhẫn bỏ cung điện trốn vào núi An Tử, hòng cầu Phật giáo để giải thoát Đây chính là lời Trần Thái Tông viết:
"Bấy giờ ý chí của Trẫm đã nhất quyết Hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 5 (1245), năm Bính Thân, đêm 3 tháng 4 Trẫm nhân mặc áo mỏng thường đi ra cửa cung, bảo tả hữu "Ta muốn đi chơi, nghe trộm lời dân để xem nguyện vọng của chúng, họa may biết được sự khó nhọc của họ Lúc ấy đi theo bên trẫm bất quá bảy tám người Đến đêm vào giờ hợi, một mình một ngựa cất lẻn ra đi Khi đã qua sông Nhị, liền hướng phía đông mà tiến mới thật tình bảo cho tả hữu biết Họ kinh ngạc, đều ứa nước mắt khóc Sáng hôm sau vào giờ mão thì đến bến Đại Than chân núi Phả Lại Trẫm e có kẻ nhận biết, nên phải lấy vạt áo che mặt mà qua sông, rồi theo đường tắt lên núi Đến tối, vào nghỉ trong chùa Giác Hạnh đợi sáng lại đi Trèo lội vất vả, núi hiểm, suối sâu, ngựa mệt không tiến được nữa Trẫm bèn bỏ ngựa, vịn vách đá mà đi Đến giờ mùi mới tới An Tử Qua hôm sau, trèo thẳng lên đỉnh, vào ra mắt Quốc sư Trúc Lâm là vị đại sa môn ở đây
Thấy Trẫm, Quốc sư (Phù Vân) mừng hớn hở thong thả nói: "Lão tăng ở núi rừng lâu, xương cứng, thể gầy, ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui thú cảnh rừng, nhẹ như mây nổi nên theo gió đến đây Nay nhà Vua bỏ địa vị nhân chủ, nghĩ đến cảnh quê mùa rừng núi, hẳn có ý tìm hỏi điều gì mới tới đây?"
Trẫm nghe Sư nói, hai hàng nước mắt tự nhiên khôn cầm, nhân mới đáp:
"Trẫm còn thơ ấu, sớm mất hai thân; bơ vơ đứng trên sĩ dân, không nơi nương tựa Nghĩ lại sự nghiệp của đế vương đời trước thịnh suy không thường, cho nên vào núi chỉ cầu làm Phật không cầu chi khác!" Sư đáp: "Núi vốn không có Phật Phật ở nơi tâm người, tâm lặng mà biết ấy là chân Phật Nay nếu nhà vua giác ngộ được tâm thì lập tức thành Phật không phải cầu tìm khó nhọc ở bên ngoài vậy" (Thiền tông chỉ nam tự)
Đoạn vấn đáp trên đây lời nói tự sự chính xác thành khẩn, không cho phép
ta nghi ngờ không phải Trần Thái Tông đã bỏ ngôi để vào núi cầu Phật tìm giải
Trang 40thoát cho nỗi lòng ưu phiền bi đát Sử gia Ngô Thời Sỹ trong “Việt sử tiêu án” Q.III đã nhận định:
"Vua Thái Tông làm ra sách" Khoá hư lục "mến cảnh sơn lâm, coi sống chết như như nhau tuy ý tứ gần với đạo Phật không tịch mà chí thì rộng xa cao siêu cho nên bỏ ngôi báu như trút dép nát vậy" Thái độ hỷ xả của nhà vua thực là tinh túy của tôn giáo thực hiện
Vì tể tưởng Thủ Độ và toàn thể quần thần yêu cầu và nhất là lời khuyên chính đáng của Quốc Sư: "Phàm làm đấng nhân quân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn và tâm thiên hạ làm tâm Nay thiên hạ muốn đón nhà vua về cung, nhà vua không về sao được?"
Trần Thái Tông phải trở về gượng gắng lên ngôi Và ngài đã giác ngộ khi đọc Kinh "Kim cương" đến câu: "Ưng Vô Sở trụ nhi sinh kỳ tâm" (Nên có cái tâm không chấp vào đâu cả) Chính với cái tâm minh ấy mà nhà vua đã nhất quán tam giáo: "Vị minh nhân vọng phân tâm giáo, liễu đắc thể đồng ngộ nhất tâm!" (Chưa giác ngộ thì lầm phân biệt có ba giáo lý, hiểu thấu triệt thì cùng giác ngộ chỉ có một tâm linh)
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông đầu năm Đinh Tý (1-1258) vua Trần Thái Tông đã biết dựa vào Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn (tức Hưng Đạo vương, con của Trần Liễu) để lãnh đạo nhân dân Đại Việt quyết chống giặc
Tháng 12 năm Đinh Tý (1258), Trần Thái Tông đã cùng Thái tử Trần Hoảng chỉ huy quân Trần phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu, giải phóng Thăng Long
Trần Thái Tông được sử sách lưu truyền bởi ông là một nhà thiền học, triết học, một nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa và trên hết là một triết gia có những tư tưởng sâu sắc, một cốt cách độc đáo Trần Thái Tông đã thể hiện trọn vẹn sức sống thiền ngay trong lĩnh vực an bang tế thế Ông đã phất cao ngọn cờ thiền giữa chính trường, tự tại giữa một nơi mà ai cũng biết mạng sống con người như sợi chỉ treo chuông ngàn tấn Lúc làm vua ông đã thân chinh đi đánh giặc, xông